1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn Khoa học tổ chức Cao học xây dựng Đảng

19 360 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 144 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦUNguồn lực con người đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của các tổ chức. Do đó, việc khai thác, sử dụng tốt nguồn lực này để phục vụ phát triển xã hội là một vấn đề quan trọng trong việc quản lý các tổ chức. Việc quản lý nguồn lực đòi hỏi sự hiểu biết về con người ở nhiều khía cạnh, và cần xác định con người là yếu tố trung tâm của sự phát triển. Các kỹ thuật quản lý nhân lực thường có mục đích tạo điều kiện để con người phát huy hết khả năng tiềm ẩn, giảm lãng phí nguồn lực, tăng hiệu quả của tổ chức. Để làm được điều đó cần phải nắm vững các nguyên tắc sử dụng con người.Quản lý cán bộ, công chức là một trong những nội dung rất quan trọng trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng. Thông qua công tác quản lý cán bộ, Đảng đề ra chủ trương, kế hoạch, biện pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức một cách chính xác, thiết thực; bố trí, sử dụng đúng người, đúng việc, đồng thời, hạn chế tối đa hiện tượng suy thoái, biến chất của đội ngũ cán bộ. Từ trước đến nay Đảng, Nhà nước ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến công tác quản lý cán bộ, công chức. Trải qua các cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ và cả thời kỳ đổi mới, nhiều cán bộ, công chức được Đảng, Nhà nước quản lý tốt nên trưởng thành và có nhiều đóng góp cho đất nước. Tuy nhiên, công tác quản lý cán bộ, công chức vẫn còn nhiều hạn chế gây ảnh hưởng đến công tác cán bộ của Đảng nói riêng và uy tín, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng nói chung.Xuất phát từ lý do đó, em lựa chọn đề tài “Các nguyên tắc sử dụng con người và vận dụng trong công tác quản lý cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay” làm tiểu luận kết thúc học phần Khoa học tổ chức trong xây dựng Đảng chương trình Cao học chuyên ngành Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Nguồn lực con người đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của các

tổ chức Do đó, việc khai thác, sử dụng tốt nguồn lực này để phục vụ phát triển xã hội là một vấn đề quan trọng trong việc quản lý các tổ chức Việc quản lý nguồn lực đòi hỏi sự hiểu biết về con người ở nhiều khía cạnh, và cần xác định con người là yếu tố trung tâm của sự phát triển Các kỹ thuật quản lý nhân lực thường có mục đích tạo điều kiện để con người phát huy hết khả năng tiềm ẩn, giảm lãng phí nguồn lực, tăng hiệu quả của tổ chức Để làm được điều đó cần phải nắm vững các nguyên tắc sử dụng con người

Quản lý cán bộ, công chức là một trong những nội dung rất quan trọng trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng Thông qua công tác quản

lý cán bộ, Đảng đề ra chủ trương, kế hoạch, biện pháp đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ, công chức một cách chính xác, thiết thực; bố trí, sử dụng đúng người, đúng việc, đồng thời, hạn chế tối đa hiện tượng suy thoái, biến chất của đội ngũ cán bộ

Từ trước đến nay Đảng, Nhà nước ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến công tác quản lý cán bộ, công chức Trải qua các cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ và cả thời kỳ đổi mới, nhiều cán bộ, công chức được Đảng, Nhà nước quản lý tốt nên trưởng thành và có nhiều đóng góp cho đất nước Tuy nhiên, công tác quản lý cán bộ, công chức vẫn còn nhiều hạn chế gây ảnh hưởng đến công tác cán bộ của Đảng nói riêng và uy tín, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng nói chung

Xuất phát từ lý do đó, em lựa chọn đề tài “Các nguyên tắc sử dụng con người và vận dụng trong công tác quản lý cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay” làm tiểu luận kết thúc học phần Khoa học tổ chức trong xây dựng

Đảng chương trình Cao học chuyên ngành Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước

Trang 2

NỘI DUNG

1 Vị trí, vai trò của con người trong tổ chức và các nguyên tắc sử dụng con người

1.1 Vị trí, vai trò của con người trong tổ chức

Con người là một đề tài cũ song luôn luôn mới trong nhận thức của chính con người Là một đề tài cũ vì từ lâu đã có nhiều khoa học lấy con người làm đối tượng nghiên cứu; là vấn đề luôn luôn mới bởi lẽ sự hiểu biết của xã hội loài người cho đến nay về chính bản thân mình vẫn còn quá ít, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn xã hội đặt ra Từ khi con người biết sống thành tổ chức, xã hội thì cũng từ đó đã có nhiều câu hỏi đặt ra như: Làm sao

để có thể tập hợp được sức mạnh của con người ? Tổ chức, quản lý con người như thế nào để đạt được hiệu quả cao nhất ?…

Ở Phương Đông, từ thời cổ đại đã hình thành thuyết “thiên - địa - nhân”

- thuyết bàn đến vị trí, vai trò cũng như môí quan hệ giữa ba yếu tố cơ bản: trời - đất - con người Đất, trời biến đổi phức tạp, khôn lường song cũng không thể bằng yếu tố con người - yếu tố tâm lý, lòng người Thiên thời không bằng địa lợi, địa lợi không bằng nhân hòa - sự nhận thức về vị trí trung tâm, quyết định của yếu tố con người cho đến nay vẫn không thay đổi trong

hệ thống tổ chức xã hội hiện đại

Từ khi khoa học tổ chức và quản lý ra đời với tư cách là một chuyên nghành khoa học ứng dụng độc lập vào năm 1911 Hơn 90 năm qua, đã có nhiều nhà nghiên cứu đề cập ở nhiều góc độ những vấn đề lý luận và thực tiễn của tổ chức Tuy nhiên nhận thức về vị trí của yếu tố con người trong hệ thống tổ chức từ vi mô đến vĩ mô vẫn không thay đổi Trong xã hội hiện đại, yếu tố vật chất, hệ tư tưởng, những giá trị của các nền văn hóa, yếu tố thời gian…ngày càng ảnh hưởng mạnh đến sự tồn tại và phát triển của các tổ chức; song yếu tố con người vẫn là một trong những yếu tố trung tâm, quyết định Tổ chức, quản lý con người từ xưa đến nay vẫn là một trong những công việc khó khăn, phức tạp nhất

Trang 3

Yếu tố con người trong hệ thống tổ chức xã hội hiện đại được nhìn nhận ở các phương diện: Con người với tư cách là chủ thể của hệ thống tổ chức (nhà tổ chức); Con người với tư cách là đối tượng của công tác tổ chức (cấp dưới); Mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng trong hệ thống tổ chức

Ba phương diện trên có mối quan hệ và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau, đảm bảo cho tổ chức tồn tại và phát triển Việc quá đề cao hay coi nhẹ phương diện nào đều dẫn đến nguy cơ làm cho tổ chức hoạt động kém hiệu quả Khái quát lý luận và thực tiễn tổ chức, quản lý xã hội nhiều thế kỷ qua cho thấy, việc quan niệm về con người như thế nào sẽ hình thành một kiểu tổ chức, kiểu lãnh đạo tương ứng dù là trong hệ thống vi mô hay vĩ mô Vậy trong xã hội hôm nay, chúng ta cần phải nhìn nhận con người như thế nào, để có cơ sở xây dựng chiến lược, sách lược, lựa chọn phương pháp lãnh đạo, quản lý và xây dựng tổ chức hợp lý, có hiệu quả

Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, con người vừa là điểm khởi đầu, vừa là sự kết thúc, đồng thời lại vừa là trung tâm của sự biến đổi lịch sử, nói cách khác con người là chủ thể chân chính của các quá trình

xã hội Ngày nay, con người được coi là trung tâm của sự phát triển kinh tế

-xã hội, đồng thời phát triển con người lại là mục đích của phát triển

Đảng Cộng sản Việt Nam cho rằng: “Tổ chức mạnh thì từng thành viên trong đó được giáo dục, rèn luyện tốt, phát huy được khả năng của mình và tạo ra sức mạnh mới về chất lượng, sức mạnh tập thể Mặt khác, con người là nhân tố cơ bản nhất, năng động nhất của tổ chức; từng người mạnh làm cho tổ chức mạnh” Vì vậy, Đảng chủ trương: “Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”

1.2 Các nguyên tắc sử dụng con người

1.2.1 Có quan điểm và động cơ dùng người đúng đắn

Dùng người phải vì hạnh phúc, vì sự phát triển của con người và mang đậm tính nhân văn Khi dùng người không thể biến con người thành công cụ,

Trang 4

thành phương tiện để đạt mục đích cho mình Dùng người phải quan tâm đến con người, đến nhu cầu, lợi ích của con người Hiệu quả của việc dùng người phụ thuộc vào cách của người dùng Phải dám dùng những người trung thực, thẳng thắn, có tài, tránh dùng những kẻ xu nịnh, bất tài Từ nguyên tắc chung

đó để xác định rõ trách nhiệm chính của các cấp ủy đảng, của người lãnh đạo các tổ chức trong công tác cán bộ ở nước ta hiện nay

Dùng người phải xuất phát từ lợi ích chung của tổ chức, của cộng đồng, của dân tộc Lịch sử dân tộc ta chứng minh rất rõ nguyên tắc này Sở dĩ ông cha ta trước đây, cũng như Đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay huy động được sức người, sức của trong nhân dân, đánh thắng được các cuộc chiến tranh xâm lược của nước ngoài là do đã xuất phát từ lợi ích chung của cộng đồng dân tộc: vì độc lập và tự do hạnh phúc của hàng triệu con người Việt Nam, vì sự tồn vong, sự phát triển của dân tộc Việt Nam

Mặt khác, dùng người muốn có hiệu quả, bản thân người lãnh đạo phải gương mẫu Sự gương mẫu của người lãnh đạo liên quan trực tiếp đến hiệu quả hoạt động, tới tình cảm và ý chí của cấp dưới

1.2.2 Dùng người phải hiểu và tin ở con người

Nếu chưa hiểu người thì đừng nên dùng người Hiểu người là công việc

rất khó Ngạn ngữ cổ có câu: “Không tin người thì không dùng; đã dùng thì phải tin” Câu này cũng được hiểu là “Nếu bạn không tin tưởng ai đó, đừng thuê anh ta làm việc; nếu đã thuê anh ta, thì đừng nghi ngờ nữa”

Các lãnh đạo thành công trong các lĩnh vực khác nhau đã nhận ra rằng công việc sáng tạo và tri thức đòi hỏi làm việc một cách cởi mở, minh bạch,

và có ý thức đối với xã hội Một số nơi làm việc không đạt được điều này, do bám dính vào tư duy mệnh lệnh và kiểm soát của thời đại công nghiệp Trong các tổ chức như vậy, sự cân bằng giữa nhu cầu kiểm soát của người chủ và nhu cầu tự chủ của người lao động rất căng thẳng

Để hiểu lòng người phải có thời gian, có cách thức và phương pháp khoa học Điều này cho thấy vị trí không thể thiếu của khoa học tâm lý trong

Trang 5

công tác lãnh đạo, quản lý cũng như trong công tác tổ chức, cán bộ Ngày nay,

để hiểu người, hiểu cán bộ, chúng ta phải sử dụng các phương pháp của tâm

lý học quản lý như: quan sát, khái quát các ý kiến nhạn xét độc lập, nghiên cứu tiểu sử, sản phẩm hoạt động, trò chuyện, sử dụng các trắc nghiệm (test), thử thách qua các tình huống Ngoài những phương pháp trên cần sử dụng những kinh nghiệm của cổ nhân đúc kết để nhận biết con người

1.2.3 Biết sử dụng hiền tài

Dân tộc Việt Nam chúng ta vốn có truyền thống sử dụng, tân trọng người hiền tài Dù hoàn cảnh lịch sử như thế nào chăng nũa, lúc đang thịnh, các tập đoàn phong kiến nắm quyền thống trị đất nước đều có đặc điểm chung

là lo cầu hiền tài, cầu kẻ trung thực, ghét bỏ kẻ xu nịnh Mặc Tử trước đây đã nói: người nào bắt cúi thì cúi, bắt ngửng thì ngửng, như thế khác gì cái bóng:

Để thì im, gọi thì thưa như thế khác gì tiếng vang? Quan lại mà dùng những

kẻ như bóng, như vang thì có lợi ích gì? Tư tưởng của Mặc Tử thật sâu sắc và tỉnh táo, vì: Người nào mà ngôn ngữ, hành vi đã theo mình như một cái bóng, như tiếng vang thì một là người ngu xuẩn, hai là người xiểm nịnh Người ngu xuẩn là người không làm được việc; còn kẻ xiểm nịnh là kẻ chỉ cốt chiều người khác để kiếm lợi Hai hạng người này không những không trông cậy được mà còn có hại cho người dùng

Tìm người hiền tài đã khó, song hiểu người tài, dám dùng và biết dùng người tài sao cho có lơi cho dân, cho nước lại cầng khó hơn, vì thông thường người tài có những cá tính riêng đòi hỏi người sử dụng phải có tấm long khoan dung, độ lượng, dám nghe lời nói thẳng, phải tin tưởng và quyết đoán

Sử dụng người có tài có hiệu quả là một công việc phức tạp, khó khăn, song người xưa đã nói: được nhân tài thì được cả thiên hạ, mất nhân tài thì mất cả thiên hạ Có người hiền tài mà không biết, biết mà không dùng, dùng

mà không tín nhiệm là ba điều chẳng lành của quốc gia Làm hại hiề tài họa đến ba đời, vùi lấp hiền tài thì mình bị hại, đố kỵ với hiền tài thì danh tiếng không trọn vẹn, tiến cử hiền tài là để phúc đức cho con cháu

Trang 6

Có thể nói rằng từ xưa đến nay, các dân tộc, các triều đại muốn hưng thịnh đều phải trọng dụng hiền tài và đều đi đến nhận định có tính phổ biến:

sự lãng phí lớn nhất là lãng phí nhân tài; sự cạnh tranh căn bản nhất là cạnh tranh nhân tài Năng lực chủ yếu của người lãnh đạo là phát hiện, bồi dưỡng

và trọng dụng nhân tài Người lãnh đạo muốn hiểu người dùng người có hiệu quả thì bản thân cũng phải là người hiền tài

1.2.4 Dùng người theo quy luật tương hợp

Ông cha chúng ta có câu: “Nồi nào vung ấy” ý muốn nói đến sự tương hợp Các công trình nghiên cứu về tâm lý số đông (tâm lý xã hội) ở nhiều nước

đã cho thấy sự tương hợp và không tương hợp giữa các thành viên trong tổ chức (đặc biệt là ở góc độ tâm lý) có ý nghĩa hết sức quan trọng của công tác tổ chức Nếu tạo ra được sự tương hợp tâm lý tối ưu thì sẽ nhân sức mạnh của những con người trong tổ chức gấp nhiều lần Ngược lại nếu không có sự tương hợp sẽ dẫn đến bất đồng xung đột, làm cho tổ chức ròi rạc, kém sức mạnh

Sự tương hợp tâm lý giữa các thành viên trong tổ chức là một trạng thái tâm lý xã hội khách quan, phản ánh bản chất của các mối liên hệ trong tổ chức, thực trạng ý chí của những cá nhân trong tổ chức và mối quan hệ giữa các vị trí đó Tuy nhiên, con đường dẫn đến sự tương hợp tâm lý ở mỗi tổ chức không giống nhau Ngoài việc phụ thuộc vào yếu tố mục đích chung, sự hình thành trạng thái tâm lí xã hội này còn phụ thuộc và đặc điểm của những con người trong tổ chức và cho bản thân người đứng đầu tổ chức đó Nếu coi những yếu tố trên là có tính khác quan, thì yếu tố có tính chủ quan sẽ chi phối quá trình tạo nên sự tương hợp chính là vấn đề lựa chọn con người cho tổ chức và vấn đề lợi ích được giải quyết như thế nào giữa các thành viên với nhau, giữa cá nhân và tổ chức Việc xác định sự ảnh hưởng, chi phối của những yếu tố chủ quan ở đây có ý nghĩa thực tiễn to lớn vì nó khẳng định khả năng chủ động của người đứng đầu tổ chức trong quá trình điều khiển, điều chỉnh trạng thái tâm lý xã hội trong tổ chức mà mình điều hành

Trang 7

1.2.5 Quy luật biến đổi giữa sở trường và sở đoản

Theo cách hiểu của người xưa, sở trường chính là những ưu điểm, điểm mạnh; còn sở đoản là những hạn chế, là điểm yếu của con người Ở mỗi cá nhân đều có sở trường, sở đoản nhất định Sử dụng con người phải chú trọng

và sở trường, tránh sở đoản Sở trường được sử dụng, phát huy liên tục sẽ không chỉ đem lại hiệu quả cao cho tổ chức mà còn phát triển, hoàn thiện cho chính người đó Có tài, có năng lực mà không được sử dụng sẽ dần dần bị thui chột, không đem lại giá trị gì cho xã hội và cá nhân

Những mặt mạnh, mặt yếu của mỗi cá nhân luôn tồn tại, biến đổi và thậm chí chế ngự lẫn nhau Để phát huy sở trường của cá nhân không chỉ phụ thuộc vào việc sử dụng như thế nào, người được sử dụng phát huy ra sao mà còn phụ thuộc vào tác động của hoàn cảnh xã hội, của tình huống thực tiễn Nếu biết dùng sở trường, loại bỏ sở đoản của mỗi cá nhân ắt sẽ luôn thành công Nếu không biết sử dụng và dự báo ảnh hưởng của môi trường xã hội đến sở trường, sẽ dẫn đến thất bại (sở trường cũng có thể biến thành sở đoản)

Từ quy luật trên, khi sử dụng cán bộ cần chú ý sử dụng đúng sở trường; phải dựa vào sự biến đổi của sở trường hay sở đoản mà sử dụng, phải sử dụng cán bộ đúng lúc, ở trạng thái tốt nhất Mặt khác, cũng nên lưu ý tổng kết của người xưa: kẻ mạnh còn có người mạnh hơn

1.2.6 Quy luật sử dụng con người theo ê kíp

Trong các tài liệu nghiên cứu về ê kíp, nhiều tác giả cho rằng, nói đến ê kíp là nói đến một nhóm người cùng tiến hành một hoạt động chung có sự thống nhất về mục đích, phối hợp hành động một cách chặt chẽ và có sự tương hợp về tâm lý Quá trình hình thành, vận hành và phát triển của một tổ chức thường xuất hiện những ê kíp như: ê kíp lãnh đạo, ê kíp làm việc của một số người trong một phòng, tổ, đội sản xuất hay marketing tiếp thị, v.v

Sử dụng con người theo quy luật ê kíp thường đem lại hiệu quả hoạt động cao Các nhà nghiên cứu tâm lý học, xã hội học cho rằng, trong một ê

Trang 8

kíp bao giờ cũng có sự cân đối hài hòa giữa lợi ích của cá nhân, nhóm và lợi ích của tập thể, của tổ chức Một ê kíp lãnh đạo tiêu cực là ê kíp chỉ chú trọng đến lợi ích của các cá nhân trong ê kíp, nó được biểu hiện dưới dạng “phe cánh”, “bè phái” Loại ê kíp này cần phải loại trừ khỏi tổ chức

1.2.7 Dùng người phải theo quy luật biến thiên tâm lý

Trong một tổ chức không thể có toàn người có tài, vả lại nếu có chưa chắc sử dụng đã có hiệu quả Để đạt hiệu quả cao cũng không thể dùng toàn người kém, người phục tùng hoặc cơ hội, vụ lợi Vấn đề then chốt trong phép dùng người là phải khơi dậy được tiềm năng sáng tạo của mỗi con người

2 Vận dụng nguyên tắc sử dụng con người vào công tác quản lý cán bộ, công chức ở nước hiện nay

2.1 Thực trạng công tác quản lý cán bộ, công chức

ở nước ta

Quản lý cán bộ, công chức là một trong những nội dung quan trọng của công tác cán bộ Từ trước đến nay Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác quản lý cán bộ, công chức Trải qua các cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ và cả thời kỳ đổi mới, nhiều cán bộ, công chức được Đảng, Nhà nước quản lý tốt nên trưởng thành và có nhiều đóng góp cho đất nước Do quản lý tốt cán bộ, công chức nên có nhiều tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, nhiều cán bộ đảng viên nêu gương phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ, đặc biệt đã cổ vũ được sự phấn khởi, đoàn kết trong các tầng lớp nhân dân, góp phần tăng cường lòng tin của nhân dân đối với Đảng Sau Đại hội XII, Đảng và Nhà nước đã lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí và tăng cường công tác quản lý cán bộ, công chức nên tình hình có chuyển biến tốt hơn

Tuy nhiên, công tác quản lý cán bộ, công chức vẫn còn nhiều hạn chế Thời kỳ trước đây số cán bộ, công chức vi phạm pháp luật cũng có nhưng chưa nhiều, ảnh hưởng chưa nghiêm trọng Hiện nay, hầu như không có

Trang 9

ngành nào, địa phương nào là không có một bộ phận cán bộ, công chức làm việc thiếu trách nhiệm với Đảng, với Nhà nước, với nhân dân Đặc biệt tệ tham nhũng, lãng phí của không ít cán bộ đã trở thành vấn đề gây bức xúc nhất trong xã hội Lĩnh vực quản lý doanh nghiệp nhà nước, quản lý đất đai, khoáng sản, xây dựng cơ bản, quản lý tài sản công đã làm thất thoát, thiệt hại rất lớn đến ngân sách nhà nước Công tác quản lý cán bộ, công chức trong một số ít cơ quan thanh tra, kiểm tra, điều tra, truy tố, xét xử cũng chưa tốt nên đã để xảy ra một số vụ, việc đáng tiếc

Thực trạng việc quản lý cán bộ, công chức nêu trên có nhiều nguyên nhân, cả khách quan lẫn chủ quan, nhưng nguyên nhân chủ quan là chủ yếu,

cụ thể là:

Trong cơ chế mới, người cán bộ, công chức bị chi phối, tác động của nhiều mối quan hệ, như quan hệ giữa quản lý với sử dụng, quản lý với lợi ích, quản lý với môi trường, điều kiện làm việc nhiều hơn, mạnh hơn trước đây Một bộ phận cán bộ bộc lộ nhiều nhược điểm, như chưa quen quản lý sản xuất, kinh doanh, chưa có kinh nghiệm quản lý kinh tế theo cơ chế thị trường sinh động, vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh, chưa quen quản lý xã hội bằng pháp luật, bằng cơ chế, chính sách trong lúc trình độ khoa học kỹ thuật, quản

lý kinh tế nói chung còn hạn chế nên dễ bị sa ngã, vi phạm pháp luật

Công tác quản lý cán bộ đang có sơ hở, yếu kém Quản lý cán bộ còn nặng về quản lý lý lịch gia đình, quản lý trên hồ sơ bằng cấp, chứng chỉ, mà chưa chú trọng đúng mức đến quản lý chính trị hiện tại của mỗi cán bộ diễn biến hằng ngày theo nhịp sống của thực tiễn, chưa gắn quản lý cán bộ với đổi mới phương pháp đánh giá cán bộ Đảng, Nhà nước chưa có các văn bản pháp luật chặt chẽ để kiểm soát được quyền lực, còn có những kẽ hở để cán bộ lợi dụng quyền hạn, trách nhiệm trong thực thi công vụ để tham ô, tham nhũng

Kỷ cương, kỷ luật của Đảng, Nhà nước có những lúc xử lý chưa nghiêm, chưa kịp thời Chính sách tiền lương quá bất hợp lý lại để kéo dài Phần đông cán

Trang 10

bộ, công chức, viên chức không đủ sống từ lương Một bộ phận lớn tổ chức

cơ sở đảng chưa làm tốt trách nhiệm quản lý đảng viên, buông lỏng công tác

tư tưởng, tình trạng nể nang, né tránh, ngại đấu tranh của đảng viên diễn ra phổ biến Một bộ phận cán bộ thiếu bản lĩnh, thiếu tu dưỡng, rèn luyện, dẫn đến đặc quyền, đặc lợi, thoái hóa biến chất, không nêu gương, nói không đi đôi với làm dẫn đến tham ô, tham nhũng

Các cơ quan dân cử, như Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị

-xã hội chưa thực hiện đầy đủ chức năng giám sát của mình theo quy định của pháp luật

2.2 Nội dung vận dụng nguyên tắc sử dụng con người vào công tác quản lý cán bộ, công chức ở nước hiện nay

2.2.1 Nhận diện, cảnh báo, đấu tranh phòng chống hạn chế, yếu kém, tiêu cực trong quản lý cán bộ, công chức

Trong quá trình lãnh đạo xây dựng nền công vụ, việc quản lý, sử dụng cán bộ, công chức thường mắc phải các căn bệnh: “1 Ham dùng người bà con, anh em quen biết, bầu bạn… 2 Ham dùng những kẻ khéo nịnh hót mình,

mà chán ghét những người chính trực 3 Ham dùng những người tính tình hợp với mình… Vì chứng bệnh đó, kết quả những người kia đã làm bậy, mình cũng cứ bao dung, che chở, bảo hộ, khiến cho chúng càng ngày càng hư hỏng Đối với những người chính trực thì bới lông tìm vết để trả thù Như thế, cố nhiên là hỏng cả công việc của Đảng, hỏng cả danh giá của người lãnh đạo”

Trong thời kỳ đổi mới đất nước, việc quản lý cán bộ, công chức tuy đã

có nhiều cải cách tiến bộ nhưng so với yêu cầu hoạt động công vụ còn bộc lộ không ít hạn chế, yếu kém, nhất là việc “đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ còn

nể nang, cục bộ Một số cơ chế, chính sách trong đề bạt, bổ nhiệm cán bộ chưa công bằng; chính sách tiền lương, nhà ở chưa tạo được động lực cống hiến cho cán bộ, công chức”, làm ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả xây dựng và hoạt động của bộ máy công vụ

Ngày đăng: 23/04/2020, 15:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w