(Luận văn thạc sĩ) Thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra tội giết người theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước(Luận văn thạc sĩ) Thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra tội giết người theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước(Luận văn thạc sĩ) Thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra tội giết người theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước(Luận văn thạc sĩ) Thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra tội giết người theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước(Luận văn thạc sĩ) Thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra tội giết người theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước(Luận văn thạc sĩ) Thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra tội giết người theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước(Luận văn thạc sĩ) Thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra tội giết người theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước(Luận văn thạc sĩ) Thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra tội giết người theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước(Luận văn thạc sĩ) Thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra tội giết người theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước
Trang 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG XUÂN LƯU
THU THẬP, ĐÁNH GIÁ, SỬ DỤNG CHỨNG CỨ TRONG ĐIỀU TRA
VỤ ÁN GIẾT NGƯỜI THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Trang 2
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tính mạng con người là vô giá, bất khả xâm phạm, được pháp luật bảo vệ Điều 19 Hiến pháp 2013 khẳng định: “Mọi người có quyền sống Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật” Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp, BLHS nước ta quy định tội phạm giết người là loại tội đặc biệt nghiêm trọng, có mức hình phạt cao nhất là tử hình Hành vi giết người không chỉ tước đi mạng sống con người một cách trái pháp luật mà còn gây ra những hậu quả khác cho gia đình, người thân của họ, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây bất bình, hoang mang trong dư luận quần chúng nhân dân Chính vì vậy mọi hành vi phạm tội giết người đều phải được điều tra, làm rõ và xử lý nghiêm minh Để đấu tranh với tội phạm giết người cơ quan tiến hành tố tụng phải tiến hành nhiều các biện pháp khác nhau trong đó hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong giai đoạn điều tra đóng vai trò
vô cùng to lớn trong việc chứng minh sự thật của vụ án
Bình Phước là một tỉnh nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là cầu nối của vùng với Tây Nguyên và Campuchia có 240 km đường biên giới với Vương quốc Campuchia Dưới sự lãnh đạo toàn diện của các cấp các ngành trong những năm qua các cơ quan tiến hành tố tụng mà nòng cốt là lực lượng Công an tỉnh đã có nhiều nỗ lực cố gắng trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm giết người nói riêng Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước: Trong 05 năm qua Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước đã tiến hành xét xử sơ thẩm 138/253 vụ án giết người (chiếm 54,5 % tổng số vụ án thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án tỉnh) với 250/406 bị cáo (chiếm 61,6 % tổng số bị cáo bị Tòa án tỉnh xét xử sơ thẩm) Từ
số liệu trên cho thấy tội phạm giết người trên địa bàn tỉnh Bình Phước chiếm tỷ lệ lớn trong các loại tội phạm và có chiều hướng diễn biến khá phức tạp Tuy nhiên các vụ án giết người Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung cho Viện kiểm sát hay Viện kiểm sát trả
hồ sơ điều tra bổ sung cho Cơ quan điều tra chiếm tỷ lệ không hề nhỏ Lý do trả hồ
sơ điều tra bổ sung là cần bổ sung chứng cứ, nhiều vụ án phải gia hạn thời hạn điều tra, có vụ án kéo dài nhiều năm mới giải quyết được… cho thấy các cơ quan tiến hành
Trang 3
tố tụng còn bộc lộ những hạn chế như: Không thu thập đầy đủ kịp thời các loại chứng
cứ, vi phạm thủ tục thu thập chứng cứ, không đánh giá đúng giá trị của từng chứng
cứ và xác định chính xác mối liên hệ giữa các chứng cứ trong tổng thể hệ thống toàn diện chứng cứ trong từng vụ án giết người cụ thể, còn có sự khác nhau trong nhận thức, trong phương pháp phân tích đánh giá chứng cứ giữa những người tiến hành tố tụng của vụ án… Do đó, việc nghiên cứu để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về hoạt động thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong các vụ án giết người, trên cơ sở
đó đánh giá thực trạng hoạt động thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong các
vụ án giết người trên địa bàn tỉnh Bình Phước đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng, kết quả hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm giết người trên địa bàn tỉnh
Bình Phước là yêu cầu rất bức thiết Đó chính là lý do tác giả chọn vấn đề: “Thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra tội giết người theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước” làm đề tài Luận văn Thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong thời gian qua đã có một số một số công trình khoa học và đề tài công
bố liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài như:
* Những công trình lý luận chung của Luật tố tụng hình sự
- Trần Quang Tiệp, Chế định chứng cứ trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam năm
2009, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
- Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật tố tụng hình sự năm 2017, Nhà xuất
bản Công an nhân dân, Hà Nội
- Nguyễn Ngọc Anh – Phan Trung Hoài, Bình luận khoa học bộ luật tố tụng
năm 2015, NXB Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội
* Những công trình liên quan trực tiếp tới đề tài nghiên cứu:
- Nguyễn Văn Đương, Thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong điều tra
vụ án hình sự ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ Luật học năm 2000, Học viện
Cảnh sát nhân dân, Hà Nội
- Hoàng Trung Thực, Hoạt động thu thập, bảo quản và xử lý vật chứng trong
điều tra các vụ án hình sự theo chức năng của lực lượng Cảnh sát nhân dân công an
Trang 4
tỉnh Thanh Hóa - Thực trạng và giải pháp, Luận văn Thạc sỹ Luật học năm 2015, Học
viện cảnh sát nhân dân, Hà Nội
- Võ Minh Cảnh, Hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ của lực lượng
Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an tỉnh Bình Dương trong điều tra vụ
án giết người, Luận văn Thạc sỹ luật học năm 2017, Học viện khoa học xã hội, Hà Nội
- Nguyễn Văn Chạm, Hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong
điều tra tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn địa bàn tỉnh Bình Phước, Luận văn Thạc
sỹ luật học năm 2017, Học viện khoa học xã hội, Hà Nội
Ngoài ra, còn có một số bài viết, bài nghiên cứu có liên quan như:
- Trần Quang Tiệp (2003), Một số vấn đề về chứng minh trong TTHS, Tạp chí
Kiểm sát số 9, Hà Nội
- Hoàng Thị Minh Sơn (2008), Hoàn thiện một số quy định về thu thập, đánh
giá, sử dụng chứng cứ trong tố tụng hình sự, Tạp chí luật học số 7/2008, tr 65-72
Các công trình khoa học, luận văn, luận án và bài viết nêu trên chủ yếu đi sâu nghiên cứu về mặt lý luận quá trình chứng minh trong điều tra VAHS hoặc quá trình thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ tại một địa bàn nhất định với tội danh cụ thể Cho đến nay, chưa có một công trình khoa học hay đề tài chính thức nào đi tìm hiểu sâu để nghiên cứu và đề xuất các giải pháp cụ thể về hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước
Do đó, đề tài: “Thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết
người theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước” là một đề tài
mới, không trùng lặp với các đề tài đã công bố
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ thực trạng hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước; đề tài tìm ra những ưu điểm, những hạn chế khó khăn và nguyên nhân để đề
Trang 5
xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác này trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu trên, tác giả cần đạt được các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Làm rõ những vấn đề lý luận chung và lý luận cụ thể có liên quan đến tội
phạm giết người; hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra tội phạm giết người; tình hình, đặc điểm hình sự tội phạm giết người trên địa bàn tỉnh Bình Phước
- Khảo sát đánh giá thực trạng hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ
trong điều tra vụ án giết người từ năm 2014 đến năm 2018 trên địa bàn tỉnh Bình Phước từ đó rút ra nhận xét, nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế
- Dự báo tình hình tội phạm giết người nói chung và đề xuất các giải pháp
nâng cao hiệu quả hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ
án giết người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước nói riêng trong những năm tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn chính là thực trạng hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu sâu về hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng chứng
cứ trong điều tra vụ án giết người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước
- Không gian: Trên địa bàn tỉnh Bình Phước
- Thời gian: Từ năm 2014 đến năm 2018
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Trang 6
Đề tài nghiên cứu dựa trên những cơ sở phương pháp luận của phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin; chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác chính sách pháp luật nói chung và pháp luật tố tụng hình sự nói riêng trong đấu tranh phòng chống tội phạm giai đoạn hiện nay
Ngoài ra, đề tài còn được nghiên cứu dựa trên nền tảng lý luận cơ bản của các ngành khoa học Luật Hình sự, Luật Tố tụng hình sự, Lý luận chung về khoa học điều tra hình sự, Chiến thuật điều tra hình sự, Phương pháp điều tra hình sự, Tội phạm học
Đề tài cũng tiếp thu các luận điểm, luận chứng khoa học của các công trình nghiên cứu
đã nghiệm thu và được công bố, những kinh nghiệm từ thực tiễn thông qua các hồ sơ
vụ án, tài liệu sơ kết, tổng kết, hội thảo và của các lực lượng điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán khi thực hiện hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu nghiên cứu đề tài đã đề ra, trong quá trình nghiên cứu học viên còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu khảo sát, đánh giá;
- Phương pháp thống kê;
- Phương pháp phân tích, tổng hợp;
- Phương pháp tọa đàm, trao đổi;
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu đề tài góp phần bổ sung lý luận về hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người; là tài liệu nghiên cứu, tham khảo của cán bộ, học viên các trường Công an nhân dân, các cơ sở đào tạo của ngành kiểm sát và Tòa án trong quá trình học tập, nghiên cứu, trao đổi về hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ nói chung và quá trình thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người nói riêng
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trang 7
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần nâng cao nhận thức và quy trình, biện pháp công tác đối với các cơ quan nhà nước, chủ thể có thẩm quyền trong quá trình thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người theo pháp luật
tố tụng hình sự Việt Nam từ địa bàn tỉnh Bình phước và có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các đơn vị, địa phương khác trong phạm vi cả nước
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn được cấu trúc thành 03 chương
Chương 1: Nhận thức chung về hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng chứng
cứ trong vụ án giết người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Chương 2: Quy định của pháp luật về thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ
trong điều tra vụ án giết người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và thực tiễn
áp dụng tại Bình Phước
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng
chứng cứ trong điều tra vụ án giết người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Trang 8
Chương 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ THU THẬP, ĐÁNH GIÁ,
SỬ DỤNG CHỨNG CỨ TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN GIẾT NGƯỜI
1.1 Khái niệm thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong hoạt động điều tra vụ án hình sự
1.1.1 Chứng cứ và nguồn chứng cứ
- Khái niệm chứng cứ: Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, muốn xác định sự thật khách quan và có cơ sở để kết luận đúng về hành vi phạm tội đã xảy ra đòi hỏi cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải có tài liệu, chứng cứ
để chứng minh hành vi xảy ra là tội phạm và người phạm tội Chứng cứ là phương tiện của việc chứng minh có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án hình sự Việc xác định đúng đắn khái niệm chứng cứ sẽ có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc đề ra các nguyên tắc, biện pháp hữu hiệu nhằm thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ vào
mục đích chứng minh trong vụ án hình sự
Tại Điều 86 BLTTHS năm 2015 quy định như sau: “Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn
cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội
và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án” [ Luật TTHS, tr 39]
Như vậy, chứng cứ là những gì có thật, tức là chứng cứ luôn tồn tại một cách khách quan khi vụ án hình sự xảy ra, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người Chứng cứ phải được thu thập theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định và
là căn cứ duy nhất để CQĐT, VKS, TA xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội, cũng như những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án
Khác với Điều 64 BLTTHS 2003 Điều 86 BLTTHS năm 2015 không quy định
về “chủ thể” sử dụng chứng cứ trong khái niệm chứng cứ, đó chính là điểm mới tiến
bộ trong luật tố tụng hình sự tạo điều kiện cho những người tham gia tố tụng, đặc biệt
là người bị buộc tội, người bào chữa, bị hại có thể tham gia vào quá trình chứng
Trang 9
minh, giải quyết vụ án hình sự Trong quá trình tiến hành tố tụng, không chỉ có các
cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được đưa ra chứng cứ, sử dụng chứng cứ vào quá trình chứng minh tội phạm mà tất cả những người tham gia tố tụng đều có quyền đưa ra chứng cứ, sử dụng chứng cứ nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan Đối với quy định quyền và nghĩa vụ của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố; người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt; người bị tạm giữ; bị can; bị cáo; nguyên đơn dân sự; bị đơn dân sự; người bào chữa đều có quyền: “Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá những chứng cứ ấy” Đồng thời cũng bổ sung thêm các quyền và nghĩa vụ cho người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị
tố giác, người bị kiến nghị khởi tố; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, đương sự cũng có quyền “thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ”
Chứng cứ có vai trò rất quan trọng đối với việc chứng minh của cả cơ quan tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình điều tra VAHS Chứng cứ có những thuộc tính sau đây:
Thứ nhất: Tính khách quan: Tính khách quan của chứng cứ là tính có thật, tức là
những thông tin chứa đựng trong các dấu vết, đồ vật, tài liệu, lời khai phản ánh về VAHS phải tồn tại một cách khách quan đúng như thực tế vụ án đã xảy ra, không phụ thuộc vào
ý thức chủ quan của con người và con người có thể nhận thức được Những gì không có thật, không tồn tại khách quan thì không được coi là chứng cứ Con người phát hiện, thu thập và tìm ra chứng cứ, con người nghiên cứu và đánh giá để sử dụng nó
Thứ hai: Tính liên quan: Tính liên quan của chứng cứ thể hiện ở mối liên hệ
khách quan với những vấn đề phải chứng minh trong VAHS, giúp xác định một hay nhiều tình tiết của vụ án góp phần làm rõ một phần hay toàn bộ những vấn đề phải chứng minh trong VAHS
Thứ ba: Tính hợp pháp: Tính hợp pháp của chứng cứ thể hiện ở chỗ, chứng cứ
phải được thu thập, xác định từ những nguồn và bằng biện pháp theo đúng trình tự, thủ tục mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định
Trang 10
- Nguồn chứng cứ
Hiện nay, chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào đưa ra khái niệm cụ thể như thế nào là nguồn chứng cứ Trong thực tiễn có nhiều cách khác nhau định nghĩa về nguồn chứng cứ như “Nguồn chứng cứ là những sự vật chứa đựng chứng
cứ, tức là chứa đựng các thông tin, tư liệu tồn tại trong thực tế khách quan, liên quan đến vụ án và được thu thập theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định” [5, tr.166] hay
“Nguồn chứng cứ là nơi chứa đựng những thông tin phản ánh trung thực về VAHS, được Luật TTHS quy định” [4, tr.59] Tại Khoản 1, Điều 87 của BLTTHS 2015 đã liệt kê các chứng cứ được thu thập, xác định từ các nguồn cụ thể sau đây: Vật chứng; lời khai, lời trình bày; dữ liệu điện tử; kết luận giám định, định giá tài sản; các loại biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác; các tài liệu, đồ vật khác
Vật chứng là những vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội, những vật mang dấu vết tội phạm hoặc là đối tượng của tội phạm, tiền hoặc vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội hoặc có ý nghĩa nhất định trong việc giải quyết vụ án Trong thực tế cuộc sống cho thấy, vật chứng rất đa dạng, có thể là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm,… có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết đúng đắn vụ án Nói tóm lại, vật chứng trước tiên phải tồn tại ở dạng vật chất, phải liên quan chặt chẽ và phản ánh được những sự kiện khách quan của vụ án hình sự Vật chứng có giá trị chứng minh rất cao trong quá trình giải quyết VAHS Vì vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải phát hiện kịp thời, thu giữ đầy đủ, bảo quản và xử lý theo đúng quy định của pháp luật Tuy nhiên, vật chứng không phải là nguồn chứng cứ duy nhất nên cần được xem xét, đánh giá trong mối quan hệ với các nguồn chứng cứ khác
Về lời khai, lời trình bày: Theo quy định lời khai được dùng làm chứng cứ cũng rất đa dạng, nhưng quan trọng nhất vẫn là lời khai của bị can, bị cáo, bị hại, người làm chứng… So với vật chứng, lời khai là nguồn chứng cứ mang tính chủ quan
và chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau Do đó, trong nhiều vụ án, việc chỉ
Trang 11
đánh giá lời khai mà đưa ra quyết định có hay không hành vi phạm tội trong nhiều trường hợp sẽ mang tính chủ quan và rất dễ dẫn đến oan sai Lời khai ban đầu do cơ quan điều tra thông qua các biện pháp nghiệp vụ mà có được, sau đó trong quá trình xét xử toà án tiếp tục kiểm tra tính hợp pháp của nguồn chứng cứ này Lời nhận tội của bị can, bị cáo trong quá trình tiến hành tố tụng chỉ có thể được coi là chứng cứ nếu phù hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập trong vụ án Không được dùng lợi nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất trong vụ án để kết tội họ Mọi lời khai của bị can, bị cáo đều phải được kiểm tra, so sánh, đối chiếu với các chứng
mẽ của khoa học, công nghệ để ứng dụng vào việc thực hiện và che dấu hành vi phạm tội, nên để giải quyết đúng đắn các vụ án hình sự, việc thu thập các chứng cứ điện tử
là rất quan trọng Giá trị chứng minh của chứng cứ là dữ liệu điện tử được xác định căn cứ vào cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi, phát tán dữ liệu điện tử; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác
Về kết luận giám định, kết luận định giá tài sản: Thực tiễn giải quyết các vụ
án hình sự liên quan đến tài sản như: trộm cắp tài sản, hủy hoại tài sản, các vụ án về giao thông… các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải trưng cầu định giá tài sản làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án Đối với kết luận giám định là văn bản do
Trang 12Về kết quả thực hiện ủy thác tư pháp về hình sự: Ủy thác tư pháp chính là việc yêu cầu bằng văn bản của các cơ quan tiến hành tố tụng Việt Nam yêu cầu các cơ quan tiến hành tố tụng tương ứng của nước ngoài tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài theo Điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương đã ký kết hoặc đã tham gia
Như vậy, so với BLTTHS 2003, BLTTHS 2015 đã bổ sung thêm 3 nguồn chứng cứ gồm: Kết luận giám định; Kết luận định giá tài sản; Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác Quy định là cần thiết và phù hợp trong bối cảnh tội phạm ngày nay phát triển ngày càng tinh vi, phức tạp và đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia Tuy nhiên, những gì “có thật” được liệt kê như trên nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định thì không có giá trị pháp lý và cũng không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự Điều này cho thấy, chứng cứ có một vai trò quan trọng, thông qua đó cơ quan tư pháp tìm ra
sự thật của vụ án, góp phần hiệu quả vào công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm hiện nay
1.1.2 Khái niệm thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong hoạt động điều tra vụ án hình sự
Quá trình giải quyết VAHS thực chất là quá trình thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ để chứng minh có tội phạm xảy ra hay không? chứng minh sự có tội hoặc
vô tội của một con người cụ thể Tất cả các sự việc và tình tiết của vụ án phải phù hợp với hiện thực khách quan Việc nghiên cứu, xác định, đánh giá các sự kiện, tình tiết của vụ án xảy ra được tiến hành trên cơ sở của các chứng cứ và chỉ bằng cách dựa vào các chứng cứ mới làm sáng tỏ được những vấn đề cần chứng minh trong VAHS
Trang 13- Thu thập chứng cứ: Thu thập chứng cứ là tổng hợp các hành vi phát hiện, ghi
nhận, thu giữ, củng cố và bảo quản chứng cứ
Để thu thập chứng cứ, CQĐT, VKS và TA có quyền triệu tập những người biết về vụ án để hỏi và nghe họ trình bày về những vấn đề có liên quan đến vụ án, trưng cầu giám định, tiến hành khám xét, khám nghiệm và các hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, trình bày những tình tiết có ý nghĩa làm sáng tỏ vụ án
Những người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức hoặc bất cứ cá nhân nào đều
có thể thu thập và đưa ra tài liệu, đồ vật, trình bày những vấn đề có liên quan đến vụ
án hình sự
Hoạt động thu thập chứng cứ gồm các bước sau đây: Phát hiện chứng cứ là hoạt động đầu tiên của quá trình thu thập chứng cứ Đó là việc người tiến hành thu thập chứng cứ quan sát, nghiên cứu, xem xét, kiểm tra những nơi xảy ra sự việc phạm tội, tìm kiếm, gặp gỡ những người biết về sự việc phạm tội, hoặc trưng cầu giám định
Trang 14
nhằm phát hiện vật chứng, dấu vết, các thông tin, tài liệu… có liên quan đến vụ án đang ở đâu, tồn tại dưới dạng nào?
Ghi nhận và thu giữ chứng cứ là bước tiếp theo của hoạt động thu thập chứng
cứ mà cụ thể là việc xác định, mô tả, ghi chép, xác nhận đặc điểm, tính chất, số lượng, chất lượng, phân loại vào biên bản và thu giữ các thông tin, tài liệu hoặc vật chứng
có liên quan đến VAHS theo đúng trình tự, thủ tục luật định
Củng cố chứng cứ là việc tiến hành bổ sung về nội dung và hình thức đảm bảo cho chứng cứ có giá trị chứng minh cao
Bảo quản chứng cứ là cơ quan có thẩm quyền sắp xếp, trông coi và đưa vào lưu giữ các tài liệu, vật chứng… từ khi thu giữ đến khi sử dụng theo đúng quy định của pháp luật, không để bị hư hỏng, mất mát, sai lệch hay bị tiêu hủy
- Đánh giá chứng cứ: Đánh giá chứng cứ là quá trình nghiên cứu, xem xét một cách toàn diện với từng chứng cứ cùng toàn bộ hệ thống chứng cứ đã thu thập được trong mối quan hệ biện chứng với nhau để xác định nó đã giúp làm sáng tỏ vấn đề gì trong vụ án trên cơ sở đó có kết luận về sự thật vụ án đã xảy ra, kết luận về tội phạm
và người phạm tội trong VAHS
Mỗi chứng cứ phải được đánh giá toàn diện để xác định tính hợp pháp, xác thực và liên quan đến vụ án, bảo đảm đủ để giải quyết các vấn đề trong VAHS
Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm là những chủ thể có thẩm quyền xác định và đánh giá mọi chứng cứ với đầy đủ tinh thần trách nhiệm, sau khi nghiên cứu một cách tổng hợp, khách quan, toàn diện và đầy đủ tất cả tình tiết của vụ án
Chứng cứ trong VAHS nằm trong mối quan hệ biện chứng có liên quan mật thiết với nhau Xác định được mối quan hệ đó là điều kiện cần thiết đối với việc xác định sự thật khách quan trong vụ án hình sự Việc đánh giá chứng cứ phải dựa vào các cơ sở như: Phải dựa trên các quy định của LHS như những quy định về tội phạm, cấu thành tội phạm, quy định về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự… để làm cơ sở đánh giá những chứng cứ đã thu thập trong vụ án, phải dựa trên các quy định của LTTHS để xác định tính hợp pháp của các chứng cứ cũng như giá
Trang 15
trị chứng minh của các chứng cứ Ngoài ra phải dựa vào niềm tin nội tâm, trình độ, năng lực, kinh nghiệm, sự hiểu biết về xã hội cũng như trách nhiệm và lương tri của người tiến hành tố tụng
- Sử dụng chứng cứ: là hoạt động của người tiến hành tố tụng nhằm sử dụng những tài liệu đủ tính pháp lý thu được trong quá điều tra VAHS để chứng minh có hay không có hành vi phạm tội, làm rõ sự thật vụ án
Đây là hoạt động mang tính quyết định của điều tra viên trong quá trình điều tra VAHS Việc lựa chọn, cân nhắc sử dụng chứng cứ, trong từng thời điểm và trường hợp cụ thể như: lấy lời khai của đối tượng, hỏi cung bị can, đối chất, nhận dạng hay hoàn thành hồ sơ để truy tố, xét xử… phần nào quyết định sự thành công hay thất bại của quá trình chứng minh một hành vi phạm tội, là cơ sở để đưa ra kết luận có hay không có hành vi phạm tội
1.2 Khái niệm tội giết người, đặc điểm tội giết người theo pháp luật hình sự
1.2.1 Khái niệm tội giết người
Tội giết người là loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, tước đoạt trái pháp luật quyền sống của con người Nó ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn nhân lực quan trọng nhất của xã hội, gây tác động ngược lại đối với sự phát triển bình thường của
xã hội
Hiện nay tội phạm giết người đang diễn ra rất phức tạp, cùng với sự gia tăng
về số vụ xảy ra, tính chất mức độ nghiêm trọng, thủ đoạn gây án ngày càng manh động, trắng trợn hơn, gây tác động xấu cho tình hình ANTT
Qua nghiên cứu quy định về lịch sử quy định tội phạm giết người ở Việt Nam, cho thấy: Tội giết người đã được quy định từ lâu trong Quốc triều hình luật (Luật hình triều Lê) tại chương: Đạo tặc, từ Điều 415 đến Điều 417 và từ Điều 420 đến Điều 422 với các hành vi phạm tội cụ thể và hình phạt tương ứng dành cho những người thực hiện hành vi đó Ví dụ như: Điều 417 quy định: Nô tỳ mà giết chủ, thì đều phải tội chém Hay Điều 420 quy định: Kẻ giết tới 3 người trong một gia đình, hay
xả thây người ta, thì xử tội chém bêu đầu; tòng phạm xử tội chém Như vậy, lịch sử
Trang 16Đến năm 1985 khi BLHS đầu tiên của nước ta được ban hành lúc này hành vi giết người được quy định tại Điều 101 như sau: “Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình …” Đến BLHS 1999 tội giết người được kế thừa theo quy định của BLHS 1985 tại Điều 93
BLHS 2015 (sửa đổi 2017) Chương XIV quy định về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe danh dự, nhân phẩm của con người cụ thể Điều 123 quy định Tội giết người như sau:
Khoản 1 quy định: Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình: a) Giết 02 người trở lên; b) Giết người dưới 16 tuổi; c) Giết phụ nữ mà biết là có thai; d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân; đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình; e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác; h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân; i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ; k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp; l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người; m) Thuê giết người hoặc giết người thuê; n) Có tính chất côn đồ; o) Có tổ chức; p) Tái phạm nguy hiểm; q) Vì động cơ đê hèn
Khoản 2 quy định như sau: Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm
Trang 17Như vậy, BLSH không quy định cụ thể thế nào là tội giết người nhưng trên
cơ sở quy định về tội phạm tại Điều 8 BLHS và trên cơ sở quy định của Điều 123
BLHS 2015 sửa đổi 2017 có thể đưa ra khái niệm tội giết người như sau: “Tội giết
người là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, cố ý gây ra cái chết cho người khác một cách trái pháp luật, do người có năng lực trách nhiệm hình
sự thực hiện và xâm phạm đến quyền được bảo hộ tính mạng của con người”
1.2.2 Đặc điểm tội giết người theo pháp luật hình sự Việt Nam
Trong quá trình tiến hành tố tụng một VAHS nói chung và trong hoạt động điều tra tội phạm nói riêng, để đảm bảo giải quyết vụ án một cách chính xác, khách quan, toàn diện và đầy đủ thì một trong những yêu cầu quan trọng là phải hiểu rõ về bản chất của hành vi phạm tội cũng như những dấu hiệu pháp lý đặc trưng của loại tội phạm đó Chính vì vậy, để đấu tranh phòng chống tội phạm giết người có hiệu quả, vấn đề đầu tiên là phải xác định rõ những dấu hiệu pháp lý của tội phạm này hay nói cách khác là hiểu rõ những đặc điểm của tội này Những đặc điểm đó bao gồm:
Thứ nhất, về khách thể của tội phạm giết người
Tội giết người là một tội nguy hiểm nhất trong nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự con người vì nó xâm phạm trực tiếp đến một khách thể đặc biệt quan trọng là quyền được sống của con người Quyền sống là quyền cơ bản nhất của con người Cuộc sống con người bắt đầu từ khi họ sinh ra và chấm dứt cho đến khi họ chết Khoa học pháp lý khẳng định sự sống của con người được xác định từ khi con người được sinh ra (đứa trẻ ra khỏi bụng mẹ cất tiếng khóc chào đời) cho đến khi sự sống hoàn toàn chấm dứt đối với người đó Người chết là người mà không còn hoạt động sống như tim ngừng đập, thần kinh ngừng hoạt động Cần phân biệt người chết với người chết dần từng bộ phận, nếu còn một số bộ phận hoạt động
Trang 18
thì vẫn coi là người sống Vì vậy, khi người phụ nữ mang thai (cái thai còn đang trong bụng người mẹ) thì hành vi phá thai không phạm vào tội giết người, nhưng khi cái thai đó ra khỏi bụng người mẹ, đứa trẻ chào đời và vì một lí do nào đó mà một người
đã thực hiện hành vi giết đứa trẻ thì họ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người; ngược lại, sau khi sự sống đã chấm dứt đối với một người thì các hành vi xâm hại đến thi thể nạn nhân cũng không bị xem là xâm phạm quyền được sống và không phạm vào tội giết người
Khách thể của tội phạm giết người trực tiếp xâm phạm quyền sống của con người Đối tượng tác động của tội phạm giết người chính là thân thể của con người đang sống
Thứ hai, về mặt khách quan của tội phạm giết người
Mặt khách quan của tội phạm là những yếu tố được thể hiện ra bên ngoài tội
phạm Mặt khách quan của tội phạm bao gồm: Hành vi nguy hiểm cho xã hội, thời gian, địa điểm, phương thức phạm tội, phương tiện và công cụ tiến hành tội phạm, hậu quả do hành vi đó gây ra, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả
Các Mác đã từng nói: “Ngoài những hành vi của mình ra, tôi hoàn toàn không tồn tại đối với pháp luật, hoàn toàn không phải là đối tượng của nó” [Các Mác và Ăngghen toàn tập, tập 1 NXB Sự thật, Hà Nội năm 1978] Nếu một người có ý định giết người nhưng chưa thể hiện ý định đó ra thế giới khách quan bằng hành vi cụ thể thì họ không phải chịu trách nhiệm hình sự; chỉ khi nào họ bắt tay vào việc thực hiện
ý định giết người, nghĩa là ý định của họ đã được thể hiện ra bên ngoài bằng hành vi khách quan thì họ mới phải chịu trách nhiệm hình sự
Trong mặt khách quan của tội phạm giết người phải có các dấu hiệu: Hành vi, hậu quả, mối liên hệ giữa hành vi và hậu quả Hành vi trong mặt khách quan của tội giết người là hành vi tước đoạt sinh mạng của người khác trái pháp luật, trong hành
vi phạm tội, người phạm tội đã biểu hiện được ý chí phạm tội ra thế giới khách quan Hành vi này là hoạt động có ý thức và ý chí, có tính nguy hiểm cao cho xã hội và là hành vi trái pháp luật hình sự
Trang 19
Hành vi “tước đoạt sinh mạng” trong tội giết người được thực hiện bằng hành động phạm tội Các hành động này có thể chỉ là một động tác giản đơn diễn ra trong một thời gian ngắn hoặc là những hành động phức tạp là tổng hợp của nhiều động tác khác nhau
Hậu quả trong cấu thành tội giết người là sự thiệt hại về tính mạng do hành vi phạm tội gây ra Hậu quả trực tiếp của tội phạm là gây ra cái chết cho nạn nhân, nếu hậu quả giết người đã xảy ra thì tội phạm đã hoàn thành Trong trường hợp hậu quả chết người không xảy ra vì các lí do khách quan khác nhau thì tội phạm chưa đạt Trong tội giết người, phạm tội chưa đạt có hai trường hợp sau đây:
+ Giết người chưa đạt chưa hoàn thành: Người phạm tội vì những nguyên nhân khách quan nên chưa thực hiện hết các hành vi cần thiết để gây ra hậu quả chết người (như hành vi: nhặt dao để đâm, lắp đạn vào súng để bắn nhưng các hành vi này đều
sự hiện thực hoá khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả do hành vi phạm tội của người phạm tội gây ra Thực tế xét xử đã chứng minh không phải bất cứ một hành vi
Trang 20
phạm tội nào (dù chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả chết người) cũng đều gây ra hậu quả chết người, trong nhiều vụ án hậu quả chết người xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau Thực tiễn, có vụ án do các cơ quan tiến hành tố tụng đã không xác định đúng mối liên hệ nhân quả dẫn đến làm oan sai người vô tội Vì thế, khi cân nhắc, đối chiếu một cách toàn diện và biện chứng mọi tình tiết khách quan của vụ án cần phải đặc biệt chú ý đến mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả
để xét xử cho chính xác
Các dấu hiệu khác trong mặt khách quan như: thời gian, địa điểm và hoàn cảnh phạm tội không có tính chất bắt buộc trong cấu thành tội giết người Tuy nhiên, trong một số trường hợp các dấu hiệu này có ý nghĩa bắt buộc trong định khung hoặc quyết định hình phạt
Thứ ba, về mặt chủ quan của tội giết người
Thực tiễn cho thấy có những hành vi khách quan giống nhau gây hậu quả chết người cũng xảy ra nhưng có trường hợp người phạm tội đã phạm tội giết người và có trường hợp lại không phạm phải tội này vì diễn biến bên trong của tội phạm khác nhau Vì vậy, việc xác định mặt chủ quan trong tội giết người rất quan trọng Mặt chủ quan bao gồm: lỗi, động cơ, mục đích phạm tội
Lỗi là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành của mọi tội phạm Tội giết người luôn luôn được thực hiện bằng lỗi cố ý Chủ thể của tội giết người có thể thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp hoặc với lỗi cố ý gián tiếp Điều 10 BLHS 2015 quy định:
“cố ý phạm tội là phạm tội trong trường hợp sau đây: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra; tuy không mong muốn nhưng có ý thức bỏ mặc cho hậu quả xảy ra” Căn cứ vào nội dung của điều luật, ta thấy:
Về mặt lí trí: các chủ thể của tội giết người đều biết rằng hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, đều thấy trước hành vi của họ sẽ hoặc có thể gây hậu quả chết người
Về mặt ý chí: Nếu chủ thể mong muốn cho hậu quả chết người xảy ra thì họ phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp Nếu họ có ý thức bỏ mặc cho hậu quả xảy ra thì họ phạm tội với lỗi cố ý gián tiếp
Trang 21
Động cơ và mục đích phạm tội giết người: tất cả những người có ý thức và ý chí khi phạm tội đều do một động cơ thúc đẩy và để nhằm đạt đến một mục đích nhất định Nhưng đối với tội giết người thì dấu hiệu động cơ, mục đích không phải là dấu hiệu bắt buộc phải có trong cấu thành tội phạm
Tóm lại, trong mặt chủ quan của tội giết người, lỗi là dấu hiệu chính để xác định tội nhưng ta phải xem xét, đánh giá lỗi trong quan hệ thống nhất với động cơ, mục đích để định hình một cách chính xác khả năng nhận thức của người phạm tội,
từ đó mới xác định đúng thái độ chủ quan của họ
Thứ tư, về chủ thể của tội giết người
Chủ thể của tội giết người là người có đầy đủ điều kiện chủ thể, họ phải có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi do luật định: “người có năng lực trách nhiệm hình sự là người khi thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội có khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và có khả năng điều khiển hành vi ấy”
1.3 Khái niệm thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người
Bộ luật TTHS năm 2015, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn về phân công, tổ chức hoạt động điều tra quy định Cơ quan Cảnh sát điều tra gồm lực lượng Cảnh sát hình sự, Cảnh sát phòng, chống tội phạm
về ma túy, Cảnh sát kinh tế được xác định là Cơ quan điều tra chuyên trách có trách nhiệm thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ nhằm giải quyết vụ án một cách nhanh chóng, kịp thời, hiệu quả Ngoài cơ quan Cảnh sát điều tra thì Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm và những người tham gia tố tụng khác cũng có thể tiến hành thu thập chứng cứ
Thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người được tiến hành ngay từ khi tiếp nhận xử lý tố giác, tin báo, tố giác và kiến nghị khởi tố về tội phạm giết người và kết thúc sau khi có bản kết luận điều tra đề nghị truy tố người phạm tội hoặc đình chỉ vụ án, nếu xét thấy sự việc xảy ra chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm giết người Trong khoảng thời gian đó, lực lượng Cảnh sát điều tra được áp
Trang 22
dụng mọi biện pháp theo quy định của pháp luật TTHS để thu thập thông tin, tài liệu phục vụ cho việc chứng minh làm rõ sự thật vụ án, như: Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám xét, trưng cầu giám định, lấy lời khai người bị hại còn sống, lấy lời khai người làm chứng, hỏi cung bị can…
Nếu thu thập chứng cứ trong điều tra vụ án giết người có thể được tiến hành bởi các chủ thể là các cơ quan tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng thì hoạt động đánh giá và sử dụng chứng cứ là hoạt động chỉ được tiến hành bởi các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc xem xét, cân nhắc và áp dụng để giải quyết vụ án Những người tham gia tố tụng khác, cơ quan, tổ chức hoặc bất cứ cá nhân nào đều có thể đưa
ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử và trình bày những vấn đề có liên quan đến vụ án giết người
Về bản chất, thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người là hoạt động có mục đích nhằm chứng minh làm rõ sự thật về vụ án giết người
đã xảy ra trên thực tế Từ sự phân tích trên có thể hiểu hoạt động thu thập, đánh giá,
sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người, như sau: Thu thập, đánh giá, sử
dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người là quá trình hoạt động của các cơ quan tố tụng và những người tham gia tố tụng nhằm áp dụng những biện pháp khác nhau theo quy định của pháp luật để phát hiện, mô tả, thu lượm và xác định độ tin cậy, giá trị chứng minh của những đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án giết người, qua
đó sử dụng từng chứng cứ vào mục đích chứng minh làm rõ sự thật về vụ án
Trang 23
Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THU THẬP, ĐÁNH GIÁ, SỬ DỤNG CHỨNG CỨ TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN GIẾT NGƯỜI THEO PHÁP LUẬT TỐ
TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI BÌNH PHƯỚC
2.1 Quy định của pháp luật về thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong
điều tra vụ án giết người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
2.1.1 Cơ sở pháp lý của thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra
vụ án giết người
Thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người luôn phải được tiến hành theo các trình tự, thủ tục do pháp luật quy định hay nói cách khác, hoạt động đó phải được điều chỉnh bằng pháp luật
Thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người chính là quá trình làm rõ, xây dựng, tái hiện cụ thể về hành vi giết người đã xảy ra trong quá khứ bằng việc tiến hành các hoạt động điều tra nhằm thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trên cơ sở những quy định của pháp luật để làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án đúng như những gì đã xảy ra trên thực tế Để đạt được mục đích trên, các hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người phải được tiến hành dựa trên các quy định của Hiến pháp, Bộ luật hình sự, Bộ luật TTHS, Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành… Đây là những
cơ sở pháp lý quan trọng đảm bảo tính đúng đắn và hiệu quả cho hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người
Khoản 1 Điều 2 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về cơ
sở của trách nhiệm hình sự như sau: “Chỉ người nào phạm một tội được Bộ luật
hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” [Bộ luật hình sự, tr 1] Điều
này có nghĩa chỉ người nào thực hiện một trong các hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật được quy định tại một điều luật cụ thể trong Bộ luật hình sự mới phải chịu trách nhiệm hình sự, còn những hành vi mặc dù trong thực tế đã gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội nhưng hành vi ấy chưa được quy định trong Bộ luật
Trang 24Trách nhiệm xác định sự thật của vụ án giết người trên thực tế được xác định tại Điều 15 BLTTHS như sau: “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng Người bị buộc tội có quyền nhưng không có nghĩa vụ buộc phải chứng minh là mình vô tội Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp khác nhau để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy
đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng
và tình tiết giảm nhẹ TNHS của người bị buộc tội” [BLTTHS, tr.5] Đây là một trong những cơ sở quan trọng để Cơ quan điều tra mà cụ thể là Điều tra viên trong quá trình điều tra làm rõ sự thật của vụ án giết người được tiến hành các hoạt động, biện pháp điều tra theo quy định của Luật TTHS, như: Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, lấy lời khai người làm chứng và các hoạt động điều tra khác nhằm mục đích xác định sự thật của vụ án
Theo quy định tại Điều 15 BLTTHS năm 2015 thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án đều là những cơ quan có nghĩa vụ chứng minh tội phạm, nhưng việc chứng minh tội phạm của các cơ quan này ở mỗi giai đoạn tố tụng có những đặc điểm khác nhau, cụ thể: Ở giai đoạn khởi tố, giai đoạn điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có nghĩa vụ chứng minh tội phạm, còn ở giai đoạn xét xử, nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc về đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và Hội đồng xét xử Trách nhiệm chứng minh một người có phải là tội phạm hay không thuộc về các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, do vậy, kể cả trong trường hợp người phạm tội không đưa ra được những chứng cứ để chứng minh là bản thân họ vô tội thì các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cũng không thể tự nhiên kết tội họ
Trang 25
Ngoài ra, những quy phạm pháp luật được thể hiện trong Điều 88, Điều 108
Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi 2017) là một trong những cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ
án giết người Điều 88 BLTTHS 2015 quy định như sau: “1 Để thu thập chứng cứ,
cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có quyền tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật này; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án
2 Để thu thập chứng cứ, người bào chữa có quyền gặp người mà mình bào chữa, bị hại, người làm chứng và những người khác biết về vụ án để hỏi, nghe họ trình bày về những vấn đề liên quan đến vụ án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa
3 Những người tham gia tố tụng khác, cơ quan, tổ chức hoặc bất cứ cá nhân nào đều có thể đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử và trình bày những vấn đề có liên quan đến vụ án” [25, tr 37] Cơ sở của quá trình kiểm tra, đánh giá
chứng cứ được quy định tại Điều 108 BLTTHS cụ thể như sau: “1 Mỗi chứng cứ
phải được kiểm tra, đánh giá để xác định tính hợp pháp, xác thực và liên quan đến
vụ án Việc xác định những chứng cứ thu thập được phải bảo đảm đủ để giải quyết
vụ án hình sự
2 Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện mọi chứng cứ đã thu thập được về vụ án”
Bên cạnh đó những quy định trong Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm
2015 quy định về thẩm quyền điều tra của CQĐT trong Công an nhân dân; Thông tư 28/2014/TT-BCA ngày 7/7/2014 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về công tác điều tra hình sự trong Công an nhân dân; Quyết định 1319/QĐ-BCA ngày 20/3/2015 của Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Quy trình tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm và kiến nghị khởi tố trong Công an nhân dân;… Tất cả các quy phạm pháp luật trong các văn bản nói trên chính là cơ sở pháp lý quan trọng của hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người Ngoài việc quy
Trang 26
định những vấn đề có tính nguyên tắc về trình tự, thủ tục và phương pháp tiến hành, khoa học luật TTHS còn quy định một cách chi tiết, rõ ràng những chỉ dẫn cơ bản về phương pháp, chiến thuật của hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ Việc tôn trọng và nghiêm túc trong thực hiện các quy định này nhằm tìm ra sự thật khách quan trong quá trình điều tra VAHS nói chung và vụ án giết người nói riêng
2.1.2 Nội dung của thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
2.2.1.1 Thu thập chứng cứ trong điều tra vụ án giết người
Dựa trên những quy định của pháp luật TTHS và xuất phát từ thực tiễn điều tra các vụ án giết người, chúng ta có thể khái quát hoạt động thu thập chứng cứ trong
điều tra vụ án giết người như sau: Thu thập chứng cứ trong điều tra vụ án giết người
là quá trình các cơ quan tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng áp dụng những biện pháp, phương pháp khác nhau theo quy định của pháp luật, để phát hiện, mô tả, thu lượm những đồ vật, tài liệu theo trình tự, thủ tục tố tụng hình sự có liên quan đến
vụ án giết người nhằm làm rõ sự thật vụ án giết người
Thu thập chứng cứ trong điều tra vụ án giết người là một giai đoạn của quá trình chứng minh có tội phạm giết người xảy ra hay không? Đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình chứng minh tội phạm Nếu không có hoạt động thu thập chứng cứ thì cũng không có hoạt động kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ
Khoản 1 Điều 88 BLTTHS quy định chủ thể có thẩm quyền thu thập chứng cứ trong các VAHS nói chung và các vụ án giết người nói riêng là các cơ quan tiến hành
tố tụng có thẩm quyền thu thập chứng cứ Theo quy định tại Khoản 1 Điều 88 BLTTHS thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án thu thập chứng cứ bằng cách: yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án Trong quá trình tiến hành thu thập chứng
cứ các vụ án giết người phải tuân thủ những quy định như:
Thủ tục giải thích quyền và nghĩa vụ cho đối tượng bị áp dụng: Thủ tục này được áp dụng trong quá trình điều tra khi tiến hành các biện pháp hỏi cung; lấy lời
Trang 27
khai của người bị bắt, người bị tạm giữ, người làm chứng, người bị hại; khi tiến hành đối chất, nhận dạng, khám người, khám nơi làm việc, khám chỗ ở, địa điểm
Quy định về việc phải có người chứng kiến trong các trường hợp:
Đối với biện pháp khám người, khám xét dấu vết trên thân thể bị can, bị hại, nhân chứng khám nghiệm hiện trường, khám nghiện tử thi, thực nghiệm điều tra, nhận dạng thì người chứng kiến việc khám có thể là bất kỳ ai và chỉ cần một người (riêng đối với biện pháp khám người, khám xét dấu vết trên thân thể, thì phải là người cùng giới)
Biện pháp khám chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm đòi hỏi trong quá trình khám phải có sự chứng kiến của người láng giềng, đại diện chính quyền địa phương (nơi làm việc thì đại diện cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc) Trường hợp vắng chủ nhà thì phải có hai người trở lên chứng kiến việc khám xét này
Biện pháp thu giữ thư tín, điện tín, bưu phẩm, bưu kiện tại bưu điện thì phải
có sự chứng kiến của đại diện cơ quan bưu điện
Nội dung của hoạt động thu thập chứng cứ bao gồm: Phát hiện chứng cứ là việc quan sát, nghiên cứu, xem xét, kiểm tra những nơi xảy ra sự việc phạm tội, tìm kiếm, gặp gỡ những người biết về sự việc phạm tội, hoặc trưng cầu giám định nhằm phát hiện vật chứng, dấu vết, các thông tin, tài liệu có liên quan đến vụ án đang ở đâu, tồn tại dưới dạng nào
Ghi nhận và thu giữ chứng cứ là việc xác định, mô tả, ghi chép, xác nhận đặc điểm, tính chất, số lượng, chất lượng, phân loại vào biên bản và thu giữ các thông tin, tài liệu hoặc những vật chứng có liên quan đến vụ án theo đúng trình tự, thủ tục luật định
Củng cố chứng cứ là việc bổ sung về nội dung và hình thức đảm bảo cho chứng cứ có giá trị chứng minh cao
Bảo quản chứng cứ là việc xắp xếp, trông coi và đưa vào lưu giữ các tài liệu, vật chứng… từ khi thu giữ đến khi sử dụng theo đúng quy định của pháp luật, không
để bị hư hỏng, mất mát, sai lệch hay bị tiêu hủy
Theo quy định của BLTTHS, các biện pháp thu thập chứng cứ trong điều tra VAHS nói chung và trong điều tra vụ án giết người nói riêng được xác định thông
Trang 28
qua các hoạt động tố tụng hình sự bao gồm các hoạt động điều tra tố tụng và các hoạt động tố tụng khác Chính vì vậy, dựa trên những quy định của pháp luật có thể thấy phương pháp thu thập chứng cứ trong vụ án giết người được xác định bằng việc tiến hành các hoạt động điều tra tố tụng hình sự, bao gồm:
Một là, có thể tiến hành lấy lời khai của những người biết về vụ án giết người đó,
ví dụ: Hỏi cung bị can (Điều 183); lấy lời khai người làm chứng (Điều 186); lấy lời khai
bị hại, nguyên đơn (Điều 187); đối chất (Điều 189); nhận dạng (Điều 190)
Hai là, có thể tiến hành các hoạt động thu thập dấu vết, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án, như: Khám xét người (Điều 194); khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện (Điều 195); thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại bưu điện, dữ liệu điện tử (Điều 196,197); khám nghiệm hiện trường (Điều 201), khám nghiệm tử thi (Điều 202); xem xét dấu vết trên thân thể (Điều 203); thực nghiệm điều tra (Điều 204)…
Phương pháp thu thập chứng cứ trong điều tra vụ án giết người thông qua các
hoạt động tố tụng khác bao gồm: Người bào chữa có quyền gặp người mà mình bào
chữa, bị hại, người làm chứng và những người khác biết về vụ án để tìm hiểu, hỏi, nghe họ trình bày về những vấn đề liên quan đến vụ án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa cho thân chủ của mình
Ngoài ra, hoạt động thu thập chứng cứ trong vụ án giết người còn được thực hiện thông qua hoạt động chuyển hóa tài liệu trinh sát thành chứng cứ pháp lý, như: Thu thập những thông tin, tài liệu về vụ án giết người thông qua việc chuyển hóa những thông tin, tài liệu, dữ liệu thu thập được từ đặc tình, cơ sở bí mật, hòm thư bí mật cung cấp, thông qua hoạt động trinh sát ngoại tuyến… của lực lượng Cảnh sát điều tra Đây được coi là một nội dung khá quan trọng trong quá trình thu thập chứng cứ trong điều tra vụ án giết người xảy ra hiện nay
Theo quy định của pháp luật TTHS thì việc mô tả, sao chép chứng cứ được thực hiện bằng các biện pháp sau đây: Lập biên bản ghi nhận kết quả các hoạt động điều tra
Trang 29
thu thập chứng cứ; thu giữ vật chứng; chụp ảnh các tài liệu, chụp ảnh các đồ vật, dấu vết… ghi âm lời khai
Thực tiễn quá trình điều tra vụ án giết người thì vấn đề thu thập chứng cứ trong
vụ án giết người cần phải lưu ý một số trường hợp sau:
Thứ nhất, đối với dấu vết trong vụ án giết người, khi thu thập các cơ quan tiến
hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải ghi rõ trong biên bản: Dấu vết thu thập được là dấu vết gì, vị trí, đặc điểm ra sao? Việc thu thập các dấu vết này được thực hiện thông qua biện pháp khám nghiệm hiện trường và khám nghiệm
tử thi
Khám nghiệm hiện trường là hoạt động thu thập thông tin, tài liệu, dấu vết, vật chứng liên quan đến vụ việc tại chính nơi vụ việc đó xảy ra hoặc tại nơi phát hiện tội phạm Đó là quá trình sử dụng các kiến thức khoa học kỹ thuật, có sự hỗ trợ của các phương tiện nghiệp vụ, nhằm phát hiện thu thập thông tin, dấu vết, vật chứng của tội phạm hoặc nghi có liên quan đến tội phạm để xác định có hay không có tội phạm xảy
ra và làm sáng tỏ các tình tiết có ý nghĩa đối với vụ án Việc khám nghiệm hiện trường các vụ án giết người phụ thuộc vào hiện trường cụ thể trong nhà, ngoài trời, nơi công cộng, khu tập thể, công trường xây dựng… Khi tiến hành khám nghiệm hiện trường cần thu thập những dấu vết như: dấu vết do sự vật lộn, chống trả của người bị hại đối với thủ phạm, dấu vết giày dép để lại trên lối vào lối ra, dấu vết để lại trên vật tại hiện trường, dấu vân tay để lại ở các các đồ vật, dụng cụ mà đối tượng phạm tội cầm, nắm tới trong khi gây án; dấu vết sinh học để lại trong lúc thực hiện hành vi giết người, công cụ, đồ vật mà thủ phạm mang theo để thực hiện tội phạm; những dấu vết khác
Từ đó tiến hành đánh giá dấu vết, vật chứng, kết quả khám nghiệm hiện trường và các thông tin khác trong mối quan hệ của chúng để rút ra kết luận về việc chuẩn bị gây án của thủ phạm, diễn biến của vụ án, thủ đoạn gây án và che giấu tội phạm, các tài liệu cần thiết có thể áp dụng biện pháp truy nguyên đối tượng gây án, nhận định hướng truy tìm thủ phạm và lập kế hoạch điều tra… Đồng thời, bước đầu đánh giá tất
cả các thông tin thu thập được qua hoạt động điều tra ban đầu các vụ án giết người
để xác định việc áp dụng các biện pháp truy tìm thủ phạm
Trang 30
Khám nghiệm tử thi là biện pháp điều tra phải được tiến hành đồng thời với biện pháp khám nghiệm hiện trường với mục đích tìm ra dấu vết của tội phạm trên thi thể nạn nhân Biện pháp này phải được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định để đảm bảo cho việc sử dụng chứng cứ trong quá trình tiến hành
tố tụng đối với vụ án Kết quả công tác khám nghiệm tử thi còn phục vụ tốt cho công tác truy tìm thủ phạm Khi tiến hành khám nghiệm cần phải tỉ mỉ, thận trọng, khách quan để thu thập hết, chính xác các dấu vết; phải chú ý đến các dấu vết cơ học, sinh học làm cơ sở cho công tác xác định nguyên nhân chết, hướng điều tra, xây dựng giả
thuyết điều tra
Về tên của dấu vết cần ghi rõ đó là dấu vết gì: Là vân tay, vết máu, vết cày, vết cạy phá, dấu chân, dấu tay, dấu giày dép Tên của dấu vết phải được ghi rõ trong biên bản Trường hợp khó đặt tên dấu vết ngắn gọn thì phải mô tả cụ thể về dấu vết nhưng phải phản ánh được nội dung chủ yếu, cơ bản
Về đặc điểm của dấu vết: Cần mô tả các nội dung đặc điểm về hình dáng, kích thước, màu sắc và các đặc điểm khác của dấu vết để phục vụ tốt cho công tác giám định làm rõ nguyên nhân chết của nạn nhân
Thứ hai, đối với vật chứng trong vụ án giết người
Khi thu thập vật chứng trong mọi trường hợp đều phải ghi cụ thể trong biên bản thu giữ các nội dung sau:
Tên của vật là gì (con dao, khẩu súng, hay công cụ phương tiện khác) nếu là
mô tô xe máy, thì phải ghi rõ biển số, số khung, số máy Trường hợp vật chứng không phải là những vật thông dụng, khó đặt tên, thì có thể đặt tên dạng mô tả đặc điểm, hình dạng, kích thước, màu sắc
Đặc điểm của vật, tùy từng loại vật cụ thể mà có cách mô tả khác nhau, nhưng nhìn chung trong quá trình mô tả phải thể hiện được các nội dung: Số lượng, chất lượng, trọng lượng, khối lượng, hình dạng kích thước, màu sắc, mùi vị, tính nguyên vẹn và trạng thái của vật Những dấu vết của tội phạm để lại trên vật chứng
Trang 31
Trường hợp trên vật chứng có nhiều dấu vết thì phải mô tả từng dấu vết theo nội dung củng cố từng dấu vết đã nêu trên Phải mô tả cụ thể, chi tiết từng dấu vết, kích thước của dấu vết, màu sắc của dấu vết, chiều hướng của dấu vết
Địa điểm tìm thấy vật: Địa điểm tìm thấy vật và cách thức cất giấu liên quan chặt chẽ tới giá trị chứng minh của chứng cứ, giá trị pháp lý của chứng cứ, làm phát sinh căn cứ pháp lý để tiến hành các hoạt động tố tụng khác
Thứ ba, đối với những tài liệu, thông tin phản ánh về nhân thân và thông tin
các mối quan hệ của đối tượng giết người; nạn nhân trong vụ án giết người… và những loại tài liệu khác có ý nghĩa trong quá trình điều tra vụ án giết người
2.2.1.2 Đánh giá chứng cứ trong điều tra vụ án giết người
Thực tế cho thấy, việc đánh giá chứng cứ chính xác, khách quan, toàn diện phụ thuộc rất nhiều vào trình độ, năng lực của người tiến hành tố tụng, dựa vào khả năng nhận thức đúng về bản chất của vụ việc, bản chất của chứng cứ trong vụ việc đó để vận dụng linh hoạt các biện pháp đánh giá, sử dụng chứng cứ vào quá trình chứng minh sự thật khách quan của vụ án
Do đó, đánh giá chứng cứ trong tố tụng hình sự là hoạt động nhận thức, tư duy logic của các chủ thể tiến hành tố tụng trên cơ sở vận dụng các quy định của pháp luật nhằm xác định giá trị của từng chứng cứ và tổng thể các chứng cứ thu thập được để rút ra kết luận về vụ án
Điều 108 BLTTHS năm 2015 quy định như sau:
“1 Mỗi chứng cứ phải được kiểm tra, đánh giá để xác định tính hợp pháp, xác thực và liên quan đến vụ án Việc xác định những chứng cứ thu thập được phải bảo đảm đủ để giải quyết vụ án hình sự
2 Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện mọi chứng cứ đã thu thập được về vụ án”
Các chứng cứ được thu thập được trong quá trình điều tra vụ án giết người phải liên quan đến vụ án, đều phải được đánh giá riêng biệt và tổng thể; có như vậy
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án mới giải quyết được vụ án giết người Phân
Trang 32Tổng hợp chứng cứ trong vụ án giết người là rút ra kết luận từ các chứng cứ
đã được thu thập về vụ án, từ việc xác định dựa trên cơ sở của tất cả các chứng cứ, các sự kiện và các tình tiết của vụ án đang được điều tra và giải quyết Từ đó xác định đối tượng giết người, nguyên nhân chết người…
Việc kiểm tra, đánh giá chứng cứ có ý nghĩa quyết định đối với việc giải quyết
vụ án hình sự nói chung và vụ án giết người nói riêng Đó chính là trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như những người tiến hành tố tụng
Khi tiến hành đánh giá chứng cứ trong vụ án giết người phải tuân thủ các nguyên tắc sau: Nguyên tắc khách quan, toàn diện và đầy đủ khi xem xét đánh giá chứng cứ Tiêu chuẩn để đánh giá chứng cứ là thực tế khách quan vụ án đã xảy ra Trong trường hợp có nhiều chứng cứ thu được phản ánh những thông tin trái ngược nhau thì phải căn cứ vào thực tế khách quan để xem xét, đánh giá mà không định trước giá trị của bất kỳ chứng cứ nào
Trong hoạt động xét xử, việc xác định và đánh giá các chứng cứ tại phiên tòa được thực hiện theo nguyên tắc này nhằm đảo bảo cho Hội đồng xét xử thực sự độc lập trong việc xác định sự thật của vụ án để quyết định hình phạt mà không phụ thuộc vào các quan điểm đánh giá chứng cứ của vụ án trong các giai đoạn trước đó như khởi tố, điều tra, truy tố
Nguyên tắc đánh giá chứng cứ trong mối quan hệ tổng thể các vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự Thực hiện nguyên tắc này trong trường hợp khi có một vấn đề nào đó đang tồn tại đủ chi phối toàn bộ quá trình bao gồm nhiều vấn đề khác nhau thì ta không cần chứng minh thêm vấn đề khác nữa
Nguyên tắc giải thích sự nghi ngờ theo hướng có lợi cho bị can, bị cáo Mọi quyết định TTHS phải được dựa trên những căn cứ đầy đủ và chính xác Tuy nhiên,
Trang 33
trong những trường hợp nhất định, do những yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến quá trình làm sáng tỏ sự thật của vụ án, cơ quan tiến hành tố tụng hình sự chỉ thu thập được một số tài liệu, chứng cứ nhất định mà khi đánh giá những chứng đó thì không đưa ra được kết luận dứt khoát mà chỉ đưa ra được một nhận định có tính nghi ngờ
về bị can, bị cáo Khi đó, cần áp dụng nguyên tắc này để loại trừ khả năng có thể làm oan người vô tội Tuy vậy, không phải cứ có sự nghi ngờ thì lập tức áp dụng nguyên tắc này mà chỉ áp dụng khi điều nghi ngờ không thể làm rõ được nữa vì không còn
cơ sở xác minh, không thể xác minh được, không còn thời hạn do luật quy định…
Đánh giá chứng cứ có vai trò quan trọng trong hoạt động TTHS, có ý nghĩa quan trọng trong việc chứng minh tội phạm, người phạm tội và giải quyết các VAHS Kiểm tra, đánh giá chứng cứ là cơ sở quan trọng cho hoạt động thu thập, kiểm tra, sử dụng chứng cứ; kiểm tra, đánh giá chứng cứ có vai trò quan trọng trong việc xác định
sự thật khách quan của vụ án; đánh giá chứng cứ là căn cứ để đi đến kết luận và ra quyết định giải quyết thực chất vụ án hình sự
2.2.1.3 Sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người
Để việc sử dụng chứng cứ trong vụ án giết người đạt được mục đích, dựa trên
cơ sở, yêu cầu của pháp luật và thực tiễn tiến hành hoạt động chứng minh trong vụ
án giết người, chủ thể tiến hành tố tụng cần phải quán triệt và thực hiện một số vấn
đề mang tính nguyên tắc trong sử dụng chứng cứ như: Sử dụng chứng cứ phải tuân thủ nguyên tắc khách quan, toàn diện và đầy đủ trong tố tụng hình sự Chỉ sử dụng các chứng cứ được phát hiện, thu thập theo đúng quy định của pháp luật tố tụng hình
sự, và các chứng cứ đó phải được kiểm tra đầy đủ, bảo đảm ba thuộc tính của chứng
cứ và phải phù hợp với thực tế khách quan Trong quá trình tiến hành tố tụng, không chỉ cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được sử dụng chứng cứ vào quá trình chứng minh tội phạm mà tất cả những người tham gia tố tụng, các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân đều có quyền đưa ra chứng cứ, sử dụng
chứng cứ nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án
Theo khoa học điều tra hình sự, việc sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người thường gắn vào các mục đích cơ bản sau đây:
Trang 34+ Căn cứ vào chứng cứ đã thu thập được để áp dụng các biện pháp ngăn chặn: Điều tra viên tiến hành kiểm tra đánh giá lại toàn bộ tài liệu, chứng cứ của vụ án, đối chiếu với những vấn đề cần chứng minh trong vụ án giết người để khởi tố hay không khởi
tố vụ án, bị can và các biện pháp khác như bắt hay khám xét…
+ Chứng cứ là cơ sở quan trọng để tổ chức tiến hành các biện pháp điều tra trong quá trình điều tra vụ án giết người: Trên cơ sở phân tích, đánh giá, tổng hợp những tài liệu đã thu thập được, CQĐT đưa ra các giả thuyết sau về vụ án giết người như: Vụ án xảy ra bắt nguồn từ động cơ, mục đích nào? Thời gian xảy ra vụ án? Nơi phát hiện tử thi có phải là nơi xảy ra vụ án hay là nơi giấu xác nạn nhân? Vụ án có đồng phạm hay không? Giữa đối tượng và nạn nhân có mối quan hệ không? Đối tượng là người ở tại địa phương hay nơi khác đến, mức độ am hiểu địa điểm gây án
ra sao? Đặc điểm tâm sinh lý đối tượng? Hướng đến và rút khỏi hiện trường của thủ phạm? Đối tượng có bị thương hay trầy xước gì không? Diễn biến vụ án theo chiều hướng nào? Nạn nhân có chống cự lại thủ phạm hay không? Thủ đoạn gây án? Hung khí mà đối tượng đã sử dụng? Tài sản có thể bị chiếm đoạt? Đặc điểm và giá trị của các tài sản đó? Nạn nhân là ai?
Trên cơ sở giả thuyết điều tra, điều tra viên dự kiến những biện pháp điều tra
và biện pháp khác hỗ trợ cho các biện pháp điều tra để kiểm tra từng giả thuyết Cùng với việc đưa ra các biện pháp cần xác định lực lượng, phương tiện nghiệp vụ và các yêu cầu cần thiết cho việc thực hiện kế hoạch
Kế hoạch phải xác định tính khẩn trương kịp thời khi tiến hành biện pháp cấp bách vì nếu chậm trễ sẽ bị mất thông tin, bỏ lỡ cơ hội khám phá vụ án, đối tượng có thể sẽ bỏ trốn, gây khó khăn cho công tác điều tra
Trang 35
+ Chứng cứ còn là cơ sở quan trọng để CQĐT đưa ra kết luận điều tra vụ án giết người và là căn cứ quan trọng để ra quyết định truy tố hoặc không truy tố bị can trong vụ án giết người
Trong bản kết luận điều tra cần nêu diễn biến của vụ án giết người, nêu những chứng cứ dùng để chứng minh hành vi phạm tội giết người, nêu những ý kiến đề xuất giải quyết vụ án và bị can cùng với lý do và căn cứ đưa ra đề xuất đó
Tóm lại, việc thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong các vụ án giết người luôn phải đảm bảo tính khách quan, toàn diện, tổng hợp Và những chứng cứ ấy là cơ
sở quan trọng để giải quyết vụ án, giúp cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử có định hướng; nhanh chóng, đạt hiệu quả cao; tránh việc tiến hành các hoạt động tố tụng hình sự một cách tùy tiện, tràn lan
2.2 Thực tiễn hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người tại Bình Phước
2.2.1 Tình hình tội giết người trên địa bàn tỉnh Bình Phước từ năm 2014 đến năm 2018
Cùng với sự quyết liệt của các cấp có thẩm quyền, trong những năm qua, Công
an tỉnh Bình Phước đã mở nhiều đợt tấn công trấn áp các loại tội phạm, không ngừng tuyên truyền, vận động nhân dân nâng cao ý thức, trách nhiệm trong việc phòng ngừa
và đấu tranh với các loại tội phạm nhưng hiệu quả chưa cao Tình hình phạm pháp hình sự nói chung trên địa bàn toàn tỉnh có chiếu hướng diễn biến phức tạp cả về số
vụ phạm tội lẫn tính chất, mức độ phạm tội (bảng 2.1 – Phần phụ lục) Đặc biệt một
số loại tội phạm như giết người, giết người cướp tài sản, giết người hiếp dâm, trộm cắp… ngày càng có chiều hướng diễn biến phức tạp hơn, nghiêm trọng nhất vẫn là tội giết người
Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước từ năm 2014 đến năm 2018 TAND tỉnh xét xử 126 vụ án giết người với 226 bị cáo trong tổng số 5001
vụ với 9605 bị cáo chiếm tỷ lệ 2,5 % số vụ và 2,4 % số bị cáo mà Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước đã xét xử [Bảng 2.2 – Phần phụ lục] Điều đó cho thấy sự diễn biến phức tạp của loại tội phạm này
Trang 36Năm 2014 xét xử 27 vụ án giết người với 36 bị cáo
Năm 2015 xét xử 21 vụ án giết người với 64 bị cáo, giảm 6 vụ (=22,2), tăng
28 bị cáo (= 77,8%) so với năm 2014;
Năm 2016 xét xử 33 vụ án giết người với 54 bị cáo, tăng 12 vụ (=57,1%), giảm
10 bị cáo (=15,6%); so với năm 2015;
Năm 2017 xét xử 26 vụ án giết người với 36 bị cáo, tăng 07 vụ (=21,2%), giảm
18 bị cáo (=33,3%); so với năm 2016;
Năm 2018 xét xử 19 vụ án giết người với 24 bị cáo, giảm 7 vụ (=26,9%), giảm
12 bị cáo (=33,3%) so với năm 2011;
[Xem bảng 2.1 – Phần Phụ lục]
Qua phân tích số liệu trên của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước cho thấy: trong những năm qua số vụ án giết người trên địa bàn tỉnh được đưa ra xét xử có năm tăng, có năm giảm nhưng sự tăng giảm lại không đều nhau cả về số vụ và số bị cáo cho thấy sự phức tạp của loại tội phạm này Đặc biệt, trong các vụ án giết người trên địa bàn tình có sự xuất hiện của nhiều phương thức, thủ đoạn gây án tinh vi, táo báo, trắng trợn và gây ra hậu quả đặc biệ lớn cho xã hội cũng như gia đình các nạn nhân… Qua đó cũng cho thấy nếu có những biện pháp phòng ngừa, biện pháp điều tra hiệu quả đối với tội phạm này sẽ góp phần lớn vào việc làm giảm tội phạm giết người trên địa bàn tỉnh Bình Phước
2.2.2 Thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người tại Bình Phước giai đoạn 2014 – 2018
2.2.2.1 Tình hình, kết quả thu thập chứng cứ trong điều tra vụ án giết người tại Bình Phước giai đoạn 2014 – 2018
Trong thực tế khi vụ án giết người xảy ra, các cơ quan tố tụng có trách nhiệm
Trang 37Là một giai đoạn độc lập của quá trình tố tụng hình sự, quá trình điều tra vụ
án giết người được tiến hành theo trình tự tố tụng hình sự Để chứng minh vụ án giết người, các cơ quan tiến hành tố tụng mà cụ thể nhất là cơ quan điều tra cần phải áp dụng những biện pháp, phương pháp được pháp luật quy định, để phát hiện, mô tả và thu lượm những thông tin, đồ vật, tài liệu hay nói cách khác là để thu thập chứng cứ… theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ đã được Bộ luật TTHS đã quy định, từ đó có những căn cứ chắc chắn để chứng minh làm rõ sự thật của vụ án giết người
Quá trình thu thập chứng cứ trong điều tra vụ án giết người trên địa bàn tỉnh Bình Phước được lực lượng Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Phước tiến hành thông qua các bước sau đây:
- Thu thập chứng cứ thông qua thông qua phát hiện, tiếp nhận tố giác, tin báo
về tội phạm giết người
Từ thực tiễn điều tra tội giết người trên địa bàn tỉnh Bình Phước cho thấy, hoạt động tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm được tiến hành tương đối đầy đủ, cơ bản đảm bảo tuân thủ các quy định về thủ tục, quy trình theo Bộ luật TTHS và Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 02 tháng 8 năm 2013 của BCA, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Viện kiểm sát nhân dân tối cao về hướng dẫn thi hành quy định của
Bộ luật TTHS về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; Quyết định 1319/QĐ-BCA-C41 ngày 20 tháng 3 năm 2015 của Bộ Công an ban hành Quy trình tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố trong Công an nhân dân; Thông tư số 28/2014/TT-BCA ngày 07/07/2014 của Bộ
Trang 38
Công an quy định về công tác điều tra hình sự trong Công an nhân dân và hiện nay là Thông tư liên tịch số 01/BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 29/12/2017 quy định việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố Qua nghiên cứu hồ sơ 85 vụ trong tổng số 126 vụ án giết người đã được Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử từ năm 2014 đến 2018 trên địa bàn tỉnh Bình Phước cho thấy, thông tin tố giác, tin báo về tội phạm giết người chủ yếu từ các nguồn sau: Thông qua tố giác, tố cáo của cá nhân, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp chiếm số lượng lớn, chiếm 72/85 vụ (= 84,7%) Tuy nhiên, qua quá trình trực tiếp, nghiên cứu và trao đổi với một số lãnh đạo, chỉ huy cũng như cán
bộ trực tiếp điều tra cho thấy, công tác tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm của lực lượng Công an vẫn còn một số tồn tại như: Khi tiếp nhận tin báo, một số cán bộ trực ban không vào sổ sách theo đúng quy định hoặc còn chậm trễ trong việc báo cáo lãnh đạo chỉ huy để phân công cán bộ điều tra xác minh, giải quyết tin báo; có nhiều trường hợp cán bộ điều tra vì nhiều lý do khác nhau nên quá trình tiếp nhận tố giác, tin báo còn lúng túng và mang tính hình thức, qua loa, đại khái, dẫn tới tình trạng chưa ghi nhận được những thông tin cơ bản, quan trọng về vụ án giết người dẫn đến nhiều khó khăn cho việc thu thập các chứng cứ trong giai đoạn tố tụng tiếp theo
- Thu thập chứng cứ thông qua hoạt động khám nghiệm hiện trường vụ án
giết người
Cơ sở thực tiễn của hoạt động thu thập chứng cứ thông qua hoạt động khám nghiệm hiện trường vụ án giết người là việc tổ chức, phân công, phối kết hợp giữa các lực lượng có liên quan đến công tác điều tra án giết người trong quá trình thực hiện việc phát hiện, thu thập và khai thác dấu vết hình sự khi khám nghiệm hiện trường, mà cụ thể là sự phân công phối hợp giữa các lực lượng khi tham gia công tác khám nghiệm hiện trường và trong việc giám định chứng cứ thu được thông qua quá trình khám nghiệm
Khi khám nghiệm hiện trường vụ án giết người, lực lượng khám nghiệm hiện trường Công an tỉnh Bình Phước tiến hành khám nghiệm theo sự chủ trì của Điều tra
Trang 39
viên được phân công của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an tỉnh Bình Phước và có sự giám sát của kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước Tất cả những dấu vết, vật chứng được phát hiện ở hiện trường thì lực lượng khám nghiệm hiện trường tiến hành chụp ảnh, đo đạc, thu giữ, niêm phong rồi giao lại cho Điều tra viên chủ trì Riêng biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường và bản ảnh hiện trường không được thông qua ngay sau khi kết thúc khám nghiệm mà phải chờ lực lượng khám nghiệm hoàn thành và bổ sung sau
Kết quả thực tế nghiên cứu hồ sơ 85 vụ án giết người xảy ra trên địa bàn tỉnh Bình Phước từ năm 2014 đến năm 2018 cho thấy, 100% các vụ án giết người đều được tiến hành khám nghiệm hiện trường Các loại hiện trường như hiện trường nơi
vụ án xảy ra, hiện trường nơi phát hiện xác nạn nhân… đều được khám nghiệm một cách đầy đủ ĐTV của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội chủ trì khám nghiệm hiện trường, phân công ĐTV cấp quận, huyện và cán bộ điều tra được phân công đi cùng lấy lời khai người bị hại, nhân chứng và những người có liên quan (nếu có), thu thập thông tin từ các dấu vết, vật chứng của vụ án, phối hợp với lực lượng kỹ thuật hình sự trong việc thu thập các dấu vết, tài liệu thu được ở hiện trường vụ án Lực lượng Kỹ thuật hình sự cùng với ĐTV tiến hành khám nghiệm hiện trường phát hiện, ghi nhận, thu lượm, bảo quản và đánh giá các dấu vết, vật chứng tồn tại ở hiện trường, chụp ảnh, vẽ sơ đồ hiện trường, viết biên bản khám nghiệm hiện trường, tiến hành giải phẫu tử thi (do bác sỹ pháp y tiến hành), viết biên bản khám nghiệm tử thi
Thực tiễn trao đổi với một số ĐTV là những người đã từng trực tiếp chủ trì khám nghiệm hiện trường các vụ án giết người và các ĐTV cùng tham gia cho thấy công tác thu thập chứng cứ thông qua hoạt động khám nghiệm hiện trường của lực lượng Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Phước còn những tồn tại như: Lực lượng ĐTV, kỹ thuật hình sự có mặt tại hiện trường chậm nên không thu thập được hết các thông tin cần thiết cho việc xác định thủ phạm; sự phối hợp giữa ĐTV, cán bộ khám nghiệm hiện trường còn chưa chặt chẽ, nhất là trong việc trao đổi thông tin, kiểm tra, xác minh nhanh các chứng cứ (chủ yếu là dấu vết, đồ vật, tài liệu…) thu được tại hiện trường giá trị chứng minh nhanh thủ phạm không, hướng truy bắt thủ phạm…; một