1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng của thương nhân theo quy định của bộ luật dân sự 2015

101 139 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 2,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu đề tài là trên cơ sở nghiên cứu một cách chuyên sâu các vấn đề lý luận và thực tiễn về trách nhiệm BTTH do vi phạm hợp đồng theo quy địn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG CỦA THƯƠNG NHÂN THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015

NGUYỄN THỊ THU HIỀN

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG CỦA THƯƠNG NHÂN THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015

NGUYỄN THỊ THU HIỀN

Chuyên ngành : Luật kinh tế

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ, trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy, trung thực

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Thu Hiền

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Được sự phân công của Khoa Sau đại học, trường Đại học Mở Hà Nội và

sự đồng ý của giáo viên hướng dẫn PGS.TS Vũ Thị Hồng Yến về đề tài luận văn:

"Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng của thương nhân theo quy định của Bộ luật dân sự 2015" Để hoàn thành được luận văn này, tôi đã nhận được

rất nhiều sự quan tâm, động viên, giúp đỡ của quý thầy, cô giáo trong trường

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy, cô giáo của trường Đại học Mở Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình tôi học tập, nghiên cứu tại Viện

Chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn khoa học PGS.TS Vũ Thị Hồng Yến đã tận tình hướng dẫn tôi nghiên cứu thực hiện luận văn của mình

Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Khoa đào tạo sau đại học trường Đại học Mở Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, cố gắng để thực hiện luận văn một cách hoàn chỉnh nhất, nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà tự bản thân không thể tự nhận thấy được Tôi rất mong nhận được sự góp ý của Quý thầy, cô giáo để luận văn được hoàn chỉnh hơn

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện luận văn, công trình nghiên cứu của mình

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Thu Hiền

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT

1.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng

của thương nhân theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 6

1.1.5 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng

1.2 Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp

1.3 Vai trò của việc quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại vi phạm

hợp đồng của thương nhân theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 16 1.4 Sự phát triển của pháp luật dân sự Việt Nam về quy định trách

nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng qua hai Bộ luật

Chương 2: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 VỀ

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO VI PHẠM HỢP

2.1 Các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm

hợp đồng của thương nhân theo Bộ luật dân sự 2015 24

2.1.3 Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt

Trang 6

2.1.4 Yếu tố lỗi 32 2.2 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng 36 2.3 Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng 40 2.3.1 Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do thỏa thuận 41 2.3.2 Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi có sự kiện bất khả kháng 43 2.3.3 Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do bên có quyền có lỗi 47 2.3.4 Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do phải thực hiện quyết định

2.4.2 Xác định mức bồi thường thiệt hại trong trường hợp các bên có

2.4.3 Xác định mức bồi thường trong trường hợp không có thỏa thuận trước 60

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO VI PHẠM HỢP

3.1.1 Hoàn thiện quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường

3.1.2 Hoàn thiện quy định của pháp luật liên quan đến miễn trách nhiệm

3.1.3 Hoàn thiện quy định của pháp luật liên quan đến nguyên tắc bồi

3.1.4 Hoàn thiện pháp luật về xác định mức bồi thường thiệt hại do vi

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLDS : Bộ luật Dân sự BTTH : Bồi thường thiệt hại LTM : Luật thương mại

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Chế định hợp đồng là một trong những bộ phận cấu thành quan trọng và đồ

sộ nhất của bất cứ Bộ luật dân sự (BLDS) nào Với tư cách là sự thỏa thuận giữa các bên, là một trong những phương diện pháp lý chủ yếu được mọi cá nhân, tổ chức sử dụng nhằm thỏa mãn các nhu cầu về mọi mặt trong cuộc sống, do vậy, hợp đồng luôn có vai trò quan trọng đối với sự vận hành của nền kinh tế Do tầm quan trọng của hợp đồng đối với đời sống xã hội nên các hệ thống pháp luật trên thế giới đều đặt luật hợp đồng ở vị trí trung tâm của luật tư và luôn quan tâm hoàn thiện, phát triển lĩnh vực pháp luật này

Nếu như xác lập hợp đồng là quá trình các bên thỏa thuận, thống nhất với nhau về các điều khoản hợp đồng thì thực hiện hợp đồng lại là quá trình các bên biến các điều khoản họ đã tự nguyện cao kết thành hiện thực để đáp ứng các quyền

và nghĩa vụ mà họ mong muốn đạt được Khi xác lập hợp đồng, thông thường các bên sẽ tự giác thực hiện đầy đủ các điều khoản mà họ tự nguyện cam kết Tuy nhiên, trong một số trường hợp, vì những lý do chủ quan hoặc khách quan mà bên

có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết, gây thiệt hại cho bên có quyền trong quan hệ hợp đồng Để khắc phục hậu quả bất lợi do hành vi vi phạm hợp đồng của bên có nghĩa vụ mang lại, luật hợp đồng các quốc gia đều dự liệu một biện pháp mà các bên bị thiệt hại khắc phục những hậu quả mà hành vi vi phạm hợp đồng của bên có nghĩa vụ gây ra, qua đó giúp bên bị thiệt hại bảo vệ được các quyền và lợi ích hợp pháp do vi phạm hợp đồng

Bồi thường thiệt hại (BTTH) do vi phạm hợp đồng là biện pháp pháp lý quan trọng có vai trò bù đắp cho bên bị thiệt hại (bên có quyền) những tổn thất là hậu quả của hành vi vi phạm hợp đồng Vì vậy, một trong những nhiệm vụ của bất

cứ BLDS nào cũng là xây dựng cơ chế pháp lý để việc BTTH đó được diễn ra một cách thuận lợi Đây không phải là vấn đề pháp lý mới trong các hệ thống pháp luật

Trang 9

hiện đại nhưng lại là vấn đề chưa nhận được sự quan tâm đúng mức trong hệ thống pháp luật Việt Nam Chẳng hạn như những thiệt hại nào có thể được bồi thường, căn cứ áp dụng biện pháp BTTH? Trong trường hợp nào bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm BTTH? Đây là những vấn đề vẫn chưa thực sự được giải quyết triệt để trong pháp luật hợp đồng Việt Nam Hiện nay, tại Việt Nam chế định

về BTTH do vi phạm hợp đồng được quy định tại các văn bản pháp luật khác nhau như: BLDS, Luật thương mại (LTM), Luật kinh doanh bảo hiểm… Quy định về trách nhiệm BTTH trong các luật chuyên ngành cần phải đảm bảo sự phù hợp với BLDS với tư cách là luật gốc của hệ thống luật tư

Bộ luật dân sự năm 2015 quy định trách nhiệm BTTH do vi phạm hợp đồng, đã có nhiều điểm mới, tiến bộ hơn so với BLDS năm 2005 Với nền kinh tế thị trường phát triển như hiện nay, chế tài bồi thượng thiệt hại đã và đang là công cụ

vô cùng cần thiết để bảo vệ các thương nhân tham gia vào các quan hệ hợp đồng Chính vì vậy, việc nghiên cứu một cách toàn diện về chế tài này - đặc biệt trong bối cảnh BLDS năm 2015 mới có hiệu lực thi hành được gần 3 năm là một vấn đề mang tính cấp bách, có ý nghĩa quan trọng nhằm góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thương nhân Đặc biệt, thông qua việc nghiên cứu, tìm hiểu quy định của BLDS năm 2015 về chế tài BTTH do vi phạm hợp đồng, chúng ta có thể phát hiện những nội dung mâu thuẫn, chồng chéo, chưa phù hợp, từ đó đề xuất, kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật trong lĩnh vực này Bên cạnh đó, việc tìm hiểu chế tài BTTH do vi phạm hợp đồng còn giúp các thương nhân Việt Nam vận dụng pháp luật một cách có hiệu quả hơn

Vì những lý do trên, tác giả xin chọn đề tài: "Trách nhiệm bồi thường thiệt

hại do vi phạm hợp đồng của thương nhân theo quy định của Bộ luật dân sự 2015"

làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ luật học

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Trách nhiệm BTTH do vi phạm hợp đồng được nhiều nhà khoa học nghiên cứu pháp luật quan tâm Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về trách

Trang 10

nhiệm BTTH do vi phạm hợp đồng nói chung, trong đó có đề cập đến trách nhiệm BTTH do xâm phạm hợp đồng như các bài viết:

Đinh Văn Quế: "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại vi phạm hợp đồng", Tạp

chí Tòa án nhân dân, số 10, tháng 5-2004;

Tưởng Duy Lượng - Nguyễn Văn Cường: "Cách tính bồi thường do vi phạm hợp đồng ", Tạp chí Tòa án nhân dân, số 10, tháng 5-2004;

Đinh Hồng Ngân: "Trách nhiệm dân sự trong hợp đồng", Luận văn thạc sĩ

Luật học, năm 2006;

Trần Thùy Linh: "Bồi thường thiệt hại do hàng hóa không phù hợp với hợp đồng theo quy định của Công ước Viên 1980 - So sánh với pháp luật Việt Nam",

Luận văn thạc sĩ Luật học, năm 2009;

Lê Thị Yến: "Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng dân sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn", Luận văn thạc sĩ Luật học, năm 2013;

Nguyễn Thị Thu Huyền: "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại", Luận văn thạc sĩ Luật học, năm 2013;

Bùi Thị Thanh Hằng: "Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng", Luận án

tiến sĩ Luật học, năm 2018;

Nhìn chung, các đề tài đó đã nêu và phân tích những vấn đề chung về trách nhiệm BTTH trong luật dân sự; đưa ra các yêu cầu cơ bản trong việc xác định trách nhiệm BTTH, các quy định của pháp luật dân sự trong việc BTTH do vi phạm hợp đồng, cơ sở để xác định trách nhiệm BTTH, các hình thức và mức bồi thường, những trường hợp miễn hoặc giảm trách nhiệm bồi thường

Tuy nhiên, các đề tài này hoặc đề cập ở dạng khái quát về trách nhiệm BTTH do do vi phạm hợp đồng hoặc có đề cập chi tiết cụ thể hơn nhưng vào thời điểm của BLDS năm 2005 đang tồn tại hiệu lực pháp lý Tìm hiểu một cách có hệ thống, chi tiết về trách nhiệm BTTH do vi phạm hợp đồng của thương nhân theo BLDS năm 2015 và các văn bản hướng dẫn mới thì chưa có một công trình khoa học nào cho đến thời điểm hiện tại

Trang 11

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu đề tài là trên cơ sở nghiên cứu một cách chuyên sâu các vấn đề lý luận và thực tiễn về trách nhiệm BTTH do vi phạm hợp đồng theo quy định tại BLDS năm 2015; trên cơ sở so sánh đối chiếu với qui định trách nhiệm

BTTH do vi phạm hợp đồng của một số quốc gia và một số văn bản pháp lý quốc tế

và BLDS năm 2005 nhằm góp phần làm rõ và làm phong phú thêm về cơ sở lý luận, thực tiễn và pháp lý của vấn đề trách nhiệm BTTH do vi phạm hợp đồng, tiếp thu có chọn lọc những điểm tiến bộ trong pháp luật quốc tế; đồng thời đưa ra những kiến nghị cụ thể để sửa đổi, bổ sung các qui định còn bất cập, thiếu sót trong pháp luật hiện hành, hoàn thiện cơ chế pháp lý điều chỉnh trách nhiệm bồi thường do vi phạm hợp đồng theo xu hướng hiện đại và hội nhập, qua đó nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam

Để đạt được mục đính này, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu các qui định của các văn bản pháp luật hiện hành về trách nhiệm BTTH do vi phạm hợp đồng của thương nhân theo BLDS năm 2015; tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật về BTTH do vi phạm hợp đồng của thương nhân theo BLDS năm 2015, qua đó chỉ ra những bất cập trong các qui định của pháp luật và phương hướng hoàn thiện qui định của pháp luật về BTTH nói chung, pháp luật về BTTH do vi phạm hợp đồng của thương nhân nói riêng

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi giới hạn nghiên cứu đề tài cao học luật, tôi chỉ nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản nhất về trách nhiệm BTTH do vi phạm hợp đồng của thương nhân trong lĩnh vực thương mại

Luận văn này cũng đưa ra những giải pháp nhằm tháo gỡ những vướng mắc trong giải quyết BTTH do vi phạm hợp đồng của thương nhân khi áp dụng các quy định của BLDS năm 2015

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Trang 12

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận nhận thức của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, phương pháp

phân tích, tổng hợp, thống kê cũng được sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của công trình nghiên cứu

Luận văn sẽ đề cập một cách có hệ thống, chi tiết trong qui định của pháp luật về trách nhiệm BTTH do vi phạm hợp đồng của thương nhân; chỉ ra những khó khăn, bất cập trong việc áp dụng pháp luật, đồng thời có những kiến nghị trong việc hoàn thiện và áp dụng pháp luật trong việc xác định trách nhiệm BTTH do do vi phạm hợp đồng của thương nhân trong thực tế hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm

hợp đồng của thương nhân theo quy định của Bộ luật dân sự 2015

Chương 2: Thực trạng quy định của Bộ luật dân sự 2015 về trách nhiệm bồi

thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng của thương nhân

Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt hại do

vi phạm hợp đồng của thương nhân trong Bộ luật dân sự 2015

Trang 13

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG CỦA THƯƠNG NHÂN

1.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng của thương nhân theo quy định của Bộ luật dân sự 2015

1.1.1 Khái niệm hợp đồng

Hợp đồng xuất hiện cùng với sự xuất hiện của phân công lao động xã hội và nhu cầu trao đổi hàng hóa của xã hội loài người với nhiệm vụ quan trọng là điều tiết các quan hệ tài sản Cùng với sự phát triển của nhân loại, vị trí và vai trò quan trọng của hợp đồng ngày càng được khẳng định và ngày nay luật hợp đồng được xem là

bộ phận không thể thiếu trong mọi hệ thống pháp luật trên thế giới

"Hợp đồng", "thỏa thuận", "cam kết" hay "thỏa ước" được xem là những thuật ngữ tương đương cho dù có sự khác biệt về sắc thái sử dụng những thuật ngữ này, trong số các thuật ngữ được sử dụng, "hợp đồng" là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các văn bản pháp lý quốc gia cũng như quốc tế Mặc dù được sử dụng phổ biến nhưng đến nay định nghĩa hợp đồng chỉ được tìm thấy trong hệ thống pháp luật quốc gia mà hoàn toàn vắng bóng trong các văn bản pháp lý quốc tế

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, định nghĩa hợp đồng được ghi nhận tại Điều 388 BLDS năm 2005 và Điều 385 BLDS năm 2015 Theo đó, hợp đồng được

hiểu là "sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền,

thể hiện cô đọng, có tính khái quát cao, phản ánh được bản chất của hợp đồng và do

đó, đáp ứng được yêu cầu được đặt ra đối với quy phạm của đạo luật gốc - điều chỉnh mọi quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực tư Dựa trên định nghĩa hợp đồng được ghi nhận tại Điều 388 BLDS năm 2005, Điều 385 BLDS năm 2015 và các cách tiếp cận khái niệm hợp đồng chính trên thế giới hiện nay, có thể nhận thấy BLDS Việt Nam đã có cách tiếp cận khái niệm hợp đồng tương tự các quốc gia theo hệ thống

Trang 14

Civil law Như vậy, cách tiếp cận khái niệm hợp đồng của BLDS năm 2005 cũng như BLDS năm 2015 đã thể hiện rõ bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các chủ thể nhằm thiết lập các quyền và nghĩa vụ nhất định của các chủ thể, điều này được thể hiện rõ thông qua mối liên hệ pháp lý chặt chẽ giữa các chủ thể đã tự nguyện xác lập hợp đồng, theo đó quyền của chủ thể quyền chỉ có thể được đáp ứng thông qua hành vi thực hiện nghĩa vụ của chủ thể nghĩa vụ

Từ những phân tích trên, khái niệm hợp đồng có thể hiểu như sau: Hợp đồng là sự ràng buộc pháp lý giữa các chủ thể đã tự nguyện thỏa thuận, xác lập các quyền và nghĩa vụ nhằm đáp ứng hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên

1.1.2 Khái niệm vi phạm hợp đồng

Các hệ thống pháp luật trên thế giới sử dụng các thuật ngữ khác nhau như

"không thực hiện hợp đồng (inexécution hay non-performance)", "vi phạm hợp đồng (breach of contract)" hay "vi phạm nghĩa vụ (Pflichtverletzung)" Qua nghiên cứu so sánh, chúng ta thấy Bộ nguyên tắc châu Âu về hợp đồng sử dụng thuật ngữ "inexécution" được định nghĩa tại khoản 4, Điều 1:301 là "thể hiện việc thiếu thực hiện nghĩa vụ từ hợp đồng, cho dù có thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hay không và cũng được áp dụng đối với việc chậm thực hiện, thực hiện kém và từ chối hợp tác" Bộ nguyên tắc Unidroit cũng quy định tương tự về hợp đồng thương mại quốc tế (chương 7) Ở Đức, thuật ngữ sử dụng phổ biến là "vi phạm nghĩa vụ" [8]

Các quốc gia thuộc hệ thống Common law như Anh, Ireland hay Scotland lựa chọn sử dụng thuật ngữ "vi phạm hợp đồng" để chỉ đến mọi hành vi không thực hiện đúng hợp đồng [8]

Trên cơ sở các thuật ngữ được sử dụng trong các văn bản pháp lý quốc tế cũng có thể nhận thấy hai thuật ngữ được sử dụng phổ biến để chỉ đến trường hợp không thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng mà các bên đã tự nguyện cam kết trước đó

là "vi phạm hợp đồng" và "không thực hiện hợp đồng" "Vi phạm hợp đồng" là thuật ngữ chủ yếu được sử dụng trong hệ thống Common law, trong khi thuật ngữ

Trang 15

"không thực hiện hợp đồng" lại được biết đến rộng rãi hơn trong hệ thống Civil law nhưng nhìn chung trong các hệ thống pháp luật, thuật ngữ "không thực hiện hợp đồng" và "vi phạm hợp đồng" được xem là hai thuật ngữ đồng nghĩa và được sử dụng thay thế cho nhau và đều chỉ đến cùng một nội hàm là bao hàm mọi hành vi không thực hiện đúng hợp đồng, cho dù là không thực hiện một phần, không thực hiện toàn bộ, chậm thực hiện hay có khiếm khuyết trong việc thực hiện hợp đồng

Khác với các hệ thống pháp luật trên thế giới, pháp luật hợp đồng Việt Nam

sử dụng cả thuật ngữ "vi phạm" và "không thực hiện" để chỉ đến hành vi không thực hiện đúng hợp đồng

Định nghĩa "vi phạm hợp đồng" được ghi nhận trực tiếp trong LTM năm

2005, theo đó vi phạm hợp đồng được hiểu là "việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật này" Khác với LTM năm 2005, BLDS năm 2015

không trực tiếp đưa ra định nghĩa "vi phạm hợp đồng" mà khái niệm vi phạm hợp đồng được biết đến thông qua khái niệm "vi phạm nghĩa vụ" được quy định như

sau: "Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ" [20, khoản 1 Điều 351] Như vậy theo quy định này thì "không thực hiện

nghĩa vụ đúng thời hạn", "thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ", "thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ" được hiểu là các trường hợp vi phạm nghĩa vụ nói chung và

vi phạm nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng nói riêng Nói cách khác, thuật ngữ vi phạm nghĩa vụ/vi phạm hợp đồng theo BLDS năm 2015 chỉ đến mọi trường hợp vi phạm về thời hạn thực hiện, thực hiện nghĩa vụ có khiếm khuyết, không thực hiện một phần nghĩa vụ hoặc không thực hiện toàn bộ nghĩa vụ đã cam kết Như vậy, có thể nhận thấy BLDS năm 2015 cũng như LTM 2005 đã lựa chọn cách tiếp cận đơn khi đề cập đến khái niệm vi phạm nghĩa vụ, vi phạm hợp đồng

Như vậy, có thể nhận thấy khái niệm vi phạm nghĩa vụ/vi phạm hợp đồng được ghi nhận trong BLDS năm 2015:

Trang 16

Thứ nhất, bản chất của nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng là một loại nghĩa vụ

nên thuật ngữ "nghĩa vụ" được ghi nhận tại Điều 351 BLDS năm 2015 chỉ đến cả các nghĩa vụ phát sinh ngoài hợp đồng và các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng

hiện nghĩa vụ đúng thời hạn", "thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ", "thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ" là các trường hợp vi phạm nghĩa vụ nói chung và vi phạm nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng nói riêng Cũng tương tự như vậy, khái niệm

vi phạm hợp đồng được ghi nhận tại khoản 12 Điều 3 LTM năm 2005 bao gồm các hành vi "không thực hiện", "thực hiện không đầy đủ", "thực hiện không đúng nghĩa vụ" theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy định của LTM năm 2005 Tuy nhiên, có thể nhận thấy "không thực hiện", "thực hiện không đầy đủ" là những trường hợp của "thực hiện không đúng nghĩa vụ"

Theo quy định tại BLDS 2015 nội dung của hợp đồng (nghĩa vụ) có thể bao gồm: Đối tượng của hợp đồng; Số lượng, chất lượng; Giá, phương thức thanh toán; Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng; Quyền, nghĩa vụ của các bên; Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng và phương thức giải quyết tranh chấp [20, Điều 398]

Như vậy, trên cơ sở khoản 1 Điều 351, Điều 398 BLDS 2015 và khoản 12 Điều 3 LTM năm 2005, ta có thể nhận thấy khái niệm vi phạm nghĩa vụ được quy định tại khoản 1 Điều 351 BLDS năm 2015 cũng như khoản 12 Điều 3 LTM năm

2005 chưa thật sự chính xác do có sự trùng lặp bởi theo Điều 398 BLDS năm 2015 thời hạn thực hiện hợp đồng, số lượng, chất lượng, giá cả… là các nội dung của hợp đồng và "không thực hiện", "thực hiện không đầy đủ" là những trường hợp của

"thực hiện không đúng nghĩa vụ"

Như vậy, vi phạm hợp đồng được hiểu là hành vi không thực hiện đúng hợp đồng của bên có nghĩa vụ, bao gồm hành vi không thực hiện một phần, không thực hiện toàn bộ, chậm thực hiện hay có khiếm khuyết trong việc thực hiện hợp đồng

Mặc dù có sự khác biệt trong việc sử dụng thuật ngữ chỉ đến hành vi không thực hiện đúng nghĩa vụ mà các bên đã xác lập hợp đồng hợp pháp nhưng các thuật

Trang 17

ngữ được sử dụng trong pháp luật hợp đồng Việt Nam cũng như luật hợp đồng của hầu hết các hệ thống pháp luật trên thế giới đều chỉ đến cùng một nội hàm là bao hàm bất cứ sự không thực hiện hợp đồng nào, cho dù là hành vi không thực hiện một phần, không thực hiện toàn bộ, chậm thực hiện hoặc có khiếm khuyết trong việc thực hiện hợp đồng

1.1.3 Khái niệm thương nhân

Quá trình phát triển, trong pháp luật Việt Nam, khái niệm thương nhân lần đầu tiên được quy định trong LTM 1997 theo luật này thương nhân bao gồm cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình, có đăng ký kinh doanh hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên [17, Điều 5] Tuy nhiên, do nội hàm của khái niệm hoạt động thương mại bị bó hẹp [17, Điều 45] nên đối tượng được coi là thương nhân không nhiều Hơn nữa, theo quy định của LTM 1997 thì một cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình có hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên thì được coi là thương nhân và thuộc đối tượng điều chỉnh của LTM khi các chủ thể này thực hiện một thủ tục hành chính bắt buộc đó là "đăng ký kinh doanh" Từ quy định này của luật đã dẫn đến không ít trường hợp chủ thể hoạt động thương mại thường xuyên, độc lập (đây chính là "thương nhân thực tế") nhưng lại không được coi là

"thương nhân" vì thế các hành vi thương mại của họ không chịu sự điều chỉnh của LTM năm 1997 Chính điều này dẫn đến nhiều trường hợp chủ thể kinh doanh lợi dụng quy định của LTM để lẩn trốn việc thực hiện nghĩa vụ của mình đối với bạn hàng

Để khắc phục hạn chế này, LTM 2005 ra đời, bên cạnh đó LTM 2005 còn

mở rộng khái niệm hoạt động thương mại "là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi bao gồm mua bán hàng hóa cung cấp dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động khác nhằm mục đích sinh lợi" đã làm cho số lượng chủ thể là thương nhân được mở rộng đáng kể Theo quy định của LTM 2005 thì thương nhân là tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi thương mại một cách độc lập, thường xuyên như một nghề nghiệp Cũng theo quy định của luật thì "đăng ký kinh doanh" chỉ là nghĩa vụ của thương nhân Điều này đồng nghĩa với việc luật công nhận có thương nhân thực tế

Trang 18

là các chủ thể có hoạt động thương mại độc lập thường xuyên nhưng chưa thực hiện việc đăng ký kinh doanh và đối tượng này cũng phải chịu sự điều chỉnh của LTM

Theo pháp luật Việt Nam hiện hành "thương nhân bao gồm các tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh" [19, Điều 6]

1.1.4 Khái niệm bồi thường thiệt hại

Bồi thường thiệt hại là chế tài quan trọng và cơ bản nhất nhằm bảo đảm lợi ích của các bên khi hợp đồng bị vi phạm, tạo ra khả năng đảm bảo lợi ích một cách tối đa cho mọi bên có liên quan trong quan hệ hợp đồng Chính vì thế, chế tài này được áp dụng cho hầu hết các hành vi vi phạm hợp đồng Tuy nhiên, thế nào là BTTH trong lĩnh vực hợp đồng là vấn đề chưa được BLDS làm rõ Định nghĩa BTTH do vi phạm hợp đồng không được đưa ra trong BLDS năm 2005, thay vào

đó, BLDS năm 2005 chỉ quy định các trường hợp vi phạm hợp đồng cụ thể như chậm thực hiện nghĩa vụ, không thực hiện nghĩa vụ giao vật, không thực hiện một công việc hay thực hiện một công việc không được phép thực hiện hoặc chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ dân sự và buộc bên vi phạm hợp đồng phải BTTH cho bên bị vi phạm khi thiệt hại xảy ra là hệ quả của hành vi vi phạm hợp đồng

Bộ luật dân sự năm 2015 cũng không đưa ra định nghĩa BTTH mà chỉ nêu lên quyền dân sự khi bị vi phạm thì được BTTH, "cá nhân, pháp nhân có quyền dân

sự bị xâm phạm được bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác" [20, Điều 13] LTM năm 2005 đưa ra định nghĩa BTTH như sau: "Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm" Như vậy, có thể nhận thấy LTM năm 2005 tiếp cận BTTH do vi phạm hợp đồng dưới góc độ là quyền yêu cầu của bên có quyền lợi bị vi phạm đối với bên vi phạm, theo đó bên vi phạm phải "trả tiền bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng gây ra"

Thực tế khi áp dụng các quy định của pháp luật dân sự, người ta thường hay nhầm lẫn giữa phạt vi phạm và BTTH, một phần bởi hai hình thức trên đều là chế

Trang 19

tài về mặt vật chất, kết quả là khi áp dụng chế tài BTTH hoặc phạt vi phạm, bên bị

vi phạm đều nhận được một khoản tiền từ bên vi phạm Do đó, một số hợp đồng tên điều khoản là "Phạt vi phạm", nhưng nội dung điều khoản lại thể hiện là BTTH hoặc ngược lại Tuy nhiên, đó chỉ là hiện tượng bên ngoài, về mặt bản chất pháp lý thì đây là hai chế tài hoàn toàn khác biệt Sự khác biệt được thể hiện trên những nội dung sau:

Một là, BTTH và phạt vi phạm các bên có thể thỏa thuận ghi trong hợp

đồng cả hai nội dung này hoặc chỉ ghi nhận thỏa thuận phạt vi phạm mà không yêu cầu BTTH hoặc chỉ yêu cầu BTTH mà không phạt vi phạm Điều quan trọng là nghĩa vụ chứng minh của bên bị vi phạm để được áp dụng chế tài đã thỏa thuận Không chỉ phải chứng minh tồn tại hành vi vi phạm mà còn phải chứng minh được rằng có thiệt hại thực thực tế xảy ra, hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại; mức độ tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra đồng thời, bên yêu cầu BTTH phải áp dụng các biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất

Hai là, xuất phát từ bản chất của hai chế định này là khác nhau, chế định

phạt vi phạm nhằm ngăn ngừa các vi phạm có thể xảy ra trong hợp đồng, còn chế định BTTH nhằm vào việc khắc phục thiệt hại do hậu quả của hành vi vi phạm xảy

ra Một chế định xuất phát từ sự dự liệu về quan hệ của các bên khi tiến hành ký kết hợp đồng, còn một chế định xuất phát từ yêu cầu bù đắp những tổn thất do hành vi

vi phạm gây ra Vì thế, chế tài phạt vi phạm có thể áp dụng cho dù chưa có thiệt hại xảy ra hoặc thiệt hại nhỏ hơn mức phạt vi phạm Trong khi đó, chế tài BTTH nhằm

bù đắp tổn thất nên sẽ chỉ bằng thiệt hại đã xảy ra hoặc thậm chí nhỏ hơn thiệt hại

đã xảy ra Các bên khi tham gia vào quan hệ hợp đồng, tùy thuộc vào vị trí pháp lý của mình để có thể thỏa thuận những điều khoản hợp lý nhất Vấn đề xác định thiệt hại theo khoản 1 Điều 419, BLDS năm 2015, thiệt hại được bồi thường do vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 419; Điều 13

và Điều 360 BLDS năm 2015 Trong khi đó, Điều 13 và Điều 360 BLDS năm 2015 chỉ nêu nguyên tắc chung là nếu một bên gây thiệt hại cho một bên khác thì phải bồi

Trang 20

thường cho bên này toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hay luật có quy định khác Khoản 2 Điều 419 BLDS năm 2015 chỉ đề cập thiệt hại là lợi ích mà

lẽ ra người có quyền (bên bị vi phạm) sẽ được hưởng do hợp đồng mang lại và các chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng mà không trùng lặp với mức BTTH cho lợi ích mà hợp đồng mang lại Theo tác giả, rất khó để xác định được các loại thiệt hại mà bên bị vi phạm có thể yêu cầu bồi thường từ các quy định này Nên đây sẽ là vướng mắc cần được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời ban hành hướng dẫn làm cơ sở thống nhất về nhận thức và áp dụng khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp liên quan đến nội dung này

Mặt khác, thường số tiền BTTH do vi phạm hợp đồng được xác định bởi Tòa án có thẩm quyền hay tổ chức trọng tài trên cơ sở thiệt hại mà bên bị vi phạm phải chịu Nhưng trong thực tế, các bên liên quan trong hợp đồng thường thỏa thuận trước trong hợp đồng về số tiền BTTH khi xảy ra vi phạm là một con số cụ thể hay được tính theo một công thức nhất định thông qua điều khoản xác định mức BTTH

cụ thể (liquidated damages clause) Điều này hướng đến việc giảm thiểu chi phí thương lượng hay chi phí tố tụng, hạn chế mức BTTH mà bên vi phạm phải trả hay trong trường hợp ngược lại gây áp lực cho bên vi phạm thông qua việc quy định một số tiền bồi thường lớn

Như vậy, theo tác giả: Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng là biện pháp khắc phục hậu quả của hành vi vi phạm hợp đồng, nhằm bảo đảm cho trách nhiệm dân sự theo hợp đồng được thực hiện bằng cách bù đắp những tổn thất là hậu quả của hành vi vi phạm hợp đồng do bên vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị

Trang 21

không tách biệt trách nhiệm BTTH là một loại trách nhiệm thuộc luật tư và cũng chỉ giải quyết các vấn đề thuộc trật tự công Vì vậy, các điều luật trong bộ luật cổ như

bộ Quốc triều Hình luật của nhà Lê hay Hoàng Việt Luật lệ của Gia Long đều quy định các điều khoản trách nhiệm về luật hình ví dụ: Điều 582 Quốc triều hình luật

đã quy định "Nếu những súc vật và chó đã húc, đá và cắn người mà cách làm hiệu

và ràng buộc không đúng phép - (theo đúng phép vật nào hay húc người thì phải cắt hai sừng, đá người thì phải buộc hai chân, cắn người thì phải cắt hai tai)- hay là chó dại mà không giết thì người chủ phải phạt 60 lượng Nếu vì cớ trên, có người chết hay bị thương thì phải tội quá thất Nếu cố ý thả ra để làm cho người chết hay bị thương thì phải tội kém tội đánh người bị thương hay đánh chết người một bậc Người được thuê đến để chữa bệnh cho súc vật, hay là người cố trêu chọc những vật kia, mà bị thương hay chết, thì người chủ không phải tội"

Giai đoạn hiện nay, trách nhiệm BTTH được quy định và điều chỉnh bởi Luật tư và các nguyên tắc tổng quát về trách nhiệm này đã được đặt ra ở tất cả các nước Ở Việt Nam, BTTH hiện nay được hiểu là một loại trách nhiệm dân sự theo

đó người có hành vi gây ra thiệt hại cho người khác phải bồi thường những tổn thất

Điều 360 BLDS năm 2015 đã ghi nhận khái quát trách nhiệm BTTH do vi phạm nghĩa vụ bao gồm quát trách nhiệm BTTH do vi phạm hợp đồng và trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng Điều này là hoàn toàn hợp lý bởi hợp đồng là căn cứ chủ yếu làm phát sinh nghĩa vụ Bên cạnh đó, Điều 360 BLDS năm 2015 còn chỉ rõ nguyên tắc của BTTH và điều kiện làm phát sinh trách nhiệm BTTH Theo đó, để làm phát sinh trách nhiệm BTTH đòi hỏi phải có 3 điều kiện: có hành vi vi phạm

Trang 22

nghĩa vụ; có thiệt hại; có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm nghĩa vụ và thiệt hại xảy ra

Như vậy, theo tác giả: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng của thương nhân là một loại trách nhiệm dân sự phát sinh kể từ lúc một bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng là thương nhân đã gây cho bên kia một sự thiệt hại, theo

đó bên vi phạm phải bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm của mình gây ra cho bên kia Các khoản thiệt hại đòi bồi thường phải nằm trong phạm vi được pháp luật ghi nhận Hình thức trách nhiệm này không nhằm duy trì hay chấm dứt hợp đồng

mà áp dụng ngay cả khi hợp đồng được tiếp tục thực hiện hay chấm dứt

1.2 Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng của thương nhân

Trách nhiệm BTTH do vi phạm hợp đồng là loại trách nhiệm dân sự mà theo đó người có hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng gây ra thiệt hại cho người khác thì phải chịu trách nhiệm bồi thường những tổn thất mà mình gây ra Như vậy, trách nhiệm BTTH do vi phạm hợp đồng có các đặc điểm sau:

- Trách nhiệm BTTH do vi phạm hợp đồng bao giờ cũng phải dựa trên cơ

sở một hợp đồng có trước tức là giữa người được hưởng bồi thường và người gây ra thiệt hại trước đó phải có một quan hệ hợp đồng

- Trách nhiệm BTTH do vi phạm hợp đồng chỉ phát sinh khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng tức là không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng gây ra Nếu giữa các bên tồn tại quan hệ hợp đồng nhưng hành vi gây thiệt hại không phải là do vi phạm hợp đồng thì trách nhiệm phát sinh cũng không phải là trách nhiệm theo hợp đồng

- Chủ thể gây thiệt hại và người bị thiệt hại chính là các bên trong quan hệ hợp đồng đó, trong đó một bên là thương nhân BTTH do vi phạm hợp đồng được

áp dụng khi hành vi gây thiệt hại là hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng Hành

vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng chỉ có thể làm ảnh hưởng đến lợi ích của các bên tham gia trong hợp đồng đó Do đó, nếu người thứ ba có lỗi để gây ra thiệt hại

Trang 23

cho một bên trong hợp đồng hoặc một bên trong hợp đồng gây ra thiệt hại cho người thứ ba thì trách nhiệm dân sự phát sinh chỉ có thể là trách nhiệm ngoài hợp đồng Trường hợp này không áp dụng đối với hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba bởi lẽ đây là trường hợp ngoại lệ vì người thứ ba cũng là người có quyền lợi liên quan và được đề cập đến trong hợp đồng

1.3 Vai trò của việc quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại vi phạm hợp đồng của thương nhân theo quy định của Bộ luật dân sự 2015

Như chúng ta đã biết, khi hợp đồng bị vi phạm dưới hình thức không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ không đúng cam kết, bên vi phạm sẽ phải gánh chịu một số biện pháp trách nhiệm pháp lý đối với bên có quyền Pháp luật nước ta quy định hai hình thức chế tài vật chất cơ bản để bảo đảm thực hiện hợp đồng của thương nhân nói riêng và các chủ thể quan hệ hợp đồng nói chung đó là bồi thường thiệt hại

và phạt vi phạm hợp đồng Đây là hai chế tài được quy định trong khá nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, nổi bật nhất là BLDS 2015 và LTM 2005

Trong hệ thống các văn bản quốc gia, BLDS được coi là đạo luật xương sống áp dụng cho mọi giao dịch có tính chất bình đẳng, tự nguyện giữ các chủ thể tham gia Theo đó, đối với chế định hợp đồng của BLDS, các nhà làm luật quy định theo hướng BLDS là nền tảng cho các loại hợp đồng bất kể chúng được ký kết ở đâu, lĩnh vực hoạt động cụ thể của con người Những đặc thù của mỗi hợp đồng sẽ được quy định trong các văn bản pháp luật chuyên ngành, trên cơ sở nguyên tắc ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành nếu pháp luật chuyên ngành không quy định thì áp dụng quy định của BLDS, trong đó có chế định BTTH do vi phạm hợp đồng

Trách nhiệm BTTH được ghi nhận tại các điều 13, 360, 361, 419 của BLDS

2015, quy định những vấn đề chung nhất về BTTH cũng như thiệt hại nào được bồi thường, giải thích thế nào là thiệt hại vật chất? thế nào là thiệt hại về tinh thần? LTM 2005 với tính chất là luật chuyên ngành điều chỉnh các hoạt động thương mại tại các điều 294, 295, 302 đến 307 sẽ quy định cụ thể các vấn đề như: Chủ thể trong quan hệ BTTH, nguyên tắc áp dụng chế tài BTTH, căn cứ áp dụng, nghĩa vụ chứng

Trang 24

minh thiệt hại, nghĩa vụ hạn chế tổn thất, các trường hợp miễn trách nhiệm BTTH, mối quan hệ giữa chế tài BTTH với các hình thức chế tài thương mại khác

Như vậy, theo quy định của BLDS 2015, BTTH được khai thác theo hướng bồi thường do vi phạm nghĩa vụ, bởi lẽ, hợp đồng là một căn cứ chủ yếu phát sinh nghĩa vụ Với tư cách là văn bản gốc điều chỉnh các quan hệ luật tư, quy định của BLDS là cơ sở để các văn bản pháp luật khác quy định về chế định BTTH trong những lĩnh vực hoạt động đặc thù

Trong quan hệ giữa các thương nhân, pháp luật thương mại ra đời là cần thiết để duy trì vào bảo đảm sự bình đẳng cho các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng Khi một hợp đồng thương mại đã được giao kết hợp pháp và phát sinh hiệu lực pháp luật thì các bên phải thực hiện các nghĩa vụ mà mình đã thỏa thuận trong hợp đồng Nếu một bên có hành vi vi phạm hợp đồng thì phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi nhất định mà khoa học pháp lý gọi là chế tài Chế tài có nhiều loại nhưng cơ bản được chia thành hai loại là chế tài tài sản và chế tài nghiệp vụ Đối với mỗi chế tài đều có điều luật riêng để điều chỉnh BTTH do vi phạm hợp đồng là mọi chế tài dân sự được áp dụng nhằm bù đắp những thiệt hại thực tế mà bên vi phạm gây ra cho bên bị vi phạm

Theo đó, khi thương nhân thực hiện hành vi vi phạm hợp đồng, thì họ phải gánh chịu những tác động bất lợi từ phía Nhà nước và đối tác Mục đích của các biện pháp tác động này là nhằm nâng cao ý thức chấp hành hợp đồng, bảo đảm trật

tự kinh tế cũng như quyền và lợi ích của các chủ thể trong hoạt động sản xuất - kinh doanh, nên việc áp dụng các chế tài mang tính tài sản trong đó có chế tài BTTH là tất yếu, trừ khi chính bên bị vi phạm trong quan hệ hợp đồng không muốn áp dụng chế tài này đối với bên vi phạm

Tóm lại, thương nhân sinh ra là để thực hiện hoạt động thương mại, là để kiếm tiền một cách hợp pháp Vì vậy, các quan hệ hợp đồng mà thương nhân xác lập chủ yếu là quan hệ hàng hóa - tiền tệ và việc thực hiện thành công hay không thành công các quan hệ này có ảnh hưởng rất lớn đến mục đích hoạt động thương

Trang 25

mại của thương nhân Chính vì vậy, nhà lập pháp đã phải căn cứ vào nhu cầu của các thương nhân để xác định biện pháp chế tài nào là cần thiết phải áp dụng khi một chủ thể nào đó "bội ước" (không thi hành hoặc thi hành không đúng hợp đồng) Và nhà lập pháp đã đúng khi chọn chế tài BTTH là một chế tài tài sản Đánh vào túi tiền của các bên vi phạm hợp đồng và gây ra thiệt hại thì chỉ có biện pháp chế tài tài sản là hữu hiệu nhất

Chính vì vậy, BTTH do vi phạm hợp đồng là một công cụ pháp lý quan trọng bảo đảm thực hiện đúng hợp đồng của thương nhân Việc quy định trách nhiệm BTTH do vi phạm hợp đồng trong BLDS 2015 là vô cùng quan trọng và không thể thiếu trong pháp luật của quốc gia

1.4 Sự phát triển của pháp luật dân sự Việt Nam về quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng qua hai Bộ luật dân sự 2005 và 2015

Qua gần 10 năm thi hành và áp dụng, BLDS 2005 đã bộc lộ không ít những điểm hạn chế và bất cập, nhiều quy định pháp luật đã dần trở nên lạc hậu hơn so với

sự phát triển mạnh mẽ của những quan hệ dân sự đang diễn ra ngày càng phong phú

và đa dạng trong thực tiễn Việc sửa đổi, bổ sung những quy định pháp lý không còn phù hợp là một trong những yêu cầu cấp thiết để BLDS luôn đóng vai trò là luật gốc - luật mẹ trong hệ thống luật tư Sau một thời gian dài xây dựng, BLDS 2015 đã được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2017 Với việc sửa đổi, bổ sung gần như toàn bộ các quy định, BLDS

2015 đã có nhiều điểm mới phát triển, tiến bộ hơn so với BLDS 2005, đặc biệt là chế định BTTH do vi phạm hợp đồng

Trách nhiệm BTTH do vi phạm nghĩa vụ là một trong những nội dung được

bổ sung cơ bản so với quy định tại BLDS 2005 Thay vì chỉ quy định chung trong một điều luật (Điều 307) BLDS 2015 dành tới 04 điều luật để quy định về nội dung này (từ Điều 360 đến Điều 363 BLDS 2015) Từ quy định tại những điều này, có thể thấy một số nội dung mới phát triển, nổi bật như sau:

Trang 26

Thứ nhất, căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường được ghi nhận đầy đủ và

rõ ràng hơn

Với quy định: "Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra khi bên

có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác" [20, Điều 360] - đây là quy định mới được bổ sung tại

BLDS 2015 Quy định này chỉ rõ trách nhiệm BTTH sẽ phát sinh khi có các yếu tố sau: (i) Có thiệt hại; (ii) có hành vi vi phạm nghĩa vụ; (iii) có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi vi phạm nghĩa vụ; (iv) có lỗi Tuy "lỗi" không phải là một điều kiện được nhắc đến trực tiếp trong điều luật nhưng có thể hiểu, khi các bên trong hợp đồng có hành vi vi phạm nghĩa vụ thì hành vi đó được coi là có lỗi Bên cạnh đó, bên có hành vi vi phạm nghĩa vụ gây thiệt hại những sẽ không phải BTTH khi rơi vào trường hợp "luật có quy định khác" hoặc "các bên có thỏa thuận khác"

Như vậy, thay vì quy định trách nhiệm BTTH một cách chung chung như quy định tại BLDS 2005, việc quy định trách nhiệm BTTH do vi phạm nghĩa vụ thành một điều độc lập như BLDS 2015 đã tạo cơ sở pháp lý rõ ràng hơn trong việc xác định các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường Đồng thời, quy định này còn tạo hành lang pháp lý cụ thể cho các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng trong việc thỏa thuận về trách nhiệm BTTH khi một trong các bên có hành vi vi phạm nghĩa vụ

Thứ hai, các loại thiệt hại được bồi thường do vi phạm nghĩa vụ trong hợp

đồng cũng được xác định cụ thể, đầy đủ và rõ ràng, hợp lý hơn so với trước đây

Trên cơ sở những quy định chung về thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ, thiệt hại được bồi thường do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng được quy định tài Điều 419 BLDS

mà không trùng lặp với mức bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà hợp đồng mang lại

Trang 27

3 Theo yêu cầu của người có quyền, Tòa án có thể buộc người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người có quyền Mức bồi thường do Tòa án quyết định căn cứ vào nội dung vụ việc"

Đây là một quy định mới, có nội dung tiến bộ vượt bậc của BLDS 2015 so với BLDS 2005 Theo đó, Điều 419 đã thể hiện được các điểm mới quan trọng như sau:

Một là, các thiệt hại được bồi thường không chỉ là các thiệt hại thực tế hiện

hữu như trước đây BLDS 2005 đã quy định mà còn cả các thu nhập bị bỏ lỡ (khoản lợi mà đáng lẽ ra trong điều kiện bình thường thì bên bị thiệt hại có được nhưng do hành vi vi phạm của bên kia mà mình đã không thu được)

Hai là, quy định thêm một loại thiệt hại được bồi thường, đó là các chi phí

mà bên bị vi phạm đã phải gánh chịu trong quá trình thực hiện hợp đồng Ví dụ, chi phí thuê luật sư tham gia tố tụng Tòa án hoặc Trọng tài Trong các tranh chấp dân

sự, phí luật sư hầu như chưa bao giờ được bên thua kiện hoàn trả cho bên thắng kiện Nay theo Khoản 2 của điều luật trên thì Tòa án đã có cơ sở pháp lý để buộc bên thua kiện phải thực hiện nghĩa vụ này Và đây cần phải được coi là một quy định tiến bộ của BLDS 2015 liên quan đến chế định trách nhiệm BTTH do vi phạm hợp đồng

Ba là, theo Khoản 3 của Điều luật này thì người vi phạm có thể phải BTTH

về tinh thần cho người bị thiệt hại Đây là một điểm mới liên quan đến các loại thiệt hại được bồi thường mà trước đây được quy định còn mập mờ, không rõ ràng, gây tranh chấp không đáng có

Thứ ba, về nghĩa vụ ngăn chặn, hạn chế thiệt hại

Bộ luật dân sự 2005 đã có những quy định về nghĩa vụ ngăn chặn, hạn chế thiệt hại trong một số hợp đồng nhất định, nhưng những quy định này chỉ mang tính chất rời rạc, chưa trở thành một nội dung mang tính nguyên tắc Ví dụ nhưng liên quan đến nghĩa vụ của bên mua bản hiểm,bên được bảo hiểm và của bên bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, BLDS 2005 có quy định riêng về trường hợp này tại Điều 575 cụ thể:

Trang 28

1 Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, bên mua bảo hiểm hoặc bên được bảo hiểm phải báo ngay cho bên bảo hiểm và phải thực hiện mọi biện pháp cần thiết mà khả năng cho phép để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại

2 Bên bảo hiểm phải thanh toán chi phí cần thiết và hợp lý mà người thứ

ba đã bỏ ra để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại…

Hay liên quan đến vấn đề BTTH trong thời hạn bảo hành, Khoản 2 Điều 448

BLDS 2005 quy định: "bên bán không phải bồi thường thiệt hại nếu chứng minh được thiệt hại xảy ra do lỗi của bên mua Bên bán được giảm mức bồi thường thiệt hại nếu bên mua không áp dụng các biện pháp cần thiết mà khả năng cho phép nhằm ngăn chặn, hạn chế thiệt hại"

Vì vậy, để khắc phục hạn chế nêu trên, BLDS 2015 quy định việc ngăn chặn, hạn chế thiệt hại trở thành một xử sự bắt buộc của bên có quyền Điều 362

quy định: "Bên có quyền pháp áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để thiệt hại không xảy ra hoặc hạn chế thiệt hại cho mình"

Việc quy định nghĩa vụ của bên ngăn chặn, hạn chế thiệt hại xảy ra là có căn nguyên, đạo lý của đó Bản chất của vấn đề này nằm ở chỗ, mọi vấn đề liên quan đến quá trình ký kết cũng như thực hiện hợp đồng đều phải dựa trên nguyên tắc thiện chí và hợp tác Sẽ thật lãng phí và không hợp lý nếu như buộc bên vi phạm nghĩa vụ phải gánh chịu toàn bộ thiệt hại, trong khi không buộc bên có quyền phải hạn chế thiệt hại khi họ hoàn toàn có thể làm việc đó Quy định này rõ ràng thúc đẩy sự hợp tác, thiện chí của các bên trong hợp đồng, đảm bảo sự cân bằng lợi ích

và hướng tới việc tất cả các bên trong hợp đồng cùng phát triển

Thứ tư, về việc BTTH trong trường hợp bên vi phạm có lỗi

Đây cũng được xem là một quy định có nhiều điểm mới của BLDS 2015 và thể hiện sự tiến bộ của tư duy lập pháp của các nhà làm luật Việt Nam Trước đây, những quy định của BLDS 205 chỉ thể hiện được nội dung: bên có nghĩa vụ không phải gánh chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền Tuy nhiên, trên thực tế đã gặp phải

Trang 29

trường hợp khi một bên vi phạm nghĩa vụ làm phát sinh thiệt hại là do lỗi một phần của bên có quyền Thực tiễn xét xử tại Tòa án cho thấy, Tòa án đã giải quyết theo hướng bên vi phạm đương nhiên sẽ không phải chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bên bị vi phạm mà chỉ chịu trách nhiệm BTTH một phần Để đi đến cách giải quyết này, rõ ràng Tòa án chỉ có thể áp dụng tương tựu những quy định của BLDS 2005 về BTTH ngoài hợp đồng

Để giải quyết tồn tại trên, BLDS 2015 đã bổ sung Điều 363 quy định trách nhiệm BTTH trong trường hợp thiệt hại xảy ra do một phần lỗi của bên vi phạm

như sau: "Trường hợp vi phạm nghĩa vụ và có thiệt hại là do một phận lỗi của bên

bị vi phạm thì bên vi phạm chỉ phải bồi thường thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình" Quy định này là hệ quả tất yếu của việc không thực hiện nghĩa vụ ngăn

chặn, hạn chế thiệt hại theo quy định tại Điều 362 BLDS 2015 của bên có quyền Đồng thời, quy định này phù hợp với thực tiễn và nguyên tắc tự chịu trách nhiệm theo quy định tại Khoản 5 Điều 3 BLDS 2015 Ngoài ra, quy định mới này cũng bảo đảm sự phù hợp của quy định pháp luật với lẽ công bằng

Kết luận Chương 1

Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng làm một trong hai biện pháp trách nhiệm tài sản được BLDS 2015 ghi nhận So với chế tài phạt vi phạm, chế tài BTTH được BLDS quan tâm hơn nhiều vi tính chất phức tạp của nó (về điều kiện

áp dụng, về cách thức chứng minh thiệt hại và nhiều vấn đề liên quan khác) Điều này giải thích tại sao, xét về quy mô điều chỉnh pháp luật thì các quy định về BTTH bao giờ cũng đồ sộ, đa dạng và rắc rối hơn nhiều so với chế tài phạt vi phạm Nội dung chương 1 tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản nhất về trách nhiệm BTTH do vi phạm hợp đồng Nội dung đầu tiên được triển khai trong chương 1 là một số vấn đề lý luận cơ bản nhất về hợp đồng, vi phạm hợp đồng và trách nhiệm BTTH do vi phạm hợp đồng của thương nhân theo quy định tại BLDS 2015 Và có

sự so với BLDS 2005, các quy định về chế tài BTTH do vi phạm hợp đồng đã có tiến bộ hơn rất nhiều Điều này thể hiện ở những điểm sau:

Trang 30

Thứ nhất, xác định đầy đủ và rõ ràng hơn về các điều kiện làm phát sinh

trách nhiệm BTTH do vi phạm hợp đồng

Thứ hai, xác định rõ ràng, đầy đủ, cụ thể và hợp lý hơn các loại thiệt hại

được bồi thường, góp phần chấm dứt sự trách nhiệm không đáng có về các loại thiệt hại được bồi thường nói chung và trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp nói riêng

Thứ ba, quy định thêm nhiều vấn đề mới nhằm tăng cường tinh thần, thái

độ hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa các bên ký kết hợp đồng, nhất là quy định về trách nhiệm của bên bị vi phạm trong việc ngăn chặn, hạn chế các thiệt hại có thể xảy ra cho mình

Với những quy định mới, tiến bộ, BLDS 2015 đã có những căn cứ pháp lý vững chắc để áp dụng trách nhiệm BTTH do vi phạm hợp đồng thay vì phải áp dụng tương tự những quy định tại chương trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng Ngoài ra, thông qua các quy định tại BLDS 2015, nhà làm luật đã nhấn mạnh tầm quan trọng của trách nhiệm BTTH do vi phạm hợp đồng trong việc giải quyết những tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng

Trang 31

Chương 2 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015

VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG CỦA THƯƠNG NHÂN

Pháp luật về BTTH do vi phạm hợp đồng đối với thương nhân chính là sự ghi nhận thái độ của Nhà nước đối với hành vi vi phạm hợp đồng, gây thiệt hại cho đối tác trong quan hệ hợp đồng trong hoạt động thương mại Nội dung cơ bản của chế định BTTH do vi phạm hợp đồng theo BLDS 2015 bao gồm các vấn đề chủ yếu sau đây:

- Quy định về điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH do vi phạm hợp đồng

- Quy định về nguyên tắc bồi thường

- Quy định về miễn trách nhiệm BTTH

2005 và LTM năm 2005 dẫn đến sự khác biệt trong việc xác định trách nhiệm

BTTH do vi phạm hợp đồng Đó là, để xác định trách nhiệm BTTH do vi phạm hợp đồng theo BLDS năm 2005, bên bị thiệt hại phải chứng minh được bên gây thiệt hại

có lỗi, trong khi đó theo LTM 2005, bên bị thiệt hại không cần chứng minh bên gây thiệt hại có lỗi bởi bên vi phạm hợp đồng bị suy đoán là có lỗi khi không thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng Dựa trên quy định của LTM 2005 và BLDS năm 2005, có

Trang 32

thể nhận thấy LTM 2005 bảo vệ bên bị thiệt hại do vi phạm hợp đồng mạnh hơn so với BLDS năm 2005 [8] [22]

Theo quy định của BLDS năm 2015, điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH

do vi phạm hợp đồng chỉ còn đòi hỏi ba căn cứ: Có hành vi vi phạm hợp đồng, có thiệt hại xảy ra, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại xảy ra Như vậy, có thể nói trong hầu hết các hệ thống pháp luật trên thế giới trong đó có hệ thống luật hợp đồng Việt Nam, về nguyên tắc trách nhiệm BTTH do

vi phạm hợp đồng được xác định là trách nhiệm nghiêm ngặt Đây là các trường hợp khoa học pháp lý thế giới hợp nhất lỗi với hành vi vi phạm hợp đồng hay hành

vi không thực hiện đúng hợp đồng, có nghĩa là bên vi phạm hợp đồng được suy đoán là có lỗi Bên cạnh trách nhiệm nghiêm ngặt, các hệ thống pháp luật cũng ghi nhận trách nhiệm BTTH dựa trên yếu tố lỗi Đây là các trường hợp khoa học pháp

lý thế giới bên cạnh yêu cầu về hành vi vi phạm còn đòi hỏi phải chứng minh được bên vi phạm hợp đồng có lỗi (trách nhiệm dựa trên lỗi)

2.1.1 Có hành vi vi phạm hợp đồng

Nội dung của hợp đồng là sự thỏa thuận của các bên trên cơ sở các quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã hội Chính vì vậy về nguyên tắc các hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trong hợp đồng do các bên đã cam kết, thỏa thuận hay dựa trên quy định của pháp luật thì khi đó hành vi đó sẽ bị coi là hành vi vi phạm hợp đồng Hành vi vi phạm hợp đồng

là căn cứ pháp lý để áp dụng đối với tất cả các chế tài do vi phạm hợp đồng Hành

vi vi phạm nghĩa vụ của một bên sẽ gây ra cho bên kia những thiệt hại vật chất, do vậy bên vi phạm đó phải có trách nhiệm bù đắp, bồi thường những thiệt hại đó

Theo lý thuyết, vi phạm hợp đồng là hành vi vi phạm các nghĩa vụ trong hợp đồng Điều này có nghĩa là khi hết thời hạn được thỏa thuận trong hợp đồng, nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ của mình… thì sự vi phạm hợp đồng mới được xác định Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh thương mại ngày càng phát triển thì các quan hệ hợp đồng thương mại ngày càng phức tạp nên sẽ tồn tại nhiều hình thái vi phạm hợp đồng

Trang 33

Dựa trên nguyên tắc nền tảng được ghi nhận tại khoản 5 Điều 3, BLDS năm

2015 xem việc bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng những điều mà họ đã cam kết hợp pháp (bao gồm thỏa thuận giữa các bên, các quy định của pháp luật về hợp đồng) là hành vi vi phạm quy tắc xử sự trong lĩnh vực hợp đồng do các bên tự nguyện tạo ra - hành vi vi phạm hợp đồng và do đó buộc bên có hành vi vi phạm hợp đồng phải chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình

Như vậy, hành vi vi phạm hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý nên trách nhiệm BTTH do vi phạm hợp đồng chỉ được phát sinh khi có sự vi phạm nghĩa

vụ trong hợp đồng và áp dụng đối với chủ thể có hành vi vi phạm đó Hành vi vi phạm hợp đồng có thể là hành động hoặc không hành động

Nội dung quan trọng hàng đầu của hợp đồng là đối tượng của hợp đồng bởi nếu thiếu đi nội dung này thì hợp đồng không thể được xác lập Đối tượng của hợp đồng hay nói cách khác là đối tượng của nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng có thể là tài sản, công việc phải thực hiện hoặc công việc không được thực hiện

Trong trường hợp đối tượng của hợp đồng là tài sản hay nói chính xác hơn

là quyền đối với một vật có giá trị tài sản, đối tượng của hợp đồng được xác định là một quyền được chuyển giao (chuyển giao quyền) Trong trường hợp đối tượng của hợp đồng là chuyển giao quyền, khoa học pháp lý xác định đối tượng của quyền này

có thể là vật hữu hình, vật vô hình (tài sản vô hình) hoặc một khoản tiền

Vật hữu hình là đối tượng của quyền được chuyển giao là tất cả những gì tồn tại dưới dạng vật chất được sở hữu hoặc có thể được sở hữu, nghĩa là những vật này phải thuộc về hoặc có thể thuộc về một chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự Những vật này có thể là những bất động sản như nhà, các công trình xây dựng khác, đất… hoặc có thể là các động sản như tàu, xe, bàn, ghế…

Tài sản vô hình là đối tượng của quyền được chuyển giao là những tài sản không có hình dáng vật chất, không nhìn thấy được, không cầm nắm được Tài sản

vô hình có thể là quyền tài sản trên một tài sản hữu hình hay còn gọi là vật quyền

Trang 34

hoặc có thể là các trái quyền trị giá được bằng tiền hoặc cũng có thể là quyền trên một tài sản vô hình khác như quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp…

Bên cạnh các vật vô hình, vật hữu hình, đối tượng của quyền còn có thể là một khoản tiền hay còn được hiểu là giá trị của quyền Tùy thuộc vào tính chất của hợp đồng hay nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng, khoản tiền này có thể được xác định theo những tên gọi khác nhau như giá bán trong hợp đồng mua bán, nợ vay trong hợp đồng cho vay, tiền công trong hợp đồng dịch vụ, giá thuê trong hợp đồng thuê tài sản,…

Ngoài tài sản, đối tượng của hợp đồng còn có thể là những công việc phải thực hiện hoặc không được thực hiện Loại đối tượng của hợp đồng này được quy định tại Điều 281 BLDS năm 2015 Theo đó, đối tượng của hợp đồng là công việc phải thực hiện là công việc mà bên có nghĩa vụ phải làm trong thời hạn hợp đồng, hay nói cách khác là trong trường hợp đối tượng của hợp đồng là công việc phải thực hiện, nó đòi hỏi bên có nghĩa vụ phải thực hiện những hành vi mang tính tích cực, chủ động để đáp ứng các quyền và lợi ích hợp pháp của bên có quyền Khác với công việc phải thực hiện, trong trường hợp đối tượng của hợp đồng là công việc không được không thực hiện, bên có nghĩa vụ buộc phải tuân theo cách hành xử hoàn toàn trái ngược, đó là thay vì phải thực hiện những hành vi mang tính tích cực, chủ động bên có nghĩa vụ phải thực hiện những hành vi mang tính kiềm chế - không được thực hiện những hành vi nhất định mà các bên đã chỉ ra khi xác lập hợp đồng hoặc không được thực hiện những hành vi mà pháp luật hợp đồng cấm thực hiện

Dựa trên đối tượng của hợp đồng có thể là tài sản, công việc phải thực hiện hoặc công việc không được thực hiện như đã nêu trên, hành vi vi phạm hợp đồng về đối tượng được hiểu là những hành vi có sai sót khi thực hiện việc chuyển giao đối tượng của quyền tài sản, thực hiện công việc hay không được thực hiện công việc

Vi phạm điều khoản đối tượng của hợp đồng trong trường hợp đối tượng của hợp đồng là tài sản có thể gồm các hành vi: không giao đúng vật đặc định hoặc giao vật đặc định không đúng tình trạng như đã cam kết, không giao vật cùng loại đúng số

Trang 35

lượng và chất lượng như đã thỏa thuận hoặc không giao vật cùng loại với chất lượng trung bình trong trường hợp các bên không thỏa thuận về chất lượng hoặc không giao đồng bộ trong trường hợp đối tượng của hợp đồng là vật đồng bộ Vi phạm về đối tượng của hợp đồng trong trường hợp đối tượng của hợp đồng là công việc (phải thực hiện hoặc không được thực hiện) có thể gồm các hành vi thực hiện công việc không đúng chất lượng, số lượng

Theo quy định của pháp luật hợp đồng Việt Nam thì các hành vi vi phạm hợp đồng bao gồm: chậm thực hiện nghĩa vụ; không thực hiện nghĩa vụ giao vật; không thực hiện một công việc hoặc thực hiện một công việc không được phép thực hiện; chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền; chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ; giao tài sản không đúng số lượng; giao vật không đồng bộ; giao tài sản không đúng chủng loại; không cung cấp thông tin và hướng dẫn cách sử dụng, không bảo đảm chất lượng vật mua bán, không bảo đảm quyền sở hữu cho bên có quyền…

Như vậy, có thể nhận thấy BLDS năm 2015 xem xét hành vi vi phạm hợp đồng dưới góc độ các hành xử không đúng với nội dung của hợp đồng như không đúng về đối tượng, không đúng về thời hạn, không đúng về địa điểm…

2.1.2 Có thiệt hại thực tế xảy ra

Như chúng ta đã biết, thiệt hại xảy ra là điều kiện cần nhằm phát sinh trách nhiệm bồi thường Tuy nhiên, không phải thiệt hại nào cũng được bồi thường Nội dung của trách nhiệm BTTH là việc người có nghĩa vụ trong hợp đồng phải bù đắp cho phía bên kia những tổn thất mà mình đã gây ra do việc vi phạm hợp đồng Vì vậy, việc xác định có thiệt hại xảy ra hay không? Thiệt hại bao nhiêu? Loại thiệt hại nào thì được bồi thường? là những việc hết sức cần thiết và quan trọng khi áp dụng trách nhiệm BTTH

Bộ luật dân sự 2015 quy định: "Người có quyền có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà lẽ ra mình sẽ được hưởng do hợp đồng mang lại Người có quyền còn có thể yêu cầu người có nghĩa vụ chi trả chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng mà không trùng lặp với mức bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà

Trang 36

hợp đồng mang lại" [20, khoản 1 Điều 419] Như vậy, theo tinh thần của BLDS

2015, người có quyền có thể yêu cầu BTTH cho lợi ích mà lẽ ra sẽ được hưởng do hợp đồng mang lại, tuy nhiên, đó phải là lợi ích thực tế, tất yếu, chắc chắn sẽ xảy ra chứ không thể suy diễn một cách vô căn cứ Đồng thời, người có quyền có thể yêu cầu người có nghĩa vụ chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng

Như vậy, có thể hiểu: Thiệt hại là bất kỳ tổn thất nào mà một người phải gánh chịu do các quyền, tài sản và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm hay nói cách khác thiệt hại là bất kỳ sự thay đổi tiêu cực nào đối với các quyền, tài sản và lợi ích hợp pháp của bên có quyền

Việc không thực hiện, thực hiện không đúng, thực hiện không đầy đủ nghĩa

vụ trong hợp đồng thường làm phát sinh thiệt hại nhưng thiệt hại không luôn luôn tồn tại khi có vi phạm hợp đồng Trong thực tế, không hiếm trường hợp có việc không tuân thủ đúng hợp đồng nhưng không có thiệt hại xảy ra Hiện tại BLDS

2015 không có quy định nào quy định cụ thể phải tồn tại thiệt hại thì mới phát sinh trách nhiệm bồi thường Thông qua quy định tại Điều 360, 361 BLDS 2015 chúng

ta ta có thể suy luận rằng để phát sinh trách nhiệm bồi thường thì phải có thiệt hại

và do vi phạm hợp đồng gây ra

Nội dung của trách nhiệm BTTH là việc người có nghĩa vụ trong hợp đồng phải bù đắp cho phía bên kia trong hợp đồng những thiệt hại mà mình đã gây ra do việc vi phạm hợp đồng, vì vậy cần phải xác định việc vi phạm hợp đồng đó có thiệt hại xảy ra hay không Xác định thiệt hại là bao nhiêu là một việc hết sức cần thiết

và quan trọng khi áp dụng trách nhiệm BTTH Thiệt hại phải được bồi thường đầy

đủ, sự đầy đủ ở đây phải tương xứng với thiệt hại và không vượt quá phạm vi cần thiết để khắc phục thiệt hại mà họ đáng phải nhận

Trong thực tế, thiệt hại xảy ra do vi phạm hợp đồng thường có thể là: + Thiệt hại về tài sản như tài sản bị mất mát, những tài sản bị hư hỏng, bị giảm sút về mặt giá trị, hoặc bị hủy hoại hoàn toàn; những chi phí mà bên bị vi phạm trong hợp đồng phải bỏ ra để ngăn chặn hay để hạn chế hoặc khắc phục

Trang 37

những hậu quả do bên vi phạm hợp đồng gây ra hay những tổn thất thu nhập thực tế

2.1.3 Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại xảy ra

Mặc dù hành vi không thực hiện hợp đồng và thiệt hại xảy ra là hai điều kiện quan trọng làm phát sinh trách nhiệm BTTH nhưng nếu chỉ có hai điều kiện này thôi thì chưa đủ mà pháp luật còn đòi hỏi một điều kiện cần và đủ nữa, đó là phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại xảy ra Điều đó có nghĩa là mặc dù có hành vi không thực hiện đúng hợp đồng và có thiệt hại xảy ra nhưng nếu giữa hai yếu tố này không có bất cứ mối liên hệ nào thì trách nhiệm BTTH cũng sẽ không được xác lập

Trong khoa học pháp lý, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và hậu quả xảy ra được hiểu chính hành vi vi phạm đó là nguyên nhân tất yếu dẫn đến hậu quả Trong pháp luật hợp đồng Việt Nam, căn cứ "có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi không thực hiện đúng hợp đồng và thiệt hại xảy ra" cũng được ghi nhận dưới các hình thức khác nhau Đó là nếu như Điều 303 LTM năm 2005 chỉ rõ mối quan hệ

nhân quả này tại khoản 3 với quy định "hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực

năm 2015 Thông qua việc sử dụng quan hệ từ "do" - quan hệ từ mang ý nghĩa nguyên nhân đích thực và căn nguyên, nguồn gốc để kết nối giữa "có thiệt hại" và "vi phạm nghĩa vụ", Điều 360 BLDS năm 2015 đã gián tiếp chỉ ra mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại xảy ra Mối quan hệ nhân quả này còn được Điều 360 BLDS năm 2015 nhấn mạnh qua việc sử dụng kết hợp giữa quan hệ từ

"do" và trạng từ "gây ra" bổ nghĩa cho điều kiện "vi phạm nghĩa vụ"

Trang 38

Như vậy, để thiệt hại được bồi thường, thiệt hại xảy ra phải có mối quan hệ nhân quả với hành vi vi phạm hợp đồng được mọi hệ thống pháp luật ghi nhận và pháp luật hợp đồng Việt Nam không phải là trường hợp ngoại lệ Mọi hệ thống pháp luật đều thừa nhận là trong hầu hết các trường hợp thiệt hại xảy ra là hệ quả của nhiều nguyên nhân khác nhau và không ít trường hợp hành vi không thực hiện đúng hợp đồng không trực tiếp gây ra thiệt hại (thiệt hại trực tiếp) mà do các hệ quả tiếp sau của hành vi không thực hiện đúng hợp đồng gây ra thiệt hại (thiệt hại gián tiếp) Mặc dù đều ghi nhận căn cứ "có quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại xảy", thiệt hại xảy ra là hệ quả của nhiều nguyên nhân khác nhau

và có nhiều loại thiệt hại có thể xảy ra nhưng việc xác định thiệt hại nào là thiệt hại được bồi thường (thiệt hại do nguyên nhân trực tiếp hay thiệt hại do nguyên nhân gián tiếp) trong các hệ thống pháp luật lại khác nhau

Tuy nhiên, pháp luật hợp đồng Việt Nam cũng như luật hợp đồng thế giới đều không áp đặt trách nhiệm BTTH lên bên có hành vi không thực hiện đúng hợp đồng nếu bên vi phạm hợp đồng nại ra sự kiện bất khả kháng khiến cho bên này không thể thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng Dưới góc độ quan hệ nhân quả, đây là trường hợp mà sự kiện bất khả kháng được xem là sự kiện phá vỡ mối quan hệ nhân quả giữa hành vi không thực hiện đúng hợp đồng và thiệt hại xảy ra

Xét về lý luận, thì bên vi phạm phải chịu trách nhiệm về những tổn thất về những thiệt hại do mình gây ra Bởi vậy, cùng với nghĩa vụ chứng minh mối quan

hệ nhân quả giữa các hành vi vi phạm của bên vi phạm và thiệt hại để cơ quan giải quyết tranh chấp xem xét

Trên thực tế, việc chứng minh được mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại là việc không dễ dàng Có trường hợp tính tất yếu thể hiện rõ ràng, không cần tranh cãi Đó là khi một bên có hành vi vi phạm một hoặc một số nghĩa vụ của hợp đồng, chắc chắn sẽ dẫn đến thiệt hại cho bên kia Nhưng lại có những thiệt hại xảy ra là do sự kết hợp của rất nhiều hành vi của nhiều chủ thể khác nhau Lúc này việc làm sáng tỏ được hành vi nào của chủ thể nào là nguyên

Trang 39

nhân trực tiếp, tất yếu dẫn đến thiệt hại sẽ là căn cứ xác định trách nhiệm BTTH do

vi phạm hợp đồng thuộc về ai Muốn làm việc đó, ngoài việc chứng minh của bên bị thiệt hại còn cần cơ quan giải quyết tranh chấp như Tòa án hoặc Trọng tài thu thập tài liệu, chứng cứ rồi xem xét một cách khách quan, đầy đủ, tổng hợp các hành vi,

sự kiện có liên quan để đưa ra một đánh giá hợp lý nhất về mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại thực tế xảy ra

Như vậy, bên vi phạm hợp đồng chỉ phải chịu trách nhiệm nếu bên bị vi phạm chứng minh được rằng hành vi vi phạm là nguyên nhân và thiệt hại của bên vi

vi phạm là hậu quả trực tiếp của hành vi vi phạm Mối quan hệ này là mối quan hệ mang tính chất nội tại, tất yếu Do đó, những hành vi chỉ là điều kiện dẫn đến thiệt hại mà không hành vi vi phạm đó và thiệt hại không có mối quan hệ nhân - quả thì không được nhận bồi thường

Đối chiếu với phân tích trên, ta dễ dàng nhận thấy chỉ những thiệt hại phát sinh do hậu quả của việc vi phạm tức là hành vi vi phạm xảy ra trước về mặt thời gian, có tính quyết định dẫn tới thiệt hại và có mối quan hệ nhân quả giữa sự vi phạm thực hiện hợp đồng và thiệt hại xảy ra thì mới được công nhận bồi thường

2.1.4 Yếu tố lỗi

Nhìn chung bên có nghĩa vụ không thực hiện cam kết và do đó gây thiệt hại cho bên có quyền thì bên có nghĩa vụ sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường cho những thiệt hại mà họ đã gây ra cho bên có quyền (trách nhiệm nghiêm ngặt) Tuy nhiên, khoa học pháp lý cũng chỉ ra trách nhiệm BTTH còn có thể là trách nhiệm dựa trên lỗi, nghĩa là trách nhiệm BTTH chỉ phát sinh nếu bên có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng không cẩn trọng, cần mẫn, hay nói cách khác là bên có nghĩa vụ có lỗi trong việc thực hiện hợp đồng

Khoa học pháp lý Việt Nam xem xét lỗi "thái độ tâm lý của người có hành

vi gây ra thiệt hại" hay "một yếu tố chủ quan nói lên thái độ tâm lý của con người đối với hành vi của mình và hậu quả của hành vi ấy" hay "thái độ tâm lý của người

có hành vi gây thiệt hại, phản ánh nhận thức của người đó đối với hành vi và hậu

Trang 40

quả của hành vi mà họ thực hiện", thước đo "thái độ tâm lý" chính là có "nhận thức

được việc thực hiện hành vi đó sẽ gây thiệt hại cho người khác" hay không Bên cạnh việc xem xét yếu tố lỗi là "thái độ tâm lý" của con người, khoa học pháp lý

Việt Nam cũng đã từng chỉ ra "Quá thất (lỗi) là một hành vi bất hợp pháp có thể quy trách cho người đã làm ra hành vi ấy… quá thất là một sự vi phạm và một nghĩa vụ đã sẵn có", "vì hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật nên người thực hiện hành vi đó luôn luôn được suy đoán là có lỗi" Mặc dù nhìn nhận lỗi một

cách trừu tượng nhưng khoa học pháp lý Việt Nam đã có sự hợp nhất lỗi với hành

vi vi phạm hợp đồng dù rằng sự nhìn nhận này còn có sự hạn hẹp đó là xem xét lỗi trong phạm vi hành vi trái pháp luật Như vậy, mặc dù có cách tiếp cận khác nhau nhưng có thể nhận thấy khoa học pháp lý Việt Nam không có sự khác biệt quá lớn trong việc hợp nhất lỗi với hành vi vi phạm nghĩa vụ/ vi phạm hợp đồng [8] [30]

Trong pháp luật thực định của Việt Nam cũng như các nước trên thế giới không định nghĩa khái niệm lỗi nhưng có quy định các hình thức lỗi khác nhau Pháp luật Việt Nam quy định lỗi trong trách nhiệm dân sự bao gồm lỗi cố ý và lỗi vô ý

Lỗi cố ý được hiểu là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình

sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra

Lỗi vô ý được hiểu là trường hợp mọt người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được

Có thể thấy các nhà lập pháp Việt Nam nhìn nhận và phân biệt lỗi dựa trên trạng thái tâm lý và mức độ nhận thức của một người đối với hành vi của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra Trong pháp luật dân sự lỗi là "lỗi suy đoán" nghĩa là bên vi phạm phải chứng minh là mình không có lỗi Và mức bồi thường trong dân sự cũng như thương mại hoàn toàn không phụ thuộc vào mức độ lỗi Thiệt hại bao nhiêu thì phải bồi thường bấy nhiêu mặc cho lỗi đó là lỗi cố ý hay lỗi vô ý Do vậy, theo

Ngày đăng: 23/04/2020, 10:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w