1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quy định pháp luật về công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động trong cơ quan hành chính và thực tiễn thực hiện tại quận hoàn kiếm thành phố hà nội

82 62 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 2,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Trong những năm qua, cùng với sự ra đời của Luật Công đoàn 2012 và các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, bộ ngành và địa phương, pháp l

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CÔNG ĐOÀN BẢO VỆ QUYỀN, LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG

CƠ QUAN HÀNH CHÍNH VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI QUẬN HOÀN KIỂM THÀNH PHỐ HÀ NỘI

HỌ VÀ TÊN TÁC GIẢ: TẠ NGỌC THÀNH

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

MÃ SỐ: 8380107 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TIẾN SĨ VŨ MINH TIẾN

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Sau một thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài tốt nghiệp Thạc

sỹ, đến nay tôi đã hoàn thành bản Luận văn “Quy định pháp luật về công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động trong cơ quan hành chính và thực tiễn thực hiện tại quận Hoàn Kiếm - Thành phố Hà Nội”

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp

đỡ, những ý kiến đóng góp của các thầy, cô giáo trong Viện đại học Mở Hà Nội,

khoa Đào tạo Sau đại học

Để có được kết quả nghiên cứu này, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản

thân, tôi còn nhận được sự hướng dẫn chu đáo, tận tình của Tiến sĩ Vũ Minh

Tiến là thầy giáo hướng dẫn trực tiếp tôi trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài

và viết luận văn

Tôi cũng nhận được sự giúp đỡ của Liên đoàn lao động thành phố Hà Nội,

Liên đoàn lao động quận Hoàn Kiếm, các anh chị em và bạn bè đồng nghiệp, sự

động viên, tạo mọi điều kiện về vật chất, tinh thần của gia đình và người thân

Tôi xin trân trọng cảm ơn tất cả mọi sự giúp đỡ quý báu đó! Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 9 năm 2018

Tác giả luận văn

Tạ Ngọc Thành

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 8

MỞ ĐẦU 9

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 9

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan 10

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu: 11

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 12

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 12

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của công trình nghiên cứu 12

7 Kết cấu của luận văn 13

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT CÔNG ĐOÀN BẢO VỆ QUYỀN, LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 1.1 Khái quát chung về tổ chức công đoàn 14

1.1.1 Định nghĩa 14

1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển tổ chức công đoàn 15

1.1.3 Đặc điểm của tổ chức công đoàn 20

1.1.4 Khái niệm công đoàn ở Việt Nam 21

1.1.5 Chức năng của Công đoàn Việt Nam 22

1.1.6 Pháp luật công đoàn 23

1.2 Khái quát người lao động trong cơ quan hành chính Nhà nước và sự cần thiết phải bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động trong cơ quan hành chính Nhà nước 24

1.2.1 Khái quát về người lao động trong cơ quan hành chính Nhà nước 24

1.2.2 Sự cần thiết phải bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động của tổ chức công đoàn 28

1.3 Kinh nghiệm một số nước về công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của đoàn viên là đội ngũ công chức, viên chức 31

Trang 6

Tiểu kết chương I 35

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN BẢO VỆ QUYỀN, LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.1 Thực trang pháp luật Công đoàn bảo vệ lợi ích của đoàn viên người lao động trong cơ quan hành chính nhà nước 36

2.1.1 Quy định pháp luật công đoàn bảo vệ lợi ích của đoàn viên người lao động trong cơ quan hành chính nhà nước 36

2.1.2 Áp dụng các quy định áp định về bảo vệ quyền và lợi ích người lao động trong cơ quan hành chính Nhà nước 45

2.2 Thực tiễn công đoàn bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động trong cơ quan hành chính Nhà nước trên địa bàn quận Hoàn Kiếm 47

2.2.1 Kết quả đạt được 47

2.2.2 Hạn chế và nguyên nhân 58

Tiểu kết chương II 62

CHƯƠNG III GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN BẢO VỆ QUYỀN, LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 64

3.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động trong cơ quan hành chính Nhà nước 64

3.1.1 Phương hướng điều chỉnh 64

3.1.2 Giải pháp cụ thể hoàn thiện quy định pháp luật công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích người lao động trong cơ quan hành chính nhà nước 67

3.2 Giải pháp nhằm nâng cao việc thực hiện pháp luật công đoàn bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động trong cơ quan hành chính Nhà nước tại quận Hoàn Kiếm 69

3.2.1 Nâng cao vai trò đại diện, chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, người lao động 69

Trang 7

3.2.2 Đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác

phong công nghiệp, kỷ luật lao động của đoàn viên và người lao động 70

3.2.3 Đổi mới và nâng cao hiệu quả các phong trào thi đua, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô và đất nước 71

3.2.4 Công tác phát triển đoàn viên, xây dựng tổ chức công đoàn vững mạnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ công đoàn 72

3.2.5 Đẩy mạnh công tác nữ CNVCLĐ 72

3.2.6 Đổi mới hoạt động tài chính 73

3.2.7 Đổi mới công tác kiểm tra và hoạt động của UBKT 73

Tiểu kết chương III 79

KẾT LUẬN 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 8

Thỏa ước lao động tập thể TƯLĐTTT

Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Tổng Liên đoàn LĐVN

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong những năm qua, cùng với sự ra đời của Luật Công đoàn 2012 và các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, bộ ngành và địa phương, pháp luật công đoàn và các quy định công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động trong cơ quan hành chính nhà nước có những bước chuyển quan trọng, mạnh mẽ, nhất là từ khi ban hành, thực hiện Luật Công đoàn Với việc ban hành, thực hiện các quy định mới đã tạo ra diện mạo mới của tổ chức công đoàn và theo đó quyền, lợi ích của người lao động ngày càng được quan tâm bảo vệ cao hơn Tuy vậy, qua nghiên cứu các quy định và quá trình thực hiện trách nhiệm bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động của công đoàn cho thấy các quy định pháp luật hiện hành vẫn còn những khiếm khuyết thể hiện trên hai phương diện

là chất lượng pháp luật và thực hiện pháp luật Các hạn chế về chất lượng như: tính chỉnh thể, đồng bộ, thống nhất của hệ thống các văn bản; một số văn bản quy định chi tiết thi hành còn hạn chế mức độ cụ thể hoá, chi tiết hoá, chưa đưa

ra được những giải thích hướng dẫn phù hợp Các hạn chế trong tổ chức thực hiện pháp luật như: chưa đảm bảo về tính kịp thời trong việc ban hành các quy định chi tiết thi hành luật; chậm, lúng túng, thực hiện không đúng các quy định nhất là các quy định mới; hoạt động của công đoàn bộ phậm, công đoàn cơ sở vẫn còn hình thức, chưa đạt được mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra

Cùng với những hạn chế nêu trên, so với mức độ phát triển pháp luật của các nước thì pháp luật công đoàn và bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động nói chung cũng như người lao động trong cơ quan hành chính nhà nước ở nước

ta còn nhiều điểm chưa tương thích, chậm được đổi mới để theo kịp và đáp ứng được yêu cầu hội nhập, chính quy, hiện đại tương xứng với các nước trong khu vực và thế giới

Với mục tiêu “Vì quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên và người lao động, vì sự phát triển bền vững của đất nước, tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động công đoàn” Công đoàn Việt Nam đã định hướng

Trang 10

nhiệm vụ và đưa ra nhiều giải pháp khác nhau trong đó có nhiệm vụ hoàn thiện các quy định pháp luật công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động nói chung cũng như người lao động trong cơ quan hành chính nhà nước

Với những lý do trên, đề tài luận văn: “Quy định pháp luật về công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động trong cơ quan hành chính và thực tiễn thực hiện tại quận Hoàn Kiếm - Thành phố Hà Nội” mang tính cấp thiết trong giai đoạn hiện nay

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan

Nghiên cứu về pháp luật công đoàn bảo vệ quyền và lợi ích người lao động nói chung là khá phong phú, được nhiều cá nhân, tập thể quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, nghiên cứu về pháp luật bảo vệ quyền lợi người lao động trong

cơ quan hành chính Nhà nước chưa được tập trung nghiên cứu cụ thể Một số công trình nghiên cứu, sách tham khảo tiêu biểu đề cập đến việc bảo vệ quyền

và lợi ích của người lao động nói chung cũng là cơ sở để nghiên cứu đề tài này,

+ Giáo trình Lý luận và nghiệp vụ công đoàn (gồm 3 tập), do Trường Đại học Công đoàn chủ biên, NXB Lao động (2015) đã đề cập đến cơ sở lý luận và phương pháp luận về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của công đoàn Việt Nam Đặc biệt, giáo trình đã chỉ ra nhiệm vụ của công đoàn Việt Nam trong thực hiện chức năng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho đoàn viên

và NLĐ (chủ yếu mang tính lý luận) Tuy nhiên, giáo trình chưa đề cập là đoàn viên và NLĐ có những quyền, lợi ích gì cụ thể và công đoàn bảo vệ quyền, bảo

vệ lợi ích đoàn viên và NLĐ như thế nào, nhất là trong bối cảnh hiện nay

Trang 11

+ Cuốn sách “Các tổ chức công đoàn trên thế giới” của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (NXB Lao động, Hà Nội 2014) đã công phu tập hợp và nghiên cứu về tổ chức đại diện NLĐ (công đoàn) tại 55 quốc gia Với mỗi quốc gia, cuốn sách đã mô tả và cung cấp thông tin khá chi tiết về lịch sử, chính trị, thông tin chung về dân số - kinh tế - lao động… và đặc biệt đã cung cấp thông tin chi tiết về tổ chức, hoạt động cũng như mô hình công đoàn của mỗi nước Đây thực sự là một công trình giúp chúng ta hiểu khái quát về lịch sử các tổ chức công đoàn hiện đại, cũng như việc hình thành các thiết chế đại diện của NLĐ trong thời gian tới

- Đề tài cấp Bộ “Đổi mới mô hình tổ chức và nội dung, phương thức hoạt động công đoàn Việt Nam hướng tới đoàn viên và NLĐ trong thời gian tới” của

Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Đề tài cũng đã đánh giá thực trạng về mô hình tổ chức và nội dung hoạt động, chỉ ra những bất cập hạn chế cần phải khắc phục Từ đó đưa ra các nhóm giải pháp nhằm đổi mới mô hình tổ chức và hoạt động công đoàn có hiệu quả trong thời kỳ mới, thời kỳ cạnh tranh, hội nhập, nhất là khi Việt Nam tham gia Hiệp định thương mại thế hệ mới, thực hiện cam kết về tự do hiệp hội

Các nghiên cứu cũng đã đề xuất giải pháp, cả giải pháp thuộc về công đoàn, nhưng ít gắn với việc công đoàn bảo vệ quyền và lợi ích của NLĐ trong

cơ quan hanh chính Nhà nước

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu:

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, thực trạng, luận văn hướng tới việc đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và các yêu cầu, điều kiện đảm bảo thực hiện trách nhiệm công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động trong cơ quan hành chính nhà nước

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Dựa trên cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn về pháp luật công đoàn vệ quyền lợi ích của người lao động và của người lao động trong cơ quan hành chính nhà

Trang 12

nước, đưa đến thực trạng áp dụng, những thành tựu, khó khăn và phương hướng giải pháp để khắc phục, hoàn thiện

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Pháp luật về công đoàn bảo vệ quyền và lợi

ích của người lao động trong cơ quan hành chính Nhà nước

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian: Từ năm 2013 đến nay

- Về không gian: quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp khảo cứu tài liệu;

- Phương pháp thống kê mô tả, thu thập dữ liệu;

- Phương pháp tổng hợp;

- Phương pháp phân tích;

- Phương pháp so sánh;

- Phương pháp điều tra xã hội học

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của công trình nghiên cứu

Trang 13

- Xác định và phân tích được các yếu tố tác động, ảnh hưởng đến pháp luật công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động trong cơ quan hành

chính nhà nước

6.2 Về thực tiễn

- Phản ánh được thực trạng pháp luật công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của

người lao động trong cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

- Xác định được tính chất, mức độ khó khăn, phức tạp trong thực hiện pháp luật công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động trong cơ quan hành chính nhà nước từ thực tiễn quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

- Đề xuất được phương hướng, giải pháp khả thi hoàn thiện pháp luật công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động trong cơ quan hành chính nhà nước

- Tham khảo vận dụng nâng cao hiệu quả hoạt động công đoàn của Liên đoàn Lao động quận Hoàn Kiếm

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần lời nói đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề chung về pháp luật công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động trong cơ quan hành chính nhà nước

Chương 2: Thực trạng và thực tiễn thực hiện pháp luật công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động trong cơ quan hành chính Nhà nước và thực tiễn thực hiện trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động trong cơ quan hành chính Nhà nước tại quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

Trang 14

Ngay từ năm 1847, trong tác phẩm “Sự khốn cùng của triết học” (Poverty

of Philosophy) C.Mác đã chỉ ra rằng, sự cạnh tranh của kinh tế thị trường sẽ khiến giới chủ cố gắng cắt giảm lương bổng và chi phí cho điều kiện làm việc, bởi vậy người lao động phải kết hợp lại (thời đó C.Mác dùng “combination” –

“kết hợp lại”, chưa dùng từ “association” - “liên kết lại” như ngày nay) Trong tác phẩm đó, C.Mác cũng đã nhìn thấy, khi sự kết hợp đó là tất yếu tự nhiên, thường xuyên thì sẽ hình thành tổ chức công đoàn và C.Mác gọi tổ chức công đoàn đó là “thành lũy” để người lao động có thể đấu tranh với người chủ để đòi quyền lợi

Chủ nghĩa Mác - Lênin nhấn mạnh vai trò chính trị - xã hội của công đoàn Thông qua tổ chức và hoạt động, công đoàn làm cho GCCN được tổ chức lại như một giai cấp và là “tổ chức giai cấp thực sự của giai cấp vô sản” Lênin khẳng định: Công đoàn là “tổ chức rộng rãi nhất trong phạm vi giai cấp của giai cấp vô sản” [37, tr.397]

Từ góc độ pháp luật, “Điều lệ Công đoàn và quan hệ chủ thợ” của Anh định nghĩa công đoàn là “Tổ chức toàn bộ hoặc chủ yếu do công nhân cấu thành,

Trang 15

mục đích chủ yếu của tổ chức này là hình thành quy phạm hành vi của hai bên chủ thợ” [24, tr.166]

“Luật quan hệ chủ thợ quốc gia” của Mỹ coi “Từ ‘tổ chức lao công’ là chỉ bất cứ tổ chức thuộc bất cứ chủng loại nào, hoặc bất cứ cơ quan đại diện nào, hoặc Ủy ban đại biểu công nhân hoặc kế hoạch có công nhân viên chức tham gia, toàn bộ hoặc một phần mục đích tồn tại của nó là nhằm tiến hành giao thiệp với chủ thuê về các loại vấn đề như kiện cáo, tranh chấp lao động, tiền lương, đẳng cấp đãi ngộ, thời gian làm việc, điều kiện làm việc ”

“Luật tổ hợp lao động” của Nhật Bản quy định: “Công đoàn là chỉ đoàn thể hoặc đoàn thể liên hợp của nó được tổ chức lại một cách tự chủ lấy NLĐ làm chủ thể, lấy bảo vệ và cải thiện điều kiện lao động, nâng cao địa vị kinh tế của mình làm mục đích chủ yếu”

Luật QHLĐ của Australia quy định: công đoàn là "tổ chức hợp thành chủ yếu bởi những người làm thuê, hoạt động cơ bản là thương lượng về lương bổng

và điều kiện thuê mướn cho các thành viên của nó"

Theo quan niệm hiện đại, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) nhấn mạnh tính mục đích của tổ chức công đoàn, coi quyền thành lập, gia nhập công đoàn của nhân viên làm thuê và quyền đàm phán tập thể cũng như quyền đình công là những quyền phải được pháp luật quy định và bảo vệ, Điều 2 Công ước số 87 Công ước lao công quốc tế quy định: “NLĐ và NSDLĐ, không phân biệt dưới bất kỳ hình thức nào, đều không phải xin phép trước mà vẫn có quyền được tổ chức và gia nhập các tổ chức theo sự lựa chọn của mình, với một điều kiện duy nhất là phải tuân theo điều lệ của chính tổ chức đó”

1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển tổ chức công đoàn

Công đoàn, về lịch sử là sự phản ánh mâu thuẫn, cuộc đấu tranh về lợi ích

và quyền giữa NLĐ và NSDLĐ ngay từ buổi ban đầu của chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN) Trong giai đoạn tích luỹ nguyên thủy, để có được giá trị thặng

dư, chủ tư bản đã thực hiện bóc lột tối đa đối với NLĐ Các biện pháp như kéo dài thời gian lao động, tăng cường độ lao động, thuê mướn lao động trẻ em giá

rẻ, môi trường làm việc tồi tệ, cố gắng hạ thấp tiền lương đã làm cho đời sống

Trang 16

của NLĐ vô cùng khó khăn, mâu thuẫn chủ - thợ ngày càng gay gắt Nhiều hành động phản kháng của công nhân đã diễn ra chủ yếu bằng các hình thức như đập phá thiết bị, nhà xưởng, đánh chủ nhà máy Tất nhiên, hành vi phản kháng này đều bị giới chủ tìm cách đàn áp và hậu quả là tình cảnh của NLĐ ngày càng bi thảm hơn

Trong quá trình đấu tranh, NLĐ dần ý thức được tầm quan trọng của việc liên kết với nhau để chống lại sự đàn áp của giới chủ Hình thức ban đầu là tổ chức giúp đỡ lẫn nhau do công nhân tự thành lập, như “Hội tương trợ”, “Hội huynh đệ”, “Hội hữu nghị”.Tổ chức công nhân được thành lập để tiến hành thương lượng tập thể với giới chủ sớm nhất là Công hội kỹ nghệ do công nhân giày da Floriđa (Mỹ) thành lập năm 1792 Trong khoảng thời gian năm 1794 -

1796, công nhân ngành gia công lông cừu, công nhân ngành may của Anh đã thành lập một loạt đoàn thể công nhân ban đầu tại lục địa châu Âu Tuy nhiên, thời kỳ này, tổ chức công nhân và hoạt động của nó hầu như bị các nhà nước cấm đoán và chèn ép, như: Anh có “Luật cấm tổ chức đoàn thể”, Pháp có “Luật Cha-brê”, nước Mỹ đưa ra phán quyết “tội âm mưu” đối với yêu cầu nâng lương của công nhân

Mặc dù bị chế độ TBCN cấm đoán và đàn áp, phong trào công nhân và công đoàn vẫn phát triển ở khắp nơi Các cuộc mít tinh, biểu tình lớn, thậm chí, như mô tả của Ph.Ăngghen trong “Tình cảnh GCCN Anh” là “những cuộc chiến tranh xã hội” đã xảy ra Phong trào công nhân và công đoàn, mặc dù bị đàn áp đẫm máu, nhưng cũng đã buộc giai cấp tư sản phải đưa ra sự điều chỉnh về thể chế để làm giảm áp lực xã hội lên chế độ Các nhà nước tư bản buộc phải lần lượt thừa nhận địa vị hợp pháp của công đoàn, thừa nhận quyền công đoàn của NLĐ trong chế độ TBCN

Tổ chức Công đoàn đầu tiên ra đời ở Anh năm 1776, ở Pháp năm 1789, ở

Mỹ năm 1827, ở Đức năm 1848… Phong trào công đoàn, trước khi chủ nghĩa Mác ra đời, chủ yếu mang tính tự phát, tính kinh tế và tính khép kín Một mặt, bản tính theo đuổi lợi nhuận của tư bản đã quyết định việc khi tư bản thuê mướn lao động tất sẽ biểu hiện thành bóc lột quá độ đối với lao động, thời kỳ đầu cách

Trang 17

mạng công nghiệp tình trạng này đặc biệt rõ rệt; mặt khác, gần như tất cả các bộ máy nhà nước tư bản chủ nghĩa đều bảo hộ tính hợp pháp của tư bản đối với thuê mướn và bóc lột lao động Trong giai đoạn này những cuộc đấu tranh của GCCN cũng chưa trở thành tự giác, do chưa ý thức được sứ mệnh lịch sử và chưa có được tổ chức hạt nhân của mình

“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” do C.Mác - Ph.Ăngghen thay mặt Liên đoàn Cộng sản châu Âu soạn thảo và công bố tháng Ba năm 1848, đánh dấu sự trưởng thành về tư tưởng của GCCN và phong trào công đoàn Về tổ chức, Mác và Ăngghen đã thành lập Hội Liên hiệp Lao động quốc tế (Quốc tế thứ nhất) vào ngày

28 - 9 - 1864 ở Luân Đôn (Anh) Quốc tế thứ nhất đồng thời làm nhiệm vụ của một Quốc tế Công đoàn, đã vạch ra cương lĩnh cơ bản và tích cực đấu tranh cho các yêu cầu cụ thể của phong trào công đoàn thế giới Phong trào đấu tranh của công nhân

và công đoàn theo đó ngày càng diễn ra mạnh mẽ với chất lượng mới

Chủ nghĩa Mác đã từng bước trở thành dòng tư tưởng chủ đạo của phong trào công đoàn, dù vậy vẫn phải đấu tranh quyết liệt với các luồng tư tưởng của chủ nghĩa kinh tế và chủ nghĩa cải lương và các loại tư tưởng phi macxit trong phong trào công đoàn đương thời Một đặc điểm quan trọng của phong trào công đoàn thời kỳ này là hướng đấu tranh cho một xã hội mới - xã hội XHCN Phong trào công đoàn được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, cùng với việc bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ, mục tiêu cao nhất của đấu tranh giai cấp là phá bỏ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, xây dựng phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa nhằm thực hiện triệt để công bằng, bình đẳng trong lao động Hình thức đấu tranh của công nhân trong chế độ TBCN vừa kết hợp đấu tranh hợp pháp, vừa nửa hợp pháp và cao nhất là giành chính quyền về tay GCCN Mác từng nhấn mạnh: Công nhân không bao giờ được quên quyền khởi nghĩa của mình Đằng sau mỗi lá phiếu là những viên đá lát đường làm chiến lũy…

Thắng lợi của Cách mạng tháng tháng Mười Nga (năm 1917) đã giải phóng GCCN và nhân dân lao động Nga, thành lập nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới Từ đây, phong trào công đoàn thế giới bước sang giai đoạn mới

Trang 18

Trong thời kỳ này, công đoàn Xô Viết có một vị trí cực kỳ quan trọng trong tổ chức công đoàn quốc tế Từ thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga, phong trào công nhân và công đoàn đã phát triển mạnh mẽ ở nhiều nước cùng với sự ra đời của Quốc tế III (năm 1919), Công hội Đỏ (năm 1921) đã đánh dấu một bước tiến mới của công đoàn thế giới

Chiến tranh thế giới lần II kết thúc, hệ thống các nước XHCN ra đời, tổ chức công đoàn khác về tính chất và vị thế đã xuất hiện trong xã hội XHCN Thế giới đã hình thành hai hệ thống lớn là chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, theo đó cũng hình thành hai mô hình công đoàn là công đoàn dưới chế độ xã hội chủ nghĩa và công đoàn dưới chế độ tư bản chủ nghĩa

Hầu như ở tất cả các nước tư bản chủ nghĩa, xu hướng chung coi những phong trào công đoàn lấy cách mạng bạo lực hòng lật đổ chính quyền hiện tại bị coi là bất hợp pháp; công đoàn được định vị là chủ thể kinh tế hợp pháp trong thị trường sức lao động Công đoàn trở thành một chủ thể xây dựng QHLĐ qua chế

độ đàm phán tập thể, tham gia vào cơ chế ba bên, hai bên Ở bình diện pháp luật, quyền công đoàn được thừa nhận, phổ biến và trở thành bộ khung cơ bản của thể chế QHLĐ hiện đại

Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, công đoàn được thừa nhận và trở thành một bộ phận cấu thành hệ thống chính trị và thể hiện vai trò tham gia làm chủ xã hội của NLĐ Sau khi GCCN lên nắm chính quyền nhà nước, vị thế cơ bản của công đoàn là cầu nối giữa NLĐ và chính quyền, GCCN là cơ sở xã hội cho sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Lênin chỉ ra, “trong điều kiện xã hội chủ nghĩa, công đoàn cần trở thành cầu nối cho mối liên hệ giữa Đảng, nhà nước và quần chúng công nhân viên chức, là trường học cộng sản chủ nghĩa, là tổ chức thể hiện vai trò làm chủ của NLĐ…” Trong thời kỳ này, nhiều tổ chức công đoàn

đã ra đời, tiêu biểu nhất là Liên hiệp công đoàn thế giới tháng 10 - 1945 (Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức này từ năm 1949); Liên hiệp Quốc tế các công đoàn tự do (1949) Những tổ chức công đoàn mang tính quốc

tế này vẫn tồn tại cho đến ngày nay

Trang 19

Sau những năm 1989 - 1991, Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, chế độ XHCN

và cuộc cải cách đổi mới của các nước XHCN khiến cho phong trào công đoàn thế giới lại một lần nữa đối mặt với một nền tảng quan hệ kinh tế thị trường chung Đồng thời do sự theo đuổi của tư bản toàn cầu đối với giá thành sức lao động thấp đã khiến cho vấn đề quyền công đoàn trong thời đại toàn cầu hoá đứng trước nhiều thách thức mới Thuê mướn lao động vẫn là đặc trưng bản chất của kinh tế thị trường, theo đuổi tối đa hoá lợi nhuận vẫn là thuộc tính bản chất của tư bản, toàn cầu hoá kinh tế khiến cho đặc tính này của chủ nghĩa tư bản có được sự thể hiện đầy đủ hơn Tỷ lệ tổ chức công đoàn ở các nước kinh tế thị trường phương Tây phổ biến giảm đi và sự áp chế đối với công đoàn của các nước đang phát triển nhằm thu hút tiền vốn đã trở thành cục diện nghiêm trọng

mà phong trào công đoàn gặp phải Phong trào công đoàn thời đại toàn cầu hoá lại một lần nữa đối mặt với cạnh tranh nội bộ của GCCN và vấn đề liên hợp những người vô sản trên toàn thế giới trong cuộc đấu tranh vì quyền công đoàn lại đứng trước bối cảnh mới và những thách thức mới

Từ khi ra đời cho đến nay, các tổ chức công đoàn đã có nhiều đóng góp to lớn cho tiến trình cách mạng thế giới và tiến bộ xã hội Ngày nay, công đoàn đã trở thành một tổ chức quan trọng trong hệ thống chính trị của nhiều quốc gia Trải qua một thời gian dài phát triển, nhiều tổ chức công đoàn ở các quốc gia đã

có đủ điều kiện nhận thức và kinh nghiệm xây dựng tổ chức công đoàn, vai trò

và vị thế của công đoàn ngày càng được khẳng định Tổ chức công đoàn XHCN

đã trở thành thành viên của hệ thống chính trị và tích cực tham gia quản lý kinh

tế - xã hội Các tổ chức công đoàn trong xã hội TBCN đã tích cực đấu tranh đòi dân chủ, công bằng xã hội, bảo vệ quyền lợi của NLĐ đấu tranh đòi giới chủ tăng tiền lương, giảm giờ làm, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống Vai trò

và vị thế ấy đã được khẳng định trên thực tế và nhiều văn bản pháp luật quan trọng của nhiều nước

Lịch sử của phong trào công nhân và công đoàn thế giới cận đại và hiện đại đã xác nhận rằng, để có được thừa nhận của pháp luật hiện hành về quyền công đoàn, GCCN và tổ chức công đoàn đã phải đấu tranh bền bỉ và chấp nhận

Trang 20

nhiều hy sinh, tổn thất Quyền công đoàn là một sản phẩm của tiến bộ xã hội, của văn minh, song nó không hề được thừa nhận và thực thi một cách tự nhiên,

tự động, cho dù là trong bối cảnh của nhà nước pháp quyền!

1.1.3 Đặc điểm của tổ chức công đoàn

Từ lịch sử hình thành và phát triển của tổ chức công đoàn trên thế giới cho thấy, công đoàn có các đặc điểm cơ bản là:

Thứ nhất: Công đoàn ra đời do xung đột QHLĐ

Trong QHLĐ của nền kinh tế thị trường, giữa chủ sử dụng lao động và NLĐ luôn luôn tồn tại những mâu thuẫn về mặt lợi ích và xung đột trong hoạt động quản lý lao động Nguyên nhân của những mâu thuẫn, xung đột đó là do sự mất cân bằng về lợi ích và quyền giữa hai bên chủ thể của QHLĐ Trong điều kiện đó, Công đoàn ra đời và tồn tại như một tổ chức, một lực lượng “đối trọng” với chủ sử dụng lao động Thông qua hoạt động đàm phán, thương lượng của công đoàn mà xã hội hình thành cơ chế thương lượng để giải quyết xung đột lợi ích trong QHLĐ một cách bình ổn, hòa bình Vai trò của nó chính là tạo ra sự cân bằng lực lượng giữa hai bên chủ thể của QHLĐ Do đó có thể nói, công đoàn sinh ra từ xung đột về quyền và lợi ích trong QHLĐ, là sản phẩm của quá trình vận hành thị trường sức lao động trong nền kinh tế thị trường

Thứ hai: Chức năng quan trọng nhất của công đoàn là bảo vệ quyền và lợi ích của đoàn viên

Công đoàn là một tổ chức, ra đời để bảo vệ quyền lợi và đem lại lợi ích cho hội viên của nó Đây vừa là lý do ra đời và tồn tại của tổ chức công đoàn, vừa là chức năng quan trọng nhất của tổ chức công đoàn Những quyền lợi này bao gồm quyền lợi kinh tế, quyền lợi chính trị, quyền lợi xã hội và quyền lợi nhân thân Chính vì công đoàn là đoàn thể bảo vệ quyền lợi của hội viên, nên mục đích cơ bản của công đoàn tồn tại là nhằm cải thiện điều kiện lao động và sinh hoạt của NLĐ Trên cơ sở này, công đoàn có chức năng đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho NLĐ thông qua các biện pháp như: đàm phán tập thể, tham gia thúc đẩy dân chủ, thúc đẩy thực hiện quyền lợi dân chủ

Trang 21

ngành nghề của NLĐ… Đây là chức năng “bẩm sinh” quan trọng hàng đầu của công đoàn

Thứ ba: Công đoàn do NLĐ tự nguyện kết thành và đại diện cho ý chí của đoàn viên

Lịch sử công đoàn của tất cả các nước đều minh chức tổ chức công đoàn

là do NLĐ làm thuê tự nguyện kết thành Tính tự nguyện thể hiện qua NLĐ thành lập hoặc lựa chọn một công đoàn nào đó làm đại diện của mình một cách

tự chủ, nhưng khi tồn tại bất đồng ý kiến về cần hay không cần công đoàn đại diện, cũng như lựa chọn công đoàn này hay công đoàn kia Công đoàn là tổ chức

do NLĐ tự nguyện thành lập, được nhà nước thừa nhận, nhằm cải thiện điều kiện lao động và sinh hoạt của NLĐ trong điều kiện kinh tế thị trường

Thứ tư: Công đoàn lấy đàm phán tập thể và sử dụng sức mạnh tập thể làm biện pháp cơ bản trong hoạt động của mình

NLĐ làm thuê thành lập công đoàn vì cần tiến hành giao thiệp có tổ chức với chủ sử dụng lao động Công đoàn sau khi thành lập có nhiệm vụ chính là tiến hành đàm phán thương lượng tập thể để tìm kiếm lợi ích tốt hơn cho NLĐ Thương lượng tập thể cũng vì thế trở thành cơ chế vận hành chính của QHLĐ, trong đó công đoàn là một bên chủ thể

Tuy nhiên, để thương lượng tập thể đạt hiệu quả, giữa một bên yếu thế là NLĐ với một bên đầy đủ các thế mạnh là NSDLĐ, thì công đoàn chỉ có cách duy nhất là phát huy sức mạnh tập thể của NLĐ Sức mạnh tập thể của NLĐ chính là yếu tố quan trọng nhất để lấy lại trong thương lương tập thể

1.1.4 Khái niệm công đoàn ở Việt Nam

- Công đoàn: là tổ chức đoàn thể của công nhân lao động tự nguyện lập

ra để bênh vực quyền lợi cho mình Theo từ điển tiếng Việt, “công đoàn là tổ chức quần chúng của công nhân, viên chức”1

Tại Điều 10, Hiến pháp 2013 quy định: Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập

1 Hoàng Phê cb (1997), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr 201

Trang 22

trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản

lý kinh tế - xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc”

Điều này được khẳng định lại ở Điều 1 Luật Công đoàn năm 2012: Công

đoàn: “Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân

và của người lao động, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, là thành viên trong

hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đại diện cho cán bộ, công chức, viên chức, công nhân và những người lao động khác (sau đây gọi chung là người lao động), cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh

tế - xã hội, tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động người lao động học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”

1.1.5 Chức năng của Công đoàn Việt Nam

Chức năng của công đoàn biểu hiện một cách khái quát về phạm vi hoạt động, mục đích hoạt động và sự định hướng trong hoạt động của các cấp trong

tổ chức công đoàn các chức năng của công đoàn bao gồm :

- Chức năng bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công nhân và người lao động

- Chức năng tổ chức giáo dục, vận động công nhân và người lao động;

- Chức năng đại diện cho người lao động tham gia quản lý kinh tế xã hội, quản lý Nhà nước

Chức năng này có thể thay đổi tùy thuộc và điều kiện kinh tế xã hội có liên quan ở từng giai đoạn Từ các chức năng đóï có thể xác định được các

Trang 23

nhiệm vụ chung và những nhiệm vụ cụ thể cho từng cấp công đoàn ở từng lĩnh vực phù hợp

1.1.6 Pháp luật công đoàn

- Tiếp cận từ trạng thái của pháp luật Theo hướng này khái niệm pháp luật bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động trong cơ quan hành chính nhà nước được nhận thức ở trạng thái “tĩnh” và trạng thái “động” Ở trạng thái tĩnh, pháp luật là những gì có liên quan đến bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động trong cơ quan hành chính nhà nước trong văn bản pháp luật Các quy định này

có chủ yếu trong văn bản quy phạm pháp luật với những nội dung như: đối tượng, phạm vi; quyền và nghĩa vụ; hình thức, cách thức, biện pháp bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động trong cơ quan hành chính nhà nước… Tiếp cận ở trạng thái tĩnh chỉ giúp người nghiên cứu có được những hiểu biết về pháp luật bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động trong cơ quan hành chính nhà nước ở hiện tại Hướng tiếp cận ở trạng thái tĩnh, không đủ cơ sở thực tiễn để nghiên cứu đánh giá mức độ phù hợp, chất lượng của pháp luật đối với việc điều chỉnh quan hệ bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động với tính chất là một quan hệ pháp luật

Để khắc phục hạn chế trên, có một hướng tiếp cận khác là ở trạng thái

“động” tức là các quy định thể hiện trong văn bản phải được thực tế kiểm định trên các phương diện khác nhau để từ đó tiếp tục hoàn thiện ở mức độ cao hơn Pháp luật ở trạng thái động là pháp luật “hành động” của các chủ thể có liên quan đến việc bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động; ở trạng thái động, pháp

luật là pháp luật của cuộc sống Nói cách khác “Pháp luật chỉ có thể có tác dụng khi nó được áp dụng vào cuộc sống, trở thành những mối quan hệ pháp lý, thể hiện qua những hành vi pháp lý” [58, tr.225] Nếu sử dụng hình tượng so sánh,

chúng ta sẽ thấy pháp luật giống như cơ thể sống trong đó xây dựng, ban hành pháp luật là một phần (phần đầu) của cơ thể đó và cơ thể pháp luật sẽ khuyết thiếu khi không có áp dụng pháp luật (phần sau)

Từ những phân tích về các hướng tiếp cận nêu trên, học viên lựa chọn hướng tiếp cận tổng hợp, theo đó có những nội dung, đặc điểm căn bản cần phản

Trang 24

ánh trong khái niệm pháp luật công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động trong cơ quan hành chính nhà nước theo hướng tiếp cận này

Cho dù tiếp cận theo hướng nào và với phạm vi đến đâu thì nguồn của pháp luật công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động trong cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay không bao gồm các án lệ (tổng hợp

16 án lệ được công bố áp dụng tại Việt Nam tính đến ngày 28/12/2017 không có

án lệ liên quan đến công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động), hương ước (thành văn và không thành văn), phong tục tập quán (kể cả các tập quán quốc tế) Đấy chính là điểm khác biệt, nét đặc trưng về nguồn của pháp luật công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động trong cơ quan hành chính nhà nước so với pháp luật dân sự, lao động, kinh tế…

1.2 Khái quát người lao động trong cơ quan hành chính Nhà nước và

sự cần thiết phải bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động trong cơ quan hành chính Nhà nước

1.2.1 Khái quát về người lao động trong cơ quan hành chính Nhà nước

- Người lao động: Theo nghĩa thông thường là người từ đủ 15 tuổi trở lên,

có khả năng lao động, đang làm một công việc nào đó mà không bị pháp luật ngăn cấm Trong đề tài này, khái niệm NLĐ hẹp hơn, bao gồm người làm công hưởng lương trong các đơn vị, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ (khu vực có QHLĐ) “Là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của NSDLĐ”2 Nhưng thực tế đối tượng NLĐ trong các doanh nghiệp hiện nay phổ biến là: nam đủ 18 tuổi đến đủ 60 tuổi, nữ đủ 15 tuổi đến 55 tuổi, được ký HĐLĐ với NSDLĐ, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của NSDLĐ

2 Khoản 1, Điều 3, Bộ Luật Lao động, 2012

Trang 25

Theo Bộ Luật lao động 2012 thì “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương

và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động”

- Cơ quan hành chính nhà nước là bộ phận của bộ máy nhà nước nên cũng

có các dấu hiệu chung của các cơ quan nhà nước như sau: 1) Cơ quan hành chính nhà nước có quyền nhân danh Nhà nước khi tham gia vào các quan hệ pháp luật nhằm thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lí với mục đích hướng tới lợi ích công; 2) Hệ thống cơ quan hành chính nhà nước có cơ cấu tổ chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy đinh; 3) Các cơ quan hành chính nhà nước được thành lập và hoạt động dựa trên những quy định của pháp luật, có chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền riêng và có những mối quan hộ phối hợp trong thực thi công việc được giao; 4) Nguồn nhân sự chính của cơ quan hành chính nhà nước là đội ngũ cán bộ, công chức được hình thành từ tuyển dụng,

bổ nhiệm hoặc bầu cử theo quv định của Pháp lệnh cán bộ, công chức

Bên cạnh đó cơ quan hành chính nhà nước có các đặc trưng cơ bản sau:

Cơ quan hành chính nhà nước là cơ quan có chức năng quàn lí hành chính nhà nước Các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoạt động chấp hành - điều hành (đó là những hoạt động được tiến hành trên cơ sở luật và để thi hành luật) nhằm thực hiện chức nâng quàn lí hành chính nhà nước

Người lao động trong cơ quan hành chính Nhà nước bao gồm:

- Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật

- Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật

- Người lao động trong cơ quan hành chính nhà nước là người thực hiện một số loại công việc theo hợp đồng lao động (HĐLĐ) quy định tại Nghị định

số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính phủ như: Sửa chữa, bảo trì đối

Trang 26

với hệ thống cấp điện, cấp, thoát nước ở công sở, xe ô tô và các máy móc, thiết

bị khác đang được sử dụng trong cơ quan, đơn vị sự nghiệp; Lái xe; Bảo vệ; Vệ sinh; Trông giữ phương tiện đi lại của cán bộ, công chức và khách đến làm việc với cơ quan, đơn vị sự nghiệp; nấu ăn tập thể, tạp vụ, mộc nề, chăm sóc và bảo

vệ cảnh quan trong cơ quan, tổ chức, đơn vị,

- Đặc điểm người lao động trong cơ quan hành chính Nhà nước

Đa số người lao động trong cơ quan hành chính Nhà nước là những người lao động đã qua đào tạo, trong đó có một bộ phấn lớn là được đào tạo qua chuyên môn, có những đặc điểm như: Những người làm việc trong cơ quan nhà nước là những người thực thi công vụ - hiện thực hóa chức năng quản lý của Nhà nước; hoạt động bị điều tiết chặt chẽ bởi pháp luật; được nhà nước đảm bảo các điều kiện và lợi ích khi thực thi công vụ; bao gồm: (1) Lao động làm việc thường xuyên, theo biên chế; (2) Lao động làm việc không thường xuyên; (3) Lao động làm việc theo hợp đồng: dài hạn, ngắn hạn

Sự đa dạng trong nội dung lao động còn được thể hiện thông qua các nhóm hoạt động lao động của 3 nhóm người lao động trong các cơ quan hành chính nhà nước:

- Cán bộ lãnh đạo, quản lý: bầu, bổ nhiệm theo nhiệm kì

Là những lao động trực tiếp thực hiện chức năng lãnh đạo, quản lý bao gồm thủ trưởng đơn vị (Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND, giám đốc, phó giám đốc Sở; trưởng phó các bộ phận trong cơ quan )

Thực hiện các nhiệm vụ: lựa chọn đào tạo, bố trí cán bộ, điều phối lao động, kiểm tra và điều chỉnh chu trình lao động, động viên tập thể lao động thực hiện kế hoạch hoạt động và giáo dục chính trị, tư tưởng văn hóa cho người lao động

Hoạt động của họ là hoạt động thực hiện các công việc chủ yếu trong quá trình quản lý mà vấn đề cốt lõi là các quyết định quản lý và tổ chức thực hiện các quyết định đó Họ trực tiếp thực hiện các chức năng quản lý chung

- Chuyên viên: tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch

Các hoạt động lao động mang tính quản lý, không thực hiện các chức năng lãnh đạo trực tiếp mà thực hiện các công việc chuyên môn Và có nhiều

Trang 27

loại chuyên viên phân theo từng ngành nghề lĩnh vực Họ thực hiện hoạt động cố vấn, hỗ trợ trực tiếp cho quá trình ra quyết định lãnh đạo của cán bộ và giúp tổ chức thực hiện và kiểm tra sự đúng đắn cuả các quyết định quản lý chung

- Nhân viên thực hành, kĩ thuật nghiệp vụ: Họ tiến hành các công việc

giản đơn, thường xuyên lặp đi lặp lại, mang tính chất thông tin kỹ thuật, phục vụ quản lý bao gồm: nhân viên làm công tác hạch toán, kế toán, thanh toán, thủ quỹ; nhân viên làm công tác hành chính, chuẩn bị tư liệu như nhân viên thư kí văn phòng, nhân viên lưu trữ…;nhân viên làm công tác phục vụ kĩ thuật, nhân viên bảo vệ, lái xe…

Nhiệm vụ của nhân viên thực hành kỹ thuật - nghiệp vụ là: thực hiện thông tin ban đầu và xử lý chúng (hoàn thành các văn bản, bảng biểu, biểu tổng hợp, viết phiếu, sổ, phân loại, lưu trữ tài liệu…) truyền tin đến nơi nhận cũng như chuẩn bị

và giải quyết các thủ tục hành chính đối với các loại văn bản khác nhau

Nội dung lao động của ba nhóm người trên tạo nên sự đa dạng trong nội dung lao động của cơ quan Hành chính nhà nước, họ tiến hành các dạng lao động tương đối khác nhau, những lãnh đạo thực hiện ở cấp vĩ mô quản lý chung, các Chuyên viên thì thực hiện các hoạt động chuyên môn nhằm tham mưu, hỗ trợ cho cấp lãnh đạo quản lý Còn các nhân viên thì tiến hành các hoạt động tác nghiệp thiên nhiều về chân tay hơn để hỗ trợ phục vụ cho 2 Nhóm người lao động trên

Bên cạnh đó, hoạt động của từng công việc cũng bao gồm nhiều công việc khác nhau:

Ví dụ như: Công tác văn thư: tiếp nhận công văn, giấy tờ thuộc lĩnh vực của cơ quan hành chính nhà nước gửi đến cơ quan, và chuyển cấp có thẩm quyền giải quyết; đầu mối gửi các công văn, giấy tờ, văn bản ra ngoài cơ quan hành chính; tổ chức lữu trữ toàn bộ các hệ thống công văn, giấy tờ, hợp đồng, tài liệu liên quan; theo dõi và chịu trách nhiệm quản lý lịch làm việc của cơ quan; theo dõi chế độ bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội cho nhân viên của cơ quan; thu xếp in ấn, photocopy tài liệu khi cần thiết; công tác lễ tân: nghe và nhận cuộc gọi của các cá nhân, tổ chức khác liên hệ với cơ quan mình; hỗ trợ cho Ban

Trang 28

Lãnh đạo tiếp khách tại cơ quan( như các cuộc thăm viếng, hội họp giữa các nhà lãnh đạo các cấp trong tổ chức); hỗ trợ cho các cuộc họp nội bộ của cơ quan( tham khảo ý kiến tập thể, đưa ra quyết định,…)

d - Đoàn viên công đoàn: Là những đối tượng được kết nạp theo quy

định của Điều lệ Công đoàn Việt Nam NLĐ Việt Nam làm việc trong cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức khác có sử dụng lao động theo quy định của pháp luật về lao động, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; lao động tự do hợp pháp không phân biệt nghề nghiệp, giới tính, tín ngưỡng, tán thành Điều lệ Công đoàn Việt Nam, tự nguyện sinh hoạt trong một

tổ chức cơ sở của Công đoàn, đóng đoàn phí theo quy định thì được gia nhập Công đoàn3 Những đối tượng trên có đơn gia nhập và được CĐCS kết nạp thì trở thành đoàn viên, được đảm bảo quyền và lợi ích theo quy định của Điều lệ và của Luật Công đoàn

1.2.2 Sự cần thiết phải bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động của tổ chức công đoàn

Nói về chức năng, nhiệm vụ đại diện, bảo vệ đoàn viên và NLĐ của tổ chức Công đoàn Điều 10, Hiến pháp 2013 quy định: “Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của GCCN và của người lao động được thành lập trên cơ

sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động …” Điều đó cho thấy, bảo vệ quyền và lợi ích của đoàn viên công đoàn và NLĐ là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và của

cả hệ thống chính trị đã được Hiến pháp quy định Đây là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để Quốc hội ban hành các Luật và Bộ luật khác, bảo đảm quyền được bảo vệ, bênh vực của đoàn viên và NLĐ Ở Việt Nam cũng như hầu hết các nước, hoạt động công đoàn được pháp luật thừa nhận và bảo vệ Tuy nhiên, điểm khác biệt lớn là trong xã hội Việt Nam, tổ chức Công đoàn không chỉ là

3 Điều 1, Điều Lệ Công đoàn VN khóa XI

Trang 29

một tổ chức xã hội nghề nghiệp thông thường mà còn là một tổ chức chính trị -

xã hội, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Công đoàn có một vị trí quan trọng trong

xã hội, không chỉ đại diện cho lực lượng tự mình (bản thân tổ chức Công đoàn, bản thân đoàn viên) mà còn bảo vệ quyền, lợi ích cho NLĐ, cũng như đại diện cho NLĐ tham gia quản lý kinh tế, quản lý xã hội

- Bộ luật Lao động ban hành từ năm 1994, có hiệu lực từ năm 01/01/1995

đã có nhiều tiến bộ, kế thừa pháp luật lao động của các quốc gia tiên tiến trên thế giới về lao động và Công đoàn Sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung và được thay thế bằng BLLĐ năm 2012, đã quy định quyền và nghĩa vụ của NLĐ, quyền và nghĩa vụ của các cấp công đoàn, đặc biệt là CĐCS trong việc bảo vệ quyền, lợi ích cho đoàn viên và NLĐ

- Luật công đoàn năm 2012 đã quy định tương đối cụ thể về đối tượng, thành lập, tổ chức và nhiệm vụ của các cấp công đoàn, trong đó có nhiều nội dung quy định vai trò công đoàn trong QHLĐ, chăm lo, đại diện, bảo vệ quyền

và lợi ích đoàn viên và NLĐ

Như vậy, việc tổ chức công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động trong cơ quan hành chính Nhà nước là thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ của mình Đồng thời, xuất phát từ đặc trưng về môi trường làm việc trong cơ quan hành chính Nhà nước dẫn đến những khác biệt trong việc bảo vệ đoàn viên và người lao động

Thứ nhất, tính chính trị được thể hiện rõ nét

Công đoàn nằm trong hệ thống chính trị của Việt Nam, là một tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân, đội ngũ trí thức và những người lao động tự nguyện lập ra Công đoàn hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và trong khuôn khổ Hiến pháp, Pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trong hệ thống chính trị các cơ quan nhà nước, Công đoàn được thành lập

và hoạt động dưới sự lãnh đạo của cấp ủy đảng cùng cấp và Công đoàn cấp trên trực tiếp hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn nghiệp vụ, là tổ chức đại diện và

Trang 30

bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của cán bộ công chức, viên chức và người lao động (CBCCVC-LĐ)

Thứ hai, vì mẫu thuẫn trong quan hệ lao động không gay gắt nên không phát sinh nhiều sự đối trọng giữa công đoàn và tập thể NLĐ với NSDLĐ, mà thay vào đó là phát huy nhiệm vụ chăm lo đời sống, tuyên tuyền giáo dục đoàn viên, người lao động, cụ thể:

- Công đoàn tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước và nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn Giáo dục nâng cao trình độ chính trị, văn hóa, pháp luật, khoa học kỹ thuật, chuyên môn, nghiệp vụ cho CBCCVC-LĐ

- Tổ chức vận động CBCCVC-LĐ trong cơ quan, đơn vị thi đua yêu nước, thực hiện nghĩa vụ của CBCCVC-LĐ, tham gia quản lý cơ quan, đơn vị cải tiến

lề lối làm việc và cải cách thủ tục hành chính nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác

- Kiểm tra, giám sát việc thi hành các chế độ, chính sách, pháp luật, bảo đảm việc thực hiện quyền lợi của đoàn viên, CBCCVC-LĐ Hướng dẫn giúp đỡ người lao động ký kết hợp đồng lao động

- Phối hợp với lãnh đạo cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện quy chế dân chủ, tổ chức hội nghị cán bộ công chức cơ quan, đơn vị; cử đại diện tham gia các hội đồng xét và giải quyết các quyền lợi của đoàn viên, CBCCVC-LĐ

- Cùng với lãnh đạo cơ quan, đơn vị cải thiện điều kiện làm việc, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, tổ chức các hoạt động xã hội, từ thiện trong CBCCVC-LĐ

- Đấu tranh ngăn chặn tiêu cực, tham nhũng và các tệ nạn xã hội, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí Phát hiện và tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo, giải quyết các tranh chấp lao động và thực hiện các quyền của công đoàn cơ

sở theo quy định của pháp luật

- Phát triển quản lý đoàn viên; xây dựng Công đoàn cơ sở vững mạnh và tham gia xây dựng tổ chức Đảng ở cơ quan, đơn vị luôn trong sạch vững mạnh

Trang 31

Riêng lao động trong cơ quan hành chính nhà nước hầu hết là công chức, viên chức (trừ một số là HĐLĐ) - được Nhà nước quy định rõ và các bảo đảm

về quyền lợi, nghĩa vụ: Luật CBCC, Quy định về tiền lương… Mối quan hệ giữa NLĐ và NSDLĐ ở đây là quan hệ hành chính Các quy định hiện nay chủ yếu mới dành cho đối tượng là công nhân lao động ký kết HĐLĐ trong các doanh nghiệp; thiếu các quy định liên quan đến CĐ bảo vệ viên chức, công chức Các quy định, hướng dẫn thi hành chưa phù hợp với đối tượng tuyển dụng Công chức - được Nhà nước bảo đảm quyền cụ thể rõ ràng và gần không có thương lượng về lợi ích Việc vi phạm các quy định công đoàn bảo vệ quyền lợi NLĐ thiếu chế tài xử phạt và cũng chưa có hành vi nào bị xử phạt hành chính trên thực tế Do đó, cần thiết có sự bảo vệ của công đoàn đối với đối tượng là NLĐ trog cơ quan hành chính nhà nước

1.3 Kinh nghiệm một số nước về công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của đoàn viên là đội ngũ công chức, viên chức

- Tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ:

Liên hiệp Viên chức Mỹ (AFGE) là công đoàn cấp liên bang lớn nhất đại diện cho 670.000 viên chức liên bang gồm bác sỹ, lực lượng biên phòng, nhà khoa học, cán bộ cải huấn, y tá và thanh tra an toàn thực phẩm

Liên hiệp Viên chức cấp bang, hạt và địa phương Hoa Kỳ (AFSCME) đại diện 1,3 triệu viên chức và người nghỉ hưu, gồm nhân viên y tế, nhân viên vệ sinh, cán bộ cải huấn, sỹ quan cảnh sát, lính cứu hỏa

Liên hiệp Công chức liên bang (NFFE) đại diện khoảng 100.000 công chức chính phủ cấp liên bang NFFE có khoảng 200 CĐCS với đoàn viên chủ yếu làm việc ở Bộ Quốc phòng, Tổng Cục Lâm nghiệp, Bộ Cựu chiến binh, Văn phòng liên bang, Công viên Trung tâm, Bộ Nhà ở và Phát triển đô thị, Phòng cấp Hộ chiếu thuộc Cục Lãnh sự (Bộ Ngoại giao)

Bên cạnh 3,7 triệu cán bộ công chức, còn có 20 triệu viên chức Đến

2010, có 8,4 triệu viên chức được đại diện bởi tổ chức công đoàn, bao gồm 31% viên chức cấp liên bang, 35% cấp bang và 46% cấp địa phương

- Tại Úc:

Trang 32

Luật Lao động và Luật về Nơi làm việc của Úc năm 1996 cho phép công chức, viên chức được phép tham gia công đoàn thuộc ngành nghề của mình như: Công đoàn Lao động khu vực công và công chức (CPSU/CSA), Công đoàn Giáo dục Úc (AEU), Liên hiệp Công đoàn Y tá và hộ sinh Úc (ANMF)…

Luật Việc làm công bằng 2009 quy định quyền tự do liên kết của tất cả người lao động (bao gồm công chức, viên chức)

PSU/CSA đại diện gần 16.000 đoàn viên tại hơn 100 Bộ và cơ quan chính quyền với hơn 640 nhóm công việc khác nhau ở các thành phố, khu vực lớn và vùng sâu vùng xa

- Tại Nauy:

Na-uy đã phê chuẩn và thực hiện theo nguyên tắc nếu ra trong tất cả các công ước cơ bản của ILO, trong đó có công ước 87 Theo đó không có sự hạn chế, giới hạn nào đối với bất kỳ người lao động nào muốn tham gia công đoàn

Do vậy, Na-uy không đưa ra luật quy định cụ thể về quyền tự do thành lập tổ chức công đoàn 2 tổ chức đại diện lớn nhất của người lao động (Tổng

Công đoàn Na-uy/LO) và người sử dụng lao động (Hiệp hội Giới chủ Na-uy/NHO) thương lượng và ký Thỏa thuận khung quốc gia, trong đó quy định quyền tự do liên kết của người lao động

Có 2 tổ chức đại diện cho công chức, viên chức Na-uy gồm: CĐ Công chức các cơ quan Trung ương (NTL) và CĐ Công chức các cơ quan địa phương (Fagforbundet) NTL kết nạp đoàn viên là công chức làm việc tại các

cơ quan công quyền cấp trung ương, và Fagforbundet kết nạp đoàn viên

là công chức làm việc tại các cơ quan công quyền cấp tỉnh/thành phố Viên chức thuộc các ngành nghề khác nhau sẽ tham gia công đoàn ngành nghề tương ứng như CĐ Giáo dục, CĐ Bác sỹ, CĐ Y tá Lực lượng vũ trang như công an, sỹ quan quân đội cho đến cầu thủ bóng đá… cũng có thể tham gia CĐ

- Tại Đức:

Đạo luật Căn bản (hay Hiến pháp) liên bang cho phép cả người lao động

và người sử dụng lao động quyền tự do thành lập tổ chức của mình

Trang 33

Công chức và viên chức đều có quyền tham gia công đoàn Tuy nhiên, công chức được điều chỉnh theo luật Công chức liên bang, được đảm bảo một số đặc quyền về việc làm (làm trọn đời, rất khó bị sa thải…) nhưng không có quyền được đại diện để thương lượng tập thể, không được tham gia đình công Công đoàn có quyền tham gia xây dựng, điều chỉnh quy định pháp luật liên quan đến công chức

Đại diện cho công chức là đoàn viên công đoàn trong xây dựng, điều chỉnh pháp luật liên quan đến công chức là Liên hiệp Công đoàn Đức (DGB) và Liên hiệp Công Viên chức Đức (DBB) Đại diện NSDLĐ là Bộ Nội vụ

Công đoàn khu vực Nhà nước Nhật Bản (KOKKO-RENGO) có hơn 90,000 đoàn viên trong đó bao gồm công chức làm việc tại các cơ quan, Bộ ở Trung ương và địa phương Ngoài ra còn có Công đoàn khu vực Nhà nước thuộc ZENROREN (KOKKO-ROREN)

- Tại Nhật Bản:

Hiến pháp Nhật cho phép quyền của mọi người lao động được tham gia công đoàn, được thương lượng tập thể và đình công Tuy nhiên, luật Công chức Trung ương và Địa phương hạn chế quyền tham gia công đoàn của cảnh sát, cán

bộ trại giam, cứu hỏa và Lực lượng phòng vệ Nhật Bản và Lực lượng tuần tra bờ biển (quân đội) Công đoàn đại diện công chức được quyền thỏa thuận các nội dung liên quan đến phúc lợi, điều kiện làm việc cho đoàn viên nhưng việc thực hiện không dưới hình thức TƯLĐTT Công chức không được đình công

Công đoàn khu vực Nhà nước Nhật Bản (KOKKO-RENGO) có hơn 90,000 đoàn viên trong đó bao gồm công chức làm việc tại các cơ quan, Bộ ở Trung ương và địa phương

Ngoài ra còn có Công đoàn khu vực Nhà nước thuộc ZENROREN (KOKKO-ROREN) Mô hình công đoàn khu vực công chức tại các bộ, ban ngành của Nhật khá giống Việt Nam

- Tại Singapore:

Luật Công đoàn cho phép công chức, viên chức được tham gia công đoàn Tuy nhiên có hai hình thức cho công chức tham gia công đoàn: đoàn viên

Trang 34

phổ thông và đoàn viên đặc biệt Các công chức là cán bộ cấp cao, quản lý, có tiếp cận đối với các thông tin nhạy cảm, bí mật, có quyền tuyển dụng, sa thải, cất nhắc … không được tham gia theo dạng đoàn viên phổ thông

Công đoàn Viên chức Singapore (AUPE) có 15,000 đoàn viên

Các đối tượng công chức được tham gia công đoàn cũng không có quyền được đại diện để thương lượng tập thể, không được tham gia đình công Các đề xuất về điều kiện, lương thưởng do công đoàn đề xuất chỉ dừng ở mức khuyến nghị, cân nhắc

Đại hội Công đoàn Dịch vụ công công và dân sự Malaysia (CUEPACS) tập hợp lực lượng công chức viên chức được tham gia công đoàn

Nếu không kể, lực lượng quân đội, cảnh sát, giáo dục, y tế, Malaysia có khoảng 500.000 công chức Con số này là 1,600,000 nếu tính cả 4 nhóm trên

- Tại Trung Quốc:

Trang 35

Theo điều lệ Công đoàn Trung Quốc quy định: Tất cả các cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp hay các tổ chức xã hội trong lãnh thổ Trung quốc mà lấy lương là thu nhập chính và xây dựng quan hệ lao động dù là lao động bằng trí não hay thể lực, không phân biệt dân tộc, chủng tộc, nghề nghiệp, tôn giáo tín ngưỡng,… đều có thể gia nhập công đoàn và trở thành đoàn viên

Công nhân viên chức gia nhập công đoàn, do bản thân tự nguyện tham gia, thông qua công đoàn cơ sở công nhận và phát thẻ đoàn viên

Công nhân viên chức công tác tại các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp ở Trung Quốc đa số đều tham gia công đoàn Công chức nhà nước tham gia công đoàn tỉ lệ thấp nhất 99% trở lên, doanh nhiệp nhà nước, lao động làm việc trong các doanh nghiệp nhà nước phần lớn đều tham gia công đoàn, chiếm 95% trở lên

Tiểu kết chương I

Chương 1 tập trung vào phân tích các nội dung liên quan về tổ chức công đoàn, các khái niệm cơ bản, cơ sở pháp lý và kinh nghiệm một số nước liên quan đến bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động trong cơ quan hành chính Nhà nước Việc đưa ra các nội dung về tổ chức công đoàn nhằm làm rõ được lịch sử, tính chất, chức năng của tổ chức công đoàn Từ đó nêu bật lên những đặc trưng của người lao động trong cơ quan hành chính Nhà nước với người lao động nói chung, kết hợp với các quy định về công đoàn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động trong cơ quan hành chính Nhà nước để làm cơ sở phân tích, đánh giá Bên cạnh đó, chương 1 cũng nêu kinh nghiệm của một số quốc gia để

có sự so sánh Tuy không đi sâu vào việc so sánh điểm giống nhau, khác nhau nhưng việc nêu ra kinh nghiệm của các nước cho thấy việc pháp luật công đoàn bảo vệ người lao động trong cơ quan hành chính Nhà nước Các nội dung này đều là cơ sở để phân tích các nội dung ở chương tiếp theo

Trang 36

CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN BẢO VỆ QUYỀN, LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.1 Thực trạng pháp luật Công đoàn bảo vệ lợi ích của đoàn viên người lao động trong cơ quan hành chính nhà nước

2.1.1 Quy định pháp luật công đoàn bảo vệ lợi ích của đoàn viên người lao động trong cơ quan hành chính nhà nước

Hiến pháp năm 2013 đã quy định, luôn tôn trọng và bảo đảm quyền công dân và quyền con người, trong đó có các quyền và lợi ích của đoàn viên và NLĐ trong QHLĐ Tại khoản 2, Điều 57 nêu rõ: “Nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, NSDLĐ và tạo điều kiện xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định” Chính phủ có nhiệm vụ và quyền: “Bảo vệ quyền

và lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền con người, quyền công dân; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội” Tuy nhiên, “việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác” Đó chính là bảo đảm tính hài hòa quyền và lợi ích của nhà nước, doanh nghiệp và NLĐ

Công đoàn bảo vệ các quyền lợi của người lao động trong cơ quan hành chính nhà nước, trong đó có các nội dung bảo vệ chung, và nội dung bảo vệ riêng theo đặc điểm của từng nhóm lao động

- Đối với công chức: Trong Luật công chức 2008 quy định các quyền mà công chức được hưởng, cụ thể:

Quyền của cán bộ, công chức được bảo đảm các điều kiện thi hành công vụ: 1) Được giao quyền tương xứng với nhiệm vụ 2) Được bảo đảm trang thiết

bị và các điều kiện làm việc khác theo quy định của pháp luật 3) Được cung cấp thông tin liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn được giao 4) Được đào tạo, bồi

Trang 37

dưỡng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ 5) Được pháp luật bảo vệ khi thi hành công vụ

Quyền của cán bộ, công chức về tiền lương và các chế độ liên quan đến tiền lương: 1) Được Nhà nước bảo đảm tiền lương tương xứng với nhiệm vụ, quyền hạn được giao, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước Cán

bộ, công chức làm việc ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc trong các ngành, nghề có môi trường độc hại, nguy hiểm được hưởng phụ cấp và chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật 2) Được hưởng tiền làm thêm giờ, tiền làm đêm, công tác phí và các chế độ khác theo quy định của pháp luật Quyền của cán bộ, công chức về nghỉ ngơi: Cán bộ, công chức được nghỉ hàng năm, nghỉ lễ, nghỉ để giải quyết việc riêng theo quy định của pháp luật về lao động Trường hợp do yêu cầu nhiệm vụ, cán bộ, công chức không sử dụng hoặc sử dụng không hết số ngày nghỉ hàng năm thì ngoài tiền lương còn được thanh toán thêm một khoản tiền bằng tiền lương cho những ngày không nghỉ Các quyền khác của cán bộ, công chức: Cán bộ, công chức được bảo đảm quyền học tập, nghiên cứu khoa học, tham gia các hoạt động kinh tế, xã hội; được hưởng chính sách ưu đãi về nhà ở, phương tiện đi lại, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật; nếu bị thương hoặc hy sinh trong khi thi hành công vụ thì được xem xét hưởng chế độ, chính sách như thương binh hoặc được xem xét để công nhận là liệt sĩ và các quyền khác theo quy định của pháp luật

- Đối với viên chức: Trong Luật Viên chức 2010 quy định các quyền mà công chức được hưởng, cụ thể:

Quyền của viên chức về hoạt động nghề nghiệp: 1) Được pháp luật bảo vệ trong hoạt động nghề nghiệp; 2) Được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ; 3) Được bảo đảm trang bị, thiết bị và các điều kiện làm việc; 4) Được cung cấp thông tin liên quan đến công việc hoặc nhiệm

vụ được giao 5) Được quyết định vấn đề mang tính chuyên môn gắn với công

Trang 38

việc hoặc nhiệm vụ được giao; 6) Được quyền từ chối thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ trái với quy định của pháp luật; 7) Được hưởng các quyền khác về hoạt động nghề nghiệp theo quy định của pháp luật

Quyền của viên chức về tiền lương và các chế độ liên quan đến tiền lương: 1) Được trả lương tương xứng với vị trí việc làm, chức danh nghề nghiệp, chức vụ quản lý và kết quả thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ được giao; được hưởng phụ cấp và chính sách ưu đãi trong trường hợp làm việc ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc làm việc trong ngành nghề có môi trường độc hại, nguy hiểm, lĩnh vực sự nghiệp đặc thù 2) Được hưởng tiền làm thêm giờ, tiền làm đêm, công tác phí và chế độ khác theo quy định của pháp luật và quy chế của đơn vị sự nghiệp công lập 3) Được hưởng tiền thưởng, được xét nâng lương theo quy định của pháp luật và quy chế của đơn vị sự nghiệp công lập

Quyền của viên chức về nghỉ ngơi: 1) Được nghỉ hàng năm, nghỉ lễ, nghỉ việc riêng theo quy định của pháp luật về lao động Do yêu cầu công việc, viên chức không sử dụng hoặc sử dụng không hết số ngày nghỉ hàng năm thì được thanh toán một khoản tiền cho những ngày không nghỉ; 2) Viên chức làm việc ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa hoặc trường hợp đặc biệt khác, nếu có yêu cầu, được gộp số ngày nghỉ phép của 02 năm để nghỉ một lần; nếu gộp số ngày nghỉ phép của 03 năm để nghỉ một lần thì phải được sự đồng ý của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập; 3) Đối với lĩnh vực sự nghiệp đặc thù, viên chức được nghỉ việc và hưởng lương theo quy định của pháp luật; 4) Được nghỉ không hưởng lương trong trường hợp có lý do chính đáng và được sự đồng ý của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập

Quyền của viên chức về hoạt động kinh doanh và làm việc ngoài thời gian quy định: 1) Được hoạt động nghề nghiệp ngoài thời gian làm việc quy định trong hợp đồng làm việc, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; 2) Được ký hợp đồng vụ, việc với cơ quan, tổ chức, đơn vị khác mà pháp luật không cấm

Trang 39

nhưng phải hoàn thành nhiệm vụ được giao và có sự đồng ý của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập; 3) Được góp vốn nhưng không tham gia quản lý, điều hành công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, bệnh viện tư, trường học tư và tổ chức nghiên cứu khoa học tư, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác

Các quyền khác của viên chức: Viên chức được khen thưởng, tôn vinh, được tham gia hoạt động kinh tế xã hội; được hưởng chính sách ưu đãi về nhà ở; được tạo điều kiện học tập hoạt động nghề nghiệp ở trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật Trường hợp bị thương hoặc chết do thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ được giao thì được xét hưởng chính sách như thương binh hoặc được xét để công nhận là liệt sĩ theo quy định của pháp luật

- Đối với NLĐ làm việc theo chế độ hợp động: Người lao động trong đơn vị sự nghiệp công lập là người thực hiện một số loại công việc theo hợp đồng lao động (HĐLĐ) quy định tại Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính phủ như: Sửa chữa, bảo trì đối với hệ thống cấp điện, cấp, thoát nước ở công sở, xe ô tô và các máy móc, thiết bị khác đang được sử dụng trong cơ quan, đơn vị sự nghiệp; Lái xe; Bảo vệ; Vệ sinh; Trông giữ phương tiện

đi lại của cán bộ, công chức và khách đến làm việc với cơ quan, đơn vị sự nghiệp; nấu ăn tập thể, tạp vụ, mộc nề, chăm sóc và bảo vệ cảnh quan trong cơ quan, tổ chức, đơn vị,

- HĐLĐ gồm các loại sau đây: 1) HĐLĐ không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng; 2) HĐLĐ xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian

từ đủ 12 tháng đến 36 tháng; 3) HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng

Khi HĐLĐ xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày HĐLĐ hết hạn, hai bên phải ký kết HĐLĐ mới; nếu không ký kết HĐLĐ mới

Trang 40

thì HĐLĐ xác định thời hạn đã giao kết trở thành HĐLĐ không xác định thời hạn Trường hợp hai bên ký kết HĐLĐ mới là hợp đồng xác định thời hạn thì cũng chỉ được ký thêm 1 lần, sau đó nếu người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký kết HĐLĐ không xác định thời hạn

- Tại khoản 1, Điều 5, BLLĐ năm 2012 quy định “Quyền và nghĩa vụ của người lao động”, quy định NLĐ có các quyền: Quyền được tìm kiếm việc làm; được hưởng lương theo thỏa thuận; được đảm bảo an toàn lao động; được gia nhập và hoạt động công đoàn; được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và đình công Như vậy, quyền của NLĐ trong QHLĐ, tại doanh nghiệp, bao gồm 6 nhóm, nhưng tất cả các quyền này đều được thực hiện theo quy định chi tiết ở mỗi chương của BLLĐ Đây là những quy định cần thiết để Công đoàn

có thể xây dựng kế hoạch cần phải làm gì để bảo vệ đoàn viên và NLĐ

Quyền của Công đoàn trong QHLĐ được quy định tại khoản 2, Điều 7 (quan hệ lao động): “Công đoàn, tổ chức đại diện NSDLĐ tham gia cùng với cơ quan nhà nước hỗ trợ xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ; giám sát việc thi hành các quy định của pháp luật về lao động; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, NSDLĐ”

Mỗi nội dung trong BLLĐ hầu như đều có quy định về nhiệm vụ cụ thể của các bên trong QHLĐ, trong đó có Công đoàn Đặc biệt, BLLĐ đã dành 01 chương, với 6 điều (từ điều 188 - điều 193) khá đầy đủ để quy định về Công đoàn Trong đó quy định quyền, nghĩa vụ của các cấp công đoàn, nhất là CĐCS trong QHLĐ; quyền của cán bộ công đoàn; quyền thành lập và hoạt động công đoàn của NLĐ; trách nhiệm của NSDLĐ đối với tổ chức và hoạt động công đoàn; các điều kiện đảm bảo cho công đoàn hoạt động

Về quy định Công đoàn đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên và NLĐ biểu hiện trên các hoạt động sau: “CĐCS thực hiện vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên công đoàn, NLĐ; tham gia, thương lượng, ký kết và giám sát việc thực hiện TƯLĐTT, thang lương, bảng lương, định mức lao động, quy chế trả lương, quy chế thưởng, nội quy lao động, quy chế dân chủ ở doanh nghiệp, cơ quan, tổ

Ngày đăng: 23/04/2020, 10:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm