1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) Tổ chức và hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông

81 70 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 706,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

(Luận văn thạc sĩ) Tổ chức và hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông(Luận văn thạc sĩ) Tổ chức và hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông(Luận văn thạc sĩ) Tổ chức và hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông(Luận văn thạc sĩ) Tổ chức và hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông(Luận văn thạc sĩ) Tổ chức và hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông(Luận văn thạc sĩ) Tổ chức và hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông(Luận văn thạc sĩ) Tổ chức và hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông(Luận văn thạc sĩ) Tổ chức và hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông(Luận văn thạc sĩ) Tổ chức và hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông(Luận văn thạc sĩ) Tổ chức và hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông(Luận văn thạc sĩ) Tổ chức và hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông(Luận văn thạc sĩ) Tổ chức và hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông(Luận văn thạc sĩ) Tổ chức và hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

=============

VÕ VĂN NAM

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC

HỘI TỈNH ĐĂK NÔNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Hà Nội, 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

=============

VÕ VĂN NAM

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC

HỘI TỈNH ĐĂK NÔNG

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi dưới sự định hướng, giúp đỡ của thầy hướng dẫn Các số liệu, kết quả in trong luận văn là khách quan, trung thực

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi được bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

VÕ VĂN NAM

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình nghiên cứu luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của quý thầy, cô giáo và của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân

Trước hết tôi xin gửi tới quý thầy giáo, cô giáo Học viện Khoa học xã hội, lời chào trân trọng, lời chúc sức khỏe và lời cảm ơn sâu sắc với sự quan tâm, giảng dạy, chỉ bảo tận tình, chu đáo của quý thầy cô, đến nay tôi đã hoàn

thành luận văn, đề tài:“Tổ chức và hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông”

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo

TS Lê Anh Tuấn, đã quan tâm giúp đỡ, tận tình hướng dẫn tôi hoàn

thành luận văn này trong thời gian qua

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến lãnh đạo Học viện Khoa học xã hội, Khoa luật đã trực tiếp và gián tiếp giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Đắk Lắk, 10 tháng 5 năm 2019

Học viên

VÕ VĂN NAM

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI 7

1.1 Sự cần thiết phải có Đoàn đại biểu Quốc hội 7

1.2 Địa vị pháp lý và chức năng của Đoàn đại biểu Quốc hội 10

1.2.1 Sự hình thành và phát triển chế định Đoàn đại biểu Quốc hội 10

1.2.2 Vị trí, vai trò của Đoàn đại biểu Quốc hội 13

1.2.3 Tổ chức và nhiệm vụ của Đoàn đại biểu Quốc hội 16

Tiểu kết chương 19

Chương 2: THỰC TIỄN TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI - QUA HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TỈNH ĐĂK NÔNG TỪ QUỐC HỘI KHÓA XII (2007-2011) ĐẾN NAY 22

2.1 Sơ lược đặc điểm về địa lý, kinh tế - xã hội tỉnh Đăk Nông 22

2.2 Bối cảnh hoạt động của Quốc hội trong giai đoạn hiện nay 23

2.3 Thực tiễn tổ chức Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông từ Quốc hội khóa XII (2007-2011) đến nay 24

2.3.1 Cơ cấu tổ chức của Đoàn đại biểu Quốc hội Khóa XII tỉnh Đăk Nông (Nhiệm kỳ 2007 – 2011) 24

2.3.2 Cơ cấu tổ chức của Đoàn đại biểu Quốc hội Khóa XIII tỉnh Đăk Nông (Nhiệm kỳ 2011 – 2016) 25

2.3.3 Cơ cấu tổ chức của Đoàn đại biểu Quốc hội Khóa XIV tỉnh Đăk Nông (Nhiệm kỳ 2016 – 2021) 25

2.4 Thực tiễn hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông từ khóa XII đến nay 27

Trang 6

2.4.1 Về hoạt động xây dựng pháp luật 27

2.4.2 Hoạt động giám sát 29

2.4.3 Hoạt động tiếp xúc cử tri 38

2.4.4 Hoạt động tiếp công dân, tiếp nhận và xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân 41

2.4.5 Quan hệ công tác của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh 43

2.4.6 Một số nhận xét về hoạt động của đại biểu Quốc hội chuyên trách tại địa phương trong thời gian qua 44

2.5 Một số tồn tại, hạn chế 46

2.5.1 Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, hoạt động của Đoàn ĐBQH tỉnh Đăk Nông còn những tồn tại, hạn chế sau 46

2.5.2 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 48

2.5.3 Một số bài học kinh nghiệm từ thực tiễn hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông 51

Tiểu kết chương Error! Bookmark not defined Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TỈNH ĐĂK NÔNG 53

3.1 Về cơ cấu Đại biểu Quốc hội 56

3.2 Hoàn thiện các quy định về Quốc hội và hoạt động của Quốc hội 58

3.3 Về bộ máy giúp việc của Đoàn đại biểu Quốc hội 60

3.4 Phương hướng về tổ chức và hoạt động Đoàn đại biểu Quốc hội từ thực tiễn Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông 62

KẾT LUẬN 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ĐBQH: Đại biểu Quốc hội ĐĐBQH: Đoàn đại biểu Quốc hội HĐND: Hội đồng nhân dân NCS: Nghiên cứu sinh PGS-TS: Phó giáo sư, tiến sỹ TXCT: Tiếp xúc cử tri UBTVQH: Ủy ban thường vụ Quốc hội UBND: Ủy ban nhân dân

UBMTTQ: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc

XHCN: Xã hội chủ nghĩa

Trang 8

MỞ ĐẦU + Tính cấp thiết của đề tài

Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng cộng sản Việt Nam

xác định “Nhà nước Việt Nam là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của

nhân dân, là nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân Quyền lực nhà nước

là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” [2, tr.27] Quan điểm này đã

được thể chế hóa qua các bản Hiến pháp và gần đây nhất Hiến pháp 2013 tiếp tục khẳng định: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp [Điều 2 - Hiến pháp 2013]

Việc xây dựng nhà nước pháp quyền đòi hỏi phải cải cách toàn diện Bộ máy nhà nước Trong đó việc đổi mới Quốc hội rất quan trọng, vì Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Hiệu quả hoạt động của Quốc hội được bảo đảm bằng hiệu quả của các kỳ họp Quốc hội, hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội, các đại biểu Quốc hội và hiệu quả của sự phối hợp hoạt động với

các cơ quan, tổ chức hữu quan

Đoàn đại biểu Quốc hội là một hình thức tổ chức đặc thù trong tổ chức

và hoạt động của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là tổ chức của các đại biểu Quốc hội được bầu tại một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc được chuyển đến công tác tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Nhiệm vụ, quyền hạn và phương thức hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội do Luật tổ chức Quốc hội và Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội, Đoàn đại

Trang 9

biểu Quốc hội quy định Hiệu quả hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội đóng góp quan trọng vào hiệu quả hoạt động chung của Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội mà đại biểu Quốc hội trong Đoàn là thành viên Thực tế cho thấy, hoạt động của các Đoàn đại biểu Quốc hội đã góp phần tạo nên thành công và chất lượng cho các kỳ họp Quốc hội Tuy nhiên, với thực trạng pháp luật về Đoàn đại biểu Quốc hội hiện nay và thực tế thi hành pháp luật liên quan đến Đoàn đại biểu Quốc hội ở tỉnh Đăk Nông đang đặt ra nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn cần làm sáng tỏ Đoàn đại biểu Quốc hội có phải là một cơ quan của Quốc hội hay không? Nếu không phải là cơ quan của Quốc hội thì Đoàn đại biểu Quốc hội là

cơ quan gì? Với cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội trong Đoàn đại biểu Quốc hội nói chung, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông nói riêng và thực trạng tổ chức bộ máy cơ quan tham mưu giúp việc hiện nay có thể bảo đảm cho các Đoàn đại biểu Quốc hội thực hiện được tốt nhiệm vụ, quyền hạn mà Luật quy định hay không?

Từ những phân tích trên đây, tác giả cho rằng việc nghiên cứu đề tài “Tổ chức và hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông” là rất cần thiết

Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức, hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội qua thực tiễn của tỉnh Đăk Nông, từ đó tìm giải pháp, đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của Đoàn đại biểu

Quốc hội nói chung và Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông nói riêng

+ Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Đã có rất nhiều các nghiên cứu, các đề tài khoa học về Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội Tuy nhiên, hiện mới chỉ có một vài nghiên cứu về chức năng, vai trò và hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội; Một số bài viết về Đoàn đại biểu Quốc hội của các cán bộ tại Văn phòng Quốc hội được đăng tải rải rác ở các tạp chí

và sách báo khác nhau Trong các giáo trình Hiến pháp hay các sách chuyên khảo về Quốc hội thì phần về Đoàn đại biểu Quốc hội cũng chỉ chiếm một dung lượng rất nhỏ (chỉ một vài trang thậm chí là nửa trang) Có 01 luận văn Thạc sỹ về “Tổ chức

và hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội trong thời kỳ đổi mới” của Trần Văn

Trang 10

Đây là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách tổng thể có hệ thống và khá toàn diện về tổ chức, hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội; từ đó đưa

ra phương hướng, giải pháp cụ thể hoàn thiện hình thức tổ chức, phương thức hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội từ thực tiễn tổ chức và hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội

Các tài liệu đã thu thập được:

- Các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992, Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung và Hiến pháp ban hành năm 2013

- Các văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc của Đảng cộng sản Việt Nam

- Luật tổ chức Quốc hội; Quy chế hoạt động của Đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội; Luật hoạt động giám sát của Quốc hội…

- Sách chuyên khảo Quốc hội trong Nhà nước Pháp quyền – GS.TS Nguyễn Đăng Dung

- Các bài viết về Quốc hội của các tác giả GS.TS Nguyễn Đăng Dung; TS Nguyễn Sỹ Dũng; TS Trần Ngọc Đường; TS Bùi Xuân Đức…

- Quốc hội Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn – Văn phòng Quốc hội

- Báo cáo hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông Khoá XII, XIII

+ Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Luận văn tập trung nghiên cứu vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức, hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội từ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII (2007-2011) cho đến nay

- Đánh giá thực trạng hoạt động của hình thức Đoàn đại biểu Quốc hội qua hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông từ đầu nhiệm kỳ khóa XII (2007-2011) đến nay (tỉnh Đăk Nông được thành lập vào ngày 01 tháng 01 năm 2004, theo Nghị quyết số 23/2003/QH11 ban hành ngày 26 tháng 11 năm

2003 của Quốc hội trên cơ sở chia tách tỉnh Đăk Lăk thành 2 tỉnh Đăk Lăk

Trang 11

+ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên, có hệ thống về tổ chức và hoạt động của Đoàn ĐBQH qua thực tiễn tổ chức và hoạt động của Đoàn ĐBQH tỉnh Đăk Nông, từ đó chỉ ra những vấn đề lớn về lý luận và thực tiễn hoạt động; đề xuất các kiến nghị cụ thể về tổ chức và hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội nói chung

và của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông nói riêng

- Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế định về địa vị pháp lý, tổ chức và hoạt động của các Đoàn đại biểu Quốc hội

+ Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Tác giả luận văn đã sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, phép biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, đối chiếu, so sánh, thống kê và tổng hợp; phương pháp phân tích quy phạm cũng được tác giả vận dụng để phân tích, bình luận một số quy định pháp luật

+ Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Mục đích: Nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của Đoàn ĐBQH qua thực tiễn tỉnh Đăk Nông từ đó đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật, đổi mới tổ chức

và hoạt động của Đoàn ĐBQH nói chung và của Đắk Nông nói riêng phù hợp với đặc điểm cụ thể của tỉnh Đắk Nông

Trang 12

động của tổ chức và hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội trong giai đoạn hiện nay Kết quả nghiên cứu trên có thể áp dụng trong quá trình tổ chức và hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội

Khả năng ứng dụng trong thực tiễn: Luận chứng và luận cứ trình bày ở luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo và các kiến nghị tác giả luận văn đề xuất có thể áp dụng trong quá trình nghiên cứu để sửa đổi Quy chế hoạt động của

Đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội; Sửa đổi Luật Tổ chức Quốc hội

+ Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT

ĐỘNG CỦA ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

1.1 Sự cần thiết phải có Đoàn đại biểu Quốc hội

1.2 Địa vị pháp lý và chức năng của Đoàn đại biểu Quốc hội

1.2.1 Sự hình thành và phát triển chế định Đoàn đại biểu Quốc hội

1.2.2 Vị trí, vai trò của Đoàn đại biểu Quốc hội

1.2.3 Nhiệm vụ của Đoàn đại biểu Quốc hội

Tiểu kết chương

Chương 2 THỰC TIỄN TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOÀN ĐẠI

BIỂU QUỐC HỘI – QUA HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TỈNH ĐĂK NÔNG KHÓA XII (NHIỆM KỲ 2007 – 2011) ĐẾN NAY

2.1 Sơ lược đặc điểm về địa lý, kinh tế - xã hội tỉnh Đăk Nông

2.2 Bối cảnh hoạt động của Quốc hội trong giai đoạn hiện nay

2.3 Thực tiễn tổ chức Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông nhiệm kỳ khóa XII đến nay

2.3.1 Cơ cấu tổ chức của Đoàn đại biểu Quốc hội Khóa XII tỉnh Đăk Nông (Nhiệm kỳ 2007 – 2011)

2.3.2 Cơ cấu tổ chức của Đoàn đại biểu Quốc hội Khóa XIII tỉnh Đăk

Trang 13

2.3.3 Cơ cấu tổ chức của Đoàn đại biểu Quốc hội Khóa XIV tỉnh Đăk Nông (Nhiệm kỳ 2016 – 2021)

2.4 Thực tiễn hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông từ khóa XII đến nay

2.4.1 Về hoạt động xây dựng pháp luật

2.4.2 Hoạt động giám sát

2.4.3 Hoạt động tiếp xúc cử tri

2.4.4 Hoạt động tiếp công dân, tiếp nhận và xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân

2.4.5 Quan hệ công tác của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh

2.4.6 Một số nhận xét về hoạt động của đại biểu Quốc hội chuyên trách tại địa phương trong thời gian qua

2.5 Một số tồn tại, hạn chế

2.5.1 Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, hoạt động của Đoàn

ĐBQH tỉnh Đăk Nông còn những tồn tại, hạn chế sau

2.5.2 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế

2.5.3 một số bài học kinh nghiệm từ thực tiễn hoạt động của Đoàn ĐBQH tỉnh Đăk Nông

Tiểu kết chương

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ

HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TỈNH ĐĂK NÔNG 3.1 Về cơ cấu đại biểu Quốc hội

3.2 Về hoàn thiện các quy định về Quốc hội và hoạt động của Quốc hội 3.3 Về bộ máy giúp việc Đoàn đại biểu Quốc hội

3.4 Phương hướng về tổ chức và hoạt động Đoàn đại biểu Quốc hội từ

thực tiễn Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông

Trang 14

Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, bởi vì Quốc hội là cơ quan duy nhất được nhân dân trực tiếp bầu ra Trong hệ thống cơ quan nhà nước, nhân dân còn trực tiếp bầu ra đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp Nhưng Hội đồng nhân dân chỉ là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, do nhân dân từng địa phương bầu ra Chính việc Quốc hội do cử tri trong toàn quốc bầu ra từ những đại diện của mọi thành phần trong xã hội, từ mọi địa phương trên đất nước

đã tạo ra cho Quốc hội ưu thế đặc biệt, hơn hẳn các cơ quan nhà nước khác trong

bộ máy nhà nước

Ở Việt Nam, Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp Quốc hội làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp Việc soạn thảo, thông qua, công bố Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp và thủ tục, trình tự giải thích Hiến pháp do Quốc hội quy định Căn cứ vào Hiến pháp, Quốc hội ban hành Luật, Nghị quyết

Với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, đứng đầu toàn bộ các cơ quan hợp thành bộ máy nhà nước, Quốc hội phải thay mặt nhân dân quyết định những vấn đề quan trọng thuộc về sinh mệnh của đất nước Về nội dung, theo quy định của pháp luật hiện hành, những vấn đề quan trọng của đất nước thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội Nhìn chung, quy định pháp luật về quy trình Quốc hội xem xét, quyết định khá chặt chẽ, đầy đủ các bước, các khâu, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, về cơ bản bảo đảm phản ánh đầy đủ

ý kiến của các đại biểu Quốc hội, các cơ quan, tổ chức hữu quan, bảo đảm chất

Trang 15

lượng các quyết định; quy trình thường xuyên được cải tiến hoàn thiện hơn Các nghị quyết của Quốc hội về các vấn đề quan trọng của đất nước về cơ bản đã cụ thể hoá kịp thời và đúng đắn đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, bảo đảm nguyên tắc lãnh đạo của Đảng Chất lượng các báo cáo thẩm tra của các cơ quan Quốc hội ngày càng được nâng cao, có chính kiến rõ ràng hơn, mang tính phản biện hơn làm cơ sở các đại biểu Quốc hội thảo luận, biểu quyết; nhiều nội dung được đưa vào trong các Nghị quyết của Quốc hội Các đại biểu Quốc hội đã

có nhiều cố gắng trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình, thể hiện trách nhiệm cao trước cử tri và nhân dân cả nước Quốc hội thực hiện chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước ngày càng đầy đủ hơn những nội dung thuộc thẩm quyền, có tính chất thường xuyên hơn và dần đi vào nền nếp Quy trình thảo luận, xem xét, quyết định bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số Chất lượng các quyết định của Quốc hội được nâng lên Các quyết định của Quốc hội được các ngành, các cấp nghiêm chỉnh triển khai và có tác động lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thực sự là cơ sở quan trọng để Quốc hội thực hiện chức năng giám sát, góp sức cùng các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện tốt hơn chức năng, nhiệm vụ của mình

Trong hoạt động giám sát của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội được Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân quy định một cách rõ ràng cụ thể (Điều 37): Thẩm tra báo cáo của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước quy định tại khoản 1 Điều 13 của Luật này thuộc lĩnh vực Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội phụ trách hoặc theo sự phân công của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Giám sát văn bản quy phạm pháp luật quy định tại điểm c khoản 1 Điều 4 của Luật này; Giám sát chuyên đề; Tổ chức hoạt động giải trình những vấn đề thuộc lĩnh vực Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội phụ trách; Giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân; Kiến nghị về việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn

Trang 16

Đoàn đại biểu Quốc hội là một hình thức tổ chức đặc thù trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội nước ta Hình thức tổ chức Đoàn đại biểu Quốc hội ra đời ngay từ kỳ họp thứ ba của Quốc hội Khóa I và tồn tại từ đó cho đến nay Theo quy định của pháp luật hiện hành, Đoàn đại biểu Quốc hội là tổ chức của các đại biểu Quốc hội được bầu tại một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc được chuyển đến công tác tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, do đó không nên coi Đoàn đại biểu Quốc hội là một cơ quan của Quốc hội hay một cấp tổ chức trong Quốc hội, nhưng thực tế chưa phải mọi ý kiến đã thống nhất trong việc phân biệt Đoàn đại biểu Quốc hội có phải là cơ quan hay tổ chức độc lập trong Quốc hội, cũng như trong việc nhìn nhận khách quan vị trí, vai trò và chức năng của Đoàn đại biểu Quốc hội

Mặc dù sự nhìn nhận và đánh giá về Đoàn đại biểu ở các thời kỳ có khác nhau, nhưng thực tiễn hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội nửa thế kỷ qua cho thấy, hình thức tổ chức Đoàn đại biểu Quốc hội ở địa phương có vị trí, vai trò quan trọng và không thể thiếu được trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội Điều 3 Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 nhấn mạnh “ Hiệu quả hoạt động của Quốc hội được bảo đảm bằng hiệu quả của các kỳ họp của Quốc hội, hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, các đại biểu Quốc hội ” Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XII (2007 – 2011) cũng khẳng định:

“Quốc hội khóa XII có 63 Đoàn đại biểu Quốc hội Từ thực tiễn hoạt động cho thấy, mô hình tổ chức Đoàn đại biểu Quốc hội là tương đối phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong điều kiện hiện nay, bảo đảm tiến hành các hoạt động của đại biểu Quốc hội tại địa phương và các kỳ họp Quốc hội… Thông qua Đoàn, hoạt động của đại biểu Quốc hội được phát huy, mở rộng quan hệ với cử tri, đồng thời tạo điều kiện để các đại biểu Quốc hội hỗ trợ lẫn nhau trong việc thực hiện nhiệm

vụ được giao Trên thực tế, các Đoàn đại biểu Quốc hội đã ngày càng thực hiện

có hiệu quả hơn nhiệm vụ xây dựng pháp luật, giám sát, tiếp xúc cử tri, tiếp công dân, theo dõi đôn đốc giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân…;

Trang 17

giữ mối quan hệ công tác và phối hợp với các cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan

ở địa phương, ở trung ương và các hoạt động tại kỳ họp Quốc hội, góp phần quan trọng vào kết quả hoạt động chung của Quốc hội”

Báo cáo công tác nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIII (2011 - 2016) tiếp tục khẳng định: “ Các Đoàn đại biểu Quốc hội khóa XIII được bảo đảm cơ cấu, số lượng hợp lý; tích cực, chủ động xây dựng kế hoạch, chương trình hoạt động phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Đoàn; thực hiện tốt việc phối hợp công tác với các cơ quan của Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc, các cơ quan, tổ chức hữu quan ở trung ương và địa phương Thông qua Đoàn đại biểu Quốc hội, hoạt động của đại biểu Quốc hội được phát huy, quan hệ gắn bó với cử tri được tăng cường, tạo điều kiện để các đại biểu Quốc hội lắng nghe, tiếp thu, phản ánh ý kiến cử tri trong quá trình tham gia xây dựng luật, giám sát, tiếp xúc cử tri, tiếp công dân…; góp phần

để đại biểu làm tốt vai trò người đại biểu Nhân dân”

1.2 Địa vị pháp lý và chức năng của Đoàn đại biểu Quốc hội

1.2.1 Sự hình thành và phát triển chế định Đoàn đại biểu Quốc hội

Tại kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa I, Đoàn đại biểu Quốc hội đã được hình thành theo các đơn vị hành chính khu hoặc liên khu để đại biểu Quốc hội được bầu trong một đơn vị hành chính liên hệ với Đoàn chủ tịch kỳ họp hoặc trao đổi ý kiến trong nhóm về những vấn đề liên quan đến kỳ họp, làm cho kỳ họp Quốc hội được tiến hành thuận lợi Mục đích ban đầu khi thành lập Đoàn đại biểu Quốc hội

là để phục vụ hoạt động Quốc hội được tốt hơn trong kỳ họp, nhưng quá trình phát triển cho thấy, Đoàn đại biểu Quốc hội không chỉ tồn tại và phát huy tác dụng trong kỳ họp mà còn tồn tại và phát huy tác dụng ở ngoài kỳ họp Do Quốc hội nước ta hoạt động không thường xuyên, đại biểu Quốc hội đa số là kiêm nhiệm, công tác và sinh sống chủ yếu tại địa phương nên hình thức tổ chức Đoàn đại biểu Quốc hội tỏ ra thích hợp để giữa hai kỳ họp, đại biểu Quốc hội ở địa phương có thể thông qua Đoàn liên hệ với lãnh đạo Quốc hội ở Trung ương, liên

hệ với các đại biểu Quốc hội trong cùng một địa phương và liên hệ với cử tri tại địa phương mình Đây chính là những lý do khách quan dẫn đến Đoàn đại biểu

Trang 18

Quốc hội vẫn tồn tại và phát triển song song với các cơ cấu, tổ chức khác của Quốc hội

Theo quy định của Hiến pháp, cơ cấu tổ chức của Quốc hội gồm Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội Tuy nhiên, các luật về tổ chức Quốc hội theo các bản Hiến pháp năm 1959, 1980 và 1992 đều có những quy định về vị trí, vai trò và chức năng của Đoàn đại biểu Quốc hội Cụ thể là:

- Luật tổ chức Quốc hội năm 1960 quy định:

Đại biểu Quốc hội có thể họp thành các đoàn đại biểu địa phương theo đơn vị tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương Trong mỗi kỳ họp của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội trao đổi ý kiến về những vấn đề cần thiết của kỳ họp Giữa hai kỳ họp Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội giữ mối quan

hệ với Ủy ban thường vụ Quốc hội [14, Điều 3]

Với nội dung này, Đoàn đại biểu Quốc hội tuy được xác định trong cơ cấu, tổ chức của Quốc hội nhưng không phải là một cơ cấu, tổ chức mang tính chất bắt buộc; nội dung hoạt động của Đoàn chủ yếu là trao đổi những vấn đề cần thiết trong kỳ họp Theo Luật tổ chức Quốc hội năm 1960, các Đoàn đại biểu Quốc hội còn có quyền giới thiệu người ra ứng cử chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa; Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Tổng thư ký

và các Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội để Quốc hội bầu

- Luật tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà nước năm 1981 quy định:

Đại biểu Quốc hội ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và đơn vị hành chính tương đương hợp thành Đoàn đại biểu Quốc hội địa phương và cử ra Trưởng đoàn Đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức hoạt động của Đại biểu Quốc hội tại các đơn vị bầu cử Các Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội và các Đại biểu Quốc hội giữ quan hệ với Chủ tịch Quốc hội và Hội đồng Nhà nước Mỗi năm hai lần, các Đoàn đại biểu Quốc hội thông báo cho Chủ tịch Quốc hội, Hội đồng Nhà nước và Ủy ban Mặt trận tổ quốc ở địa phương về hoạt động của các Đại biểu Quốc hội ở địa phương [16, Điều 71]

Luật tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà nước năm 1981 đã mở rộng hơn

Trang 19

quyền của Đoàn đại biểu Quốc hội trong việc giới thiệu các chức danh để Quốc hội bầu: Chủ tịch, Phó Chủ tịch Quốc hội; Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Tổng thư ký và các Ủy viên Hội đồng Nhà nước; Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng; Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Thư ký và các Ủy viên của Hội đồng dân tộc; Chủ nhiệm và các thành viên khác của Ủy ban thường trực của Quốc hội

Nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn đại biểu Quốc hội còn được quy định trong Quy chế về Đại biểu Quốc hội do Quốc hội ban hành Khác với Luật tổ chức Quốc hội năm 1960, thì ở thời kỳ này Đoàn Đại biểu Quốc hội được xác định là hình thức tổ chức bắt buộc trong cơ cấu, tổ chức của Quốc hội, nội dung hoạt động của Đoàn chủ yếu là tổ chức hoạt động cho đại biểu Quốc hội trong thời gian giữa hai kỳ họp, khác với giai đoạn trước chủ yếu tổ chức hoạt động trong kỳ họp, còn ngoài kỳ họp bảo đảm mối liên hệ giữa Đại biểu Quốc hội với lãnh đạo Quốc hội ở trung ương

Qua kinh nghiệm của các nhiệm kỳ Quốc hội mà đặc biệt là nhiệm kỳ Quốc hội khóa VIII (1987-1992) cho thấy, việc tổ chức Đoàn đại biểu Quốc hội ở địa phương là cần thiết, đã phát huy tác dụng tích cực trong thực tế Ghi nhận thực tế này, Luật Tổ chức Quốc hội năm 1992 một lần nữa khẳng định lại vị trí của Đoàn đại biểu Quốc hội, theo đó:

Các đại biểu Quốc hội được bầu trong một tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương hợp thành Đoàn đại biểu Quốc hội Đoàn đại biểu Quốc hội có Trưởng đoàn, có thể có Phó Trưởng Đoàn để tổ chức hoạt động của Đoàn, giữ mối liên hệ với Chủ tịch Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, cơ quan chính quyền địa phương, Ủy ban Mặt trận tổ quốc và các cơ quan, tổ chức khác ở địa phương về các vấn đề liên quan đến hoạt động của đại biểu Quốc hội Mỗi đoàn

có thể có từ một đến hai đại biểu làm việc theo chế độ chuyên trách [18, Điều 48]

- Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 tiếp tục khẳng định:

Đoàn đại biểu Quốc hội là tổ chức của các đại biểu Quốc hội được bầu tại một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc được chuyển đến công tác tại

Trang 20

tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Đoàn đại biểu Quốc hội có Trưởng đoàn hoặc Phó Trưởng đoàn là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách Trưởng đoàn

và Phó Trưởng đoàn do Đoàn đại biểu Quốc hội bầu trong số các đại biểu Quốc hội của Đoàn và được Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn Đoàn đại biểu Quốc hội có trụ sở làm việc Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội là cơ quan tham mưu, giúp việc, phục vụ hoạt động của các đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội tại địa phương Kinh phí hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội do ngân sách nhà nước bảo đảm [Điều 43]

Với quy định này, có thể nói Đoàn đại biểu Quốc hội như một cơ quan độc lập tại địa phương, có bộ máy, trụ sở làm việc riêng, có con dấu và kinh phí hoạt động hàng năm

Vị trí, vai trò, chức năng và phương thức hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội còn được quy định cụ thể trong Nội quy kỳ họp Quốc hội và trong Quy chế về hoạt động của Đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội So sánh với các quy định của pháp luật qua các thời kỳ về Đoàn đại biểu Quốc hội, tôi nhận thấy:

+ Vai trò của Đoàn đại biểu Quốc hội trong việc giới thiệu bầu các chức danh trong bộ máy nhà nước ở trung ương không được tiếp tục duy trì;

+ Từ một chủ thể không bắt buộc, Đoàn đại biểu Quốc hội là một chủ thể pháp lý bắt buộc trong cơ cấu, tổ chức của Quốc hội, tuy không phải là cơ quan hay một cấp tổ chức trong Quốc hội;

+ Điểm mới so với các quy định trước đây là mỗi Đoàn đại biểu Quốc hội

có thể có từ một đến nhiều Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách Quy định này thể hiện hướng từng bước chuyển Quốc hội dần sang chế độ hoạt động thường xuyên, trong đó có bộ phận Đại biểu Quốc hội chuyên trách

+ Quy định của pháp luật qua các thời kỳ có xu hướng dần dần làm cho Đoàn đại biểu Quốc hội thành một tổ chức có nhiệm vụ, quyền hạn độc lập, hoạt động thường xuyên ở địa phương

1.2.2 Vị trí, vai trò của Đoàn đại biểu Quốc hội

Trang 21

Về mặt lý luận, hầu như các ý kiến đều thống nhất cho rằng Đoàn đại biểu Quốc hội không phải là cơ quan của Quốc hội, không phải là cấp quản lý đại biểu Đoàn đại biểu Quốc hội chỉ là hình thức tổ chức cho đại biểu Quốc hội hoạt động, nếu quá nhấn mạnh vai trò của Đoàn đại biểu Quốc hội ở địa phương

sẽ không đề cao được trách nhiệm của cá nhân đại biểu Quốc hội và có thể biến diễn đàn của Quốc hội thành diễn đàn của các Đoàn đại biểu Quốc hội; có ý kiến cho rằng hình thức tổ chức Đoàn đại biểu Quốc hội "tiềm ẩn rủi ro xung đột lợi ích giữa các nhóm đại biểu ở các địa phương, giữa địa phương và trung ương" Tuy nhiên, về mặt thực tiễn, trên cơ sở quy định của pháp luật hiện hành, có thể thấy nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn đại biểu Quốc hội được thể hiện thành 2 nhóm : (1) Nhóm nhiệm vụ quyền hạn trong việc tổ chức, điều phối, hỗ trợ các hoạt động của đại biểu Quốc hội; (2) Nhóm nhiệm vụ quyền hạn độc lập nhân danh Đoàn ĐBQH, tập thể ĐBQH trong một số hoạt động như giám sát, xây dựng pháp luật,… Về mặt tổ chức, Đoàn đại biểu Quốc hội có các yếu tố của một pháp nhân: có Trưởng Đoàn, Phó Trưởng đoàn, có trụ sở, kinh phí hoạt động, con dấu và Văn phòng giúp việc

Nếu không phải là một cơ quan hay một cấp tổ chức trong Quốc hội, thì Đoàn đại biểu Quốc hội là tổ chức gì? Để làm rõ vấn đề này, theo tôi, cần xuất phát từ nguyên tắc cơ bản, đó là Nhà nước ta được tổ chức theo nguyên tắc tất

cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân, nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân Xuất phát

từ nguyên tắc này, Quốc hội được tổ chức theo hướng không có sự phân chia, đối lập, tranh giành quyền lực, lợi ích giữa các nhóm Đại biểu Quốc hội Các Đại biểu Quốc hội do nhân dân bầu ra, thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội, kết hợp hài hòa quyền lợi của nhân dân địa phương và quyền lợi của cả nước Đại biểu Quốc hội cũng như các cơ quan của Quốc hội được lập ra đều nhằm mục đích thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, ngoài ra không còn mục đích nào khác

Trang 22

Ở những nước theo chế độ đa đảng và những nơi Nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc phân quyền, Quốc hội là nơi tập hợp các nhóm nghị sĩ đại diện cho các đảng phái chính trị có quyền lợi và mục đích khác nhau Các nghị sĩ hoạt động chuyên nghiệp, có văn phòng riêng, có thư ký giúp việc, hưởng lương và được đảm bảo đầy đủ các phương tiện, điều kiện làm việc Ở Quốc hội các nước theo chế độ đa đảng, các nghị sĩ tập hợp trong các phe, nhóm theo đảng phái chính trị, các phe nhóm này chính là tổ chức của các nghị sĩ, không phải là cơ quan hay một cấp tổ chức trong Quốc hội nhưng nó phản ánh sự phân bố lực lượng chính trị trong Quốc hội, thường có ảnh hưởng và thế lực rất lớn trong Quốc hội cũng như trên chính trường

Nước ta theo chế độ một đảng, Nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc tập quyền, quyền lực nhà nước thống nhất, không phân chia, do đó trong Quốc hội không có các phe, nhóm đại biểu đại diện cho các đảng phái chính trị khác nhau Một điểm khác nữa là Quốc hội nước ta không hoạt động thường xuyên, phần lớn các Đại biểu Quốc hội vẫn làm việc kiêm nhiệm Chính những đặc điểm này đã tạo nên hình thức Đoàn Đại biểu Quốc hội là hình thức tổ chức đặc thù trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội nước ta

Thực tế cho thấy, Đoàn Đại biểu Quốc hội địa phương là hình thức tổ chức thích hợp để phục vụ Đại biểu Quốc hội trong và ngoài kỳ họp Thông qua tính chất đầu mối của Đoàn mà hoạt động của Đại biểu Quốc hội được phát huy, mở rộng quan hệ với cử tri, đồng thời tạo điều kiện để các đại biểu

hỗ trợ lẫn nhau trong việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu Tổ chức và hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội không làm hạn chế quyền của đại biểu Trong điều kiện hoạt động kiêm nhiệm, trình độ, vị trí công tác giữa các đại biểu không đồng đều, nếu không có hình thức Đoàn đại biểu Quốc hội thì hoạt động của đại biểu không chuyên trách ở địa phương, cơ sở sẽ gặp rất nhiều khó khăn

Trên cơ sở các quy định của pháp luật hiện hành về Đoàn đại biểu Quốc hội

và thực tiễn hoạt động của Đoàn, theo tôi, Đoàn đại biểu Quốc hội là tổ chức của các Đại biểu Quốc hội được bầu ở một đơn vị hành chính cấp tỉnh Như vậy, trong

Trang 23

cơ cấu tổ chức của Quốc hội nước ta, ngoài Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và Đại biểu Quốc hội còn có tổ chức của các Đại biểu Quốc hội Việc hiểu thế nào là

cơ quan, tổ chức trong Quốc hội không phải là việc đơn giản, vì ngay Quốc hội cũng được hiểu là một tổ chức tập thể của tất cả Đại biểu Quốc hội tại kỳ họp, còn thế nào là cơ quan của Quốc hội cũng được chia làm hai loại: Cơ quan do Quốc hội bầu ra và cơ quan không do Quốc hội bầu ra Theo cách phân loại này, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội là cơ quan do Quốc hội bầu ra, còn Văn phòng Quốc hội là cơ quan của Quốc hội nhưng không do Quốc hội bầu ra, không có chức năng như Hội đồng hoặc Ủy ban của Quốc hội mà là cơ quan hành chính nhà nước do Ủy ban thường vụ Quốc hội thành lập để tham mưu, phục vụ Quốc hội,

Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các Ban thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội và Đại biểu Quốc hội

1.2.3 Tổ chức và nhiệm vụ của Đoàn đại biểu Quốc hội

- Luật Tổ chức hoạt động Quốc hội 2001 quy định:

Đoàn đại biểu Quốc hội thực hiện các nhiệm vụ sau đây:

a) Tổ chức việc tiếp công dân của đại biểu Quốc hội; phối hợp với Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc ở địa phương tổ chức để đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri;

b) Tổ chức để các đại biểu Quốc hội thảo luận về dự án luật, dự án pháp lệnh và các dự án khác, dự kiến chương trình kỳ họp Quốc hội theo yêu cầu của

Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

c) Theo dõi, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân mà đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội đã chuyển đến cơ quan,

Trang 24

rõ hơn nhiệm vụ của Đoàn Đại biểu Quốc hội trong các lĩnh vực chính Cụ thể:

a) Tổ chức để các đại biểu Quốc hội tiếp công dân; phối hợp với Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc ở địa phương tổ chức, bảo đảm các điều kiện để đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri với các hình thức phù hợp;

b) Tổ chức để các đại biểu Quốc hội thảo luận về dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác, dự kiến chương trình kỳ họp Quốc hội theo yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

c) Tổ chức hoạt động giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội và tổ chức để các đại biểu Quốc hội trong Đoàn thực hiện nhiệm vụ giám sát tại địa phương; tham gia và phối hợp với Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội trong các hoạt động giám sát tại địa phương; theo dõi, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân mà đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội đã chuyển đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền giải quyết; yêu cầu cơ quan,

tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp thông tin, báo cáo về những vấn đề mà Đoàn đại biểu Quốc hội quan tâm;

d) Báo cáo với Ủy ban thường vụ Quốc hội về tình hình hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội;

đ) Quản lý, chỉ đạo hoạt động của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội

Về mặt tổ chức, Đoàn đại biểu Quốc hội có Trưởng đoàn hoặc Phó

Trưởng đoàn là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách Trưởng đoàn và Phó Trưởng đoàn do Đoàn đại biểu Quốc hội bầu trong số các đại biểu Quốc hội của Đoàn và được Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn

Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội có nhiệm vụ là tổ chức và điều hành các hoạt động của Đoàn Phó Trưởng đoàn giúp Trưởng đoàn thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của Trưởng đoàn Khi Trưởng đoàn vắng mặt thì Phó Trưởng đoàn được Trưởng đoàn ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ của Trưởng đoàn

Về trách nhiệm của Trưởng đoàn, Phó Đoàn Đại biểu Quốc hội, Nội quy

kỳ họp năm 2015 cũng quy định rõ: “Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội có trách

Trang 25

nhiệm tổ chức để đại biểu Quốc hội trong Đoàn thực hiện chương trình kỳ họp Quốc hội, Nội quy kỳ họp Quốc hội và các quy định khác về kỳ họp Quốc hội; tổ chức và điều hành hoạt động của Đoàn; giữ mối liên hệ với Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, cơ quan thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội và Tổng thư ký Quốc hội

Phó Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội giúp Trưởng đoàn thực hiện nhiệm vụ theo

sự phân công của Trưởng đoàn Khi Trưởng đoàn vắng mặt thì Phó Trưởng đoàn được Trưởng đoàn ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ của Trưởng đoàn”

Trang 26

Tiểu kết chương

Đoàn đại biểu Quốc hội là hình thức tổ chức đặc thù của Quốc hội nước

ta Ngay từ kỳ họp thứ 3 Quốc hội khoá I, với mục đích làm cho kỳ họp Quốc hội được tiến hành thuận lợi, "Đoàn đại biểu Quốc hội được hình thành theo các đơn vị hành chính khu hoặc liên khu để đại biểu Quốc hội được bầu trong đơn vị hành chính liên hệ với Đoàn Chủ tịch kỳ họp, trao đổi ý kiến trong nhóm về những vấn đề liên quan đến kỳ họp" Từ đó đến nay, pháp luật ngày càng có những quy định cụ thể, đầy đủ hơn về nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn ĐBQH Theo quy định của pháp luật hiện hành, Đoàn đại biểu Quốc hội là tổ chức của các đại biểu Quốc hội được bầu tại một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc được chuyển đến công tác tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Đoàn đại biểu Quốc hội không phải là một cơ quan của Quốc hội hay một cấp tổ chức trong Quốc hội

Địa vị pháp lý của Đoàn đại biểu Quốc hội thể hiện qua các nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn đại biểu Quốc hội được quy định tại các văn bản pháp luật hiện hành (Luật tổ chức Quốc hội, Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân), gồm các nội dung chính như sau:

- Tổ chức để đại biểu Quốc hội trong Đoàn thực hiện các nhiệm vụ quyền hạn của mình tại địa phương trong các mặt hoạt động: tiếp xúc cử tri; tiếp công dân, giám sát việc thi hành pháp luật tại địa phương; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; tổ chức thảo luận về dự án luật, dự án pháp lệnh;

dự kiến chương trình kỳ họp Quốc hội;

- Phối hợp với Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân ở địa phương tổ chức các hoạt động của Đoàn và của đại biểu Quốc hội trong Đoàn Nghiên cứu đề xuất với Chủ tịch Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan nhà nước có liên quan nghiên cứu, xem xét và có biện pháp giải quyết các kiến nghị của Hội đồng

Trang 27

nhân dân liên quan đến chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước hoặc các vấn đề của địa phương;

- Phân công đại biểu Quốc hội trong Đoàn tham gia Đoàn công tác, Đoàn giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội; tham gia ý kiến về việc giới thiệu đại biểu Quốc hội trong Đoàn ứng

cử đại biểu Quốc hội khoá sau;

- Báo cáo với Uỷ ban thường vụ Quốc hội về tình hình hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội;

- Trong quá trình tổ chức các hoạt động tại địa phương, Đoàn đại biểu Quốc hội có quyền góp ý với địa phương về việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế

- xã hội, quốc phòng, an ninh; việc thi hành Hiến pháp, pháp luật và việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương; yêu cầu cơ quan nhà nước, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, tổ chức

xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân ở địa phương cung cấp thông tin về những vấn đề mà Đoàn đại biểu Quốc hội quan tâm; xem xét và giải quyết những vấn đề có liên quan đến việc thi hành chính sách, pháp luật của Nhà nước, quyền làm chủ của nhân dân hoặc những vấn đề khác liên quan đến đời sống, kinh tế - xã hội của nhân dân địa phương;

- Đoàn đại biểu Quốc hội tiến hành giám sát thông qua các hoạt động: Tổ chức Đoàn giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội, tổ chức để các đại biểu Quốc hội trong Đoàn giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân ở địa phương trả lời về những vấn đề mà Đoàn đại biểu Quốc hội quan tâm; cử đại biểu Quốc hội trong Đoàn tham gia Đoàn giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội tại địa phương khi có yêu cầu

Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội có nhiệm vụ: chủ trì việc tổ chức để các đại biểu Quốc hội trong Đoàn thực hiện các nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội và

Trang 28

nhiệm vụ của Đoàn đại biểu Quốc hội; giữ mối liên hệ với Chủ tịch Quốc hội,

Uỷ ban thường vụ Quốc hội, các đại biểu Quốc hội trong Đoàn, Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các cơ quan,

tổ chức, đơn vị hữu quan ở địa phương ở địa phương và Văn phòng Quốc hội; chỉ đạo công tác Văn phòng phục vụ Đoàn đại biểu Quốc hội; chỉ đạo và tổ chức việc thực hiện kinh phí hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội Phó Trưởng đoàn giúp Trưởng đoàn thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của Trưởng đoàn Khi Trưởng đoàn vắng mặt thì Phó Trưởng đoàn được Trưởng đoàn uỷ nhiệm thực hiện nhiệm vụ của Trưởng đoàn

Thực tế đó chứng tỏ các hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội là cần thiết, cần làm rõ thêm vị trí, trách nhiệm, quyền hạn của Đoàn và việc bảo đảm các điều kiện để hoạt động của Đoàn ngày càng tốt hơn

Trang 29

Chương 2 THỰC TIỄN TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI - QUA HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TỈNH ĐĂK NÔNG TỪ QUỐC HỘI KHÓA XII

(2007-2011) ĐẾN NAY 2.1 Sơ lược đặc điểm về địa lý, kinh tế - xã hội tỉnh Đăk Nông

Tỉnh Đắk Nông được thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm 2004, theo Nghị quyết số 23/2003/QH11 ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2003 của Quốc hội trên

cơ sở chia tách tỉnh Đắk Lắk thành 2 tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông

2.1.1 Vị trí địa lý

Đăk Nông nằm ở phía Tây Nam của vùng Tây Nguyên, đoạn cuối dãy Trường Sơn; được xác định trong khoảng tọa độ địa lý: 11045' đến 12050' vĩ độ Bắc, 107013' đến 108010' kinh độ Đông Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Đắk Lăk, phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Bình Phước, phía Tây giáp Vương quốc Campuchia Đăk Nông là tỉnh nằm trong khu vực tam giác phát triển Việt Nam – Lào – Campuchia Đăk Nông có Quốc lộ 14 nối thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Đông Nam Bộ với các tỉnh Tây nguyên, cách thành phố Hồ Chí Minh 230 km về phía Bắc và cách thành phố Ban Mê Thuột (Đăk Lăk) 120 km về phía Tây Nam;

có Quốc lộ 28 nối Đăk Nông với Lâm Đồng, Bình Thuận và các tỉnh Duyên hải miền Trung, cách thành phố Đà Lạt (Lâm Đồng) 180 km và thành phố Phan Thiết (Bình Thuận) 230 km về phía Đông Đăk Nông có 130 km đường biên giới với nước bạn Campuchia, có 02 cửa khẩu Bu Prăng và Đăk Peur nối thông với Mondulkiri, Kratie, Kandal, Pnom Penh, Siem Reap,

2.1.2 Địa hình

Tỉnh Đăk Nông có diện tích tự nhiên là 6.514,38 km2 Đăk Nông nằm trọn trên cao nguyên M'Nông, độ cao trung bình khoảng 600m đến 700m so với mặt nước biển, có nơi lên đến 1.982m (Tà Đùng)

Trang 30

Tính đến năm 2016, dân số toàn tỉnh là 636.000 người Dân cư phân bố không đều trên địa bàn các huyện, nơi đông dân cư chủ yếu tập trung ở các trung tâm xã, thị trấn huyện lỵ, ven các trục đường quốc lộ, tỉnh lộ Có những vùng dân

cư thưa thớt như một số xã của huyện Đắk Glong, Tuy Đức

Đăk Nông là tỉnh có cộng đồng dân cư gồm hơn 40 dân tộc cùng sinh sống

Cơ cấu dân tộc đa dạng chủ yếu là dân tộc Kinh, M'Nông, Tày, Thái, Ê Đê, Nùng Dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ khoảng 65,5%; M'Nông chiếm 9,7%, các dân tộc khác chiếm tỷ lệ nhỏ

Đăk Nông là vùng đất sinh sống từ hàng ngàn đời của đồng bào các dân tộc tại chỗ, đồng thời cũng là vùng đất quần tụ của cư dân từ nhiều vùng miền về sinh

cơ, lập nghiệp nên đời sống tâm linh, tôn giáo, tín ngưỡng cũng vô cùng phong phú Gồm có Công giáo, Phật giáo, Tin lành

2.1.4 Kinh tế

Năm 2018, tốc độ tăng trưởng kinh tế được duy trì ổn định, GRDP (giá 2010) ước đạt 19.2017 tỷ đồng, tăng 8,21%/KH 7,52%; trong đó: lĩnh vực Công nghiệp xây dựng ước đạt 3.137 tỷ đồng, tăng 12,4%/KH 11,21%; Nông lâm thủy sản ước đạt 8.288 tỷ đồng, tăng 5,96%/KH 6,18%; Dịch vụ ước đạt 6.610 tỷ đồng, tăng 9,07%/KH 7,65%; Thuế sản phẩm trừ trợ cấp ước 1.191 tỷ đồng, tăng 9,77%/KH 7%; Tăng trưởng kinh tế vượt kế hoạch đề ra kéo theo chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng, vượt kế hoạch đề ra "GDP" bình quân đầu người theo giá hiện hành đạt 18,96 triệu đồng (kế hoạch 16,95 triệu đồng)

2.2 Bối cảnh hoạt động của Quốc hội trong giai đoạn hiện nay

Những thành tựu của quá trình đổi mới đã đưa nước ta ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài nhiều năm, tạo nền tảng đẩy mạnh một bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tình hình chính trị, xã hội ổn định Uy tín và vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao Những kinh nghiệm tích lũy được trong việc giải phóng tiềm năng phát triển của đất nước tạo điều kiện để phát huy sức sản xuất, nâng cao tốc độ phát triển kinh tế đi liền với thực hiện công bằng xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có tiến

Trang 31

bộ trên cả ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp Trong đó, Quốc hội có bước đổi mới quan trọng, từng bước hoàn thiện cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động, tăng cường đại biểu chuyên trách; thực hiện ngày càng tốt hơn chức năng lập pháp, giám sát tối cao và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; ngày càng dân chủ hơn; tranh luận, thảo luận một cách thẳng thắn, thiết thực; mở rộng chất vấn; tăng cường lắng nghe và tiếp xúc cử tri,… Nhờ vậy, hiệu quả và hiệu lực được nâng lên, được nhân dân quan tâm nhiều hơn, hoan nghênh và đánh giá

cao

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, đất nước ta gặp không ít khó khăn, thách thức Kinh tế trình độ thấp; chất lượng còn hạn chế; cơ sở hạ tầng còn nhiều bất cập; sự phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng; thiên tai, dịch bệnh xảy ra nhiều nơi,… Tình hình thế giới và khu vực có những diễn biến phức tạp, nhất là cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ và suy giảm kinh tế thế giới đã tác động bất lợi đến phát triển kinh tế - xã hội nước ta Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng các cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, sắc tộc, tôn giáo, khủng bố có nguy cơ gia tăng Nguy cơ gây mất ổn định liên quan đến tranh chấp lãnh thổ, biển đảo, tài nguyên… vẫn còn tiềm ẩn Biến đổi khí hậu, đói nghèo, thiên tai, dịch bệnh vẫn còn là vấn đề rất đáng quan tâm Các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ, sử dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền, vấn đề dân tộc, tôn giáo để can thiệp vào công việc nội bộ của ta…

Thực tế đó, đòi hỏi đất nước ta phải xây dựng được một môi trường hòa bình, ổn định, một nền kinh tế phát triển, một nền quốc phòng - an ninh vững mạnh, một chiến lược, định hướng đúng đắn…, để tận dụng thời cơ và thuận lợi, vượt qua khó khăn thách thức, huy động tốt mọi nguồn lực đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững theo con đường xã hội chủ nghĩa

2.3 Thực tiễn tổ chức Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông từ Quốc hội khóa XII (2007-2011) đến nay

2.3.1 Cơ cấu tổ chức của Đoàn đại biểu Quốc hội Khóa XII tỉnh Đăk

Trang 32

Nông (Nhiệm kỳ 2007 – 2011)

Quốc hội Khóa XII (2007-2011) được nhân dân cả nước bầu ra vào ngày 20/5/2007, với 493 đại biểu, chia thành 64 Đoàn đại biểu Quốc hội theo đơn vị hành chính cấp tỉnh Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông Khóa XII có 06 đại biểu, trong đó: 02 đại biểu Trung ương gồm 01 đại biểu là lãnh đạo Bộ, 01 là đại biểu chuyên trách ở Trung ương; 04 đại biểu địa phương gồm: 01 đại biểu làm công tác Đảng, 01 đại biểu chuyên trách, 01 đại biểu thuộc lực lượng Công an nhân dân, 01 đại biểu ngành y tế (nữ, dân tộc thiểu số) Về trình độ học vấn, có 01 tiến sỹ, 02 thạc sỹ và 03 đại học Có 6/6 đại biểu là Ủy viên các Ủy ban của Quốc hội

2.3.2 Cơ cấu tổ chức của Đoàn đại biểu Quốc hội Khóa XIII tỉnh Đăk Nông (Nhiệm kỳ 2011 – 2016)

Đoàn ĐBQH tỉnh nhiệm kỳ khoá XIII có 06 đại biểu (02 đại biểu trung ương, 04 đại biểu địa phương), 100% đại biểu trong Đoàn có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học (01 đại biểu là PGS-TS, 02 đại biểu có trình độ thạc sỹ,

01 đại biểu đang làm NCS) Đoàn ĐBQH tỉnh có Trưởng đoàn, có Phó Trưởng đoàn, các ĐBQH trong Đoàn được QH bầu làm ủy viên HĐDT và một số Ủy ban của QH Tháng 7/2012, do mắc bệnh hiểm nghèo đồng chí Phó Trưởng đoàn chuyên trách qua đời, tháng 10/2012 Đoàn ĐBQH tỉnh đã bầu bổ sung một đại biểu kiêm nhiệm sang làm Phó Trưởng đoàn chuyên trách và được UBTVQH ra

NQ chuẩn y Tháng 9/2015 đồng chí Trưởng đoàn được Đại hội tỉnh đảng bộ tỉnh Đăk Nông lần thứ XII bầu làm Bí thư Tỉnh ủy, tháng 10/2015 đồng chí Phó Trưởng đoàn chuyên trách được HĐND tỉnh bầu làm Phó Chủ tịch UBND tỉnh nhiệm kỳ 2011-2016, được UBTVQH đồng ý cho thôi làm nhiệm vụ chuyên trách nhưng vẫn làm Phó Trưởng Đoàn kiêm nhiệm cho đến khi kết thúc nhiệm

Trang 33

22/5/2016, với 496 đại biểu, chia thành 63 Đoàn đại biểu Quốc hội theo đơn vị hành chính cấp tỉnh Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông Khóa XIV có 06 đại biểu, trong đó: 02 đại biểu Trung ương gồm 01 đại biểu là lãnh đạo Bộ, 01 đại biểu là đại biểu Quốc hội chuyên trách ở Trung ương; 03 đại biểu địa phương gồm: 01 đại biểu làm công tác Đảng, 01 đại biểu chuyên trách ở địa phương, 01 đại biểu là Cựu chiến binh, 01 đại biểu ngành giáo dục (nữ, dân tộc thiểu số) Về trình độ học vấn, có 03 thạc sỹ và 03 đại học Có 6/6 đại biểu là Ủy viên Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội

Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông có Trưởng đoàn, Phó Trưởng đoàn (Phó Trưởng đoàn là đại biểu Quốc hội chuyên trách) do các đại biểu trong Đoàn bầu và được Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn

Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội có các nhiệm vụ sau (Điều 26 Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội):

a) Điều hành việc thực hiện những nhiệm vụ của Đoàn đại biểu Quốc hội quy định tại Điều 24 của Quy chế này;

b) Chủ trì việc tổ chức để đại biểu Quốc hội trong Đoàn thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội và tham gia thực hiện nhiệm vụ của Đoàn đại biểu Quốc hội;

c) Chủ trì việc xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch hoạt động của Đoàn;

d) Triệu tập và chủ tọa các cuộc họp của Đoàn đại biểu Quốc hội;

đ) Giữ mối liên hệ với Chủ tịch Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội và các cơ quan,

tổ chức hữu quan ở trung ương;

e) Giữ mối liên hệ với đại biểu Quốc hội trong Đoàn, Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan ở địa phương;

Trang 34

g) Chỉ đạo công tác Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội; chỉ đạo và tổ chức việc thực hiện kinh phí hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội

Phó Trưởng đoàn giúp Trưởng đoàn thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của Trưởng đoàn Khi Trưởng đoàn vắng mặt thì Phó Trưởng đoàn được Trưởng đoàn uỷ nhiệm thực hiện nhiệm vụ của Trưởng đoàn

2.4 Thực tiễn hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông

từ khóa XII đến nay

Kế thừa và phát huy những thành quả của các khóa trước, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông đã nêu cao tinh thần trách nhiệm trước cử tri, vượt qua nhiều khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ, xứng đáng là người đại biểu của nhân dân Các đại biểu của Đoàn đại biểu tỉnh Đăk Nông đã có những đóng góp xứng đáng vào kết quả chung của Quốc hội đó là: Đã có nhiều đổi mới về tổ chức, hoạt động, thực hiện ngày càng tốt hơn chức năng, nhiệm vụ của mình Hoạt động lập pháp được đẩy mạnh, số lượng, chất lượng được nâng lên Hoạt động giám sát đã mang tính định hướng, đi vào trọng tâm, có nhiều đổi mới về trọng tâm và hình thức, đạt được những kết quả bước đầu rất tích cực Tham gia quyết định các vấn

đề quan trọng của đất nước thực chất hơn, giảm dần tính hình thức Hoạt động ngoại giao nghị viện của đại biểu trong đoàn tiếp tục được mở rộng và tăng cường Phương thức hoạt động, lề lối làm việc ngày càng phát huy dân chủ; nhân dân quan tâm và tin tưởng hơn vào Quốc hội

Trên cơ sở nhiệm vụ, chức năng quy định trong Luật tổ chức Quốc hội

2014 và Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội

2002, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông cơ bản thực hiện tốt các nhiệm vụ như xây dựng pháp luật, giám sát, tiếp xúc cử tri, tiếp dân, tiếp nhận và xử lý đơn của công dân

2.4.1 Về hoạt động xây dựng pháp luật

Xây dựng pháp luật là một trong những hoạt động cơ bản của Quốc hội và các đại biểu Quốc hội Đoàn đại biểu Quốc hội có trách nhiệm tổ chức để các đại biểu Quốc hội thảo luận về dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác, dự kiến

Trang 35

chương trình kỳ họp Quốc hội theo yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội Nhận thức rõ tầm quan trọng của hoạt động xây dựng pháp luật, ngay từ đầu nhiệm

kỳ, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông đã quan tâm và nghiêm túc thực hiện nhiệm vụ quan trọng này

Việc lấy ý kiến nhân dân, của các ngành, các cấp vào các dự án Luật là một kênh thông tin quan trọng nhằm xây dựng những đạo luật có chất lượng và hiệu quả Khoản 3 Điều 24 Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội quy định: Đoàn đại biểu Quốc hội có nhiệm vụ “Phối hợp với Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc ở địa phương tổ chức lấy ý kiến nhân dân về các dự án luật, dự án pháp lệnh và các dự án khác theo yêu cầu của

Uỷ ban thường vụ Quốc hội” Trước mỗi kỳ họp Quốc hội, theo sự chỉ đạo của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông tổ chức các hội nghị lấy ý kiến đóng góp vào các Dự án Luật với số lượng khá lớn, nội dung của các dự án Luật thuộc nhiều lĩnh vực, liên quan đến nhiều ngành khác nhau Để hoàn thành tốt nhiệm vụ này, Đoàn đại biểu Quốc hội Đăk Nông lựa chọn phương pháp tổ chức hội nghị, mời các đại biểu Quốc hội, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh; các sở, ban, ngành, đơn vị có liên quan và nhất là các chuyên gia có kinh nghiệm, liên quan đến việc thi hành luật trong thực tiễn đến dự và tham gia đóng góp ý kiến Bởi tại Điều 25 Quy

chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội quy định “Đoàn đại

biểu Quốc hội có thể mời đại diện cơ quan, tổ chức, đơn vị và chuyên gia về các lĩnh vực liên quan dự và tham gia ý kiến tại các cuộc họp Đoàn để thảo luận về dự án

luật, dự án pháp lệnh và các dự án khác do Ủy ban thường vụ Quốc hội gửi đến”

Việc tổ chức Hội nghị lấy ý kiến tham gia vào các dự án luật được chuẩn

bị chu đáo, từ khâu xây dựng kế hoạch cho đến nội dung, tài liệu gửi cho các đại biểu tham dự hội nghị Kế hoạch và các nội dung liên quan đến dự án luật được gửi trước cho các đại biểu Quốc hội, lãnh đạo các ngành liên quan để đại biểu có

đủ thời gian nghiên cứu, chuẩn bị nội dung phát biểu Bên cạnh việc tổ chức các Hội nghị đóng góp ý kiến vào các dự án luật, xét thấy những dự án luật nào mang

Trang 36

tính chuyên ngành cao, Đoàn đại biểu Quốc hội phối hợp với các cơ quan tổ chức

có liên quan trực tiếp để cùng tổ chức thực hiện lấy ý kiến

Trong gần 3 nhiệm kỳ qua, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông đã tổ chức 157 hội nghị, với sự tham gia của các vị đại biểu Quốc hội trong Đoàn và hàng trăm lượt đại biểu đại diện các cơ quan, tổ chức liên quan và các chuyên gia trong những lĩnh vực thuộc phạm vi điều chỉnh của dự án luật Qua đó, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh tiếp thu được nhiều ý kiến chất lượng, giúp các đại biểu trong Đoàn nắm bắt thêm những thông tin thiết thực, phục vụ cho việc nghiên cứu, đóng góp ý kiến vào dự án luật Sau mỗi hội nghị, Đoàn đại biểu Quốc hội tổng hợp, xây dựng báo cáo tham gia đóng góp ý kiến của Đoàn gửi Ủy ban Thường

vụ Quốc hội đúng thời gian quy định

Tại các kỳ họp Quốc hội, với ý thức trách nhiệm cao, các ĐBQH trong Đoàn

đã tích cực nghiên cứu, tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến vào các đạo luật, nghị quyết, góp phần nâng cao chất lượng công tác lập pháp của Quốc hội Quốc hội đã thông qua nhiều đạo luật, trong đó có công sức rất lớn của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông

2.4.2 Hoạt động giám sát

Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước trên cơ sở hoạt động giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội Để quyền giám sát tối cao của Quốc hội phát huy hiệu lực, hiệu quả, đòi hỏi hoạt động giám sát của từng bộ phận đều phải đảm bảo chất lượng

Về hoạt động giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015 quy định các hoạt động giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội (Điều 48):

1 Đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức hoạt động giám sát thông qua các hoạt động sau đây:

a) Giám sát chuyên đề việc thi hành pháp luật ở địa phương;

Trang 37

b) Giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân mà đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội đã chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết;

c) Cử đại biểu Quốc hội trong Đoàn đại biểu Quốc hội tham gia Đoàn giám sát của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội tại địa phương khi có yêu cầu

2 Đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức để đại biểu Quốc hội trong Đoàn đại biểu Quốc hội thực hiện giám sát tại địa phương

Trên cơ sở nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm của mình trong hoạt động giám sát, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông và từng đại biểu trong Đoàn đã tích cực tham gia vào hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội tại các kỳ họp, đồng thời chủ động tổ chức nhiều cuộc giám sát theo chuyên đề, giám sát văn bản quy phạm pháp luật và giám sát giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân tại địa phương

Căn cứ Chương trình giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội

và tình hình thực tế ở địa phương, Đoàn ĐBQH xây dựng kế hoạch giám sát hàng năm và tổ chức các Đoàn giám sát việc thi hành pháp luật tại địa phương; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; cử ĐBQH tham gia Đoàn giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội tại địa phương khi có yêu cầu

Ngoài các cuộc giám sát theo kế hoạch, Đoàn ĐBQH tỉnh còn tổ chức các cuộc khảo sát trên cơ sở ý kiến phản ánh của cử tri để xem xét những vấn đề nổi cộm, bức xúc tại địa phương, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền những biện pháp giải quyết kịp thời

Đoàn ĐBQH tỉnh đã tổ chức 36 cuộc giám sát và 12 cuộc khảo sát Trong

đó, 21 cuộc giám sát theo chuyên đề như: Giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về quy hoạch, quản lý, sử dụng đất đai tại đô thị từ khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực đến hết năm 2018; Giám sát việc thi hành pháp luật về đảm bảo trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh Đăk Nông; Giám sát việc thực hiện chính sách,

Trang 38

pháp luật về xã hội hóa công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân trên địa bàn tỉnh;

Giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng cháy, chữa cháy giai đoạn

2014 - 2018; Giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý và sử dụng vốn vay nước ngoài giai đoạn 2011 -2016 trên địa bàn tỉnh; Giám sát việc cải cách hành chính trên địa bàn tỉnh ; 07 cuộc giám sát việc thực hiện pháp luật về khiếu nại, tố cáo tại các huyện, thị xã; 05 cuộc giám sát giải quyết vụ việc khiếu nại, tố cáo cụ thể của công dân Kết thúc mỗi cuộc giám sát, căn cứ vào báo cáo của Đoàn giám sát, Đoàn ĐBQH có văn bản kiến nghị với các cơ quan, tổ chức,

cá nhân có thẩm quyền nhằm khắc phục hạn chế, thiếu sót nâng cao chất lượng,

hiệu quả công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực thuộc phạm vi giám sát Thời gian qua Đoàn đã có 324 kiến nghị; trong đó, có 66 kiến nghị với Quốc hội,

Chính phủ, các bộ, ngành, cơ quan Trung ương, 29 kiến nghị với cơ quan chịu sự giám sát và chính quyền địa phương

Có thể nêu ra một số kiến nghị giám sát có chất lượng của Đoàn như sau:

* Đối với Giám sát “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về quy hoạch, quản

lý, sử dụng đất đai tại đô thị từ khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực đến hết năm 2018” trên địa bàn tỉnh, Đoàn có các kiến nghị sau:

1 Đối với Quốc Hội

Luật Đất đai năm 2013 cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một số nội dung

để thuận lợi trong việc xây dựng chính sách khuyến khích tích tụ, tập trung đất sản xuất nông nghiệp, cụ thể:

- Về điều kiện chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp: Theo quy định tại Điều 190, Luật Đất đai chưa quy định chuyển đổi đất sản xuất nông nghiệp của các xã lân cận và chưa quy định các tổ chức thực hiện chuyển đổi để tập trung đất sản xuất nông nghiệp nên khó thu hút các nhà đầu tư thực hiện chính sách khuyến khích tập trung đất sản xuất nông nghiệp tạo thành cánh đồng lớn, phục

vụ cho phát triển sản xuất nông nghiệp

- Về đối tượng nhận chuyển nhượng đất trồng lúa: Theo quy định khoản 2

và khoản 3, Điều 191, Luật Đất đai chưa quy định các doanh nghiệp, hộ gia đình,

Trang 39

cá nhân có tiềm lực về vốn, có công nghệ cao nhận chuyển nhượng đất lúa để kinh doanh nông nghiệp thông qua hình thức gián tiếp

- Về thuê quyền sử dụng đất để sản xuất doanh nghiệp: Thực tế hiện nay đất nông nghiệp cơ bản đã giao cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định theo Nghị định 64/CP, tuy nhiên các nhà đầu tư không muốn thuê trực tiếp của hộ gia đình, cá nhân mà muốn thuê đất thông qua cơ quan nhà nước thì Luật chưa có quy định về UBND cấp xã hoặc UBND cấp huyện đứng ra ký Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất nông nghiệp của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và ký Hợp đồng cho nhà đầu tư thuê lại đất để sản xuất, kinh doanh nông nghiệp

2 Đối với Chính phủ

- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật hướng dẫn Luật Đất đai; sửa đổi,

bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế hiện nay và sự phù hợp với các Luật khác như: Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu, Luật Quy hoạch, Luật Lâm nghiệp,

- Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai; Tiếp tục kiện toàn cơ cấu tổ chức, bộ máy thực hiện công tác quản lý đất đai bảo đảm tinh gọn, theo hướng hiện đại

- Tập trung nguồn lực xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu đất đai

để vừa đáp ứng được yêu cầu thông tin cho công tác quản lý, đồng thời phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội; tạo điều kiện để thực hiện quản lý đất đai công khai, minh bạch và thuận lợi trong việc thực hiện cải cách thủ tục hành chính

- Về hạn mức nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất sản xuất nông nghiệp: Theo quy định của Khoản 4, Điều 44, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, ngày 15/5/2017 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số Điều của Luật Đất đai chưa nới rộng hạn mức nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp

- Về tích tụ, tập trung ruộng đất: Thực hiện Nghị Quyết số 19-NQ/TW, ngày 31/10/2012 Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI

về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành

Trang 40

nước công nghiệp theo hướng hiện đại, Ban chấp hành Trung ương đã đề cập đến việc tích tụ, tập trung đất đai Tuy nhiên, đến nay Chính phủ vẫn chưa hướng dẫn

về cơ chế chính sách, quy trình thực hiện tích tụ, tập trung đất đai nên các địa phương chưa có cơ sở thực hiện Đề nghị Chính phủ sớm có văn bản hướng dẫn

- Xác định hạn mức đất ở khi cấp GCN cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng nhiều thửa đất ở chưa thống nhất, cụ thể: Theo quy định tại khoản 3 Điều 20

Nghị định số 43/2014/NĐ-C,P ngày 15/5/2014 của Chính phủ: “Trường hợp thửa đất

có nhiều hộ gia đình, cá nhân cùng sử dụng chung thì hạn mức đất ở quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này được tính bằng tổng hạn mức đất ở của các hộ gia đình,

cá nhân đó Trường hợp một hộ gia đình, cá nhân sử dụng nhiều thửa đất có nhà ở có nguồn gốc của ông cha để lại hoặc nhận chuyển quyền sử dụng đất có nguồn gốc của ông cha để lại, được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng đất ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 và không vi phạm pháp luật đất đai thì hạn mức đất

ở được xác định theo quy định đối với từng thửa đất đó” Tuy nhiên, theo quy định tại

khoản 3 Điều 3 Nghị định 45/2014/NĐ-CP, ngày 15/5/2014 của Chính phủ

“Trường hợp hộ gia đình, cá nhân có nhiều thửa đất trong phạm vi một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì hộ gia đình, cá nhân đó được cộng dồn diện tích đất của các thửa đất để xác định diện tích đất trong hạn mức giao đất ở hoặc hạn mức công nhận quyền sử dụng đất ở nhưng tổng diện tích đất lựa chọn không vượt quá hạn mức giao đất ở hoặc hạn mức công nhận quyền sử dụng đất ở tại địa phương nơi lựa chọn đầu tiên”

3 Đối với các Bộ

a) Đối với Bộ Tài chính:

- Tại Thông tư số 332/2016/TT-BTC, Thông tư số 333/2016/TT-BTC chưa hướng dẫn cụ thể trình tự, thủ tục và nhiệm vụ đối với việc xác định giá trị của thửa đất hoặc khu đất (tính theo giá đất trong bảng giá đất) là thuộc chức năng của cơ quan, đơn vị nào để các đơn vị đại diện chủ đầu tư thực hiện dự án hoặc UBND các huyện, thành phố có cơ sở đề nghị, luân chuyển hồ sơ đúng quy định

Ngày đăng: 23/04/2020, 16:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Đăng Dung (2007), Quốc hội Việt Nam trong Nhà nước pháp quyền, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hội Việt Nam trong Nhà nước pháp quyền
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
2. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Khóa IX, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Khóa IX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
3. Đảng cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Khóa X, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Khóa X
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
4. Đảng cộng sản Việt Nam (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Khóa XI, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Khóa XI
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
6. Jean – Jacquens Rousseau (1992), Bàn về khế ước xã hội, Nxb TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về khế ước xã hội
Tác giả: Jean – Jacquens Rousseau
Nhà XB: Nxb TP. Hồ Chí Minh
Năm: 1992
7. Khoa Luật, Đại học Quốc Gia Hà Nội (2012), Sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 - Những vấn đễ lý luận và thực tiễn (Tập 1. Những vấn đề chung về Hiến pháp và Bộ máy Nhà nước), Nxb Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 - Những vấn đễ lý luận và thực tiễn (Tập 1. Những vấn đề chung về Hiến pháp và Bộ máy Nhà nước)
Tác giả: Khoa Luật, Đại học Quốc Gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2012
8. Montesquieu (1996), Tinh thần pháp luật, Nxb Giáo dục 9. Quốc hội (1946), Hiến pháp 1946, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh thần pháp luật", Nxb Giáo dục 9. Quốc hội (1946), "Hiến pháp 1946
Tác giả: Montesquieu (1996), Tinh thần pháp luật, Nxb Giáo dục 9. Quốc hội
Nhà XB: Nxb Giáo dục 9. Quốc hội (1946)
Năm: 1946
11. Quốc hội (1960), Luật tổ chức Quốc hội 1960, Hà Nội 12. Quốc hội (1980), Hiến pháp 1980, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tổ chức Quốc hội 1960", Hà Nội 12. Quốc hội (1980), "Hiến pháp 1980
Tác giả: Quốc hội (1960), Luật tổ chức Quốc hội 1960, Hà Nội 12. Quốc hội
Năm: 1980
13. Quốc hội (1981), Luật tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà nước 1981, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà nước 1981
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1981
15. Quốc hội (1992), Luật tổ chức Quốc hội năm 1992, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tổ chức Quốc hội năm 1992
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1992
16. Quốc hội (1997), Báo cáo công tác của Quốc hội nhiệm kỳ khóa IX (1992-1997), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác của Quốc hội nhiệm kỳ khóa IX (1992-1997)
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1997
17. Quốc hội (2001), Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001, Hà Nội 18. Quốc hội (2001), Luật tổ chức Quốc hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001", Hà Nội 18. Quốc hội (2001), "Luật tổ chức Quốc hội
Tác giả: Quốc hội (2001), Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001, Hà Nội 18. Quốc hội
Năm: 2001
19. Quốc hội (2002), Nghị quyết số 08/2002/QH11 ngày 16 tháng 12 năm 2012 của Quốc hội ban hành Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08/2002/QH11 ngày 16 tháng 12 năm 2012 của Quốc hội ban hành Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2002
20. Quốc hội (2011), Báo cáo tổng hoạt động của Quốc hội nhiệm kỳ Khóa XII (2007 - 2011), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hoạt động của Quốc hội nhiệm kỳ Khóa XII (2007 - 2011)
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2011
21. Quốc hội (2012), Nghị Quyết số 27/2012/QH13 ngày 21 tháng 6 năm 2012 của Quốc hội về một số cải tiến, đổi mới để nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị Quyết số 27/2012/QH13 ngày 21 tháng 6 năm 2012 của Quốc hội về một số cải tiến, đổi mới để nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2012
23. Văn phòng Quốc hội (2000), Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946 - 1960, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946 - 1960
Tác giả: Văn phòng Quốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
24. Văn phòng Quốc hội (2003), Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946 - 1976, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946 - 1976
Tác giả: Văn phòng Quốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
25. Văn phòng Quốc hội (2005), Quốc hội Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn – Nxb Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hội Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Văn phòng Quốc hội
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2005
26. Văn phòng quốc hội (2012), Tuyển tập các hiến pháp trên thế giới, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập các hiến pháp trên thế giới, tập 1
Tác giả: Văn phòng quốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2012
38. Báo cáo khoa học của Đề tài “Cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức và hoạt động của Quốc hội khoá XII” do GS.TS. Trần Ngọc Đường làm Chủ nhiệm đề tài, Hà Nội - 3/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức và hoạt động của Quốc hội khoá XII

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w