Đề tài sẽ góp phần giúp công ty hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất trên các quan điểm khoa học hơn so với việc xây dựng trước đây và phù hợp với thực tế, mà điều quan trong nhất c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
-
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN HÓA CHẤT
HƯNG PHÁT HÀ BẮC
PHẠM HOÀNG HƯNG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả của đề tài “Hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất tại Công ty
Cổ phần Hóa chất Hưng Phát Hà Bắc” xin cam đoan đây là công trình do tác giả
nghiên cứu các tài liệu, thông tin trong môi trường vĩ mô, môi trường ngành và nghiên cứu, thu thập các số liệu thực tế trong dây chuyền sản xuất Ôxy già tại Công
ty Cổ phần Hóa chất Hưng Phát Hà Bắc Vận dụng các kiến thức, nguyên lý được tiếp nhận, thu nạp trong quá trình học tập để nhận ra điểm mạnh, điểm yếu trong công tác lập kế hoạch sản xuất, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất cho Công ty với mong muốn nâng cao hiệu quả trong sản xuất – kinh doanh, giúp Công ty phát triển bền vững Muốn tồn tại và phát triển bền vững các doanh nghiệp phải đủ sức cạnh tranh trên thị trường, phải giải quyết được mâu thuẫn giữa khả năng có hạn của doanh nghiệp và đòi hỏi vô hạn của thị trường, cho hiện tại và tương lai Đề tài này hoàn toàn không sao chép của bất kỳ ai
NGƯỜI CAM ĐOAN
Phạm Hoàng Hưng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thiện đề tài của mình, tôi đã nhận được sự giúp đỡ hướng dẫn tận tình của PGS,TS Trần Thị Bích Ngọc và các Thầy, Cô trong Trường Đại Học Mở Hà Nội, cùng các phòng Nghiệp vụ tổng hợp, phòng Kỹ thuật tổng hợp, phòng Tổ chức hành chính, phòng Kế toán tài chính, Xưởng sản xuất Ôxy già tại công ty cổ phần Hóa Chất Hưng Phát Hà Bắc và một số Phòng chuyên môn của công ty Đạm Hà Bắc
Qua đề tài này tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô trong Trường Đại Học
Mở Hà Nội, đặc biệt là PGS,TS Trần Thị Bích Ngọc, cùng tập thể cán bộ công ty
cổ phần Hóa Chất Hưng Phát Hà Bắc đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài cũng như hoàn thiện thêm kiến thức chuyên môn của mình
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ HOẠCH SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP 5
1.1 Tổng quan về kế hoạch 5
1.1.1 Khái niệm về kế hoạch 5
1.1.2 Phân loại kế hoạch 7
1.1.3 Tầm quan trọng của lập kế hoạch 10
1.2 Kế hoạch sản xuất 14
1.2.1 Bản chất kế hoạch sản xuất 14
1.2.2 Phân loại kế hoạch sản xuất 16
1.2.3 Các căn cứ lập kế hoạch sản xuất 25
1.2.4 Đánh giá chất lượng kế hoạch 29
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 34
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN HÓA CHẤT HƯNG PHÁT HÀ BẮC 35
2.1 Khái quát chung về công ty cổ phần Hóa chất Hưng phát Hà Bắc 35
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty 35
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của công ty 36
2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty 38
2.1.4 Sản phẩm chính của công ty 45
2.1.5 Đặc điểm về các nguồn lực 46
2.1.6 Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty 50
Trang 62.2 Phân tích thực trạng công tác lập kế hoạch sản xuất tại công ty cổ phần Hóa
chất Hưng Phát Hà Bắc 52
2.2.1 Hệ thống kế hoạch tại công ty cổ phần Hóa chất Hưng Phát Hà Bắc 52
2.2.2 Phân tích về bộ máy lập kế hoạch sản xuất 55
2.2.3 Phân tích quy trình lập kế hoạch sản xuất tại công ty 57
2.2.4 Phân tích chất lượng kế hoạch ngắn hạn của công ty 78
2.3 Đánh giá chung về công tác lập kế hoạch sản xuất tại công ty cổ phần Hóa chất Hưng Phát Hà Bắc 90
2.3.1.Ưu điểm 90
2.3.2 Tồn tại và nguyên nhân trong công tác lập kế hoạch sản xuất 91
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 92
CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN HÓA CHẤT HƯNG PHÁT HÀ BẮC 93
3.1 Một số định hướng và mục tiêu chiến lược của công ty trong thời gian tới 93
3.1.1 Định hướng về nguồn nguyên liệu, nhiên liệu 94
3.1.2 Định hướng sản xuất các sản phẩm 95
3.1.3 Định hướng thị trường tiêu thụ 96
3.2 Giải pháp hoàn hiện công tác lập kế hoạch sản xuất tại công ty cổ phần Hóa chất Hưng Phát Hà Bắc 98
3.2.1 Giải pháp nâng cao chất lượng công tác dự báo 98
3.2.2 Giải pháp nâng cao chất lượng báo cáo sản xuất, đánh giá theo dõi quá trình sản xuất 101
3.2.3 Giải pháp nâng cao trình độ đội ngũ lập kế hoạch sản xuất và kiểm soát quá trình sản xuất 103
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 105
KẾT LUẬN 106 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7(Hệ thống điều khiển phân tán)
EPC
Engineering Procurenment Construction (Hợp đồng thiết kế - cung cấp thiết bị công nghệ - thi công xây dựng công trình)
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Hình 1.1: Sơ đồ các cấp độ kế hoạch 7
Hinh 1.2: Quá trình sản xuất 15
Hình 1.3: Sơ đồ quy trình kế hoạch PDCA 18
Hình 2.1: Sơ đồ bộ máy quản lý công ty năm 2017 38
Hình 2.2: Biểu đồ thời gian sản xuất trong từng năm theo kế hoạch và thực hiện 51
Hình 2.3: Biều đồ tiêu thụ sản phẩm theo kế hoạch và thực hiện 52
Hình 2.4: Sơ đồ bộ máy lập KHSX năm 2017 55
Hình 2.5: Quy trình soạn thảo kế hoạch sản xuất- kinh doanh năm 2017 57
Hình 2.6: Quy trình triển khai, theo dõi và điều chỉnh KHSX năm 2017 58
Hình 2.7: Phiếu nhập vật tƣ mua về kho 73
Hình 2.8: Phiếu xuất vật tƣ phục vụ sản xuất 74
Hình 2.9: Đồ thị biểu diễn kế hoạch sản lƣợng sản xuất trong quý IV năm 2017 83
Hình 2.10: Đồ thị biễu diễn mức độ hoàn thành kế hoạch sản lƣợng nồng độ 50% quý IV năm 2017 84
Hình 2.11: Đồ thị kế hoạch tiêu thụ sản phẩm các nồng độ khác nhau và thực tế tiêu thụ Quý IV năm 2017 86
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Danh mục sản phẩm Ôxy già năm 2016 46
Bảng 2.2: Cơ cấu lao động theo trình độ học vấn 47
Bảng 2.3: Cơ cấu lao động theo độ tuổi và giới tính 47
Bảng 2.4: Kết quả sản xuất – kinh doanh từ năm 2015 đến năm 2017 50
Bảng 2.5: Danh mục các kế hoạch sản xuất của công ty Hưng Phát năm 2017 53
Bảng 2.6: Kế hoạch sản xuất- kinh doanh năm 2017 so với thực hiện năm 2016 60
Bảng 2.7: Kế hoạch sản xuất và công nghệ năm 2017 61
Bảng 2.8: Kế hoạch sản xuất và sản lượng Quý IV năm 2017 62
Bảng 2.9: Kế hoạch tiêu thụ sản phẩm Quý IV năm 2017 64
Bảng 2.10: Nhu cầu sử dụng nguyên vật liệu năm 2017 với sản lượng sản xuất đạt 8500 tấn Oxy già nồng độ 50% 65
Bảng 2.11: Kế hoạch lao động - tiền lương năm 2017 66
Bảng 2.12: Bảng cân đối kế hoạch NVL cho tháng 12 năm 2017 70
Bảng 2.13: Kế hoạch sản xuất tuần từ ngày 4 đến ngày 10 tháng 12 năm 2017 71
Bảng 2.14: Báo cáo kết quả sản xuất của ngày 12/12/2017 77
Bảng 2.15: Bảng so sánh nguyên liệu khí H2 cần mua theo kế hoạch và thực tế mua được của quý IV năm 2017 80
Bảng 2.16: Bảng so sánh thời gian sản xuất theo kế hoạch và thực tế sản xuất của quý IV năm 2017 81
Bảng 2.17: Bảng so sánh giữa kế hoạch sản lượng sản xuất và thực tế sản lượng sản xuất quý IV năm 2017 82
Bảng 2.18: Kiểm tra sai số sản lượng sản xuất sản phẩm Ôxy già nồng độ 50% 84
Bảng 2.19: Kiểm tra sai số sản lượng tiêu thụ sản phẩm Ô xy già Quý IV năm 2017 87
Bảng 2.20: Bảng hiệu suất do lỗi thiết bị quý IV năm 2017 89
Bảng 3.1: Bảng cơ cấu tỷ lệ sản phẩm sẽ phát triển tới năm 2020 của công ty 96
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động sản xuất trong một doanh nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp, rất lớn tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp đó Trong môi trường kinh doanh ngày nay thị trường luôn luôn thay đổi dẫn tới phá vỡ sự cứng nhắc của các kế hoạch sản xuất trong doanh nghiệp Do vậy mỗi doanh nghiệp phải tìm các giải pháp linh hoạt, đủ hữu hiệu nhằm thích ứng với những thay đổi của thị trường Đặc biệt trong xu
hướng hội nhập kinh tế khu vực và thế giới (ví dụ: gần đây nhất là hiệp định
CPTPP mà Việt Nam vừa ký kết), muốn tồn tại và phát triển bền vững các doanh
nghiệp không những phải đủ sức cạnh tranh trên thị trường nội địa mà phải có khả năng thích ứng vươn ra thị trường quốc tế, nhằm mục đích duy nhất là làm sao doanh nghiệp có thể giải quyết được mâu thuẫn giữa khả năng có hạn của doanh nghiệp và đòi hỏi vô hạn của thị trường, cho cả hiện tại và tương lai
Trong bất kỳ một doanh nghiệp nào thì công việc lập kế hoạch là chức năng đầu tiên của quá trình quản trị, công việc này đóng vai trò rất quan trọng Lập kế hoạch gắn liền với việc lựa chọn mục tiêu và chương trình thực hiện trong tương lai,
là cơ sở để xác định và triển khai các chức năng tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra Khi chất lượng công tác lập kế hoạch sản xuất - kinh doanh được nâng cao, sát thực tế, chặt chẽ, lô gich thì doanh nghiệp đó sẽ đạt được hiệu quả cao trong kinh doanh Những năm gần đây, công tác lập kế hoạch đã có nhiều sự đổi mới tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề bất cập, đòi hỏi phải được tiếp tục tìm các giải pháp hoàn thiện trên nhiều phương diện khác nhau từ nhận thức của người lập đến nội dung và phương pháp lập kế hoạch
Dự án đầu tư xây dựng dây chuyền sản xuất Ôxy già công suất 10.000 tấn/năm, sản phẩm nồng độ 50% của Công ty Cổ phần Hóa chất Hưng Phát Hà Bắc chính thức được khởi công xây dựng vào ngày 19/01/2010 sau 3 năm xây dựng đến
công ty duy nhất trên lãnh thổ Việt Nam sản xuất ra sản phẩm Ôxy già cung cấp cho ngành công nghiệp: giấy, dệt may, tẩy rửa, xử ký môi trường….nhằm đặt lợi ích của
Trang 11công ty nằm trong lợi ích chung của quốc gia Hiện nay với tình hình kinh tế, thông thương hàng hóa giữa các quốc gia công ty đang phải gồng mình để thích nghi với những quy luật cạnh tranh của thị trường Trong những quy luật cạnh tranh đó công
ty không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm và đáp ứng nhu cầu từ thị trường với mục tiêu đảm bảo thu lợi nhuận, tạo việc làm ổn định cho người lao động, đảm bảo
cổ tức cho các cổ đông và thực hiện các nghĩa vụ với Nhà nước đáp ứng tiêu chí “
người Việt Nam dùng hàng Việt Nam”
Nhằm phát triển bền vững công ty và cũng chính vì sự quan trọng, phức tạp của công tác lập kế hoạch trong quá trình sản xuất mà công ty đang gặp phải Bởi
vậy nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất tại Công ty Cổ
phần Hóa chất Hưng Phát Hà Bắc” trở nên cấp thiết và hữu dụng hơn bao giờ hết
Đề tài sẽ góp phần giúp công ty hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất trên các quan điểm khoa học hơn so với việc xây dựng trước đây và phù hợp với thực tế, mà điều quan trong nhất chính là giúp công ty nâng cao được năng lực quản trị, tiết kiệm chi phí trong sản xuất, tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao, giá thành thấp hơn nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường trong nước và khu vực
2 Tổng quan nghiên cứu
Hiện nay tài liệu về Quản trị sản xuất có nhiều tác giả viết như Nguyễn Văn Nghiến với cuốn sách Quản lý sản xuất và tác nghiệp( xuất bản năm 2009 )và các tác giả Trương Đức Lực & Nguyễn Đình Trung với cuốn sách Giáo trình Quản trị tác nghiệp (xuất bản năm 2010) đã trình bày các khái niệm cơ bản và hệ thống kế hoạch sản xuất, các công cụ định lượng phục vụ cho công tác hoạch định sản xuất Ngoài ra còn rất nhiều sách xuất bản trên thế giới về quản trị sản xuất, quản trị tác nghiệp cũng trình bày các cơ sở lý luận quan trọng liên quan đến hệ thống cùng các
Bên cạnh đó một số đề tài nghiên cứu liên quan đến hoàn thiện công tác lập
kế hoạch trong sản xuất, kinh doanh như:
Nguyễn Huy Chung - Luận Văn Thạc sĩ khoa học Quản trị kinh doanh(năm 2012) về “ Lập kế hoạch kinh doanh cho Công ty cổ phần đầu tư CEO”
Trang 12Nguyễn Thị Bích Hạnh - Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh (năm 2013)
“ Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất tại Công ty
TNHH một TV Hóa chất 21”
Phạm Văn Ngọc - Luận Văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh (Năm 2016)
“ Hoạch định chiến lược kinh doanh của Công ty cổ phần Kim Khí Hà Nội giai
đoạn 2016 đến 2020”
Các đề tài đều đưa ra quan điểm: Trong xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá của
nền kinh tế thế giới như hiện nay, cạnh trong trong sản xuất kinh doanh là vô cùng
gay gắt quyết liệt Các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển trên thương trường
tất yếu phải cạnh tranh thăng lợi trước các doanh nghiệp khác bằng việc bảo đảm
hiệu quả sản xuất kinh doanh là cao nhất có thể Để đạt được hiệu quả sản xuất kinh
doanh cao phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có việc doanh nghiệp phải xây dựng
cho mình một kế hoạch sản suất kinh doanh rõ ràng và khả thi Không một tổ chức
nào thành công mà không có một kế hoạch rõ ràng, chi tiết, khả thi
Các đề tài đã hệ thống hoá lý luận cơ bản về công tác xây dựng kế hoạch sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp; Phân tích và đánh giá thực trạng công tác xây
dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp, từ đó đưa ra các đề xuất,
giải pháp nhằm hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh cho từng
doanh nghiệp trong hiện tại và tương lai
Việc điểm qua tình hình nghiên cứu cho thấy, có khá nhiều đề tài nghiên cứu
về các khía cạnh khác nhau của công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh trong
doanh nghiệp Tuy nhiên tại mỗi doanh nghiệp sẽ có những mặt thuận lợi và khó
khăn khác nhau do vậy từng doanh nghiệp sẽ có các giải pháp khác nhau cần đưa ra
để ứng phó với những bất định và thay đổi của thị trường đảm bảo khai thác hết các
nguồn lực, tâp trung chúng vào việc thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp
3 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất của Công ty cổ
phần Hóa chất Hưng Phát Hà Bắc
Trang 134 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Công tác lập kế hoạch sản xuất tại Công ty cổ phần Hóa chất Hưng Phát Hà Bắc
Phạm vi nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu kế hoạch sản xuất ngắn hạn (kế hoạch quý, tháng, tuần, ngày) xác định rõ hạn chế, yếu kém để khắc phục nhằm lập
ra kế hoạch sản xuất ngắn hạn có độ chính xác, tin cậy cao và thực tế Bản kế hoạch sản xuất ngắn hạn sẽ là căn cứ để lập kế hoạch sản xuất trung hạn và dài hạn, do vậy
đề tài không nghiên cứu kế hoạch sản xuất trung hạn và dài hạn Số liệu phân tích được tập hợp trong thời gian từ năm 2015 đến hết năm 2017 và giải pháp xem xét đến năm 2025
5 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng các phương pháp phân tích so sánh, phân tích hệ thống số liệu thống
kê, phân tích theo mục tiêu kế hoạch trong công tác kế hoạch sản xuất tại Công ty
cổ phần Hóa chất Hưng Phát Hà Bắc nhằm làm rõ thực trạng và các nguyên nhân của các tồn tại làm căn cứ để đưa ra các giải pháp trong công tác kế hoạch sản xuất
6 Nội dung của đề tài
Kết cấu đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về kế hoạch, kế hoạch sản xuất trong doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng công tác lập kế hoạch sản xuất tại Công ty cổ phần Hóa
chất Hưng Phát Hà Bắc
Chương 3: Hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất tại Công ty cổ phần
Hóa chất Hưng Phát Hà Bắc
Trang 14CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ LẬP KẾ HOẠCH SẢN XUẤT TRONG
DOANH NGHIỆP
1.1 Tổng quan về kế hoạch
1.1.1 Khái niệm về kế hoạch
Trước khi thực hiện một công việc con người thường có những kế hoạch trong đầu hoặc cả một bản kế hoạch chính thức được trình bày một cách bài bản Để có kế
cũng như thực hiện các quyết định chiến lược, nó có thể là công cụ quản lý không thể thiếu được đối với đối tượng này, nhưng lại là thủ phạm của sự cứng nhắc đối với đối tượng khác
Xây dựng kế hoạch trong doanh nghiệp bao gồm hai mặt: lập ra kế hoạch hoạt động và tổ chức thực hiện kế hoạch đó Công tác lập kế hoạch trong doanh nghiệp chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong mọi hoạt động của doanh nghiệp Bởi nếu không có kế hoạch trước thì doanh nghiệp không thể thực hiện được bất cứ việc gì
có hiệu quả cao được
Lập kế hoạch là xuất phát điểm của quá trình quản trị, bởi nó gắn liền với việc lựa chọn mục tiêu và chương trình hành động trong tương lai Trong quản trị chúng ta biết rằng có bốn chức năng cơ bản đó là lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra Trong đó lập kế hoạch là chức năng khởi đầu và trọng yếu đối với tất cả các nhà quản trị trong doanh nghiệp, vì dựa vào nó mà các nhà quản trị mới xác định được các chức năng còn lại khác nhằm đạt được các mục tiêu đề
ra
Lập kế hoạch sản xuất là một phạm trù trong lập kế hoạch nói chung
Có nhiều khái niệm về lập kế hoạch Mỗi khái niệm có cách tiếp cận từ góc độ khác nhau
- Với cách tiếp cận theo quá trình cho rằng: Kế hoạch sản xuất kinh doanh là
quá trình liên tục với chất lượng ngày càng tăng kể từ khi chuẩn bị xây dựng cho tới lúc chuẩn bị tổ chức thực hiện kế hoạch, nhằm đưa hoạt động của doanh nghiệp theo đúng mục tiêu đã định
Trang 15Theo Steyner (Strategic planning, 1979) thì: “Công tác lập kế hoạch là một quá trình bắt đầu từ việc thiết lập các mục tiêu, quyết định các chiến lược, các chính sách, kế hoạch chi tiết để đạt được mục tiêu Nó cho phép thiết lập các quyết định khả thi và nó bao gồm chu kỳ mới của việc thiết lập mục tiêu và quyết định chiến lược nhằm hoàn thiện hơn nữa”
- Với cách tiếp cận theo nội dung và vai trò:
Theo Ronner: Hoạt động của công tác lập kế hoạch là một trong những hoạt động nhằm tìm ra con đường để huy động và sử dụng các nguồn lực một cách
có hiệu quả để phục vụ các mục tiêu kinh doanh
Theo Henrypayh: Kế hoạch là một trong những hoạt động cơ bản của chu trình quản lý cấp công ty, xét về mặt bản chất hoạt động này nhằm xem xét các mục tiêu các phương án kinh doanh, bước đi trình tự và cách tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh
- Với cách tiếp cận từ góc độ chức năng: lập kế hoạch sản xuất là vấn đề cơ
bản nhất trong các chức năng quản lý, bởi vì nó gắn liền với việc lựa chọn chương trình hành động trong tương lai Chẳng những lập kế hoạch là một chức năng quản
lý cơ bản của các nhà quản trị trong một tổ chức, mà các chức năng còn lại của nhà quản trị cũng phải dựa trên nó để tiến hành cho tốt
Như vậy, lập kế hoạch chính là quá trình xác định các mục tiêu của doanh nghiệp và phương thức tốt nhất để đạt được các mục tiêu đó
Lập kế hoạch có nghĩa là cần phải xác định mục tiêu làm cái gì? Khi nào làm? Làm ở đâu? và Tại sao làm Nó không chỉ bao gồm các sự việc mới mà còn là những ý tưởng phù hợp và khả năng phải làm gì, nó sẽ làm cho các công việc xảy ra thực hiện theo đúng mục đính của người lập kế hoạch mà không phát sinh gì trong việc thực hiện công việc đó Mặc dù chúng ta ít khi dự đoán được một tương lai chính xác, các sự kiện chưa biết trước có thể gây trở ngại hoặc cũng có thể thêm thuận lợi cho kế hoạch đã định trước, nhưng nếu không có một kế hoạch thì hành động của con người sẽ đi đến chỗ vô mục đích, mất phương hướng dẫn đến mất khả năng tự chủ
Ta có thể hiểu rằng, việc lập kế hoạch sản xuất là phải xác định trước một cách
có hệ thống tất cả những công việc cần và phải cố gắng làm được, nhằm đạt được
Trang 16những mục tiêu cuối cùng của công tác triển khai sản xuất Điều này ảnh hưởng rất lớn đến các mục tiêu: năng suất, chất lượng của sản phẩm; thời gian giao hàng; lợi nhuận; uy tín của doanh nghiệp Đây là một chương trình hành động trong mọi doanh nghiệp, nói một cách rõ ràng hơn: Việc lập kế hoạch sản xuất là xây dựng lên các công việc cụ thể và đưa ra các tiến trình thực hiện chúng phù hợp với các điều kiện đã có sẵn và các điều kiện có thể đạt được nhằm đạt được mục tiêu doanh nghiệp
1.1.2 Phân loại kế hoạch
Hệ thống kế hoạch của một doanh nghiệp là tập hợp của nhiều loại kế hoạch khác nhau có mối liên hệ logic chặt chẽ với nhau theo một định hướng chung nhất định nhằm thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp
Các kế hoạch của một doanh nghiệp được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau Theo mỗi tiêu thức phân loại thì lại có một hệ thống kế hoạch khác nhau
1.1.2.1 Theo mức độ tổng quát (được thể hiện trong hình 1.1)
Trang 17a) Sứ mệnh
Sứ mệnh là một bức thông điệp thể hiện lý do tồn tại của một doanh nghiệp,
sứ mệnh sẽ trả lời cho câu hỏi: doanh nghiệp tồn tại vì mục đích nào? Một doanh nghiệp khi thành lập trước hết đều phải xác định được sứ mệnh của mình Sứ mệnh của một doanh nghiệp được đặt ra trên cơ sở xác định những lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp đó và được thể hiện trong nội dung giấy phép kinh doanh Sứ mệnh của doanh nghiệp bao gồm hai loại sau:
- Sứ mệnh được công bố: là sứ mệnh được thông tin cho mọi người một cách công khai, thông qua thị trường để doanh nghiệp đạt được mục tiêu, nó được thể hiện thông qua các khẩu hiệu, các triết lý kinh doanh, đối với Công ty cổ phần Hóa chất Hưng Phát Hà Bắc là: Doanh nghiệp vì môi trường xanh - phát triển bền vững
- Sứ mệnh không được công bố: là thể hiện lợi ích tối đa của doanh nghiệp Như vậy, có thể nói sứ mệnh là cơ sở đầu tiên để xác định mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp, là phương hướng phấn đấu của doanh nghiệp trong thời gian tồn tại là cơ sở để xác định phương thức hành động của doanh nghiệp và ngày nay xu hướng chung các doanh nghiệp cố gắng làm cho hai loại sứ mệnh này xích lại gần nhau
b) Kế hoạch chiến lược
Kế hoạch chiến lược là những kế hoạch thực hiện các mục tiêu tổng thể, dài hạn và phương thức tối ưu được đưa ra ở cấp độ thực hiện đồng bộ trong toàn doanh nghiệp trên cơ sở các phân tích môi trường, vị trí của doanh nghiệp, đây là nhiệm vụ của các nhà quản trị cấp cao xây dựng cho doanh nghiệp nhằm phát triển bền vững doanh nghiệp đó
Trang 18những hoạt động hàng năm, hàng quý, hàng tháng, hàng tuần gồm các kế hoạch: sử dụng nguyên vật liệu, huy động máy móc thiết bị, nhân công, cân đối tài chính, tiêu thụ sản phẩm Kế hoạch tác nghiệp đôi khi còn được gọi là kế hoạch hành độngnhằm mục đích bảo đảm cho mọi người trong doanh nghiệp đều hiểu về các mục tiêu của doanh nghiệp và xác định rõ trách nhiệm của từng các nhân trong việc thực hiện mục tiêu chung đó Các kế hoạch tác nghiệp chỉ liên quan đến những người trong cùng doanh nghiệp Theo sơ đồ trên thì kế hoạch tác nghiệp có 2 loại là:
- Kế hoạch tác nghiệp xây dựng một lần sử dụng một lần: là những kế hoạch cho những hoạt động không lặp lại
- Kế hoạch tác nghiệp xây dựng một lần sử dụng nhiều lần: Là các kế hoạch cho những hoạt động thường xuyên lặp lại, đây là kế hoạch hiện hành tiết kiệm thời gian và năng lượng cho phép các nhà quản trị tập trung vào giải quyết những vấn đề phức tạp không lặp lại
1.1.2.2 Phân loại kế hoạch theo thời gian
a) Kế hoạch dài hạn
Thường trên 1 năm, kế hoạch này giúp nhà quản trị đưa ra những dự định,
kế hoạch dài hạn thuộc về chiến lược của doanh nghiệp và nó thường là trách nhiệm của các nhà quản t r ị cao cấp trong doanh nghiệp Kế hoạch này sẽ chỉ ra con đường và chính sách phát triển của doanh nghiệp; Phương hướng nghiên cứu
và phát triển sản phẩm mới; Định vị doanh nghiệp; Đầu tư thiết bị…
b) Kế hoạch trung hạn
Thường từ 6 tháng đến 2 năm, kế hoạch này được xây dựng sau khi đã có kế hoạch dài hạn Nhà quản trị lập kế hoạch trung hạn sao cho phù hợp với những chủ trương kế hoạch dài hạn mà ban lãnh đạo của doanh nghiệp đã đưa ra, kế hoạch này được lập bởi các chuyên gia quản lý cấp cao và chuyên gia quản lý điều hành Kế hoạch này chỉ ra việc sắp xếp nhân lực, bố trí thời gian làm việc; kế hoạch điều tiết dòng tiền, cân đối tài chính; kế hoạch sản xuất; kế hoạch huy động thiết bị;
kế hoạch bán hàng; kế hoạch mua nguyên vật liệu…
Trang 19- Kế hoạch cụ thể là những kế hoạch đã có mục tiêu được xác định rất rõ
Ví dụ: Doanh nghiệp quyết định chi tăng tiền lương cho người lao động năm
nay thêm 10%, vậy tổng tiền lương cần chi thêm là bao nhiêu? phân công cụ thể công việc cho phòng kế toán và phòng tổ chức ra sao để đạt được mục tiêu đó
- Kế hoạch định hướng là kế hoạch có tính linh hoạt đưa ra những hướng chỉ đạo chung
Ví dụ: kế hoạch tăng lợi nhuận của doanh nghiệp khoảng 5- 7% trong năm tới
Khi môi trường sản xuất- kinh doanh không có sự ổn định vững chắc thì kế hoạch định hướng thường được sử dụng hơn kế hoạch cụ thể
Tuy nhiên, việc phân loại các kế hoạch theo các tiêu thức trên đây chỉ mang tính chất tương đối, các kế hoạch thường có quan hệ qua lại với nhau Chẳng hạn như kế hoạch chiến lược có thể bao gồm cả kế hoạch dài hạn và ngắn hạn, tuy vậy
kế hoạch chiến lược nhấn mạnh bức tranh tổng thể và dài hạn hơn trong khi kế hoạch tác nghiệp phần lớn là những kế hoạch ngắn hạn
1.1.3 Tầm quan trọng của lập kế hoạch
Với đặc điểm cơ bản của môi trường kinh doanh hiện nay là: Toàn cầu hóa hoạt động kinh tế, tự do trao đổi thương mại và hợp tác kinh doanh trong thế giới phẳng,
sự phát triển nhanh chóng của khoa học- công nghệ hiện đại, chu kỳ đổi mới khoa học công nghệ, chu kỳ sống của các sản phẩm dịch vụ ngày càng ngắn lại, năng suất
Trang 20lao động ngày càng tăng, cạnh tranh ngày càng quyết liệt hơn ở phạm vi toàn cầu thì hầu hết các nước trên thế giới đều để nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường chỉ khác là có sự can thiệp của Nhà nước hay không và mức độ can thiệp như thế nào?
Cơ chế thị trường đem lại nhiều ưu điểm cho các nền kinh tế, nó tạo ra sự năng động, thích nghi cao trong đời sống kinh tế, chính trị và xã hội Nó mở ra các cơ hội cho mọi nền kinh tế mà thông qua đó làm cho nền kinh tế phát triển nhanh, vững mạnh Song cơ chế thị trường c ũng có tính hai mặt, mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng đem lại không ít những khó khăn, hạn chế, các mối đe dọa cho nền kinh tế Đó chính là những cuộc khủng hoảng thừa, khủng hoảng thiếu, tình trạng độc quyền, sự tự phát… Gây ra mất ổn định cho nền kinh tế, làm lãng phí nguồn lực, phân hoá giàu nghèo và quan trọng nữa chính là sự ô nhiễm môi trường trầm trọng đe dọa đến cuộc sống của toàn thế giới
theo cơ chế thị trường sẽ phải tuân theo những quy luật của nó Các nhà quản trị doanh nghiệp muốn đạt được hiệu quả cho doanh nghiệp của mình phải chấp nhận m ứ c độ mạo hiểm nào đó để kỳ vọng vào lợi nhuận thu được trong tương lai
Vậy phải làm gì để sản xuất - kinh doanh có hiệu quả? Việc đầu tiên của bất kỳ một doanh nghiệp nào đó là phải lập kế hoạch Bởi lập kế hoạch cho biết phương hướng hoạt động, làm giảm sự tác động của những thay đổi, tránh sự lãng phí dư thừa và thiết lập nên những tiêu chuẩn thuận tiện cho công tác kiểm tra Chính vì vậy, đối với doanh nghiệp công tác lập kế hoạch có vai trò quyết định đến hiệu quả của doanh nghiệp, cụ thể sau:
- Lập kế hoạch là công cụ quan trọng, nỗ lực trong việc kết nối giữa các đơn
vị, bộ phận, các thành viên trong doanh nghiệp phối hợp với nhau:
Khi đã có kế hoạch sẽ cho biết mục tiêu, và cách thức đạt được mục tiêu của doanh nghiệp Khi tất cả nhân viên trong cùng một doanh nghiệp biết được doanh nghiệp mình sẽ đi đâu và họ sẽ cần phải đóng góp gì để đạt được mục tiêu đó, thì
Trang 21chắc chắn họ sẽ cùng nhau phối hợp, hợp tác và làm việc một cách có tổ chức Nếu thiếu kế hoạch thì quĩ đạo đi tới mục tiêu của doanh nghiệp sẽ là đường rích rắc phi hiệu quả
- Lập kế hoạch có tác dụng làm giảm tính bất ổn định của doanh nghiệp:
Sự bất ổn định và thay đổi của môi trường sẽ tác động tới chất lượng công tác lập kế hoạch Lập kế hoạch buộc những nhà quản lý phải luôn luôn nhìn về phía trước, dự đoán được những thay đổi trong nội bộ doanh nghiệp cũng như môi trường bên ngoài và cân nhắc các ảnh hưởng của chúng để đưa ra những giải pháp ứng phó thích hợp Một nhà quản trị kinh doanh có thể thấy chắc chắn rằng: Trong tháng tới các đơn đặt hàng, các chi phí sản xuất, năng suất lao động và các yếu tố khác của môi trường kinh doanh sẽ ở một mức độ xác định, song nếu phát sinh hỏng thiết bị, nguồn cung cấp nguyên liệu vì lý do nào đó bị thiếu hụt hay việc bị huỷ bỏ một đơn đặt hàng của một khách hàng… chắc chắn sẽ làm đảo lộn tất cả Thậm chí ngay khi tương lai có độ chắc chắn cao thì trong kế hoạch vẫn phải đảm bảo:
Thứ nhất là: Các nhà quản trị cần phải tìm cách tốt nhất để đạt mục tiêu Với
điều kiện chắc chắn, trước hết đây là vấn đề thuộc toán học tính toán, dựa trên các thông tin đã biết xem tiến trình nào sẽ đem lại kết quả mong muốn với chi phí thấp nhất
Thứ hai là: Sau khi tiến trình đã được xác định, cần phải đưa ra các kế
hoạch để sao cho mỗi bộ phận t r o n g doanh nghiệp cần phải t h ự c h i ệ n như
- Lập kế hoạch làm giảm được sự chồng chéo và những hoạt động làm lãng phí các nguồn lực hoặc bỏ lỡ cơ hội của doanh nghiệp:
Đặc biệt các doanh nghiệp vừa sản xuất vừa kinh doanh thì vai trò của việc lập
kế hoạch càng rõ nét Nếu ai đã từng đến thăm quan dây chuyền sản xuất Ôxy già tại công ty cổ phần Hóa chất Hưng Phát Hà Bắc chắc chắn sẽ cảm nhận ấn tượng về công nghệ, thiết bị của dây chuyền vì các quá trình chuyển khối giữa pha lỏng, pha khí, pha rắn đều thực hiện trong thiết bị kín ở môi trường làm việc có nhiệt độ cao,
Trang 22áp suất cao mà sản phẩm của công đoạn trước lại là nguyên liệu của chính cho công đoạn tiếp theo sau đó, muốn các định mức tiêu hao nguyên, nhiên liệu là nhỏ nhất khi lập kế hoạch phải xác định được mục tiêu, phương thức sản xuất tối ưu nhất nhằm sử dụng nguồn lực một cách có hiệu quả đảm bảo đạt mục tiêu đã được lựa chọn trong mọi hoạt động của doanh nghiệp
- Lập kế hoạch sẽ đưa ra những tiêu chuẩn tạo điều kiện cho công tác kiểm tra đạt hiệu quả cao:
Một doanh nghiệp nếu không có kế hoạch thì giống như một con thuyền trôi nổi trên dòng sông thời gian mà không xác định được đâu là bến đỗ Một khi doanh nghiệp không định vị được là mình phải đạt tới cái gì và đạt tới bằng cách nào, thì đương nhiên sẽ không thể xác định liệu mình có thực hiện được mục tiêu hay chưa,
và cũng không thể có được những biện pháp để điều chỉnh kịp thời khi có những lệch lạc xảy ra Do vậy, có thể nói nếu không có kế hoạch thì cũng không có cả kiểm tra
Như vậy, công tác lập kế hoạch là rất quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp, mỗi nhà quản trị Nếu không có kế hoạch thì các doanh nghiệp và nhà quản trị không biết tổ chức, khai thác các nguồn lực trong doanh nghiệp một cách có hiệu quả, thậm chí sẽ không có được một ý tưởng rõ ràng về cái họ cần tổ chức và khai thác Điều này cũng được thực tiễn chứng minh rất cụ thể là những cơn sốt về bất động sản, thừa thiếu mía đường, nông sản được mùa thì rớt giá… Kinh nghiệm của các nước trên thế giới và khu vực đã chỉ ra rằng: không thể chỉ để bàn tay vô hình điều khiển nền kinh tế vi mô đến vĩ mô mà phải có sự can thiệp của Nhà nước bằng nhiều cách, trong đó có sử dụng kế hoạch và sự thành công trong phát triển kinh tế ở các nước như Nhật, Đức hay Hàn Quốc… là phải kể đến sự đóng góp của kế hoạch
Với mỗi cá nhân chúng ta cũng vậy, nếu chúng ta không biết lập kế hoạch thì chúng ta không thể xác định được rõ mục tiêu của chúng ta là gì? với thực lực của mình thì chúng ta có thể làm gì để đạt được mục tiêu? Chúng ta sẽ không có những lịch biểu, những sự nỗ lực và cố gắng hết mình để đạt được mục tiêu
Trang 23Ví dụ: Trong kế hoạch thực hiện làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ quản trị kinh
doanh khóa học 2016 - 2018, Viện đại học mở Hà Nội đã lập ra kế hoạch và đưa ra thứ tự các nội dung cần làm, mốc thời gian hoàn thành từng nội dung và có báo cáo tiến độ, đánh giá khối lượng các công việc đã thực hiện các công việc chưa thực hiện của từng học viên cho nhà trường, nếu các học viên không bám sát vào kế hoạch này để thực hiện các nội dung công việc mà cứ để thời gian trôi đi và hành động một cách thụ động thì các học viên sẽ không đạt được mục tiêu của nhà trường đặt ra cũng như kết quả mà mình mong muốn
Tóm lại, lập kế hoạch có vai trò rất quan trọng đây là chức năng đầu tiên, là xuất phát điểm của mọi quá trình quản trị trong doanh nghiệp Bất kể các nhà quản trị nào dù là cao hay thấp, việc lập ra được những kế hoạch chi tiết, cụ thể, sát với thực tế sẽ là chiếc chìa khoá cho việc thực hiện đạt được hiệu quả cao nhất cho mục tiêu đề ra của doanh nghiệp
1.2 Kế hoạch sản xuất
1.2.1 Bản chất kế hoạch sản xuất
Bản chất của kế hoạch sản xuất: Là một loại kế hoạch trong doanh nghiệp
cho chức năng sản xuất nó trả lời cho các câu hỏi chính: Sản xuất sản phẩm gì? Sản xuất bao nhiêu với mỗi loại sản phẩm trong kỳ kế hoạch để đáp ứng nhu cầu thị trường và đảm bảo năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp?
Theo quan niệm phổ biến trên thế giới thì sản xuất được hiểu là: “quá trình
tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ ” Một hệ thống sản xuất sử dụng các yếu tố đầu vào
là nguyên vật liệu thô, con người, máy móc, nhà xưởng, kỹ thuật công nghệ, vốn và các nguồn tài nguyên khác để chuyển đổi nó thành sản phẩm hoặc dịch vụ Sự chuyển đổi này là hoạt động trọng tâm của hệ thống sản xuất trong một doanh nghiệp Mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản trị doanh nghiệp là các hoạt động chuyển hoá của sản xuất
Trang 24Hình 1.2: Quá trình sản xuất
(Nguồn: Quản trị sản xuất và tác nghiệp, Đặng Minh Trang, 2003)
Trong quản trị sản xuất ngày nay các nhà quản trị cấp cao luôn quan tâm, coi
đó như là một vũ khí cạnh tranh sắc bén Sự thành công chiến lược của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào sự đánh giá, tạo dựng, phát triển các nguồn lực từ chức năng sản xuất sau:
Thứ nhất, sản xuất yêu cầu phải có kế hoạch hợp lý khoa học, có đội ngũ kỹ
sư giỏi, công nhân được đào tạo tốt và thiết bị hiện đại
Thứ hai, quan tâm ngày càng nhiều đến thương hiệu và chất lượng sản phẩm
Đây là một tất yếu khách quan khi mà tiến bộ kỹ thuật ngày càng phát triển với mức
độ cao
Thứ ba, càng nhận thức rõ con người là tài sản quý nhất của công ty Yêu
cầu ngày càng cao của quá trình sản xuất, cùng với sự phát triển của máy móc thiết
bị, vai trò năng động của con người trở nên chiếm vị trí quyết định cho sự thành công cho trong hệ thống sản xuất
Thứ tư, sản xuất ngày càng quan tâm đến vấn đề kiểm soát chi phí Việc kiểm
soát chi phí được quan tâm thường xuyên trong từng chức năng, trong mỗi giai đoạn quản lý
Thứ năm, sản xuất dựa trên nền tảng tập trung và chuyên môn hoá cao Sự
phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật đã làm các công ty thấy rằng không thể
BIẾN ĐỔI
PHẾ PHẨM TÀI NGUYÊN
Trang 25tham gia vào mọi lĩnh vực, mà cần phải tập trung vào lĩnh vực mình có thế mạnh
để giành vị thế cạnh tranh
Thứ sáu, sản xuất cũng thừa nhận yêu cầu về tính mềm dẻo của hệ thống sản
xuất Sản xuất hàng loạt, quy mô lớn đã từng chiếm ưu thế làm giảm chi phí sản
xuất Nhưng khi nhu cầu ngày càng đa dạng, biến đổi càng nhanh thì các đơn vị vừa
và nhỏ, độc lập mềm dẻo có vị trí thích đáng
Thứ bảy, sự phát triển của cơ khí hoá trong sản xuất từ chỗ thay thế cho lao
đông nặng nhọc, đến nay đã ứng dụng nhiều hệ thống sản xuất tự động điều khiển
bằng chương trình
Thứ tám, mô phỏng các mô hình toán học được sử dụng rộng rãi để hỗ trợ
cho việc ra các quyết định sản xuất – kinh doanh
Lập kế hoạch sản xuất trong một doanh nghiệp phải thỏa mãn sự kết hợp hài hòa và sử dụng có hiệu quả những yếu tố nói trên hay nói cách khác kế hoạch sản
xuất phải mang đầy đủ các tính chất: tính cân đối, tính nhịp nhàng, tính song song,
tính liên tục trong mọi bộ phận của doanh nghiệp
1.2.2 Phân loại kế hoạch sản xuất
1.2.2.1 Kế hoạch sản xuất theo thời gian
Kế hoạch sản xuất dài hạn: Thường trên 1 năm, kế hoạch này giúp nhà quản
trị đưa ra những dự định, kế hoạch dài hạn thuộc về chiến lược của doanh nghiệp và nó thường là trách nhiệm của các nhà quản t r ị cao cấp trong doanh nghiệp
Kế hoạch sản xuất trung hạn: Thường từ 6 tháng đến 2 năm, kế hoạch này
được xây dựng sau khi đã có kế hoạch dài hạn Kế hoạch này chỉ ra việc sắp xếp nhân lực, bố trí thời gian làm việc; kế hoạch điều tiết dòng tiền, cân đối tài chính; kế hoạch sản xuất; kế hoạch huy động thiết bị; kế hoạch bán hàng; kế hoạch mua nguyên vật liệu trong toàn công ty Kế hoạch này uyển chuyển, linh hoạt hơn kế hoạch dài hạn
Kế hoạch sản xuất ngắn hạn: Thường từ dưới 6 tháng bao gồm kế hoạch quý,
tháng, tuần, ngày Kế hoạch này còn gọi là kế hoạch tác nghiệp
Trang 26Ba loại kế hoạch này có quan hệ hữu cơ, logic chặt chẽ và thống nhất với nhau trong toàn công ty Kế hoạch dài hạn giữ vai trò trung tâm, chỉ đạo trong hệ thống
kế hoạch sản xuất kinh doanh, là cơ sở để xây dựng kế hoạch trung hạn và ngắn hạn hàng năm Nên những nhiệm vụ và nội dung của kế hoạch được thực hiện
Trong nền kinh tế thị trường, việc dự đoán thị trường là rất khó khăn, trong khi việc xây dựng kế hoạch sản xuất cần dựa trên những giả thiết diễn ra trong tương lai Vì vậy, một doanh nghiệp xây dựng được nhiều kịch bản kế hoạch sản xuất khác nhau sẽ giúp doanh nghiệp có các phương án sản xuất - kinh doanh tương ứng khi thị trường có sự thay đổi
Nhiệm vụ đầu tiên và quan trọng nhất trong việc xây dựng, soạn lập kế hoạch sản xuất theo thời gian là đòi hỏi các mục tiêu phải được xác định một cách rõ ràng,
có ý thức, có căn cứ để nhà quản trị doanh nghiệp quyết định đưa ra các chính sách, giải pháp kịp thời, đúng đắn nhằm đạt được các mục tiêu cao nhất có thể mà doanh nghiệp đặt ra
Đây là quá trình gồm tất cả các bước, các công việc cần thiết để xây dựng được một bản kế hoạch sản xuất, tùy từng điều kiện cụ thể của doanh nghiệp thì lại
có những cách tiếp cận về quy trình kế hoạch hoá khác nhau Có nhiều sơ đồ biểu thị khác nhau nhưng vẫn đảm bảo đầy đủ những bước bắt buộc từ nghiên cứu dự báo đến đánh giá, ra quyết định Tuy nhiên, một quy trình hay được các doanh nghiệp sử dụng rộng rãi là quy trình PDCA cho phép doanh nghiệp giải quyết vấn
đề bằng cách xây dựng cho mình các kế hoạch và cách thức để thực hiện kế hoạch
đó
Trang 27
Hình 1.3: Sơ đồ quy trình kế hoạch PDCA
Để có thể lập được một bản kế hoạch khả thi, người lập kế hoạch phải dựa vào một số căn cứ nhất định như:
- Cân đối quan hệ cung cầu
- Phân tích tình hình bán hàng kỳ trước
- Dự đoán xu hướng thay đổi thị hiếu của thị trường
- Các hợp đồng bán hàng đã ký hoặc dự kiến
- Năng lực sản xuất của doanh nghiệp và lượng hàng tồn kho
Việc phân tích tình hình tiêu thụ kỳ trước, hàng tồn kho, các hợp đồng đã ký
có thể lấy số liệu chính xác, không mất nhiều thời gian Đó là những căn cứ quan trọng đối với người lập kế hoạch tổng thể Ngoài ra, năng lực sản xuất của doanh nghiệp cũng kiểm soát được Còn xu hướng thay đổi của thị hiếu của thị trường và quan hệ Cung - Cầu là những yếu tố bên ngoài không dễ dự đoán, không dễ kiểm soát Vì vậy, việc lập kế hoạch có chính xác hay không phụ thuộc rất nhiều vào trình độ, kinh nghiệm và sự linh hoạt của người lập kế hoạch, vào khả năng tổng hợp thông tin và điều chỉnh các căn cứ nói trên
Trong các căn cứ quan trọng phải xem xét khi lập kế hoạch là năng lực sản xuất của doanh nghiệp, năng lực sản xuất là khả năng sản xuất tối đa của hệ thống máy móc thiết bị, nhà xưởng, lao động trong điều kiện kinh tế kỹ thuật và tổ chức
P
D
Trang 28sản xuất nhất định Năng lực sản xuất có thể bị thay đổi theo sự thay đổi của các điều kiện sản xuất
Các phương pháp xác định năng lực sản xuất:
- Năng lực sản xuất của 1 đơn vị máy móc, thiết bị
N TB=N x h T k
T k : thời gian làm việc của máy móc, thiết bị trong năm
- Năng lực sản xuất của một bộ phận
N =S x bq N x h T k
T k : thời gian làm việc của máy chính trong năm
S: số máy chính trong cộng đoạn sản xuất
Trường hợp trong cộng đoạn có nhiều máy, kích cỡ và thời gian làm việc khác nhau thì áp dụng công thức:
Trong đó: n là số chủng loại máy móc thiết bị khác nhau trong bộ phận
- Năng lực sản xuất của phân xưởng
Nếu phân xưởng tổ chức sản xuất theo hình thức chuyên môn hóa công nghệ, tức là mỗi phân xưởng chỉ thực hiện một giai đoạn công nghệ của quá trình sản xuất:
N =S x px N x h T k
Trong đó: S là số máy chính trong công đoạn sản xuất
Nếu phân xưởng tổ chức sản xuất theo mô hình chuyên môn hóa sản phẩm, là mỗi phân xưởng bao gồm nhiều cương vị sản xuất kế tiếp nhau và sản xuất trọn vẹn một loại sản phẩm trong dây chuyền khép kín, thì năng lực sản xuất của phân xưởng
Trang 29được tính theo năng lực sản xuất của cương vị chủ đạo tính đổi ra sản phẩm cuối cùng
Nghiên cứu và dự báo là điểm bắt đầu của công tác lập kế hoạch, để nhận thức được cơ hội của doanh nghiệp cần phải có phân tích, nhận định về môi trường, thị trường, về điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp mình so với các đối thủ cạnh tranh khác, phải dự đoán trước các yếu tố không chắc chắn có thể xảy ra từ đó đưa
ra phương án đối phó thích hợp Công tác lập kế hoạch đòi hỏi doanh nghiệp phải
có những dự đoán thực tế về cơ hội Doanh nghiệp phải phân tích môi trường để biết:
Hiện nay dự báo được chia làm 2 loại dự báo chính
- Căn cứ và thời gian dự báo: gồm dự báo dài hạn, trung hạn và ngắn hạn
- Căn cứ nội dung công việc cần dự báo: gồm dự báo kinh tế, dự báo kỹ thuật công nghệ và Dự báo nhu cầu
Các phương pháp dự báo
- Phương pháp dự báo định tính
+ Lấy ý kiến ban điều hành
+ Lấy ý kiến hỗn hợp của lực lượng bán hàng
Giám sát và kiểm soát dự báo
Độ chính xác của dự báo cho biết sự ăn nhập của số liệu dự báo so với số liệu thực tế Đo lường mức độ chính xác của dự báo để lựa chọn phương pháp dự báo phù hợp
Độ chính xác của dự báo thường thể hiện qua hai giá trị:
Trang 30- Độ lệch tuyệt đối trung bình (MAD): MAD = 1
n
t t t
- Soạn thảo và lập kế hoạch tổng hợp
Doanh nghiệp so sánh các nhiệm vụ mục tiêu với kết quả nghiên cứu môi trường bên trong và bên ngoài Xác định sự khác biệt giữa chúng bằng việc sử dụng những phương pháp phân tích để đưa ra các phương án kế hoạch Kế hoạch chiến lược xác định các mục tiêu dài hạn, chính sách để thực hiện mục tiêu
Kế hoạch sản xuất tổng hợp liên quan đến việc xác định số lượng sản phẩm và phân bố thời gian sản xuất cho một tương lai ngắn, thông thường từ 3 tháng tới 18 tháng Dựa vào các kế hoạch sản xuất tổng hợp, các nhà quản trị sẽ linh hoạt điều chỉnh một số yếu tố như: Năng lực sản xuất của dây chuyền, số lượng hàng tồn kho nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường, phù hợp với từng thời điểm
Mục tiêu qua trọng của kế hoạch tổng hợp là: đáp ứng nhu cầu thị trường về các sản phẩm trung hạn đồng thời phù hợp với khả năng sản xuất của dây chuyền và tổng chi phí sử dụng các nguồn lực cho sản xuất là nhỏ nhất
Trang 31- Xây dựng các phương án kế hoạch tổng hợp
Trong lập kế hoạch tổng hợp, các nhà quản trị luôn phải tìm ra phương án thỏa mãn nhu cầu của thị trường trong từng điều kiện cụ thể, với mục đích đem lại hiệu
nhu cầu biến đổi doanh nghiệp có rất nhiều công cụ biến đổi khả năng sản xuất cho phù hợp, tuy nhiên mỗi công cụ khi sử dụng đều mang lại một hậu quả là tăng thêm chi phí Một kế hoạch tốt sẽ sử dụng hợp lý các công cụ để có tổng chi phí hoạch định là nhỏ nhất
Có hai nhóm chiến lược trong việc hoạch định tổng hợp là:
a) Những chiến lược đơn thuần túy
Trong nhóm này có 8 chiến lược đơn thuần được chia làm 2 loại:
- Chiến lược thụ động:
+ Thuê mướn thêm công nhân hay sa thải nhân công theo mức yêu cầu + Tổ chức làm vượt giờ hoặc tổ chức khắc phục thời gian làm nhàn rỗi + Thay đổi mức tồn kho
+ Hợp đồng phụ
+ Sử dụng nhân công tạm thời
- Chiến lược chủ động:
+ Tác động đến Cầu thông qua quảng cáo, khuyến mại, giảm giá
+ Tổ chức sản xuất sản phẩm hỗn hợp theo mùa
+ Thực hiện các đơn hàng chịu
Các phương pháp sử dụng trong hoạch định tổng hợp
+ Phương pháp trực quan
Trang 32+ Phương pháp biểu đồ và đồ thị
- Soạn lập các kế hoạch chức năng và tài chính
Để thực hiện các mục tiêu chiến lược đã chọn, doanh nghiệp cần xây dựng cho mình các kế hoạch cụ thể như: kế hoạch sản xuất sản phẩm, phát triển sản phẩm mới, kế hoạch mua sắm trang thiết bị, nguyên vật liệu, kế hoạch nhân sự, kế hoạch tài chính, kế hoạch Marketing Vì sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các chức năng trong quản trị doanh nghiệp nên trong mỗi phương án kế hoạch, nhà quản trị cần phải xác định được hai nội dung cơ bản là: Phải xác định được giải pháp của kế hoạch là gì để trả lời cho câu hỏi làm gì để đạt được mục tiêu và phải xác định được các công cụ và nguồn lực cần thiết để thực hiện mục tiêu Để hoạch định được các nguồn lực căn cứ vào các yếu tố cơ bản sau:
+ Phương án kế hoạch phác thảo về các sản phẩm, công việc sẽ được tiến hành
+ Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm: xác định các giai đoạn công nghệ, các công việc cần thiết, trình tự thực hiện công việc, các máy móc thiết bị cần thiết
+ Định mức công nghệ: xác định mức tiêu hao máy móc thiết bị, lao động, vật tư trên các nơi làm việc hoặc các nơi làm việc chủ yếu cho từng đơn vị sản phẩm
+ Các tài liệu thống kê trong quá khứ: mức sử dụng các nơi làm việc, tỷ lệ khai thác các nơi làm việc…
+ Chu kỳ sản xuất, thời gian đặt hàng…
Hệ thống các kế hoạch tác nghiệp đó là những kế hoạch giúp nhà quản trị chỉ đạo, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt được các mục tiêu chiến lược cũng như các chương trình đã đề ra
- Đánh giá các phương án
+ Đánh giá phương án: Khi đã xây dựng được một hệ thống các phương án thì các nhà lập kế hoạch cần phải tiến hành đánh giá lại các phương án đó nhằm lựa chọn được những phương án tối ưu nhất Đánh giá các phương án theo các tiêu
Trang 33chuẩn phù hợp với mục tiêu đã định và trung thành với các tiền đề đã được xác định Các nhà lập kế hoạch cần phải lựa chọn, xem xét phương án nào là tối ưu nhất tức là các phương án nào đạt được mục tiêu một cách hiệu quả nhất và nhanh nhất, chi phí là thấp nhất Đồng thời các phương án lựa chọn cũng phải giải quyết được những vấn đề kinh tế xã hội đang được đặt ra
+ Các giải pháp khắc phục mất cân đối: Khi kế hoạch dự thảo không được thực hiện do mất cân đối, khi đó các nhà quản trị sẽ điều chỉnh theo một hay nhiều giải pháp khác nhau như: Từ chối một vài khách hàng, làm thêm giờ, hợp đồng t h u ê bên ngoài, tăng ca, thuê thêm công nhân Thực chất là một quá trình thực hiện các bước lặp đi lặp lại, để lập và kiểm tra, đánh giá các phương
án dự thảo từng bộ phận sản xuất, quá trình này áp dụng liên tục với các dự thảo
kế hoạch khái quát và kế hoạch tiến độ sản xuất chính, nên khi áp dụng doanh nghiệp buộc phải chấp nhận việc lập kế hoạch phức tạp, tuy nhiên lại có được độ chính xác khá cao
- Lựa chọn phương án và ra quyết định
Sau khi đánh giá các phương án thì một vài phương án tối ưu nhất sẽ được lựa chọn Các phương án này sẽ được đưa ra hội đồng quản trị, ban giám đốc và các phòng ban liên quan để ra quyết định phân bổ con người và các nguồn lực khác của
tổ chức cho việc thực hiện kế hoạch Tiếp theo sẽ là việc xây dựng các kế hoạch phụ trợ và lượng hóa kế hoạch bằng tài chính
1.2.2.2 Kế hoạch sản xuất theo không gian
Đây là kế hoạch sản xuất cấp doanh nghiệp (tổng công ty, hoặc công ty, nhà máy), kế hoạch cấp phân xưởng, kế hoạch cấp bộ phận sản xuất (hoặc tổ đội sản xuất) Sự khác nhau giữa ba loại này chính là phạm vi xem xét về không gian của chúng, dẫn tới các chỉ tiêu kế hoạch trong các loại kế hoạch này là khác nhau Kế hoạch cấp cao nhất ( cấp công ty hay nhà máy) là căn cứ để tổ chức các hoạt động sản xuất giữa các phòng kỹ thuật, xưởng sản xuất trong một nhà máy thống nhất
Ở cấp công ty: Kế hoạch sản lượng sản xuất tính theo đơn vị hiện vật và theo
giá trị, sản lượng sản xuất theo từng chủng loại sản phẩm trong danh mục sản xuất
Trang 34tính theo đơn vị hiện vật và theo giá trị, số lượng người lao động, quỹ lương, giá thành sản phẩm Đảm bảo phải tối thiểu hoá, dễ thống kê, tính toán và có khả năng tổng hợp theo mỗi cấp quản lý
Ở cấp xưởng sản xuất: Kế hoạch sản lượng sản xuất tính theo đơn vị hiện vật
và theo giá trị Sản lượng sản xuất theo từng chủng loại sản phẩm trong danh mục sản xuất tính theo đơn vị hiện vật và theo giá trị Số lượng người lao động, quỹ lương, giá thành sản phẩm, chi phí sản xuất
Ở cấp tổ sản xuất: Kế hoạch bố trí số lượng công nhân, sản lượng sản phẩm
sản xuất, năng suất lao động từng công nhân trong một ca, một ngày, chi phí sản xuất
1.2.3 Các căn cứ lập kế hoạch sản xuất
Để có thể lập được một bản kế hoạch sản xuất khả thi, người lập kế hoạch phải dựa vào một số căn cứ nhất định như:
- Dự báo nhu cầu thị trường;
- Công suất;
- Năng lực tài chính;
- Năng lực cung cấp nguyên, nhiên liệu đầu vào;
- Năng lực về nhân lực…
1.2.3.1 Dự báo nhu cầu thị trường
Nhu cầu thị trường là điểm bắt đầu của công tác lập kế hoạch sản xuất, để nhận thức được cơ hội của mình thì doanh nghiệp cần phải có những hiểu biết về thị trường, xu hướng phát triển và đầu tư ngành, về sự cạnh tranh, về điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp mình so với các đối thủ cạnh tranh khác Phải dự báo trước các yếu tố không chắc chắn có thể xảy ra từ đó đưa ra phương án đối phó thích hợp, việc tìm hiểu thị trường kỹ càng sẽ giúp nhà quản trị doanh nghiệp trả lời câu hỏi: Cần sản xuất loại sản phẩm gì? Bao nhiêu? Vào thời gian nào? Kết quả dự báo nhu cầu thị trường cho thấy số lượng sản phẩm cần sản xuất trong từng thời kỳ, trên cơ sở đó hoạch định kế hoạch sản xuất và huy động năng lực sản xuất cần có Đây là căn cứ để xác định có nên sản xuất hay không sản xuất
Trang 35Nếu tiến hành sản xuất thì hệ thống sản xuất như thế nào để đảm bảo nhu cầu thị trường một cách tốt nhất Tất cả các hoạt động hoạch định, lập kế hoạch và
tổ chức điều hành hệ thống sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu sản phẩm cho thị trường đều phải căn cứ vào dữ liệu dự báo nhu cầu thị trường (Trương Đoàn Thể, 2007) Do đó, có thể nói rằng kết quả dự báo nhu cầu thị trường có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của kế hoạch sản xuất
1.2.3.2 Công suất
Công suất là khả năng sản xuất của máy móc, thiết bị, lao động và các bộ phận của doanh nghiệp trong một đơn vị thời gian nhất định( tháng, quý, năm…) trong điều kiện xác định( Trương Đức Lực, Nguyễn Đình Trung- 2013) đây là một trong những căn cứ quan trọng phải xem xét khi lập kế hoạch xuất của doanh nghiệp Năng lực sản xuất thay đổi theo sự thay đổi của các điều kiện sản xuất, chẳng hạn máy móc thiết bị mua sắm thêm hoặc hiện đại hóa thì năng lực sản xuất tăng lên và ngược lại, khi máy móc thiết bị già cỗi thì năng lực giảm đi Người lao động được bồi dưỡng nâng cao tay nghề hoặc bố trí phân công công việc hợp
lý thì năng suất lao động được tăng lên tức năng xuất của từng công đoạn được tăng lên
Có nhiều loại công suất khác nhau, sự phân loại và nghiên cứu đồng thời các loại công suất đó cho phép đánh giá trình độ quản trị, sử dụng công suất một cách toàn diện và có hiệu quả hơn đối với doanh nghiệp;
Công suất thiết kế: là công suất tối đa mà doanh nghiệp có thể thực hiện được
trong n điều kiện thiết kế Đây là giới hạn tối đa về năng lực sản xuất lớn nhất mà doanh nghiệp có thể đạt được, trong thực tế đôi khi khó có thể đạt được công suất thiết kế, tuy nhiên nó có vai trò quan trọng trong việc đánh giá mức độ sử dụng và hiệu quả sử dụng năng lực sản xuất của doanh nghiệp
Công suất hiệu quả: là tổng đầu ra tối đa mà doanh nghiệp mong muốn có thể
đạt được trong điều kiện cụ thể về cơ cấu sản phẩm, tuân thủ các tiêu chuẩn, quy trình công nghệ, khả năng điều hành sản xuất, kế hoạch bảo dưỡng máy móc và cân
Trang 36đối các hoạt động Với công suất hiệu quả cho phép doanh nghiệp phấn đấu đạt được mục tiêu chiến lược mong muốn
Công suất thực tế: trong thực tế công suất hiệu quả là công suất doanh nghiệp
mong muốn, tuy nhiên không phải lúc nào doanh nghiệp cũng tổ chức được các điều kiện theo các chuẩn múc, tiêu chuẩn đề ra mà trong sản xuất thường có các phát sinh không kiểm soát được dẫn tơi khối lượng sản xuất ra thấp hơn so với dự kiến mong đợi, như vậy khối lượng sản phẩm các doanh nghiệp đạt được trong thực
tế chính là công suất thực tế
Việc hoạch định, lựa chọn và quyết định công suất được xác định giữ vị trí trung tâm đối với nhà quản trị doanh nghiệp nó mang tính chất chiến lược, tính chất tác nghiệp ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng duy trì hoạt động và phát triển doanh nghiệp
1.2.3.3 Năng lực tài chính
Năng lực tài chính bao gồm các hoạt động liên quan đến việc khai thác dòng tiền trong doanh nghiệp đảm bảo tổ chức sử dụng có hiệu quả dòng tiền này, với năng lực tài chính tốt các quá trình sản xuất kinh doanh được nối liền, vận động liên tục tạo thành vòng tuần hoàn khép kín Tiền – Hàng –Tiền Ở đây các nhà lập kế hoạch sản xuất cần phải tìm ra các phương án hành động để đạt được mục tiêu Khả năng tài chính cho phép doanh nghiệp có cái nhìn toàn diện, đầy đủ hơn cũng như có thể xử lý kịp thời mọi biến động xảy ra trong quá trình thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp đặc biệt trong nền kinh tế thị trường như hiện nay, khi khả năng tài chính suy yếu sẽ đồng thời kéo theo suy yếu nhiều yếu tố khác
Kế hoạch tổng hợp cần phải được cụ thể hóa bằng hệ thống các kế hoạch chức năng, xem như đó là các kế hoạch chỉ đạo bao gồm: Kế hoạch sản xuất sản phẩm, phát triển sản phẩm mới, kế hoạch mua sắm trang thiết bị, nguyên vật liệu, kế hoạch nhân sự, kế hoạch tài chính, kế hoạch marketing…đây là một vấn đề hết sức quan trọng, có ảnh hưởng rất lớn đến việc lập kế hoạch sản xuất
Trang 371.2.3.4 Năng lực cung cấp nguyên, nhiên liệu đầu vào
Nguyên nhiên liệu đầu vào là một trong những yếu tố đầu vào đặc biệt quan trọng đối với một doanh nghiệp, việc xác định và quản lý tốt những yếu tố đầu vào
sẽ đảm bảo sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra nhịp nhàng, ổn định thảo mãn nhu cầu của khách hàng kịp thời và là biện pháp hữu hiệu trong việc giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm
Trong thực tế luôn có sự biến động của các yếu tố đầu vào mà ta không thể lường trước được nên khi tiến hành lập kế hoạch sản xuất, cần tìm hiểu kỹ về đặc điểm, kỹ năng, công suất, phương thức giao dịch, thanh toán,… của doanh nghiệp cung ứng nguyên nhiên liệu cho doanh nghiệp của mình Từ đó, có thể dễ dàng lường trước được những vướng mắc nếu có về nguồn cung ứng nguyên nhiên liệu, thông thường, doanh nghiệp nên lựa chọn nhiều nhà cung cấp nguyên nhiên liệu làm đối trọng để tác động của chúng không quá lớn đến kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp
Đối với nhà quản trị việc xác định nhu cầu, chủng loại, khối lượng, thời điểm mua hết sức linh hoạt, đòi hỏi phải tính toán đảm bảo kịp thời và chi phí nhỏ nhất
Sự biến động của các yếu tố, và như thế chúng tác động tích cực hay tiêu cực đến quá trình lập kế hoạch sản xuất
1.2.3.5 Năng lực về nhân lực
Yếu tố con người là khâu quan trọng trong sản xuất kinh doanh Khi tiến hành lập kế hoạch sản xuất, nhà quản trị phải xây dựng và đưa ra những biện pháp để sử dụng nguồn nhân lực sẵn có và có những chế độ, chính sách cho nguồn nhân lực này luôn ổn định Việc sắp xếp, bố trí người lao động phù hợp với năng lực của bản thân cho từng cương vị sản xuất sẽ mang lại hiệu quả trong sản xuất, đồng thời kích thích đội ngũ người lao động luôn gắn bó với nhau vì lợi ích chung của doanh nghiệp
Trong các kế hoạch sản xuất dài hạn, cần có những phương án thu hút, đào tạo
và phát triển nguồn nhân lực đáp ứng trình độ chuyên môn của doanh nghiệp cũng như yêu cầu của xã hội
Trang 381.2.4 Đánh giá chất lượng kế hoạch
Chất lƣợng của một bản kế hoạch phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố, yếu tố đầu vào nhƣ: tài chính, dự báo nhu cầu khách hàng, công suất thiết bị, công nghệ sản xuất, nguồn nhân lực…Do đó, để kiểm soát đƣợc chất lƣợng của một bản kế hoạch thì chúng ta phải tiến hành kiểm soát các nhân tố, yếu tố đầu vào trên
"Chất lượng kế hoạch là tập hợp các thuộc tính của kế hoạch đáp ứng các nguyên tắc và các tiếp cận khoa học về kế hoạch hóa đồng thời đảm bảo độ sai lệch giữa các chỉ tiêu kế hoạch với chỉ tiêu thực hiện thu được từ thực hiện kế hoạch là nhỏ nhất" Tham số phản ảnh chất lƣợng kế hoạch chính là mức độ sai
lệch giữa chỉ tiêu kế hoạch và chỉ tiêu thực hiện Công thức tính nhƣ sau:
100%
t t
Từ kết quả của việc thực hiện kế hoạch và căn cứ vào mục tiêu của công ty đã
đề ra, các nhà lập kế hoạch sẽ tiến hành phân tích, đối chiếu với mục tiêu và sẽ có những điều chỉnh trong các kế hoạch tiếp theo nhằm phù hợp với mục tiêu chung
Trong bất kỳ một doanh nghiệp nào, muốn hoàn thiện quá trình sản xuất một
sản phẩm, cần thiết phải có đầy đủ các yếu tố sau: Con người - Cơ sở vật chất -
nguyên vật liệu Sự kết hợp hài hòa và sử dụng có hiệu quả những yếu tố nói trên
có đƣợc là do sự đóng góp to lớn của công tác lập kế hoạch sản xuất, để đạt đƣợc
Trang 39mục tiêu của việc lập kế hoạch sản xuất thì nó phải mang đầy đủ tính cân đối, nhịp nhàng, song song và liên tục
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh thu được lợi nhuận tối đa là mục tiêu cuối cùng của bất kỳ doanh nghiệp nào, muốn đạt được mục tiêu này các nhà quản trị doanh nghiệp phải xây dựng được kế hoạch sản xuất là tối ưu nhất Đánh giá chất lượng công việc lập kế hoạch sản xuất tức là tổ chức quản lý sử dụng các yếu tố đầu vào và cung cấp đầu ra thoả mãn tối đa nhu cầu của thị trường đảm bảo các tiêu chí:
- Chất lượng sản phẩm và dịch vụ theo đúng yêu cầu của khách hàng
- Giảm chi phí sản xuất tới mức thấp nhất để tạo ra một đơn vị đầu ra
- Rút ngắn thời gian sản xuất sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ
- Xây dựng hệ thống sản xuất của doanh nghiệp có độ linh hoạt cao
- Mức độ sai lệch giữa chỉ tiêu kế hoạch và chỉ tiêu thực hiện thấp
Các tiêu chí cụ thể này gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo ra sức mạnh tổng hợp, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
- Khi triển khai kế hoạch để đảm bảo thực hiện những chỉ tiêu cũng như các yêu cầu tiến độ đặt ra trong các kế hoạch tác nghiệp thì hoạt động triển khai tổ chức thực hiện kế hoạch là khâu mang tính quyết định Nó bao gồm việc thiết lập và tổ chức các yếu tố nguồn lực cần thiết, sử dụng các chính sách và các đòn bẩy quan trọng tác động trực tiếp đến các cấp thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp
- Việc kiểm soát kế hoạch là một nội dung của công tác lập kế hoạch nhằm thúc đẩy thực hiện các mục tiêu đặt ra và theo dõi, phát hiện những phát sinh không phù hợp với mục tiêu Mục đích của quá trình này là giúp nhà quản trị đánh giá, theo dõi và giám sát để quá trình triển khai, tổ chức kế hoạch không đi chệch mục tiêu đã đề ra
Các yếu tố ảnh hưởng đến lập kế hoạch
a) Các yếu tố chủ quan
- Đặc điểm ngành nghề và cập nhật thông tin
Trang 40Mỗi doanh nghiệp có những đặc thù riêng về lĩnh vực sản xuất - kinh doanh, chủng loại sản phẩm, công nghệ sản xuất và phương thức sản xuất, do vậy công tác lập kế hoạch cũng có những sự khác biệt để phù hợp với từng ngành nghề, lĩnh vực sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp đó
Trong quá trình lập kế hoạch sản xuất - kinh doanh, thông tin kịp thời, độ tin cậy cao sẽ giúp bộ phận lãnh đạo của doanh nghiệp có được các quyết định đúng đắn, linh hoạt trong mọi tình huống Đồng thời trong quá trình thực hiện kế hoạch thì chúng ta cũng phải cập nhật các thông tin phản hồi, đa chiều để có những điều
chỉnh phù hợp
- Năng lực, quan điểm của các nhà lập kế hoạch
Đây là những người trực tiếp xây dựng nên bản kế hoạch sản xuất - kinh doanh trên cơ sở những thông tin thu được Chính vì vậy, năng lực của những người làm kế hoạch có tính quyết định rất lớn đến tính khả thi của bản kế hoạch, cũng như công tác lập kế hoạch sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp Yêu cầu đặt ra cho người lập kế hoạch phải thực sự có chuyên môn, nhạy bén, có tầm nhìn, tính dự đoán được tương lai, nắm chắc diễn biến của thị trường cũng như nội lực của doanh nghiệp
- Sự hạn chế của các nguồn lực
Khi lập kế hoạch, doanh nghiệp gặp một trở ngại lớn là sự hạn chế của các nguồn lực, việc khan hiếm của các nguồn lực là bài toàn làm đau đầu các nhà quản trị khi lập kế hoạch Chính điều này nhiều khi làm giảm mức tối ưu của phương án
kế hoạch được lựa chọn
Trước hết cần nói đến nguồn nhân lực, đây vốn được coi là thế mạnh của Việt Nam, nhưng thực tế ở các doanh nghiệp nguồn lực này còn rất mỏng Lực lượng lao động thừa về số lượng nhưng lại thiếu và yếu về chất lượng Thự tế cho thấy số lượng lao động có trình độ quản lý, tay nghề cao vẫn thiếu, lực lượng lao động trẻ vẫn còn phải đào tạo nhiều Nếu doanh nghiệp có đội ngũ cán bộ, nhân viên giỏi về chuyên môn, đoàn kết biết chủ động phối hợp với nhau trong thực hiện các công việc, đặc biệt là trong công tác lập kế hoạch vì công tác lập kế hoạch không chỉ của