Ths Nguyễn Thanh Tú eBook CollectionD ẠY KÈM QUY NHƠN DISSERTATION PHÁT TRI ỂN NỘI DUNG XÂY D ỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THỰC TẾ CHƯƠNG “CẢM ỨNG ĐIỆN TỪ” - VẬT LÍ 11 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
Trang 1Ths Nguyễn Thanh Tú eBook Collection
D ẠY KÈM QUY NHƠN DISSERTATION
PHÁT TRI ỂN NỘI DUNG XÂY D ỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THỰC TẾ
CHƯƠNG “CẢM ỨNG ĐIỆN TỪ” - VẬT LÍ 11 NHẰM
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC
VÀO THỰC TIỄN CỦA HỌC SINH (2018)
Nguyen Thanh Tu Group
vectorstock.com/5933716
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÊ THỊ MINH HẠNH
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THỰC TẾ CHƯƠNG
“CẢM ỨNG ĐIỆN TỪ” - VẬT LÍ 11 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC VÀO THỰC TIỄN
CỦA HỌC SINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC BỘ MÔN VẬT LÍ
Đà Nẵng – Năm 2018
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÊ THỊ MINH HẠNH
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THỰC TẾ CHƯƠNG
“CẢM ỨNG ĐIỆN TỪ” - VẬT LÍ 11 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC VÀO THỰC TIỄN
CỦA HỌC SINH
Chuyên ngành: Lý luận và PPDH Bộ môn Vật lí
Mã số: 8.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học
TS PHÙNG VIỆT HẢI
Đà Nẵng – Năm 2018
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN I LỜI CAM ĐOAN II MỤC LỤC V DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VII DANH MỤC CÁC BẢNG VIII DANH MỤC CÁC HÌNH IX
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
3 Giả thuyết khoa học của đề tài 2
4 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
6 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3
7 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 3
8 Đóng góp của luận văn 3
9 Cấu trúc của luận văn 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC VẬT LÍ VÀO THỰC TIỄN 5
1.1 Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh 5
1.1.1 Khái niệm năng lực 5
1.1.2 Các năng lực trong dạy học vật lí 6
1.2 Bài tập vật lí và việc phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn 9
1.2.1 Khái niệm về bài tập vật lí 9
1.2.2 Vai trò, tác dụng của BTVL 9
1.2.3 Phân loại BTVL 11
1.2.4 Bài tập vật lí có nội dung thực tế 11
1.2.5 Sử dụng bài tập thực tế trong dạy học vật lí để phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh 13
1.3 Thực trạng dạy học bài tập thực tế chương “Cảm ứng điện từ” – vậy lí 11 ở một số trường THPT trên địa bàn TP Đà Nẵng 14
1.3.1 Đối tượng và phương pháp điều tra 14
1.3.2 Kết quả điều tra 15
Trang 91.3.3 Đề xuất giải pháp phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn
thông qua bài tập vật lí 19
1.4 Đề xuất quy trình xây dựng bài tập thực tế
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 80
CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THỰC TẾ CHƯƠNG “CẢM ỨNG ĐIỆN TỪ”- VẬT LÍ 11 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC VÀO THỰC TIỄN 24
2.1 Phân tích nội dung kiến thức chương cảm ứng điện từ - vật lí 11 24
2.1.1 Phân phối chương trình chương “Cảm ứng điện từ” ở lớp 11 THPT 24
2.1.2 Cấu trúc logic nội dung các kiến thức của chương “Cảm ứng điện từ” trong chương trình vật lí phổ thông 25
2.2 Xây dựng các bài tập cụ thể 28
2.2.1 Ma trận phân bố bài tập theo nội dung dựa trên ba mức độ phân dạng 28
2.2.2 Xây dựng các bài tập thực tế 28
2.3 Ý tưởng sử dụng từng bài tập thực tế 62
2.4 Thiết kế một số tiến trình dạy học cụ thể 63
2.4.1 Tiến trình dạy học Bài 23: từ thông- cảm ứng điện từ ( tiết 2) 63
2.4.2 Tiến trình dạy học tiết bài tập từ thông- cảm ứng điện từ 72
2.5 Tiêu chí đánh giá NL VDKT vào thực tiễn trong từng bài tập/hoặc từng giáo án 78 2.5.1 Phiếu đánh giá NL VDKT vào thực tiễn của một nhóm HS lớp thực nghiệm 78
2.5.2 Đánh giá kết quả học tập lớp TNg và ĐC qua bài kiểm tra 79
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 80
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 81
3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 81
3.2 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 81
3.3 Thời điểm thực nghiệm sư phạm 81
3.4 Các bước thực nghiệm sư phạm 81
3.5 Kết quả thực nghiệm 82
3.5.1 Phân tích diễn biến thực nghiệm và đánh giá định tính 82
3.5.2 Đánh giá định lượng 88
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 92
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95 PHỤ LỤC
Trang 111.3 Thực trạng sử dụng bài tập vật lí có nội dung thực tế của học sinh
tại trường THPT Phan Châu Trinh tại TP Đà Nẵng (122 em) 17 2.1 Phân phối chương trình chương Cảm ứng điện từ - lớp 11 24 2.2 Bảng ma trận phân bố BT theo nội dung dựa trên mức độ nhận thức 28 2.3 Bảng so sánh hoạt động của bếp ga, bếp điện và bếp từ 33
2.5 Các bước thiết kế máy phát điện xoay chiều một pha 45
2.7 Các bước kiểm tra và lắp rắp máy đo tốc độ của xe máy 56
2.9 Bảng thống kê các lỗi hỏng của máy xay sinh tố 60 2.10 Ý tưởng sử dụng các bài tập/tình huống thực tế đã xây dựng 62
2.13 Phiếu đánh giá NL VDKT vật lí vào thực tiễn của từng HS lớp TNg 79 3.1 Bảng số liệu HS được chọn làm mẫu thực nghiệm 81 3.2 Đánh giá định tính NL VDKT vào thực tiễn của HS lớp TNg 87 3.3 Điểm đánh giá 11 chỉ số hành vi của HS Huỳnh Thị Mỹ Cơ qua 2
Trang 122.1 Sơ đồ cấu trúc nội dung chương “Cảm ứng điện từ” 25
2.11 Hình ảnh cấu tạo phanh điện từ gắn trên xe 37
Trang 132.32 Hình chụp từ video thí nghiệm ống dây và đĩa kim loại 52
2.35 Thanh nam châm quay tròn trên đĩa kim loại 54
2.45 Sơ đồ tiến trình xây dựng kiến thức tiết Từ thông – Cảm ứng điện
từ tiết 2
65
3.1c Phiếu trả lời bài tập tình huống điện từ của nhóm 1 84
3.2c Phiếu trả lời bài tập tình huống máy xay sinh tố của nhóm 3 85
3.3c Phiếu trả lời bài tập tình huống thí nghiệm của nhóm 2 86 3.4 Biểu đồ đánh giá kết quả NL VDKT vào thực tiễn của HS Huỳnh
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục nước ta hiện nay phát triển trong bối cảnh thế giới có nhiều thay đổi nhanh và phức tạp Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế về giáo dục đã trở thành xu thế
tất yếu Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 đã xác định rõ “ một trong
ba đột phá là phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục quốc dân, gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ
Sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới sẽ tạo ra nhiều cơ hội và thuận lợi to lớn, đồng thời cũng phát sinh nhiều thách thức đối với sự nghiệp phát triển giáo dục”[1] Trong xã hội tri thức, nền giáo dục không chỉ trang bị cho học sinh những
kiến thức mà nhân loại đã tích lũy được qua lịch sử mà còn phải bồi dưỡng cho họ tính năng động cá nhân, tư duy sáng tạo và phát triển năng lực thực tiễn Như mục 2
điều 28 Luật giáo dục quy định: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính
tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”[12] Trước tình hình đó, ngoài việc trang bị cho
học sinh những kiến thức kĩ năng tối thiểu cần thiết, các môn học cần phải trang bị cho học sinh năng lực vận dụng kiến thức đã biết vào các tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn nhằm đáp ứng những yêu cầu phát triển xã hội
Ở trường phổ thông, Vật lí là bộ môn thực nghiệm gắn liền với thực tế sản xuất
và đời sống, là một trong những bộ môn bồi dưỡng cho học sinh năng lực vận dụng kiến thức vào các tình huống thực tiễn Vấn đề đặt ra đòi hỏi những giáo viên dạy bộ môn này phải tìm tòi, đổi mới các phương pháp và biện pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của người học Thực tiễn việc dạy và học môn Vật lí hiện nay còn nhiều bất cập như giờ học còn nặng về lí thuyết và nhồi nhét kiến thức, học sinh tiếp thu một cách thụ động không hứng thú từ đó không có niềm say mê học bộ môn Để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn, giải bài tập thực tế là một trong những biện pháp quan trọng giúp phát huy sự tích cực trong học tập của học sinh Việc sử dụng bài tập thực tế liên quan đến các quá trình, hiện tượng xảy ra trong cuộc sống xung quanh giúp khơi gợi ở học sinh tính tò mò, hứng thú và phát huy năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn Từ đó góp phần vào đáp ứng mục tiêu mà Luật giáo dục và Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020 đề ra
Trang 15Vì những lí do trên nên tôi quyết định chọn đề tài: “Xây dựng và sử dụng bài
tập thực tế chương “Cảm ứng điện từ”- Vật lí 11 nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh”
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Xây dựng được các bài tập thực tế chương ”Cảm ứng điện từ” – Vật lí 11
- Sử dụng các bài tập trong dạy học để đánh giá năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh
3 Giả thuyết khoa học của đề tài
Nếu xây dựng được hệ thống các bài tập vật lí có nội dung thực tế và sử dụng một cách phù hợp trong dạy học chương “Cảm ứng điện từ” - Vật lí 11 thì sẽ phát triển được năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh
Trong nước, có một số đề tài nghiên cứu về xây dựng và sử dụng bài tập như:
“Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập vật lí trong dạy học chương Sóng cơ và Sóng
âm góp phần nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức học sinh” của tác giả Đào Ngọc Dũng - Luận văn thạc sĩ năm 2014, ĐH Thái Nguyên; “Bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua hướng dẫn giải bài tập chương dòng điện xoay chiều” của Dương Thị Thanh Phương - Luận văn thạc sĩ năm 2014, Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội; “Xây dựng hệ thống bài tập và hướng dẫn hoạt động giải bài tập chương Mắt và các dụng cụ quang” - Vật lí 11 nhằm bồi dưỡng học sinh giỏi trung học phổ thông” của Nguyễn Thị Thùy Linh - Luận văn thạc sĩ năm 2016 Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội; Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thanh Hải với nghiên cứu xây dựng và sử dụng bài tập định tính trong dạy học cơ học vật lí 10 THPT Ngoài ra còn rất nhiều nghiên cứu về phương pháp giải bài tập theo phân loại dạng bài, theo nội dung… Tuy nhiên, những nghiên cứu về bài tập thực tế để phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh thì chưa có nhiều
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Năng lực vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn
- Bài tập vật lí nói chung, bài tập vật lí có nội dung thực tế nói riêng chương
“Cảm ứng điện từ” – vật lí 11 nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức vật lí vào
Trang 16thực tiễn của học sinh
6 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để đạt được mục đích đề ra, đề tài có nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Nghiên cứu lí thuyết về phát triển năng lực, năng lực vận dụng kiến thức (môn vật lí) vào thực tiễn và việc dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh
- Nghiên cứu lý luận về bài tập vật lí, bài tập vật lí thực tế
- Nghiên cứu mục tiêu kiến thức, kĩ năng khi dạy học các kiến thức chương
“Cảm ứng điện từ” - Vật lí 11
- Xây dựng các bài tập thực tế chương “Cảm ứng điện từ” - Vật lí 11
- Thiết kế bài học vận dụng các bài tập đã xây dựng trong dạy học chương “Cảm ứng điện từ”- Vật lí 11 nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức (vật lí) vào thực tiễn của HS
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả dạy học trong việc phát triển năng lực vận dụng kiến thức (vật lí) vào thực tiễn của HS
7 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu sách, báo, các luận án, luận văn, khóa luận tốt nghiệp, chương trình và SGK Vật lí 11 để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài và các căn cứ cho những đề xuất về tiến trình xây dựng được hệ thống bài tập chương cảm ứng điện từ gắn với thực tiễn
- Phương pháp điều tra, khảo sát: Điều tra thực trạng dạy học phần kiến thức này
ở trường THPT với việc sử dụng phiếu điều tra, dự giờ, tham khảo giáo án, trao đổi với GV, HS
- Phương pháp chuyên gia: Lấy phiếu góp ý từ các giáo viên có kinh nghiệm dạy lâu năm về dạy học chương “Cảm ứng điện từ”
- Thực nghiệm sư phạm
- Thống kê toán học để đánh giá hiệu quả của đề tài
8 Đóng góp của luận văn
- Góp phần cụ thể hóa được lý luận về năng lực vận dụng kiến thức (vật lí) vào thực tiễn về khái niệm, cấu trúc; quy trình xây dựng bài tập vật lí có nội dung thực tế theo hướng phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh
- Xây dựng hệ thống bài tập thực tế chương “Cảm ứng điện từ”- Vật lí 11 theo hướng phát triển năng lực vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn
9 Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm:
- Phần mở đầu
Trang 17- Phần nội dung
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn về xây dựng và sử dụng bài tập nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn
Chương 2 Xây dựng và sử dụng bài tập thực tế chương “Cảm ứng điện từ” - Vật
lí 11 nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
- Phần kết luận
- Tài liệu tham khảo
- Phụ lục
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC
VẬT LÍ VÀO THỰC TIỄN
1.1 Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh
1.1.1 Khái niệm năng lực
Có rất nhiều định nghĩa về năng lực và khái niệm này đang thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu Theo cách hiểu thông thường, năng lực là sự kết hợp của tri thức, kỹ năng và thái độ có sẵn hoặc ở dạng tiềm năng có thể học hỏi được của một cá nhân hoặc tổ chức để thực hiện thành công nhiệm vụ Mức độ và chất lượng hoàn thành công việc sẽ phản ánh mức độ năng lực của người đó hoặc tổ chức đó Chính vì thế thuật ngữ “Năng lực” khó mà định nghĩa một cách chính xác
Khái niệm NL có nguồn gốc Latinh: “competentia” nghĩa là “gặp gỡ” Ngày nay khái niệm NL được hiểu dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau Theo từ điển giáo
khoa tiếng Việt:“Năng lực là khả năng làm tốt công việc” Theo Bộ Giáo Dục và đào tạo thì “NL được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức,
kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định NL thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất của người lao động, kiến thức và kỹ năng) được thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào đó
NL bao gồm các yếu tố cơ bản mà mọi người lao động, mọi công dân đều cần phải có,
đó là các NL chung, cốt lõi” [2]
Howard Gardner (1999): “NL phải được thể hiện thông qua hoạt động có kết
quả và có thể đánh giá hoặc đo đạc được” [14]
F.E.Weinert (2001) cho rằng: “NL là những kĩ năng kĩ xảo học được hoặc sẵn
có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động
cơ xã hội…và khả năng vận dụng các cách GQVĐ một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt”[21]
OECD (Tổ chức các nước kinh tế phát triển) (2002) đã xác định “NL là khả
năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể” [6]
Trong đề tài này, chúng tôi chấp nhận quan niệm: “NL là sự tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí… để thực hiện có hiệu quả các hoạt động trong bối cảnh nhất định”
Trang 191.1.2 Các năng lực trong dạy học vật lí
Theo [2], [3], môn Vật lý trong chương trình giáo dục trung học phổ thông mới
sẽ hình thành và phát triển cho HS các NL sau:
- Các NL chung: NL giải quyết vấn đề và sáng tạo, NL tự chủ và tự học, NL giao tiếp và hợp tác
- Năng lực chuyên môn: NL Vật lý, gồm 3 thành tố năng lực là: Nhận thức kiến thức vật lý; Tìm tòi và khám phá thế giới tự nhiên dưới góc độ vật lý (chính là NL sử dụng 2 con đường/phương pháp dạy học môn vật lý: thực nghiệm và lý thuyết); Vận dụng kiến thức vật lý vào thực tiễn
Bên cạnh đó, trong dạy học môn Vật lý còn rèn luyện được các phẩm chất như: trung thực, trách nhiệm, chăm chỉ
1.1.3 Năng lực vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn
1.1.3.1 Khái niệm
Theo [6], NL giải quyết vấn đề thực tiễn là khả năng của một cá nhân hiểu
và giải quyết tình huống vấn đề gắn với thực tiễn mà khi giải pháp giải quyết chưa
rõ ràng
Trong đề tài này, chúng tôi quan niệm: “NLVDKT là khả năng của bản thân người học tự giải quyết vấn đề đặt ra một cách nhanh chóng, áp dụng những kiến thức lĩnh hội vào những tình huống, những hoạt động thực tiễn để tìm hiểu thế giới xung quanh và có khả năng biến đổi nó NLVDKT thể hiện phẩm chất, nhân cách của con người trong quá trình hoạt động để thỏa mãn nhu cầu chiếm lĩnh tri thức”
1.1.3.2 Cấu trúc của năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn
Năng lực vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn có các biểu hiện sau:
- Tìm hiểu, khám phá vấn đề
- Thiết lập không gian vấn đề
- Lập kế hoạch, thực hiện giải pháp
- Đánh giá và phản ánh giải pháp; suy ngẫm về cách thức và tiến trình giải quyết vấn đề để điều chỉnh và vận dụng trong tình huống mới
1.1.4 Công cụ đánh giá năng lực vận dụng kiến thức (vật lí) vào thực tiễn của học sinh
Từ biểu hiện của cấu trúc NLVDKT ở trên, chúng tôi xây dựng bảng công cụ để đánh giá sự phát triển NLVDKT của HS trong quá trình dạy học và kiểm tra đánh giá như sau:
Trang 20
Bảng 1.1 Cấu trúc NL VDKT vào thực tiễn và tiêu chí đánh giá
Phân tích được tình huống thực tiễn cụ thể đầy đủ, rõ ràng một cách
độc lập
Phân tích được tình huống cụ thể đầy đủ nhưng chưa rõ ràng
Phân tích được tình huống cụ thể khi trao đổi với bạn
Phân tích được tình huống cụ thể dưới sự hướng dẫn của GV Phát hiện
được tình huống có vấn đề
Tự phát hiện được tình huống thực tiễn có vấn đề
Phát hiện được tình huống thực tiễn có vấn đề khi trao đổi với bạn
Phát hiện ra vấn đề thực tiễn dưới sự hướng dẫn của GV
Chưa phát biểu vấn
đề thực tiễn
Nêu được tình huống
có vấn đề
Tự phát biểu được vấn đề thực tiễn
Tự phát biểu được vấn đề thực tiễn nhưng chưa đầy đủ
Phát biểu được vấn đề thực tiễn nhưng chưa đúng với trọng tâm
Phát biểu
VĐ thực tiễn dưới
sự hướng dẫn của
Xác định được đầy đủ chính xác các thông tin cần thiết
Xác định được chính xác một số thông tin cần thiết
Xác định được thông tin dưới sự giúp đỡ của người khác
Đọc thông tin nhưng chưa xác định được thông tin cần dùng Phân tích
thông tin
Phân tích thông tin chi tiết, cụ thể, sắp xếp khoa học
Phân tích được thông tin nhưng chưa chi tiết
Phân tích được thông tin dưới sự giúp
đỡ của GV
Có phân tích thông
tin
Tìm ra kiến thức vật lí
và kiến thưc liên môn liên quan đến vấn đề thực tiễn
Biết tìm hiểu các thông tin
có liên quan đến VĐ thực tiễn ở SGK, tài liệu tham khảo
và thông tin qua thảo luận với bạn
Biết tìm hiểu các thông tin
có liên quan đến VĐ thực tiễn ở SGK và thảo luận với bạn
Biết tìm hiểu các thông tin có liên quan đến VĐ thực tiễn nhưng ở kinh nghiệm bản thân
Chỉ tìm hiểu thông tin khi được yêu cầu
Trang 21Đề xuất được giải pháp GQVĐ thực tiễn một cách tối ưu
Đề xuất được giải pháp GQVĐ thực tiễn nhưng chưa tối ưu
Đề xuất được giải pháp
GQVĐ thực tiễn nhưng chưa hợp lí
Đề xuất được giải pháp GQVĐ thực tiễn dưới sự hướng dẫn của GV Lập kế
hoạch để giải quyết vấn đề
Lập được kế hoạch để giải quyết vấn đề thực tiễn cụ thể, chi tiết (đầy đủ thời gian, nguồn nhân lực, vật lực)
Lập được kế hoạch để GQVĐ thực tiễn nhưng chưa đầy đủ, chi tiết
Lập được kế hoạch
GQVĐ thực tiễn nhưng nhờ sự giúp
đỡ của người khác
Chỉ lập kế hoạch để GQVĐ thực tiễn khi được yêu cầu
Thực hiện
kế hoạch giải quyết vấn đề thực tiễn
Thực hiện kế hoạch GQVĐ thực tiễn độc lập, hợp lí
Thực hiện kế hoạch GQVĐ thực tiễn độc lập nhưng chưa hợp lí
Thực hiện kế hoạch
GQVĐ thực tiễn nhưng cần có sự giúp đỡ của
GV, bạn học
Thực hiện
kế hoạch GQVĐ thực tiễn nhưng chưa hoàn thành
Thực hiện kế hoạch độc lập hoặc hợp lí
Đánh giá việc thực hiện giải pháp GQVĐ thực tiễn
Thực hiện giải pháp GQVĐ thực tiễn nhưng chưa đánh giá được giải pháp
Thực hiện được giải pháp
GQVĐ thực tiễn nhưng chưa hoàn thành
Chỉ thực hiện khi
hướng dẫn của giáo viên
Điều chỉnh
và vận dụng trong tình huống mới
Vận dụng được trong tình huống mới một cách độc lập
Biết điều chỉnh hợp lí, vận dụng được trong tình huống mới
Biết cách điều chỉnh nhưng chưa vận dụng trong tình huống mới
Biết cách điều chỉnh nhưng nhờ
sự giúp đỡ của người khác
Trang 221.2 Bài tập vật lí và việc phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn
1.2.1 Khái niệm về bài tập vật lí
Bài tập là một nhiệm vụ mà người giải cần phải thực hiện Trong đó có dữ kiện
và yêu cầu cần tìm”
Bài tập bao gồm cả những câu hỏi và bài toán, mà khi hoàn thành HS vừa nắm được vừa hoàn thiện một tri thức hay một kỹ năng nào đó, bằng cách trả lời vấn đáp, trả lời viết hoặc kèm theo thực nghiệm Bài tập không chỉ cung cấp cho
HS hệ thống các kiến thức mà còn giúp cho HS tìm thấy được niềm vui khi giải ra kết quả của các bài tập mà bản thân mình nghiên cứu
Theo tác giả Thái Duy Tuyên, “Bài tập là một hệ thống thông tin xác định bao
gồm hai tập hợp gắn bó chặt chẽ và tác động qua lại với nhau gồm:
Những điều kiện là tập hợp những dự liệu xuất phát, diễn tả trạng thái ban đầu của bài tập từ đó có thể tìm ra cách giải quyết, đó là “cái cho” hay là “giả thuyết”
Những yêu cầu là trạng thái mong muốn đạt tới, đó là “cái phải tìm” hay “kết luận” Hai tập hợp này tạo thành bài tập nhưng lại không phù hợp nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau, từ đó xuất hiện nhu cầu phải biến đổi để khắc phục sự không phù hợp hay mâu thuẫn giữa chúng, đó chính là “lời giải” của bài toán” [19]
Như vậy: Bài tập vật lí được hiểu là một vấn đề được đặt ra đòi hỏi phải giải quyết, bằng những suy luận logic, phép toán và thí nghiệm (TN) trên cơ sở các khái niệm, các thuyết, các định luật và các phương pháp vật lí
1.2.2 Vai trò, tác dụng của BTVL
Theo tác giả Nguyễn Đức Thâm, “bài tập là một phương tiện hiệu quả để kiểm
tra mức độ nắm vững kiến thức của học sinh” [16] Tùy theo cách đặt câu hỏi kiểm tra
mà ta có thể phân loại được mức độ nắm vững kiến thức của HS, khiến cho việc đánh giá chất lượng HS được chính xác
Việc giảng dạy bài tập vật lí trong nhà trường không chỉ giúp học sinh hiểu được một cách sâu sắc và đầy đủ những kiến thức quy định trong chương trình mà còn giúp các em vận dụng những kiến thức đó để giải quyết những nhiệm vụ của học tập
và những vấn đề mà thực tiễn đã đặt ra Muốn đạt được điều đó, phải thường xuyên rèn luyện cho học sinh những kỹ năng, kỹ xảo vận dụng kiến thức vào cuộc sống hằng ngày Kỹ năng vận dụng kiến thức trong bài tập và trong thực tiễn đời sống chính là thước đo mức độ sâu sắc và vững vàng của những kiến thức mà học sinh đã thu nhận được Bài tập vật lí với chức năng là một phương pháp dạy học có một vị trí đặc biệt trong dạy học vật lí ở trường phổ thông
Trước hết, vật lí là một môn khoa học giúp học sinh nắm được qui luật vận động của thế giới vật chất và bài tập vật lí giúp học sinh hiểu rõ những qui luật ấy,
Trang 23biết phân tích và vận dụng những qui luật ấy vào thực tiễn Trong nhiều trường hợp mặc dù người giáo viên có trình bày tài liệu một cách mạch lạc, hợp lôgíc, phát biểu định luật chính xác, làm thí nghiệm đúng yêu cầu, qui tắc và có kết quả chính xác thì
đó chỉ là điều kiện cần chứ chưa đủ để học sinh hiểu và nắm sâu sắc kiến thức Chỉ thông qua việc giải các bài tập vật lí dưới hình thức này hay hình thức khác nhằm tạo điều kiện cho học sinh vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các tình huống cụ thể thì kiến thức đó mới trở nên sâu sắc và hoàn thiện
Trong quá trình giải quyết các tình huống cụ thể do các bài tập vật lí đặt ra, học sinh phải sử dụng các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa…để giải quyết vấn đề, do đó tư duy của học sinh có điều kiện để phát triển Vì vậy có thể nói bài tập vật lí là một phương tiện rất tốt để phát triển tư duy, óc tưởng tượng, khả năng độc lập trong suy nghĩ và hành động, tính kiên trì trong việc khắc phục những khó khăn trong cuộc sống của học sinh
Bài tập vật lí là cơ hội để giáo viên đề cập đến những kiến thức mà trong giờ học lý thuyết chưa có điều kiện để đề cập qua đó nhằm bổ sung kiến thức cho học sinh
Đặc biệt, để giải được các bài tập vật lí dưới hình thức trắc nghiệm khách quan học sinh ngoài việc nhớ lại các kiến thức một cách tổng hợp, chính xác ở nhiều phần, nhiều chương, nhiều cấp học thì học sinh cần phải rèn luyện cho mình tính phản ứng nhanh trong từng tình huống cụ thể, bên cạnh đó học sinh phải giải thật nhiều các dạng bài tập khác nhau để có được kiến thức tổng hợp, chính xác và khoa học
“Trong quá trình dạy học vật lí, các bài tập vật lí có tác dụng giúp học sinh ôn tập, đào sâu mở rộng kiến thức”[16] Chẳng hạn khi giải bài tập học sinh phải vận
dụng kiến thức vật lí đã học vào để giải quyết các trường hợp cụ thể, đa dạng của bài toán, học sinh sẽ nắm được những ứng dụng quan trọng của kiến thức trong thực tế, trong kĩ thuật Từ đó tạo cho học sinh sự tò mò, hứng thú học tập môn Vật lí
“Bài tập vật lí là điểm khởi đầu để dẫn tới kiến thức mới”[16] Ví dụ khi cho
một bài tập các học sinh sẽ chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức đã học để nhận thức các vấn đề mới Đây là cơ sở nhằm đảm bảo cho học sinh lĩnh hội kiến thức mới một cách sâu sắc
“Bài tập vật lí giúp học sinh rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo vận dụng lí thuyết vào thực tiễn, phát triển thói quen vận dụng kiến thức một cách khái quát”[16] Khi giải
một bài tập Vật lí đòi hỏi học sinh phải kiên trì, tích cực suy nghĩ, vừa làm việc tự lực, vừa làm việc theo nhóm, theo tập thể Từ đó rèn luyện cho học sinh ý chí quyết tâm vượt khó trong học tập
Một bài tập vật lí có thể được giải bằng nhiều phương pháp khác nhau và dù giải theo cách này hay cách khác thì đáp số là như nhau Việc giải bài tập Vật lí theo
Trang 24nhiều phương pháp sẽ gây tranh luận, các học sinh sẽ phát biểu ý kiến, những nhận định riêng của mình từ đó các em sẽ hăng hái tham gia vào quá trình học tập
“Bài tập vật lí có tác dụng kiểm tra mức độ nắm vững kiến thức của học sinh”
Thông qua đó giúp cho giáo viên đánh giá chất lượng kiến thức của học sinh được chính xác để từ đó có những biện pháp phù hợp giúp học sinh nâng cao hơn chất lượng nắm vững kiến thức
Bài tập vật lí có vai trò rất toàn diện trong dạy học Vật lí chính vì thế việc sử dụng bài tập vật lí trong dạy học là không thể thiếu, và sử dụng bài tập sẽ giúp học sinh nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của mình
1.2.3 Phân loại BTVL
Theo tài liệu của Nguyễn Thanh Hải phân loại [7]:
- Phân loại theo các phân môn của VL thì có bài tập cơ học, bài tập nhiệt học, bài tập điện học, bài tập quang học và bài tập về phản ứng hạt nhân
- Phân loại dựa vào các phương tiện giải thì có bài tập định tính, bài tập tính toán, bài tập thí nghiệm, bài tập đồ thị
- Phân loại theo độ khó thì có bài tập cơ bản, bài tập nâng cao
- Phân loại theo đặc điểm của hoạt động nhận thức thì có bài tập tái hiện, bài tập sáng tạo
- Phân loại theo các bước của quá trình dạy học thì có bài tập để mở bài, bài tập vận dụng khi xây dựng kiến thức mới, bài tập củng cố hệ thống hoá kiến thức, bài tập
về nhà, bài tập kiểm tra
1.2.4 Bài tập vật lí có nội dung thực tế
1.2.4.1 Khái niệm bài tập vật lí có nội dung thực tế
Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông, thực tế là tổng thể nói chung những gì đang tồn tại và diễn ra trong tự nhiên và xã hội, có quan hệ đến đời sống của con người Thực tế là trạng thái của những điều đã và đang thực sự tồn tại
Tình huống thực tế có thể là các tình huống liên quan đến:
+ Nhiệm vụ, nhu cầu bản thân: ăn uống, đi lại…
+ Các hoạt động thực tiễn trong gia đình: làm bếp, đồ gia dụng…
+ Các vấn đề chung, cấp thiết: các vấn đề về ô nhiễm môi trường, năng lượng tái tạo, bảo vệ nguồn nước…
BT có nội dung thực tế là loại BT có liên quan trực tiếp tới đời sống thực tế, kĩ thuật, sản xuất, các hiện tượng thiên nhiên và đặc biệt là thực tế lao động, sinh hoạt
hàng ngày mà HS thường gặp, do đó nó có tác dụng rất lớn về mặt giáo dục và giáo
dục kĩ thuật tổng hợp
Trang 251.2.4.2 Tác dụng của bài tập thực tế với việc rèn luyện năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn
Xuất phát từ đặc điểm của bài tập thực tế là có những sự vật, hiện tượng vật lí rất quen thuộc, gần gũi với thực tế lao động, sinh hoạt hàng ngày mà HS thường gặp Khi giải các bài tập này, đặc biệt là khi giải quyết các tình huống có vấn đề, HS sẽ có nhu cầu tìm tòi, khám phá về cuộc sống thực tế, làm tăng thêm tính tò mò, tạo động cơ, hứng thú học tập bộ môn Từ đó giúp HS vận dụng được lý thuyết vào thực tiễn và cảm nhận được sự cần thiết khi học bộ môn này
HS phải thực hiện các thao tác tư duy và các thao tác vật chất để hoạt động nhận thức của mình đạt hiệu quả cao GV cần phải có thời gian để rèn luyện cho HS các thao tác tư duy nên GV thường xuyên sử dụng những bài tập thực tế ở những mức độ khác nhau, từ đó giúp nâng cao tốc độ và độ chính xác của các thao tác tư duy Vậy, bài tập thực tế còn đóng vai trò là phương tiện để rèn luyện cho HS các thao tác cần dùng trong hoạt động nhận thức vật lí [16]
Thông qua việc giải bài tập thực tế, học sinh có thể thấy được những gì mình học được không chỉ giới hạn trong sách vở mà còn mở rộng ra cuộc sống bên ngoài qua đó nâng cao được kĩ năng sống của mình trong thế giới xung quanh
1.2.4.3 Nguyên tắc xây dựng bài tập thực tế
Bài tập thực tế với tư cách là một loại bài tập trong hệ thống bài tập VL cần đảm bảo phải phù hợp với nội dung dạy học, phải phù hợp phương pháp dạy học của GV, kiến thức trong mỗi bài tập phải nằm trong hệ thống kiến thức được quy định trong chương trình Bài tập thực tế cần phải thỏa mãn các nguyên tắc sau:
- BT có nội dung thực tế phải xuất phát từ thực tiễn, gần gũi với kinh nghiệm của học sinh
- Các thông số (dữ kiện) trong BT phải có tính thực tế
- Bài tập thực tế phải gắn với nội dung học tập
- Bài tập thực tế phải có tính hệ thống, logic
Trong quá trình dạy học, thông qua kiểm tra, đánh giá, cần phải kịp thời xây dựng những BTTT ở mức độ vừa và cao hơn một chút so với mức độ nhận thức của học sinh để nâng dần trình độ, khả năng nhận thức của học sinh Biến hóa nội dung BTTT theo hình thức tiếp cận mođun Xây dựng một số BTTT điển hình và từ đó có thể lắp rắp chúng vào các tình huống thực tiễn cụ thể, nội dung bài học cụ thể, hoặc tháo gỡ bài toán phức tạp thành những bài toán đơn giản, tạo ra những bài tập mới
- Bài tập có nội dung thực tiễn phải có tính sư phạm Các tình huống thực tiễn thường gặp phải, thường phức tạp hơn những kiến thức vật lí trong chương trình nên khi xây dựng BT có nội dung thực tế cho HS cần phải xử lí sư phạm để làm đơn giản
Trang 26hóa tình huống thực tiễn Các yêu cầu giải BT có nội dung thực tiễn cũng phải phù hợp trình độ, khả năng của HS [16]
1.2.5 Sử dụng bài tập thực tế trong dạy học vật lí để phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh
BTTT có thể được sử dụng trong tất cả các bước của quá trình dạy học Tùy theo nội dung cụ thể của từng bài từng chương, GV có thể lựa chọn thời điểm và hình thức
sử dụng BTTT thích hợp để đạt được hiệu quả dạy học cao nhất
1.2.5.1 Sử dụng hệ thống bài tập để xây dựng kiến thức mới
Để gây hứng thú học tập, tạo mâu thuẫn nhận thức cho HS, sự kiện mở đầu nên
chọn là những sự kiện gần gũi với thực tế đời sống, bằng cách sử dụng một số BT có nội dung liên hệ chặt chẽ với kiến thức tiết học, được mô tả một cách ngắn gọn, súc tích để HS nhanh chóng, dễ dàng nhận ra mâu thuẫn giữa sự kiện đưa ra và hiểu biết sẵn có Bởi vì kiến thức mới chủ yếu được hình thành từ sự kế thừa và phát triển các kiến thức mà HS đã học hoặc dựa vào các quan niệm được hình thành từ cuộc sống
Vì thế ở phần đặt vấn đề, GV nên chọn những BT được trình bày dưới dạng tình huống có vấn đề nhằm kích thích hứng thú, tạo nhu cầu phải nghiên cứu, giải quyết Yêu cầu của các BT ở bước này phải ngắn gọn, mang yếu tố tình huống và hướng vào nội dung kiến thức cơ bản của bài tập Bài tập mà nội dung của nó chứa đựng những mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái cần tìm, mâu thuẫn đó phải có tính vừa sức, gây được cho
HS những hứng thú nhận thức và niềm tin có thể nhận thức được Có thể sử dụng BT
có nội dung thực tế định tính hay BT có nội dung thực tế thí nghiệm để đặt vấn đề Tùy thuộc vào đối tượng HS và các tư liệu cho sẵn, GV có thể lựa chọn các cách tạo tình huống như: Bài tập nội dung có tình huống bất ngờ, bài tập có nội dung tình huống xung đột, bài tập có nội dung kết luận đúng sai…GV cần chú trọng những BT có nội dung thực tế tạo mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết để khi giải quyết vấn đề đặt ra thuyết phục HS cả về lập luận lẫn tính thực tế
1.2.5.2 Sử dụng bài tập thực tế trong hình thành kiến thức mới
Khi tiến hành hình thành kiến thức mới, có thể sử dụng BT có nội dung thực tế bằng cách chia kiến thức cần nghiên cứu thành những đơn vị kiến thức nhỏ, từ đó sử dụng các BT có nội dung thực tế tương ứng để giải quyết từng đơn vị kiến thức sau
đó rút ra kiến thức trọng tâm [15], [20]
GV nên đưa ra những BT có nội dung thực tế nhằm để HS bộc lộ những quan điểm có sẵn, liên quan đến kiến thức của bài học, từ đó phát hiện ra quan niệm sai lệch của học sinh và đồng thời tạo ra nhu cầu nhận thức trong học tập trong quá trình hình thành kiến thức mới và hiệu quả dạy học vật lí mới có thể được nâng cao
Ngoài ra GV sử dụng BT có nội dung thực tế để hỗ trợ cho HS dựa trên kiến
Trang 27thức đã học suy luận một cách logic các hệ quả của kiến thức, có thể xây dựng các phương án thí nghiệm nhằm kiểm tra hệ quả lôgic đó Có thể HS tự lực đưa ra được quan điểm, giải pháp, sáng kiến mới trên cơ sở của kiến thức đã học, kỹ năng, kỹ xảo thực hành…
GV có thể sử dụng các bài tập dưới các hình thức thể hiện BTTT bằng lời, bằng hình vẽ, ảnh chụp minh họa và bằng đoạn phim video, clip ngắn minh họa có nội dung: thực tế thí nghiệm có tác dụng rèn luyện kỹ năng thu thập, xử lí thông tin; thực tế định tính có tác dụng rèn luyện các kỹ năng suy luận, diễn dịch và thực tế định lượng có tác dụng rèn luyện các kỹ năng tính toán và vận dụng các công thức, định luật
1.2.5.3 Sử dụng bài tập thực tế trong vận dụng và củng cố
Đối với hoạt động củng cố - vận dụng kiến thức, việc sử dụng BT có nội dung thực tế mang lại hiệu quả cao trong việc rèn luyện năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn HS phải kết vận dụng kiến thức vừa mới học vớí những kiến thức đã học trước đó để giải quyết các BT qua đó HS củng cố kiến thức một cách vững chắc Ở mức độ cao hơn, HS phải vận dụng nhiều kiến thức khác nhau, những hiểu biết, kinh nghiệm về nhiều lĩnh vực vật lí, theo một trình tự hợp lí để giải quyết các BT [15], [20].Ở giai đoạn này, để HS nắm vững được kiến thức của bài học đồng thời rèn luyện cho các em kỹ năng vận dụng kiến thức để giải quyết các tình huống đặt ra ở đầu bài học, tình huống thực tế có liên quan
1.2.5.4 Sử dụng bài tập thực tế trong kiểm tra đánh giá
Khi bước sang giai đoạn này, HS đã học xong kiến thức và nắm vững các kiến thức đã học Chất lượng tiếp thu và nắm kiến thức của HS ở mức độ như thế nào thì cần phải được kiểm tra, đánh giá Để việc kiểm tra, đánh giá thể hiện rõ năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn đạt kết quả tốt, GV nên lựa chọn những BT có nội dung thực tế cơ bản, tiêu biểu trong các dạng BT có nội dung thực tế đã giao cho HS và yêu cầu HS làm tại lớp hoặc ở nhà sau đó nộp lại bài làm của mình cho GV Có thể sản phẩm thu được
những câu trả lời chính xác hoặc là sáng kiến, giải pháp mang tính khả thi
1.3 Thực trạng dạy học bài tập thực tế chương “Cảm ứng điện từ” – vậy lí 11 ở một số trường THPT trên địa bàn TP Đà Nẵng
1.3.1 Đối tượng và phương pháp điều tra
Điều tra, khảo sát thực tế tại trường THPT Phan Châu Trinh tại TP Đà Nẵng để tìm hiểu về một số thông tin
- Tình hình dạy giải bài tập thực tế của các giáo viên ở một số trường trên địa bàn TP Đà Nẵng
- Tìm hiểu những khó khăn và sai lầm mà học sinh thường mắc phải khi giải
Trang 28bài tập chương “Cảm ứng điện từ” vật lí 11, từ đó tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến những sai lầm đó của học sinh Từ đó, chúng tôi đề xuất phương hướng khắc phục
- Điều tra giáo viên: Sử dụng phiếu điều tra, trao đổi trực tiếp với giáo viên, dự giờ tiết dạy
- Điều tra HS: Sử dụng phiếu điều tra, trao đổi trực tiếp với HS, quan sát hoạt động của HS trong các giờ học trên lớp, cho HS làm bài kiểm tra khảo sát năng lực
- Phân tích kết quả điều tra
1.3.2 Kết quả điều tra
Đã tiến hành điều tra trên học sinh lớp 11 vào tháng 2 năm 2018 tại trường THPT Phan Châu Trinh đúng giai đoạn học sinh đang học chương “Cảm ứng điện từ” vật lí 11
- Điều tra trên 122 học sinh: Phiếu điều tra sử dụng bài tập vật lí có nội dung
thực tế, quan sát hoạt động học của học sinh trong giờ học, kiểm tra khảo sát
- Điều tra trên 20 giáo viên các trường trên địa bàn TP Đà Nẵng và chuyên viên
Sở Giáo dục đào tạo TP Đà Nẵng trong buổi sinh hoạt cụm về chuyên đề “Xây dựng
và sử dụng bài tập thực tế chương Cảm ứng điện từ - vật lí 11 nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn”
Bảng 1.2 Thực trạng sử dụng bài tập vật lí thực tế của giáo viên trên các trường
2 Theo thầy (cô) các
biện pháp dưới đây có
100%
4 Yêu cầu HS nhận xét lời giải của người khác, lập luận bác bỏ quan niệm trái ngược và 57%(11)
Trang 29Nội dung Tỉ lệ(SL)
bảo vệ quan điểm của mình
5 Thay đổi mức độ yêu cầu của bài tập 21%(4)
6 Kiểm tra đánh giá và động viên kịp thời các
100%
4 Yêu cầu HS nhận xét lời giải của người khác, lập luận bác bỏ quan niệm trái ngược và bảo vệ quan điểm của mình
43%(9)
5 Thay đổi mức độ yêu cầu của bài tập 28%(6)
6 Kiểm tra đánh giá và động viên kịp thời các
7.Tăng cường các bài tập thực hành, thí
4 Thầy (cô) giáo có
thường đặt các câu hỏi
liên hệ thực tiễn trong
quá trình giảng bài mới
hoặc trong các giờ dạy
trên lớp
5 Thầy (cô) cho biết
50%(10)
4 HS sử dụng được các phương tiện, thiết bị kĩ thuật và hiểu được cấu tạo nguyên tắc hoạt động của các thiết bị kĩ thuật
20%(4)
Trang 30Nội dung Tỉ lệ(SL)
5 HS tự nghiên cứu và báo cáo được các chủ
đề liên quan đến chương trình vật lí phổ thông 20%(4)
Bảng 1.3 Thực trạng sử dụng bài tập vật lí có nội dung thực tế của học sinh tại
trường THPT Phan Châu Trinh tại TP Đà Nẵng (122 em)
trong cuộc sống trong sách giáo
khoa hoặc do thầy (cô) giao cho
1 Rất hứng thú, phải tìm hiểu bằng mọi cách
30%
2 Hứng thú, muốn tìm hiểu 50%
3 Thấy lạ nhưng không cần tìm hiểu 20%
4 Không quan tâm đến vấn đề lạ 0%
3 Em thấy có cần thiết phải
Qua việc tổng hợp kết quả tham khảo ý kiến, trao đổi trực tiếp với giáo viên – học sinh, tham gia dự giờ trên lớp tôi nhận thấy:
* Tình hình sử dụng bài tập thực tế để phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn của giáo viên
Thông qua việc trao đổi với 20 giáo viên dạy bộ môn Vật lí tại các trường THPT trên địa bàn TP Đà Nẵng về dạy giải bài tập vật lí của giáo viên chúng tôi rút ra được một số nhận định sau:
- 100% GV cho rằng việc sử dụng bài tập thực tế để bồi dưỡng năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn là rất quan trọng và cần thiết cho học sinh
- 100% GV cho rằng biện pháp có thể rèn luyện năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn là sử dụng bài tập có tình huống thực tiễn của cuộc sống và yêu cầu HS
sử dụng kiến thức đã học để giải quyết
Trang 31- 100% GV đã sử dụng các bài tập thực tế trong giờ học nhưng không thường xuyên trong chương trình học Mức độ sử dụng bài tập thực tế trong các giờ dạy thường xuyên chỉ 20%
- 71% GV cho biết kết quả đánh giá học sinh được rèn luyện về năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn thể hiện qua việc HS hiểu được bài ngay tại lớp
- Mỗi GV thường chọn cho mình các biện pháp khác nhau để có thể rèn luyện năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn chẳng hạn như: thiết kế bài học logic hợp
lí, phương pháp dạy học phù hợp, tăng cường sử dụng các bài tập thực hành, thí nghiệm cách diễn đạt riêng Tuy nhiên việc sử dụng bài tập có tình huống thực tiễn của cuộc sống không tiến hành thường xuyên bởi cần phải có thời gian nghiên cứu kĩ
về các vấn đề thực tế và thời lượng tiết dạy ít không đủ để triển khai dạy các bài tập thực tế Giáo viên ít khai thác tài liệu, thông tin thời sự, công nghệ hiện đại, ngại khó khi nghiên cứu xây dựng hệ thống BTVL gắn với thực tiễn Trong quá trình giảng dạy các thầy cô thường chỉ tập trung vào các kiến thức và kỹ năng cần nắm trong bài để phục vụ cho kiểm tra, cho thi cử mà chưa thực sự quan tâm đến việc rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn cho HS Cụ thể là trong quá trình hình thành kiến thức mới, thầy/cô chưa thường xuyên đưa ra các câu hỏi, các tình huống có vấn đề gắn liền với thực tiễn để HS liên tưởng và áp dụng (20%) Để chuẩn bị cho bài mới, thầy/cô chỉ yêu cầu HS về nhà làm các bài tập trong SGK và sách bài tập mà chưa chú ý vào việc giao nhiệm vụ cho các em về nhà tìm hiểu cuộc sống, môi trường xung quanh về các vấn đề có liên quan đến kiến thức trong bài giảng kế tiếp để HS có tâm thế vào bài mới một cách hứng thú hơn Và cũng theo đó các thầy/cô chưa chú ý dành thời gian để cho các em đưa ra những khúc mắc để giải đáp cho các em về những hiện tượng các em quan sát được trong đời sống.Trong các giờ học nói chung, những mâu thuẫn mà các em tìm được trong các tình huống, các vấn đề thường là mâu thuẫn giữa lí luận với lí luận là chính, còn việc liên hệ giữa lí luận và thực tiễn còn hạn chế Chính vì vậy mà HS dù rất thích vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn (90%) nhưng vẫn chưa hình thành được thói quen liên hệ giữa những kiến thức lý thuyết học được với thực tế xung quanh các em
Từ kết quả khảo sát ở trên đặt ra một vấn đề đó là làm thế nào để rèn luyện để nâng cao hơn nữa kỹ năng vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn Đó là vấn đề đặt ra
mà đội ngũ GV dạy bộ môn vật lí cần phải trăn trở để có hướng bổ sung vào về phương pháp và nội dung trong quá trình giảng dạy, khắc phục sự nghiệp trồng người của mình
Trang 32Mặt khác số lượng BTVL có nội dung thực tế trong SGK quá ít, nếu có lại tập trung vào mức độ vận dụng sáng tạo, GV phải tự biên soạn các dạng bài tập thực tế để dạy cho HS Đề thi Vật lí trong các kì thi tốt nghiệp THPT Quốc gia, các kì kiểm tra học kì ở các trường THPT hầu hết đều sử dụng hình thức trắc nghiệm khách quan nên việc sử dụng các bài tập thực tế bị hạn chế, khó để đánh giá kĩ năng của HS
1.3.3 Giải pháp phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn thông qua bài tập vật lí
Theo nhận xét của nhiều nhà nghiên cứu giáo dục, trong những năm qua giáo dục phổ thông ở nước ta đã đạt nhiều kết quả nổi bật, quy mô giáo dục không ngừng được tăng lên; chất lượng giáo dục đã có những chuyển biến tích cực Bên cạnh đó thì giáo dục nước ta vẫn còn có một số tồn tại, cần từng bước khắc phục Đó là chất lượng giáo dục tuy có chuyển biến nhưng vẫn còn thấp so với yêu cầu phát triển của đất nước; đội ngũ giáo viên còn bất cập về số lượng, chất lượng và cơ cấu; cơ sở vật chất kĩ thuật vẫn chưa thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu
Với trách nhiệm của người giáo viên vật lí trực tiếp đứng lớp giảng dạy ở trường trung học phổ thông nhiều năm, chúng tôi quan tâm nhiều đến chất lượng học tập của học sinh, đến suy nghĩ, tâm tư tình cảm của học sinh đối với bộ môn của mình, quan tâm nhiều đến việc đổi mới phương pháp dạy học sao cho chất lượng dạy và học vật lí của thầy trò chúng tôi đạt được hiệu quả tốt nhất trong những điều kiện hiện có Xuất phát từ những mối quan tâm ấy, tôi xin được trao đổi một thực tế - một thực trạng đáng buồn, đó là sự yếu kém đến khó tưởng tượng của đại đa số học sinh phổ thông hiện nay trong việc vận dụng kiến thức vật lí đã học vào thực tế cuộc sống của chính mình Trăn trở với thực tế nêu trên, tôi xin mạnh dạn được nêu ra một số giải pháp giúp học sinh tăng cường kỹ năng vận dụng kiến thức vật lí vào thực tế đời sống như sau:
- Thứ nhất, tăng cường sử dụng bài tập có tính thực tế cao trong các giờ học vật lí
- Thứ hai, khai thác triệt để các dụng cụ thí nghiệm vật lí liên quan đến các hiện tượng thực tế, nguyên tắc hoạt động chính của các máy móc, thiết bị trong thực tiễn
- Thứ ba, tăng cường các bài tập thực tế trong đề kiểm tra, đánh giá học sinh
1.4 Đề xuất quy trình xây dựng bài tập thực tế
Trước hết, bài tập thực tế chỉ là một thành phần trong hệ thống các BTVL và không thể thay thế cho các bài tập khác trong dạy học vật lý nên việc xây dựng các
BT có nội dung thực tế cho giờ lên lớp vật lí ở đây chủ yếu nhằm đến mục tiêu rèn luyện NLVDKT vào thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở trường THPT
Trang 33Xuất phát từ những yêu cầu và nguyên tắc xây dựng bài tập thực tế như đã nêu trên, việc xây dựng các bài tập thực tế cho một giờ lên lớp có thể thực hiện theo qui trình gồm 6 bước, thể hiện qua hình 2.2
Hình 1.1 Quy trình xây dựng bài tập thực tế
Bước 1: Căn cứ vào nội dung chương trình và sách giáo khoa để phân tích nội
dung kiến thức vật lí của bài học, từ đó xây dựng đơn vị kiến thức cụ thể, những kiến thức nào là trọng tâm, chúng có mối liên hệ gì với những kiến thức bài học trước và những bài học kế tiếp thường là kiến thức của cả một chương học
Bước 2: Phát hiện các vấn đề thực tiễn có liên quan đến kiến thức (theo 3 kiểu
bài tập dưới đây) từ đó xây dựng được ý tưởng bài tập, xác định được vị trí, nhiệm vụ bài tập thực tế trong tiến trình dạy học, đặt trong hoạt động học tập nào, rèn luyện cho
HS những kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn ở mức độ nào của tiết dạy
Dạng 1 (Mức độ 1): Giải thích các hiện tượng tự nhiên trong sản xuất và đời
sống xung quanh
Bài tập 14: Đọc kênh thông tin sau: Vào mùa mưa bão thường xuyên xảy ra các hiện
tượng sấm sét Vì vậy nguy cơ gây nguy hiểm cho tính mạng con người và những thiệt hại về tài sản do sét đánh là rất cao Mức độ thiệt hại thiệt hại tùy thuộc vào dòng điện sinh ra mạnh hay yếu, vị trí gần hay xa nơi bị sét đánh Đa số các trường hợp đồ gia dụng bị hư hỏng do sét lan truyền từ đường dây điện hơn là sét đánh trực tiếp
Bước
1
• Căn cứ vào nội dung chương trình và sách giáo khoa để phân
tích nội dung kiến thức vật lí của bài học
Bước
2
• Phát hiện các vấn đề thực tiễn có liên quan đến kiến thức
(theo 3 kiểu bài tập
Bước
3
• Xây dựng ý tưởng bài tập (tình huống, các nội dung cần
hỏi), chuyển hóa, mô hình hóa bài tập
Bước
4
• Xây dựng, soạn bài tập cụ thể có yếu tố thực tiễn phù hợp
nội dung bài học và đáp án tương ứng của bài tập
Trang 34Hình 1.2 Sét đánh làm hư hỏng thiết bị điện
Trích từ: 20120705122152265.htm
https://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/set-danh-chay-hang-loat-thiet-bi-dien-Ở gần nơi sét đánh, người ta thấy có cầu chì bị chảy; đôi khi những máy đo điện nhạy cũng bị cháy Giải thích?
Dạng 2 (Mức độ 2): Giải thích nguyên tắc hoạt động của các ứng dụng kĩ thuật của
vật lí liên quan
Bài 18(2): Quan sát cách quấn dây cho lõi của các máy điện như máy biến áp, động
cơ điện
Hình 1.3 Mô hình máy biến áp
Trên lõi các biến thế, động cơ điện sử dụng dòng xoay chiều có quấn các cuộn dây dẫn điện Cách quấn dây nào trong hai cách quấn dây ở hình dưới đây được sử dụng Tại sao?
Hình 1.4 Hình ảnh cách quấn dây lõi máy biến áp
Dạng 3 (Mức độ 3): Thiết kế, chế tạo hoặc đưa ra ý tưởng giải pháp kỹ thuật
đáp ứng một yêu cầu thực tiễn cụ thể
Trang 35Câu 20.5 (3) Biểu hiện máy xay sinh tố Philips hr2104 bị kẹt công tắc Hãy nêu giải
pháp sữa chữa lỗi hỏng nêu trên?
Có hai cách để phát hiện ý tưởng của bài tập thực tế:
Cách 1: Dựa vào kinh nghiệm bản thân, qua quan sát thực tiễn, từ đó xác định
được vấn đề thực tiễn xung quanh
Cách 2: Tìm kiếm trên mạng hoặc tài liệu, giáo trình, sách chuyên ngành thông
qua các từ khóa tương ứng với các dạng bài tập (cách này là phổ biến nhất, lưu ý là
cần ghi lại nguồn thông tin – địa chỉ trang web, ngày truy cập để tiện khi sử dụng,
trích xuất)
Bước 3: Xây dựng ý tưởng bài tập (tình huống, các nội dung cần hỏi), chuyển
hóa, mô hình hóa bài tập Trong bước này, GV phải đọc nhiều tài liệu, tham khảo nhiều sách BTVL đã được biên soạn, suy nghĩ tìm tòi những yếu tố, những mối liên
hệ với thực tiễn từ đó tổng hợp lại để biên soạn được những BT có nội dung thực tế hay và thích hợp với tiến trình dạy học
Bước 4: Xây dựng, soạn bài tập cụ thể có yếu tố thực tiễn phù hợp nội dung
bài học và đáp án tương ứng của bài tập Xác định những câu hỏi, phụ đề, câu dẫn để
sử dụng chúng đúng mục đích đề ra còn dưới dạng thô
Bước 5: Chỉnh sửa, hoàn thiện hệ thống bài tập đã biên soạn Xác định lại câu
dẫn, cách đặt câu hỏi phải rõ ràng, gãy gọn tránh rườm rà gây ra sự khó hiểu đối với học sinh Xem xét lại các câu hỏi có thể phải sử dụng cách đặt vấn đề rất thực tế bằng cách sử dụng dụng cụ minh họa Bước này GV cần tham khảo sự góp ý của đồng nghiệp có kinh nghiệm để hoàn chỉnh bài tập
Bước 6: Sắp xếp thành hệ thống bài tập có nội dung thực tiễn trong hệ thống
đã biên soạn Rà soát lại hệ thống các bài tập thực tế đảm bảo sự cân đối giữa các loại bài tập phù hợp với trình độ phát triển nhận thức của học sinh
Chú ý: Bước 1 và 2 có thể hoán đổi cho nhau Trong 6 bước trên, bước 2 là
quan trọng nhất bởi đây là bước cơ bản để hình thành ý tường của bài tập thực tế
Trong quá trình thực hiện, cần chú ý thêm một số vấn đề sau:
Các bài tập thực tế được sử dụng để tạo ra tình huống có vấn đề, nhất thiết phải chứa đựng các mâu thuẫn nhận thức nhằm kích thích tính tích cực trong hoạt động nhận thức của HS Với mỗi BT đặt ra, GV phải dự kiến được HS sẽ không trả lời được một cách hoàn thiện và muốn hoàn thiện câu trả lời thì cần phải lĩnh hội thêm những kiến thức mới nào sẽ được học trong bài mới Các BT có nội dung thực tế đặt ra nhất thiết phải được trả lời vào những thời điểm khác nhau trong tiến trình bài học (có thể sau mỗi mục hoặc khi kết thúc bài học) Các BT có nội dung thực tế phải được lựa chọn và xây dựng sao cho chúng có tính tiêu biểu để học sinh hoàn thành được việc trả lời câu hỏi và bài tập này có thể tự mở rộng và vận dụng được vào thực tiễn cuộc sống với những vấn đề tương tự
Trang 36KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương 1, tôi đã trình bày cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài, để thấy được tầm quan trọng của BTVL có nội dung thực tiễn trong việc phát triển năng lực,
cụ thể là NLVDKT của HS THPT Tất cả cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài sẽ là cơ
sở vững chắc để tôi xây dựng chương 2- xây dựng và sử dụng hệ thống BTVL có nội dung thực tiễn để phát triển NLVDKT của HS THPT Phan Châu Trinh chương “Cảm ứng điện từ”- Vật lí 11
Trang 37CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THỰC TẾ CHƯƠNG “CẢM ỨNG ĐIỆN TỪ”- VẬT LÍ 11 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG
KIẾN THỨC VÀO THỰC TIỄN
2.1 Phân tích nội dung kiến thức chương cảm ứng điện từ - vật lí 11
2.1.1 Phân phối chương trình chương “Cảm ứng điện từ” ở lớp 11 THPT
Chương “Cảm ứng điện từ” gồm 6 tiết, bắt đầu từ tiết 47 đến tiết 52 trong
chương trình vật lí 11, trong nội dung các tiết như sau:
Bảng 2.1 Phân phối chương trình chương Cảm ứng điện từ - lớp 11
1 47 Từ thông Cảm ứng điện từ (Tiết 1)
2 48 Từ thông Cảm ứng điện từ (Tiết 2)
3 49 Bài tập từ thông Cảm ứng điện từ
Trang 382.1.2 Cấu trúc logic nội dung các kiến thức của chương “Cảm ứng điện từ” trong chương trình vật lí phổ thông
Hình 2.1 Sơ đồ cấu trúc nội dung chương “Cảm ứng điện từ”
NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH CHƯƠNG CẢM ỨNG ĐIỆN TỪ
Dòng điện Fu-cô
Suất điện động cảm ứng
Định luật Faraday: Độ lớn của suất điện động cảm ứng xuất hiện trong mạch kín tỉ lệ với tốc độ biến thiên từ thông qua mạch
sự biến thiên của cường độ dòng điện
trong mạch
Định nghĩa: dòng điện cảm ứng xuất hện trong các khối kim loại khi khối này chuyển động trong từ trường hoặc đặt trong từ trường biến thiên theo thời gian
Ứng dụng và tác hại của dòng điện Fu-cô
Năng lượng từ trường: W=12L𝐼2
Trang 39Phân tích nội dung:
Ta đã biết ở chương Từ trường, dòng điện sinh ra từ trường vậy ngược lại trong điều kiện nào thì từ trường gây ra dòng điện?
Đầu tiên GV giới thiệu về khái niệm từ thông, trong SGK vẫn đưa định nghĩa
∅ = với là góc hợp bới vectơ pháp tuyến với mặt S và vectơ cảm ứng từ nghĩa là ∅ là đại lượng đại số Ý nghĩa của từ thông là đặc trưng cho số đường sức từ qua tiết diện S Từ 4 thí nghiệm cơ bản trong SGK: khi có sự chuyển động của nam châm và ống dây, ta thấy khi số đường sức từ của nam châm qua ống dây biến đổi thì kim điện kế lệch khỏi vạch 0, xuất hiện dòng điện trong ống HS nhận xét được khi có
sự biến thiên từ thông qua mạch kín thì xuất hiện dòng điện trong mạch đó Hiện tượng xuất hiện dòng điện trên được gọi là hiện tượng cảm ứng điện từ Vậy hiện tượng cảm ứng điện từ có đặc điểm gì?
Khi nghiên cứu về hiện tượng cảm ứng điện từ, chương trình vật lí lớp 11 đề cập 3 vấn đề sau:
+ Dòng điện cảm ứng: Chiều dòng điện cảm ứng được xác định bằng định luật Len-xơ “Dòng điện cảm ứng xuất hiện trong mạch kín có chiều sao cho từ trường cảm ứng có tác dụng chống lại sự biến thiên của từ thông ban đầu qua mạch kín” Phân tích từ các thí nghiệm, ta chọn chiều dương trên mạch (C) thuận với chiều đường sức từ qua (C) thuận với chiều đường sức từ qua (C)( nghĩa là qua mặt S bất kì dựa trên chu vi (C)), từ đó suy ra chiều của pháp tuyến của S, khi đó từ thông qua S là số dương Nếu từ thông tăng, dòng điện cảm ứng trong (C) chạy theo chiều ngược với chiều dương đã chọn Nếu từ thông giảm, dòng điện cảm ứng trong (C) chạy theo chiều dương đã chọn
+ Suất điện động cảm ứng: Dựa trên suy luận tương tự: nguồn điện một chiều sinh ra dòng điện một chiều Đặc trưng cho khả năng sinh công của nguồn điện là suất điện động Do đó có dòng điện cảm ứng thì phải có suất điện động cảm ứng Định nghĩa “Suất điện động sinh ra dòng điện cảm ứng trong mạch kín là suất điện động cảm ứng” Công thức tính suất điện động cảm ứng được đưa ra dựa trên định luật bảo toàn năng lượng Khi có từ thông biến thiên dịch chuyển qua mạch (C), lực từ sinh công ∆ = ∆∅ Lực từ tác dụng lên mạch C luôn cản trở chuyển động tạo ra biến thiên từ thông Do đó ∆ là công cản Vậy để thực hiện sự dịch chuyển của (C) phải
có ngoại lực tác dụng lên (C) và trong chuyển dời nói trên ngoại lực này đã sinh công thắng công cản của lực từ ∆ = −∆ = − ∆∅ ∆ có độ lớn bằng phần năng lượng bên ngoài cung cấp cho mạch (C) và được chuyển hóa thành điện năng của suất điện động cảm ứng eC trong khoảng thời gian ∆ ∆ = ∆ Suy ra công thức tính suất điện động cảm ứng = −∆∅∆ Từ đó rút ra độ lớn của suất điện động cảm ứng xuất
Trang 40hiện trong mạch kín tỉ lệ với tốc độ biến thiêm từ thông qua mạch kín đó Đây là nội dung định luật cơ bản của hiện tượng cảm ứng điện từ- định luật Fa-ra-đây
+ Năng lượng từ trường: Trước khi nói về năng lượng từ trường cần đưa ra một ví dụ chứng tỏ rằng khi ống dây mang dòng điện thì trong ống dây có năng lượng
Vì khi ống dây có dòng điện thì trong ống dây có từ trường Do đó coi năng lượng tích trữ trong ống dây chính là năng lượng từ trường trong ống dây đó Giống với điện trường, từ trường có năng lượng nhưng điện trường là trường thế nhưng từ trường không phải
Từ nội dung kiến thức cơ bản trên, chương “Cảm ứng điện từ” Vật lí 11 nghiên cứu các nội dung: dòng điện Fu-cô, hiện tượng tự cảm
+ Dòng điện Fu- cô: Để đưa ra khái niệm về dòng điện Fu-cô, GV làm thí nghiệm chuyển động của lá kim loại dao động khi không có từ trường và khi có từ trường giữa hai cực nam châm Từ đó HS nhận xét lá kim loại dừng lại khá nhanh trong từ trường GV gợi ý để HS thấy khi lá kim loại dao động giữa hai cực nam châm thì từ thông qua lá kim loại biến đổi Do đó trong tấm kim loại có dòng điện cảm ứng Dòng điện cảm ứng xuất hiện bên trong khối vật dẫn khi khối này chuyển động trong một từ trường hoặc được đặt trong từ trường biến thiên theo thời gian gọi là dòng điện Fu-cô Tác dụng của dòng điện Fu-cô vừa có ích và vừa có hại Ứng dụng của dòng điện Fu-cô như: gây ra lực hãm điện từ trong các bộ phanh điện từ của những ô tô hạng nặng, bếp từ, một số lò tôi kim loại
+ Hiện tượng tự cảm: Trong SGK, trước hết nêu khái niệm từ thông riêng của một mạch kín (C) theo công thức ∅ = với L là độ tự cảm của mạch (C) Ở nội dung này cần đưa ra hai thí nghiệm về hiện tượng tự cảm TN 1 bố trí theo sơ đồ H25.2 SGK, GV cần nhấn mạnh để HS cần chú ý rằng hai bóng đèn ở hai nhánh giống nhau
và điện trở của cả hai nhánh cũng bằng nhau Khi đóng mạch, bóng đèn ở nhánh có cuộn dây vẫn sáng lên chậm hơn Điều đó khẳng định rõ ràng rằng ống dây chính là nguyên nhân ngăn cản không cho dòng điện trong nhánh đó tăng lên nhanh chóng TN2 theo sơ đồ hình 25.4 SGK, sau khi ngắt mạch bóng đền lóe sáng lên một chút rồi mới tắt Điều đó chứng tỏ khi ngắt mạch ống dây cũng sinh ra dòng điện cảm ứng Từ hai thí nghiệm trên đưa ra định nghĩa hiện tượng tự cảm có bản chất cũng là hiện tượng cảm ứng điện từ chỉ khác ở chỗ nguyên nhân gây ra hiện tượng tự cảm là do sự biến thiên của dòng điện gây ra sự biến thiên của từ thông
Những khó khăn khi giảng dạy chương “ Cảm ứng điện từ” lớp 11:
+ Đối với chương này, nhiều khái niệm trừu tượng, đòi hỏi HS phải có tư duy tốt, tập trung và trí tưởng tượng tốt
+ Khó phân biệt giữa các khái niệm cảm ứng từ và từ thông qua mạch kín