1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh

81 78 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 2,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tóm lại, từ những phân tích ở trên, có thể đưa ra định nghĩa về thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động kinh doanh như sau: Thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh là khoản trích nộp bằng t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI CÁ NHÂN KINH DOANH

HOÀNG VĂN TIẾN

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI CÁ NHÂN KINH DOANH

HOÀNG VĂN TIẾN

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

MÃ SỐ: 8380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS TRẦN VŨ HẢI

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Trần Vũ Hải Các số liệu, kết luận được trình bày trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn./

Hoàng Văn Tiến

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành cảm ơn đến TS Trần Vũ Hải, người đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi về mặt khoa học trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận văn

Tôi xin cảm ơn Viện Đại học Mở Hà Nội, Khoa sau Đại học, Khoa Luật Kinh

tế đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi thực hiện luận văn

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn các thành viên gia đình, bạn bè đã động viên, ủng hộ, chia sẻ và là chỗ dựa tinh thần giúp tôi tập trung nghiên cứu hoàn thành bài luận văn của mình

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

1.1 Những vấn đề cơ bản về thuế Thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh 5

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh 5 1.1.2 Vai trò của thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ cá nhân kinh doanh 13

1.2 Những vấn đề lý luận về pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh 15

1.2.1 Nguyên tắc điều chỉnh pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh 15 1.2.2 Nội dung pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh 19 1.2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh 20

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 23 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI CÁ NHÂN KINH DOANH 25

2.1 Thực trạng quy định pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh 25

Trang 6

2.1.1 Quy định về đối tượng chịu thuế 25

2.1.2 Quy định về chủ thể nộp thuế 28

2.1.3 Phương pháp tính thuế và căn cứ tính thuế 31

2.1.4 Quy định về thủ tục thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh 43

2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh 47 2.2.1 Những thành tựu đạt được 47

2.2.2 Những bất cập trong quá trình thực thi pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh 51

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 57

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ ĐẢM BẢO THI HÀNH PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI CÁ NHÂN KINH DOANH 59

3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh 59 3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh 61

3.2.1 Giải pháp hoàn thiện nội dung quy định pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh 61

3.2.2 Kiến nghị nâng cao cơ chế quản lý thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh 64

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 67

TỔNG KẾT Error! Bookmark not defined DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 7

TNDN : Thu nhập doanh nghiệp

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Sau ba mươi năm đổi mới chính sách và cơ chế kinh tế theo mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN, với phương châm công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước cùng với lộ trình hội nhập kinh tế phù hợp, Việt Nam đã đạt được những thành tưu to lớn, tạo nên hình ảnh đầy sức thuyết phục về một Việt Nam đổi mới, phát triển và hội nhập quốc tế Đóng góp không nhỏ vào thành công chung đó là công cuộc cải cách hệ thống thuế do nhà nước thực hiện Các sắc thuế nói chung và thuế TNCN nói riêng đã trở thành nguồn thu chủ yếu của ngân sách quốc gia, là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế, tạo cơ sở pháp lý để thực hiện mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đề ra

Với nền kinh tế thị trường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước

ta hiện nay, mọi thành phần kinh tế đều được Đảng và Nhà nước khuyến khích phát triển Trong đó, bộ phân cá nhân,hộ kinh doanh cũng được Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cả về thủ tục thành lập đến cải cách quản lý thuế

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tính đến hết năm 2014, cả nước có tổng cộng 4.658 triệu hộ kinh doanh cá thể với số lượng lao động gần 8 triệu người Với

số lượng đông đảo, loại hình sản xuất kinh doanh phong phú, có mặt khắp các địa phương trong cả nước, các hộ kinh doanh cá thể đã và đang khẳng định vai trò cũng như những đóng góp hiệu quả vào sự phát triển của đất nước Bằng việc sử dụng số lượng lớn lao động từ các hộ gia đình ở các địa phương, tạo ra các chủng loại sản phẩm hàng hóa dịch vụ đa dạng, phong phú, các hộ kinh doanh cá thể không những giải quyết việc làm, tăng thu nhập mà còn là mạng lưới rộng lớn, phát triển về những vùng xa, vùng khó khăn mà các lĩnh vực kinh doanh khác không đáp ứng được Đây là kênh phân phối và lưu thông hàng hóa quan trọng, giúp cân đối thương mại và phát triển kinh tế địa phương

Trang 9

Bên cạnh đó, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các hộ kinh doanh cá thể còn đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước Từ trước đến nay, khu vực kinh tế ngoài Nhà nước là khu vực có tỷ trọng đóng góp cao nhất trong GDP Theo số liệu của Tổng cục Thống kê (2014), nếu như kinh tế Nhà nước đóng góp 32,2% vào GDP, thì kinh tế ngoài Nhà nước góp tới 48,3%; (Kinh tế tập thể 5%, Kinh tế tư nhân 10,9%, Kinh tế cá thể 32,3%); Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 19,5% Với sự phát triển ngày càng nhanh của thành phân kinh tế cá thể, để quản thuế đạt hiệu quả với nhóm đối tượng này, vừa qua Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư hướng dẫn hoạt động thu thuế TNCN và thuế GTGT với nhóm cá nhân cư trú có hoạt động kinh doanh Quy định mới này đã đem lại những kết quả tích cực cả về phía nhà nước và người dân Bên cạnh đó, những quy định mới vẫn còn một số điểm vướng mắc cần phải tháo gỡ, giải quyết để hệ thông pháp luật thuế được hoạt thiện và gắn liền với thực tế đời sống

Chính vì vậy, người viết lựa chọn đề tài “Pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh” làm luận văn thạc sỹ luật học

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Hiện nay có khá nhiều công trình nghiên cứu chuyên biệt về nội dung thuế thu nhập cá nhân: Nguyễn Hải Ninh, “Kiểm soát thu nhập của người nộp thuế trong quá trình thực hiện pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ Luật học, 2017, Hồ Thị Hải, “Một số vấn đề pháp lý về thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam- Thực trạng và giải pháp hoàn thiện”, Luận văn thạc sĩ luật học, 2014, Tạ Minh Hảo, “Pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam- Thực trạng và giải pháp”, Luận văn thạc sĩ luật học, 2013,… Các công trình này được thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội

Ngoài ra, các công trình nghiên cứu là những bài báo khoa học đăng trên tạp

chí khoa học như: Bùi Khánh Toàn(2016) “Hiện đại hóa ngành thuế nhìn từ quản lý thuế đối với thương mại điện tử”, Tạp chí Tài chính kỳ 1, số tháng 2/2016, Ngô Thị Thu Hà, Đinh Văn Linh (2016), “Hoàn thiện hành lang pháp lý về thuế đối với hộ kinh doanh ở Việt Nam”, Tạp chí Tài chính, kỳ 1 Tháng 5/2016, Trần Minh Đức (2012), “Cơ sở xác định thu nhập chịu thuế trong pháp luật Thuế thu nhập cá nhân dưới góc độ công bằng”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số tháng 2/2012,…

Trang 10

Những công trình nghiên cứu khoa học gần đây chủ yếu tập trung giải quyết những vẫn đề chung của thuế TNCN mà chưa có nghiên cứu chuyên sâu nào thực

sự phân tích, làm rõ vấn đề thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu nhằm làm sáng rõ các vấn đề lý luận về thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh, qua đó dánh giá những thành tựu và hạn chế của quy định pháp luật hiện nay về thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh và thực tiễn thi hành pháp luật

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng phạm vi nghiên cứu của đề tài là các quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động thu nộp thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh

- Phạm vi nghiên cứu: Về không gian, luận văn nghiên cứu cả chính sách và pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh của Việt Nam Các nghiên cứu ngoài nước chỉ có ý nghĩa tham khảo Về thời gian, giới hạn nghiên cứu của luận văn là các văn bản pháp luật về thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh cho đến thời điểm hiện tại và trong mối tương quan với chính sách và pháp luật thuế hiện hành

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác Lênin, phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

Những phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng trong luận văn là phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp và phương pháp so sánh Phương pháp phân tích dùng để luận giải những khái niệm, nội hàm, bản chất của vấn đề nghiên cứu Phương pháp tổng hợp dùng để rút ra quy luật, từ đó kết luận vấn đề nghiên cứu Trong quá trình phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh, trong đó chủ yếu là so sánh luật học, được sử dụng để làm nổi bật phân tích hoặc kết luận

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của công trình nghiên cứu

Về mặt lý luận, luận văn sẽ làm rõ những nguyên tắc, yêu cầu trong việc ban hành và thực hiện pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh để làm cơ sở đánh giá, hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành sao cho có hiệu quả hơn

Trang 11

Về mặt thực tiễn, luận văn sẽ tổng kết quá trình thực hiện pháp luật, đánh giá những bất cập đã phát sinh trên thực tế để làm cơ sở hoàn thiện pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh tại Việt Nam

7 Cơ cấu của luận văn

Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, ngoài phần Mở đầu và Kết luận, cơ cấu của luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh tại Việt Nam

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện và đảm bảo thi hành pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh tại Việt Nam

Trang 12

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI CÁ NHÂN KINH DOANH VÀ PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP

CÁ NHÂN ĐỐI VỚI CÁ NHÂN KINH DOANH

1.1 Những vấn đề cơ bản về thuế Thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh

Thuế vừa là phạm trù kinh tế, vừa là phạm trù lịch sử Lịch sử xã hội loài người đã chứng minh rằng, thuế ra đời là một tất yếu khách quan, gắn với sự hình thành và phát triển của nhà nước Để duy trì sự tồn tại đồng thời với việc thực hiện các chức năng của mình, nhà nước cần có nguồn vật chất để thực hiện những chỉ tiêu có tính chất xã hội Bằng quyền lực chính trị, nhà nước " trích thủ" một phần của cải xã hội để có được nguồn vật chất đó Một trong những phương thức huy động để tạo nên nguồn lực tài chính này cho nhà nước chính là thuế

Mặc dù sự ra đời của thuế mang tính tất yếu khách quan, song cũng phải thấy rằng quan niệm về thuế ở mỗi thời kỳ lại khác nhau Trong thời kỳ cổ đại, khi sức sản xuất chưa phát triển, quan hệ trao đổi diễn ra chủ yếu dưới hình thức hiện vật thì

ý niệm về thuế khoá rất đơn giản và thuế phần lớn được thể hiện dưới dạng hiện vật

và lao vụ Bước sang thời kỳ hiện đại cùng với việc mở rộng các chức năng, nhiệm

vụ của nhà nước và sự phát triển của các quan hệ hàng hoá, tiền tệ, các hình thức thuế ngày càng đa dạng, phong phú và đã được tiền tệ hoá, nên trong thời kỳ này phần lớn thuế được thể hiện dưới hình thức giá trị

Cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất tuyệt đối về khái niệm thuế Với các góc độ nghiên cứu khác nhau thì thuế được hiểu với các nghĩa khác nhau, cụ thể: Theo từ điển tiếng việt, Thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tuỳ theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp… buộc phải nộp cho nhà nước theo mức quy định Như vậy, theo cách hiểu thông thường có thể hiểu thuế được biểu hiện bằng tiền hoặc hiện vật, là nghĩa vụ bắt buộc mà tổ chức, cá nhân phải nộp cho nhà nước theo những điều kiện nhất định

Trang 13

Nhà kinh tế học Gaston Jeze trong cuốn “Tài chính công” đã đưa ra một định nghĩa tương đối cổ điển về thuế: “ Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà Nước"

Dưới góc độ kinh tế học, thuế lại được hiểu là: một hình thức phân phối thu nhập tài chính của nhà nước để thực hiện chức năng của mình, dựa vào quyền lực chính trị,tiến hành phân phối sản phẩm thặng dư của xã hội một cách cưỡng chế và không hoàn lại

Còn dưới góc độ pháp lý thì: thuế là một khoản thu nộp bắt buộc mà các tổ chức, cá nhân phải nộp cho nhà nước khi có đủ những điều kiện nhất định

Như vậy, tùy thuộc vào bản chất của Nhà nước và cách thức Nhà nước sử dụng, các nhà kinh tế có nhiều quan điểm về thuế khác nhau, mỗi quan điểm đều nhấn mạnh một chiều theo từng góc độ khác nhau Mặc dù đến nay còn nhiều tranh cãi về khái niệm của thuế nhưng các nhà kinh tế đều thống nhất rằng, để làm rõ bản chất của thuế thì định nghĩa của thuế phải nêu bật được các nội dung sau:

Thứ nhất, thuế là một khoản thu mang tính bắt buộc Tất cả chủ thể đủ điều

kiện theo quy định của pháp luật đều phải nộp thuế

Thứ hai, thuế mang tính quyền lực nhà nước Bằng quyền lực chính trị, nhà

nước tạo ra cho thuế tính cố định, sự tuân thủ của đối tượng nộp thuế Chỉ gắn với yếu tố quyền lực, thuế mới đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ tạo nguồn thu nhập tài chính cho nhà nước Chính vì thế, để gắn yếu tố quyền lực nhà nước cho thuế, các quốc gia đều có xu hướng ghi nhận thuế ở văn bản pháp luật có hiệu lực cao nhất là các luật thuế

Thứ ba, thuế không mang tính đối giá và hoàn trả trực tiếp Thuế không phải là

khoản phải trả khi các đối tượng nộp thuế đã nhận được một lợi ích hay quyền lợi

cụ thể nào từ phía nhà nước Bất kỳ ai khi đủ điều kiện đều phải thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước, không phân biệt họ đã nhận được những lợi ích công cộng nào Kết quả của việc sử dụng các khoản thu từ thuế chủ yếu là các sản phẩm công, đây là sự hoàn trả một cách gián tiếp cho những khoản tiền nộp cho Nhà nước Người nộp thuế nhận được những lợi ích này thông qua chi tiêu xã hội, những lợi ích mà người nộp thuế được thụ hưởng trong xã hội

Trang 14

Từ những đặc trưng cơ bản của thuế, có thể đưa ra một khái niệm tổng quát về

thuế như sau: "Thuế là khoản trích nộp bằng tiền, mang tính bắt buộc, tính quyền lực nhà nước, tính không đối giá và hoàn trả trực tiếp do các tổ chức, cá nhân nộp cho nhà nước khi đủ những điều kiện nhất định nhằm đáp ứng việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước"

Căn cứ đối tượng chịu thuế, các sắc thuế thường được phân loại thành thuế thu nhập, thuế tiêu dùng và thuế tài sản Trong đó thuế thu nhập là loại thuế đóng vai trò càng ngày quan trọng trong hệ thống pháp luật thuế của Việt Nam

Thuế thu nhập là tên gọi để chỉ những sắc thuế lấy thu nhập làm đối tượng tính thuế Tuy nhiên, hiện nay, có khá nhiều quan điểm về thu nhập Dưới các góc độ nghiên cứu khác nhau thì thu nhập lại được hiểu khác nhau, cụ thể:

Theo cuốn từ điển Bách khoa thì: “Thu nhập là giá trị nhận được của một pháp nhân hay thể nhân nào đó trong một khoảng thời gian nhất định không phân biệt nguồn gốc phát sinh Giá trị đó có thể được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ hay các giá trị vật chất, phi vật chất nhưng có thước đo chung là tiền tệ”

Từ điển Black’s Law lại đưa ra một định nghĩa khác: “Thu nhập là phần chênh lệch giữa khoản thu về và chi phí bỏ ra Loại thu nhập này lại gồm thu nhập

từ lao động( tiền công, tiền lương bao gồm cả lương hưu, các khỏa trợ cấp bao gồm

cả học bổng) và thu nhập tài chính ( lãi tiết kiệm, lãi mua bán chứng khoán, thu nhập từ cho thuê bất động sản) và các thu nhập khác ( tiền thưởng…)

Ở phương diện kinh tế học, các nhà kinh tế học cho rằng, “thu nhập” được hiểu là tổng số tiền kiếm được hoặc thu góp được trong một khoảng thời gian nhất định, mà trong đó “tiền” được hiểu là những lợi ích thu được cả bằng tiền và bằng hiện vật mà được quy đổi thành tiền ở thời điểm nhận được, bao gồm cả giá trị của các sản phẩm sản xuất ra để tự tiêu dùng, thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh, lao động hay ngoài lao động, từ quyền sở hữu tài sản…

Như vậy, dù có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng thu nhập của một tổ chức hoặc cá nhân thường được nhận biết qua các dấu hiệu sau:

Trang 15

Thứ nhất, thu nhập luôn luôn gắn với một chủ thể nhất định trong nền kinh tế,

xã hôi – thể hiện tính sở hữu của chủ thể đó đối với khoản thu nhập và không phân biệt nguồn gốc thu nhập

Thứ hai, thông thường việc xác định thu nhập của chủ thể khác nhau trong một

thời gian nhất định được biểu hiện dưới hình thức giá trị, là hình thức thông qua đó

có thể biết được tổng số thu nhập từ các nguồn khác nhau của một cá nhân hay một pháp nhân khác

Thứ ba, thu nhập được hình thành thông qua quá trình phân phối lần đầu và

phân phối lại thu nhập quốc dân

Thứ tư, thu nhập có thể tồn tại dưới hai hình thức là tiền tệ và hiện vật, nhưng

khi xác định thu nhập của một chủ thể nào đó thì chúng đều phải được quy đổi chung về thước đo tiền tệ ( giá trị).[20]

Chính vì không có một định nghĩa cụ thể nên thông thường các nhà nghiên cứu kinh tế, pháp lý không đưa ra định nghĩa tổng quát về thu nhập mà thường liệt

kê các khoản được gọi là thu nhập của các tổ chức, cá nhân khi các khoản này thỏa mãn các dấu hiệu kể trên Chẳng hạn như thu nhập từ hoạt động kinh doanh, tiền lương, tiền công, đầu tư vốn, trúng thưởng…

Thuế thu nhập thường được phân chia thành hai loại là thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân Khác với thuế thu nhập doanh nghiệp, có đối tượng chịu thuế là thu nhập từ hoạt động kinh doanh, mà chủ yếu là các loại hình doanh nghiệp thì thuế TNCN là loại thuế có đối tượng chịu thuế là thu nhập của các

cá nhân.[8]

Thuế TNCN được coi là công cụ quản lý, phân phối thu nhập cá nhân trong xã hội Các chủ thể nộp thuế TNCN là những cá nhân có thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh, từ tiền lương tiền công và những nguồn thu nhập khác Trong đó, thuế TNCN đánh vào thu nhập từ hoạt động kinh doanh của cá nhân được gọi là thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh

Hiện nay, kinh doanh được coi là hoạt động mũi nhọn phát triển kinh tế của các quốc gia Kinh doanh là hoạt động xảy ra hàng ngày dưới nhiều hình thức mà ta có thể nhận biết được, tuy nhiên, rất khó có thể đưa ra một khái niệm chung nhất về kinh doanh

Trang 16

Theo Từ điển tiếng Việt, “kinh doanh” được hiểu là “tổ chức việc sản xuất buôn bán cho sinh lời”

Dưới góc độ kinh tế, kinh doanh là phương thức mà thông qua đó các chủ thể kinh doanh quan hệ với nhau trong nền sản xuất hàng hóa Hay nói cách khác, kinh doanh phản ánh quan hệ giữa người với người trong sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng của cải vật chất xã hội nhằm mục đích thu về một giá trị lớn hơn giá trị

đã bỏ ra ban đầu.[25]

Dựa trên nguồn gốc, có thể thấy kinh doanh là môt phạm trù gắn liền với sản xuất hàng hóa, có mối quan hệ mật thiết đối với quan hệ sở hữu Kinh doanh bắt nguồn từ quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất và bị quan hệ sở hữu chi phối Tính chất chi phối của quan hệ sở hữu đối với kinh doanh thể hiện ở chỗ, mỗi chế độ sở hữu lại có một chế độ, một kiểu kinh doanh nhất định; quan hệ sở hữu quy định bản chất

xã hội, mục đích và xu hướng vận động của quan hệ kinh doanh Tuy nhiên quan hệ

sở hữu không tạo ra và cũng không làm tăng thêm sản phẩm, tăng thêm giá trị mà

nó chỉ là điều kiện cơ bản, tiên quyết của kinh doanh.[14]

Dưới góc độ pháp lý, khái niệm kinh doanh được ghi nhận trong các văn bản pháp luật của Việt Nam Khái niệm kinh doanh lần đầu tiên được ghi nhận tại Điều

3 Luật công ty 1990 và sau đó được kế thừa và hoàn thiện trong Luật Doanh nghiệp (1999), Luật Doanh nghiệp (2005), và Luật Doanh nghiệp 2014 Theo đó:“Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”

Như vậy, dù dưới góc độ nào, hoạt động kinh doanh cũng luôn gắn liền với hàng hoá hoặc dịch vụ, và mục đích mà các chủ thể hướng tới khi hoạt động kinh doanh đó là thu về lợi nhuận

Trong nền kinh tế, có thể nói hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh doanh giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa quyết định đối với sức tăng trưởng kinh tế và sự tồn tại của xã hội Trong các chủ thể kinh doanh, bên cạnh những chủ thể giữ vai trò chủ đạo đối với sự phát triển của nền kinh tế như các doanh nghiệp,

Trang 17

thực tế còn tồn tại một nhóm chủ thể kinh doanh nhỏ lẻ, nhưng có vai trò không nhỏ đối với sự phát triển của nền kinh tế, chủ thể đó là cá nhân sản xuất kinh doanh Mặc dù hoạt động kinh doanh của cá nhân diễn ra với quy mô nhỏ, nhưng số lượng

cá nhân hoạt động kinh doanh lại vô cùng lớn, do đó, vấn đề quản lý đối với nhóm chủ thể này là vô cùng quan trọng Tuy nhiên, hiện nay pháp luật chưa đưa ra một khái niệm cụ thể về cá nhân kinh doanh

Theo nghị định 39/2007/NĐ-CP ngày 16 tháng 3 năm 2007 về cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh

ghi nhận khái niệm cá nhân hoạt động thương mại như sau: “Cá nhân hoạt động thương mại là cá nhân tự mình hàng ngày thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động được pháp luật cho phép về mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác nhưng không thuộc đối tượng phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh và không gọi là “th- ương nhân” theo quy định của Luật Thương mại Cụ thể bao gồm những cá nhân thực hiện các hoạt động thương mại sau đây:

a) Buôn bán rong (buôn bán dạo) là các hoạt động mua, bán không có địa điểm cố định (mua rong, bán rong hoặc vừa mua rong vừa bán rong), bao gồm cả việc nhận sách báo, tạp chí, văn hóa phẩm của các thương nhân được phép kinh doanh các sản phẩm này theo quy định của pháp luật để bán rong;

b) Buôn bán vặt là hoạt động mua bán những vật dụng nhỏ lẻ có hoặc không

có địa điểm cố định;

c) Bán quà vặt là hoạt động bán quà bánh, đồ ăn, nước uống (hàng nước) có hoặc không có địa điểm cố định;

d) Buôn chuyến là hoạt động mua hàng hóa từ nơi khác về theo từng chuyến

để bán cho người mua buôn hoặc người bán lẻ;

đ) Thực hiện các dịch vụ: đánh giày, bán vé số, chữa khóa, sửa chữa xe, trông giữ xe, rửa xe, cắt tóc, vẽ tranh, chụp ảnh và các dịch vụ khác có hoặc không có địa điểm cố định;

Trang 18

e) Các hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh khác”

Như vậy, quy định này mới chỉ ghi nhận một nhóm cá nhân kinh doanh đặc thù, đó là cá nhân kinh doanh thương mại Trên thực tế, các cá nhân kinh doanh nói chung có thể đăng ký kinh doanh hoặc không đăng ký kinh doanh để tiến hành hoạt động kinh doanh và tiến hành nhiều hoạt động kinh doanh khác ngoài những hoạt động đã được liệt kê ở trên

Do đó, dựa trên khái niệm “kinh doanh” có thể hiểu: Cá nhân kinh doanh là những cá nhân thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi

Tóm lại, từ những phân tích ở trên, có thể đưa ra định nghĩa về thuế thu nhập

cá nhân đối với hoạt động kinh doanh như sau:

Thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh là khoản trích nộp bằng tiền của cá nhân thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư,

từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi đóng góp cho nhà nước

Từ định nghĩa trên cho thấy Thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh mang đầy đủ các đặc điểm của thuế nói chung như: là khoản thu mang tính bắt buộc, mang tính quyền lực nhà nước, không có tính đối giá và hoàn trả trực tiếp Bên cạnh đó, thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh còn có một số đặc trưng cơ bản như sau:

Thứ nhất, Thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh là loại thuế trực thu

Tính chất trực thu của loại thuế này thể hiện: Thuế TNCN đánh trực tiếp vào thu nhập thuộc diện chịu thuế của cá nhân kinh doanh Chính vì thế, thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh cũng mang đặc điểm chung của thuế TNCN đó là, người nộp thuế và người chịu thuế là một Cá nhân kinh doanh là người phải gánh tiền thuế nhưng cũng đồng thời là người nộp thuế cho nhà nước Đây là đặc điểm quan trọng để phân biệt với các loại thuế gián thu như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ

Trang 19

đặc biệt, thuế xuất khẩu, nhập khẩu… Chính vì thế nên cá nhân kinh doanh khó có thể chuyển gánh nặng nộp thuế cho người khác Do vậy, tâm lý của người chịu thuế thường nặng nề hơn khi thực hiện nghĩa vụ thuế này so với các loại thuế gián thu Tuy nhiên, bên cạnh đó thì tính chất thuế trực thu của thuế TNCN còn tạo khả năng

để Nhà nước thực hiện điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội, từ

đó đảm bảo công bằng về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư

Thứ hai, thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh có chủ thể nộp thuế là các cá nhân kinh doanh

Như đã phân tích ở trên, cá nhân kinh doanh là những cá nhân thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi Trong nền kinh tế, khi cá nhân kinh doanh là một bộ phận nhỏ, thì các doanh nghiệp lại đóng vai trò chủ chốt với hoạt động kinh doanh đa dạng, quy mô hoạt động lớn, nguồn vốn dồi dào Chính sự khác biệt về hoạt động, cơ cấu tổ chức và quy mô nên

dù cùng tiến hành hoạt động kinh doanh, nhưng cá nhân kinh doanh hiện nay không còn xếp vào đối tượng nộp thuế TNDN như trước đây Cá nhân kinh doanh có quy

mô nhỏ lẻ, nguồn vốn không lớn, thu nhập có được từ hoạt động kinh doanh thường chỉ đáp ứng nhu cầu cuộc sống, trong khi thuế TNDN lại là sự huy động đóng góp vào ngân sách nhà nước đối với các doanh nghiệp – những chủ thể có nguồn thu nhập lớn, do đó, nếu xếp cá nhân kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế TNDN là không hợp lý và đặt gánh nặng lên các cá nhân Thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh dù điều chỉnh vào thu nhập từ kinh doanh nhưng lại có cơ sở và bản chất hoàn toàn khác so với thuế TNDN

Cá nhân nộp thuế TNCN bao gồm cá nhân kinh doanh và cá nhân không kinh doanh Cá nhân không kinh doanh được hiểu là cá nhân không tiến hành các hoạt động kinh doanh, nguồn thu nhập của họ xuất phát từ sức lao động của chính họ biểu hiện dưới dạng tiền lương, tiền công, hoặc những hoạt động khác như đầu tư vốn, chuyển nhượng bất động sản… Từ khác biệt về nguồn hình thành thu nhập hay chính là hoạt động mà các cá nhân thực hiện để tạo ra thu nhập sẽ dẫn đến các quy định khác nhau để phù hợp với từng chủ thể

Trang 20

Thứ ba, thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh điều chỉnh vào thu nhập từ kinh doanh của cá nhân

Một cá nhân có thể vừa có thu nhập từ kinh doanh lại vừa có thu nhập ngoài kinh doanh Những thu nhập ngoài kinh doanh thường là những thu nhập phát sinh

từ hợp đồng lao động, thu nhập tài chính từ lãi tiền vay, tiền gửi,… Trong khi những thu nhập ngoài kinh doanh như tiền lương, tiền công là những thu nhập tương đối ổn định và xác định khá dễ dàng, thì thu nhập từ kinh doanh lại chịu nhiều tác động từ thị trường, cung cầu của xã hội, bất ổn định và xác định tương đối khó khăn nếu không có hoá đơn, chứng từ đầy đủ Do đó, thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh được xây dựng dựa trên đặc điểm của hoạt động kinh doanh, lĩnh vực ngành nghề để đưa ra cách xác định chính xác và hợp lý thu nhập chịu thuế cũng như số thuế mà cá nhân phải nộp

1.1.2 Vai trò của thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ cá nhân kinh doanh

Thuế TNCN đối với thu nhập từ cá nhân kinh doanh có một số vai trò như sau:

Thứ nhất, thuế TNCN đối với thu nhập từ cá nhân kinh doanh góp phần tạo nguồn thu cho NSNN

Thuế TNCN nói chung và thuế TNCN đối với thu nhập từ cá nhân kinh doanh nói riêng là công cụ quan trọng của Nhà nước nhằm huy động một bộ phận của cải trong xã hội nhằm tạo nguồn thu cho NSNN Bất kỳ nhà nước nào để thực hiện được các chức năng cơ bản của mình đều phải có nguồn lực vật chất và thuế TNCN đối với thu nhập từ cá nhân kinh doanh là một trong những nguồn thu quan trọng để đáp ứng nhu cầu đó

Thuế TNCN đối với thu nhập của cá nhân kinh doanh được hình thành từ việc điều tiết một phần thu nhập chịu thuế của cá nhân kinh doanh trước khi hành vi tiêu dùng xảy ra Mức thu thuế sẽ tỷ lệ thuận với sự phát triển của nền kinh tế và thu nhập của cá nhân kinh doanh trong xã hội, có nghĩa rằng thu nhập của cá nhân kinh doanh càng cao thì mức thu từ thuế TNCN càng tăng Đặc biệt, hiện nay hoạt động kinh doanh của cá nhân nói chung và các cá nhân hành nghề độc lập rất phát triển

Do đó, thuế TNCN đối với thu nhập của cá nhân kinh doanh nói riêng và thuế TNCN nói chung đang dần đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu nguồn thu từ thuế cho NSNN

Trang 21

Thứ hai, thuế TNCN đối với thu nhập của cá nhân kinh doanh là công cụ để Nhà nước tái phân phối sản phẩm xã hội, giảm phân hóa giàu nghèo, góp phần đảm bảo tính công bằng trong xã hội

Có thể nói, đây là vai trò đặc trưng và cơ bản nhất của thuế TNCN Sở dĩ như vậy là do thuế TNCN nói chung và thuế TNCN đối với thu nhập của cá nhân kinh doanh điều tiết trực tiếp vào thu nhập của cá nhân đã thu hẹp được khoảng cách về thu nhập của các cá nhân có mức thu nhập cao và các cá nhân có thu nhập thấp Theo Michel Bouvier, các sắc thuế trực thu trong đó có thuế TNCN có khả năng cá nhân hóa tốt hơn, việc đánh thuế có tính đến điều kiện, hoàn cảnh của người nộp thuế nên nó đảm bảo tính công bằng tốt hơn[19] Tính công bằng của thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh còn thuế hiện ở chỗ nghĩa vụ của thuế được áp dụng trên cơ sở có tính đến điều kiện và hoàn cảnh sống của người nộp thuế Nếu thu nhập của cá nhân kinh doanh không đạt đến mức nộp thuế ( hiện nay theo quy định

là 100 triệu) thì cá nhân kinh doanh đó không phải nộp thuế Đây là một đặc điểm

mà các loại thuế gián thu không thể tính đến được bởi nghĩa vụ thuế chỉ có thể phát sinh khi hành vi tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ xảy ra

Thứ ba, thuế TNCN đối với thu nhập của cá nhân kinh doanh gắn liền với việc thực hiện chính sách kinh tế, chính trị, xã hội của nhà nước

Thuế TNCN đối với thu nhập của cá nhận kinh doanh không chỉ là công cụ huy động nguồn thu NSNN, thực hiện công bằng xã hội mà còn là một trong những công cụ quan trọng của nhà nước trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế Loại thuế này điều tiết trực tiếp vào thu nhập của cá nhân kinh doanh nên một mặt tác động đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, cung ứng dịch vụ của các cá nhân kinh doanh

Từ đó sẽ tác động đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của nền kinh tế Ngoài ra, để tiến hành thu thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh thì nhà nước cũng phải xây dựng một hệ thống hành thu thuế, từ đó sẽ đánh giá được tình hình thu nhập của dân

cư cũng như thực trạng của nền kinh tế Từ những đánh giá đó mà Nhà nước có thể đưa ra các chính sách kinh tế khác phù hợp hơn như chính sách việc làm, chính sách bảo hiểm, chính sách trợ cấp xã hội…

Trang 22

Thứ tư, thuế TNCN đối với thu nhập của cá nhân kinh doanh góp phần giúp Nhà nước kiểm soát thu nhập và hoạt động kinh doanh, phát hiện ra các hoạt động kinh doanh bất hợp pháp

Thực tế chứng minh nhiều khoản thu nhập của cá nhân nhận được từ việc thực hiện các hành vi bất hợp pháp hoặc bằng cách lợi dụng những kẽ hở của pháp luật

mà nhà nước chưa kiểm soát được như tham ô, nhận hối lộ, buôn bán hàng cấm, trốn thuế, lừa đảo chiếm đoạt tài sản… Những hành vi này ảnh hưởng rất xấu đến đời sống kinh tế xã hội của mỗi quốc gia Chính vì thế, cần phải kết hợp hữu hiệu nhiều biện pháp để ngăn chặn và chống lại những hành vi trên, một trong số các biện pháp ngăn chặn đó phải để đến vai trò của thuế TNCN

Thuế TNCN đối với thu nhập của cá nhân kinh doanh giúp Nhà nước quản lý hữu hiệu các hoạt động thương mại của cá nhân kinh doanh Chính quá trình áp dụng pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh và giám sát thu thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh sẽ giúp Nhà nước có thể phát hiện ra những vấn đề nảy sinh Từ đó, kịp thời sửa đổi, bổ sung một số nội dung các quy định về thuế TNCN đối với thu nhập của cá nhân kinh doanh để các quy định này thích ứng với những đòi hỏi của thực tiễn Đây là việc làm cần thiết nhằm quản lý tốt đối với hoạt động kinh doanh đa dạng của các cá nhân, đặc biệt là các cá nhân hành nghề độc lập, các

cá nhân kinh doanh tự do Ngoài ra, việc thu thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập của cá nhân kinh doanh còn giúp Nhà nước kiểm tra, giám sát được hoạt động kinh doanh của cá nhân, kiểm soát được tình trạng sử dụng hóa đơn, chứng từ trong hoạt động kinh doanh, từ đó phát hiện ra các giao dịch bất hợp pháp, các giao dịch gian dối, rửa tiền và kiểm soát được việc thu các loại thuế khác có liên quan đến hoạt động kinh doanh như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng, thuế bảo vệ môi trường

1.2 Những vấn đề lý luận về pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh

1.2.1 Nguyên tắc điều chỉnh pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh

Để thực hiện hoạt động thu thuế nói chung và thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh nói riêng, sự điều chỉnh của Nhà nước thông qua các quy định pháp luật là

Trang 23

hết sức cần thiết Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh có ý nghĩa quan trọng, tạo căn cứ pháp lý cho việc áp dụng thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh trên thực tế Bởi suy cho cùng, mặc dù Nhà nước nào cũng có quyền đánh thuế nhưng để nguồn thu từ thuế trở thành hiện thực thì nhà nước phải sử dụng pháp luật như một công cụ hữu hiệu và đặc thù nhất của mình để thực hiện các mục tiêu đã định

Như vậy, có thể thấy pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh là tổng hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thu, nộp thuế của cá nhân kinh doanh có phát sinh thu nhập theo quy định của pháp luật

Pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh phải được xây dựng dựa vào các nguyên tắc nhất định Nguyên tắc điều chỉnh pháp luật thuế của nhà nước là hệ thống quan điểm chỉ đạo chi phối sâu sắc vấn đề đặt ra hoặc xóa bỏ hệ thống thuế của một quốc gia, có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình vận hành của hệ thống pháp luật thuế Thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh cũng giống như các sắc thuế khác đều có ảnh hưởng nhất định đến Nhà nước và người nộp thuế Do đó, việc tuân thủ các nguyên tắc đánh thuế là nhằm đảm bảo việc thu thuế đạt hiệu quả cao nhất

kể cả về số thu, chi phí và mực độ tác động xã hội của thuế Hiện nay, thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh phải tuân thủ các nguyên tắc điều chỉnh sau:

Thứ nhất, nguyên tắc đảm bảo công bằng giữa các cá nhân kinh doanh trong thuế TNCN

Xuất phát từ những đòi hỏi khách quan của nền kinh tế thị trường, mọi chủ thể

là cá nhân kinh doanh đều phải có địa vị bình đẳng trong kinh doanh để tồn tại phát triển dưới sự chi phối của quy luật cạnh tranh Trong đó, cần coi trọng sự đối xử bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế với nhà nước Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận: “ Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” Chính vì thế, chính sách thuế, pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh phải được cụ thể hóa một cách trung thực tư tưởng cơ bản này Nguyên tắc này đòi hỏi các cá nhân kinh doanh không phân biệt là cá nhân kinh doanh trong nước hay nước ngoài nước

Trang 24

có hoạt động kinh doanh giống nhau (có hoàn cảnh, điều kiện như nhau) đều được đối xử bình đẳng, được áp dụng thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh như nhau, không phân biệt đối xử về thuế suất, về ưu đãi thuế

Thứ hai, nguyên tắc đánh thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh phải đảm bảo cân bằng về lợi ích giữa nhà nước và người nộp thuế

Thu thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh là để đảm bảo giải quyết được yêu cầu thu ngân sách nhà nước, đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước nhưng cũng phải phù hợp với khả năng đóng góp của các cá nhân kinh doanh, tức là những người nộp thuế Như vậy là giải quyết hài hòa giữa lợi ích của nhà nước và các cá nhân kinh doanh Nhà nước phải vùa thu thuế vừa phải nuôi dưỡng nguồn thu Vì thế, khi ban hành các quy phạm pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh thì nhà nước phải cân nhắc kỹ lưỡng, không chỉ xem xét đến việc ngân sách nhà nước thu được bao nhiêu mà phải xem xét nó trong tổng thể hệ thống thuế, xem xét

kỹ mức thuế, biểu thuế, tức là xam khả năng đóng góp của các cá nhân kinh doanh

Thứ ba, nguyên tắc đánh thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh phải đảm bảo tính khả thi và hiệu quả

Để thuế nói chung và thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh được ban hành đưa vào áp dụng trong thực tế bảo đảm tính nghiêm minh, Nhà nước quản lý và kiểm soát được thì nó phải phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, phù hợp với trình

độ quản lý của cán bộ thuế và trình độ của người dân Vì thế khi xem xét tính hiệu quả của thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh không chỉ xem xét đến tổng tiền nhà nước thu được mà còn xem tác động điều tiết của thuế TNCN đối với đời sống kinh tế, xã hội, các mục tiêu đặt ra khi ban hành và các chi phí quản lý thuế so với

số tiền thu được từ thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh Hiệu ứng của chế độ thuế nói chung và thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh phải được xem xét trên nhiều phương diện kể cả trước mắt và lâu dàu Nếu vì muốn tăng thu cho ngân sách

mà đặt mức thuế suất cao, vượt quá khả năng đóng góp của các cá nhân kinh doanh thì hậu quả là pháp luật thuế TNCN sẽ gặp khó khăn trong áp dụng, kết quả không tăng mà còn hạn chế việc mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy động

Trang 25

cơ trốn thuế, buôn lậu, gây thất thu cho ngân sách và làm nảy sinh những tiêu cực trong thu thuế Chính vì thế, nguyên tắc hiệu quả còn đòi hỏi trong quá trình nghiên cứu xây dựng pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh phải tính đến kết quả thu được và chi phí mà Nhà nước bỏ ra cho công tác quản lý thuế

Thứ tư, nguyên tắc đánh thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh phải bảo đảm tính đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện

Pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh được ban hành phải được bảo đảm thực thi nghiên túc trong cuộc sống Do đó, nếu pháp luật thuế TNCN quá phức tạp, vượt quá trình độ khả năng thực hiện của hệ thống thu, vượt quá khả năng hiểu biết của các cá nhân kinh doanh thì không thể tránh khỏi tình trạng thất thu, lạm thu Bên cạnh đó sẽ khiến cho pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh thực hiện không nghiêm túc, khó kiểm tra, khó quản lý, gây ra sự bất bình đẳng trong xã hội Trong điều kiện ở nước ta hiện nay, khi ý thức chấp hành pháp luật thuế TNCN còn hạn chế, trình độ đội ngũ cán bộ thuế đã được nâng cao nhưng chưa hoàn toàn đáp ứng tốt so với yêu cầu, đặc biệt là hệ thống trang thiết bị phục vụ cho công tác thu thuế còn chưa đầy đủ, hiện đại thì pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh phải đảm bảo được yêu cầu đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện, dễ kiểm tra, phù hợp với trình độ hiểu biết, ý thức chấp hành và khả năng đóng góp của các cá nhân kinh doanh, phù hợp với trình độ năng lực quản lý của bộ máy quản

lý thu thuế, có như vậy pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh mới bảo đảm tính khả thi cao

Thứ năm, thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh phải đáp ứng được yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

Hội nhập để hợp tác kinh tế quốc tế là một yêu cầu khách quan Để hội nhập quốc tế, hệ thống pháp luật thuế nói chung và pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh phải dựa trên nguyên tắc học hỏi, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc

tế, nhằm tạo lập một hệ thống thuế vừa phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội nước

ta, vừa mang tính phổ biến Đây là xu hướng chung của nhiều nước trên thế giới trong quá trình cải cách hệ thống thuế Việc nghiên cứu, so sánh pháp luật thuế

Trang 26

TNCN đối với cá nhân kinh doanh với các nước khác là cơ sở cho việc thực hiện nguyên tắc này Hệ thống thuế mang tính phổ biến sẽ là nhân tố tích cực thúc đẩy sự phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại cũng như để thu hút vốn đầu tư nước ngoài Chính vì thế, thực tiễn nước ta đang đặt ra yêu cầu cần đẩy mạnh và thực hiện có hiệu quả việc học tập, áp dụng kinh nghiệm cải cách thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh ở các nước

1.2.2 Nội dung pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh

Xét về hình thức, pháp luật về thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh gồm các văn bản quy phạm pháp luật như: văn bản luật, nghị quyết của Quốc hội, nghị định và nghị quyết của Chính phủ; quyết định và chỉ thị của Thủ tướng chính phủ; quyết định, thông tư và chỉ thị của các bộ Còn xét về phương diện nội dung, pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh ở Việt Nam sẽ được xem xét dưới các

bộ phận của Luật thuế TNCN, cụ thể như sau:

Thứ nhất về phạm vi điều chỉnh: Luật thuế TNCN năm 2007, sửa đổi bổ sung năm 2014 quy định về đối tượng chịu thuế, chủ thể nộp thuế, căn cứ, phương pháp tính thuế, thủ tục về thuế Trên cơ sở đó, luận văn sẽ nghiên cứu nội dung pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh theo những nội dung sau:

- Đối tượng chịu thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh là thu nhập của các

cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ

- Chủ thể nộp thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh là các cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Trong đó các cá nhân kinh doanh được pháp luật chia làm 2 nhóm với phạm vi và nghĩa vụ nộp thuế khác nhau

là cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú

- Căn cứ, phương pháp tính thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh: Thông thường căn cứ tính thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh được xác định bao gồm doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh và thuế suất Tuy nhiên, đối với từng nhóm cá nhân cư trú và không cư trú thì pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh lại có những cách xác định căn cứ và phương pháp tính thuế khác nhau như phương pháp khoán và phương pháp tính thuế theo từng lần phát sinh…

Trang 27

- Thủ tục về thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh bao gồm các thủ tục đăng

ký thuế, kê khai, nộp thuế Đăng ký thuế là việc người nộp thuế kê khai vào tờ khai theo mẫu quy định của Luật quản lý thuế, nộp tờ khai cho cơ quan quản lý thuế và

cơ quan cấp cho một mã số để bắt đầu thực hiện nghĩa vụ thuế với nhà nước theo quy định của pháp luật Kê khai và nộp thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh là việc cá nhân kinh doanh tự xác định số thuế phải nộp phát sinh trong kỳ kê khai thuế theo quy định của pháp luật thuế TNCN Cá nhân kinh doanh sử dụng hồ sơ khai thuế theo quy định của pháp luật để kê khai số thuế phải nộp với cơ quan thuế

và chịu trách nhiệm về tính chính xác của số liệu trong hồ sơ kê khai thuế Khi có những hành vi vi phạm pháp luật thuế TNCN thì cá nhân kinh doanh phải chịu xử lý theo quy định của pháp luật về các hành vi vi phạm pháp luật thuế TNCN của mình Thứ hai, về đối tượng điều chỉnh: đối tượng điều chỉnh của Luật thuế TNCN năm

2007, sửa đổi bổ sung năm 2014 được chia thành hai nhóm bao gồm:

- Một là, nhóm chủ thể quyền lực là các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực thu thuế TNCN Bao gồm: Bộ tài chính, Tổng cục thuế và các cơ quan thu có thẩm quyền

- Hai là, nhóm chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế TNCN bao gồm: các cá nhân, hộ gia đình có sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập thuộc đối tượng chịu thuế TNCN

1.2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh

Pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau Các yếu tố này đều có thể ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực tùy theo tính chất và trạng thái của yếu tố đó đối với pháp luật thuế TNCN của cá nhân kinh doanh Nhiệm vụ của các cơ quan quản lý là phải nắm rõ sự tác động của mỗi yếu tố và tìm cách hạn chế những yếu tố tiêu cực cũng như phát huy các yếu tố tích cực nhằm nâng cao hiệu quả xây dựng và thực thi pháp luật thuế TNCN

Thứ nhất, chủ trương, chính sách quản lý thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh của nhà nước

Trang 28

Nhà nước thể hiện ý chí của mình ở từng lĩnh vực kinh tế - xã hội thông qua đường lối, chính sách quản lý đối với từng lĩnh vực đó Trong lĩnh vực thuế thu nhập cá nhân, nhà nước cũng xác định mục tiêu, yêu cầu và hướng quản lý trong lĩnh vực này bằng những chính sách cụ thể Chính vì thế, các quy phạm pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh phải thể chế hóa được quan điểm, chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước về hoàn thiện chính sách thuế và tập trung cơ cấu lại nguồn thu theo yêu cầu đề ra

Thứ hai, điều kiện kinh tế

Thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh đánh vào thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân phát sinh trong kỳ tính thuế Trong khi đó thu nhập của

cá nhân kinh doanh lại phụ thuộc rất lớn vào điều kiện kinh tế của từng thời kỳ Khi nền kinh tế phát triển ổn định thì thu nhập của cá nhân kinh doanh nói riêng và cá nhân nói chung cũng tăng lên, từ đó tạo nguồn thu lớn và ổn định cho NSNN Ngược lại, khi nền kinh tế không phát triển được thậm chí có thể bị suy yếu nó sẽ ảnh hưởng đến kết quả thu thuế TNCN và làm giảm nguồn thu cho NSNN Chính vì thế, khi điều kiện kinh tế thay đổi thì pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân cũng cần phải có những điều chỉnh nhất định để đảm bảo khả năng nộp thuế của các cá nhân kinh doanh đồng thời kích thích hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân, từ

đó có thể giảm bớt được tình trạng trốn thuế, buôn lậu và những hành vi vi phạm pháp luật về thuế TNCN

Thứ ba, trình độ lập pháp

Cá nhân kinh doanh là nhóm đối tượng chiếm tỷ lệ khá lớn, đa dạng về loại hình hoạt động và kinh doanh Chẳng hạn như có cá nhân hành nghề độc lập, có nhóm cá nhân, hộ gia đình kinh doanh nhiều ngành nghề khác nhau, có cá nhân là người cư trú, người không cư trú… Chính vì thế đòi hỏi trình độ pháp pháp của cơ quan có thẩm quyền phải cao để có thể phân chia rõ ràng từng chế định đối với từng nhóm chủ thể nộp thuế Nếu trình độ lập pháp còn hạn chế sẽ khiến cho các quy phạm pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh không bao quát hết các nhóm đối tượng, không phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, không đảm bảo yếu tố công bằng… Chính vì thế dẫn đến pháp luật thuế TNCN không có sự ổn định, dễ thay đổi Do đó, trình độ lập pháp là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình xây dựng và thực thi pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh

Trang 29

Thứ tư, trình độ hiểu biết, ý thức chấp hành pháp luật của người dân

Đây là một trong những điều kiện quan trọng trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh Khi trình độ hiểu biết, ý thức chấp hành pháp luật của người dân mà chưa cao thì đòi hỏi pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh phải đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu, đảm bảo giải thích cho

cá nhân kinh doanh hiểu và thực hiện được nghĩa vụ đóng thuế của mình Hoặc với những trường hợp cá nhân kinh doanh có những hành vi trốn thuế, tránh thuế, chây

y, chậm nộp tiền thuế thì pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh cũng phải từng bước hoàn thiện và có những biện pháp quản lý, có chế tài đủ mạnh để đủ sức răn đe, giáo dục

Thứ năm, hội nhập kinh tế, quốc tế

Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình quốc gia tiến hành mở cửa nền kinh tế thông qua các nỗ lực tự do hóa trên mọi lĩnh vực theo từng cấp độ nhằm chủ động gắn kết với nền kinh tế khu vực và thế giới Đối với lĩnh vực thuế, Hội nhập kinh tế quốc tế cũng làm gia tăng sự hợp tác về thuế giữa các nước và làm thay đổi chính sách thuế nói chung và thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh nói riêng Chính vì thế pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh cần tuân thủ nguyên tắc của pháp luật thuế TNCN quốc tế Chẳng hạn như nguyên tắc thường trú, luật áp dụng đối với việc xác định rõ cơ sở đánh thuế, nguồn phát sinh thu nhập của cá nhân Xác định rõ các cơ chế về cá nhân kinh doanh là người cư trú hay không cư trú…Trong nền kinh tế hội nhập, các hoạt động kinh tế vượt ra ngoài phạm vi một nước làm phát sinh khái niệm rộng hơn về đối tượng chịu thuế và cơ sở tính thuế Việc xác định các đối tượng chịu thuế thu nhập gây ra khó khăn cho công tác quản lý, đòi hỏi phải có sự trao đổi thông tin giữa các cơ quan liên quan Bên cạnh đó, việc xác định thu nhập có nguồn gốc phát sinh trong hay ngoài nước, số lượng phát sinh là bao nhiêu… cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý thuế thu nhập Bên cạnh đó, hội nhập kèm theo sự phức tạp và đa dạng hơn trong cơ sở tính thuế nhưng những thủ đoạn trốn thuế thu nhập thì càng tinh vi nên pháp luật thuế TNCN đối với

cá nhân kinh doanh cần tiếp tục hoàn thiện để tránh những lỗ hổng pháp lý trong quản lý thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh

Trang 30

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Qua nghiên cứu những vấn đề lý luận về thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh và pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh, có thể rút ra một số nội dung cơ bản như sau:

Thứ nhất, Thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh là khoản trích nộp bằng tiền của cá nhân thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi đóng góp cho nhà nước Bên cạnh những đặc điểm chung của thuế thì thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh còn mang những đặc điểm đặc trưng là loại thuế trực thu, chủ thể nộp thuế là các cá nhân kinh doanh và

có đối tượng chịu thuế là thu nhập từ kinh doanh của cá nhân Thuế TNCN đối với

cá nhân kinh doanh có vai trò quan trọng thể hiện qua sự đóng góp để tạo nguồn thu cho NSNN; là công cụ để Nhà nước tái phân phối sản phẩm xã hội, giảm phân hóa giàu nghèo, góp phần đảm bảo tính công bằng trong xã hội; gắn liền với việc thực hiện chính sách kinh tế, chính trị, xã hội của nhà nước; Góp phần giúp nhà nước kiểm soát thu nhập và hoạt động kinh doanh, nhằm phát hiện ra các hoạt động kinh doanh bất hợp pháp

Thứ hai, Pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh là tổng hợp các quy phạm pháp luật Nhà nước đặt ra nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thu, nộp thuế của cá nhân kinh doanh Pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh được xây dựng dựa vào các nguyên tắc: (i) đảm bảo công bằng giữa các cá nhân kinh doanh; (ii) đảm bảo cân bằng về lợi ích giữa nhà nước và người nộp thuế; (iii) đảm bảo tính khả thi và hiệu quả; (iv) đảm bảo tính đơn giản,

dễ hiểu, dễ thực hiện; (v) đáp ứng được yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

Thứ ba, nội dung pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh bao gồm: (i) Đối tượng chịu thuế là thu nhập của cá nhân kinh doanh; (ii) chủ thể nộp thuế là

cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; (iii) Căn

Trang 31

cứ, phương pháp tính thuế bao gồm doanh thu từ hoạt động kinh doanh và thuế suất với các phương pháp như khoán doanh thu, tính thuế theo từng lần phát sinh; (iv)Thủ tục về thuế như đăng ký, kê khai, nộp thuế…

Thứ tư, pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, đó là chủ trương, chính sách quản lý của nhà nước; điều kiện kinh tế; trình độ lập pháp; trình độ hiểu biết, ý thức chấp hành pháp luật của người dân và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Các yếu tố này có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến quá trình xây dựng và quản lý thuế, vì thế đòi hỏi quá trình hoàn thiện pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh phải đảm bảo phát huy các yếu tố tích cực và hạn chế các yếu tố tiêu cực để nâng cao hiệu quả xây dựng và thực thi pháp luật thuế TNCN

Trang 32

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ

NHÂN ĐỐI VỚI CÁ NHÂN KINH DOANH

2.1 Thực trạng quy định pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh

2.1.1 Quy định về đối tượng chịu thuế

Theo quy định của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của các Luật về thuế năm

2014 và Khoản 1 Điều 2 Nghị định 12/2015/NĐ – CP thì đối tượng chịu thuế của thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh là thu nhập từ kinh doanh của cá nhân có doanh thu từ 100 triệu đồng/ năm trở lên bao gồm:

Thứ nhất, Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo

quy định của pháp luật Riêng đối với thu nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản chỉ áp dụng đối với trường hợp không đủ điều kiện được miễn thuế quy định tại Khoản 5 Điều 4 Nghị định này

Thứ hai, Thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân có giấy phép

hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật

Như vậy, có thể thấy, pháp luật quy định khá cụ thể về đối tượng chịu thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh Đặc biệt, pháp luật đã có sự thay đổi trong quy định về thu nhập chịu thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh Trước đây, theo quy định của Luật thuế TNCN năm 2007 thì thu nhập chịu thuế TNCN của cá nhân kinh doanh không có ngưỡng 100 triệu đồng mà tổng các thu nhập chịu thuế từ hoạt động kinh doanh được giảm trừ gia cảnh như đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công Chính vì thế nảy sinh một số bất cập về phương pháp tính thuế và quản lý thuế TNCN Nhiều cá nhân kinh doanh đã lợi dụng điều đó để thực hiện các thủ đoạn như trốn thuế, gian lận thuế, không kê khai và nộp thuế…Để khắc phục hạn chế này, Luật sửa đổi một số điều các luật về thuế 2014 đã quy định: “doanh thu của

cá nhân kinh doanh đạt mức 100 triệu đồng trở lên mới thuộc diện chịu thuế” Với

Trang 33

quy định này, hoạt động quản lý thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh trở nên đơn giản và hiệu quả hơn Tuy nhiên, bên cạnh đó, quy định của pháp luật về đối tượng chịu thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh vẫn còn một số bất cập sau:

Thứ nhất, pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh hành nghề độc lập

có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật chưa rõ ràng, dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng trên thực tế

Theo quy định của pháp luật hiện hành, cá nhân được coi là hành nghề độc lập khi họ là cá nhân kinh doanh, không ký hợp đồng lao động với chủ thể khác Các ngành nghề này được quy định ở pháp luật chuyên ngành, thường là: kinh doanh dịch vụ pháp lý, kinh doanh dịch vụ khám, chữa bệnh và kinh doanh dược phẩm, kinh doanh dịch vụ thú y và kinh doanh thuốc thú y, kinh doanh dịch vụ thiết kế quy hoạch xây dựng, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng, kinh doanh dịch vụ kiểm toán, sản xuất, gia công, dịch vụ trung

gian như môi giới, giám định… Như vậy, với quy định “Thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của các cá nhân có giấy phép hoặc có chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật” là đối tượng chịu thuế TNCN của cá nhân kinh doanh thì

quy định này đã không liệt kê hết các đối tượng hành nghề độc lập thuộc diện chịu thuế Vì trên thực tế, không phải tất cả những người hành nghề độc lập đều có giấy phép hay chứng chỉ hành nghề Nhiều đối tượng cho tới thời điểm này, mặc dù hành nghề một cách độc lập, nhưng chưa được cấp phép, hoặc luật không quy định phải được cấp phép mới được hành nghề Chẳng hạn như ca sỹ, diễn viên, nhạc sỹ, nhạc công, người dẫn chương trình (MC)… Bên cạnh đó lại có những trường hợp có những người được cấp chứng chỉ hành nghề, giấy phép nhưng chưa chắc đã là người hành nghề độc lập Chẳng hạn như: đối với nhân viên môi giới bất động sản, Khoản 2 Điều 62 Luật kinh doanh bất động sản 66/2014/QH13 ngày 25/22/2014 quy định cá nhân có quyền kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản độc lập nhưng phải có chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản và đăng ký nộp thuế theo quy định pháp luật về thuế Khoản 1 Điều 6 Luật thương mại số 36/2005/QH11 ngày 14/06/2005 quy định: “ thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp

Trang 34

pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh” Với hai quy định này có thể thấy, cá nhân có thu nhập từ hoạt động môi giới bất động sản được coi là cá nhân hành nghề độc lập nếu có chứng chỉ hành nghề, có đăng ký thuế và đăng ký kinh doanh Như vậy rõ ràng nếu cá nhân môi giới bất động sản chỉ có chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản mà chưa đăng ký thuế và đăng ký kinh doanh thì không coi là cá nhân hành nghề độc lập Như vậy, khi pháp luật thuế TNCN xếp thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của các cá nhân có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định pháp luật

là thu nhập từ kinh doanh, nhưng lại không có những quy định cụ thể đối với nhóm đối tượng này thì việc kiểm soát các đối tượng này rất phức tạp, gây khó khăn cho việc tính thuế và thu nộp thuế TNCN Hơn nữa, thu nhập của nhóm cá nhân này rất khó có thể kiểm soát và xác định rõ ràng Nhóm chủ thể này thường là những chủ thể có thu nhập cao tuy nhiên không thể xác định chính xác thu nhập của họ theo hoá đơn Việc để cơ quan thuế ấn định khi doanh thu họ kê khai không phù hợp cũng tương đối phức tạp và vẫn khó có thể phù hợp so với thực tế Có thể kể đến các trường hợp như các chủ thể vừa có thu nhập từ tiền lương tiền công lại vừa hành nghề độc lập như các bác sĩ vừa công tác tại bệnh viện vừa khám chữa bệnh ngoài giờ tại nhà, mở phòng khám,… Cơ quan thuế thông thường chỉ xác định được dựa trên cơ sở tiền lương, tiền công của họ tại các bệnh viện chứ không thể bao quát được thu nhập ngoài tiền công, tiền lương đó Chính vì thế việc quy định không rõ ràng về đối tượng chịu thuế là thu nhập của cá nhân kinh doanh hành nghề độc lập

có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật sẽ dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng trên thực tế để tính thuế và thu nộp thuế TNCN Từ đó dẫn đến nhiều hành vi gian lận, trốn thuế…gây khó khăn cho hoạt động quản lý thuế của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Chính vì thế, hiệu quả của việc đánh thuế sẽ

bị giảm sút

doanh chưa hợp lý, chưa đảm bảo nguyên tắc công bằng

Trang 35

Hiện nay, pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh quy định ngưỡng doanh thu thuộc diện chịu thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh là trên 100 triệu đồng/ năm là chưa hợp lý và thiếu công bằng Theo quy định tại Khoản 2 Điều 10 Luật sửa đổi một số điều các luật về thuế năm 2014 thì: Doanh thu để tính thuế là toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền hoa hồng, tiền cung ứng dịch vụ phát sinh trong kỳ tính thuế từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ (không tính trừ các chi phí của hoạt động sản xuất kinh doanh) Trong khi đó, với cá nhân làm công ăn lương, ngưỡng chịu thuế thu nhập cá nhân từ ngày 1-7-2014 đã được điều chỉnh tăng Trong đó, mức giảm trừ gia cảnh cho bản thân tăng từ 4 triệu đồng lên 9 triệu đồng, mức giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc tăng từ 1,2 triệu đồng lên 3,6 triệu đồng/người Điều đó có nghĩa là tính trung bình, một cá nhân kinh doanh chỉ được giảm trừ 8.3 triệu/tháng, trong khi đó cá nhân làm công ăn lương là

9 triệu/tháng Nếu cá nhân có một người phụ thuộc thì mức thu nhập không phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với người làm công ăn lương là 151,2 triệu đồng/năm Như vậy rõ ràng ngưỡng doanh thu để chịu thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh là 100 triệu đồng/năm là quá thấp và thiếu công bằng Điều này sẽ hạn chế nguồn lực của các cá nhân kinh doanh, khiến cho các cá nhân kinh doanh khó

có thể mở rộng các hoạt động sản xuất kinh doanh Đồng thời quy định này cũng không đảm bảo được sự tương quan phù hợp về mức giảm trừ giữa cá nhân kinh doanh và các cá nhân có thu nhập chịu thuế khác

Thứ hai, cá nhân không cư trú là người không đáp ứng đủ các điều kiện đối với cá nhân cư trú do pháp luật quy định

Trang 36

Như vậy, dấu hiệu để phân biệt chủ thể nộp thuế là người cư trú hay không cư trú căn cứ vào mức độ xuất hiện thường xuyên của cá nhân trên lãnh thổ Việt Nam Quy định này là phù hợp với thông lệ quốc tế Đa số các nước trên thế giới quy định, đối tượng cư trú là những người có thời gian sinh sống ở nước sở tại trên 182 hoặc trên 183 ngày trong năm tính thuế ( có thể là năm dương lịch hoặc năm tài chính) hoặc trong khoảng 12 tháng liên tục Nếu không thỏa mãn điều kiện trên thì được coi là đối tượng không cư trú Các nước áp dụng nguyên tắc này là Nhật Bản, Trung Quốc, Philipine, Malaysia, Thái Lan, Nga, Thụy Điển… Ví dụ cụ thể của một số nước quy định như:

Nhật Bản: Đối tượng nộp thuế TNCN là những cá nhân cư trú và không cư trú tại

Nhật Bản Trong đó, cá nhân cư trú tại Nhật Bản là những người đã sống từ lâu hay đã và đang định cư tại Nhật trong một thời gian dài liên tục từ một năm trở lên Cá nhân không

cư trú tại Nhật Bản là người có thời gian cư trú tại Nhật được 1 năm

Philipine: Đối tượng nộp thuế TNCN tại Philipine bao gồm cả các cá nhân cư

trú và không cư trú Trong đó công dân cư trú là đối tượng chịu thuế thu nhập có nguồn gốc từ nước ngoài Công dân không cư trú, người nước ngoài cư trú hoặc người nước ngoài không cư trú là đối tượng chịu thuế đối với phần thu nhập phát sinh tại Philipine

Trung Quốc: đối tượng nộp thuế TNCN là các cá nhân có chỗ ở hoặc không

có chỗ ở trong nước Trung Quốc, mà cư trú tại Trung Quốc đủ 1 năm, thì phải nộp thuế đối với toàn bộ thu nhập của người đó nhận được từ trong và ngoài nước Trung Quốc Cá nhân không có chỗ ở tại Trung Quốc mà cư trú dưới 1 năm thì phải nộp thuế đối với thu nhập phát sinh từ Trung Quốc

Bên cạnh đó, so với các văn bản pháp luật trước về đối tượng nộp thuế thì quy định hiện nay về chủ thể nộp thuế thu nhập cá nhân đã định nghĩa rõ hơn đối tượng

cư trú ( đối tượng phải nộp thuế TNCN cho Việt Nam đối với toàn bộ thu nhập, kể

cả thu nhập phát sinh ở Việt Nam và nước ngoài) Nếu như trước đây, đối tượng cư trú chỉ là cá nhân có mặt ở Việt Nam từ 183 ngày trở lên trong năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ khi đến Việt Nam thì Luật thuế TNCN đã bổ sung

Trang 37

thêm một điều kiện nữa được coi là cư trú ở Việt Nam, đó là: “ cá nhân có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở thường trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn” Như vậy, việc bổ sung này làm cho việc xác định đối tượng nộp thuế TNCN được thuận lợi hơn, bao quát hết đối tượng nộp thuế và mở rộng đối tượng nộp thuế TNCN một cách hợp lý

Do Luật không quy định cụ thể về nhóm cá nhân kinh doanh và thời hạn của hợp đồng thuê nhà nên trong quá trình triển khai, Nghị định và Thông tư căn cứ pháp luật về cư trú, về nhà ở đã hướng dẫn mở rộng điều kiện về nhóm chủ thể này

Cụ thể:

Thứ nhất, quy định về người nộp thuế là cá nhân cư trú có hoạt động kinh doanh

Khoản 1 Điều 1 Thông tư 92/2015/TT-BTC ngày 15/06/2015 hướng dẫn thực hiện thuế GTGT và thuế TNCN đối với cá nhân cư trú có hoạt động kinh doanh ( sau đây gọi là Thông tư 92/2015/TT-BTC) quy định rõ: người nộp thuế là cá nhân

cư trú có hoạt động kinh doanh bao gồm cá nhân, nhóm cá nhân và hộ gia đình có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc tất cả các lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật Như vậy, pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh xác định không chỉ cá nhân có thu nhập từ kinh doanh phải nộp thuế mà nhóm cá nhân và hộ gia đình có thu nhập từ kinh doanh cũng phải nộp thuế TNCN đối với thu nhập đó Đồng thời Điều 1 Thông tư 111/2013/TT-BTC còn quy định rõ trách nhiệm nộp thuế với từng đối tượng này

Cụ thể như sau:

Một là, trường hợp chỉ có một người đứng tên trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì người nộp thuế là cá nhân đứng tên trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

Hai là, trường hợp nhiều người cùng đứng tên trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (nhóm cá nhân kinh doanh), cùng tham gia kinh doanh thì người nộp thuế là từng thành viên có tên trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

Ba là, trường hợp trong một hộ gia đình có nhiều người cùng tham gia kinh doanh nhưng chỉ có một người đứng tên trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì

Trang 38

người nộp thuế là cá nhân đứng tên trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Bốn là, trường hợp cá nhân, hộ gia đình thực tế có kinh doanh nhưng không có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (hoặc Chứng chỉ, Giấy phép hành nghề) thì người nộp thuế là cá nhân đang thực hiện hoạt động kinh doanh

Ba là, đối với hoạt động cho thuê nhà, quyền sử dụng đất, mặt nước, tài sản khác không có đăng ký kinh doanh, người nộp thuế là cá nhân sở hữu nhà, quyền sử dụng đất, mặt nước, tài sản khác Trường hợp nhiều cá nhân cùng sở hữu nhà, quyền sử dụng đất, mặt nước, tài sản khác thì người nộp thuế là từng cá nhân có quyền sở hữu, quyền sử dụng

Như vậy, pháp luật thuế TNCN đã xác định cụ thể nghĩa vụ nộp thuế cho các chủ thể là cá nhân cư trú có hoạt động kinh doanh Việc xác định rõ ràng nghĩa vụ thuế TNCN cho cá nhân kinh doanh, người đại diện hộ kinh doanh, nhóm kinh doanh là phù hợp với các quy định của pháp luật có liên quan như Luật dân sự, Luật thương mại… Đồng thời còn giúp nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý thuế TNCN, rút ngắn thời gian thu thuế TNCN

Thứ hai, quy định về thời hạn của hợp đồng thuê nhà

Theo Khoản 2 Điều 2 NĐ 65/2012/NĐ – CP thì cá nhân cư trú bao gồm cả cá nhân có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở, với thời hạn của các hợp đồng thuê từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế Như vậy, quy định này là cụ thể và phù hợp với các quy định của pháp luật về cư trú và nhà ở Điều này sẽ khiến cho việc xác định chủ thể nộp thuế là cá nhân cư trú có thu nhập

từ kinh doanh sẽ đơn giản hơn đồng thời việc quản lý thuế đối với thuế TNCN sẽ hiệu quả hơn

Với hai chủ thể là cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú, pháp luật thuế TNCN đã đặt ra các quy định khác nhau để điều chỉnh hoạt động thu, nộp thuế của hai chủ thể này

2.1.3 Phương pháp tính thuế và căn cứ tính thuế

Trang 39

Pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh đưa ra các quy định khác nhau giữa cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú về phương pháp tính thuế và căn

cứ tính thuế Cụ thể:

 Đối với cá nhân cư trú

Hiện nay, cá nhân cư trú thực hiện hoạt động kinh doanh với ngành nghề, lĩnh vực vô cùng đa dạng Đồng thời hoạt động kinh doanh của các cá nhân thực hiện cũng tương đối khác nhau tuỳ quy mô, cách thức hoạt động Chính sự đa dạng này

mà pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh đã đưa ra những phương pháp tính thuế và căn cứ tính thuế khác nhau Theo đó, pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh sử dụng các phương pháp tính thuế sau:

Thứ nhất, phương pháp khoán

Pháp luật thuế TNCN sử dụng phương pháp khoán để tính thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh hay còn gọi là thuế khoán Thuế khoán là hình thức thu thuế với một mức thuế có giá trị cố định Mức thuế khoán do cơ quan thuế quy định, dựa trên doanh thu từ kinh doanh để đề ra mức thuế khoán phù hợp Thông thường hình thức này áp dụng cho hộ kinh doanh nhỏ bởi không có chứng từ xác định được giá trị mua vào và bán ra nên áp dụng theo hình thức doanh thu khoán Cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán là cá nhân kinh doanh có phát sinh doanh thu từ kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc tất cả các lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, kinh doanh trừ trường hợp

cá nhân nộp thuế theo phương pháp khác Pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh cũng quy định khá chi tiết về các cách xác định thuế khoán như đối với trường hợp kinh doanh không trọn năm, ngừng kinh doanh,…

Căn cứ tính thuế đối với cá nhân nộp thuế khoán là doanh thu tính thuế và tỷ lệ thuế tính trên doanh thu Trong đó, doanh thu tính thuế TNCN là doanh thu bao gồm thuế (trường hợp thuộc diện chịu thuế) của toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền hoa hồng, tiền cung ứng dịch vụ phát sinh trong kỳ tính thuế từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.Trường hợp cá nhân nộp thuế khoán

có sử dụng hóa đơn của cơ quan thuế thì doanh thu tính thuế được căn cứ theo doanh thu khoán và doanh thu trên hóa đơn Doanh thu khoán được căn cứ dựa trên bảng kê khai của chủ cơ sở và sự thẩm định của đội thuế phường Tùy thuộc vào

Trang 40

mặt hàng kinh doanh và vị trí kinh doanh, các đội thuế phường sẽ xây dựng nên mức doanh thu khoán làm cơ sở để đánh thuế Với các mức doanh thu khoán khác nhau sẽ có mức thu thuế khoán khác nhau

Pháp luật cũng quy định trường hợp cá nhân được xác định lại thuế khoán Theo Điểm c, Khoản 4 Điều 6 Thông tư 92/2015/TT-BTC quy định: “Cá nhân nộp thuế khoán trong năm có thay đổi về hoạt động kinh doanh (ngành nghề, quy mô, địa điểm ) thì phải khai điều chỉnh, bổ sung để cơ quan thuế có cơ sở xác định lại doanh thu khoán, mức thuế khoán và các thông tin khác về cá nhân kinh doanh cho thời gian còn lại của năm tính thuế Trường hợp cá nhân kinh doanh không thay đổi

về ngành nghề kinh doanh thì cơ quan thuế chỉ xác định lại doanh thu khoán để áp dụng cho thời gian còn lại của năm tính thuế nếu qua số liệu xác minh, kiểm tra, thanh tra có căn cứ xác định doanh thu khoán thay đổi từ 50% trở lên so với mức doanh thu đã khoán Trường hợp có thay đổi ngành nghề kinh doanh thì thực hiện điều chỉnh bổ sung theo thực tế của ngành nghề kinh doanh thay đổi” Như vậy nếu

có thay đổi ngành nghề hoặc doanh thu thay đổi từ 50% trở lên so với doanh thu đã khoán, thì cá nhân kinh doanh vẫn được xác định lại doanh thu khoán

Căn cứ thứ hai để xác định thuế khoán là tỷ lệ thuế tính trên doanh thu được xác định đối với từng ngành nghề lĩnh vực kinh doanh như sau:

- Phân phối, cung cấp hàng hóa: tỷ lệ thuế thu nhập cá nhân là 0,5%

- Dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu: tỷ lệ thuế thu nhập cá nhân là 2%

- Sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hóa, xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu: tỷ lệ thuế thu nhập cá nhân là 1,5%

- Hoạt động kinh doanh khác: tỷ lệ thuế thu nhập cá nhân là 1%

Ngoài ra, pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh cũng quy định đối với trường hợp cá nhân kinh doanh nhiều lĩnh vực, ngành nghề thì cá nhân thực hiện khai thuế và tính thuế theo tỷ lệ thuế tính trên doanh thu đối với từng lĩnh vực, ngành nghề Tỷ lệ thuế tính trên doanh thu được xây dựng dựa trên biểu thuế thu nhập doanh nghiệp, trong đó đã tính một phần chi phí khi tiến hành hoạt động kinh

Ngày đăng: 23/04/2020, 10:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w