1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quy định pháp luật về công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động trong doanh nghiệp từ thực tiễn thực hiện tại quận hồng bàng, thành phố hải phòng

88 107 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ năm, việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về vai trò công đoàn trong việc đại diện bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ trong các doanh nghiệp đã được nhiều tổ chức và cá nhân quan t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CÔNG ĐOÀN BẢO VỆ QUYỀN, LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI QUẬN

HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

ĐẶNG SƠN THÀNH

HÀNỘI-2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CÔNG ĐOÀN BẢO VỆ QUYỀN, LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI QUẬN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Sau một thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài tốt nghiệp

thạc sỹ, đến nay tôi đã hoàn thành bản Luận văn “Quy định pháp luật về công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động trong doanh nghiệp từ thực tiễn thực hiện tại quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng”

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc./

Hà Nội, tháng 12 năm 2018

Tác giả luận văn

Đặng Sơn Thành

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, những ý kiến đóng góp của các thầy, cô giáo trong Viện đại học mở

Hà Nội, khoa Đào tạo sau đại học

Để có được kết quả nghiên cứu này, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự hướng dẫn chu đáo, tận tình của Tiến sĩ Vũ Minh Tiến là thầy giáo hướng dẫn trực tiếp tôi trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài và viết luận văn

Tôi cũng nhận được sự giúp đỡ của Liên đoàn lao động thành phố, Liên đoàn lao động quận Hồng Bàng, các anh chị em và bạn bè đồng nghiệp, sự động viên, tạo mọi điều kiện về vật chất, tinh thần của gia đình và người thân

Tôi xin trân trọng cảm ơn tất cả mọi sự giúp đỡ quý báu đó!

Trang 5

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT CÔNG ĐOÀN BẢO VỆ QUYỀN, LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG

1.1 Khái niệm cơ bản và vai trò của tổ chức công đoàn trong bảo vệ

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 9 1.1.2 Vai trò của tổ chức công đoàn trong bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ 12 1.1.3 Đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động là chức năng cơ bản của Công đoàn Việt Nam 15

1.2 Quy định pháp luật về công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của

2.1 Khái quát tình hình công nhân, lao động và tổ chức công đoàn

Trang 6

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG ĐOÀN BẢO VỆ QUYỀN, LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP QUẬN

3.1 Hoàn thiện pháp luật công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của người lao

3.1.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động 59 3.1.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động 62 3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công đoàn bảo vệ

3.2.1 Coi trọng nhiệm vụ hoạt động công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động 64 3.2.2 Nâng cao vai trò cấp ủy, chính quyền trong việc chỉ đạo, phối hợp với công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ ở quận Hồng Bàng 66 3.2.3 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật lao động, công đoàn, bảo hiểm xã hội trên địa bàn quận 68 3.2.4 Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện chế độ chính sách đối với người lao động trên địa bàn quận 71 3.2.5 Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của công đoàn

quận Hồng Bàng và công đoàn cơ sở để bảo vệ quyền, lợi ích NLĐ 72

Trang 7

công chức, viên chức, lao động CCVCLĐ

vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI

thỏa ước lao động tập thể: TƯLĐTT

Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam TLĐ

Tổ chức Lao động quốc tế ILO

Trang 8

DANH MỤC BẢNG, BIỂU

Bảng 2.1 Số lượng, tỷ lệ doanh nghiệp và lao động trên địa bàn Hồng Bàng 32 Bảng 2.2 Cơ cấu CĐCS và đoàn viên trực thuộc LĐLĐ quận Hồng Bàng 33 Bảng 2.3 Tình hình ký TƯLĐTT quận Hồng Bàng, HP (2012 – 2017) 37 Biểu 2.1 Biểu đồ tỷ lệ số lượng CĐCS phân theo loại hình, khu vực 34 Biểu 2.2 Biểu đồ tỷ lệ số lượng đoàn viên phân theo loại hình, khu vực 34 Biểu 3.1: Quy trình thương lượng, ký kết TƯLĐTT tại doanh nghiệp 75 Ảnh 2.1 LĐLĐ quận Hồng Bàng tổ chức hội nghị tuyên truyền ATVSLĐ

tại công ty Công ty CP OSR Việt Nam

43

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế nhiều thành phần định hướng XHCN, số lượng doanh nghiệp dân doanh, doanh nghiệp FDI được thành lập và phát triển mạnh mẽ Hải Phòng là trung tâm công nghiệp của cả nước, chỉ số công nghiệp tăng trung bình từ 20 -25%/năm, góp phần tăng GRDP của thành phố tăng 14,0% năm 2107; hàng năm tạo ra khoảng 50 nghìn việc làm mới; tiền lương, thu nhập nâng lên, đời sống NLĐ được cải thiện Trong quá trình hoạt động, nhiều doanh nghiệp đã chấp hành tốt các quy định của pháp luật lao động, bảo đảm quyền, lợi ích của NLĐ

Những năm gần đây, Chính phủ, các cơ quan chức năng (có sự tham gia của

tổ chức Công đoàn) đã tích cực xây dựng và đề xuất Quốc hội ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các bên trong QHLĐ Công đoàn Việt Nam được pháp luật quy định là tổ chức đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ tại Điều 10 Hiến pháp; Điều 188, BLLĐ; Điều 10, LCĐ và các văn bản hướng dẫn Hoạt động công đoàn luôn đổi mới về nội dung, phương thức, theo hướng tiếp cận với cơ chế thị trường, sâu sát với cơ sở, chú trọng thực hiện chức năng, nhiệm vụ đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ

Tuy nhiên, những quy định của pháp luật bảo đảm quyền công đoàn và việc

tổ chức thực hiện đại diện bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng với tình hình thực tiễn Cụ thể:

Thứ nhất, trong cơ chế thị trường mâu thuẫn về lợi ích giữa các bên trong

QHLĐ, dẫn đến phát sinh tranh chấp lao động xảy ra; ranh giới giữa quyền và lợi ích của NLĐ đan xen, phức tạp; một số nội dung chưa được quy định cụ thể, khó giải quyết khi có tranh chấp Trong lúc đó việc truyên truyền phổ biến và kiểm tra, giám sát thực hiện pháp luật lao động còn hạn chế, tình trạng doanh nghiệp vi phạm quyền, lợi ích của NLĐ còn khá phổ biến

Thứ hai, nhận thức hiểu biết về chính sách, pháp luật của NLĐ trong đó có

quyền và trách nhiệm còn thấp, nhiều NLĐ không chấp hành đúng kỷ luật lao động,

Trang 10

2

không biết tự bảo vệ quyền, lợi ích của bản thân khi bị xâm phạm, hoặc phản ánh kịp thời với công đoàn và cơ quan chức năng để yêu cầu được giải quyết, thậm chí nhiều người còn dễ bị kích động, lôi kéo làm cho QHLĐ tại doanh nghiệp phức tạp

Thứ ba, hoạt động của công đoàn, nhất là CĐCS còn yếu, cán bộ công đoàn

chưa đủ năng lực để thực hiện quyền đại diện bảo vệ NLĐ theo quy định của pháp luật Kỹ năng tổ chức đối thoại, thương lượng tập thể, ký kết và giám sát việc thực hiện TƯLĐTT, tham gia xây dựng thang, bảng lương, các nội quy, quy chế nội bộ doanh nghiệp, hỗ trợ giải quyết tranh chấp lao động chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Thứ tư, trong kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, khi Việt Nam tham gia

các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, hoạt động công đoàn có cơ hội, song cũng nhiều thách thức (có thể cạnh tranh về công đoàn), nên việc bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ, nhất là khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh cần được coi trọng hơn bao giờ hết Do đó cần quán triệt sâu sắc tinh thần Nghị quyết 6/NQ –TW tại Hội nghị lần thứ 4, BCH Trung ương Đảng khóa XII và Nghị quyết Đại hội lần thứ XII Công đoàn Việt Nam về xây dựng tổ chức Công đoàn vững mạnh

Thứ năm, việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về vai trò công đoàn

trong việc đại diện bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ trong các doanh nghiệp đã được nhiều tổ chức và cá nhân quan tâm, song đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện nội dung này và đề xuất giải pháp cụ thể tại một địa phương cấp quận như Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng chưa được đề cập và nghiên cứu đầy đủ

Bởi vậy, trong bối cảnh BLLĐ và LCĐ năm 2012 và các văn bản pháp luật liên quan đang tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện về chế định này nên tôi chọn chủ đề:

“Quy định pháp luật về công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động trong

doanh nghiệp từ thực tiễn thực hiện tại quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng”

nghiên cứu luận văn thạc sĩ luật học của mình

2 Mục đích của đề tài

Thông qua việc nghiên cứu các quy định của pháp luật liên quan về công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ để đánh giá hiệu quả áp dụng quy định hiện hành trong các doanh nghiệp tại quận Hồng Bàng

Trang 11

3

Từ đó đưa ra những giải pháp để tổ chức thực hiện: Công đoàn bảo vệ quyền và lợi ích NLĐ ngày càng hiệu quả hơn; kiến nghị sửa đổi, bổ sung những bất cập, hạn chế góp phần hoàn thiện pháp luật về nội dung này

3 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan

Ngoài các văn bản của ILO liên quan đến lao động, quyền công đoàn, tổ chức đại diện tập thể NLĐ, chính sách tiền lương, lương tối thiểu, thương lượng tập thể được nhóm nghiên cứu tìm hiểu, thì các văn bản pháp luật ở Việt Nam như BLLĐ, LCĐ là cơ sở pháp lý quan trọng phục vụ trực tiếp cho đề tài Cụ thể:

- BLLĐ được ban hành lần đầu vào năm 1994, có hiệu lực ngày 01/01/1995,

từ đó đến nay sau nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung và được thay thế vào năm 2012, trong đó có quy định cụ thể quyền lợi và nghĩa vụ của NLĐ, quyền và trách nhiệm của tổ chức công đoàn đại diện bảo vệ quyền và lợi ích của NLĐ Trong BLLĐ, tuy không nêu khái niệm về quyền và lợi ích, song tại Khoản 8, Khoản 9, Điều 3 cũng

đã gián tiếp phân biệt quyền, lợi ích trong QHLĐ, thông qua giải thích từ ngữ: Tranh chấp lao động tập thể về quyền, tranh chấp lao động tập thể về lợi ích

- LCĐ năm 2012 (thay thế bản năm 1990) một lần nữa khẳng định và nhấn mạnh đến quyền, nghĩa vụ của đoàn viên công đoàn và các cấp công đoàn; quy định tại các doanh nghiệp chưa thành lập CĐCS thì công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở sẽ thực hiện nhiệm vụ đại điện bảo vệ quyền và lợi ích cho NLĐ khi có yêu cầu

- Cuốn sách tham khảo: “Đình công ở Việt Nam và các giải pháp của công

đoàn” (2010) do Viện Công nhân và Công đoàn biên soạn, cho thấy nguyên nhân

đình công chủ yếu diễn ra là tranh chấp lao động tập thể về quyền và lợi ích liên quan đến tiền lương, thu nhập thấp, điều kiện làm việc Tranh chấp có thể giải quyết thông qua thương lượng tập thể, hòa giải, trọng tài, tuy nhiên NLĐ thường chọn giải pháp đình công để giải quyết bức xúc Cuốn sách cũng đã đưa ra các giải pháp như: tiếp tục hoàn thiện pháp luật; phát huy vai trò công đoàn trong nắm bắt thông tin, phối hợp giải quyết tranh chấp, nâng cao chất lượng thương lượng tập thể

- Cuốn sách tham khảo: “Thương lượng thỏa ước lao động tập thể - thực

trạng, giải pháp và kỹ năng”, Nxb Lao động (2011), là công trình hợp tác giữa TLĐ

Trang 12

4

và Công đoàn Na Uy Cuốn sách đã trình bày những vấn đề cơ bản của TƯLĐTT;

kỹ năng cơ bản trong thương lượng tập thể và kinh nghiệm của công đoàn một số quốc gia; sử dụng công cụ đối thoại, tập hợp ý kiến NLĐ để xây dựng TƯLĐTT; giới thiệu một số kết quả tiến bộ do thương lượng tập thể đạt được, có lợi cho NLĐ

để đưa vào thỏa ước Cuốn sách đã trang bị kỹ năng cần thiết cho cán bộ công đoàn Việt Nam trong thương lượng tập thể, vận dụng bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ

- Cuốn sách tham khảo“Đại diện quyền lợi NLĐ ở Cộng hòa Liên bang

Đức” biên dịch năm 2011, của GS TS Wofgang, chuyên gia nghiên cứu đầu ngành

của Đức và châu Âu về pháp luật lao động và QHLĐ Ông cho rằng trong cơ chế thị trường, quan hệ giữa NLĐ với NSDLĐ là quan hệ không cân sức, luôn có phát sinh mâu thuẫn về quyền, lợi ích NLĐ luôn ở vào thế yếu, nên vai trò tổ chức công đoàn giữ một vị trí đặc biệt quan trọng Ở Đức, tồn tại 4 hình thức đại diện: Công đoàn; Hội đồng xí nghiệp (cấp doanh nghiệp); Hội đồng giám sát; đại diện nhóm NLĐ Tác giả cũng nhấn mạnh để bảo vệ quyền lợi của NLĐ, tổ chức đại diện cần thông qua thương lượng, ký kết TƯLĐTT; đề xuất ý kiến của NLĐ, quan tâm tới quyền lợi của họ trong hội đồng quản trị và chính sách doanh nghiệp, hoặc đại điện quyền lợi cho NLĐ trong các thủ tục tố tụng tại tòa

- Đề tài cấp Tổng Liên đoàn (2014): “Dự báo những tác động tới việc làm,

QHLĐ và hoạt động công đoàn khi Việt Nam gia nhập các hiệp định thương mại tự do”, mã số: XH/TLĐ 2014.01, do TS Vũ Minh Tiến chủ nhiệm, Viện Công nhân

và Công đoàn chủ trì nghiên cứu Đề tài đã phân tích nội dung, tinh thần chủ yếu của các quy định trong “Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới” có liên quan trực tiếp và ảnh hưởng lớn tới việc làm, QHLĐ và hoạt động công đoàn khi Việt Nam gia nhập các Hiệp định này; đề xuất giải pháp, kiến nghị của công đoàn về bảo đảm việc làm bền vững, xây dựng QHLĐ hài hòa, tiến bộ và ổn định

- Đề tài cấp Tổng Liên đoàn (2015): “Những vấn đề bức xúc, cấp bách của

công nhân, lao động trong các khu công nghiệp, khu chế xuất - Thực trạng và giải pháp”, mã số XH/TLĐ.2015.03 do ThS Nguyễn Mạnh Thắng chủ nhiệm, Viện

Công nhân và Công đoàn chủ trì nghiên cứu Đề tài đã phân tích, đánh giá thực trạng những khó khăn, bức xúc của công nhân, lao động trong các KCN, KCX tập

Trang 13

5

trung như: nhà ở, tiền lương và thu nhập, BHXH, nơi sinh hoạt văn hoá, cơ sở nuôi dạy trẻ Nghiên cứu đã chỉ ra những hạn chế trong xây dựng và thực hiện chính sách, vai trò của các cấp chính quyền và hoạt động công đoàn ảnh hưởng đến quyền lợi NLĐ Đề tài cũng đưa ra những giải pháp khắc phục hạn chế, phát huy vai trò công đoàn, phối hợp đồng bộ với các cấp các ngành và địa phương, giải quyết có hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu mà Nghị quyết 20/NQ – TW của BCH Trung ương Đảng khóa X về “tiếp tục xây dựng GCCN ” đã đề ra

- Đề tài cấp Tổng Liên đoàn (2015): “Vai trò của Công đoàn trong việc tham

gia hoàn thiện chính sách tiền lương tối thiểu vùng ở Việt Nam”, mã số

XH/TLĐ.2015.01, do ThS Đặng Quang Hợp chủ nhiệm, Viện Công nhân và Công đoàn chủ trì Đề tài đã phân tích đánh giá chính sách tiền lương tối thiểu ở Việt Nam

và vai trò của các cấp công đoàn Giải pháp của công đoàn trong nội dung này: Công đoàn muốn đại diện, bảo vệ đoàn viên và NLĐ về tiền lương, lương tối thiểu hiệu quả, ngoài việc tham gia xây dựng chính sách pháp luật phù hợp, cần tăng cường phối hợp kiểm tra, giám sát việc thực hiện, tăng cường kỹ năng thương lượng tập thể

- Cuốn sách tham khảo: “Xây dựng QHLĐ hài hòa, ổn định, tiến bộ trong

doanh nghiệp ở Việt Nam” (2014) của PGS TS Dương Văn Sao và TS Nguyễn

Đức Tĩnh (Đại học Công đoàn), đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng QHLĐ hài hòa, ổn định, tiến bộ; phân tích và đánh giá thực trạng QHLĐ ở Việt Nam, nhất là ngoài quốc doanh và FDI còn có diễn biến phức tạp, với các nguyên nhân khác nhau, trong đó có vai trò CĐCS Đồng thời đưa ra quan điểm định hướng của hoàn thiện chính sách, pháp luật của Nhà nước, giải pháp của các bên về xây dựng QHLĐ hài hòa, ổn định, tiến bộ trong doanh nghiệp

- Giáo trình Lý luận và nghiệp vụ công đoàn (gồm 3 tập), do Trường Đại học

Công đoàn biên soạn, Nxb Lao động (2015), đã đề cập cơ sở lý luận và phương pháp luận về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của công đoàn Việt Nam Đặc biệt, giáo trình đã chỉ ra nhiệm vụ của công đoàn Việt Nam trong thực hiện chức năng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho đoàn viên và NLĐ (chủ yếu mang tính lý luận) Tuy nhiên, giáo trình chưa đề cập công đoàn bảo vệ quyền, bảo vệ lợi ích của NLĐ cần phải làm gì, như thế nào để đạt hiệu quả trong bối cảnh hiện nay

Trang 14

6

- Cuốn sách chuyên khảo “Đối thoại trong doanh nghiệp và vai trò của công

đoàn” (2015) của TS Nguyễn Anh Tuấn và TS Nguyễn Đức Hữu (Đại học Công

đoàn), đã cung cấp cơ sở lý luận về đối thoại tại nơi làm việc (doanh nghiệp) Thông qua đối thoại, công đoàn tạo diễn đàn dân chủ, phát huy sức mạnh tập thể để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên và NLĐ Nhóm tác giả đã trình bày một cách khá hệ thống từ lý luận về đối thoại tại doanh nghiệp đến phân tích thực trạng và chỉ ra vai trò của công đoàn trong đối thoại tại doanh nghiệp Trên cơ sở đó đưa ra 06 nhóm giải pháp để tăng cường đối thoại trong doanh nghiệp

và vai trò của công đoàn nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của đoàn viên và NLĐ

- Đề tài cấp TLĐ “Nội hàm công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của đoàn viên

và NLĐ trong điều kiện hiện nay” (2017) do TS Hoàng Thanh Xuân chủ nhiệm,

Trường ĐHCĐ chủ trì nghiên cứu Đề tài đã đi sâu phân tích nội hàm của công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của đoàn viên và NLĐ trong cơ chế thị trường, thực trạng hoạt động của công đoàn trong các doanh nghiệp và đưa ra một số giải pháp mang tính tổng thể nhằm hoàn thiện nội hàm của nội dung này trong điều kiện cơ chế thị trường hội nhập quốc tế sâu rộng Tuy nhiên, đề tài chưa đưa ra các giải pháp cụ thể để có thể áp dụng cho các cấp công đoàn trong thực hiện nội dung này

- Các báo cáo thường niên và văn kiện đại hội các cấp công đoàn (nhiệm kỳ

2018 -2023), trong đó có báo cáo tổng kết nhiệm vụ công đoàn của LĐLĐ thành phố Hải Phòng, của LĐLĐ quận Hồng Bàng đã đánh giá khá đầy đủ công đoàn thực hiện “đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên và NLĐ”

Mặc dù các công trình nghiên cứu trên chưa đầy đủ, toàn diện để có thể áp dụng vào hoạt động công đoàn Hồng Bàng nói riêng và Hải Phòng nói chung trong

việc thực hiện quy định pháp luật về công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ

trong doanh nghiệp, nhưng đây là những tài liệu tham khảo quý giá để tác giả có thể chọn lọc, kết thừa trong quá trình thực hiện luận văn này

4 Đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu

Trang 15

7

4.1 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Quy định pháp luật có liên quan và thực trạng công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở quận Hồng Bàng và CĐCS trong trong các doanh nghiệp thực hiện bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ

- Khách thể nghiên cứu: Đoàn viên, người lao động, công đoàn các cấp tại địa bàn quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu chủ yếu Bộ luật Lao động 2012, Luật Công đoàn 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành có liên quan đến Công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ

Phạm vi cụ thể: Liên đoàn lao động quận Hồng Bàng và các công đoàn cơ sở trong các doanh nghiệp tại quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng

Phạm vi thời gian: từ năm 2013 (khi thực hiện Luật Công đoàn và Bộ luật Lao động năm 2012) tới nay

4.3 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp hồi cứu tài liệu, được Luận văn sử dụng xuyên suốt trong các chương nhằm thu thập thông tin có liên quan từ các sản phẩm nghiên cứu, các báo định kỳ, nhất là báo cáo đại hội công đoàn các cấp tại Hồng Bàng , tp Hải Phòng;

- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng nhằm tìm hiểu, so sánh các quy định của pháp luật hiện hành với điều kiện thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo

vệ quyền và lợi ích người lao động để đánh giá nhận xét;

- Kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, bằng cách tiến hành khảo sát thực tế tại 3 doanh nghiệp về các nội dung liên quan, phỏng vấn sâu 5 cán bộ quản lý nhà nước có chuyên môn, kinh nghiệm trong việc thực hiện nhiệm

vụ này và 15 NLĐ đang làm việc tại một số doanh nghiệp tại quận Hồng Bàng

5 Kết quả dự kiến đạt được

Trang 16

8

5.1 Về lý luận

Luận văn góp phần tổng hợp và phân tích những khái niệm cơ bản liên quan, vai trò công đoàn, cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý về công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ trong doanh nghiệp Ngoài ra, luận văn góp phần tìm hiểu các nội dung và nhiệm cụ thể của các cấp công đoàn được pháp luật hiện hành quy định làm cơ sở

để đánh giá hoạt động công đoàn quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng

5.2 Về thực tiễn

- Qua đánh giá thực trạng hoạt động công đoàn thực hiện bảo vệ quyền, lợi ích NLĐ trong các doanh nghiệp, từ đó tìm ra những mặt ưu điểm, hạn chế để tìm giải pháp giúp công đoàn quận Hồng Bàng khắc phục và thực hiện hiệu quả hơn

- Chỉ ra những bất cập, vướng mắc trong quy định của pháp luật về công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích NLĐ trong QHLĐ tại các doanh nghiệp, để để xuất sửa đổi góp phần hoàn thiện pháp luật về nội dung này

- Luận văn hoàn thành là tài liệu tham khảo hữu ích cho cán bộ công đoàn tham khảo và vận dụng vào hoạt động thực tiễn; làm tài liệu tham khảo cho cán bộ doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước về lao động; tài liệu tập huấn cho cán bộ công đoàn về kỹ năng, kinh nghiệm trong bảo vệ quyền và lợi ích của NLĐ

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về pháp luật công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động trong doanh nghiệp

Chương 2: Thực hiện pháp luật về Công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích người lao động trong doanh nghiệp tại quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động

Trang 17

9

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT CÔNG ĐOÀN BẢO VỆ QUYỀN, LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP

1.1 Khái niệm cơ bản và vai trò của tổ chức công đoàn trong bảo vệ quyền, lợi ích người lao động

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

- Công đoàn: là tổ chức đoàn thể của công nhân lao động tự nguyện lập ra để

bênh vực quyền lợi cho mình Theo từ điển tiếng Việt, “công đoàn là tổ chức quần

chúng của công nhân, viên chức”[7, tr 201] Khái niệm công đoàn được đưa ra theo tính chất chính trị: Công đoàn (vô sản) là tổ chức quần chúng rộng rãi của công nhân, viên chức dưới chính quyền chuyên chính vô sản, nhằm động viên công nhân, viên chức nâng cao năng suất lao động, tham gia quản lý sản xuất, quản lý đời sống Công đoàn (tư sản) là tổ chức quần chúng rộng rãi của công nhân, viên chức dưới chế độ tư bản, nhằm đấu tranh để đòi quyền lợi Công đoàn vàng: là công đoàn của NLĐ nhưng do giới chủ hoặc giai cấp tư sản tổ chức ra, nhằm thao túng phong trào công nhân ở các nước tư bản

Hiến pháp Việt Nam năm 2013 (Điều 10) đã nêu rõ: “Công đoàn Việt Nam

là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của

cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc” [13, Điều 10] Điều 1, Luật Công đoàn năm 2012 và Điều lệ Công đoàn các nhiệm kỳ cũng đề cập

- Người lao động: Theo nghĩa thông thường là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có

khả năng lao động, đang làm một công việc nào đó mà không bị pháp luật ngăn cấm Trong đề tài này, khái niệm NLĐ hẹp hơn, bao gồm người làm công hưởng lương

Trang 18

10

trong các đơn vị, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ (khu vực có QHLĐ) “Là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của NSDLĐ”[11, K1, Đ3] Nhưng thực tế đối tượng NLĐ trong các doanh nghiệp hiện nay phổ biến là: nam đủ

18 tuổi đến đủ 60 tuổi, nữ đủ 15 tuổi đến 55 tuổi, được ký HĐLĐ với NSDLĐ, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của NSDLĐ

- Đoàn viên công đoàn: “NLĐ Việt Nam làm việc trong cơ quan Nhà nước,

tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp,

tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức khác có sử dụng lao động theo quy định của pháp luật về lao động, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; lao động tự do hợp pháp không phân biệt nghề nghiệp, giới tính, tín ngưỡng, tán thành Điều lệ Công đoàn Việt Nam, tự nguyện sinh hoạt trong một tổ chức cơ sở của Công đoàn, đóng đoàn phí theo quy định thì được gia nhập Công đoàn [18, Điều 1] Những đối tượng trên có đơn gia nhập và được CĐCS kết nạp thì trở thành đoàn viên, được đảm bảo quyền và lợi ích theo quy định của Điều lệ và của LCĐ

- Quyền: là “Điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng,

được làm, được đòi hỏi, hoặc những điều do địa vị hay chức vụ mà được làm” [7, tr 815] Quyền con người, quyền công dân được Hiến pháp của các quốc gia trên thế giới quy định, bao gồm rất nhiều quyền: Quyền được sống, quyền làm việc, quyền

sở hữu, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc được quy định tại Khoản 1, Điều

14, Hiến pháp Việt Nam năm 2013 Xã hội càng phát triển thì quyền cơ bản của con người cũng được pháp luật thừa nhận và cập nhật đầy đủ hơn

Mặc dù trong BLLĐ không nêu rõ khái niệm về quyền, song tại khoản 8, Điều 3 đã nêu khái niệm tranh chấp lao động tập thể về quyền, theo đó có thể hiểu: Quyền trong QHLĐ là những quy định của pháp luật về lao động, hoặc những văn bản do các bên đã thỏa thuận như: TƯLĐTT, nội quy lao động, quy chế và thoả thuận hợp pháp khác về nhiệm vụ mà các bên phải làm để thực hiện các cam kết trong QHLĐ “Quyền và nghĩa vụ của người lao động” được quy định tại Khoản 1,

Trang 19

- Lợi ích: Theo một số tài liệu phạm trù lợi ích, ích lợi, có lợi được sử dụng

như từ đồng nghĩa và có thể thay thế nhau Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê nêu:

“Lợi ích là điều có ích, có lợi cho đối tượng nào đó, trong mối quan hệ với đối tượng ấy”[7, tr 587], trong đó: “ích” được hiểu là có tác dụng tốt, đáp ứng một nhu cầu nào đó của con người, do người hay vật tạo ra; “lợi” là cái có ích mà con người thu được nhiều hơn những gì quy định (hoặc có thể được hưởng)

Lợi ích không phải là một cái gì trừu tượng, có tính chất chủ quan, mà cơ sở của lợi ích là nhu cầu khách quan của con người Con người có nhiều loại nhu cầu (vật chất, chính trị, văn hoá), do đó lợi ích có nhiều loại: lợi ích kinh tế (lợi ích vật chất); lợi ích chính trị, lợi ích văn hoá (lợi ích tinh thần) Trong đó lợi ích kinh tế là hình thức biểu hiện của quan hệ sản xuất, nó được quy định một cách khách quan bởi phương thức sản xuất, bởi hệ thống quan hệ sản xuất, trước hết là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất Lợi ích kinh tế trong QHLĐ được các bên quan tâm, nếu giải quyết không hài hòa, sẽ xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp

Tương tự, trong BLLĐ không nêu khái niệm lợi ích, song tại Khoản 9, Điều

3, nêu tranh chấp lao động tập thể về lợi ích, có thể hiểu: Lợi ích của đoàn viên và

NLĐ và tập thể người lao động là những phát sinh do yêu cầu xác lập các điều kiện

lao động mới so với quy định của pháp luật về lao động, TƯLĐTT, nội quy lao động hoặc các quy chế, thỏa thuận hợp pháp khác trong quá trình thương lượng giữa tập thể lao động với NSDLĐ Tức là những nội dung, điều kiện lao động mà pháp luật không quy định bắt buộc phải thực hiện, song trong quá trình sản xuất phát sinh nhu cầu chính đáng cần được giải quyết thì các bên cần thương lượng

Lợi ích của đoàn viên và NLĐ không quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật, đó là nhu cầu mong muốn của NLĐ phải “chính đáng”, phải được đặt trong

Trang 20

12

hoàn cảnh cụ thể, không trái quy định của pháp luật, phù hợp với đóng góp của NLĐ, khả năng chi trả và điều kiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Lợi ích của đoàn viên và NLĐ được thể hiện ở hai khía cạnh là lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần Các lợi ích chỉ được “bảo vệ” tốt khi NSDLĐ thực sự quan tâm đến NLĐ

và Công đoàn hoạt động hiệu quả, coi trọng thương lượng tập thể mang lại

- Bảo vệ: “Là chống lại mọi sự xâm phạm để luôn giữ được nguyên vẹn” [7,

tr 37], như vậy công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ được hiểu là công đoàn phải tìm mọi biện pháp đấu tranh, chống lại hay ngăn cản hành vi vi phạm quyền hợp pháp và lợi ích chính đáng của đoàn viên và NLĐ Hiểu “bảo vệ” của Công đoàn Việt Nam là luôn thực hiện theo quy định của pháp luật, không vì mục đích

“bảo vệ” để gây chia rẽ, mất đoàn kết, làm ngưng trệ sản xuất, ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh và thu hút đầu tư, không đòi hỏi quyền, lợi ích bằng mọi giá, mà đặt việc “bảo vệ” trong xây dựng QHLĐ hài hòa, ổn định và tiến bộ

Pháp luật chỉ quy định chung là công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ, không phân biệt giữa bảo vệ quyền và bảo vệ lợi ích; hơn nữa ranh giới giữa quyền

và lợi ích đan xen, khi các lợi ích được thỏa thuận giữa các bên bằng văn bản (kể cả văn bản nội bộ) thì trở thành quyền; đoàn viên cũng là NLĐ, nên công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ cũng là bảo vệ quyền, lợi ích của đoàn viên dưới góc độ pháp luật lao động Vì vậy trong khuôn khổ luận văn này tác giả xin phép phân tích tổng hợp chung về công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ, không phân tích riêng

lẻ các hoạt động bảo vệ quyền, lợi ích của đoàn viên và của NLĐ

1.1.2 Vai trò của tổ chức công đoàn trong bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động

Theo từ điển tiếng Việt, vai trò được hiểu là “chức năng, tác dụng của cái gì

đó hoặc của ai đó trong sự vận động, phát triển của sự vật, của nhóm hay tập thể nói chung” [7, tr 1057] Vai trò của tổ chức công đoàn nói một cách khái quát là sự tác động của công đoàn đến tiến trình phát triển của lịch sử và cách mạng, được phản ánh trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá tư tưởng trong quá trình hình thành và phát triển

Trang 21

13

Trong lĩnh vực chính trị: để xây dựng và nâng cao hiệu quả hệ thống chính trị xã hội của nước ta, Công đoàn tăng cường mối liên hệ giữa Đảng với quần chúng; phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động theo hệ thống dân chủ tập trung; góp phần bảo đảm tăng cường kỷ luật phép nước, đấu tranh chống lại mọi âm mưu của kẻ thù nhằm chống phá Cách mạng Việt Nam

Trong lĩnh vực kinh tế: nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đặt ra cho Công đoàn hàng loạt vấn đề phức tạp Công đoàn cần quan tâm đến việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nhằm xoá bỏ quan liêu, bao cấp, củng cố nguyên tắc tập trung trên cơ sở mở rộng dân chủ Do đó, Công đoàn cần có vai trò tích cực trong việc xây dựng và thực hiện cơ chế quản lý kinh tế mới Đặc biệt hiện nay phát triển kinh

tế nhiều thành phần đảm bảo cho kinh tế nhà nước giữ vị trí then chốt, chủ đạo, liên kết và hỗ trợ các thành phần kinh tế khác phát triển có lợi cho quốc kế, dân sinh và

đề cao vai trò của tổ chức Công đoàn

Trong lĩnh vực xã hội: Hiện nay xã hội nước ta có nhiều thay đổi, các giai tầng có sự biến đổi, dân trí phát triển, sự gắn kết mạnh mẽ giữa các yếu tố trong lực lượng sản xuất, đời sống được cải thiện cả về vật chất lẫn tinh thần, liền với đó các

tệ nạn xã hội, tiêu cực xã hội nảy sinh Do vậy, Công đoàn góp phần xây dựng giai cấp công nhân, viên chức, tầng lớp trí thức ngày càng lớn mạnh về số lượng, chất lượng, nâng cao trình độ về chính trị, kỷ luật, văn hoá, kỹ thuật, tăng cường khối liên minh công - nông - trí thức làm nòng cốt khối đại đoàn kết toàn dân; là cơ sở xã hội vững chắc đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng và tăng cường sức mạnh của Nhà nước

Trong lĩnhvực văn hoá tư tưởng: Công đoàn phải giáo dục cho công nhân, lao động nâng cao lập trường giai cấp; lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam, nền tảng cho mọi hoạt động trong xã hội chúng ta Đặc biệt Công đoàn phải góp phần nâng cao giá trị truyền thống, đạo đức, nếp sống, tiếp thu những thành tựu tiên tiến của văn minh nhân loại

Vai trò của tổ chức Công đoàn Việt Nam trong bảo vệ quyền, lợi ích NLĐ thể hiện trên 2 phương diện:

Trang 22

14

Về vai trò danh nghĩa (lý luận), đó là các quy định của pháp luật thừa nhận

về chức năng, nhiệm vụ của Công đoàn được tổ chức thực hiện các hoạt động bảo

vệ quyền, lợi ích của NLĐ, đã ghi cụ thể trong Điều 10, LCĐ năm 2012 và các văn bản liên quan; đồng thời Điều lệ Công đoàn Việt Nam các nhiệm kỳ cũng quy định

rõ về nhiệm vụ, quyền hạn của các cấp công đoàn trong nội dung này

Về vai trò thực tiễn là thể hiện năng lực hoạt động, sự cống hiến, đóng góp thực sự có hiệu quả của Công đoàn đối với bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ được đoàn viên và NLĐ ghi nhận Đó chính là những việc Công đoàn đã thực hiện đại diện NLĐ tham gia xây dựng các văn bản pháp luật liên quan đến quyền, lợi ích NLĐ; phối hợp tuyên truyền, phổ biến và kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chế

độ chính sách pháp luật; tổ chức các hoạt động thiết thực chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho NLĐ, nâng cao phúc lợi cho đoàn viên và NLĐ

Như vậy, được pháp luật thừa nhận vai trò của công đoàn chỉ là danh nghĩa, song những hoạt động thực tế của công đoàn có hiệu quả thiết thực, đáp ứng mong muốn của NLĐ là khẳng định quan trọng sự cần thiết ra đời, tồn tại và phát triển của tổ chức công đoàn, ngày càng củng cố lòng tin của đoàn viên và NLĐ Ngược lại nếu vai trò thực tiễn của công đoàn trong nội dung này không được ghi nhận (tức

là công đoàn hoạt động không hiệu quả) sẽ dẫn phủ nhận vai trò danh nghĩa và có thể bị thay thể bởi tổ chức công đoàn khác Do đó, thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức hoạt động để bảo vệ quyền, lợi ích đoàn viên và NLĐ ngày càng hiệu quả là khẳng định sự tồn tại, sống còn của tổ chức công đoàn hiện nay

Mỗi cấp công đoàn có vai trò nhất định trong hoạt động bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ Đối với TLĐ chủ yếu thể hiện vai trò thông qua việc tham gia với cơ quan chức năng, Quốc hội xây dựng chính sách pháp luật nhà nước có liên quan; ban hành chương trình kế hoạch, nghị quyết, chủ trương hành động để chỉ đạo các công đoàn cấp dưới triển khai thực hiện nội dung này có hiệu quả; tổ chức đào tạo cán bộ, tư vấn hỗ trợ công đoàn các cấp về kỹ năng, nghiệp vụ công đoàn trong bảo

vệ quyền, lợi ích của NLĐ Đối với công đoàn cấp trên vai trò trong hoạt động này tập trung vào việc tuyên truyền phổ biến các chế độ chính sách pháp luật, hướng dẫn, hỗ trợ CĐCS phối hợp với NSDLĐ thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thực

Trang 23

15

hiện các chế độ chính sách liên quan đến NLĐ; tập huấn, bồi dưỡng cho cán bộ CĐCS kỹ năng, phương pháp nghiệp vụ công đoàn; hỗ trợ tập hợp và giải quyết những kiến nghị, vướng mắc từ cơ sở, hỗ trợ giải quyết tranh chấp lao động; nắm và phản ánh những khó khăn, bất cập trong quá trình thực hiện chính sách để phản ánh kịp thời với TLĐ và cơ quan chức năng đề xuất giải quyết, hoàn thiện chính sách Đối với CĐCS phân công cán bộ tham gia vào các hội đồng tại cơ sở, tham dự các cuộc họp có liên quan đến quyền, lợi ích của NLĐ; tham gia xây dựng và giám sát thực hiện các quy chế nội bộ như quy chế trả lương, khen thưởng, kỷ luật, phân phối phúc lợi, tuyển dụng, bố trí việc làm … Phổ biến chế độ chính sách pháp luật, hướng dẫn NLĐ ký kết HĐLĐ; đẩy mạnh thương thượng tập thể, xây dựng và giám sát thực hiện TƯLĐTT có nhiều điều khoản có lợi cho NLĐ; phát hiện đề xuất giải quyết kịp thời những hành vi vi phạm về điều kiện làm việc, ATVSLĐ, về chế độ, chính sách; vận động đoàn viên và NLĐ chấp hành tốt kỷ luật lao động, hoàn thành nhiệm vụ được giao, góp phần xây dựng QHLĐ tại doanh nghiệp

Như vậy, vai trò công đoàn trong bảo vệ quyền, lợi ích của đoàn viên và

NLĐ thể hiện ở việc tham gia xây dựng các chế độ chính sách pháp luật, quy chế

nội bộ doanh nghiệp, đây được coi chiến lược bảo vệ từ xa, làm cơ sở để bảo đảm

quyền, lợi ích của NLĐ; phối hợp tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, bảo đảm việc làm, thu nhập cho NLĐ; hỗ trợ

đoàn viên và NLĐ nâng cao nhận thức, hiểu biết pháp luật về quyền và nghĩa vụ của mình trong QHLĐ, đồng thời giải quyết các chế độ chính sách khi bị xâm

phạm; độc lập quyết định trong hoạt động nội bộ của công đoàn như xây dựng đội

ngũ cán bộ, sử dụng kinh phí công đoàn, tố chức đình công, khiếu nại, khiếu kiện để bảo vệ quyền lợi NLĐ

1.1.3 Đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động là chức năng cơ bản của Công đoàn Việt Nam

Theo quy định của pháp luật và Điều lệ Công đoàn Việt Nam, Công đoàn có

3 chức năng cơ bản: i) Đại diện bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ; ii) Tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh

Trang 24

Thứ nhất, đây là chức năng bẩm sinh, vốn có của tổ chức Công đoàn Việt

Nam trong suốt chiều dài lịch sử Ngay từ khi chưa có chính quyền, công đoàn Việt Nam với các tên gọi khác nhau như Công hội Đỏ (1929 - 1935); Nghiệp đoàn Ái hữu (1935 - 1939); Hội Công nhân Phản đế (1939 - 1941); Hội công nhân Cứu quốc (1941 - 1946) lập ra với mục tiêu đấu tranh bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ và của đất nước Trong đó, bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ là đấu tranh chống lại sự bóc lột của giới chủ và thực dân, phong kiến như đòi tăng lương, giảm giờ làm, cải thiện điều kiện làm việc, cải thiện cuộc sống, chống đánh đập, đối xử thậm tệ,…

Khi có chính quyền, mặc dù Công đoàn được bổ sung các chức năng, nhiệm

vụ khác, Công đoàn coi quyền, lợi ích của quốc gia là tiền đề là điều kiện tất yếu để bảo đảm quyền và lợi ích của đoàn viên và NLĐ, nhưng chức năng, nhiệm vụ này luôn được coi trọng và khẳng định Văn kiện Đại hội Công đoàn toàn quốc lần thứ

II (năm 1961) nêu rõ: “Tiền lương là nguồn sống chính của lao động, tiền thưởng có tác dụng bồi dưỡng thiết thực cho quần chúng Cho nên công đoàn phải coi trọng và nắm vững công tác quần chúng trong việc xây dựng và thực hiện chính sách tiền lương, tiền thưởng” “Chúng ta cần đấu tranh và chống lại tư tưởng và hành động xem thường việc đề phòng tai nạn lao động trong một số cán bộ quản lý, kiên quyết

và có biện pháp thích đáng nhằm ngăn ngừa tai nạn lao động và đề nghị Nhà nước

xử lý những người vi phạm pháp luật để xảy ra tai nạn lao động” [19, tr 48] Văn kiện Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ III, (năm 1974) đã xác định: “quan tâm chăm lo đời sống công nhân, viên chức, lao động”; từ Đại hội IV (năm 1978) đến Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ VI (năm 1988) đều nhấn mạnh: “Tổ chức và

Trang 25

17

từng bước cải thiện đời sống, phát triển phúc lợi, bảo vệ lợi ích chính đáng của công nhân, viên chức” [19, tr 99]

Trong thời kỳ đổi mới, phát triển kinh tế thị trường, chức năng đại diện bảo

vệ quyền, lợi ích được coi là nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt trong hoạt động công đoàn và nâng lên những nấc thang mới ngày càng tiến bộ, đáp ứng yêu cầu xây dựng QHLĐ trong nền kinh tế nhiều thành phần Tại Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ VII (năm 1993), nhấn mạnh: “Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, Công đoàn phải coi trọng chức năng đại diện, bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân, lao động”; “Tham gia xây dựng, giám sát, kiểm tra thực hiện chính sách; tăng cường các hoạt động xã hội để bảo vệ, chăm lo đời sống công nhân, lao động” [19, tr 51, 456] Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ VIII (năm 1998), sau khi BLLĐ có hiệu lực, công đoàn cũng nhấn mạnh nhiệm vụ bảo vệ về quyền, lợi ích của NLĐ: “Chăm lo bảo vệ, quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân, viên chức, lao động” [19, tr 537] Nhiệm vụ này cũng được khẳng định trong văn kiện Đại hội Công đoàn lần thứ IX (2003): “Chủ động tham gia xây dựng, tổ chức thực hiện và giám sát có hiệu quả việc thực hiện pháp luật, chế độ chính sách có liên quan trực tiếp đến công nhân, viên chức, lao động và quy chế dân chủ; đẩy mạnh công tác chăm lo đời sống, làm tốt chức năng đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân, viên chức, lao động” [19, tr 602] Đặc biệt tại Đại hội Công đoàn lần thứ X (năm 2008), nhiệm vụ đại diện, bảo vệ NLĐ của công đoàn đã được đưa vào mục tiêu: “Chuyển mạnh hoạt động công đoàn vào việc

tổ chức thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, công nhân, viên chức, lao động; xây dựng quan hệ lao động hài hòa,

ổn định, tiến bộ; góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước” [19,

tr 658] Từ đó đến nay, chức năng đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trở thành nhiệm vụ trọng tâm

Thứ hai, trong điều kiện nước ta trình độ và kinh nghiệm quản lý của chính

quyền các cấp còn hạn chế, bộ máy Nhà nước c ̣òn quan liêu, hành chính dẫn đến tình trạng tham ô, lãng phí, móc ngoặc, hối lộ, tham nhũng, vi phạm đến lợi ích, đời sống của NLĐ Đặc biệt trong quá trình phát triển kinh tế nhiều thành phần, các

Trang 26

18

doanh nghiệp ngoài quốc doanh, FDI chiếm đa số, với mục tiêu lợi nhuận được đặt lên hàng đầu nên nhiều NSDLĐ có hành vi vi phạm quyền, lợi ích của NLĐ, dẫn đến phát sinh mâu thuẫn trong quan hệ lợi ích, tranh chấp lao động, đình công xảy

ra, gây đình trệ sản xuất, thiệt hại lớn về kinh tế cho doanh nghiệp và NLĐ

Theo thống kê của TLĐ từ năm 2013 – 2017 cả nước xảy ra 1.603 cuộc ngừng việc tập thể, đình công Trong đó, tranh chấp lao động tập thể về quyền, chiếm 40,38%; về lợi ích, chiếm 23,5%; hoặc đan xen cả quyền và lợi ích, chiếm 34,0% Nguyên nhân chủ yếu liên quan đến tiền lương, tiền thưởng, thu nhập, điều kiện làm việc của NLĐ như: nợ lương, không điều chỉnh lương tối thiểu theo quy định, nợ đọng bảo hiểm, định mức lao động không phù hợp, không bảo đảm ATVSLĐ …[20, tr 4]

Bảo vệ quyền, lợi ích cho NLĐ hiệu quả là hướng tới xây dựng QHLĐ tiến

bộ, quyền lợi của đoàn viên được bảo đảm, phúc lợi ngày càng tăng, đời sống NLĐ được cải thiện, giúp họ nâng cao thể lực, yên tâm trong công việc, lao động có hiệu quả, góp phần tăng năng suất lao động, phát triển kinh tế, ổn định chính trị, xã hội của đất nước, đảm bảo hài hòa quyền, lợi ích của nhà nước, của doanh nghiệp (nhà đầu tư) và của NLĐ

Thứ ba, công đoàn các cấp trong đó có công đoàn cấp quận và CĐCS thực

hiện chức năng, nhiệm vụ bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ là quán triệt đường lối chủ trương của Đảng về xây dựng Giai cấp công nhân trong quá trình CNH, HĐH đất nước; xây dựng tổ chức Công đoàn Việt Nam lớn mạnh đáp ứng với quá trình phát triển của nền kinh tế cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế Cụ thể:

Nghị Quyết 20/NQ – TW tại hội nghị TW 6 khóa X (28/1/2008) nhấn mạnh:

“Các cấp công đoàn cần hướng mạnh hoạt động về cơ sở, lấy cơ sở làm địa bàn hoạt

động chủ yếu, lấy công nhân, viên chức, lao động làm đối tượng vận động, lấy

chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân, viên chức, người lao động, xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ, góp phần

thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội làm mục tiêu hoạt động.” [1, mục 5]

Chỉ thị 22/CT – TW, ngày 5/6/2008 của Ban Bí thư TW Đảng về tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng QHLĐ hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh

Trang 27

19

nghiệp chỉ rõ: “Đảng đoàn TLĐ có kế hoạch cụ thể củng cố, phát triển và đổi mới

cơ chế hoạt động của tổ chức công đoàn trong các doanh nghiệp, để tổ chức công

đoàn thực sự là người đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ, xây

dựng QHLĐ lành mạnh trên tinh thần hợp tác, bảo đảm hài hoà lợi ích giữa nhà đầu

tư, NLĐ và Nhà nước”

Nghị quyết 6/NQ-TW tại hội nghị TW 4 khóa XII, ngày 5/11/2016 của BCH Trung ương Đảng về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới: “Đổi mới tổ chức, hoạt động của TLĐ, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới; tạo điều kiện về nguồn lực đủ mạnh để bảo đảm hiệu quả các hoạt động đại diện, chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ, thu hút NLĐ và tổ chức của NLĐ tại doanh nghiệp tham gia TLĐ” [2, mục 2.10]

Đối với LĐLĐ quận Hồng Bàng thực hiện nhiệm vụ này là góp phần thực

hiện Nghị quyết số 26 –NQ/TU của Ban Thường vụ Thành ủy “Tiếp tục xây dựng

giai cấp công nhân Hải Phòng thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” và

Chương trình hành động số 15 - CTr/QU ngày 15/5/2008 của Ban Thường vụ Quận

ủy về thực hiện Nghị quyết số 20 – NQ/TU; Thực hiện Nghị quyết 28-NQ/TU, ngày 10/11/2009 của Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng và Chương trình hành động

24/CT –QU của Quận ủy Hồng Bàng về “xây dựng, củng cố và phát triển tổ chức

cơ sở Đảng, đoàn thể trong các loại hình doanh nghiệp ngoài nhà nước, hợp tác xã, trường học ngoài công lập”

Thứ tư, Công đoàn thực hiện chức năng đại diện bảo vệ quyền, lợi ích của

NLĐ hiệu quả đòi hỏi phải thực hiện đồng thời cả 3 chức năng, góp phần tăng cường hỗ trợ thúc đẩy thực hiện các nhiệm vụ công đoàn để đạt được mục tiêu đề

ra Chẳng hạn, tham gia xây dựng chính sách pháp luật hiệu quả có lợi cho NLĐ, xây dựng mô hình tổ chức phù hợp, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công đoàn có năng lực, tâm huyết, nắm vững kỹ năng hoạt động công đoàn là điều kiện quan trọng để thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ quyền, lợi ích đoàn viên và NLĐ

Trang 28

20

Nếu coi chức năng, nhiệm vụ đại diện bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ là trung tâm thì việc công đoàn tăng cường tuyên truyền giáo dục, phổ biến chính sách pháp luật nhằm nâng cao nhận thức cho NLĐ về quyền hạn và nghĩa vụ để có thể tự bảo vệ quyền, lợi ích của mình, vận động NLĐ hăng say lao động sản xuất, thực hành tiết kiệm, phát huy sáng kiến, tham gia tích cực vào công tác công đoàn và hoạt động xã hội Mặt khác công đoàn tham gia quản lý là hình thức giúp cán bộ công đoàn nắm rõ tình hình sản xuất kinh doanh, qua đó tăng cường kiểm tra giám sát để thực hiện bảo vệ NLĐ thực chất hơn, động viên NLĐ sẵn sàng chia sẻ khó khăn cùng cộng đồng doanh nghiệp Vì vậy, công đoàn thực hiện tốt chức năng đại diện bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ là đóng góp quan trọng vào việc thực hiện có hiệu quả các chức năng còn lại

1.2 Quy định pháp luật về công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động và những hạn chế, bất cập

1.2.1 Quy định pháp luật công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động

Bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, được Đảng, Nhà nước hết sức quan tâm Tổ chức công đoàn coi đó là chức năng, nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong quá trình hoạt động cần phải tiếp tục duy trì, thực hiện có hiệu quả, nhất là khu vực doanh nghiệp Nhiệm vụ của công đoàn các cấp từ tham gia, phối hợp, đến chủ động độc lập thực hiện phải bảo đảm về mặt pháp lý, cơ quan nhà nước, cộng đồng doanh nghiệp có trách nhiệm thực hiện và tạo điều kiện để công đoàn hoạt động Nội dung liên quan đã được các văn bản pháp luật quy định cụ thể như sau:

- Quy định trong Hiến Pháp: Ở Việt Nam cũng như hầu hết các nước, hoạt

động công đoàn được pháp luật thừa nhận và bảo vệ Tuy nhiên, điểm khác biệt lớn

là trong xã hội Việt Nam, tổ chức Công đoàn không chỉ là một tổ chức xã hội nghề nghiệp thông thường mà còn là một tổ chức chính trị - xã hội, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Công đoàn có một vị trí quan trọng trong xã hội, không chỉ đại diện cho lực lượng tự mình (bản thân tổ chức Công đoàn, bản thân đoàn viên) mà còn bảo vệ

Trang 29

21

quyền, lợi ích cho NLĐ, cũng như đại diện cho NLĐ tham gia quản lý kinh tế, quản

lý xã hội

Hiến pháp năm 2013 đã quy định, luôn tôn trọng và bảo đảm quyền công dân

và quyền con người, trong đó có các quyền, lợi ích của đoàn viên và NLĐ trong QHLĐ Tại khoản 2, Điều 57 nêu rõ: “Nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, NSDLĐ và tạo điều kiện xây dựng QHLĐ tiến bộ, hài hòa và ổn định” Chính phủ có nhiệm vụ và quyền: “Bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước và

xã hội, quyền con người, quyền công dân; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội”[13, K6,

Đ 96] Tuy nhiên, “việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác” Đó chính là bảo đảm hài hòa quyền và lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và NLĐ

Nói về chức năng, nhiệm vụ đại diện, bảo vệ NLĐ của tổ chức Công đoàn Điều 10, Hiến pháp 2013 quy định: “Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của Giai cấp công nhân và của NLĐ được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho NLĐ, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ

…” Đây là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để Quốc hội ban hành các Luật và Bộ luật khác, bảo đảm quyền công đoàn được bảo vệ, bênh vực quyền, lợi ích của đoàn viên

và NLĐ

- Bộ luật Lao động năm 2012, đã quy định quyền và nghĩa vụ của NLĐ,

quyền và nghĩa vụ của các cấp công đoàn, đặc biệt là quy định CĐCS trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ Tại khoản 1, Điều 5 “Quyền

và nghĩa vụ của người lao động”, quy định NLĐ có các quyền: Quyền được tìm kiếm việc làm; được hưởng lương theo thỏa thuận; được đảm bảo an toàn lao động; được gia nhập và hoạt động công đoàn; được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và đình công Như vậy, quyền của NLĐ trong QHLĐ, tại doanh nghiệp, bao gồm 6 nhóm, nhưng tất cả các quyền này đều được thực hiện theo quy định chi tiết

ở mỗi chương của BLLĐ Đây là những quy định cần thiết để Công đoàn có thể xây dựng kế hoạch cần phải làm gì để bảo vệ đoàn viên và NLĐ

Trang 30

22

Quyền của Công đoàn trong QHLĐ được quy định tại Khoản 2, Điều 7 (quan

hệ lao động): “Công đoàn, tổ chức đại diện NSDLĐ tham gia cùng với cơ quan nhà nước hỗ trợ xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ; giám sát việc thi hành các quy định của pháp luật về lao động; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, NSDLĐ”

BLLĐ đã dành 01 chương, với 6 điều (từ điều 188 – điều 193) khá đầy đủ để quy định về Công đoàn Trong đó quy định quyền, nghĩa vụ của các cấp công đoàn, nhất là CĐCS trong QHLĐ; quyền của cán bộ công đoàn; quyền thành lập và hoạt động công đoàn của NLĐ; trách nhiệm của NSDLĐ đối với tổ chức và hoạt động công đoàn; các điều kiện đảm bảo cho công đoàn hoạt động

Về quy định Công đoàn đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên và NLĐ biểu hiện trên các hoạt động sau: “CĐCS thực hiện vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên công đoàn, NLĐ; tham gia, thương lượng, ký kết và giám sát việc thực hiện TƯLĐTT, thang lương, bảng lương, định mức lao động, quy chế trả lương, quy chế thưởng, nội quy lao động, quy chế dân chủ ở doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức; tham gia, hỗ trợ giải quyết tranh chấp lao động; đối thoại, hợp tác với NSDLĐ xây dựng QHLĐ hài hoà,

ổn định và tiến bộ tại doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức” [11, K1, Đ188]

Mỗi nhiệm vụ của công đoàn trong nội dung bảo vệ quyền, lợi ích NLĐ pháp luật đều quy định trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên liên quan là Nhà nước và tổ chức NSDLĐ Nhà nước “Bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của NLĐ; khuyến khích những thoả thuận bảo đảm cho NLĐ có những điều kiện thuận lợi hơn so với quy định của pháp luật về lao động”; “Hướng dẫn NLĐ và người sử dụng lao động đối thoại, thương lượng tập thể, xây dựng QHLĐ hài hoà, ổn định và tiến bộ.” [11, K1, Đ 6] NSDLĐ có trách nhiệm công nhận và tạo điều kiện cho NLĐ gia nhập và hoạt động công đoàn, bảo đảm cơ sở vật chất, tiện nghi cho CĐCS hoạt động, bố trí thời gian theo quy định để cán bộ CĐCS tham gia công tác công đoàn, có trách nhiệm phối hợp với CĐCS trong xây dựng QHLĐ, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho NLĐ, được quy định tại Điều 192 và 193, BLLĐ năm 2012

Trang 31

23

- Luật Công đoàn năm 2012, quy định tương đối cụ thể về đối tượng, thành

lập, tổ chức và nhiệm vụ của các cấp công đoàn, trong đó có nhiều nội dung quy định vai trò công đoàn trong QHLĐ, chăm lo, đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích đoàn viên và NLĐ Cụ thể: Khoản 1, Điều 18, quy định đoàn viên có quyền: “Yêu cầu Công đoàn đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng khi bị xâm phạm” Đặc biệt tại Điều 10: Đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ, với 10 nội dung quan trọng Đây được coi là nhiệm vụ trọng tâm của công đoàn trong việc bảo vệ quyền, lợi ích của đoàn viên và NLĐ đã được hướng dẫn chi tiết tại Nghị định số 43/2013/NĐ-CP ngày 10/5/2013 của Chính phủ Đó là:

“1 Hướng dẫn, tư vấn cho người lao động về quyền, nghĩa vụ của NLĐ khi giao kết, thực hiện HĐLĐ, hợp đồng làm việc với đơn vị sử dụng lao động

2 Đại diện cho tập thể NLĐ thương lượng, ký kết và giám sát việc thực hiện thoả ước lao động tập thể

3 Tham gia với đơn vị sử dụng lao động xây dựng và giám sát việc thực hiện thang, bảng lương, định mức lao động, quy chế trả lương, quy chế thưởng, nội quy lao động

4 Đối thoại với đơn vị sử dụng lao động để giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động

5 Tổ chức hoạt động tư vấn pháp luật cho người lao động

6 Tham gia với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động

7 Kiến nghị với tổ chức, cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, giải quyết khi quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của tập thể NLĐ hoặc của NLĐ bị xâm phạm

8 Đại diện cho tập thể NLĐ khởi kiện tại Toà án khi quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của tập thể NLĐ bị xâm phạm; đại diện cho NLĐ khởi kiện tại Toà án khi quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ bị xâm phạm và được NLĐ uỷ quyền

Trang 32

24

9 Đại diện cho tập thể NLĐ tham gia tố tụng trong vụ án lao động, hành

chính, phá sản doanh nghiệp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của tập

Điều 22 “Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đối với Công đoàn”: Phối hợp và tạo điều kiện để CĐCS thực hiện quyền và nghĩa vụ công đoàn; tôn trọng quyền công đoàn của NLĐ; cung cấp thông tin liên quan phục vụ hoạt động công đoàn khi có yêu cầu; phối hợp tổ chức đối thoại, thương lượng, ký kết, thực hiện TƯLĐTT và quy chế dân chủ cơ sở, giải quyết tranh chấp lao động; tham khảo ý kiến công đoàn cùng cấp khi ban hành các văn bản liên quan đến quyền, nghĩa vụ của NLĐ; bảo đảm và tạo điều kiện về thời gian, cơ sở vật chất, đóng kinh phí theo quy định tại Điều 24, 25, 26 LCĐ

- Luật Bảo hiểm Xã hội, năm 2014, khoản 1, Điều 14 quy định: Tổ chức

công đoàn có các quyền như: Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ tham gia bảo hiểm xã hội; Yêu cầu NSDLĐ, cơ quan Bảo hiểm xã hội cung cấp thông tin về bảo hiểm xã hội của NLĐ; Giám sát và kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội; Khởi kiện ra Tòa án đối với hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của NLĐ, tập thể NLĐ theo quy định tại Khoản 8, Điều 10 của LCĐ

- Luật An toàn Vệ sinh Lao động (năm 2015), cũng có nhiều điều khoản quy

định CĐCS có quyền tham gia hội đồng ATVSLĐ, lấy ý kiến Ban chấp hành CĐCS

Trang 33

25

khi xây dựng kế hoạch, nội quy, quy trình, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; NSDLĐ phối hợp với Ban chấp hành CĐCS thành lập mạng lưới an toàn, vệ sinh viên Tại Điều 9, quy định: Quyền, trách nhiệm của tổ chức công đoàn trong công tác an toàn, vệ sinh lao động, như tham gia xây dựng chính sách pháp luật về ATVSLĐ; phối hợp thanh tra kiểm tra; yêu cầu doanh nghiệp chấp hành pháp luật

về ATVSLĐ; khởi kiện khi doanh nghiệp vi phạm quy định khi quyền an toàn vệ sinh lao động của NLĐ bị vi phạm… Điều 10: Quyền, trách nhiệm của CĐCS trong công tác ATVSLĐ (gồm 10 khoản) Quy định cụ thể quyền của CĐCS tham gia xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch, nội quy, quy trình, biện pháp bảo đảm ATVSLĐ, cải thiện điều kiện lao động; đại diện cho tập thể NLĐ thương lượng, ký kết và giám sát việc thực hiện điều khoản về ATVSLĐ trong TƯLĐTT; có trách nhiệm giúp đỡ người lao động khiếu nại, khởi kiện khi quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng bị xâm phạm; tổ chức đối thoại, tham gia kiểm tra giám sát công tác an toàn, điều tra tai nạn lao động…

Ngoài ra một số văn bản hướng dẫn của Chính phủ, Bộ ban ngành và chính quyền các cấp cũng quy định cụ thể nội dung này, như Quyết định 1129 Ngày 18/8/2008 của Thủ tướng Chính phủ về kế hoạch triển khai thực hiện Chỉ thị 22/CT – TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng QHLĐ hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp”; Các Nghị định, hướng dẫn về thực hiện BLLĐ, Luật BHXH, LCĐ …

Như vậy, các văn bản pháp luật Việt Nam, cùng với các thỏa thuận khác giữa các bên trong QHLĐ tại doanh nghiệp như TƯLĐTT, các quy chế nội bộ, nội quy lao động… đã quy định tương đối đầy đủ về các quyền lợi, nghĩa vụ của đoàn viên

và NLĐ trong QHLĐ, quy định trách nhiệm của công đoàn trong bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ Đây là cơ sở pháp lý quan trọng là cẩm nang để công đoàn thực hiện

và yêu cầu các cơ quan chức năng, NSDLĐ phối thực hiện nhiệm vụ này Luận văn chủ yếu căn cứ vào các nội dung cơ bản tại Điều 10, Luật Công đoàn để đánh giá thực trạng công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích NLĐ ở chương 2

Trang 34

… Tuy nhiên trong quá trình thực hiện, quy định pháp luật liên quan đến nội dung này còn bộc lộ một số hạn chế gây khó khăn hoạt động bảo vệ quyền, lợi ích NLĐ của công đoàn, cần được xem xét, điều chỉnh phù hợp

Thứ nhất,quy định về trách nhiệm của công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở về bảo vệ quyền lợi của NLĐ chưa thống nhất: Tại Điều 188, BLLĐ quy định: “Vai trò của tổ chức công đoàn trong QHLĐ”; tại Điều 10, LCĐ quy định quyền và trách nhiệm của công đoàn: “Đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động”, quy định nhiệm vụ của CĐCS trong việc đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ Tuy nhiên, trong khoản 3, Điều 188, BLLĐ quy định “Ở những nơi chưa thành lập tổ chức CĐCS, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở thực hiện trách nhiệm như quy định tại khoản 1 Điều này”, Trong khi đó, tại Điều 17, LCĐ lại quy định “Ở cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp chưa thành lập CĐCS, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở có quyền, trách nhiệm đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ khi được NLĐ ở đó yêu cầu” (nếu không yêu cầu có được can thiệp không?) Điều này mẫu thuẫn với quy định tại BLLĐ

Thứ hai, chưa quy định rõ ràng về quyền và lợi ích của NLĐ: Trong BLLĐ

không quy định cụ thể về thế nào là quyền, thế nào là lợi ích, nên trong hoạt động công đoàn cũng không phân biệt được đại diện bảo vệ quyền và bảo vệ lợi ích cho

Trang 35

27

NLĐ Ranh giới giữa quyền và lợi ích của NLĐ rất không rõ ràng nên khó khăn cho hoạt động công đoàn Trên thực tế, công đoàn thường quan niệm nội dung nào thuộc quy định pháp luật và các văn bản thỏa thuận khác giữa các bên thì thuộc về quyền; nội dung nào phát sinh từ việc tập thể lao động yêu cầu xác lập các điều kiện lao động mới không có trong văn bản và văn bản đã thỏa thuận là lợi ích

Thứ ba, quyền lợi của NLĐ khi bị sa thải trái pháp luật và chấm dứt HĐLĐ

của lao động nữ chưa phù hợp: BLLĐ năm 2012 có quy định thế nào là sa thải trái pháp luật (Điều 126) Tuy nhiên, khoản 1 Điều 38 BLLĐ hiện hành không quy định NLĐ bị xử lý kỷ luật sa thải là một trong những trường hợp đơn phương chấm dứt HĐLĐ, nếu việc sa thải trái pháp luật cũng không được xác định là đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật (Điều 41 BLLĐ năm 2012), từ đó không buộc được trách nhiệm của NSDLĐ (Điều 42, BLLĐ, năm 2012)

Khoản 3, Điều 155 quy định: “NSDLĐ không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt HĐLĐ đối với lao động nữ vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, ” Nhưng điều luật lại không cấm NSDLĐ lấy lý do quy định tại khoản 1 Điều 38 để thực hiện quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ đối với lao động đang mang thai, đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi Như vậy, lao động nữ trong các trường hợp trên nếu hết hạn HĐLĐ thì vẫn có thể bị chấm dứt HĐLĐ mà không trái pháp luật

Thứ tư, Quy định về tiền lương tối thiểu, tiền lương đóng BHXH hội chưa

phù hợp: Tại Điều 91, BLLĐ quy định “Mức lương tối thiểu là mức thấp nhất trả cho NLĐ làm công việc giản đơn nhất, trong điều kiện lao động bình thường và phải bảo đảm nhu cầu sống tối thiểu của NLĐ và gia đình họ” Tuy nhiên, việc xác định “mức sống tối thiểu” theo vùng, miền hiện tại là rất khó khăn, đó là tâm điểm của việc tranh luận không có lời kết của các bên trong Hội đồng Tiền lương quốc gia hàng năm Các bên đều đưa ra lý lẽ của riêng mình, tuy còn thiếu cơ sở khoa học, mang ý chí và cảm tính, nhưng cơ quan nhà nước Bộ LĐ-TB&XH và Tổng cục Thống kê cũng chưa cung cấp thông tin, số liệu có tính thuyết phục Hơn nữa, mức lương làm căn cứ đóng BHXH được thực hiện theo Điều 90 của BLLĐ, song trên thực tế việc xác định “mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và

Trang 36

28

các khoản bổ sung khác” rất khó xác định vì NSDLĐ có muôn vàn lý do để tách lương thành cách khoản thu nhập hợp pháp mà không phải đóng BHXH cho NLĐ

Thứ năm, nguyên tắc, cơ chế thương lượng chưa rõ ràng: Ở Việt Nam cơ chế

thương lượng tập thể trong quan hệ 2 bên tại doanh nghiệp chưa rõ ràng, thương lượng tập thể giữa tập thể NLĐ (hoặc đại diện là CĐCS) với NSDLD chưa phát triển và là quan hệ không cân sức Nhưng chưa có quy định cơ chế hỗ trợ, lộ trình ràng buộc để khi pháp luật trao quyền chủ động hoàn toàn cho doanh nghiệp nhưng thiếu kiểm soát, dẫn đến tình trạng né tránh, lách luật của NSDLĐ Hiện tại việc thỏa thuận về tiền công, về điều kiện làm việc, về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, về tham gia BHXH, v.v chủ yếu là do NSDLĐ tự áp đặt, chứ NLĐ không có quyền được thỏa thuận Đó là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến xung đột giữa các bên Quy định đối thoại định kỳ 3 tháng/lần với quá nhiều nội dung là cứng nhắc và không khả thi, trong khi đó doanh nghiệp cần giải quyết một nội dung nào đó có thể đối thoại hoặc hội ý với một bộ phận liên quan để cùng trao đổi, tháo gỡ bảo đảm thích ứng và linh hoạt với điều kiện thực tế

Thứ sáu, quy định đình công ở Việt Nam còn phức tạp, khó thực hiện: Để

bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ, pháp luật giao cho CĐCS tổ chức lãnh đạo đình công theo Khoản 10, Điều 10, LCĐ, song trên thực tế gần 7.000 cuộc đình công cho đến nay đều trái pháp luật, chưa có cuộc nào được do CĐCS thực hiện Điều này cho thấy quy trình quá khắt khe trong việc thực hiện, việc thông qua hội đồng hòa giải, hòa giải không thành phải lấy ý kiến theo Khoản 1, Điều 212, BLLĐ mới thực hiện các bước tiếp theo là rất khó khăn Hơn nữa quy định chỉ được tổ chức đình công khi tranh chấp lao động tập thể về lợi ích (quy định tại Khoản 2, Điều 209, BLLĐ) Qua khảo sát của tác giả, độ tin tưởng của NLĐ về công đoàn thực hiện nội dung này là: 2/3 lựa chọn mức dưới 20%; 1/3 lựa chọn mức từ 20 - 40% (tức là không tin tưởng sẽ thực hiện được)

Thứ bảy, quyền lợi NLĐ tham gia BHXH chưa đảm bảo, thiếu công bằng:

Khoản 1, Điều 60 Luật BHXH, năm 2014, không cho phép NLĐ được hưởng chính sách BHXH một lần, đã dẫn đến nhiều cuộc đình công trong cả nước để phản đối (đình công phản đối chính sách cũng chưa được đưa vào luật) Mặc dù Quốc hội đã

Trang 37

Thứ tám, việc công đoàn khởi kiện hành vi vi phạm chính sách BHXH là khó

thực hiện: Điểm d, Khoản 1, Điều 14, Luật BHXH, quy định (công đoàn có quyền):

“Khởi kiện ra Tòa án đối với hành vi vi phạm pháp luật về BHXH gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ, tập thể NLĐ theo quy định tại Khoản 8 Điều 10, LCĐ” Nếu công đoàn cấp trên trực tiếp muốn đứng ra khởi kiện thì phải được CĐCS ủy quyền, nhưng với địa vị là NLĐ làm thuê tại doanh nghiệp, chủ tịch CĐCS rất khó thực hiện quy trình này Thực tế hiện nay hầu như chưa có vụ án nào được tòa án giải quyết, một số vụ đã bị tòa trả lại với các lý do: không thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án, hoặc là phía tòa án cho rằng các vụ kiện này thuộc về tranh chấp tập thể về quyền mà chưa được Chủ tịch UBND cấp huyện giải quyết, hoặc là chưa được giấy ủy quyền của CĐCS

Thứ chín, Pháp luật quy định quá nhiều nhiệm vụ cho CĐCS: Trong điều

kiện cán bộ CĐCS còn yếu và thiếu và chủ yếu là kiêm nhiệm, họ phải làm công việc chuyên môn do NSDLĐ giao, nhưng nhiệm vụ của cán bộ công đoàn được quy định dàn trải từ Điều 10 - 16, LCĐ Ngoài việc đại diện bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ là nhiệm vụ trung tâm, thì việc tuyên truyền giáo dục, tham gia quản lý nhà nước, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chế độ chính sách, công tác xã hội, nâng cao trình độ NLĐ cũng cần hướng đến phục vụ cho việc “đại diện, bảo vệ” được tốt hơn Quy định như hiện nay chỉ mang tính hình thức, việc gì cũng làm và tham gia rất nhiều nhưng không đi sâu vào công việc cụ thể, nên không hiệu quả

1 Hiện tại đã được điều chỉnh theo Nghị định 153/2018/NĐ-CP, ngày 07/11/2018 của Chính phủ

Trang 38

30

Tiểu kết chương 1:

Trong chương 1, Luận văn đã trình bày một số khái niệm cơ bản liên quan đến chủ đề nghiên cứu như: Tổ chức Công đoàn, NLĐ, đoàn viên công đoàn, quyền, lợi ích, bảo vệ; phân tích vai trò của Công đoàn trong bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ trong các doanh nghiệp chính là thực hiện 1 trong 3 chức năng quan trọng

“đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên và NLĐ” đã được Nghị quyết của Đảng, văn bản pháp luật của Nhà nước và Điều lệ, nghị quyết của các cấp công đoàn xác định Trong cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế thì nhiệm vụ bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ này cần được nhận thức đầy đủ, toàn diện hơn Tại các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp ngoài quốc doanh nói riêng tình trạng vi phạm pháp luật khá phổ biến, điều kiện làm việc, tiền lương, phúc lợi của NLĐ chưa được cải thiện thì hoạt động của công đoàn thực hiện chức năng, nhiệm vụ này cần được ưu tiên, coi trọng

Luận văn cũng đã phân tích các nội dung liên quan đến công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích NLĐ đã được quy định trong các văn bản pháp luật như Hiến Pháp, BLLĐ, Luật Bảo hiểm … trong đó nhiệm vụ cụ thể của công đoàn được quy định tại Điều 10, Luật Công đoàn năm 2012 Đây là cơ sở để các cấp công đoàn xây dựng kế hoạch công tác phù hợp và triển khai thực hiện có hiệu quả (sẽ được đánh giá ở chương 2) Đồng thời nêu ra một số hạn chế, bất cập của các văn bản pháp luật về quyền công đoàn, quyền và lợi ích của NLĐ làm cản trở thực thi nhiệm vụ của các cấp công đoàn trong quá trình bảo vệ quyền, lợi ích NLĐ

Trang 39

31

CHƯƠNG 2 THỰC HIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT CÔNG ĐOÀN BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP TẠI QUẬN

HỒNG BÀNG, HẢI PHÒNG 2.1 Khái quát tình hình công nhân, lao động và tổ chức công đoàn quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng

2.1.1 Khái quát tình hình công nhân, lao động tại quận Hồng Bàng

Quận Hồng Bàng nằm trong khu vực kinh tế, thương mại sầm uất, dân cư đông đúc, đồng thời là nơi tập trung các cơ quan quan trọng của chính quyền thành phố (Thành ủy, HĐND, UBND và các sở ngành…); văn phòng đại diện của các tổ chức nước ngoài; quận có nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp, thương mại lớn và ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố như công nghiệp đóng tàu, chế tạo sản xuất thép công nghiệp, kinh tế cảng biển; các trung tâm thương mại, du lịch, dịch vụ Hiện tại trên địa bàn quận có trên 1.800 cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, tổ chức kinh

tế đang hoạt động sản xuất, kinh doanh, thu hút hàng chục nghìn NLĐ

Trong 30 năm thực hiện đường lối đổi mới quân và dân toàn Quận nêu cao truyền thống, chủ động, sáng tạo, luôn đi đầu sự nghiệp xây dựng, bảo vệ, phát triển thành phố Hải Phòng giành được những thành quả to lớn và toàn diện về kinh tế, xã hội Quận Hồng Bàng đã vinh dự được Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới Thành tích đó có sự đóng góp to lớn về công sức, trí tuệ của lực lượng CNVCLĐ trên địa bàn [4, https://vi.wikipedia.org/wiki/Hong_bang]

Trong 5 năm qua (2012 - 2017), cùng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đội ngũ CNVCLĐ có bước phát triển mới về số lượng và chất lượng, đa dạng về cơ cấu Hiện nay Hồng Bàng, quận trực tiếp quản lý 60 cơ quan, đơn vị hành chính

và sự nghiệp công lập (chính quyền, đảng, đoàn thể, trường học, cơ sở y tế), với 2.387 cán bộ, CCVCLĐ2 [6, tr 4] Quản lý trực tiếp 1.729 doanh nghiệp (các

2

Theo số liệu của phòng Nội vụ quận Hồng Bàng (8/2018): Bộ máy Đảng - Chính quyền quận gồm: Quận ủy gồm 04 Ban và Văn phòng Quận ủy; Hội đồng Nhân dân gồm 2 ban (Pháp chế và Kinh tế - xã hội); Ủy ban nhân dân quận gồm 12 phòng chuyên môn, 42 đơn vị sự nghiệp trực thuộc; Mặt trận tổ quốc và 4 đoàn thể chính trị xã hội Tổng số biên chế toàn quận là 468 biên chế (48 biên chế khối Đảng, đoàn thể; 202 khối quận; 218 biên chế khối phường

Trang 40

sở ngoài quốc doanh như doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, hộ gia đình, tiểu thủ công nghiệp có quy mô nhỏ, phổ biến dưới 10 lao động, nên việc vận động thành lập công đoàn cũng gặp nhiều khó khăn

Bảng 2.1: Số lượng, tỷ lệ doanh nghiệp và lao động trên địa bàn Hồng Bàng

1.1 Trung ương quản lý 30 1,69 10.067 21,03 1.2 Hải Phòng quản lý 8 0,46 3.579 7,48

2.1 Tập thể 14 0,79 362 0,76 2.2 Tư nhân 43 2,43 382 0,80 2.3 Công ty hợp danh 2 0,11 10 0,02 2.4 Cty TNHH 1.097 62,08 15.715 32,83 2.5 Cổ phần vốn nhà nước 16 0,91 2.172 4,54 2.6 Cổ phần vốn tư nhân 531 30,05 12.015 25,10

3.1 DN 100% vốn FDI 14 0,79 1.887 3,94 3.2 Liên doanh với NN 12 0,68 1.673 3,50

Nguồn: Số liệu thống kê 31/12/2017 của Chi cục Thống kê quận Hồng Bàng, (Quận Hồng Bàng không quản lý DNNN hoặc cổ phần vốn nhà nước chi phối)

Nhìn chung CCVCLĐ có độ tuổi trẻ, trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp

vụ, nhận thức chính trị - xã hội được nâng lên, có khả năng tiếp cận nhanh với công việc Với 70% NLĐ có trình độ học vấn THPT Cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp quận có trình độ học vấn, chính trị, chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, trên 90% có trình độ đại học (khoảng 5% có trình độ thạc sỹ),

Ngày đăng: 23/04/2020, 10:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w