Phương pháp nghiên cứu Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với một số phương pháp cơ bản sau: lo gic và lịch sử, phân tíc
Trang 1HÀ NỘI - 2020
Trang 2Mã số: 62 22 03 08
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Bùi Thị Ngọc Lan
HÀ NỘI - 2020
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Các kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trên bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Đặng Thanh Phương
Trang 4MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến giải quyết việc làm của nông
dân ngoại thành Hà Nội trong quá trình đô thị hóa 7 1.2 Đánh giá chung về các công trình nghiên cứu và những vấn đề tác giả
CHƯƠNG 2 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI
QUYẾT VIỆC LÀM CỦA NÔNG DÂN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI
2.1 Một số vấn đề lý luận về đô thị hoá và giải quyết việc làm của nông
2.2 Đặc của điểm nông dân ngoại thành Hà Nội và tác động của đô thị hoá
đến giải quyết việc làm của nông dân ngoại thành Hà Nội 53
CHƯƠNG 3 : THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CỦA NÔNG
DÂN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA VÀ
3.1 Thực trạng giải quyết việc làm của nông dân ngoại thành Hà Nội trong
3.2 Những vấn đề đặt ra đối với giải quyết việc làm của nông dân ngoại
thành Hà Nội trong quá trình đô thị hóa 100
CHƯƠNG 4 : QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM GIẢI
QUYẾT VIỆC LÀM BỀN VỮNG CỦA NÔNG DÂN NGOẠI THÀNH
HÀ NỘI TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA THỜI GIAN TỚI 113
4.1 Quan điểm cơ bản giải quyết việc làm bền vững của nông dân ngoại
thành Hà Nội trong quá trình đô thị hoá 113 4.2 Giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm bền vững của nông dân
ngoại thành Hà Nội trong quá trình đô thị hóa từ nay đến 2025 121
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN
Trang 5CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNXH : Chủ nghĩa xã hội
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Giải quyết việc làm (GQVL) của nông dân trong quá trình đô thị hóa là một trong những vấn đề cấp bách không chỉ riêng Thành phố Hà Nội mà còn của nhiều địa phương trên cả nước trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Ngoại thành Hà Nội - cửa ngõ thủ đô bao gồm diện tích và dân số của 18 huyện và 01 thị xã; là vùng dân cư khá rộng lớn như một vành đai bao quanh thành phố, đa dạng về địa hình, có đồi, núi, đồng ruộng, ao hồ, sông ngòi Theo Tổng cục thống kê, năm 2019, dân số Hà Nội là 8.05 triệu người trong đó dân sống ở nông thôn vùng ngoại thành là 3.890.7 triệu người chiếm tỷ lệ 58% [22] Mặc dù nông nghiệp Hà Nội chỉ chiếm 4,5% GDP của thành phố nhưng đảm bảo cung cấp lương thực, thực phẩm cho gần 10 triệu dân thủ đô và các tỉnh lân cận, tạo việc làm cho gần 3 triệu lao động khu vực nông thôn So với cả nước, Hà Nội
là nơi có số hộ nông thôn và mật độ dân số nông thôn khá cao (đứng 5/9 tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng)
Tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo sự thay đổi lớn về kinh tế - xã hội, kéo theo quá trình đô thị hoá (ĐTH) diễn ra mạnh mẽ ở Hà Nội Tốc độ ĐTH của Hà Nội chiếm tỷ lệ 53% (tốc độ ĐTH của cả nước là 40%), dự báo đến năm
2030 tốc độ ĐTH Hà Nội đạt 70% [132] Quá trình ĐTH đã lan tỏa, lôi cuốn và tác động trực tiếp, làm thay đổi đáng kể bộ mặt nông thôn, nông nghiệp, nông dân ngoại thành Hà Nội Các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị mới… mọc lên khắp nơi; hạ tầng cơ sở vùng ngoại thành được nâng cấp; nhiều huyện ngoại thành trở thành quận, xã trở thành phường, người nông dân trở thành thị dân Chế độ sử dụng ruộng đất thay đổi, nhiều vùng ngoại thành đất nông nghiệp biến thành đất đô thị tạo ra cơ hội cho một bộ phận nông dân vùng ngoại thành có thể chuyển đổi việc làm từ khu vực nông nghiệp sang lĩnh vực công nghiệp, thương mại, dịch vụ…, đồng thời góp phần nâng cao trình độ lao động cho nông dân
Hiện nay, lao động khu vực nông thôn Hà Nội không qua đào tạo và không
có bằng cấp chiếm dưới 63,3% tổng số lực lượng lao động Tỷ lệ lao động có việc làm khu vực nông thôn chiếm 48,9% trong tổng số lực lượng lao động, trong đó lao
Trang 7động nữ chiếm 49,7% [30] Việc làm của nông dân vùng ngoại thành gắn với sản xuất nông nghiệp còn bấp bênh, đa số nông dân ngoại thành vẫn làm nghề nông, trồng lúa nước, cây ăn quả, trồng hoa, rau xanh và chăn nuôi, một số vùng kết hợp làm nghề thủ công truyền thống Công nghiệp hóa, ĐTH đang đặt ra hàng loạt vấn
đề bức xúc liên quan đến việc làm và GQVL của nông dân
Tốc độ ĐTH nhanh khiến đất nông nghiệp của Hà Nội cũng suy giảm nhanh chóng Hiện nay, đất nông nghiệp Hà Nội giảm còn 174.429 ha, chiếm 51,93% tổng số diện tích đất toàn thành phố, trong khi đó đất đô thị là 43.573 ha chiếm 12,9%; đất phi nông nghiệp là 159,716 ha, chiếm 47,55% [1] Như vậy, ĐTH tác động trực tiếp đến việc làm, nhu cầu việc làm và chuyển đổi nghề nghiệp cũng như tỷ lệ thất nghiệp của nông dân ngoại thành Theo tính toán của
Sở Lao động Thương binh và Xã hội, trung bình cứ 1ha đất nông nghiệp ở Hà Nội bị mất tương ứng với 15- 18 lao động mất nghiệp, (tỷ lệ trung bình của cả nước là 1ha đất nông nghiệp bị mất kéo theo 12 lao động thất nghiệp) Ở một số huyện ngoại thành xảy ra tình trạng nông dân ly nông và ly hương, thu nhập bấp bênh, luẩn quẩn trong vòng nghèo đói dai dẳng Thậm chí, một bộ phận lớn thanh niên ngoại thành Hà Nội sa vào các tệ nạn xã hội Trong quan hệ của nhiều gia đình, dòng họ nảy sinh những tranh chấp, bất hòa lớn; tình trạng thất nghiệp
và phân hóa giàu nghèo đang diễn ra phức tạp ở nhiều nơi; đất nông nghiệp bị thu hồi, sử dụng tùy tiện lãng phí sai mục đích; sự bối rối, thiếu tầm nhìn trong công tác quy hoạch, phê duyệt quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất của chính quyền địa phương đã gây ra không ít xáo trộn và tiêu cực tới mọi hoạt động kinh
tế, văn hóa, xã hội của người nông dân ngoại thành Tốc độ ĐTH nhanh khiến một bộ phận không nhỏ nông dân không thích ứng kịp; nhiều nơi không gian sống của nông dân bị ô nhiễm nghiêm trọng, không gian sinh hoạt văn hóa, tâm linh bị xâm hại; một bộ phận cán bộ đảng viên lợi dụng chức quyền và những sơ
hở của luật pháp làm giàu bất chính làm giảm sút niềm tin của nông dân với Đảng và chính quyền địa phương; chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, chuyển đổi nghề cho nông dân thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước có những thành công nhất định song cũng bộc lộ những bất cập gây bức xúc, lãng phí, không
Trang 8hiệu quả Khi lòng dân không yên, niềm tin của nông dân vào hệ thống chính trị giảm sút với những sai phạm kéo dài liên quan đến đất đai, đến vấn đề GQVL và các vấn đề an sinh xã hội… chậm được khắc phục, xử lý thì đó là nguyên nhân dẫn đến những điểm nóng xã hội, điểm nóng chính trị - xã hội mà trên thực tế nó
đã từng và sẽ có thể tiếp tục diễn ra trên địa bàn thành phố Hà Nội, ảnh hưởng đến ổn định trật tự xã hội chung của cả nước Vì vậy, GQVL và nâng cao giá trị việc làm của nông dân ngoại thành Hà Nội trong quá trình ĐTH đang là vấn đề lớn đặt ra không chỉ cho Thành phố, mà còn là vấn đề quan tâm của toàn xã hội Việc nghiên cứu góp phần tìm ra hướng GQVL của nông dân ngoại thành Hà Nội trong quá trình ĐTH do vậy là vấn đề có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn về việc làm, giải quyết việc làm của nông dân ngoại thành Hà Nội trong quá trình ĐTH, luận án đánh giá thực trạng giải quyết việc làm của nông dân vùng ngoại thành Hà Nội trong quá trình ĐTH, từ đó đề xuất những quan điểm cơ bản, giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm bền vững của nông dân ngoại thành Hà Nội trong quá trình ĐTH thời gian tới
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan các công trình trong và ngoài nước liên quan đến giải quyết việc làm của nông dân ngoại thành Hà Nội trong quá trình ĐTH, từ đó xác định những vấn đề mà luận án cần tiếp tục làm sáng tỏ
- Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về giải quyết việc làm của nông dân ngoại thành Hà Nội trong quá trình ĐTH hiện nay
- Đánh giá thực trạng giải quyết việc làm của nông dân ngoại thành Hà Nội trong quá trình ĐTH hiện nay và nêu rõ những vấn đề đặt ra
- Đề xuất những quan điểm cơ bản, giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm bền vững của nông dân ngoại thành Hà Nội trong quá trình ĐTH trong thời gian tới (định hướng đến năm 2025)
Trang 93 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận án nghiên cứu giải quyết việc làm của nông
dân ngoại thành Hà Nội trong quá trình ĐTH hiện nay
ii) Dưới tác động của ĐTH, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH gắn với phát huy vai trò của khối liên minh công - nông - trí thức nhằm tạo việc làm và GQVL của nông dân ngoại thành Hà Nội
iii) Hoạt động dạy nghề, hướng nghiệp nâng cao trình độ của nông dân, tạo cơ hội cho họ chủ động tìm kiếm việc làm
+ Phạm vi không gian: 18 huyện ngoại thành và một thị xã, trong đó
nghiên cứu sâu các huyện: Từ Liêm, Đông Anh, Đan Phượng, Hoài Đức, Chương Mỹ, Thạch Thất, Quốc Oai
+ Phạm vi thời gian: Từ 2008 đến 2019, đề xuất tầm nhìn đến 2025
(Ngày 29/5/2008, Quốc hội khóa XII kỳ họp thứ 5 đã thông qua Nghị quyết số
15 về điều chỉnh địa giới hành chính Hà Nội lần thứ 4: hợp nhất toàn bộ tỉnh Hà Tây, chuyển huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc, 4 xã Đông Xuân, Tiến Xuân, Yên Bình, Yên Trung thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình vào thành phố Hà Nội Phạm vi ngoại thành Hà Nội được mở rộng từ 5 huyện lên 18 huyện và 1 thị xã)
4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn
- Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; về chính sách xã hội, giải quyết việc làm
Trang 10- Tham khảo và kế thừa quan điểm, kết quả nghiên cứu của các học giả đi trước và thực trạng việc làm, GQVL của nông dân ngoại thành Hà Nội trong quá trình ĐTH
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử, kết hợp với một số phương pháp cơ bản sau: lo gic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, so sánh, hệ thống, thống kê, nghiên cứu tài liệu, khảo sát thực tiễn… Cụ thể:
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu được thực hiện như sau: Qua nghiên cứu
các văn kiện Đại hội, các chỉ thị, Nghị quyết của Đảng; các chính sách, pháp luật của Nhà nước, của thành phố Hà Nội về phát triển kinh tế - xã hội nông nghiệp, nông dân, nông thôn, về việc làm và GQVL cho người lao động; qua tham khảo các
đề tài nghiên cứu khoa học, luận án, sách, báo, tạp chí, báo cáo, niên giám thống kê của Tổng cục thống kê và các nguồn tài liệu tham khảo khác có liên quan, tác giả khái quát những cơ sở lý luận, thực tiễn; phân tích thực trạng; từ đó đề xuất những quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết tốt việc làm của nông dân ngoại thành Hà Nội trong quá trình đô thị hóa hiện nay
+ Phương pháp điều tra xã hội học được thực hiện qua các bước:
- Xây dựng bảng hỏi cho các đối tượng khảo sát trên địa bàn ngoại thành
Hà Nội, chủ yếu tập trung vào đối tượng người lao động sống ở khu vực nông thôn 6 huyện ngoại thành và một số cán bộ địa phương Để đảm bảo tính chính xác của thông tin cần thu thập, sau khi xây dựng mẫu phiếu, tác giả đã tiến hành test thử ở mỗi đối tượng 10 phiếu Trên cơ sở kết quả thu được, tiếp tục hoàn thiện phiếu để triển khai khảo sát
- Chọn mẫu và tiến hành khảo sát: Với tổng số 1045 phiếu tham gia điều
tra, trong đó: 45 phiếu dành cho cán bộ huyện, xã và chủ doanh nghiệp trên địa bàn các huyện: Đông Anh, Hoài Đức, Chương Mỹ, Quốc Oai; 1000 phiếu dành cho người lao động sống ở khu vực nông thôn của 6 huyện ngoại thành, gồm: Xã
Uy Nỗ, Việt Hùng ở huyện Đông Anh 200 phiếu; xã Phù Ninh, Việt Long ở huyện Sóc Sơn 200 phiếu; xã An Khánh, Vân Canh ở huyện Hoài Đức 150 phiếu;
Trang 11Xã Tân Tiến, Đông Sơn ở huyện Chương Mỹ 150; Xã Dũng Tiến, Văn Phú ở huyện Thường Tín 150 phiếu; xã Phú Cát, Tân Phú ở huyện Quốc Oai 150 phiếu
- Xử lý thông tin: Sau khi thu thập được thông tin đã khảo sát, hệ thống phiếu
điều tra được xử lý trên phần mềm excel Kết quả dữ liệu thu thập được chính là một trong những bằng chứng khách quan để tác giả sử dụng đánh giá thực trạng GQVL của nông dân ngoại thành Hà Nội trong quá trình đô thị hóa hiện nay
Mục đích của việc khảo sát thực tế và phỏng vấn sâu các đối tượng nêu trên là để thu thập những số liệu, thông tin, ý kiến, quan điểm… của các hộ nông dân ở các huyện khác nhau vùng ngoại thành Hà Nội về việc làm và GQVL để đối chiếu, bổ sung với những nhận định, kiến thức thu được từ việc nghiên cứu
tài liệu, qua đó rút ra những kết luận phù hợp
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Dưới góc độ chính trị - xã hội, luận án phân tích những nhân tố tác động
và chỉ ra những vấn đề bất cập trong GQVL của nông dân ngoại thành Hà Nội trong quá trình ĐTH hiện nay
- Thông qua khảo sát và thống kê số liệu, góp phần làm rõ được thực trạng việc làm và GQVL của nông dân ngoại thành Hà Nội trong quá trình ĐTH hiện nay
- Trên cơ sở kết quả được nghiên cứu khách quan khoa học, tin cậy về việc làm và GQVL, đề xuất những quan điểm, giải pháp mang tính định hướng góp phần GQVL cho nông dân ngoại thành Hà Nội từ nay đến năm 2025
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Luận án góp phần làm phong phú thêm lý luận và thực tiễn để đề xuất quan điểm, giải pháp nhằm GQVL của nông dân ngoại thành Hà Nội trong quá trình ĐTH hiện nay
- Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu khoa học, giảng dạy, học tập những vấn đề xung quanh lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn và ĐTH
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình khoa học của tác giả
đã công bố liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
án gồm 4 chương, 8 tiết
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CỦA NÔNG DÂN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA
t s n tr n n n u t ả n n o v V t m về
ả quyết v l m n n dân tron qu tr n đ t ị ó ở n
- Fukutake Tadachi, Cơ cấu xã hội Nhật Bản (do Hồ Hoàng Hoa dịch),
[160] Tác giả đã chỉ ra cấu trúc xã hội Nhật Bản điển hình nhất trước hết là ở xã hội nông thôn Cơ cấu giai cấp của xã hội Nhật Bản tiền hiện đại gồm 3 giai tầng
cơ bản: giai cấp thống trị (Hoàng tộc, quý tộc, quan lại; địa chủ; tư sản; quan lại
về hưu); tầng lớp trung gian (quan lại bậc dưới thẩm phán, nông dân, ngư dân, những người có nghề); giai cấp bị trị (bần nông, doanh nghiệp tự do, công nhân, công nhân viên chức cấp dưới) Hiện nay, trong xã hội hiện đại, cơ cấu giai cấp cũng gồm 3 giai tầng cơ bản nhưng đã có sự thay đổi: giai cấp tư sản; tầng lớp nghiệp chủ tự doanh (những người làm việc trong ngành nông, lâm, ngư nghiệp, dịch vụ buôn bán, ngành có tính chất chuyên môn kỹ thuật); giai cấp công nhân Như vậy, cơ cấu giai cấp ở Nhật Bản hiện đại đã có sự thay đổi lớn, giai cấp địa chủ mất đi, giai cấp tư sản tăng lên, giai cấp nông dân giảm mạnh: từ 44,6% năm
1950 xuống còn 8,3% năm 1985; giai cấp công nhân đang tăng nhanh: từ 38,2% năm 1950 lên 69,5% năm 1985
- Frans Elltis, Chính sách nông nghiệp trong các nước phát triển [52]
Trên cơ sở nghiên cứu một số trường hợp mang tính điển hình ở nhiều nước Á, Phi, Mỹ Latinh, cuốn sách đã chỉ ra những vấn đề cơ bản trong chính sách nông nghiệp ở các nước đang phát triển, như: chính sách phát triển vùng, chính sách hỗ trợ đầu vào, đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp, chính sách thương mại nông sản, những vấn đề phát sinh trong quá trình đô thị hóa ở nông thôn, trong
đó có vấn đề lao động việc làm của nông dân dưới ảnh hưởng của đô thị hóa
Trang 13Bước đầu, tác giả cũng khẳng định những thành công và chỉ ra thất bại trong phát triển nông nghiệp, nông thôn và giải quyết vấn đề nông dân dưới tác động của công nghiệp hóa, đô thị hóa, hội nhập
- Servaas Storm, Những việc không bao giờ kết thúc: Nông nghiệp Ấn Độ
theo cải cách cấu trúc [159] Cuốn sách đã tập trung phân tích những tác động
của chính sách tự do thương mại trong lĩnh vực nông nghiệp ở Ấn Độ (từ 1985 - 1990), nhất là vai trò của đầu tư tư nhân vào nông nghiệp đến việc làm của nông dân; đồng thời khẳng định hệ thống chính sách của nhà nước đã có những tác động tích cực đến việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, tạo điều kiện cho tư nhân đầu tư vào nông nghiệp, tạo thêm nhiều việc làm, tăng thu nhập cho nông dân và cải thiện môi trường nông thôn theo hướng hiện đại, văn minh
- Trung tâm Phát triển nông thôn, Lý luận và thực tiễn xây dựng nông thôn
mới xã hội chủ nghĩa [196] Công trình đã đề cập đến vấn đề xây dựng nông
thôn mới ở Trung Quốc trên các góc độ khác nhau, trong đó có đề cập đến thể chế quản lý, cơ chế giám sát và cơ chế đảm bảo của sự nghiệp xây dựng nông thôn mới; những yếu tố tác động đến xây dựng nông thôn mới, trong đó bao hàm
cả tác động đến vấn đề việc làm của nông dân trong quá trình xây dựng nông thôn mới và đô thị hóa
- Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn kinh nghiệm Việt Nam, Kinh
nghiệm Trung Quốc [73] Đây là cuốn sách tập hợp các bài nghiên cứu của các
nhà khoa học Việt Nam và Trung Quốc, trong đó, các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Trung Quốc tập trung làm rõ những nhận thức lý luận và thực tiễn về vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở Trung Quốc trong quá trình CNH, HĐH và hội nhập quốc tế và dưới tác động của ĐTH - bao gồm các vấn đề
cơ bản sau: quan hệ giữa lý luận và thực tiễn cải cách phát triển nông thôn; vấn
đề an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo ở nông thôn; vấn đề phát triển nông thôn, nông nghiệp, nông dân hiện đại theo con đường hiện đại hóa nông nghiệp đặc sắc Trung Quốc…
- Năm 2009, tại Hội thảo Lý luận lần thứ tư giữa Đảng Cộng sản Việt
Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc, với chủ đề: Những vấn đề lý luận và thực
Trang 14tiễn về nông nghiệp, nông dân, nông thôn - Kinh nghiệm Việt Nam, kinh nghiệm Trung Quốc, tổ chức ở Khánh Hòa, Việt Nam, các nhà khoa học Trung Quốc đã
có những tham luận quan trọng, luận giải cả lý luận và thực tiễn, kinh nghiệm và giải pháp giải quyết việc làm cho nông dân ngoại thành trong quá trình ĐTH ở Trung Quốc, có giá trị tham khảo đối với Việt Nam Tiêu biểu là:
Trác Vệ Hoa, Lý luận và thực tiễn cải cách và phát triển nông thôn Trung
Quốc 30 n m qua Tác giả đã khái quát tiến trình cải cách, phát triển nông thôn
Trung Quốc trong 30 năm, từ 1978 đến 2008 Theo tác giả, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, bộ mặt nông thôn Trung Quốc đã có thay đổi to lớn với sự chuyển đổi thể chế kinh tế kế hoạch sang thích ứng với thể chế kinh tế thị trường XHCN Trong lĩnh vực nông nghiệp, những thay đổi căn bản là: kinh tế nông thôn phát triển, đời sống, lao động việc làm của nông dân nhiều vùng thôn ngày càng được cải thiện theo hướng phù hợp và hiệu quả hơn; khả năng cung ứng nông sản được nâng cao; xã hội nông thôn tiến bộ; mức sống của nông dân được nâng lên mạnh mẽ; thể chế, cơ chế ở nông thôn có sự thay đổi sâu sắc Đó cũng chính là quá trình xây dựng nông thôn mới XHCN của Trung Quốc
Trương Hổ Lâm, Thúc đẩy nông dân làm thuê lưu động hợp lý, bảo đảm
thiết thực quyền lợi hợp pháp của nông dân làm thuê Bài viết đã chỉ rõ: dưới tác
động của cơ chế thị trường, của ĐTH và công nghiệp hóa, một bộ phận nông dân
đã linh hoạt chuyển sang làm thuê lưu động - đây là một hiện tượng ngày càng phổ biến và là tất yếu ở Trung Quốc xuất hiện khi kinh tế phát triển tới một giai đoạn nhất định; đồng thời là nhân tố tích cực của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Bài viết chỉ rõ: nông dân làm thuê lưu động đã cho thấy, cùng với công nghiệp là nền tảng kinh tế quốc dân không ngừng phát triển, hàng loạt sức lao động trong ngành nông nghiệp tất yếu phải chuyển dịch sang các ngành phi nông nghiệp, chuyển dịch vào thành phố làm công nghiệp, dịch vụ Đây là do quy luật khách quan trong quá trình phát triển kinh tế quyết định Tuy vậy, tác giả cũng chỉ ra mặt trái của hiện tượng này chính là nông dân làm thuê lưu động dưới tác động của công nghiệp hóa, đô thị hóa… là sự dịch chuyển tuần hoàn, không triệt để; sự chuyển dịch không có trật tự, kênh chuyển dịch hạn h p, tốc độ chuyển
Trang 15dịch chậm; những vấn đề liên quan đến cơ chế, chính sách…cũng có tác động đã cản trở sự chuyển dịch việc làm của nông dân từ nông thôn ra thành thị hay các
đô thị; môi trường làm việc của nông dân làm thuê thấp kém; cơ chế đảm bảo quyền lợi của nông dân làm thuê chưa được xây dựng căn bản; trình độ của bản thân nông dân làm thuê tại các khu công nghiệp, khu đô thị… nhìn chung chưa đảm bảo Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm vừa thúc đẩy nông dân làm thuê lưu động hợp lý, vừa bảo vệ tốt quyền lợi hợp pháp của họ
Trương Hồng Vũ, Vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân là vấn đề
liên quan tới toàn c c xây dựng hiện đại h a xã hội chủ nghĩa của Trung Quốc
Bài viết cho rằng, Đảng Cộng sản Trung Quốc rất coi trọng vấn đề tam nông , xem đó là nhiệm vụ quan trọng của đảng để thúc đẩy kinh tế nông nghiệp nông thôn phát triển lành mạnh, liên tục và vững chắc Bởi vì, vấn đề tam nông liên quan tới toàn cục xây dựng hiện đại hóa XHCN Trung Quốc, thúc đẩy kinh tế -
xã hội nông thôn phát triển vừa tốt, vừa nhanh
Trần Đông Kỳ, Xây dựng cơ chế hiệu quả lâu dài lấy công nghiệp thúc
đẩy nông nghiệp, lấy thành th thúc đẩy nông thôn, h nh thành c c diện mới, nhất thể h a phát triển kinh tế, xã hội thành th và nông thôn Tác giả cho rằng, để
tạo động lực phát triển nông nghiệp, nông thôn cần đẩy nhanh CNH, đẩy mạnh chính sách ủng hộ nông nghiệp, nông dân, làm lợi cho nông nghiệp, hình thành cơ chế hiệu quả lâu dài, lấy công nghiệp thúc đẩy nông nghiệp; đẩy nhanh tiến trình ĐTH và chuyển dịch sức lao động, hình thành cơ chế hiệu quả lâu dài lấy thành thị thúc đẩy nông thôn; đẩy nhanh xây dựng nông thôn mới XHCN, thúc đẩy dịch vụ công cộng cơ bản ngang bằng nhau, hình thành cục diện mới, nhất thể hóa phát triển kinh tế, xã hội thành thị và nông thôn
- Mohamed Behnassi, Shabbir A.Sahahid (2012), Phát triển nông nghiệp
bền vững (Sustainable Agriculture Development) [227] Công trình khẳng định
việc sử dụng tài nguyên đất là một vấn đề quan trọng đối với phát triển nông nghiệp bền vững; đồng thời các tác giả đã đưa ra một số biện pháp nhằm quản lý bền vững tài nguyên nước tại các trang trại, cánh đồng lúa, giảm thất thoát nước; kết hợp với việc mở rộng giáo dục và áp dụng khoa học, kỹ thuật trong sản xuất
Trang 16nông nghiệp - đó là những điều kiện căn bản để phát triển một nền nông nghiệp bền vững, tạo việc làm ổn định và nâng cao chất lượng việc làm cho nông dân Theo các tác giả, phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững chính là vấn đề đạo đức và xã hội để đảm bảo môi trường bền vững trước những biến đổi khí hậu, khủng hoảng năng lượng và nạn đói đang thách thức toàn cầu, đặc biệt đối với những nước đang phát triển còn phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp nhưng đất đai, khí hậu khắc nghiệt
Một số tác giả Việt Nam cũng có những công trình nghiên cứu về vấn đề
nông dân, nông thôn trong quá trình CNH, HĐH ở các nước có điều kiện gần giống với Việt Nam, như:
- Chu Tiến Quang, Lê Xuân Đình, Kinh nghiệm của Hàn Quốc trong phát
triển nông thôn mới bền vững [146] Các tác giả cho rằng nhu cầu bảo tồn các
nguồn lực nông nghiệp, chỉ ra nguồn gốc dẫn đến ô nhiễm môi trường do phát triển nông nghiệp và nêu những kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới bền vững
ở Hàn Quốc nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, duy trì và cải thiện các nguồn lực, thúc đẩy sự tiến bộ của các dự án khuyến khích nông nghiệp bền vững,
- Trần Quang Minh, Nông nghiệp Hàn Quốc trên đường phát triển [115]
Tác giả đã chỉ ra các nhân tố tác động đến sự phát triển nông nghiệp Hàn Quốc, nhất là sự tác động của ĐTH, của khoa học công nghệ…; từ đó đề xuất các chính sách và biện pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy nông nghiệp Hàn Quốc phát triển hiện đại, đồng thời, rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
- Tuấn Anh, Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở một số nước trên thế
giới [5] Bài viết đã tổng kết kinh nghiệm một số nước về xây dựng nông thôn
mới như: Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan Từ kinh nghiệm của các nước, cho thấy những ý tưởng sáng tạo, khâu đột phá và sự trợ giúp hiệu quả của nhà nước trên cơ sở phát huy tính tự chủ, năng động, trách nhiệm của người dân có ý nghĩa và vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
- Phạm Thị Thanh Bình, Phát triển nông nghiệp bền vững ở Thái Lan
[15] Tác giả khẳng định: phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững và hiện
Trang 17đại là xu hướng tất yếu trong chiến lược phát triển kinh tế của các quốc gia, trong đó có Thái Lan Đồng thời nêu một số quan điểm, định hướng chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững ở Thái Lan và rút ra những kinh nghiệm cho Việt Nam
Như vậy, các công trình của các tác giả nước ngoài và trong nước nêu trên đã
đề cập đến nhiều vấn đề liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn; xây dựng nông thôn mới, việc làm… ở các nước trên thế giới, trong đó bao gồm cả những tác động của công nghiệp hóa, ĐTH, của kinh tế thị trường… đến vấn đề lao động việc làm của nông dân Trong các công trình của các tác giả liên quan đến đề tài mà tác giả nghiên cứu, không có công trình nào đề cập trực diện đến vấn đề GQVL cho nông dân ngoại thành Hà Nội trong quá trình ĐTH Tuy nhiên, các nghiên cứu này
có giá trị gợi mở cho tác giả luận án, cả về lý luận và thực tiễn
1.1.2 Một số c ng tr nh nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài luận án
1.1.2.1 Những công trình liên quan đến việc làm và giải quyết việc làm của nông dân trong quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa
- Nguyễn Văn Thủ, Biến đổi của xã hội nông thôn dưới tác động của đô
th h a và tích t ruộng đất [177] Tác giả nghiên cứu các quan điểm lý thuyết về
phát triển, về biến đổi xã hội, về phát triển nông nghiệp, nông thôn gắn với đất đai và chính sách đất đai ở Việt Nam làm căn cứ lý luận và thực tiễn để nghiên cứu sự biến đổi của xã hội nông thôn về sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn, về môi trường, đời sống văn hóa, các vấn đề xã hội, biến đổi trên lĩnh vực chính trị dưới tác động của ĐTH và tích tụ ruộng đất Tất cả những vấn đề đó đều tác động ảnh hưởng đến đời sống, lao động việc làm của nông dân Từ đó, tác giả đề xuất những giải pháp nhằm thúc đẩy các xu hướng tác động tích cực, hạn chế và khắc phục các xu hướng tiêu cực từ những tác động và biến đổi do quá trình ĐTH, tích tụ ruộng đất để ổn định và phát triển cộng đồng xã hội nông thôn nước ta trong tiến trình CNH, HĐH
- Nguyễn Danh Sơn, Nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam trong
quá tr nh phát triển đất nước theo hướng hiện đại [155] Các tác giả làm rõ vai
Trang 18trò của nông dân, nông thôn và nông nghiệp trong đời sống chính trị - kinh tế -
xã hội - văn hoá của đất nước đang chuyển mạnh từ một xã hội nông nghiệp, nông thôn sang xã hội công nghiệp hiện đại; những biến đổi trong cơ cấu kinh tế, thể hiện trong cơ cấu việc làm của nông dân Thực tiễn nông nghiệp, nông thôn, nông dân ở Việt Nam và giải pháp chiến lược, định hướng phát triển giai đoạn
2011 - 2020, tầm nhìn đến năm 2030
- Lê Quốc Lý, Công nghiệp h a, hiện đại h a nông nghiệp nông thôn vấn
đề và giải pháp [107] Tác giả đưa ra cách tiếp cận về CNH, HĐH nông nghiệp,
nông thôn trên cơ sở thực tiễn Việt Nam Trình bày vai trò của nông nghiệp, nông dân về phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới; phân tích bối cảnh phát triển mới, trong đó bao hàm cả vấn đề ĐTH và những vấn đề đặt ra đối với đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nước ta Tác giả phân tích quan niệm và nội dung của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn bền vững; những vấn đề về quản
lý Nhà nước đối với CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở nước ta Từ đó, đề xuất một số quan điểm nhằm thúc đẩy quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam hiện nay làm căn cứ định hướng phát triển CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trong thời gian tới Phân tích những tác động tích cực và tiêu cực của hội nhập quốc tế, của kinh tế thị trường, của ĐTH… đối với nền nông nghiệp Việt Nam, đề xuất một số vấn đề cần tập trung giải quyết và giải pháp đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
- Vũ Văn Phúc, Xây dựng nông thôn mới - những vấn đề lý luận và thực
tiễn [140] Cuốn sách gồm các bài viết của các nhà khoa học, lãnh đạo các cơ
quan trung ương, các địa phương, các ngành, các cấp về xây dựng nông thôn mới, tập trung ở những nội dung cơ bản sau:
Những vấn đề lý luận chung và kinh nghiệm quốc tế về xây dựng nông thôn mới: Các tác giả nghiên cứu về tính tất yếu của quá trình xây dựng nông thôn mới vì mục tiêu của sự nghiệp cách mạng XHCN; kết quả bước đầu của sự nghiệp xây dựng nông thôn mới, những vấn đề đặt ra về đất đai, quản lý đất đai, hiệu lực quản lý của nhà nước, sử dụng nguồn vốn, môi trường nông thôn, hệ thống chính trị nông thôn, gia đình và phụ nữ nông thôn…
Trang 19Các tác giả nghiên cứu tổng kết thực tiễn xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam qua mô hình xây dựng nông thôn mới ở Lào Cai, Nghệ An, Phú Thọ, Ninh Bình, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Lai Châu…Đánh giá những thành công bước đầu, kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới
- Mai Ngọc Cường, Chính sách xã hội đối với di dân nông thôn - thành th
ở Việt Nam hiện nay [28] Cuốn sách tập trung vào các vấn đề liên quan đến
chính sách xã hội đối với di dân nông thôn - thành thị; thực trạng chính sách xã hội đối với di dân nông thôn - thành thị ở Việt Nam dưới tác động của quá trình ĐTH, cụ thể là: những vấn đề chung về di dân ở Việt Nam, về dân số, lao động, việc làm, thu nhập, đời sống, an sinh xã hội Tác động của môi trường luật pháp, chính sách đối với di dân ở nông thôn ra thành thị, đánh giá những thành tựu, tác động tích cực cũng như hạn chế tồn tại của môi trường luật pháp, cơ chế, chính sách, tổ chức quản lý liên quan đến chính sách xã hội đối với di dân ở nông thôn
ra thành thị; đồng thời chỉ ra xu hướng di dân ở nông thôn ra thành thị trong những năm tới và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách xã hội đối với di dân nông thôn - thành thị ở Việt Nam trước tác động của ĐTH, của kinh tế thị trường và hội nhập
- Trần Thanh Quang, Về phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở nước ta
[143] Trong bài viết, tác giả đã tổng kết về những kết quả ban đầu đạt được sau
5 năm thực hiện đề án phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đến năm
2010 của Chính phủ Bên cạnh đó, tác giả chỉ ra những khó khăn về nguồn vốn đầu tư, tích tụ đất đai, kết cấu hạ tầng, thị trường tiêu thụ, sự rời rạc trong liên kết hoạt động khoa học - công nghệ giữa các tỉnh thành trong cả nước Tác giả đề xuất một số giải pháp để khắc phục những khó khăn còn tồn tại nhằm góp phần xây dựng nền nông nghiệp phát triển cao, hiệu quả, bền vững, đó cũng chính là một trong những giải pháp hiệu quả nhằm giải quyết việc làm với chất lượng cao cho nông dân trong quá trình phát triển một nền nông nghiệp bền vững
- Bùi Thị Ngọc Lan, Việc làm của nông dân vùng Đồng bằng sông Hồng
trong quá tr nh công nghiệp h a, hiện đại h a [88] Công trình này đã làm rõ
những vấn đề lý luận về việc làm, kinh nghiệm giải quyết việc làm cho nông dân
Trang 20ở một số nước như Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản Các tác giả phân tích những nhân tố cơ bản tác động đến việc làm của nông dân vùng đồng bằng sông Hồng, những đặc điểm truyền thống và đương đại; làm rõ thực trạng phân bố việc làm và sử dụng lao động, thực trạng chất lượng và giá trị việc làm,
xu hướng tạo việc làm của nông dân vùng đồng bằng sông Hồng và triển vọng giải quyết việc làm cho nông dân vùng đồng bằng sông Hồng, từ đó đề xuất một
số giải pháp và kiến nghị nhằm góp phần giải quyết việc làm của nông dân vùng đồng bằng sông Hồng trong những năm tới một cách hiệu quả
- Nguyễn Thị Thơm, Phí Thị Hằng, Giải quyết việc làm của lao động
nông nghiệp trong quá tr nh đô th h a [175] Các tác giả đã làm rõ những vấn
đề lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về việc làm và GQVL của lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở Việt Nam Các tác giả nghiên cứu tác động của ĐTH đến việc làm, các nhân tố ảnh hưởng đến GQVL làm của lao động nông nghiệp, kinh nghiệm GQVL cho lao động nông nghiệp trong quá trình ĐTH ở một số địa phương thuộc đồng bằng sông Hồng như Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà Nội
Nghiên cứu thực trạng việc làm và GQVL của lao động nông nghiệp trong quá trình ĐTH ở Hải Dương (một tỉnh trọng điểm của đồng bằng sông Hồng) như: Phân tích các đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, đặc điểm lao động nông nghiệp của tỉnh Hải Dương, những kết quả đạt được, những hạn chế trong GQVL cho lao động nông nghiệp Trên cơ sở đó, đưa ra những phương hướng và giải pháp GQVL của lao động nông nghiệp trong quá trình ĐTH ở Hải Dương đến năm 2020 và những năm tiếp theo
- Đỗ Đức Quân, Một số giải pháp nhằm phát triển bền vững nông thôn
vùng đồng bằng Bắc bộ trong quá tr nh xây dựng, phát triển các khu công nghiệp [149] Tác giả đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển
bền vững nông thôn trong quá trình xây dựng phát triển các khu công nghiệp, đồng thời nghiên cứu lý luận chung về khu công nghiệp và vai trò của nó trong
sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, tác động của quá trình xây dựng, phát triển các khu công nghiệp đến phát triển bền vững nông thôn…, như tác động về kinh tế,
Trang 21kỹ thuật, tác động đến cơ cấu lao động, việc làm, tác động đến thu nhập, mức sống, và khía cạnh tài nguyên môi trường…Trên cơ sở đó, đề xuất phương hướng và những giải pháp cơ bản nhằm đảm bảo phát triển bền vững nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ
- Trần Minh Yến, Lê Anh Vũ, Việc làm của nông dân trong quá tr nh
công nghiệp h a, hiện đại h a vùng đồng bằng sông Hồng đến n m 2020 [225]
Các tác giả đã đề cập đến vấn đề việc làm của nông dân, thực trạng vấn đề việc làm của nông dân ở vùng Đồng bằng sông Hồng, trên cơ sở đó nêu lên những giải pháp cơ bản nhằm GQVL của nông dân vùng đồng bằng sông Hồng trong quá trình CNH, HĐH
- Nguyễn Văn Dũng, Để giải quyết việc làm cho nông dân vùng đồng
bằng sông Cửu Long [36] Bài viết nêu bật tầm quan trọng chiến lược của Đồng
bằng Sông Cửu Long và quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ ở khu vực này Cùng với đó là GQVL cho nông dân ở đây cũng trở thành một thách thức to lớn Trong bài viết tác giả đã nêu ra những nhiệm vụ và giải pháp cơ bản trong thời gian tới cần thực hiện: Xây dựng hệ thống cơ chế, chính sách phù hợp vì lợi ích của nông dân; Nâng cao trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật và tăng cường đào tạo nghề cho nông dân; Phát triển việc làm khu vực phi nông nghiệp; Phát triển làng nghề truyền thống ở các địa phương
- Võ Văn Đức, Đinh Ngọc Giang, Một số vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh
trong quá tr nh công nghiệp h a, đô th h a ở Việt Nam [51] Các tác giả làm rõ
nhận thức lý luận chung về công nghiệp hóa, ĐTH, kinh nghiệm của một số nước về giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong quá trình CNH, HĐH Nghiên cứu thực trạng những vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong quá trình công nghiệp hóa, ĐTH từ 2005 đến nay qua khảo sát ở một số địa phương:
về lao động và việc làm, về thu nhập, mức sống của người nông dân khi bị thu hồi đất, những vấn đề liên quan đến tái định cư trong quá trình công nghiệp hóa, ĐTH, vấn đề ô nhiễm môi trường nông thôn; nghiên cứu những tác động xã hội như giáo dục đào tạo, an ninh xã hội, đời sống văn hóa tinh thần Đồng thời, phân tích thực trạng vai trò của hệ thống chính trị cơ sở trong việc giải quyết các
Trang 22vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong quá trình công nghiệp hóa, ĐTH Đề xuất những quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong quá trình công nghiệp hóa, ĐTH giai đoạn hiện nay, như đảm bảo chất lượng quy hoạch phát triển đô thị với phát triển nông nghiệp nông thôn;
sử dụng đất đai hợp lý; giải quyết việc làm cho người dân; giải quyết tốt vấn đề tái định cư, xử lý môi trường và phát huy hiệu quả vai trò của hệ thống chính trị
cơ sở
- Trần Thanh Quang, Một số đề xuất nhằm giải quyết việc làm cho lao
động nông thôn [144] Bằng những số liệu cụ thể, tác giả đã cho thấy quá trình
giải quyết việc làm cho lao động nông thôn đã góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tích cực Tuy nhiên giải quyết việc làm cho lao động nông thôn vẫn còn gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ thất nghiệp cũng như thiếu việc làm ở khu vực này khá cao; đồng thời tác giả đã chỉ ra nguyên nhân của tình trạng này; từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm GQVL cho lao động nông thôn như: chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH; khôi phục và phát triển ngành nghề truyền thống đi đôi với xây dựng làng nghề mới; Phát triển kinh tế tư nhân và loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm tạo nhiều việc làm cho người lao động ở nông thôn; đẩy mạnh hoạt động du lịch dịch vụ; nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp; đổi mới phương pháp đào tạo nghề cho người lao động…
- Đào Văn Tiến, Đào tạo nghề cho lao động nông thôn - nguồn lực quan
trọng tiếp sức xây dựng nông thôn mới [184] Bài viết đã tổng kết kết quả đạt
được sau 6 năm thực hiện Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm
2020 bằng những con số chi tiết, cụ thể Với những nỗ lực đó, chất lượng lao động nông thôn đã có những cải thiện đáng kể, dần được nâng cao, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH và là nguồn lực quan trọng tiếp sức cho quá trình thực
hiện Chương trình M c tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới
1.1.2.2 Những công trình liên quan đến vấn đề việc làm và giải quyết việc làm của nông dân Hà Nội trong quá trình đô thị hoá
- Trần Thị Hồng Yến, Biến đổi về xã hội và v n h a ở các làng quê trong
quá tr nh đô th h a tại Hà Nội [226] Trên cơ sở nghiên cứu sự biến đổi xã hội
Trang 23và văn hóa do tác động của công nghiệp hóa, ĐTH và toàn cầu hóa của một số nước trên thế giới, tác giả rút ra kết luận: CNH, HĐH là quá trình lịch sử lâu dài
và tất yếu diễn ra trên toàn thế giới, và nó làm nảy sinh nhiều biến đổi về văn hóa - xã hội mà Việt Nam có thể tham khảo Đồng thời, tác giả phân tích đặc điểm quá trình phát triển đô thị Hà Nội từ trong lịch sử đến nay Từ đó, tác giả khẳng định: quá trình ĐTH trong những năm đổi mới ở Hà Nội gắn với quá trình
mở rộng địa giới hành chính chuyển các huyện lên quận, xã lên phường; quá trình này chủ yếu không dựa trên nội lực kinh tế mà phần lớn lấy đất nông nghiệp và một phần đất thổ cư để phát triển đô thị, không có thời gian chuẩn bị
kỹ lưỡng nên được gọi là ĐTH cưỡng bức nên làm nảy sinh nhiều vấn đề về văn hóa, chính trị, xã hội Đây là những nội dung luận án cần tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu những vấn đề về ĐTH ở ngoại thành Hà Nội, những vấn đề chính trị - xã hội nảy sinh trong quá trình ĐTH ở ngoại thành Hà Nội
- Trịnh Kim Liên, Chuyển d ch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ngoại thành
Hà Nội theo hướng giá tr cao kinh tế xanh và phát triển bền vững [101] Các tác
giả đã phân tích cơ sở khoa học của việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng giá trị cao, kinh tế xanh và phát triển bền vững, trong đó lý giải những vấn đề chung về nông nghiệp và các mô hình nông nghiệp trong lịch sử (mô hình sản xuất nông nghiệp nguyên thủy, mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ
cổ truyền, mô hình sản xuất nông nghiệp công nghiệp hóa cao, mô hình sản xuất nông nghiệp sinh thái, mô hình nông nghiệp ven đô… ); lý giải những vấn đề về cơ cấu kinh tế nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng kinh tế xanh và phát triển bền vững
Nhóm tác giả đã làm rõ thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của ngoại thành Hà Nội theo hướng giá trị cao, kinh tế xanh và phát triển bền vững giai đoạn 2008 - 2013 Từ đó, đề xuất định hướng và những giải pháp đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ngoại thành Hà Nội theo hướng giá trị cao, kinh tế xanh và phát triển bền vững đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2030
Trang 24- Lê Thị Mỹ Huyền, Phát triển sản xuất nông nghiệp sau dồn điền đổi
thửa, g p phần xây dựng nông thôn mới ở Hà Nội [75] Bài viết đã khẳng định
dồn điền đổi thửa ở Hà Nội được coi là cuộc cách mạng trong nông nghiệp, tạo nền móng quan trọng cho việc tổ chức lại sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, đưa khoa học kỹ thuật vào đồng ruộng nhằm nâng cao giá trị đất canh tác Tác giả đưa ra những số liệu thống kê về quá trình dồn điền đổi thửa trong nông nghiệp tại Hà Nội; chỉ ra những thành công của cuộc cách mạng dồn điền đổi thửa, trong đó thành công lớn nhất là sự đồng thuận Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra những tồn tại, thách thức như hạn chế trong công tác tuyên truyền vận động; chưa nhiều các mô hình sản xuất chuyên canh tập trung qui mô lớn; nông dân khó tiếp cận vốn đầu tư…, từ đó đề xuất những giải pháp để nông nghiệp Hà Nội phát triển bền vững, nâng cao giá trị gia tăng sau dồn điền đổi thửa, xây dựng nông thôn mới, từng bước nâng cao đời sống nông dân
- Nguyễn Chí Mỳ, Hoàng Xuân Nghĩa, Hậu giải ph ng mặt bằng ở Hà
Nội - vấn đề và giải pháp [117] Các tác giả đề cập tới vấn đề CNH, HĐH và
ĐTH ở Việt Nam cũng như Hà Nội thời gian qua, nhấn mạnh các tác động tiêu cực của ĐTH và giải phóng mặt bằng tới các mặt xã hội, đô thị, môi trường Đặc biệt đánh giá tác động của thu hồi đất và giải phóng mặt bằng với tốc độ cao tại các đô thị lớn như Hà Nội, khiến cho một bộ phận đông đảo người dân ngoại thành mất đất canh tác, thiếu việc làm Việc chuyển đổi ngành nghề có khó khăn với người nông dân, đặc biệt là với những người lớn tuổi, do vậy không ít trường hợp lâm vào nghèo khó, mắc các tệ nạn xã hội Từ đó, các tác giả đề xuất cần phải điều chỉnh mô hình, tốc độ công nghiệp hóa, ĐTH; gắn kết giữa thu hồi đất với giải quyết các vấn đề trong hậu giải phóng mặt bằng như: đào tạo nghề, bố trí việc làm, tái định cư, ổn định đời sống cho các hộ dân mất đất; bảo đảm cho
họ có cuộc sống được cải thiện bằng hay tốt hơn cũ
- Hoàng Văn Hoa, Đô th h a và lao động việc làm ở Hà Nội [60] Tác giả
nêu lên các khái niệm và lý thuyết về ĐTH, lao động việc làm Đánh giá tình hình ĐTH nhanh ở Hà Nội thời gian qua, cho thấy bức tranh có cả mặt tích cực
và tiêu cực Theo kết quả điều tra, chiếm tỷ lệ lớn người dân bị thu hồi đất không được học nghề và chuyển đổi nghề; trong số được học nghề thì tỷ lệ người tìm
Trang 25được việc làm cũng rất thấp Nguyên nhân là, giữa đào tạo nghề trong nhà trường và thực tế nhu cầu công việc không ăn khớp; không có sự gắn kết, chia s trách nhiệm giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp Hiện tượng không bố trí được việc làm sau đào tạo khá phổ biến; trong khi doanh nghiệp lại thiếu hụt trầm trọng nguồn nhân lực, thậm chí là thiếu cả lao động phổ thông
- Ngô Thắng Lợi, Đô th h a ở Hà Nội nh n từ g c độ phát triển bền vững
[105] Tác giả phân tích những khía cạnh bền vững trong ĐTH Hà Nội như tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, mở rộng qui mô thủ đô…; mặt khác chỉ ra tính không bền vững trong quá trình ĐTH ở Hà Nội như: phát triển nguồn nhân lực không theo kịp tốc độ ĐTH, cơ sở hạ tầng, ô nhiễm môi trường… Từ đó, tác giả đề xuất mục tiêu và quan điểm chỉ đạo phát triển thủ đô Hà Nội theo hướng bền vững
- Đỗ Thị Tuyết, Giải quyết việc làm cho người lao động ở khu vực nông
thôn ngoại thành Hà Nội [207] Tác giả nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về
GQVL ở khu vực nông thôn Việt Nam; từ đó tập trung làm rõ thực trạng công tác GQVL cho lao động nông thôn ngoại thành Hà Nội Đề xuất giải pháp GQVL ở khu vực nông thôn ngoại thành Hà Nội đến năm 2015 - 2020 nhằm thực hiện đường lối của Đảng về phát triển kinh tế nông thôn, nâng cao thu nhập cho người lao động nông thôn, cải thiện không ngừng đời sống của dân cư nông thôn và tiến kịp mức sống của dân cư thành thị trong khu vực và trên thế giới
- Trần Thị Minh Ngọc, Giải quyết việc làm của nông dân b thu hồi đất ở
ngoại thành Hà Nội [126] Tác giả đã làm rõ tác động của quá trình công nghiệp
hóa, ĐTH và chuyển dịch cơ cấu kinh tế khiến cho đất đai dành cho sản xuất nông nghiệp càng giảm mạnh Thực trạng đó dẫn đến bức xúc về GQVL ở khu vực này, nhất là đối với nông dân trong độ tuổi lao động bị thu hồi đất Từ thực trạng chung của đất nước và thực trạng cụ thể ở khu vực ngoại thành Hà Nội, tác giả đã đề xuất một số giải pháp để giải quyết tốt việc làm của người lao động, nhất là lao động nông thôn trong quá trình CNH, HĐH đất nước; đồng thời đề tài
đã đề xuất 8 giải pháp cơ bản để nâng cao hiệu quả GQVL của người nông dân
bị thu hồi đất ở ngoại thành Hà Nội
Trang 26- Nguyễn Khánh Bình, Việc làm cho thanh niên nông thôn ngoại thành
Hà Nội - Thực trạng và giải pháp [14] Bài viết tập trung phân tích, làm rõ thực
trạng thiếu việc làm của thanh niên ở khu vực nông thôn ngoại thành Hà Nội hiện đang ở mức báo động Đồng thời, bài viết cũng đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục vấn đề đó
- Bùi Thị Ngọc Lan, Lao động nhập cư vào Hà Nội và giải pháp quản lý
[90] Tác giả phân tích tính tất yếu của lao động nhập cư vào Hà Nội - xem đó là một hiện tượng kinh tế - xã hội mang tính qui luật của cơ chế thị trường, của ĐTH Đồng thời, tác giả phân tích một số yếu tố tác động khiến cho dòng lao động nhập cư vào Hà Nội diễn ra với cường độ ngày càng cao và phức tạp Cụ thể là: Đất nông nghiệp bị thu h p, việc làm thiếu và dư thừa lao động ngày càng cao ở nông thôn, nhất là ở các tỉnh quanh Hà Nội; Nhu cầu thu hút nguồn nhân lực lớn phục vụ quá trình xây dựng, phát triển của Thủ đô; Sức hút quá lớn của lối sống đô thị và cơ hội mới mở ra cho sự phát triển của cá nhân ở thủ đô Hà Nội Phân tích thực trạng lao động việc làm, đời sống và an sinh xã hội của lao động nhập cư vào Hà Nội, làm rõ khía cạnh tích cực và những vấn đề đặt ra từ lao động nhập cư vào Hà Nội Từ đó, tác giả đề xuất một số quan điểm cần quán triệt và những giải pháp cơ bản nhằm quản lý tốt lao động nhập cư vào Hà Nội
- Nguyễn Thị Hải Vân, Đô th hoá và việc làm lao động ngoại thành Hà
Nội [217] Công trình đã nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về tác động của
ĐTH tới lao động, việc làm ở nông thôn; thực trạng tác động của ĐTH tới lao động, việc làm ở nông thôn ngoại thành Hà Nội; đề xuất giải pháp hạn chế tác động tiêu cực của ĐTH tới lao động, việc làm ở nông thôn ngoại thành Hà Nội
- Nguyễn Thị Huệ, Việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình xây
dựng nông thôn mới ở Thủ đô Hà Nội [74] Tác giả đã trình bày cơ sở lý luận về
việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình xây dựng nông thôn mới Phân tích tình hình và phương hướng, giải pháp giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở Thủ đô Hà Nội
- Phạm Thị Thuỷ, Việc làm cho nông dân khi thu hồi đất ở Hà Nội [182]
Tác giả đã phân tích đánh giá thực trạng việc làm và GQVL cho nông dân khi
Trang 27thu hồi đất ở thành phố Hà Nội, chỉ ra những kết quả đạt được và những mặt còn hạn chế, yếu kém; từ đó, đề xuất các quan điểm, phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm GQVL, đảm bảo đời sống của nông dân khi thu hồi đất ở thành phố
Hà Nội
- Nguyễn Mạnh Hổ, Đẩy mạnh đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm
cho lao động nông thôn tại Hà Nội [72] Bài viết đã đánh giá những chuyển biến
tích cực, những mặt đã đạt được của đề án đào tạo nghề; đồng thời, chỉ ra những tồn tại, khó khăn cần khắc phục Từ đó, tác giả đề xuất những giải pháp nhằm đẩy mạnh đào tạo nghề gắn với GQVL cho lao động nông thôn tại Hà Nội
1.2 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ TÁC GIẢ LUẬN ÁN CẦN LÀM RÕ
1.2.1 Đánh giá khái quát về các c ng tr nh đã tổng quan
Qua tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến GQVL của nông
dân trong quá trình ĐTH, có thể rút ra một số vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất, một số công trình đã nghiên cứu làm rõ đặc điểm, vị trí, vai trò của
nông dân, nông nghiệp, nông thôn nói chung trong quá trình CNH, HĐH và ĐTH
Thứ hai, một số công trình nghiên cứu về thực hiện chính sách trong nông
nghiệp, nông dân, nông thôn; những vấn đề liên quan đến lợi ích, quan hệ lợi ích trong quá trình đô thị hóa; tính tất yếu của ĐTH có tác động ảnh hưởng tới phát triển nông nghiệp, nông thôn, tới vấn đề lao động việc làm ở nông thôn nước ta những năm qua
Thứ ba, mặc dù các công trình có những cách tiếp cận ở những góc độ,
phạm vi, đối tượng, khách thể khác nhau, song đã phân tích thực trạng việc làm
và GQVL cho nông dân nước ta, hoặc tại các địa phương cụ thể trong quá trình ĐTH Một số công trình nghiên cứu đã làm rõ kinh nghiệm một số nước trên thế giới cũng như một số tỉnh, thành phố trong cả nước thời gian qua trong vấn đề việc làm, GQVL cho lao động nông thôn do bị tác động bởi quá trình CNH, HĐH và ĐTH Nghiên cứu những vấn đề về biến đổi tâm lý của nông dân trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường; đồng thời cũng chỉ ra những thách thức, rút ra những bài học kinh nghiệm trong lĩnh vực nông dân, nông nghiệp,
Trang 28nông thôn, và GQVL cho lao động nông thôn trước tác động của bối cảnh mới, trong đó có tác động của ĐTH
Thứ tư, nhìn chung từ góc độ nghiên cứu của mình, các công trình đều đề
xuất những quan điểm, phương hướng, giải pháp cơ bản khá toàn diện; đồng thời
đề xuất những kiến nghị… nhằm giải quyết tốt vấn đề lao động, việc làm ở nước
ta trong quá trình ĐTH cũng như trong xây dựng và phát triển nền nông nghiệp Việt Nam
Thứ n m, đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến những khía cạnh
khác nhau liên quan đến vấn đề việc làm và GQVL cho lao động nông dân của
Hà Nội, như phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về tác động của ĐTH tới lao động, việc làm ở nông thôn ngoại thành Hà Nội và đề xuất các giải pháp nhằm giải quyết tốt vấn dề này
Với những kết quả đạt được về lý luận và thực tiễn, các công trình khoa học trên giúp tác giả có thêm nhiều tư liệu quan trọng, cần thiết và là nguồn tư liệu có giá trị gợi mở, định hướng cho tác giả về nội dung, phương pháp tiếp cận, triển khai nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận án dưới góc nhìn của Chủ nghĩa
xã hội khoa học
1.2.2 Những vấn đề cơ bản luận án cần tiếp tục nghiên cứu
Xem xét tổng thể các công trình nghiên cứu cho thấy: GQVL của nông dân ngoại thành Hà Nội trong quá trình ĐTH đã được các tác giả đề cập ở nhiều góc
độ, nhiều cách tiếp cận như: kinh tế học, xã hội học, khoa học giáo dục, Tuy nhiên, chưa có công trình nào tiếp cận dưới góc độ chính trị - xã hội, vì vậy, vấn
đề này vẫn cần có những nghiên cứu tiếp theo góp phần giải quyết tốt việc làm cho nông dân ngoại thành Hà Nội trong những năm tới
Thứ nhất, các công trình tổng quan mặc dù có nhấn mạnh đến vấn đề nông
nghiệp, nông dân, nông thôn; đến vấn đề lao động việc làm của nông dân ở nước
ta hiện nay, nhưng hầu hết các công trình chưa đi sâu nghiên cứu vấn đề việc làm của nông dân ngoại thành Hà Nội - là địa bàn chịu tác động mạnh mẽ nhất
và gay gắt nhất bởi quá trình ĐTH Điều này có tác động trực tiếp và gay gắt đến vấn đề sinh kế, vấn đề việc làm và GQVL nhằm vừa đảm bảo thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp, đảm bảo việc làm, sinh kế cho người dân, vừa có
Trang 29tác động mạnh mẽ đến những vấn đề chính trị - xã hội như công bằng xã hội, an sinh xã hội, thậm chí nếu không được giải quyết tốt thì sẽ là những nơi dễ dẫn đến xung đột lợi ích, dẫn đến những điểm nóng chính trị - xã hội nảy sinh làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự thủ đô, đồng thời dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng gây mất ổn định quốc gia Sự kiện ngày mùng 9/01/2020 diễn ra ở xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội là một ví dụ mang tính điển hình
Thứ hai, khi tìm hiểu về thực trạng GQVL của nông dân, từ góc độ nghiên
cứu của mình nên các công trình đã tổng quan chủ yếu phân tích thực trạng GQVL của nông dân trên phạm vi cả nước, hoặc ở những địa phương cụ thể Nhìn chung chưa có công trình nào trực tiếp nghiên cứu đánh giá thực trạng việc làm và GQVL của nông dân ngoại thành Hà Nội trong quá trình ĐTH Đây chính
là một trong những nhiệm vụ mà luận án phải làm rõ khi được triển khai
Thứ ba, các giải pháp GQVL cho nông dân mà các công trình nghiên cứu
đề xuất mặc dù rất có giá trị tham khảo, song đồng thời đó là những gợi ý để luận án có thể tiếp thu để đề xuất một hệ thống giải pháp phù hợp với đối tượng
và địa bàn nghiên cứu của luận án - đó là các địa phương thuộc khu vực ngoại thành Hà Nội trong những năm tới
1.2.3 Hướng tập trung nghiên cứu của luận án
Từ sự phân tích trên, luận án sẽ tập trung vào các nội dung chủ yếu sau:
- Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về việc làm và GQVL của
nông dân trong quá trình ĐTH; tác động của ĐTH đến GQVL của nông dân ngoại thành Hà Nội Đây chính là khung lý thuyết, là cơ sở lý luận và thực tiễn
để tác giả giải quyết những nội dung cơ bản của luận án
- Trên cơ sở lý luận và kết quả nghiên cứu của các công trình có liên quan
đã được công bố, kết hợp với khảo sát thực tiễn, tiến hành điều tra xã hội học ở một số huyện thuộc ngoại thành Hà Nội, luận án phân tích thực trạng GQVL của nông dân ngoại thành Hà Nội trong quá trình ĐTH thông qua đánh giá vai trò của các chủ thể phối hợp tham gia GQVL như Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị -
xã hội, Hội nông dân, doanh nghiệp, doanh nhân Để làm được điều đó luận án hướng phân tích thực trạng GQVL của nông dân vào nội dung cụ thể sau:
Trang 30+ Xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; về việc làm tạo cơ sở căn cứ pháp lý để GQVL của nông dân (gắn với chủ thể GQVL là Đảng, Nhà nước ở Trung ương và các tổ chức đảng, chính quyền, ở thành phố và các huyện ngoại thành Hà Nội)
+ Vai trò của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn và khối liên minh công - nông - trí thức trong vấn đề tạo việc làm, tăng thu nhập cho nông dân (gắn với chủ thể: nông dân, doanh nghiệp, hội nông dân, trí thức);
+ Giáo dục đào tạo hướng nghiệp nâng cao trình độ chuyên môn, học vấn, tay nghề cho nông dân , từ đó bản thân nông dân chủ động, tích cực tự tìm kiếm
cơ hội, tạo việc làm cho mình;
- Nghiên cứu thực trạng GQVL của nông dân ngoại thành Hà Nội trong bối cảnh đô thị hóa tìm ra những vấn đề chính trị - xã hội nảy sinh, những vấn đề đặt ra đang làm ảnh hưởng đến GQVL của nông dân ngoại thành Hà Nội trong quá trình ĐTH, từ đó cần tiếp tục nghiên cứu giải quyết để tạo ra những môi trường, điều kiện và cơ chế, chính sách phù hợp nhằm giải quyết hiệu quả việc làm của nông dân ở vùng này;
- Đề xuất những quan điểm, giải pháp nhằm GQVL của nông dân ngoại thành Hà Nội trong quá trình ĐTH một cách ổn định, bền vững
Vì những lý do trên đây, tác giả đã lựa chọn vấn đề Giải quyết việc làm
của nông dân ngoại thành Hà Nội trong quá trình đô thị hoá hiện nay làm đề
tài luận án chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học, với mong muốn góp phần hiện thực hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, kế hoạch, đề án của thành phố Hà Nội, góp phần nâng cao đời sống của nông dân trong vùng và giữ gìn trật tự an toàn của xã hội, giữ vững ổn định chính trị của thành phố Hà Nội và của đất nước
Tiểu kết chương 1
Việc làm và giải quyết việc làm là vấn đề quan trọng không chỉ đối với mỗi
cá nhân, mà còn là vấn đề mang ý nghĩa xã hội sâu sắc Ở nước ta, quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, quá trình CNH và ĐTH cũng đang đặt ra hàng loạt vấn đề bức xúc liên quan đến việc làm và giải quyết việc làm
Trang 31Nhưng hiện nay do nền kinh tế còn kém phát triển, nên các nguồn lực cho tạo việc làm và nâng cao năng suất lao động xã hội nhìn chung còn thấp, do vậy sức
ép trong vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động, trong đó có một bộ phận không nhỏ nông dân còn rất lớn
Do vậy, thực hiện tốt vấn đề này không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước, của chính quyền địa phương, của mỗi người khi đến tuổi lao động có nhu cầu việc làm để ổn định cuộc sống và đóng góp vào sự phát triển xã hội, mà còn đóng góp phần quan trọng vào việc giữ gìn sự ổn định và phát triển bền vững của mỗi gia đình, rộng hơn là của mỗi địa phương và toàn xã hội Chính vì tầm quan trọng của vấn đề này nên giải quyết việc làm cho người lao động, trong đó bao gồm giải quyết việc làm cho nông dân trong quá trình CNH và ĐTH đã trở thành chủ đề thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà quản lý, nhà khoa học khác nhau
cả trong và ngoài nước Điều này được minh chứng thông qua những công trình tiêu biểu mà luận án đã lựa chọn để tổng quan
Thông qua việc đánh giá một cách tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, tác giả một lần nữa khẳng định: kết quả nghiên cứu của các công trình đó có những giá trị nhất định và là những gợi ý quan trọng để luận án có thể tham khảo trong quá trình triển khai thực hiện những nội dung của luận án; đồng thời, từ đó tránh được sự trùng lặp và có căn cứ để triển khai mục tiêu và những nhiệm vụ nghiên cứu mới của đề tài
Trang 32Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CỦA NÔNG DÂN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI
TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA
2.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÔ THỊ HOÁ VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CỦA NÔNG DÂN TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA
2.1.1 Về đ thị hóa và đ thị hóa ngoại thành Hà Nội
2.1.1.1 Quan niệm về đô thị hóa
Theo Luật Quy hoạch đô thị năm 2009, Đô thị là khu vực tập trung dân
cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành,
có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn [150]
Đô thị được phân thành 6 loại gồm: Loại đô thị đặc biệt, đô thị loại I, II, III, IV, V; theo các tiêu chí cơ bản sau: Vị trí, chức năng, vai trò, cơ cấu, và trình
độ phát triển kinh tế - xã hội của đô thị; qui mô dân số; mật độ dân số; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp; trình độ phát triển cơ sở hạ tầng [150]
Trong quá trình phát triển, các đô thị có xu hướng ngày càng được mở rộng trên phạm vi lớn và diễn ra một cách nhanh chóng nên được gọi là quá trình ĐTH Dưới góc độ vùng, ĐTH là quá trình hình thành, phát triển các hình thức
và điều kiện sống theo kiểu đô thị Dưới góc độ kinh tế, ĐTH là một quá trình biến đổi về phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân
cư và những vùng không phải đô thị thành đô thị, đồng thời phát triển các đô thị hiện có theo chiều sâu
Đô thị hóa nông thôn là xu hướng bền vững có tính qui luật; là quá trình phát triển nông thôn và phổ biến lối sống thành phố cho nông thôn (cách sống, hình thức nhà cửa, phong cách sinh hoạt…), thực chất đó là tăng trưởng đô thị
theo xu hướng bền vững Như vậy, ĐTH là quá tr nh biến đổi và phân bố các
Trang 33lực lượng sản xuất cùng với quan hệ sản xuất tương ứng trong nền kinh tế quốc dân; bố trí dân cư, h nh thành và phát triển các h nh thức và điều kiện sống theo kiểu đô th ; đồng thời phát triển đô th hiện c theo chiều sâu trên cơ sở hiện đại
h a cơ sở vật chất và t ng qui mô dân số đô th
Ngày nay, ĐTH luôn gắn liền với CNH, HĐH ĐTH và sự hình thành các đô thị hiện đại là một trong những chỉ tiêu cơ bản phản ánh trình độ CNH, HĐH Về thực chất, CNH, HĐH và ĐTH là quá trình cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng phát triển mạnh khu vực công nghiệp, dịch vụ và chuyển dịch cơ cấu lao động đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, tăng nhanh lao động làm công nghiệp và dịch vụ, giảm mạnh lao động làm nông nghiệp CNH diễn ra đồng thời với phát triển các vùng kinh tế trọng điểm, khu kinh tế mở, khu công nghiệp tập trung, các trung tâm dịch
vụ lớn và cùng với nó là quá trình mở rộng các khu đô thị, các thị trấn, thị tứ…, điều đó dẫn đến dân số thành thị cũng sẽ tăng lên Như vậy, phần lớn lao động nông thôn làm nông nghiệp sẽ phải chuyển sang làm phi nông nghiệp, người dân sống ở nông thôn trở thành dân thành thị
2.1.1.2 Về đô thị hóa ngoại thành Hà Nội
Ngày 01/08/2008, sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, thành phố Hà Nội rộng 3.344,7 km2, gấp 3,6 lần diện tích cũ; với 30 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 12 quận nội thành, 17 huyện và 1 thị xã ngoại thành; dân số trên 7.2 triệu người, trong đó 88,3% diện tích và 63,5% dân số ở nông thôn [164, tr.30]; phía Đông giáp các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang và Hưng Yên; phía Tây giáp tỉnh Hòa Bình và Phú Thọ; phía nam giáp tỉnh Hà Nam và Hòa Bình; phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc
Theo Luật Thủ đô tại Điều 3 khoản 2: Ngoại thành là khu vực gồm các huyện, thị xã của thành phố Hà Nội [152] Ngoại thành Hà Nội là khái niệm chỉ vùng bên
ngoài khu trung tâm Thủ đô, gắn với sự h nh thành và phát triển của thủ đô
Hiện nay, ngoại thành Hà Nội có diện tích là 3.018,12 km2
/3.344,7km2, chiếm 90.23% diện tích toàn thành phố; dân số của 17 huyện, 01 thị xã là 3.890,7 nghìn người, chiếm 50,8% dân số toàn thành phố (Gồm Ba Vì, Chương
Mỹ, Đan Phượng, Đông Anh, Gia Lâm, Hoài Đức, Mê Linh, Mỹ Đức, Phúc Thọ,
Trang 34Phú Xuyên, Quốc Oai, Sóc Sơn, Thạch Thất, Thanh Oai, Thanh Trì, Thường Tín, Ứng Hòa; Thị xã Sơn Tây; với 386 xã, 21 thị trấn)
Quá trình ĐTH ở ngoại thành Hà Nội nổi lên những đặc điểm cơ bản sau:
Một là, ĐTH với tốc độ nhanh, tầm nh n chiến lược trong qui hoạch đ a giới hành chính hạn chế, gây nên những xáo trộn trong đời sống kinh tế - xã hội
và việc làm của nông dân
Nhìn từ góc độ lịch sử, từ thế kỷ XIX thời phong kiến đến nay, quy hoạch
đô thị của Hà Nội có nhiều bất cập, mang tính tự phát cao, làm ảnh hưởng đến sự phát triển của thủ đô, đồng thời gây nên nhiều xáo trộn trong đời sống kinh tế, xã hội
và việc làm của cư dân Hà Nội, trong đó có cư dân nông thôn ngoại thành Hà Nội
Hiện nay, trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH, tốc độ ĐTH ở Hà Nội diễn ra rất nhanh, nếu năm 2010 tỷ lệ đô thị hóa khoảng 30 - 32%, thì đến năm
2020 sẽ là khoảng 53% và dự kiến đến năm 2030, đạt tỷ lệ đô thị hóa từ 70% [132] Tuy vậy, ĐTH vùng ngoại thành diễn ra không đều, biểu hiện cụ thể như một số huyện Gia Lâm, Đông Anh, Sóc Sơn, Mê Linh, Thanh Trì, Từ Liêm (cũ)… có tốc độ đô thị hóa nhanh, mạnh mẽ với sự mở rộng không gian lãnh thổ
đô thị khu vực ngoại thành, mở rộng diện tích đất đô thị và thu h p diện tích đất nông nghiệp
Trong giai đoạn hiện nay, tiến độ xây dựng, nhất là triển khai quy hoạch vùng, liên vùng chậm, do vậy quy hoạch phần lớn được thực hiện chủ yếu trên địa bàn hành chính của địa phương, dẫn đến sự thiếu đồng bộ, chia cắt, trùng lặp, lãng phí, ít hiệu quả trong khai thác phát huy các nguồn lực tự nhiên, kinh tế, xã hội Hạn chế phổ biến trong quy hoạch là thiếu tầm nhìn xa, thiếu cách nhìn tổng thể, hệ thống và sự buông lỏng trong quản lý, triển khai, quy hoạch Xu hướng chung là chú trọng xây dựng, triển khai quy hoạch chi tiết, đáp ứng nhu cầu trước mắt Hệ quả khó tránh khỏi là tình trạng tùy tiện, lộn xộn, chắp vá, chia cắt, thậm chí làm biến dạng, méo mó không gian kiến trúc Hơn nữa, sự yếu kém trong phê duyệt, kiểm tra thực hiện các dự án dẫn đến tình trạng quy hoạch treo gây ra lãng phí không nhỏ về đất đai, làm ảnh hưởng đến vấn đề lao động, việc làm, sinh kế và dẫn đến tình trạng thất nghiệp của nông dân ngoại thành Hà Nội
Trang 35Sự bất hợp lý trong phân bố các công trình xây dựng, thiếu sự gắn bó liên thông giữa các yếu tố cấu thành đô thị Phần lớn các khu công nghiệp, thương mại, dịch vụ, các điểm dân cư… đều tràn ra bám sát trục đường giao thông, tạo
ra sự mất cân đối về không gian xây dựng Trong cùng một không gian đô thị hóa thiếu sự liên kết hài hòa giữa khu vực sản xuất và khu vực dân cư, ngay trong khu vực sản xuất cũng thiếu sự gắn kết cần thiết giữa các khu công nghiệp, khu thương mại, dịch vụ và làng nghề… Nhìn bao quát về phát triển hạ tầng đô thị, đó là tình trạng thiếu khớp nối giữa hạ tầng bên trong hàng rào các khu vực sản xuất, kinh doanh với hạ tầng bên ngoài hàng rào với hạ tầng các vùng nông thôn xung quanh; giữa hạ tầng kinh tế - kỹ thuật với hạ tầng văn hóa - xã hội; thiếu sự hòa điệu ở tầm văn hóa giữa những đường nét hiện đại của đô thị với v
đ p truyền thống của nông thôn Nhiều nơi giữa các khu công nghiệp, dịch vụ dân cư tập trung với vùng nông thôn bao quanh vẫn là hai mảng màu biệt lập không ăn nhập Thậm chí, một số kiểu dáng kiến trúc vay mượn vội vàng từ đô thị đem cấy vào nông thôn đã làm hỏng nét đ p riêng có của những làng cổ, làng sinh thái, làng nghề - vốn là nguồn cảm hứng tự hào bao đời của người Hà Nội và là nguồn tài nguyên du lịch tiềm tàng
Hai là, ĐTH ngoại thành Hà Nội vừa tạo động lực, vừa đặt ra những thách thức về kinh tế - xã hội và giữ g n bản sắc v n h a, bảo vệ môi trường sinh thái
Đô thị hóa ở ngoại thành Hà Nội đang trong quá trình phát triển, xuất hiện nhiều khu đô thị mới tập trung Hệ thống thị trấn, thị tứ ngày càng tỏa rộng tạo nên những nét mới trong khu vực nông thôn ngoại thành Với sự đầu tư của Nhà nước và Thành phố, kết cấu hạ tầng khu vực nông thôn ngoại thành nhiều nơi trước đây có những yếu kém, nay được cải thiện đáng kể và đầu tư phát triển mạnh như hệ thống đường nhựa, đường bê tông hóa; hệ thống điện, điện thoại, điểm bưu điện - văn hóa, internet, hệ thống trường học, trạm xá, nhà văn hóa
Sự nâng cấp kết cấu hạ tầng và sự chuyển động trong đời sống kinh tế - xã hội đã tạo điều kiện cho quá trình chấn hưng, mở mang làng nghề, góp phần làm sôi động thêm quá trình ĐTH nông thôn và thổi luồng sinh khí mới vào nông nghiệp, nông thôn, nông dân ngoại thành Hà Nội ĐTH kích thích tạo cơ hội để
Trang 36người nông dân năng động sáng tạo hơn trong việc tìm kiếm lựa chọn các phương thức sinh kế, hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh, tự GQVL để vươn lên làm giàu chính đáng Vùng ngoại thành xuất hiện nhiều điển hình làm ăn giỏi, nhiều tổ hợp, hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân hoạt động có hiệu quả Kinh
tế phát triển, đời sống của nông dân ngoại thành được cải thiện
Làn sóng ĐTH cùng với sự phát triển cơ sở hạ tầng văn hóa - xã hội đã
mở rộng mạng lưới thông tin đại chúng, tăng cường quan hệ làm ăn buôn bán giữa các vùng ngoại thành, giữa nội thành với ngoại thành và với các vùng lân cận… Diện mạo và đời sống tinh thần của nông dân khu vực nông thôn ngoại thành ngày càng phong phú đa dạng hơn Bên cạnh văn hóa làng xã cổ truyền, đã xuất hiện những yếu tố văn hóa đô thị, trong đó có những yếu tố mới m , hiện đại (sự truyền bá các sản phẩm văn hóa, các loại hình văn học nghệ thuật có giá trị, sự du nhập lối sống, phong cách giao tiếp ứng xử văn minh, tiến bộ…) làm cho văn hóa làng quê có những sắc thái mới Mức sống văn hóa, trình độ hưởng thụ và tham gia sáng tạo văn hóa của nông dân được nâng lên Mặt khác, những thách thức của quá trình ĐTH vùng ngoại thành như: công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề phát triển chậm, chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế
và lao động nông thôn Nông nghiệp, nông thôn phát triển thiếu qui hoạch; kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội còn yếu kém; môi trường ngày càng ô nhiễm, năng lực thích ứng đối phó với thiên tai hạn chế; đời sống vật chất và tinh thần của nông dân còn thấp; chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng còn lớn phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc
Xét từ g c độ v n h a, ĐTH tất yếu sẽ diễn ra quá trình thâm nhập, giao
thoa, tiếp biến giữa văn hóa đô thị và văn hóa làng xã, tác động ngày càng sâu rộng đến đời sống tinh thần, lối sống, nếp sống của nông dân và quan hệ cộng đồng nông thôn Những năm qua, một số yếu tố tiến bộ của văn hóa đô thị đã lan tỏa về nông thôn ngoại thành Hà Nội, tạo nên những sắc thái mới trong đời sống, sinh hoạt tinh thần của người nông dân và cộng đồng làng xã Nhiều loại hình văn hóa nông thôn cũng được giới thiệu rộng rãi thuận lợi hơn ở các đô thị Nhưng do thiếu chuẩn bị, định hướng chọn lọc và sự bất cập trong công tác quy
Trang 37hoạch, quản lý văn hóa, không ít những yếu tố phi văn hóa, phản văn hóa từ đô thị và các phương tiện truyền thông, đặc biệt từ internet… đã thâm nhập vào đời sống nông thôn, đưa tới những vấn nạn xã hội đáng báo động Theo nhiều ngả đường, một số sản phẩm, loại hình mang danh văn hóa đã lan về tới những huyện ngoại thành làm thay đổi một số quan niệm sống, lối sống, cách ứng xử, làm ăn, trái ngược, thậm chí đối lập với những giá trị văn hóa truyền thống, làm tha hóa một bộ phận cư dân nông thôn, đặc biệt là một bộ phận giới tr Sự lệch lạc trong thị hiếu hưởng thụ văn hóa, cách ăn mặc, nói năng dung tục, cách ứng
xử lạnh lùng thô bạo; lối sống thực dụng chạy theo đồng tiền; cách làm ăn gian dối chụp giật…; sự lây lan những tệ nạn xã hội; sự trỗi dậy của những hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, cục bộ dòng họ, phe cánh… đã làm vẩn đục môi trường văn hóa vốn trong lành; bào mòn và làm rạn nứt mối quan hệ tương thân tương ái, đồng thuận, thuần phác trong cộng đồng nông thôn, đưa tới những bi kịch đau lòng ở một số vùng ngoại thành Hà Nội vốn bình yên, hiền hòa
Cùng với quá trình và tốc độ ĐTH, địa bàn vùng ngoại thành Hà Nội đang phải hứng chịu những hậu quả về môi trường sinh thái Tình hình sử dụng đất có nhiều bất cập thể hiện ở sự suy giảm mạnh và liên tục của diện tích đất canh tác trên đầu người, đó là nguy cơ thật sự cho môi trường nông thôn, an ninh lương thực và vấn đề việc làm của nông dân Việc sử dụng không hợp lý, lãng phí quĩ đất canh tác, tình trạng san lấp lấn chiếm ao hồ, sông, suối, các công trình thủy lợi; nạn khai thác khoáng sản tùy tiện…; cùng với sự yếu kém trong xử lý nước thải, rác thải, bụi khói tiếng ồn từ những khu công nghiệp, làng nghề… đang làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, phá vỡ hệ sinh thái gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, cảnh quan nông thôn, đời sống và sức khỏe nông dân, đồng thời làm ảnh hưởng đến chất lượng việc làm và GQVL của nông dân trong vùng
Đô thị hóa tất yếu là một quá trình mang tính hai mặt: tích cực và tiêu cực
và nó sẽ có những tác động một cách toàn diện đến mọi mặt của đời sống kinh
tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng… của thủ đô, trong đó tất yếu
có ảnh hưởng đến GQVL của nông dân ngoại thành Hà Nội
Trang 382.1.2 Về giải quyết việc làm và giải quyết việc làm của n ng dân trong quá tr nh đ thị hóa
2.1.2.1 Quan niệm về việc làm và giải quyết việc làm của nông dân
- Quan niệm về việc làm
Theo quan niệm của ILO (Tổ chức lao động quốc tế): việc làm là những
hoạt động lao động được trả công bằng tiền hoặc hiện vật Theo đó, người có
việc làm là những người đang làm một việc gì đó được trả tiền công, hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự thỏa mãn lợi ích hay thay thế thu nhập của gia đình
Tiếp thu có chọn lọc các quan niệm của tổ chức lao động quốc tế (ILO) và một số nước trên thế giới, bước vào thời kỳ đổi mới, Việt Nam đã có những thay đổi trong quan niệm về việc làm
Theo Bộ luật Lao động nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm [151]
Quan niệm này đã khơi dậy được tiềm năng, sáng tạo của người lao động trong quá trình chủ động tạo việc làm và tìm kiếm việc làm; phá bỏ rào cản tâm
lý của người lao động về sự phân biệt đối xử việc làm trong các thành phần kinh
tế, phá vỡ tính trông chờ, ỷ lại vào việc làm trong cơ chế bao cấp
Như vậy, có thể hiểu: Việc làm là hoạt động lao động c chủ đích của con
người, không b pháp luật cấm, tạo thu nhập hoặc lợi ích cho bản thân, gia đ nh
và cộng đồng
Từ quan niệm này, các hoạt động lao động được xác định là việc làm gồm: làm các công việc được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc hiện vật; những công việc như tự làm, hoặc làm các công việc gia đình để thu lợi nhuận cho bản thân, hoặc tạo ra thu nhập cho gia đình nhưng không được trả công bằng tiền hoặc hiện vật cho công việc đó (việc làm không được trả công)
Thực tế cho thấy một bộ phận người trong độ tuổi lao động ở vào tình trạng thiếu việc làm hoặc thất nghiệp Hiện nay, người ta phân biệt hai loại thiếu
việc làm: i) thiếu việc làm hữu h nh là người làm việc ít hơn tiêu chuẩn, đang tìm hoặc đang có việc làm phụ thêm; ii) thiếu việc làm vô h nh là có việc làm nhưng
Trang 39năng suất lao động thấp, khó xác định được hiệu quả, trình độ công việc như việc làm không phù hợp với khả năng và trình độ
Mức độ cao hơn của thiếu việc làm là thất nghiệp Là trạng thái người lao động trong độ tuổi có khả năng và nhu cầu lao động nhưng không có việc làm,
do đó không có thu nhập Thất nghiệp còn bao gồm cả những người đã bị buộc thôi việc không lương có hoặc không có thời hạn; hoặc những người không tích cực tìm kiếm việc làm vì họ quan niệm rằng không thể tìm được việc làm Thất nghiệp là vấn đề chung mang tính toàn cầu Ở những nước công nghiệp phát triển tình trạng thất nghiệp xảy ra chủ yếu vì nó gắn với những biến đổi của cơ cấu kinh tế và sự phát triển của khoa học và công nghệ Máy móc thay thế phần lớn lao động nặng nhọc của con người kéo theo sự chuyển dịch sang lao động trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, hoặc do tác động của quá trình CNH, HĐH và
đô thị hóa Ở những nước chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường, ta thấy xuất hiện nạn thất nghiệp do dân số đông, dư thừa lao động, do vậy nhu cầu giải quyết việc làm được đặt ra bức bách và là một vấn đề khó Vì vậy, bất cứ quốc gia nào, chế độ xã hội nào cũng đều phải quan tâm đến GQVL cho người lao động
- Quan niệm về giải quyết việc làm
Nâng cao chất lượng việc làm và tạo ra việc làm để thu hút người lao động, tạo cơ hội cho người lao động tham gia vào quá trình sản xuất, nâng cao thu nhập, đem lại lợi ích khác nhau cho người lao động là cách tiếp cận chung của nhiều tác giả về quan niệm giải quyết việc làm
Theo Khoản 2, Điều 9 của Bộ luật Lao động (2012), Nhà nước, người sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm [150]
Như vậy có thể hiểu chủ thể quản lý xã hội, người sử dụng lao động lớn nhất trong giải quyết việc làm là Nhà nước thông qua những chính sách hợp lý gắn với từng giai đoạn, điều kiện của đất nước, vùng, miền Từ sự thay đổi nhận thức về việc làm đã đưa đến sự đổi mới nhận thức, quan niệm của Đảng và Nhà nước trong chủ trương, chính sách GQVL cho người lao động theo hướng tạo cơ
Trang 40hội để mọi người đến tuổi lao động đều có việc làm và cải thiện thu nhập, đây là quyền cơ bản của con người Việc làm phải bảo đảm tiền lương, thu nhập công bằng, đủ điều kiện sống và tái sản xuất sức lao động để phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Chú trọng GQVL cho lao động dôi dư từ khu vực nông nghiệp do việc tích tụ tập trung ruộng đất hoặc thu hồi đất phát triển công nghiệp, đô thị và các công trình công cộng Khuyến khích đầu tư xã hội tạo ra nhiều việc làm, nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách tiền lương, tiền công, khắc phục cơ bản những bất hợp
lý Điều chỉnh chính sách dạy nghề, gắn đào tạo với sử dụng, điều chỉnh chính sách xuất khẩu lao động hợp lý, hoàn thiện và thực hiện chính sách bảo hộ lao động nhằm giải quyết tốt việc làm [46, tr.136]
Như vậy, GQVL là quá tr nh tạo ra điều kiện và môi trường bảo đảm cho
mọi người c khả n ng lao động đều c cơ hội làm việc và c thu nhập với chất lượng việc làm ngày càng cao
Theo nghĩa rộng, GQVL là tổng thể những chủ trương, chính sách của hệ
thống chính trị tác động đến các lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm đảm bảo cho người có khả năng lao động đều có việc làm, đáp ứng nhu cầu và lợi ích của họ
Theo nghĩa hẹp, GQVL chủ yếu hướng vào đối tượng thất nghiệp và thiếu
việc làm nhằm tạo ra việc làm cho người lao động, hạn chế tình trạng thất nghiệp
Trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế gắn với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội phải GQVL cho người lao động, hạn chế tình trạng thất nghiệp, đặc biệt người lao động là nông dân trong lĩnh vực nông nghiệp, trên địa bàn nông thôn - nơi đang diễn ra quá trình ĐTH mạnh mẽ
- Quan niệm về GQVL của nông dân
Đến nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về nông dân, song có thể khái
quát: nông dân là lực lượng lao động sinh sống trên địa bàn nông thôn, lao động
sản xuất trong lĩnh vực nông, lâm, ngư, diêm nghiệp là chủ yếu với tư liệu sản xuất đất rừng, sông biển, tạo ra các sản phẩm đáp ứng yêu cầu của thị trường về lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp và xuất khẩu