Tổng hợp lại, có thể đưa ra khái niệm như sau: Bệnh viện công là cơ sở y tế do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, hoạt động chủ yếu bằng nguồn ngân sách nhà nước, có chức năng khá
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM CÔNG ĐOÀN
HÀ NỘI, 2016
Trang 2Tôi xin cam đoan rằng:
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực vàchưa từng được sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và cácthông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Đinh Đức Thọ
Trang 3Luận văn tốt nghiệp được hoàn thành tại Đại học Thương Mại Có được bảnluận văn tốt nghiệp này , tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đếnBan giám hiệu trường Đại học Thương Mại , Khoa đào tạo sau đại học và đặc biệt
là PGS.TS Phạm Công Đoàn đã trực tiếp hướng dẫn , dìu dắt , giúp đỡ tác giả vớinhững chỉ dẫn khoa học quý giá trong suốt quá trình triển khai, nghiên cứu và hoànthành đề tài “Quản lý tài chính tại Bệnh viện 198 – Bộ công an”
Xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô giáo – Các nhà khoa học đã trực tiếpgiảng dạy truyền đạt những kiến thức khoa học chuyên nghành quản lý tài chínhcho bản thân tác giả trong những năm tháng qua
Xin gửi tới Ban giám đốc Bệnh viện 198, Lãnh đạo phòng Tài chính – Kế toáncác đồng chí , đồng nghiệp lời cảm tạ sâu sắc vì đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhấtgiúp tác giả thu thập số liệu cũng như tài liệu nghiên cứu cần thiết liên quan tới đềtài tốt nghiệp
Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, tập thể lớp TCNH những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trìnhthực hiện đề tài nghiên cứu của mình
CH20B-Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp , phê bình của quý Thầy Cô, cácnhà khoa học, đọc giả và các bạn đồng nghiệp
XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN!!!
Trang 4BV : Bệnh viện
KCB : Khám chữa bệnhCSSK : Chăm sóc sức khỏeBHYT : Bảo hiểm y tế
CBCS : Cán bộ chiến sỹNSNN : Ngân sách Nhà nướcKHCN : Khoa học công nghệTSCĐ : Tài sản cố địnhTCKT : Tài chính kế toánXHH : Xã hội hóa
VP : Viện phí
TCC : Tài chính công
Trang 5Bảng 2.1: Bảng tổng hợp các nguồn thu bệnh viện 198 40
Bảng 2.2: Tổng hợp tình hình thu so với dự toán năm 2013 - 2015 41
Bảng 2.3: Nguồn thu từ BHYT của B nh vi n 198 năm 2013 đến 2015 ê ê 43
Bảng 2.4: Nguồn thu từ viện phí của Bệnh viện 198 giai đoạn 2013-2015 43
Bảng 2.5: Các nguồn thu khác của Bệnh viện 198 năm 2013-2015 46
Bảng 2.6: Tổng hợp dự toán chi theo từng khoản mục 49
Bảng 2 7: Nội dung và tỷ trọng các khoản chi từ nguồn NSNN 59
Bảng 2.8: Các khoản chi phí của BV 198 qua 3 năm 2013 - 2015 63
Bảng 2.9: Quyết toán thu- chi BV 198 năm 2013-2015 64
Bảng 2.10: GDP và tốc độ tăng trưởng của Việt Nam qua các năm 2013-2015 72
Bảng 2.11: Cơ cấu chi ngân sách Nhà nước 73
Trang 6Bảng 2.1: Bảng tổng hợp các nguồn thu bệnh viện 198 40
Bảng 2.2: Tổng hợp tình hình thu so với dự toán năm 2013 - 2015 41
Bảng 2.3: Nguồn thu từ BHYT của B nh vi n 198 năm 2013 đến 2015 ê ê 43
Bảng 2.4: Nguồn thu từ viện phí của Bệnh viện 198 giai đoạn 2013-2015 43
Bảng 2.5: Các nguồn thu khác của Bệnh viện 198 năm 2013-2015 46
Bảng 2.6: Tổng hợp dự toán chi theo từng khoản mục 49
Bảng 2 7: Nội dung và tỷ trọng các khoản chi từ nguồn NSNN 59
Bảng 2.8: Các khoản chi phí của BV 198 qua 3 năm 2013 - 2015 63
Bảng 2.9: Quyết toán thu- chi BV 198 năm 2013-2015 64
Bảng 2.10: GDP và tốc độ tăng trưởng của Việt Nam qua các năm 2013-2015 72
Bảng 2.11: Cơ cấu chi ngân sách Nhà nước 73
Trang 7Sơ đồ 1.1 Quản lý tài chính trong bệnh viện 11
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Bệnh viện 198 – Bộ Công An 30
Sơ đồ 2.2 : Cơ cấu tổ chức phòng TC- KT BV 198 31
Sơ đồ 2.3: Quy trình mua sắm TSCĐ 52
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời gian dài trước đây chúng ta quan niệm y tế, giáo dục … là các lĩnhvực “ phi sản xuất vật chất”, có nghĩa đối lập với lĩnh vực sản xuất vật chất nhưnông nghiệp, công nghiệp Chính quan điểm sai lầm này đã kéo theo sự đầu tư thấp
vì xem như đầu tư vào các lĩnh vực này là tiêu tốn nguồn lực của Nhà nước màkhông sáng tạo ra giá trị và giá trị sử dụng Các bệnh viện, cơ sở y tế chỉ đơn thuần
là cơ quan hành chính sự nghiệp thu đủ, chi đủ
Chuyển sang kinh tế thị trường chúng ta đã có những thay đổi căn bản trongnhận thức, quan điểm về ngành y tế Ngành y tế được coi là một ngành trong hệthống kinh tế quốc dân và thuộc nhóm ngành dịch vụ phục vụ các nhu cầu có tínhchất phúc lợi xã hội Nói cách khác, ngành y tế có đóng góp vào GDP của đất nước.Đầu tư cho y tế không phải là tiêu phí mà là đầu tư cơ bản, đầu tư cho phát triển.Theo quan điểm mới, bệnh viện là một đơn vị kinh tế dịch vụ nhưng khác với cácđơn vị kinh doanh dịch vụ bởi hoạt động cung cấp dịch vụ của bệnh viện không đặtmục tiêu lợi nhuận làm mục tiêu quan trọng nhất Đơn vị kinh tế dịch vụ thông quacác hoạt động dịch vụ của mình để có thu nhập và tích cực hoạt động không vìdoanh lợi
Xuất phát từ quan niệm mới trên, Đảng và Nhà nước ta đã có những thay đổicăn bản trong cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu trongchương trình nghị sự cải cách tài chính công Đó là:
Thứ nhất, thay cho việc cấp kinh phí theo số lượng biên chế như hiện nay
bằng việc tính toán kinh phí căn cứ vào kết quả và chất lượng hoạt động, hướng vàokiểm soát đầu ra, chất lượng chi tiêu theo mục tiêu cho đơn giản hơn, tăng quyềnchủ động cho đơn vị sử dụng ngân sách
Thứ hai, xoá bỏ cơ chế cấp phát theo kiểu “ Xin- Cho”, thực hiện chế độ tự
chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp trên cơ sở xác định nhiệm vụ phải thực hiện,mức hỗ trợ tài chính từ ngân sách và phần còn lại do đơn vị tự trang trải
Trang 9Thứ ba, khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước phát triển trong các
lĩnh vực giáo dục, y tế Khuyến khích liên doanh và đầu tư trực tiếp của nước ngoàivào lĩnh vực này
Thực tế trên đòi hỏi quản lý tài chính trong bệnh viện vừa phải đảm bảo các mụctiêu tài chính vừa đảm bảo tính hiệu quả, công bằng trong chăm sóc sức khoẻ Quản lýtài chính bệnh viện trở thành chìa khoá quyết định sự thành công hay thất bại trongviệc quản lý bệnh viện; quyết định sự tụt hậu cũng như phát triển của bệnh viện
Đề tài “Quản lý tài chính tại Bệnh viện 198- Bộ Công An ” được lựa chọn
nghiên cứu nhằm tìm ra hướng thực hiện hữu hiệu hoạt động tài chính bệnh viện tạiBệnh viện 198 - Bộ Công An đáp ứng yêu cầu của thực tiễn này
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Các vấn đề về quản lý tài chính bệnh viện đã nhận được sự quan tâm của nhiềunghiên cứu khác nhau của các tác giả Liên quan đến vấn đề này đã có một số côngtrình nghiên cứu và các hội thảo khoa học như :
- Hội thảo “Quản lý ngân sách nhà nước và các nguồn tài chính bệnh viện”
diễn ra ngày 29/11 – 3/12 /2010 , tại thành phố Hà Nội
Hội thảo tổ chức nhằm tổng hợp ý kiến trao đổi, đề xuất và chia sẻ kinh nghiệmquản lý ,sử dụng ngân sách , kinh phí và tài sản được giao cho đơn vị sự nghiệpcũng như những nhận định sắc bén của các chuyên gia kinh tế có nhiều kinh nghiệm
về xây dựng và phát triển bệnh viện
- Hội thảo “Xây dựng , thực hiện bản quy hoạch tổng thể bệnh viện và Cải
thiện chất lượng” diễn ra ngày 04/4/2012 tại Tp Tuy Hòa , Tỉnh Phú Yên.
Hội thảo này do Bộ Y Tế và Quỹ hỗ trợ GIZ tổ chức tại Tp Tuy Hòa với nhiều ýkiến xoay quanh vấn đề : Làm thế nào để quản lý tổng thể bệnh viện đạt hiệu quảtối đa trong đó có quản lý tài chính bệnh viện
Tuy nhiên , những hội thảo này chỉ xoay quanh vấn đề lý luận về quản lýbệnh viện nói chung mà chưa đi vào một thực tế một bệnh viện cụ thể nào , đặc biệt
là quản lý tài chính bệnh viện đối với các bệnh viện công lập
Trang 10- “Xã hội hóa Y tế tại Việt Nam : Lý luận – thực tiễn và giải pháp” Đặng Thị
Lệ Xuân (2011) – Luận án Tiến sĩ
Nghiên cứu đã tập trung phân tích , đánh giá các phương thức xã hội hóa y tế
cơ bản hiện nay và đánh giá toàn hệ thống y tế hay các bộ phận cấu thành của nóđặc biệt là tài chính y tế, từ đó chỉ ra được những hạn chế của phương thức xã hộihóa y tế Qua nghiên cứu tác giả đã đề xuất bảo hiểm y tế là phương thức ưu việtnhất cần tập trung phát triển
- “Các giải pháp tài chính thúc đẩy phát triển sự nghiệp y tế ở Việt Nam”
Hoàng Thị Thúy Nguyệt (2006) – Luận án Tiến sĩ
Nghiên cứu tập trung phân tích và đánh giá thực trạng phát triển sự nghiệp y tế ởViệt Nam, từ đó chỉ ra những tồn tại , hạn chế và đề ra những giải pháp thúc đẩyphát triển sự nghiệp y tế ở Việt Nam
- “ Đổi mới cơ chế quản lý kinh phí Ngân sách nhà nước trong lĩnh vực y tế
Việt Nam trong giai đoạn chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước” Nguyễn Trường Giang (2003) – Luận án Tiến sĩ.
Tác giả đã đi sâu và nghiên cứu cơ chế quản lý kinh phí Ngân sách nhà nướctrong lĩnh vực y tế Việt Nam trong giai đoạn chuyển sang nền kinh tế thị trường có sựquản lý của Nhà nước Tác giả đã đánh giá thực trạng quản lý kinh phí Ngân sách nhànước trong lĩnh vực y tế Việt Nam và đưa ra được các quan điểm , giải pháp nhằmquản lý kinh phí Ngân sách nhà nước trong lĩnh vực y tế Việt Nam được tốt hơn
- “ Một số giải pháp đổi mới phương thức chi trả dịch vụ y tế cho hệ thống
khám chữa bệnh Việt Nam” Kiều Quang Tuân (2011) – Luận văn Thạc sĩ.
Luận văn đã xem xét những vẫn đề lý luận và thực tiễn các phương thức chitrả dịch vụ y tế ở Việt Nam Tiếp đó đánh giá được thực trạng các phương thức chitrả và đưa ra được những giải pháp nhằm đổi mới phương thức chi trả dịch vụ y tếcho hệ thống khám chữa bệnh Việt Nam
Nhìn chung các nghiên cứu trên đã khái quát và phân tích , đánh giá đượccác điểm chung trong công tác quản lý bệnh viện từ đó đã đưa ra được các giải phápnhằm hoàn thiện từng lĩnh vực trong quản lý tài chính
Trang 114 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
a) Đối tượng nghiên cứu : Lý luận và thực tiễn quản lý tài chính tại Bệnh viện 198.b) Phạm vi nghiên cứu :
- Về không gian : nghiên cứu tại Bệnh viện 198 – Bộ công an
- Về thời gian : Từ năm 2013 đến nay để tiện phục vụ nghiên cứu giải pháp
đề xuất cho giai đoan đến năm 2020
5 Phương pháp nghiên cứu
Thông qua nghiên cứu tài liệu, quan sát phân tích hoạt động quản lý tài chínhtheo cách tiếp cận hệ thống, cách tiếp cận định tính và định lượng và cách tiếp cậnlịch sử, logic để thu thập thông tin Đồng thời luận văn sử dụng kỹ thuật thống kê,tổng hợp, phân tích , sơ đồ, biều đồ, đồ thị, bảng biểu để phân tích xử lý số liệu.Ngoài ra thông qua việc phân tích, xử lý thông tin, trên cơ sở tham khảo ý kiếncủa các nhà khoa học kinh tế, các nhà quản lý tài chính trong ngành y tế và bệnhviện 198 với kiến thức của bản thân để đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện quản
lý tài chính tại Bệnh viện 198
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung củaluận văn gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý tài chính bệnh viện công
ở nước ta
Chương 2: Thực trạng quản lý tài chính tại Bệnh viện 198 – Bộ Công an Chương3: Một số giải pháp chủ yếu hoàn thiện quản lý tài chính tại Bệnh
viện 198
Trang 12Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
BỆNH VIỆN CÔNG Ở NƯỚC TA
1.1 Tổng quan về bệnh viện công và quản lý tài chính bệnh viện công
1.1.1 Khái niệm và đặc trưng của bệnh viện công:
Từ trước đến nay, có rất nhiều quan điểm về bệnh viện công Theo quan điểmhiện đại, bệnh viện công là một tổ chức y tế của Nhà nước với các đặc trưng sau:
- Bệnh viện là một hệ thống lớn bao gồm rất nhiều yếu tố và nhiều khâu liênquan chặt chẽ nhau từ khám bệnh, chẩn đoán, điều trị, chăm sóc
- Bệnh viện là một tổ chức y tế có chức năng hoạt động chính là khám chữabệnh, bao gồm các yếu tố đầu vào là người bệnh, cán bộ y tế, nguồn tài chính, trangthiết bị, thuốc cần có để chẩn đoán và điều trị Đầu ra là người bệnh khỏi bệnh raviện hoặc phục hồi sức khỏe; hoặc người bệnh tử vong
- Ngoài chức năng chủ yếu là khám chữa bệnh cho nhân dân, bệnh viện côngcòn có chức năng đào tạo và nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực y tế
- Nguồn tài chính đề bệnh viện hoạt động chủ yếu từ NSNN
- Mục tiêu chủ yếu của bệnh viện công mang tính chất phúc lợi, phi lợinhuận, nhằm bảo đảm sức khỏe cho nhân dân
Tổng hợp lại, có thể đưa ra khái niệm như sau: Bệnh viện công là cơ sở y tế
do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, hoạt động chủ yếu bằng nguồn ngân sách nhà nước, có chức năng khám chữa bệnh, cung cấp các dịch vụ y tế nhằm mục tiêu bảo đảm sức khỏe cho nhân dân
1.1.2 Vai trò của bệnh viện công :
Hệ thống các bệnh viện công được xem như xương sống của hệ thống y tế ởnước ta, giữ vai trò quan trọng trong hệ thống y tế quốc gia, đáp ứng một phần lớndịch vụ y tế cho người dân: khám chữa bệnh, cung cấp thuốc, các dịch vụ y tế khác,đảm bảo cho mọi người đều được chăm sóc sức khỏe cơ bản có chất lượng phù hợpvới khả năng kinh tế xã hội của đất nước Nhờ đó làm giảm đi sự thiếu hụt lao động
Trang 13vì đau ốm, giúp phục hồi sức khỏe và chữa bệnh, góp phần thực hiện mục tiêu pháttriển con người toàn diện
Bệnh viện công là một tổ chức y tế có nhiệm vụ phục vụ các nhu cầu có tínhchất phúc lợi xã hội về y tế Trong điều kiện kinh tế thị trường và trong bối cảnh xãhội vẫn còn nhiều người nghèo, nhiều đối tượng chính sách cần được trợ giúp y tếthì bệnh viện công có vai trò trực tiếp và không thể thiếu được trong việc bảo đảmtính công bằng về chăm sóc sức khỏe, cho dù có rất nhiều bệnh viện tư đi chăngnữa Đây vừa là đặc điểm vừa là ưu việt của bệnh viện công so với bệnh viện tư,song chính điều này dẫn đến khó khăn về mặt tài chính cho bệnh viện công
Trong xu thế xã hội hóa dịch vụ công nói chung và dịch vụ y tế nói riêng, cácbệnh viện công ở Việt Nam còn có vai trò nòng cốt và tiên phong về nhiều mặttrong hệ thống các bệnh viện thuộc mọi thành phần kinh tế và góp phần quan trongđối với sự phát triển của nền y học nước nhà Cụ thể là: bệnh viện là trung tâm chẩnđoán và điều trị với kỹ thuật cao cho người bệnh khó mà tuyến chăm sóc sức khỏeban đầu không xử lý được; là trung tâm nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực y học;
là trung tâm đào tạo đội ngũ cán bộ y tế từ sơ cấp đến sau đại học, là cơ sở thựchành trong giảng dạy; là chỗ dựa về kỹ thuật, về phòng bệnh chăm sóc sức khỏe banđầu cho cộng đồng, là tuyến trên của y tế cộng đồng
Hoạt động theo cơ chế tự chủ tài chính, các bệnh viện công trở thành các đơn vị
sự nghiệp có thu của Nhà nước Thông qua hoạt động khám chữa bệnh, cung cấp cácdịch vụ y tế, bệnh viện công không chỉ góp phần thực hiện mục tiêu phúc lợi xã hội màtiến tới còn có đóng góp nhất định cho ngân sách nhà nước
1.1.3 Khái niệm và đặc điểm của quản lý tài chính công:
Quản lý (tiếng Anh là Management, tiếng latinh là "manum agere" nghĩa là
"điều khiển bằng tay") đặc trưng cho quá trình điều khiển và dẫn hướng tất cả các bộphận của một tổ chức, thường là tổ chức kinh tế, thông qua việc thành lập và thay đổicác nguồn tài nguyên (nhân lực, tài chính, vật tư, trí thức và giá trị vô hình)
Từ đầu thế kỷ 20 đến nay, quản lý được nâng lên hàng nghệ thuật và có thểgọi đó là "nghệ thuật khiến công việc được làm bởi người khác"
Trang 14Quản lý là một quy trình công nghệ do chủ thể quản lý tiến hành thông quaviệc sử dụng các công cụ và phương pháp thích hợp nhằm tác động và điều khiểnđối tượng quản lý hoạt động, phát triển phù hợp với quy luật khách quan và đạt tớicác mục tiêu đã định.
Quản lý tài chính công là quá trình mà chủ thể quản lý, thông qua việc sử
dụng có chủ định các phương pháp và các công cụ quản lý, tác động và điều khiểnhoạt động tài chính công nhằm đạt được các mục tiêu đã định
Trong hoạt động quản lý tài chính các vấn đề về: chủ thể quản lý, đối tượngquản lý, công cụ quản lý, phương pháp quản lý, mục tiêu quản lý là những vấn đềtrọng tâm, đòi hỏi phải được nhận thức và xác định đúng đắn
Quản lý tài chính công là một nội dung của quản lý tài chính và là một bộphận của quản lý xã hội nói chung Trong đó, chủ thể quản lý cao nhất là Nhà nước,tiếp theo là các cơ quan nhà nước được Nhà nước giao nhiệm vụ thực hiện các hoạtđộng tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của Nhà nước Các cơ quan được giao chứcnăng, nhiệm vụ trực tiếp quản lý tài chính công thông thường là bộ máy tài chínhtrong hệ thống các cơ quan nhà nước
Đối tượng quản lý của tài chính công là các hoạt động tạo lập và sử dụng cácquỹ tiền tệ diễn ra trong các bộ phận cấu thành của tài chính công
Hoạt động quản lý các đối tượng quản lý trong từng lĩnh vực cấu thành củatài chính công chính là các nội dung chủ yếu của quản lý tài chính công
Các chủ thể quản lý có thể sử dụng nhiều phương pháp và công cụ quản lýkhác nhau để quản lý Các phương pháp thường được sử dụng, như phương pháp tổchức, phương pháp hành chính, phương pháp kinh tế
Các công cụ thường được sử dụng, bao gồm công cụ pháp luật, các chínhsách công và chính sách tài chính công, các đòn bẩy kinh tế, tài chính, các công cụkiểm tra, thanh tra, giám sát; các tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý TCC
Về đối tượng của quản lý tài chính công Đối tượng của quản lý tài chính
nhà nước là các hoạt động tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của tài chính công Cáchoạt động của tài chính công lại luôn gắn liền với các cơ quan nhà nước - các chủ
Trang 15thể của tài chính công Các cơ quan này vừa là người thụ hưởng nguồn kinh phí củaTCC, vừa là người tổ chức các hoạt động của TCC Do đó, vừa là chủ thể, vừa trởthành đối tượng của quản lý TCC Vì vậy, sự kết hợp chặt chẽ giữa quản lý conngười với quản lý hoạt động tài chính là đặc điểm quan trọng của quản lý TCC
Về sử dụng các phương pháp và công cụ quản lý tài chính công Trong
quản lý TCC có thể sử dụng nhiều phương pháp quản lý khác nhau (tổ chức, hànhchính, kinh tế) và nhiều công cụ quản lý khác nhau (pháp luật, chính sách công, cácđòn bảy kinh tế, thanh tra, kiểm tra, đánh giá ) Mỗi phương pháp, công cụ có đặcđiểm riêng, có cách thức tác động riêng và có các ưu, nhược điểm riêng
Nếu như phương pháp tổ chức, hành chính có ưu điểm là đảm bảo được tínhtập trung, thống nhất dựa trên nguyên tắc chỉ huy, quyền lực thì lại có nhược điểm
là hạn chế tính kích thích, tính chủ động của các cơ quan tổ chức hoạt động TCC.Ngược lại, các phương pháp kinh tế có ưu điểm là phát huy được tính chủ động,sáng tạo nhưng lại có nhược điểm là hạn chế tính tập trung, thống nhất trong việc tổchức các hoạt động TCC theo cùng một hướng Do vậy, trong quản lý TCC thườngphải sử dụng đồng bộ và kết hợp chặt chẽ các phương pháp và công cụ quản lý
Tuy nhiên, do đặc điểm của hoạt động TCC là luôn gắn liền với quyền lựccủa nhà nước, nên trong quản lý TCC phải đặc biệt chú trọng tới các phương pháp,công cụ mang tính quyền uy, mệnh lệnh để đảm bảo tính tập trung, thống nhất Đó
là các phương pháp tổ chức - hành chính và các công cụ pháp luật, thanh tra, kiểmtra Đây cũng là một đặc điểm quan trọng của quản lý TCC
Về đặc điểm quản lý nội dung TCC Nội dung vật chất của TCC là các
nguồn tài chính, các quỹ tiền tệ thuộc sở hữu nhà nước mà nhà nước có thể chi phối
và sử dụng trong một thời kỳ nhất định Các nguồn tài chính đó có thể tồn tại dướidạng tiền tệ hoặc tài sản, nhưng tổng số nguồn lực tài chính đó là biểu hiện về mặtgiá trị, là đại diện cho một lượng của cải vật chất của xã hội
Về lý thuyết cũng như thực tiễn, sự vận động của các nguồn tài chính phải ănkhớp với sự vận động của của cải vật chất mới đảm bảo cho sự phát triển cân đối của
Trang 16nền kinh tế Điều đó càng có ý nghĩa và cần thiết bởi vì tổng nguồn lực tài chính màNhà nước nắm giữ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn lực tài chính của toàn xã hội.
Trong quản lý TCC không những phải quản lý nguồn tài chính đang tồn tại
cả dưới hình thức tiền tệ, cả dưới hình thức tài sản, mà còn phải quản lý sự vậnđộng của tổng nguồn lực TCC - sự vận động về mặt giá trị, trên cơ sở tính toán đểđảm bảo cân đối với sự vận động của các luồng của cải vật chất và lao động - sựvận động về mặt giá trị sử dụng, trong đời sống thực tiễn Kết hợp quản lý, đảm bảo
25 tính thống nhất giữa hiện vật và giá trị, giá trị và giá trị sử dụng cũng là một đặcđiểm quan trọng của quản lý TCC
1.2 Quản lý tài chính ở bệnh viện công:
Phạm trù tài chính của một tổ chức thường được quan niệm tương đồng vớicác quỹ tiền tệ và các loại vốn được sử dụng để thực hiện các hoạt động nhằm đạtđược mục tiêu của tổ chức đó Đối với bệnh viện công, tài chính bệnh viện là sự vậnđộng của đồng tiền để thực hiện mục tiêu phúc lợi về chăm sóc sức khoẻ cho nhândân, hướng tới mục tiêu phát triển con người toàn diện Nó vừa phải thực hiện mụctiêu công bằng trong y tế, vừa phải bảo đảm mục tiêu hiệu quả tài chính
Quản lý tài chính trong một tổ chức là chức năng quản lý gắn liền với việchuy động, tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn tài chính nhằm đáp ứng yêu cầu
về tài chính cho các hoạt động của tổ chức, góp phần thực hiện mục tiêu chung của
tổ chức một cách hiệu quả Nếu xét theo quá trình thì quản lý tàì chính của một tổchức cũng gồm các hoạt động lập kế hoạch, tổ chức, điều hành và kiểm tra cácnguồn tài chính và hoạt động tài chính của tổ chức
Đối với các tổ chức phi lợi nhuận như bệnh viện công, quản lý tài chínhkhông nhằm mục tiêu lợi nhuận như các tổ chức kinh doanh, nhưng với cơ chế tựchủ tài chính thì các nhà quản lý của bệnh viện công phải quan tâm đến tài chínhtheo hướng tự thu, tự chi; đó không chỉ là huy động và tạo nguồn thu mà còn là sửdụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn thu, nhằm bảo đảm cho bệnh viện thực hiệnđược các chức năng và mục tiêu của mình
Từ sự phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm: Quản lý tài chính bệnh viện
Trang 17công là sự tác động lên các đối tượng và hoạt động tài chính thông qua quá trình lập kế hoạch và tổ chức thực hiện các kế hoạch tài chính, quyết toán và kiểm tra tài chính tại bệnh viện nhằm xác định các nguồn thu và các khoản chi để phục vụ nhiệm vụ khám, chữa bệnh, đào tạo và nghiên cứu khoa học, đảm bảo đủ kinh phí
và sử dụng kinh phí một cách hiệu quả và công bằng, góp phần thực hiện mục tiêu chung của bệnh viện công
Theo nghĩa rộng, quản lý tài chính tại bệnh viện công là việc quản lý toàn bộcác nguồn vốn, tài sản, vật tư để phục vụ nhiệm vụ khám chữa bệnh, đào tạo vànghiên cứu khoa học của bệnh viện
Theo nghĩa hẹp, quản lý tài chính tại bệnh viện công là quản lý các nguồnthu và các khoản chi bằng tiền của bệnh viện nhằm đảm bảo đủ kinh phí cho hoạtđộng của bệnh viện và sử dụng kinh phí một cách hiệu quả và công bằng, góp phầnthực hiện mục tiêu chung của bệnh viện công
Trong luận văn này, quản lý tài chính bệnh viện được xem xét theo nghĩa hẹpnói trên
1.2.1 Mục tiêu của quản lý tài chính trong bệnh viện công:
Hiệu quả thực hiện của tài chính kế toán là mục tiêu quan trọng của quản lýtài chính bệnh viện Các yếu tố của mục tiêu này bao gồm:
• Duy trì cán cân thu chi: đây là điều kiện tiên quyết và bắt buộc của quản lýtài chính bệnh viện và cũng là tiêu chuẩn cho sự thành công trong cơ chế quản lýmới – tiến tới hạch toán chi phí
• Bệnh viện phải cải thiện chất lượng thông qua một số chỉ tiêu chuyên mônnhư: tỉ lệ tử vong, …
• Nhân viên hài lòng với bệnh viện: đời sống cán bộ công nhân viên được cảithiện, cải thiện phương tiện làm việc, xây dựng văn hóa Bệnh viện
• Bệnh viện phát triển cơ sở vật chất, phát triển các chuyên khoa
• Công bằng y tế: chất lượng phục vụ như nhau cho toàn bộ các đối tượng
Trang 18Sơ đồ 1.1 Quản lý tài chính trong bệnh viện
Như vậy, quản lý tài chính bệnh viện phải đáp ứng cùng lúc bốn đối tác: Bệnhnhân, nhân viên trong bệnh viện, Ban Giám đốc bệnh viện và Nhà nước Đó là:
• Với bệnh nhân: chất lượng chăm sóc và công bằng y tế
• Với nhân viên: được hài lòng do đời sống được cải thiện
• Yêu cầu của Ban giám đốc: hoàn thành trách nhiệm thực hiện cán cân thuchi
• Y tế Nhà nước : Phát triển bệnh viện
Nhìn chung trong điều kiện kinh tế nước ta như hiện nay, mục tiêu của quản
lý tài chính bệnh viện phải cùng lúc đạt được năm mục tiêu trên Tuy nhiên ở một sốvùng sâu, vùng xa, gặp nhiều khó khăn thì phải sắp xếp thứ tự của ưu tiên nào cầnphấn đấu trước
1.2.2 Nguyên tắc quản lý tài chính bệnh viện công:
Cơ chế tự chủ tài chính cho phép bệnh viện chủ động, linh hoạt để có thể huyđộng và tạo đủ các nguồn thu và sử dụng chúng một cách hiệu quả trong khuôn khổluật pháp, đem lại lợi ích cho cả xã hội và bệnh viện Song bệnh viện công là bệnh
Y TẾ NHÀ NƯỚC
4 Phát triển BV
BAN GIÁM ĐỐC BỆNH VIỆN
1.Cán cân thu chi
BỆNH NHÂN
2 Chất lượng5 Công bằng y tế
NHÂN VIÊN B VIỆN
3 Được hài lòng
Trang 19viện của Nhà nước, nên quản lý tài chính bệnh viện công đòi hỏi vừa phải tuân thủcác nguyên tắc, chế độ tài chính của Nhà nước đối với bệnh viện, vừa phải thựchiện các quy chế, quy định do bệnh viện đề ra đối với hoạt động tài chính bệnhviện Để quản lý tài chính bệnh viện công theo hướng hiệu quả và công bằng, cầnthực hiện các nguyên tắc sau:
- Tiến hành thu- chi theo đúng pháp luật, đúng nguyên tắc của Nhà nước vàcác quy định của bệnh viện về quản lý tài chính
- Tăng nguồn thu hợp pháp, quản lý các nguồn kinh phí ngân sách nhà nướccấp và các nguồn khác như viện phí, bảo hiểm y tế, viện trợ, đóng góp của nhânviên… theo đúng quy định của Nhà nước; sử dụng các khoản chi có hiệu quả,chống lãng phí, thực hành tiết kiệm trong chi tiêu
- Thực hiện chính sách ưu đãi và cải thiện tính công bằng trong khám, chữabệnh cho các đối tượng ưu đãi và người nghèo
- Bảo đảm hài hoà lợi ích của Nhà nước, bệnh viện và bệnh nhân, cụ thể làlợi ích của các nhóm đối tượng: Nhà nước, bệnh nhân, ban lãnh đạo và nhân viêncủa bệnh viện
- Công khai chi phí phải trả cho các loại dich vụ khám chữa bệnh Từng bướchạch toán chi phí và giá thành khám chữa bệnh
1.2.3 Nội dung quản lý tài chính bệnh viện công :
Quy trình quản lý tài chính trong bệnh viện công ở Việt Nam gồm 4 bước:
• Lập dự toán thu chi
• Thực hiện dự toán
• Quyết toán
• Thanh tra, kiểm tra, đánh giá
1.2.3.1 Lập dự toán thu chi
Lập dự toán thu chi các nguồn kinh phí của bệnh viện là thông qua các nghiệp
vụ tài chính để cụ thể hoá định hướng phát triển, kế hoạch hoạt động ngắn hạn củabệnh viện, trên cơ sở tăng nguồn thu hợp pháp và vững chắc, đảm bảo được hoạtđộng thường xuyên của bệnh viện, đồng thời từng bước củng cố và nâng cấp cơ sở
Trang 20vật chất của bệnh viện, tập trung đầu tư đúng mục tiêu ưu tiên nhằm đạt hiệu quảcao, hạn chế tối đa lãng phí và tiêu cực, từng bước tính công bằng trong sử dụng cácnguồn đầu tư cho bệnh viện.
Khi xây dựng dự toán thu chi của bệnh viện cần căn cứ vào:
- Phương hướng nhiệm vụ của đơn vị
- Chỉ tiêu, kế hoạch có thể thực hiện được
- Kinh nghiệm thực hiện các năm trước
- Khả năng ngân sách nhà nước cho phép
- Khả năng cấp vật tư của Nhà nước và của thị trường
- Khả năng tổ chức quản lý và kỹ thuật của đơn vị
Các nguồn tài chính của bệnh viện
Ngân sách nhà nước cấp ( Bao cấp công cộng)
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về ngân sách Nhà nước cấp cho bệnhviện ở Việt Nam Nhìn chung, các nguồn đầu tư kinh phí cho bệnh viện thông quakênh phân bổ của Chính phủ được coi là NSNN cấp cho bệnh viện Theo đó, ngânsách cho bệnh viện có thể bao gồm chi sự nghiệp và đầu tư xây dựng cơ bản từNSNN, chi từ bảo hiểm y tế, thu viện phí và viện trợ nước ngoài… Tuy nhiên,nguồn NSNN cấp cho bệnh viện ở đây được định nghĩa là khoản chi cho bệnh viện
từ NSNN cấp cho sự nghiệp y tế, cân đối từ nguồn thuế trực thu và thuế gián thu.Bao gồm các khoản chi đầu tư, chi vận hành hệ thống
Đối với các nước đang phát triển, nguồn NSNN cấp là nguồn tài chính quantrọng nhất cho hoạt động của bệnh viện Ở Việt Nam, cho đến nay, hàng năm cácbệnh viện công nhận được một khoản kinh phí được cấp từ ngân sách của Chínhphủ căn cứ theo định mức tính cho một đầu giường bệnh/năm nhân với số giườngbệnh kế hoạch của bệnh viện Số kinh phí này thường đáp ứng được từ 30 đến 50%nhu cầu chi tiêu tối thiểu của bệnh viện
Nguồn thu viện phí và bảo hiểm y tế
Theo quy định của Bộ Tài chính nước ta, nguồn thu viện phí và bảo hiểm y tế
là một phần ngân sách sự nghiệp y tế của Nhà nước giao cho bệnh viện quản lý và
Trang 21sử dụng để đảm bảo chất lượng khám, chữa bệnh cho nhân dân Nguồn thu viện phí
và bảo hiểm y tế thường đảm bảo được từ 20-30% nhu cầu chi tiêu tối thiểu của cácbệnh viện công
Tuy nhiên cho đến nay ở nước ta, các cơ sở khám, chữa bệnh trong hệ thống y
tế Nhà nước chỉ được phép thu một phần viện phí Một phần viện phí là một phầntrong tổng chi phí cho việc khám chữa bệnh Một phần viện phí chỉ tính tiền thuốc,dịch truyền, máu, hoá chất, xét nghiệm, phim X quang, vật tư tiêu hao thiết yếu vàdịch vụ khám chữa bệnh; không tính khấu hao tài sản cố định, chi phí hành chính,đào tạo, nghiên cứu khoa học, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và trang thiết bị lớn Hiện nay, giá viện phí do Chính quyền cấp tỉnh của từng địa phương quy địnhdựa trên một khung giá tối đa- tối thiểu đã được Bộ Y tế và Bộ Tài chính phê duyệt.Đối với người bệnh ngoại trú, biểu giá thu viện phí được tính theo lần khám bệnh vàcác dịch vụ kỹ thuật mà người bệnh trực tiếp sử dụng Đối với người bệnh nội trú,biểu giá thu một phần viện phí được tính theo ngày giường nội trú của từng chuyênkhoa theo phân hạng bệnh viện và các khoản chi phí thực tế sử dụng trực tiếp chongười bệnh Đối với khám chữa bệnh theo yêu cầu thì mức thu được tính trên cơ sởmức đầu tư của bệnh viện và cũng phải được cấp có thẩm quyền phê duyệt Đối vớingười có thẻ Bảo hiểm y tế thì cơ quan bảo hiểm thanh toán viện phí của bệnh nhâncho bệnh viện Tuy nhiên ở Việt Nam mới chỉ phổ biến loại hình bảo hiểm y tế bắtbuộc áp dụng cho các đối tượng công nhân viên chức làm công ăn lương trong các
cơ quan Nhà nước và các doanh nghiệp Các loại hình bảo hiểm khác chưa đượctriển khai một cách phổ biến
Hiện nay, với chủ trương xã hội hoá các hoạt động chăm sóc sức khoẻ củaĐảng và Nhà nước, các loại hình bệnh viện và cơ sở y tế bán công ngoài công lập rađời với cơ chế tài chính chủ yếu dựa vào nguồn thu viện phí và bảo hiểm y tế
Nguồn viện trợ và các nguồn thu khác
Nguồn viện trợ và các nguồn thu khác cũng được Chính phủ Việt Nam quyđịnh là một phần ngân sách của Nhà nước giao cho bệnh viện quản lý và sử dụng.Tuy nhiên bệnh viện thường phải chi tiêu theo định hướng những nội dung đã định
Trang 22từ phía nhà tài trợ Nguồn kinh phí này đáp ứng khoảng 20-30% chi tối thiểu củabệnh viện
Chi
Nhóm I: Chi cho con người
Bao gồm các khoản chi về lương, phụ cấp lương ( được tính theo chế độ hiệnhành, kể cả nâng bậc lương hàng năm trong từng đơn vị hành chính sự nghiệp) vàcác khoản phải nộp theo lương : bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội Đây là khoản bùđắp hao phí sức lao động, đảm bảo duy trì quá trình tái sản xuất sức lao động chobác sỹ, y tá, cán bộ công nhân viên của bệnh viện Theo quy định trước đây, nhómnày tương đối ổn định, chiếm khoảng 20% tổng kinh phí và chỉ thay đổi nếu biênchế được phép thay đổi
Nhóm II: Chi quản lý hành chính
Bao gồm các khoản chi: tiền điện, tiền nước, văn phòng phẩm, thông tin liênlạc, hội nghị, khánh tiết, xăng xe… Nhóm này mang tính gián tiếp nhằm duy trì sựhoạt động của bộ máy quản lý của bệnh viện Do vậy, các khoản chi này đòi hỏiphải chi đúng, chi đủ, kịp thời và cần sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả Tỷ lệ nhóm chinày nên nằm trong khoảng từ 10-15% tổng kinh phí
Trước đây nhóm chi này bị khống chế bởi quy định của Nhà nước với địnhmức chi nhìn chung rất hạn hẹp và bất hợp lý Tuy nhiên, trong cơ chế mới đơn vịchủ động xây dựng tiêu chuẩn, định mức và chế độ chi tiêu nội bộ căn cứ trên cơ sởđịnh mức kinh tế kỹ thuật và chế độ chi tiêu tài chính hiện hành của Nhà nước đểđảm bảo hoạt động thường xuyên cho phù hợp với hoạt động đặc thù của bệnh viện,đồng thời tăng cường công tác quản lý, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả trong phạm
vi nguồn tài chính của mình
Cùng với việc chủ động đưa ra định mức chi, đơn vị cần xây dựng chính sáchtiết kiệm và quản lý chặt chẽ các khoản chi tiêu Quản lý tốt nhóm này sẽ tạo điềukiện tiết kiệm, tăng thêm kinh phí cho các nhóm khác
Nhóm III: Chi nghiệp vụ chuyên môn
Trang 23Bao gồm chi mua hàng hoá, vật tư dùng cho công tác điều trị và khám bệnh;trang thiết bị kỹ thuật; sách, tài liệu chuyên môn y tế… Nhóm này phụ thuộc vào
cơ sở vật chất và quy mô hoạt động của bệnh viện Có thể nói đây là nhóm quantrọng, chiếm 50% tổng số kinh phí và đòi hỏi nhiều công sức về quản lý Đây lànhóm thiết yếu nhất, thực hiện theo yêu cầu thực tế nên Nhà nước ít khống chế việc
sử dụng kinh phí nhóm này Nhóm chi nghiệp vụ chuyên môn có liên hệ chặt chẽvới chất lượng săn sóc bệnh nhân và mục tiêu phát triển bệnh viện
Vấn đề đặt ra trong việc quản lý nhóm chi này là do những quy định khôngquá khắt khe đòi hỏi các nhà quản lý phải biết sử dụng đúng mức và thích hợp,tránh làm mất cân đối thu chi đặc biệt là thuốc nhưng vẫn giữ dược chất lượng điềutrị và nhất là tiết kiệm được kinh phí, tránh lãng phí: chi thuốc không quá 50%nhóm chi chuyên môn
Nhóm IV: Chi mua sắm, sửa chữa tài sản cố định
Hàng năm do nhu cầu hoạt động, do sự xuống cấp tất yếu của tài sản cố địnhdùng cho hoạt động chuyên môn cũng như quản lý nên thường phát sinh nhu cầukinh phí để mua sắm, trang bị thêm hoặc phục hồi giá trị sử dụng cho những tài sản
cố định đã xuống cấp Có thể nói đây là nhóm chi mà các bệnh viện đều quan tâm vìnhóm này có thể làm thay đổi bộ mặt của bệnh viện và thay đổi công nghệ chăm sócbệnh nhân theo hướng phát triển từng giai đoạn Tỷ lệ chi nhóm này nên ở mức trên20% với bốn mục tiêu chính:
- Duy trì và phát triển cơ sơ vật chất
- Duy trì và phát triển tiện nghi làm việc
- Duy trì và phát triển trang thiết bị
- Duy trì và phát triển kiến thức, kỹ năng nhân viên
* Về sửa chữa
Nhìn chung các bệnh viện của Việt Nam đều xuống cấp và đòi hỏi phải sửachữa, nâng cấp, mở rộng đặc biệt là trong tình trạng quá tải bệnh nhân như hiện nay.Nhưng đây là nhóm được quy định rất chặt chẽ trong từng phần vụ: sửa chữa nhỏ vàsửa chữa lớn Vấn đề đặt ra là phải sửa chữa đúng mức, đầy đủ, đáp ứng tiêu chuẩn
Trang 24vệ sinh; đòi hỏi phát huy năng lực quản lý trong nhóm chi này nhằm bảo toàn trị giávốn trong sửa chữa để có kết quả tốt trong việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn bỏ ra.
* Về việc mua sắm tài sản cố định
Bao gồm tiện nghi làm việc và trang thiết bị phục vụ chuyên môn Do tácđộng của cách mạng khoa học kỹ thuật, trang thiết bị cho khám chữa bệnh trongbệnh viện càng hiện đại, sử dụng kỹ thuật ngày càng cao Nhưng hầu hết các trangthiết bị này được sản xuất ở nước ngoài, giá cả tương đối cao Vấn đề đặt ra là việcmua sắm phải tính đến giá cả/ hiệu quả “ Liệu cơm gắp mắm” là phương châm muasắm trang thiết bị cho các bệnh viện Việc mua sắm phải tuân thủ theo các quy địnhcủa Nhà nước đồng thời bệnh viện phải có chiến lược quản lý và sử dụng công nghệ
để đạt hiệu quả
1.2.3.2 Thực hiện dự toán
Thực hiện dự toán là khâu quan trọng trong quá trình quản lý tài chính bệnhviện Đây là quá trình sử dụng tổng hoà các biện pháp kinh tế tài chính và hànhchính nhằm biến các chỉ tiêu đã được ghi trong kế hoạch thành hiện thực Thực hiện
dự toán đúng đắn là tiền đề quan trọng để thực hiện các chỉ tiêu phát triển bệnhviện Tổ chức thực hiện dự toán là nhiệm vụ của tất cả các phòng, ban, các bộ phậntrong đơn vị Do đó đây là một nội dung được đặc biệt quan trọng trong công tácquản lý tài chính của bệnh viện Việc thực hiện dự toán diễn ra trong một niên độngân sách ( ở nước ta là một năm từ ngày 01/01 đến 31/12 hàng năm)
Căn cứ thực hiện dự toán
• Dự toán thu chi ( kế hoạch) của bệnh viện đã được cấp có thẩm quyền phêduyệt Đây là căn cứ mang tính chất quyết định nhất trong chấp hành dự toáncủa bệnh viện Đặc biệt là trong điều kiện hiện nay, cùng với việc tăng cườngquản lý Nhà nước bằng pháp luật, một hệ thống các văn bản quy phạm phápluật điều chỉnh hoạt động quản lý tài chính ngày càng được hoàn thiện Việcchấp hành dự toán thu chi ngày càng được luật hoá, tạo điều kiện cho đơn vịchủ động thực hiện theo đúng chức năng, nhiệm vụ của mình
• Khả năng nguồn tài chính có thể đáp ứng nhu cầu hoạt động của bệnh viện
Trang 25• Chính sách, chế độ chi tiêu và quản lý tài chính hiện hành của Nhà nước.
Yêu cầu của công tác thực hiện dự toán
• Đảm bảo phân phối, cấp phát, sử dụng nguồn kinh phí một cách hợp lý, tiếtkiệm và hiệu quả
• Đảm bảo giải quyết linh hoạt về kinh phí Do sự hạn hẹp của nguồn kinh phí
và những hạn chế về khả năng dự toán nên giữa thực tế diễn ra trong quátrình chấp hành và dự toán có thể có những khoảng cách nhất định đòi hỏiphải có sự linh hoạt trong quản lý Nguyên tắc chung là chi theo dự toánnhưng nếu không có dự toán mà cần chi thì có quyết định kịp thời, đồng thời
có thứ tự ưu tiên việc gì trước, việc gì sau Khi thực hiện dự toán bệnh việncần phải chú ý:
+ Khâu vệ sinh phòng dịch+ Thuốc đảm bảo khám và chữa bệnh+ Trang thiết bị
+ Tiền lương và phụ cấp cho cán bộ công nhân viên+ Sửa chữa, nâng cấp bệnh viện
• Sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt dự toán và nhận được thông báocấp vốn hạn mức, đơn vị chủ động sử dụng để hoàn thành nhiệm vụ đượcgiao
• Tổ chức thực hiện thu nhận các nguồn tài chính theo kế hoạch và theo quyềnhạn
• Tổ chức thực hiện các khoản chi theo chế độ, tiêu chuẩn và định mức theo doNhà nước quy định trên cơ sở đánh giá hiệu quả, chất lượng công việc
1.2.3.3 Quyết toán
Công tác quyết toán là khâu cuối cùng của quá trình sử dụng kinh phí Đây làquá trình phản ánh đầy đủ các khoản chi và báo cáo quyết toán ngân sách theo đúngchế độ báo cáo về biểu mẫu, thời gian, nội dung và các khoản chi tiêu Trên cơ sởcác số liệu báo cáo quyết toán có thể đánh giá hiệu quả phục vụ của chính bệnhviện, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch đồng thời rút ra ưu, khuyết điểm của
Trang 26từng bộ phận trong quá trình quản lý để làm cơ sở cho việc quản lý ở chu kỳ tiếptheo đặc biệt là làm cơ sở cho việc lập kế hoạch của năm sau.
Muốn công tác quyết toán được tốt cần phải:
• Tổ chức bộ máy kế toán theo quy định nhưng đảm bảo tinh giản, gọn nhẹ,linh hoạt và hiệu quả
• Mở sổ sách theo dõi đầy đủ và đúng quy định
• Ghi chép cập nhật, phản ánh kịp thời và chính xác
• Thường xuyên tổ chức đối chiếu, kiểm tra
• Cuối kỳ báo cáo theo mẫu biểu thống nhất và xử lý những trường hợp tráivới chế độ để tránh tình trạng sai sót
• Thực hiện báo cáo quý sau 15 ngày và báo cáo năm sau 45 ngày theo quyđịnh của Nhà nước
1.2.3.4 Thanh tra, kiểm tra, đánh giá
Kiểm tra tài chính trong quản lý bệnh viện công là quá trình giám sát, đolường, đánh giá việc thực hiện và kết quả thực hiện các hoạt động tài chính, từ đóđưa ra các biện pháp điều chỉnh (nếu cần thiết), nhằm bảo đảm kế hoạch tài chínhcủa bệnh viện được thực hiện đúng như dự kiến
Kiểm tra tài chính là nội dung tất yếu của quản lý tài chính, bởi vì quá trìnhthực hiện kế hoạch thu chi, do các lý do khách quan và chủ quan, không phải baogiờ cũng đúng như dự kiến
• Mục tiêu của kiểm tra tài chính nhằm:
- Kịp thời phát hiện sai sót và điều chỉnh, bảo đảm cho bệnh viện thực hiệnđược các kế hoạch đã đề ra
- Giúp đơn vị nắm được tình hình quản lý tài chính, đảm bảo hiệu quả trongđầu tư và sử dụng các nguồn lực
- Đưa công tác quản lý tài chính bệnh viện đi vào nền nếp và nâng cao chấtlượng của các hoạt động tài chính
- Tận dụng được các cơ hội và giảm thiểu được các rủi ro tài chính
• Các nhiệm vụ của kiểm tra tài chính gồm:
Trang 27- Giám sát và đo lường các hoạt động tài chính
- Đánh giá các hoạt động, các quyết định, các kế hoạch tài chính
- Điêù chính nhằm khắc phục hoặc hạn chế sai sót
- Đưa ra những kiến nghị đổi mới
• Các hình thức của kiểm tra tài chính
Xét theo quy trình, gồm:
- Kiểm tra trước khi thực hiện kế hoạch tài chính; là loại kiểm tra được tiếnhành khi xây dựng, xét duyệt và quyết định dự toán thu chi của bệnh viện, khi phântích tài chính và lập kế hoạch tài chính
- Kiểm tra thường xuyên trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ kế hoạch tàichính đã được quyết định Gồm kiểm tra các hoạt động thu chi, kiểm tra kết cấu tàichính, kiểm tra việc phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ
- Kiểm tra sau khi thực hiện kế hoạch tài chính; tức là xem xét lại tính đúngđắn, hợp pháp, hợp lý của các hoạt động tài chính cũng như các số liệu, tài liệu tổnghợp được đưa ra tronbg sổ sách, bảng biểu
Xét theo tần suất kiểm tra, gồm:
- Kiểm tra thường xuyên, đó là theo rõi, kiểm tra liên tục hàng ngày
- Kiểm tra định kì, ví dụ hàng tháng, quý hay năm có kiểm tra tài chính
- Kiểm tra đột xuất, khi cần có thông tin một cách khách quan hoặc khi cần
sự can thiệp gấp của nhà quản lý
Trong kiểm tra tài chính, công tác đánh giá là không thể thiếu Đánh giá việcthực hiện kế hoạch tài chính giúp nhà quản lý thấy rõ kế hoạch đang được thực hiệnđến mức độ nào, liệu có hoàn thành kế hoạch hay không, nguyên nhân tại sao, từ đó
có biện pháp động viên hay sửa chữa cũng như rút kinh nghiệm quản lý Trong hoạtđộng đánh giá thì nội dung đầu tiên là xác định hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá.Tuy nhiên các tiêu chí đánh giá quản lý tài chính hiện nay chưa thống nhất và cònnhiều tranh luận; đối với bệnh viện công lại càng khó khăn do tính đặc thù của nó làgắn bó hữu cơ giữa mục tiêu hiệu quả kinh tế tài chính với mục tiêu công bằngtrong cung cấp dịch vụ y tế cho nhân dân
Trang 28Hướng tới thực hiện đồng thời cả mục tiêu hiệu quả tài chính và mục tiêucông bằng, hiện nay người ta thường dùng một số tiêu chí đánh giá hoạt động tàichính của bệnh viện sau đây:
- Mức độ cân đối tài chính: tổng số thu và chi tiêu hàng năm; cơ cấu cácnguồn thu và sử dụng các nguồn thu
- Hiệu quả các hoạt động ( khám chữa bệnh, nghiên cứu khoa học, ): sosánh kết quả thực tế với chi phí đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó
- Chất lượng chuyên môn: kinh phí đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất kĩ thuật,công nghệ, phương pháp điều trị, nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ nhânlực của bệnh viện
- Hạch toán chi phí bệnh viện: liên quan đến chi phí kế toán và chi phí y tế
- Quy mô của bệnh viện: số chuyên khoa; số giường bệnh; số bác sĩ; mức độtiếp cận các dịch vụ bệnh viện của nhân dân trên địa bàn
1.3 Những nhân tố cơ bản tác động đến quản lý tài chính bệnh viện :
1.3.1 Nhân tố bên ngoài
Các yêú tố môi trường bên ngoài vừa tạo ra những ảnh hưởng tích cực vừa
có thể gây ra những thách thức đối với quản lý tài chính bệnh viện công Các yếu tốmôi trường sau đây cần được xem xét:
a Chính sách, pháp luật của Nhà nước
Trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường nhiều thành phần và hộinhập quốc tế, Nhà nước đã có nhiều thay đổi trong hệ thống chính sách trong đó cóchính sách tài chính y tế Những thay đổi này tạo điều kiện thuận lợi cho các bệnhviện thực hiện hợp tác quốc tế, thu hút nguồn viện trợ nước ngoài cũng như tiếp cậncác tiến bộ khoa học kỹ thuật Trong môi trường hội nhập, bệnh viện có nhiều cơhội trong việc hợp tác với các tổ chức y tế trong và ngoài nước, chuyển giao côngnghệ và nhận các khoản viện trợ không hoàn lại từ các tổ chức quốc tế
Với chính sách xã hội hoá y tế, các thành phần kinh tế và các hình thức sở hữu
trong y tế trở nên đa dạng, tạo điều kiện tăng các nguồn lực xã hội để phát triển y tế.Chính sách này cho phép các bệnh viện đa dạng hoá việc khai thác các nguồn tài
Trang 29chính phục vụ cho công tác khám chữa bệnh của mình: xây dựng khoa khám và điềutrị tự nguyện; phát triển thành bệnh viện bán công; … Chính sách xã hội hoá làm thúcđẩy cạnh tranh giữa các bệnh viện công lập và dân lập, cũng như giữa các bệnh việncông với nhau, đòi hỏi bệnh viện phải nâng cao chất lượng hoạt động khám chữabệnh và hoàn thiện quản lý tài chính theo hướng công bằng và hiệu quả hơn
Hệ thống các chính sách y tế nói chung đều hướng tới việc củng cố và pháttriển hệ thống y tế, nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế đồng thời đảm bảo công bằng
và hiệu quả trong công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân, đặc biệt là các chính sách tàichính áp dụng cho quản lý bệnh viện đã tạo hành lang pháp lý cho bệnh viện tổ chứcthực hiện tốt quản lý tài chính Chính sách viện phí và bảo hiểm y tế là hai chính sáchtài chính y tế có tác động rõ rệt nhất đến quản lý tài chính bệnh viện công
Về chính sách viện phí: Trước thời kỳ đổi mới, các bệnh viện được Nhà nước
bao cấp hoàn toàn, nhân dân được khám chữa bệnh miễn phí Bước sang thời kỳ đổimới, nguồn NSNN không thể đảm bảo cho công tác chăm sóc sức khoẻ nên vấn đềtài chính cho các bệnh viện càng trở nên bức xúc Để có thêm nguồn kinh phí chohoạt động khám chữa bệnh, từ năm 1989 Nhà nước đã ban hành chính sách thu mộtphần viện phí Chính sách này đã tăng nguồn tài chính cho hoạt động của các bệnhviện, góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh Viện phí cũng là một chínhsách tăng cường sự tham gia đóng góp của cộng đồng nhất là các đối tượng có khảnăng chi trả từ đó có thêm nguồn ngân sách để tăng cường khám chữa bệnh chongười nghèo
Về chính sách bảo hiểm y tế: Bảo hiểm y tế được triển khai ở Việt Nam từ năm
1993 và trong những năm qua đã tạo nhiều thuận lợi cho quản lý tài chính bệnh việncông Song các loại hình bảo hiểm y tế tự nguyện chưa đa dạng, phong phú và chưa thu
hút được các đối tượng tham gia Theo số liệu công bố của Bảo hiểm y tế Việt Nam
năm 2009 thì thu bảo hiểm y tế bắt buộc chiếm 60% trong tổng thu bảo hiểm y tế; thu
từ thẻ khám chữa bệnh cho người nghèo chiếm 10%; thu từ bảo hiểm y tế tự nguyệnchiếm 30% tổng thu BHYT
Trang 30b Trình độ phát triển kinh tế- xã hội
Tăng trưởng kinh tế những năm gần đây tương đối cao và ổn định; Cơ sở hạtầng phát triển mạnh mẽ; Lạm phát được kiềm chế; Đầu tư cho y tế nói chung, đặcbiệt là cho các bệnh viện tăng nhiều; Chi từ NSNN cho y tế hàng năm chiếmkhoảng 1% GDP; Tình trạng đói nghèo được cải thiện; v.v Tất cả những yếu tố nóitrên tạo cơ hội tăng nguồn kinh phí cho hoạt động của bệnh viện công, có tác độngtích cực đến quản lý tài chính bệnh viện
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, trình độ dân trí và mứcsống của đại đa số nhân dân được nâng lên so với trước thời kỳ đổi mới Nhu cầukhám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ tăng nhanh về số lượng và đòi hỏi cao hơn vềchât lượng Như vây nguồn thu viện phí và các khoản chi của bệnh viện cũng phảităng theo Tuy nhiên cùng với sự phát triển kinh tế thị trường là sự phân hoá giàunghèo trong tầng lớp dân cư Theo số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê năm
2008, mức chi phí điều trị nội trú bình quân mỗi người một năm là 1.200.000 đồng,chiếm khoảng 10% so với thu nhập - đây là mức chi phí quá cao Một điều tra xãhội học của Bộ Y tế cũng chỉ ra: chỉ có khoảng 30% người dân đủ khả năng tự chitrả đầy đủ chi phí khám chữa bệnh; hơn 30% thuộc diện không chịu nổi mức việnphí như hiện nay
Mặt khác, mặc dù nền kinh tế tăng trưởng tương đối mạnh song do xuất phátđiểm thấp, lại chưa thực sự vững chắc, các lĩnh vực xã hội khác như vấn đề giáo dục,việc làm, an sinh xã hội, môi trường cũng đòi hỏi cấp bách phải chi rất nhiều, dẫnđến đầu tư cho ngành y tế còn chưa tương xứng mặc dù đầu tư phục vụ khám chữabệnh cho các bệnh viện vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng đầu tư cho y tế Do mứcsống người dân nói chung còn thấp nên khả năng thu phí để tái đầu tư mở rộng bệnhviện công còn rất hạn chế Việc xác định các đối tượng nghèo không có khả năng chitrả chi phí khám chữa bệnh để thực hiện các chế độ ưu đãi còn rất khó khăn
c Sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, đặc biệt trong lĩnh vực y học
Ngày nay những tiến bộ nhanh chóng của khoa học công nghệ, đặc biệt là
Trang 31việc áp dụng công nghệ cao và hiện đại trong lĩnh vực khám chữa bệnh, chẩnđoán và điều trị đã mở ra cơ hội hiện đại hóa, phát triển bệnh viện cả về số lượng
và chất lượng Bệnh viện nào không chú ý hoặc không có khả năng áp dụng khoahọc công nghệ thì chắc chắn sẽ trở nên lạc hậu, khó thu hút khách hàng Xét lâudài thì đây cũng là một yếu tố tạo nên năng lực cạnh tranh của bệnh viện trong
cơ chế thị trường
Đối với quản lý tài chính bệnh viện công thì sự phát triển khoa học côngnghệ nói chung, công nghệ trong y học nói riêng vừa tạo cơ hội để phát triển bệnhviện, đồng thời cũng đặt ra những thách thức trong bối cảnh thu - chi sẽ ngày càngcao hơn, phức tạp hơn Rõ ràng là, việc áp dụng các tiến bộ trong lĩnh vực y học vàhiện đại hoá bệnh viện đòi hỏi bệnh viện phải có nguồn tài chính đầu tư cho cả côngnghệ “cứng” (mua sắm máy móc, trang thiết bị hiện đại) và công nghệ “mềm” (đàotạo bác sĩ, nhân viên kĩ thuật để sử dụng công nghệ hiện đại đó) Vì vậy bệnh việncần tranh thủ xã hội hoá, đa dạng hoá các nguồn thu trong khuôn khổ luật pháp,nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư ngày càng cao, tạo điều kiện nâng cao năng lực củabệnh viện
1.3.2 Nhân tố bên trong
1.3.2.1 Phương hướng chiến lược phát triển của bệnh viện
Phương hướng chiến lược phát triển bệnh viện quyết định trực tiếp tới hoạtđộng tài chính cũng như quản lý tài chính của bệnh viện Do đó, bệnh viện phải xácđịnh được chính xác, đúng đắn phương hướng chiến lược phát triển của mình để từ
đó xây dựng các mục tiêu và giải pháp quản lý tài chính phù hợp Mục tiêu chung
mà quản lý tài chính bệnh viện công phải hướng đến là tính hiệuquả và tính côngbằng Tính hiệu quả nghĩa là đảm bảo thực hiện được các mục tiêu của bệnh việnvới kết quả cao nhất và chi phí thấp nhất; do đó nó đòi hỏi phải xem xét thận trọngcác quyết định đầu tư, mua sắm và sử dụng trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ,phương pháp phân bổ và sử dụng các nguồn lực, hệ thống kiểm soát chi tiêu và chấtlượng dịch vụ y tế cung cấp cho nhân dân Tính công bằng nghĩa là cung cấp dịch
vụ y tế đồng đều cho những người có mức độ bệnh tật như nhau, thoả mãn nhu cầu
Trang 32khám chữa bệnh của người dân khi ốm đau với chi phí nhất định mà không đòi hỏikhả năng chi trả của người bệnh là trọng tâm Thực hiện tính công bằng trong điềukiện nguồn NSNN cũng như các nguồn lực khác của bệnh viện còn rất hạn chế quả
là một thách thức lớn đối với quản lý tài chính bệnh viện công
Ngày nay để đáp ứng nhu cầu về chăm sóc sức khỏe của nhân dân đangngày càng tăng lên trong điều kiện nền kinh tế thị trường hội nhập và toàn cầu hóa,phần lớn các bệnh viện công ở nước ta đều xây dựng chiến lược phát triển của mìnhtheo hướng tăng trưởng, đầu tư tài chính cả về chiều rộng và chiều sâu
1.3.2.2 Đội ngũ nhân lực
Nói cho cùng thì con người là nhân tố trung tâm và quyết định sự thànhcông của bệnh viện Đặc biệt do đặc thù của bệnh viện là cung cấp các dịch vụ phục
vụ cho chăm sóc sức khoẻ con người nên yếu tố nhân lực của bệnh viện lại càngquan trọng Nó đòi hỏi đội ngũ y bác sĩ, nhân viên của bệnh viện phải vừa có y đứcvừa có tay nghề chuyên môn tốt
Trong đội ngũ nhân lực của bệnh viện thì ban lãnh đạo, các cán bộ quản lý bệnhviện mà trực tiếp là bộ phận quản lý tài chính là những người đưa ra các quyết địnhtài chính, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động và sự phát triển của bệnh việnnói chung Với đội ngũ cán bộ quản lý tài chính có trình độ chuyên môn nghiệp vụ,
có hiểu biết và kinh nghiệm, năng động và trung thực, là điều kiện tiền đề để côngtác quản lý tài chính của bệnh viện đi vào nền nếp và ngày càng hoàn thiện, gópphần nâng cao hiệu quả quản lý tài chính bệnh viện Ngoài ra đội ngũ cán bộ nhânviên làm việc ở tất cả các bộ phận khác nhau của bệnh viện, thông qua việc thựchiện các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của mình, đều có ảnh hưởng đến quátrình quản lý tài chính bệnh viện
1.3.2.3 Quy mô và chất lượng khám chữa bệnh của bệnh viện
Ngày nay do kinh tế xã hội phát triển đòi hỏi quy mô và chất lượng khámchữa bệnh của bệnh viện cũng phải tăng để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngàycàng cao và đa dạng của nhân dân cũng như để cạnh tranh với các hình thức cungcấp dịch vụ y tế khác Khi quy mô và chất lượng khám chữa bệnh của bệnh viện
Trang 33tăng lên lại đòi hỏi các bệnh viện phải đầu tư mua sắm thiết bị, phương tiện hiệnđại, kỹ thuật mới, thuốc mới cũng như phải đầu tư cho đào tạo, bồi dưỡng nâng caotay nghề của đội ngũ nhân lực Điều này đặt hoạt động quản lý tài chính bệnh việntrước những thách thức mới trong bối cảnh quy mô và chất lượng khám chữa bệnhcủa bệnh viện công hiện nay còn hạn chế Tuy nhiên nếu xác định quy mô bệnh việnphù hợp và nâng cao được chất lượng khám chữa bệnh sẽ tạo cơ sở để tăng thu nhập
và cân đối thu chi tài chính cho bệnh viện
1.3.2.4 Văn hoá bệnh viện, đặc biệt là mối quan hệ giữa bệnh viện với khách hàng
Trong cơ chế mới, mối quan hệ giữa bệnh viện và bệnh nhân là mối quan hệgiữa người cung cấp dịch vụ và khách hàng sử dụng các dịch vụ đó Mối quan hệ đótrước hết phụ thuộc vào năng lực chuyên môn và thái độ phục vụ của đội ngũ y bác
sĩ, nhân viên bệnh viện Khi cán bộ nhân viên bệnh viện có quan hệ tốt với kháchhàng của mình, tức là với bệnh nhân, sẽ tạo được uy tín của bệnh viện trước xã hội,tạo khả năng và xu hướng phát triển bệnh viện trong tương lai Với uy tín trong hoạtđộng khám chữa bệnh của mình, bệnh viện còn tranh thủ được sự giúp đỡ của các tổchức quốc tế thông qua các dự án viện trợ không hoàn lại; hoặc liên doanh, liên kết,
mở rộng hợp tác đầu tư trong và ngoài nước Để xây dựng văn hoá bệnh viện theohướng phục vụ khách hàng, bệnh viện cần có những quy định cụ thể về thái độ vàhành vi ứng xử, về y đức và về chuyên môn cho đội ngũ các y bác sĩ và nhân viêncủa bệnh viện, quan tâm đến công tác giáo dục và có cơ chế thưởng phạt nghiêmminh đối với những người vi phạm những quy định đó
Ngoài ra các yếu tố khác như quy mô bệnh viện, vị trí địa lý, hệ thống thôngtin… cũng có ảnh hưởng đến công tác quản lý tài chính bệnh viện
Trang 34Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI BỆNH VIỆN 198 -
BỘ CÔNG AN 2.1 Khái quát về Bệnh viện 198 – Bộ Công An
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Bệnh viện 198 – Bộ Công An
Tiền thân của Bệnh viện 19.8 là những đơn vị có lịch sử gắn liền với cuộckháng chiến chống Mỹ cứu nước, đó là Bệnh xá 265 - Công an nhân dân vũ trang
và Bệnh viện 367 Bộ công an
Ngày 14/09/1961, Thiếu tướng Phạm Kiệt, Tư lệnh Công an nhân dân vũtrang, ký Quyết định thành lập Bệnh xá 265 trực thuộc Cục Hậu cần, chịu sự chỉđạo nghiệp vụ của phòng Quân y Biên chế ban đầu gồm 72 cán bộ, nhân viên Tổchức thành 06 bộ phận: ban Điều trị, ban Dược, ban Xét nghiệm, ban Cấp dưỡng,phòng Khám bệnh, đội Phẫu thuật lưu động Bệnh xá 265 có nhiệm vụ khám, chữabệnh cho cán bộ chiến sỹ, công nhân viên cơ quan Bộ Tư lệnh và các đơn vị Công
an nhân dân vũ trang trên địa bàn Hà Nội, sẵn sàng cơ động phục vụ chiến đấu
Ngày 07/11/1967, Bệnh viện 367 được thành lập theo Quyết định số 837CA/QĐ của Bộ Công an với 50 giường bệnh, trực thuộc Văn phòng Bộ Tổ chứcBệnh viện 367 gồm: khoa Nội, khoa Ngoại, phòng Khám bệnh (bao gồm cả Xétnghiệm, Dược), tổ Hành chính quản trị, tổ Tổ chức và Y vụ Bệnh viện 367 cónhiệm vụ khám và chữa bệnh cho cán bộ, công nhân viên công an, tham gia côngtác phòng bệnh trong cơ quan Bộ Công an và nhân dân khu vực Bệnh viện đóngquân, tham gia công tác nghiên cứu khoa học, đào tạo cán bộ y tế của ngành
Ngày 28 tháng 8 năm 1976, Bệnh viện 19-8 đã ra đời trên cơ sở hợp nhất haibệnh xá trong thời chiến đó
Hiện nay, Bệnh viện 19.8 là Bệnh viện đa khoa Hạng I, đầu ngành của Y tếCAND, với quy mô 600 giường bệnh, 41 khoa, phòng, trung tâm, với gần 1000 cán
bộ chiến sỹ, công nhân viên Bệnh viện có đội ngũ cán bộ chuyên môn giỏi, giàukinh nghiệm; Bệnh viện đã có 05 Phó Giáo sư; hàng chục Tiến sỹ, chuyên khoa II;hàng trăm Thạc sỹ, Bác sỹ chuyên khoa I
Trang 35Dưới sự lãnh đạo của Đảng uỷ và Ban giám đốc qua các thời kỳ, với sự nỗlực phấn đấu của các thế hệ cán bộ chiến sỹ, công nhân viên; Bệnh viện 19.8 đã liêntục trưởng thành và phát triển, lập được thành tích tiêu biểu xuất sắc trên mọi lĩnhvực công tác; Uy tín Bệnh viện ngày một nâng cao.
Lần đầu tiên kể từ khi thành lập, thương hiệu của Bệnh viện 19.8 đã vượt rangoài biên giới quốc gia khi có rất nhiều bệnh nhân ở các nước có nền y học tiêntiến như Anh, Bỉ, Nga, Hàn Quốc, Australia tìm đến Bệnh viện xin được điều trị và
đã đạt được kết quả bước đầu quan trọng
Đặc biệt, trong đợt bình xét tiêu chuẩn Thương hiệu bền vững và phát triểntrên toàn quốc năm 2010, Bệnh viện 19.8 là 1 trong 10 đơn vị, vinh dự được traoCúp vàng “Thương hiệu bền vững và thịnh vượng” Đây là đánh giá khách quan và
sự ghi nhận uy tín ngày càng cao của Bệnh viện 19.8 Tháng 06 năm 2011 Uỷ banTrung ương Mặt trận Tổ quốc Việt nam trao tặng danh hiệu “Vì cộng đồng nhân áithịnh vượng” cho Bệnh viện 19.8 vì có nhiều thành tích trong công tác hoạt độngnhân đạo từ thiện
Với những công lao, đóng góp to lớn và quan trọng vào sự nghiệp chung củaLực lượng Công an nhân dân trong suốt 50 năm xây dựng, trưởng thành và pháttriển của Bệnh viện 19.8, đã được Đảng, Nhà nước và Bộ công an ghi nhận
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Bệnh viện 198
2.1.2.1 Chức năng và nhiệm vụ của Bệnh viện 198
Bệnh viện có nhiệm vụ khám chữa bệnh cho cán bộ chiến sỹ, công nhân viêncông an, đối tượng bảo hiểm và nhân dân, tham gia y tế cộng đồng, nghiên cứukhoa học, chỉ đạo tuyến, làm nhiệm vụ quốc tế và các nhiệm vụ khác do lãnh đạo
Bộ Công an, Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật giao phó
Cấp cứu - khám bệnh - chữa bệnh:
- Tiếp nhận tất cả các trường hợp người bệnh từ ngoài vào hoặc các Bệnh việnkhác chuyển đến để cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh nội trú và ngoại trú
- Tổ chức khám sức khoẻ và chứng nhận sức khoẻ theo quy định của Nhà nước
- Có trách nhiệm giải quyết toàn bộ bệnh tật từ các nơi chuyển đến cũng nhưtại địa bàn Hà Nội.Tổ chức khám giám định sức khoẻ khi hội đồng giám định y
Trang 36khoa trung ương hoặc tỉnh, thành phố, trưng cầu; khám giám định pháp y khi cơquan bảo vệ pháp luật trưng cầu.
Nghiên cứu khoa học về y học:
- Tổ chức thực hiện các đề tài nghiên cứu về y học và ứng dụng những tiến bộ
kỹ thuật y học ở cấp Nhà nước, cấp bộ, cấp Cơ sở, chú trọng nghiên cứu y học cổtruyền kết hợp với y học hiện đại và các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc
- Kết hợp với các bệnh viện chuyên khoa đầu ngành để phát triển kỹ thuật của Bệnhviện
- Nghiên cứu dịch tễ học cộng đồng trong công tác chăm sóc sức khỏe banđầu…
Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn kỹ thuật:
- Lập kế hoạch và tổ chức thực hiện chỉ đạo các Bệnh viện tuyến dưới pháttriển kỹ thuật chuyên môn nâng cao chất lượng chuẩn đoán và điều trị
- Kết hợp với các Bệnh viện tuyến dưới thực hiện chương trình và kế hoạchchăm sóc sức khoẻ ban đầu trong khu vực
Phòng bệnh:
- Tuyên truyền, giáo dục sức khoẻ cho cộng đồng
- Phối hợp với các cơ sở y tế phòng thực hiện thường xuyên nhiệm vụ phòngbệnh, phòng dịch
Hợp tác quốc tế:
Hợp tác với các tổ chức hoặc cá nhân ở ngoài nước theo đúng quy định củaNhà nước
Quản lý kinh tế trong bệnh viện:
- Có kế hoạch sử dụng hiệu quả cao ngân sách Nhà nước cấp
- Thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của Nhà nước về thu, chi ngân sáchcủa Bệnh viện Từng bước hạch toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh
Trang 37- Tạo thêm nguồn kinh phí từ các dịch vụ y tế: Viện phí, bảo hiểm, y tế, đầu tưcủa nước ngoài và các tổ chức kinh tế khác.
2.1.2.2 Cơ cấu tổ chức của Bệnh viện 198 – Bộ Công An
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Bệnh viện 198 – Bộ Công An
(Nguồn: http://benhvien198.vn)
Tổ chức bộ máy và nhân sự phòng Tài chính kế toán:
Tham mưu cho Bệnh viện về lĩnh vực tài chính, lập kế hoạch kinh phí xâydựng, tiền lương, nuôi dưỡng bệnh nhân công an, thuốc men, dụng cụ y tế, Tiếpnhận kinh phí, giám sát chi tiêu, quản lý quỹ vốn, tổ chức thực hiện chế độ tài chính
Trang 38cho mọi hoạt động của bệnh viện theo những quy định của Nhà nước Dưới sự chỉđạo trực tiếp của Giám đốc bệnh viện ; phòng hiện có 30 cán bộ.
Cơ cấu tổ chức phòng : Gồm 1 trưởng phòng , 2 phó trưởng phòng ( trong đó
1 phó phòng phụ trách tổ kế toán tổng hợp , tổ kế toán viện phí và 1 phó phòng phụtrách tổ kho quỹ ) và 27 cán bộ Trình độ thạc sỹ : 01 cán bộ , cử nhân : 19 cán bộ ,cao đẳng : 7 cán bộ , trung cấp : 3 cán bộ
Nói chung, cơ cấu và nhân sự thực hiện công tác tài chính kế toán của BV
198 hiện nay còn mỏng về chuyên môn,đa số cán bộ phòng là nữ Do vậy có tìnhtrạng nghỉ thai sản , nghỉ ốm đau, nhiều cũng phần nào ảnh hưởng tới công việcphòng nhất là khi quy mô và sự phức tạp trong công tác này đang ngày một tăng,đòi hỏi đội ngũ nhân lực làm công tác tài chính kế toán phải nâng cao trình độ và kĩnăng chuyên môn nghiệp vụ
Sơ đồ 2.2 : Cơ cấu tổ chức phòng TC- KT BV 198
2.2 Khái quát các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính ở Bệnh viện
198 – Bộ Công An
2.2.1 Nhân tố bên ngoài :
a Đặc điểm kinh tế xã hội thành phố Hà Nội
Trang 39Kinh tế Thủ đô duy trì tăng trưởng khá, đạt cao nhất trong 4 năm trở lạiđây.Ước tính năm 2015, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tăng 9,24% so cùng kỳnăm trước Trong đó: Giá trị tăng thêm ngành nông lâm nghiệp thuỷ sản tăng 2,47%(đóng góp 0,11% vào mức tăng chung của GRDP) Giá trị tăng thêm ngành côngnghiệp, xây dựng tăng 9,11% (đóng góp 3,79% vào mức tăng chung) Giá trị tăngthêm ngành dịch vụ tăng 9,91% (đóng góp 5,34% vào mức tăng chung) Tổng mứclưu chuyển hàng hoá và doanh thu dịch vụ tăng 11,7%, trong đó, bán lẻ tăng 11,5%.Hoạt động du lịch đạt kết quả khá Năm 2015, khách du lịch quốc tế lưu trú tại HàNội tăng 9,6%.
Về dân số, ước tính dân số toàn thành phố năm 2015 là 7379,3 nghìn người tăng1,6% so với năm 2014, trong đó dân số thành thị là 3627,1 nghìn người chiếm 49,2%tổng số dân và tăng 1,5%; dân số nông thôn là 3752,2 nghìn người tăng 1,6%
Về lao động - việc làm: Tính đến cuối tháng 11 năm 2015, toàn Thành phố
đã giải quyết việc làm cho 143.600 lao động, vượt chỉ tiêu kế hoạch 1,1% Uớc cảnăm giải quyết 148.000 lao động, vượt chỉ tiêu kế hoạch 4,2%
Đời sống của đa số dân cư năm 2015 nhìn chung ổn định và có phần được cảithiện hơn so với năm trước Tỷ lệ hộ nghèo năm 2015 là 1,75% (năm 2014 là 2,08%)
Với những yếu tố trên đã tạo những cơ hội cũng như các tháchthức trong quátrình phát triển của bệnh viện, điều này đòi hỏi việc nâng cao côngtác quản lý tàichính của bệnh viện nhằm phù hợp với sự phát triển đó
b Nhu cầu khám chữa bệnh của người dân :
Cuộc sống hiện đại ngày càng được nâng cao kéo theo đó là tỉ lệ số ngườimang trong mình những căn bệnh hiểm nghèo ngày một nhiều Người ta dần quantâm hơn đến sức khỏe của chính bản thân mình và những thành viên trong gia đình
Là bệnh viện nằm ở vị trí trung tâm quận Cầu Giấy và toàn bộ khu vực phía tâythủ đô Hà Nội Do đó nhu cầu khám chữa bệnh của người dân là rất lớn và cực kỳcấp thiết
2.2.2 Nhân tố bên trong
Trang 40* Khả năng cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh của Bệnh viện 198 :
a Nhân tố con người và văn hóa bệnh viện :
Con người là nhân tố trung tâm trong hoạt động của một tổ chức Đặc biệtdođặc thù của Bệnh viện 198 là cung cấp các dịch vụ phục vụ cho chămsóc sứckhỏe chủ yếu cho cán bộ chiến sỹ công an nhân dân thì yếu tố con người lại càngquan trọng Nó đòi hỏi conngười phải có Tâm vừa có Tài Trong yếu tố con người ởđây cần nhấn mạnh đến cánbộ quản lý Người làm quản lý có ảnh hưởng trực tiếpđến tënh kịp thời, chính xáccủa các quyết định quản lý Do vậy, nó ảnh hưởng trựctiếp đến chất lượng hoạtđộng của bộ máy quản lý nói chung cũng như quản lý tàichính nói riêng
Nguồn nhân lực của Bệnh viện 198 thiếu cả về số lượng và chất lượng đặcbiệt là các bác sĩ có trình độ chuyên môn cao Do thiếu lao động nên mỗi cán bộnhân viên bệnh viện phải đảm đương nhiều ca, kíp trực
Chế độ lương thưởng cho người lao động còn nhiều hạn chế, thu nhập dựachủ yếu vào phân bổ nguồn kinh phí từ trên rót xuống
Riêng đội ngũ cán bộ quản lý tài chính, kế toán của bệnh viện thì trình độ,năng lực của cán bộ còn bất cập, chưa đáp ứng được các yêu cầu hoàn thiện, đổimới quản lý tài chính cho phù hợp theo cơ chế mới, nhất là khi quy mô bệnh việntăng nhanh, các yếu tố thị trường tác động mạnh tới hoạt động của bệnh viện
Về yếu tố văn hóa: Thực tế là văn hóa bệnh viện không có ảnh hưởng trực tiếp đến
quản lý tài chính của bệnh viện Nhưng ảnh hưởng của văn hóa lại thường lâu dài,sâu sắc, có thể ảnh hưởng theo hướng tích cực hoặc tiêu cực Về cơ bản mấy nămgần đây ở Bệnh viện 198 đã xây dựng và đang cố gắng thực hiện văn hóa bệnh viện
“ hướng tới khách hàng”, tức là giáo dục cán bộ nhân viên có thái độ tận tụy, nhiệttình với người bệnh, thực hiện y đức và nâng cao trình độ chuyên môn để phục vụngày càng tốt hơn
Tuy nhiên tại Bệnh viện vẫn tồn tại một số điểm yếu về văn hóa có ảnh hưởngtiêu cực tới quản lý tài chính Bệnh viện như:
- Thói quen sử dụng tiền của, tài sản công lãng phí, thậm chí có cả hiện