1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thủ tục phúc thẩm trong giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại từ thực tiễn tòa án nhân dân tỉnh vĩnh phúc

78 144 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 739,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những lý do trên, em đã quyết định chọn đề tài “Thủ tục phúc thẩm trong giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại từ thực tiễn tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc” làm đề tài tốt nghiệp

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

THỦ TỤC PHÚC THẨM TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN

KINH DOANH THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

HỌ VÀ TÊN TÁC GIẢ LUẬN VĂN: TRẦN MINH CHÂU

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

MÃ SỐ: 8380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN PHƯƠNG THẢO

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học rất nghiêm túc của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trong Luận văn chưa được công bố bởi bất

kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn là đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trần Minh Châu

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn sự giảng dạy nhiệt tình của các thầy cô giáo Trường Đại học Mở Hà Nội Tôi xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Trần Phương Thảo đã dành nhiều thời gian, tâm huyết, tận tình hướng dẫn, góp ý và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp này

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn lãnh đạo và các cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã tạo điều kiện và hỗ trợ tôi về tài liệu vụ việc thực tế, số liệu thống kê có giá trị trong quá trình nghiên cứu của tôi

Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn

Học viên

Trần Minh Châu

Trang 4

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

- BLTTDS: Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

- HĐXX: Hội đồng xét xử

- TAND: Tòa án nhân dân

- TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao

- KDTM: Kinh doanh thương mại

- VAKDTM: Vụ án kinh doanh, thương mại

- PLTTDS: Pháp luật tố tụng dân sự

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 3

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 8

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của công trình nghiên cứu 8

7 Cơ cấu của luận văn 9

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ THỦ TỤC PHÚC THẨM TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN KINH DOANH, THƯƠNG MẠI 10

1.1 Những vấn đề lý luận về thủ tục phúc thẩm trong giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại 10

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của thủ tục phúc thẩm trong giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại 10

1.1.2 Cơ sở của việc quy định về thủ tục phúc thẩm trong giải quyết vụ án kinh doanh thương mại 20

1.1.3 Các yếu tố chi phối đến hiệu quả của thủ tục phúc thẩm giải quyết vụ án kinh doanh thương mại 22

1.2 Quy định của Bộ luật tố tụng dân sự Việt nam năm 2015 về thủ tục phúc thẩm trong giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại 24

1.2.1 Kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm 24

1.2.2 Chuẩn bị xét xử phúc thẩm 29

1.2.3 Xét xử phúc thẩm 31

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG THỦ TỤC PHÚC THẨM VỤ ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA THỦ TỤC PHÚC THẨM VỤ ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI 38

2.1 Khái quát về Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh phúc 38

Trang 6

2.2 Thực tiễn thực hiện thủ tục phúc thẩm vụ án kinh doanh thương mại tại tỉnh Vĩnh Phúc 39 2.2.1 Những kết quả đạt được 39 2.2.2 Những tồn tại, hạn chế khi thực hiện thủ tục phúc thẩm để giải quyết các vụ

án kinh doanh thương mại 45 2.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của thủ tục phúc thẩm vụ án kinh doanh thương mại 56 2.3.1 Tiếp tục hoàn thiện một số quy định của pháp luật tố tụng dân sự về thủ tục phúc thẩm 56 2.3.2 Kiến nghị về thực hiện pháp luật 64

KẾT LUẬN 69

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Xét xử các tranh chấp trong đó có có tranh chấp kinh doanh thương mại

(KDTM) tại tòa án là một phương thức giải quyết tranh chấp “phản án một cách đầy đủ và sâu sắc nhất bản chất của một nền công lý, biểu hiện tập trung của quyền

tư pháp”1 Tuy nhiên thực tiễn xét xử cho thấy có thể do một nguyên nhân khách

quan nào đó hoặc do “xét xử là hoạt động dựa trên tư duy của các thẩm phán và chỉ diễn ra trong một thời gian nhất định”2 mà trong một số trường hợp việc xét xử của tòa án là chưa hoàn toàn đúng đắn, phù hợp, dẫn đến chưa bảo vệ đúng hoặc chưa bảo vệ đầy đủ các quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ tranh chấp Vì thế pháp luật cần phải đưa ra và ghi nhận những giải pháp hợp lý để sửa chữa, khắc phục những thực tế đó Một giải pháp được đánh giá là rất hợp lý, hiệu quả, bảo đảm cao nhất quyền con người, quyền công dân là tòa án cấp trên sẽ xét xử lại những vụ án đã được xét xử trước đó khi bản án quyết định đã tuyên không được chấp nhận, bị kháng cáo, kháng nghị Trong tố tụng dân sự, việc xét xử lại đó được gọi là thủ tục phúc thẩm và trong pháp luật tố tụng dân sự được gọi là chế định phúc thẩm dân sự

Ở Việt nam, phúc thẩm là cấp xét xử thứ hai, được thực hiện sau cấp xét xử sơ thẩm khi có kháng cáo hoặc kháng nghị về bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực Thủ tục này được ghi nhận trong pháp luật tố tụng dân sự trên cơ sở của nguyên tắc bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm3, với nhiệm vụ rất quan trọng là khắc phục sai lầm nếu có của bản án, quyết định sơ thẩm, bảo đảm bản án, quyết định khi

có hiệu lực, được đưa ra thi hành phải là bản án, quyết định đúng đắn Để xét xử phúc thẩm được thì trước đó tòa án cấp phúc thẩm đã phải thực hiện xong tất cả các hoạt động chuẩn bị xét xử phúc thẩm Việc chuẩn bị xét xử phúc thẩm chỉ được thực hiện sau khi đã có thủ tục thụ lý phúc thẩm của tòa án có thẩm quyền phúc

Trang 8

thẩm Thủ tục thụ lý này được thực hiện dựa trên căn cứ pháp lý hợp pháp là có đơn kháng cáo, có văn bản kháng nghị yêu cầu tòa án phúc thẩm xét xử lại vụ án đã được xét xử sơ thẩm Như vậy, thủ tục phúc thẩm dân sự bao gồmmột trình tự các thủ tụctiếp nối nhau, từ kháng cáo, kháng nghị đến thụ lý đơn kháng cáo, kháng nghị, đến chuẩn bị xét xử phúc thẩm và đến xét xử phúc thẩm Các thủ tục này được thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự

Ở Việt Nam, ngay từ sau khi nước Việt Nam tuyên bố độc lập, trong các văn bản của nhà nước ta đã có những quy định ban đầu về trình tự thủ tục phúc thẩm vụ

án dân sự Vụ án dân sự được hiểu theo nghĩa rộng, chỉ không bao gồm những vụ

án hình sự và hành chính, còn lại bao gồm các vụ án phát sinh từ các quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, KDTM và lao động Sau khi thực hiện chính sách đổi mới, tăng cường phát triển kinh tế quốc tếthì các quan hệ pháp luật KDTM phát sinh ngày càng nhiều, dẫn đến các tranh chấp KDTM được giải quyết tại tòa án ngày càng lớn, tỷ lệ các vụ KDTM phải xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm ngày càng cao Nhận thức được thực tế đó, nhận thức được vai trò quan trọng của các hoạt động KDTM trong việc phát triển kinh tế, nhà nước ta đã rất chú trọng công tác xây dựng các văn bản pháp luật tố tụng dân sự, trong đó có quy định về thủ tục phúc thẩm để tạo nền tảng pháp lý hiệu quả nhằm giải quyết triệt để, kịp thời các tranh chấp KDTM Năm 2004, lần đầu tiên Việt nam ban hành Bộ luật tố tụng dân sự Không thể phủ nhận là văn bản pháp luật tố tụng dân sự này đã thể hiện một bước tiến mới trong hoạt động lập pháp của Việt Nam về lĩnh vực xây dựng pháp luật tố tụng dân sự, nhưng vì lần đầu tiên xây dựng nên chúng ta không thể tránh được những thiếu sót, hạn chế nhất định Vì thế, năm 2011, Việt Nam đã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2004, theo đó nhiều nội dung đã được sửa đổi, bổ sung Tuy nhiên như đã xác định từ ban đầu, việc ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2004 chỉ là giải pháp tạm thời, còn giải pháp tổng thể là phải xây dựng lại Bộ luật tố tụng dân sự Vì thế đến năm 2015 Việt nam ban hành BLTTDS năm 2015 Cũng như các tranh chấp dân sự khác, từ

đó đến nay việc giải quyết các tranh chấp KDTM theo thủ tục sơ thẩm hay phúc thẩm đều được dựa vào BLTTDS năm 2015 Tuy nhiên do thực tiễn phát triển đa

Trang 9

dạng, phức tạp của đời sống xã hội nói chung, của các quan hệ KDTM nói riêng nên một số quy định của BLTTDS năm 2015, trong đó có quy định về phúc thẩm vẫn bộc lộ những vướng mắc, bất cập nhất định Những vướng mắc, bất cập này phải được khắc phục thì Việt Nam mới tự tin phát triển tốt các quan hệ kinh tế quốc tế,

từ đó mới tự tin trên trường quốc tế Là một công dân Việt Nam, công tác trong ngành kiểm sát, hơn nữa lại là một học viên cao học luật, em nhận thức rất rõ vai trò của pháp luật nói chung đối với việc phát triển kinh tế đất nước, ý nghĩa của thủ tục phúc thẩm nói riêng trong việc giải quyết vụ án KDTM, vì thế em luôn quan tâm nghiên cứu để nhằm phát hiện những hạn chế, vướng mắc của pháp luật về thủ tục phúc thẩm, từ đó tìm ra những giải pháp để khắc phục Ngoài mối quan tâm trên, do hiện tại em đang sinh sống và công tác tại tỉnh Vĩnh Phúc nên em luôn quan sát việc

áp dụng pháp luật để giải quyết các vụ án KDTM, đặc biệt là áp dụng thủ tục phúc thẩm dân sự tại địa phương mình Với những lý do trên, em đã quyết định chọn đề

tài “Thủ tục phúc thẩm trong giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại từ thực tiễn tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc” làm đề tài tốt nghiệp thạc sĩ Luật học

của mình.Đây là một đề tài có tính cấp thiết, hướng tới thực hiện một trong những mục tiêu của cải cách tư pháp được đề ra trong Nghị quyết 49-NQ/TƯ ngày 2/6/2005 của Bộ chính trị, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa IX về Chiến lược

cải cách tư pháp đến năm 2020 “tiếp tục hoàn thiện thủ tục tố tụng dân sự…; bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người”4

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Là một nội dung cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự, thủ tục phúc thẩm dân

sự nói chung, thủ tục phúc thẩm vụ án KDTM phát sinh tại Tòa án nói riêng luôn là một vấn đề nghiên cứu khoa học Luật tố tụng dân sự, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Ở nước ta trong thời gian qua đã có khá nhiều công trình nghiên cứu đề cập với các mức độ khác nhau, có liên quan đến một hoặc một vài khía cạnh của vấn đề này Có thể kể đến những công trình nghiên cứu tiêu biểu như:

4 Đảng cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết 49-NQ/TƯ ngày 2/6/2005 của Bộ chính trị, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa IX về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020

Trang 10

- Những công trình nghiên cứu cấp Bộ, ví dụ “Những quan điểm cơ bản về BLTTDS Việt nam” do Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia thực hiện năm 2001 hay “Thực trạng hoạt động xét xử phúc thẩm và giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động xét xử phúc thẩm của các tòa phúc thẩm tòa án nhân dân tối cao” của TANDTC thực hiện năm 2006 Đây là những công trình nghiên cứu cách đây nhiều năm, đề cập đến một số khía cạnh về thủ tục phúc thẩm dân sự nhưng cho đến nay một số kết quả nghiên cứu trong đó vẫn là những tư liệu nghiên cứu rất đáng quý, vẫn có thể tham khảo khi nghiên cứu về thủ tục phúc thẩm dân sự

- Những công trình nghiên cứu khoa học cấp trườngđược thực hiện khá thành công, trong đó có nghiên cứu về thủ tục phúc thẩm dânn sự tại các trường Đại học đào tạo về luật như Đại học Luật Hà Nội, ví dụ đề tài“Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thủ tục giải quyết vụ việc dân sự theo yêu cầu cải cách tư pháp” do TS.Trần Anh Tuấn làm chủ nhiệm đề tài năm 2010, đề tài“Bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tố tụng dân sự” doTS Nguyễn Thị Thu Hà làm chủ nhiệm đề tài năm 2017; “Bảo đảm quyền bình đẳng của đương sự trong tố tụng dân sự Việt nam”

do TS Trần Phương Thảo làm chủ nhiệm đề tài bảo vệ năm 2018 Mặc dù trong các công trình nghiên cứu này thủ tục phúc thẩm chỉ là một trong những nội dung nghiên cứu của đề tài nhưng các kết quả nghiên cứu này là những tài liệu nghiên cứu rất quan trọng cần được thu thập để nghiên cứu về thủ tục phúc thẩm dân sự

- Một số luận án, luận văn có đề cập đến thủ tục phúc thẩm như luận án tiến sĩ

“Phúc thẩm trong tố tụng dân sự Việt nam” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà, bảo vệ thành công tại trường Đại học Luật Hà Nội năm 2011; luận văn “Chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự” của tác giả Nguyễn Thị Thúy Hòa bảo vệ thành công năm

2010, luận văn “Kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm dân sự” của tác giả Phạm Xuân Duy bảo vệ thành công năm 2017 tại trường Đại học Luật Hà Nội…Đây là những công trình nghiên cứu nghiêm túc, có giá trị tham khảo về mặt

lý luận, giúp tác giả nghiên cứu một số nội dung của thủ tục phúc thẩm dân sự

- Các giáo trình, sách tham khảo của các trường đại học đào tạo luật có chứa đựng kết quả nghiên cứu liên quan đến thủ tục phúc thẩm dân sự như Giaó trình

Trang 11

Luật tố tụng dân sự của trường Đại học Luật Hà Nội, của Trường Đại học Mở Hà Nội, của Học viện tư pháp…Mặc dù trong các giáo trình này chỉ cung cấp được những kiến thức đại cương, cơ bản nhất về thủ tục phúc thẩm dân sự nhưng lại là những tài liệu nghiên cứu ban đầu không thể thiếu cho tác giả

- Các bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành như “Kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm dân sự của tác giả Trần Phương Thảo đăng trên tạp chí Luật học số đặc san góp ý Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004; “Về quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm dân sự của Viện kiểm sát” đăng trên tạp chí Luật học

số 11/2009, “Việc thay đổi, bổ sung kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm dân sự” đăng trên tạp chí Tòa án nhân dân số 8/2010, “Người có quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thqảm dân sự và trách nhiệm của người kháng cáo” đăng trên tạp chí Luật học số5/2014 và Những sửa đổi, bổ sung về kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong BLTTDS năm 2015” đăng trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 6/2016 của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà; “Phúc thẩm dân sự và vấn đề kháng cáo, kháng nghị bản án, quyết định cuar tòa án cấp sơ thẩm” của tác giả Duy Kiên đăng trên tạp chí Tòa án nhân dân số 15/2012; “Phạm vi xét xử phúc thẩm từ thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng thuê nhà ở” của tác giả Nguyễn Minh Hằng và tác giả Vũ thị Hồng Nguyên đăng trên tạp chí Kiểm sát số 18; “Thủ tục kháng cáo, kháng nghị theo quy định của BLTTDS năm 2015” của tác giả Vũ Hoàng Anh đăng trên tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 5 năm 2017…Các bài viết này có đề cập đến những khía cạnh khác nhau của thủ tục phúc thẩm dân sự nên là tài liệu tham khảo

để tác giả tiếp tục triển khai nghiên cứu sâu hơn, toàn diện hơn

Qua tham khảo các công trình nghiên cứu đã nêu trên, tác giả nhận thấy các công trình nghiên cứu trên mới chỉ nghiên cứu về đề tài thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự nói chung, chưa nghiên cứu chuyên sâu về thủ tục phúc thẩm vụ án KDTM Khi nghiên cứu về thủ tục phúc thẩm nói chung, các tác giả cũng đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về các nội dung liên quan, tuy nhiên nếu nhìn nhận một cách tổng thể thì các công trình trên đều chưa nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện về thủ tục phúc thẩm Đặc biệt một số công trình nghiên cứu chỉ tham khảo được các kiến thức về lý luận, còn phần quy định của pháp luật thì do các tác giả nghiên cứu

Trang 12

dựa trên BLTTDS năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011 nên đến nay không còn hiệu lực BLTTDS năm 2015 đã thay thế BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011)với rất nhiều điểm mới nên nhiều vấn đề về thủ tục phúc thẩm cần phải có góc

độ tiếp cận mới, cần phải nghiên cứu bổ sung Kế thừa thành quả nghiên cứu của các công trình khoa học trước đây về thủ tục phúc thẩm, luận văn của tác giả sẽ tiến hành phân tích, nghiên cứu toàn diện cả về lý luận và thực tiễn về thủ tục phúc thẩm

vụ án KDTM và đặc biệt tác giả sẽ đầu tư thời gian, kiến thức để tiến hành nghiên cứu rất nghiêm túc thực tiễn thủ tục phúc thẩm vụ án KDTM tại Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc trong thời gian gần đây để thấy được những hạn chế cần phải được khắc phục, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của thủ tục sơ thẩm giải quyết các vụ án KDTM tại Tòa án

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu:

Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản liên quan đến thủ tục phúc thẩm vụ án KDTM tại Tòa án như sáng tỏ những vấn đề lý luận về thủ tục phúc thẩm vụ án KDTM; nghiên cứu thực trạng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự nói chung, vụ án KDTM nói riêng và nghiên cứu thực tiễn giải quyết vụ án KDTM theo thủ tục phúc thẩm tại TAND tỉnh Vĩnh Phúc để trên cơ sở đó đưa ra được các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của thủ tục phúc thẩm vụ án KDTM từ thực tiễn thực của TAND tỉnh Vĩnh Phúc

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để đạt được các mục đích trên, luận văn cần tập trung vào các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Xây dựng được khái niệm, chỉ ra các đặc điểm, phân tích được ý nghĩa của thủ tục phúc thẩm vụ án KDTM; nêu được cơ sở của việc quy định thủ tục phúc thẩm vụ án KDTM, các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của thủ tục phúc vụ án KDTM tại Tòa án

Trang 13

- Phân tích được các quy định của BLTTDS năm 2015 về thủ tục phúc thẩm

vụ án KDTM

- Khảo sát, phân tích và đánh giá thực tiễn giải quyết các vụ án KDTM theo thủ tục phúc thẩm tại Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc để từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục phúc thẩm và một số giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả của thủ tục phúc thẩm tại các Tòa phúc thẩm nói chung, tại tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Luận văn có đối tượng nghiên cứu là thủ tục phúc thẩm vụ án KDTM và thực tiễn thực hiện thủ tục phúc thẩm VAKDTM tại Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, cụ thể là:

- Các vấn đề lý luận về thủ tục phúc thẩm vụ án KDTM

- Các văn bản pháp luật quy định về thủ tục tố tụng dân sự phúc thẩm dân sự qua các thời kỳ khác nhau, đặc biệt là các quy định về thủ tục phúc thẩm vụ án dân

sự của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

- Thực tiễn giải quyết các vụ án KDTM theo thủ tục phúc thẩm tại TAND tỉnh Vĩnh Phúc

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Thủ tục phúc thẩm có thể tiếp cận nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, tuy nhiên trong luận văn này tác giả chọn góc độ nghiên cứu chủ yếu là dưới góc độ pháp luật Với đề tài đã chọn, tác giả không nghiên cứu sâu các quy định của pháp luật nội dung về KDTM mà tập trung nghiên cứu về thủ tục phúc thẩm vụ án KDTM, cụ thể là là các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về giải quyết vụ án KDTM tại Tòa án theo thủ tục phúc thẩm dân sự

Trong luận văn này tác giả nghiên cứu về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án KDTM tại Tòa án theo thủ tục phúc thẩm thông thường mà không nghiên cứu về thủ tục phúc thẩm vụ án KDTM theo thủ tục rút gọn

Trang 14

Về thực tiễn thực hiện thủ tục phúc thẩm, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu thực tiễn thực hiện các quy định về thủ tục phúc thẩm vụ án KDTM tại TAND tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm gần đây, từ khi BLTTDS năm 2015 được ban hành đến năm 2018

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận:

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, các quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế đất nước nói chung, về phát triển các hoạt động KDTM nói riêng và về giải quyết vụ án dân sự nói chung và giải quyết tranh chấp KDTM nói riêng

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử như:

- Phương pháp phân tích, phương pháp bình luận, phương pháp tổng hợp, phương pháp lịch sử… được sử dụng trong chương 1 để nghiên cứu các vấn đề lý luậnvề thủ tục phúc thẩm các vụ án KDTM

- Phương pháp so sánh luật học, phương pháp đánh giá, phương pháp phân tích, phương pháp bình luận… cũng được sử dụng trong chương 1 để tìm hiểu các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về trình tự, thủ tục phúc thẩm giải quyết các vụ án KDTM tại Tòa án

- Phương pháp thống kê, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp quan sát… được sử dụng trong chương 2 để đánh giá thực trạng giải quyết tranh chấp KDTM theo thủ tục phúc thẩm tại TAND tỉnh Vĩnh Phúc, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về thủ tục phúc thẩm thẩm vụ án KDTM và một số giải pháp khác để nâng cao hiệu quả của thủ tục phúc thẩm vụ án KDTM

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của công trình nghiên cứu

6.1.Ý nghĩa lý luận:

Trang 15

Luận văn là công trình nghiên cứu toàn diện về thủ tục phúc thẩm vụ án KDTM tại Tòa án theo các quy định của BLTTDS năm 2015 Luận văn sẽ là một tài liệu góp phần củng cố, bổ sung thêm vào hệ thống các công trình nghiên cứu về vấn

đề giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án theo thủ tục phúc thẩm dân sự

6.2 Ý nghĩa thực tiễn:

Luận văn chỉ ra những bất cập, hạn chế trong những quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về thủ tục phúc thẩm giải quyết tranh chấp KDTM, từ đó có những kiến nghị, đề xuất giúp nâng cao hiệu quả của thủ tục sơ thẩm vụ án KDTM trên phạm vi toàn quốc nói chung và trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng Những kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị tham khảo đối với những người làm công tác nghiên cứu và áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án nhân dân Những kết luận, đề xuất mà luận văn nêu ra đều có cơ sở khoa học và thực tiễn nên có giá trị tham khảo trong thời gian tới trước yêu cầu phải sửa đổi, bổ sung pháp luật tố tụng dân sự cho phù hợp thực tiễn áp dụng

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu gồm 02 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về thủ tục phúc thẩm trong giải quyết vụ án KDTM

Chương 2: Thực tiễn giải quyết vụ án KDTM theo thủ tục phúc thẩm tại Tòa

án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của thủ tục phúc thẩm vụ án KDTM

Trang 16

CHƯƠNG 1:

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ THỦ TỤC PHÚC THẨM TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN KINH DOANH, THƯƠNG MẠI

1.1 Những vấn đề lý luận về thủ tục phúc thẩm trong giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của thủ tục phúc thẩm trong giải quyết

vụ án kinh doanh, thương mại

* Khái niệm

Nghiên cứu về thủ tục phúc thẩm trong giải quyết vụ án KDTM phải bắt đầu

từ việc xây dựng khái niệm về thủ tục phúc thẩm trong giải quyết vụ án KDTM Để xây dựng được khái niệm khoa họcnày thì trước hết phải giải thích được các khái niệm thành tố có liên quan như thế nào làvụ án, thế nào là vụ án KDTM,thế nào là thủ tục phúc thẩm vụ án KDTM

Trước hết là về khái niệm vụ án Lý luận về nhà nước và pháp luật đã chỉ ra

rằng con người là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội, là “thành viên của gia đình nhân loại”5 nên không thể không có các mối quan hệ xã hội nhằm phục vụ cho đời sống vật chất, tinh thần Trong quá trình thực hiện các quan hệ xã hội, mâu thuẫn, tranh chấp về quyền, lợi ích giữa người với người là không thể tránh khỏi, vẫn tồn tại như là một hiện tượng tất yếu.Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng, tranh chấp

được hiểu là “Giành giật, giằng co nhau cái không rõ thuộc về bên nào” hoặc được hiểu là “Bất đồng, trái ngược nhau”6 Còn trong nghiên cứu khoa học pháp lý, theo

Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, khái niệm tranh chấp trong các lĩnh vực dân

Trang 17

sự, kinh doanh, hợp đồng (được gọi chung là tranh chấp dân sự) thường được hiểu

là những mâu thuẫn, bất hòa về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự, ví dụ tranh chấp kinh doanh là những mâu thuẫn, bất đồng, xung đột giữa những chủ thể kinh doanh với nhau trong các hoạt động kinh

doanh, tranh chấp hợp đồng được hiểu “là những xung đột, bất đồng, mâu thuẫn giữa các bên về việc thực hiện hoặc không thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng”7 Trong tư tưởng lập pháp của Việt Nam về tố tụng dân sự, thuật ngữ dân sự nếu hiểu theo nghĩa rộng sẽ bao gồm tất cả các vụ việc phát sinh từ các quan

hệ dân sự, hôn nhân gia đình, KDTM và lao động và như vậy các quan hệ về KDTM là một phần của các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng, vụ việc về KDTM là một phần của vụ việc dân sự Nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì thuật ngữ dân sự chỉ là các quan hệ dân sự, các vụ việc dân sự khác với các quan hệ KDTM, hôn nhân gia đình và lao động, khác với các vụ việc về KDTM, vụ việc về hôn nhân và gia đình, lao động Khi có tranh chấp dân sự xảy ra, các bên tranh chấp sẽ lựa chọn một trong các phương thức phù hợp để giải quyết tranh chấp Một trong những phương thức giải quyết tranh chấp được pháp luật thừa nhận là yêu cầu tòa án giải quyết Khi tòa

án nhận giải quyết thì tranh chấp đó sẽ trở thành vụ án

Xác định được như trên thì khái niệm vụ án KDTM phải được xây dựng xuất phát từ khái niệm vụ án nói chung, tức là phải xuất phát từ đặc điểm cơ bản của vụ

án là có tranh chấp về quyền, lợi ích giữa các bên đương sự mà các bên đương sự trong vụ án KDTM là các bên là chủ thể trong quan hệ kinh doanh, thương mại Vụ

án KDTM trước hết “là tranh chấp KDTM, chứa đựng những bất đồng, xung đột về quyền, lợi ích giữa các bên chủ thể trong quá trình thực hiện các hoạt động thương mại”8 Khi các bên tranh chấp KDTM không thể tự giải quyết được mâu thuẫn, tranh chấp của mình thìcó thể họ sẽ có nhu cầu tìm đến bên thứ ba là nhà nước – với một thứ quyền lực riêng có là pháp luật để giải quyết vấn đề có tranh chấp, mâu

7 Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển Giải thích Thuật ngữ luật học, NXB.Công an nhân

dân, Hà Nội, trang 35

8 Nguyễn Hoàng Hải (2017), Hòa giải trong giải quyết tranh chấp thương mại từ thực tiễn tòa án

thành phố Hải Phòng, Luận văn thạc sĩ luật học, trang 7

Trang 18

thuẫn Trong bộ máy nhà nước của bất cứ quốc gia nào thì TAND cũng là cơ quan đại diện cho nhà nước giải quyết vấn đề có tranh chấp, mâu thuẫn Những mâu thuãn, tranh chấp KDTM khi đã được đem đến tòa ánđể yêu cầu giải quyết và được tòa án thụ lý, nhận vào giải quyết thì tranh chấp KDTM đó chính thức trở thành vụ

án KDTM Như vậy, vụ án KDTM có cơ sở hình thành từ tranh chấp về KDTM và tranh chấp KDTM phát sinh từ các quan hệ KDTM và là hệ quả tất yếu của hoạt động KDTM trong nền kinh tế thị trường

Vụ án KDTM so với các vụ án khác như vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, lao động thì có những đặc điểm khá khác biệt như vụ án KDTM phát sinh trực tiếp từ các quan hệ KDTM và luôn gắn liền với mục đích tìm lợi nhuận Chủ thể của các tranh chấp KDTM thường là chủ thể kinh doanh có tư cách thương nhân, có đăng

ký kinh doanh hoặc có tư cách của nhà kinh doanh, đã hoặc đang tiến hành các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi như mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, phân phối, đại lý, đại diện, ký gửi, thuê và cho thuê, đầu tư tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chuyển giao công nghệ… Lý do phát sinh tranh chấp KDTM giữa các chủ thể này thường là hành vi vi phạm hợp đồng KDTM hoặc vi phạm pháp luật thương mại

Khi có tranh chấp KDTM xảy ra thì việc giải quyết tranh chấp này bằng phương thức nào, giải quyết ra sao là do các bên tranh chấp KDTM tự lựa chọn định đoạt

Vụ án KDTM khá đa dạng9, thường mang yếu tố vật chất, có giá trị lớn và mục đích của các bên tranh chấp đều hướng tới việc tìm kiếm, bảo vệ lợi nhuận nên

so với các tranh chấp khác, vụ án KDTM thường có mức độ tranh chấp gay gắt hơn, tính chất của quan hệ pháp luật phức tạp hơn, thậm chí vụ án KDTM không được giải quyết kịp thời sẽ dẫn đến những tổn thất về mặt kinh tế không chỉ cho các bên tranh chấp mà còn gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của nền kinh tế địa phương hoặc lớn hơn là nền kinh tế quốc gia Vì thế, việc giải quyết vụ án KDTM nhằm loại

9 Theo Điều 30 BLTTDS năm 2015 sẽ bao gồm tranh chấp phát sinh trong hoạt động KDTM giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty, tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty

cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty

Trang 19

bỏ những mâu thuẫn, xung đột về mặt lợi ích kinh tế, từ đó bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của các chủ thể đòi hỏi phải đa dạng nhưng hiệu quả, nhanh chóng nhưng phải chính xác, khách quan Thực tiễn giải quyết các vụ án có chứa đựng tranh chấp KDTM cho thấy vụ án KDTM có thể được giải quyết bằng nhiều phương thức khác nhau như các bên tự thỏa thuận, các bên hòa giải với nhau thông qua bên thứ ba, các bên đồng ý giải quyết tại trọng tại thương mại theo cơ chế tài phán tư hoặc yêu cầu giải quyết tại Tòa án bằng cơ chế tài phán công Mỗi phương thưc giải quyết đều có những ưu điểm riêng song phương thức giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án (là vụ án KDTM khi đã được tòa án thụ lý) đã thể hiện được nhiều ưu điểm, được một hoặc các bên tranh chấp lựa chọn áp dụng ngày càng

nhiều

Giải quyết vụ án KDTM tại Toà án là hình thức giải quyết thông qua hoạt động của cơ quan tài phán của nhà nước có thẩm quyền Toà án với một đội ngũ Thẩm phán có kỹ năng nghề nghiệp cao, hoạt động của Tòa án độc lập với hệ thống

cơ quan quản lý và khi “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”10 nên hoạt động xét xử của Tòa án thường chính xác, công minh Tuy nhiên “một quyết định tư pháp, mặc dù đã có sự cố gắng của cơ quan tài phán

để xét xử cho đúng luật và công bằng có khi vẫn có nhầm lẫn hoặc bất minh”11 nên sau khiTòa án xét xử lần đầu (là thủ tục sơ thẩm) mà phán quyết của Tòa án bị kháng cáo, kháng nghị, yêu cầu xét xử lại thì tòa án cấp trên phải xét xử lại Thủ tục

xét xử lại này là thủ tục phúc thẩm, là thủ tục thể hiện cho cơ chế “xét xử vụ án theo nhiều cấp và tổ chức tòa án theo thứ bậc”12

Phúc thẩm là một thủ tục được áp dụng ngay từ thời La Mã cổ đại vì “các quyết định của các quan tòa cấp dưới đưa ra không phải lúc nào cũng có hiệu lực pháp luật, do vậy nếu các bên không thỏa mãn thì được quyền kháng cáo lên tòa án cấp trên”13 Thủ tục này ngày càng được hoàn thiện cùng với thời gian và dần trở

10 Điều 12 Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam năm 2015

11 Nguyễn Huy Đẩu (1962), Luật dân sự và tố tụng Việt Nam, xuất bản dưới sự bảo trợ của Bộ Tư pháp, trang 607

12 Phan Thanh Mai (2007), Giám đốc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Hà Nội, trang 12

13 Nguyễn Ngọc Đào (2000)Luật La Mã, NXB Đồng Nai, trang 254-258

Trang 20

thành giải pháp pháp lý hữu hiệu nhằm khắc phục sai lầm của tòa án cấp dưới Ở Việt Nam, giải thích về mặt ngôn ngữ thì trong Hán - Việt từ điển giải thích “phúc”

có nghĩa là “lật lại, úp lại, xét kỹ”14, “thẩm” có nghĩa là “xử đoán”15 Còn Từ điển

tiếng Việt thì giải thích rõ hơn, theo đó phúc thẩm là “Tòa án cấp trên xét xử lại một

vụ án do cấp dưới đã xét xử sơ thẩm mà có chống án”16 Trong nghiên cứu khoa học luật tố tụng dân sự thì phúc thẩm được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau: là một chế định trong pháp luật luật tố tụng dân sự, là một thủ tục được Tòa

án cấp phúc thẩm tiến hành khi có kháng cáo, kháng nghị về bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực, là một giai đoạn của quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục

tố tụng dân sự hay là một cấp xét xử Tuy nhiên dù được nghiên cứu dưới góc độ nào thì tính chất của phúc thẩm vẫn là việc xét xử lại vụ án đã được xét xử sơ thẩm nhưng bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật đã bị kháng cáo, kháng nghị Mục đích của việc xét xử lại này là nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp về KDTM của các chủ thể KDTM, đôi khi còn là quyền, lợi ích hợp pháp của nhà nước Còn về thuật ngữ “thủ tục” thì thuật ngữ này có nguồn gốc từ tiếng Nhật Bản, được hiểu là một thể thức phải làm để đạt được một kết quả nhất định”17, là cách thức, trình tự và nghi thức tiến hành xem xét một vụ việc hoặc giải quyết một

vụ án đã được thụ lý hoặc khởi tố theo các quy định của pháp luật18, hay là những bước tiến hành mang tính hình thức mà thông qua đó vụ kiện được giải quyết19 Để xét xử phúc thẩm được vụ án KDTM, tòa án cần phải tiến hành quy trình các bước như nhận đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị, thụ lý phúc thẩm, chuẩn bị xét xử phúc thẩm rôì mới đến xét xử phúc thẩm

Từ những giải thích trên thì khái niệm về thủ tục phúc thẩm trong giải quyết

vụ án KDTM được hiểu như sau:

14 Đào Duy Anh (1957), Hán Việt từ điển, NXB Trường Thi, Sài Gòn, trang 136

15 Đào Duy Anh (1957), Hán Việt từ điển, NXB Trường Thi, Sài Gòn, trang 380

16 Viện ngôn ngữ hhọc (2006), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Hà Nội-Đà Nẵng, trang 790

17 Nguyễn Huy Đẩu (1962), Luật dân sự tố tụng Việt Nam, xuất bản dưới sựu bảo trợ của Bộ Tư pháp, trang

Trang 21

Thủ tục phúc thẩm trong giải quyết vụ án KDTM là cấp xét xử thứ hai, theo đó Tòa án có thẩm quyền phúc thẩm sẽ tiến hành một trình tự các hoạt động tố tụng dân sự theo quy định của pháp luật để xét xử lại vụ ánKDTM đã được Tòa sơ thẩm xét xử nhưng bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực bị kháng cáo, kháng nghị, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên chủ thể trong quan hệ KDTM và của nhà nước

* Đặc điểm của thủ tục phúc thẩm trong giải quyết vụ án kinh doanh thương mại

- Thủ tục phúc thẩm trong giải quyết vụ án KDTM thể hiện cách thức xét xử lại vụ án KDTM của Tòa án phúc thẩm khi có kháng cáo, kháng nghị về bản án, quyết định KDTM sơ thẩm chưa có hiệu lực

Xét xử lại vụ án là đặc trưng nổi bật của thủ tục phúc thẩm dân sự nói chung, của thủ tục phúc thẩm vụ án KDTM nói riêng Chính tính chất đặc trưng này quyết định các đặc điểm tiếp theo của thủ tục phúc thẩm như đối tượng của thủ tục phúc thẩm, phạm vi xét xử của thủ tục phúc thẩm, quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm…Về căn cứ, việc xét xử lại vụ án KDTM được dựa trên căn cứ có kháng cáo, kháng nghị Xét về học lý thì một bản án, quyết định rất có thể sai lầm nên khi có yêu cầu thì tòa án cấp trên cần kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của lần xét

xử sơ thẩm trước đó Bản án, quyết định sơ thẩm về KDTM sẽ là không chính xác

và không phù hợp nếu bản án, quyết định sơ thẩm đó không có căn cứ pháp luật và chứng cứ, chỉ dựa trên suy đoán của thẩm phán Nhiều nhà nghiên cứu đã nhất trí

cao với nhận định “hoạt động tư pháp sẽ là một điều bất hạnh trong khi bản án, quyết định phụ thuộc vào sự tùy tiện của cá nhân”20

Như vậy, thủ tục phúc thẩm thể hiện cách thức xét xử lại vụ án chứ không chỉ

là xét lại bản án, quyết định KDTM sơ thẩm chưa có hiệu lực Là xét xử lại nhưng thủ tục phúc thẩm không phải là xét xử sơ thẩm lần thứ hai bởi không phải vụ án nào đã được xét xử sơ thẩm đều được xét xử phúc thẩm lại mà tòa án chỉ xét xử lại

vụ án theo thủ tục phúc thẩm khi có kháng cáo, kháng nghị, chỉ xét xử lại một phần

20 X.X.A-Lếch-xây-ép (1986), Pháp luật trong cuộc sống của chúng ta (Đồng Ánh dịch Nguyễn Đình Lộc hiệu đính) NXB Pháp lý Hà Nội, trang 170

Trang 22

hoặc toàn bộ vụ án tương ứng với phạm vi kháng cáo, kháng nghị và như vậy thì tòa

án phúc thẩm cũng chỉ kiểm tra lại những nội dung của vụ án bị kháng cáo, kháng nghị, kiểm tra lại chứng cứ xem đủ để giải quyết hay chưa, đồng thời có thể xem xét chứng cứ mới

- Đối tượng xét xử lại của thủ tục phúc thẩm trong giải quyết vụ án KDTM là

là những vụ án KDTM đã được xét xử sơ thẩm nhưng bản án quyết định sơ thẩm bị kháng cáo hoặc kháng nghị

Do tính chất của thủ tục phúc thẩm là xét xử lại vụ án nên đối tượng của thủ tục phúc thẩm cũng là vụ án KDTM đã được xét xử sơ thẩm mà bản án, quyết định

sơ thẩm chưa có hiêu lực bị kháng cáo, kháng nghị Tòa phúc thẩm không chỉ kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm mà tòa phúc thẩm còn phải xem xét lại nội dung vụ án KDTM vì để xác định sự thật khách quan của vụ án thì tòa phúc thẩm phải xem xét, đánh giá về những vấn đề thuộc nội dung

vụ án trên cơ sở các tài liệu, chúng cứ đã có Do vậy đối tượng của thủ tục phúc thẩm trong giải quyết vụ án KDTM phải là vụ án KDTM chứ không phải là bản án, quyết định sơ thẩm giải quyết vụ án KDTM

- Căn cứ phát sinh thủ tục phúc thẩm vụ án KDTM là đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị hợp lệ đối với bản án, quyết định sơ thẩm giải quyết vụ án KDTM chưa có hiệu lực pháp luật

Thủ tục tố tụng dân sự được thực hiện dựa trên quyền định đoạt của đương sự Nếu ở thủ tục sơ thẩm vụ án KDTM, căn cứ để tiến hành thủ tục sơ thẩm vụ án KDTM là dựa trên đơn khởi kiện của người có quyền khởi kiện thì ở thủ tục phúc thẩm căn cứ để tiến hành thủ tục phúc thẩm là đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị của người có quyền kháng cáo, kháng nghị Như vậy không phải vụ án KDTM nào cũng thực hiện thủ tục phúc thẩm Chỉ những vụ án KDTM có kháng cáo, kháng nghị về bản án, quyết định sơ thẩm mới tiến hành thủ tục phúc thẩm Theo quan điểm lập pháp của Việt Nam quyền kháng cáo thuộc về những người tham gia

tố tụng có quyền, lợi ích trong vụ án, còn quyền kháng nghị thuộc VKS vì VKS có chức năng thay mặt nhà nước để kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân

Trang 23

sự Cũng có ý kiến cho rằng “trong quan hệ dân sự, kinh tế, lao động càng ít sự can thiệp của công quyền càng tốt”21 nhưng nếu liên quan đến trật tự công thì VKS với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật sẽ có quyền kháng nghị

- Thủ tục phúc thẩm trong giải quyết vụ án KDTM bao gồm trình tự các bước

do pháp luật tố tụng dân sự quy định và trong quá trình thực hiện thủ tục phúc thẩm tòa án phải tôn trọng quyền định đoạt của đương sự

Để giải quyết được, giải quyết đúng vụ án KDTM theo thủ tục phúc thì Tòa án cấp phúc thẩm phải tuân thủ một trình tự các bước do pháp luật tố tụng dân sự quy định mà đầu tiên là thủ tục nhận và thụ lý kháng cáo, kháng nghị Về nguyên tắc, thủ tục phúc thẩm chỉ phát sinh khi có kháng cáo, kháng nghị và việc kháng cáo, kháng nghị đó được tòa án thụ lý Sau khi thụ lý phúc thẩm vụ án KDTM, Tòa án cần phải tiến hành các hoạt động chuẩn bị xét xử phúc thẩm để nghiên cứu chứng cứ,đánh giá về việc giải quyết vụ án của tòa sơ thẩm Khi đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm thì Tòa phúc thẩm sẽ mở phiên tòa xét xử Cũng như phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm được tổ chức công khai, xét xử lại vụ án dựa trên chứng

cứ, lý lẽ của các bên đương sự và phán quyết của Tòa phúc thẩm sẽ có giá trị chung thẩm Như vậy, thủ tục phúc thẩm trong giải quyết vụ án KDTM gồm nhiều thủ tục khác nhau, các thủ tục này phải được thực hiện tuần tự và phiên tòa phúc thẩm xét

xử lại vụ án KDTM là bước cuối cùng trong thủ tục phúc thẩm Tuy nhiên trong quá trình phúc thẩm đương sự vẫn có quyền định đoạt như nguyên đơn có quyền rút đơn khởikiện, người kháng cáo có quyền rút đơn kháng cáo, VKS có quyền rút quyết định kháng nghị hoặc các bên đương sự có thể thỏa thuận được với nhau về giải quyết vụ án Tùy theo quyền định đoạt của đương sự mà Tòa phúc thẩm sẽ ra quyết định theo quy định của BLTTDS

* Ý nghĩa của thủ tục phúc thẩm trong giải quyết vụ án kinh doanh thương mại

- Ý nghĩa về mặt chính trị:

21 Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2010), Dự án sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS, Chương trình đối tác tư pháp, Hà Nội

Trang 24

Thủ tục phúc thẩm trong giải quyết vụ án KDTM có ý nghĩa rất quan trọng vì thủ tục này thể hiện một phương thức giải quyết tranh chấp đáp ứng yêu cầu của nhà nước pháp quyền

Tuân thủ pháp luật và trách nhiệm của nhà nước đối với việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân ‘là những đặc trưng tiêu biểu của nhà nước pháp quyền”22 Với thủ tục phúc thẩm vụ án KDTM, Việt Nam đã thể hiện rõ quan điểm mọi chủ thể trong xã hội đều phải tuân thủ pháp luật, cho dù đó là Tòa án được nhân danh nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước Thủ tục phúc thẩm đã thể hiện rõ nguyên tắc tuân thủ pháp luật trong giải quyết vụ án: dù vụ án đã được xét xử sơ thẩm, nhưng nếu có yêu cầu tòa án vẫn xét xử lại để khắc phục sai lầm nếu có Đồng thời qua thủ tục phúc thẩm, Việt Nam đã thể hiện rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Về phía đương sự, trên cơ sở các quyền và nghĩa vụ được xác định trong bản án, quyết định phúc thẩm thì đương sự sẽ nhận thức được rõ hành vi nào đúng, hành vi nào chưa phù hợp để

từ đó tự điều chỉnh hành vi của mình cho đúng đắn Như vậy, thủ tục phúc thẩm góp phần tạo nên bức tranh về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam với đặc thù đề cao dân chủ và thượng tôn pháp luật Với thủ tục phúc thẩm được tiến hành, nhà nước đã thể hiện được vai trò ổn định các quan hệ xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong xã hội Mối quan hệ giữa nhà nước (Tòa án đại diện) với nhân dân (các bên đương sự) được thiết lập một cách chặt chẽ, tôn trọng nhau và bảo vệ nhau, từ đó tạo cơ sở cho việc nâng cao ý thức bảo vệ, bảo đảm của nhà nước, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của công dân

- Ý nghĩa về mặt xã hội

Thủ tục phúc thẩm vụ án KDTM với tính chất là xét xử lại vụ án KDTM đã tạo nên niềm tin của nhân dân vào pháp luật, vào hệ thống tòa án Thủ tục phúc thẩm góp phần hiện thực hóa quyền con người, quyền công dân bởi khi quyền kháng cáo, kháng nghi được thực hiện hợp lệ thì tòa phúc thẩm phải tiến hành phúc thẩm, điều này làm cho quyền con người, cụ thể là quyền kháng cáo của đương sự

22 Nguyễn Đăng Dung (Chủ biên) (2004), Thể chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền, NXB Tư pháp, Hà Nội, trang 33

Trang 25

không bị hình thức mà được bảo đảm thực hiện trên thực tế Mặt khác, giả sử phán quyết của tòa án cấp sơ thẩm là chưa chính xác thì tòa phúc thẩm sẽ sửa chữa, khắc phục sự không chính xác đó, từ đó thủ tục phúc thẩm như một biện pháp đảm bảo cho nền tư pháp được trong sạch, đúng đắn, góp phần tạo nên niềm tin của người dân vào nhà nước, vào sự lãnh đạp của Đảng Niềm tin này là vô cùng quý giá bởi

“nếu tòa án thiếu tin cậy thì người dân sẽ tìm đến phương pháp giải quyết tranh chấp ngoài tòa, công lý không được xác lập thì nguy cơ bất ổn tăng nhanh… Ngoài

ra, tư pháp non yếu thì hành pháp lạm quyền, quan chức có nhiều cơ hội lạm dụng quyền lực công mà không bị truy hỏi về trách nhiệm chính trị cũng như trách nhiệm pháp lý trước người dân”23 Như vậy, về mặt xã hội, thủ tục phúc thẩm vụ án KDTM góp phần ổn định trật tự xã hội, củng cố niềm tin của người dân vào nhà nước Thông qua việc thự hiện thủ tục sơ thẩm vụ án KDTM, hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật được thực hiện một cách tự nhiên và khá hiệu quả

có căn cứ để hủy bỏ hoặc sửa chữa kịp thời, từ đó bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án KDTM Thông qua thủ tục phúc thẩm, nguyên tắc hai cấp xét xử được thực hiện, từ đó người tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm có thể rút kinh nghiệm về hoạt động xét xử của mình, người tiến hành tố tụng ở phúc thẩm

có thêm kinh nghiệm xét xử.Qua thủ tục phúc thẩm, một nguyên tắc chung sẽ được người tiến hành tố tụng dân sự ý thức được sâu sắc là việc xét xử phải dựa trên chứng cứ, lập luận khoa học, không suy đoán, duy ý chí, trong hoạt động xét xử tại

23 http://thongtinphapluatdansu,wordpress.com/2011/01/23 , Pham Duy Nghĩa, Năm chủ trương cải cách tư pháp thành công

Trang 26

tòa án thì chứng cứ có giá trị cao nhất và chỉ dựa trên pháp luật thì kết quả xét xử mới được đúng đắn, công minh

1.1.2 Cơ sở của việc quy định về thủ tục phúc thẩm trong giải quyết vụ án kinh doanh thương mại

Thủ tục phúc thẩm cần phải được cụ thể hóa trong các quy định của pháp luật

tố tụng dân sự để việc thực hiện thủ tục phúc thẩm có căn cứ pháp lý, tuân thủ các nguyên tắc của nhà nước đề ra Việc quy định về thủ tục phúc thẩm vụ án KDTM trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam được dựa trên những cơ sở khoa học sau:

* Cơ sở lý luận

- Thứ nhất, việc xây dựng các quy định về thủ tục phúc thẩm vụ án KDTM

xuất phát từ yêu cầu bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong hoạt động tố tụng dân sự

Xây dựng pháp luật về thủ tục phúc thẩm vụ án KDTM không chỉ xuất phát từ nhu cầu cần phải có cơ sở pháp lý để việc giải quyết các vụ án KDTM tại Tòa án được khách quan, hợp pháp mà sâu xa hơn còn xuất phát từ yêu cầu bảo đảm quyền con người, quyền công dân mà Hiến pháp Việt Nam đã đề ra Tranh chấp, mâu thuẫn về quyền, lợi ích giữa các chủ thể KDTM trong xã hội là một hiện tượng tất yếu và nhà nước với công cụ riêng có của mình là pháp luật phải làm nhiệm vụ là điều chỉnh, giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn đó để thiết lập, duy trì trật tự trong

xã hội Ý chí của nhà nước cần phải được thể chế hóa trong pháp luật, tuy nhiên ý chí đó phải phù hợp với lòng dân, phải bảo đảm được quyền con người, quyền công dân Trong tố tụng dân sự có nhiều chủ thể tham gia nhưng đương sự là chủ thể trọng tâm, là chủ thể chính Các hoạt động tố tụng dân sự, các quyết định tố tụng

dân sự đều xoay quanh đương sự “nhưng trong mối quan hệ với cơ quan tiến hành

tố tụng, đương sự hay rơi vào thế yếu vì họ phải chịu phán quyết của người tiến hành tố tụng”24 nên xây dựng pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự thì phải bảo vệ được quyền con người, quyền công dân của đương sự Khi

24 Nguyễn Thị Thu Hà (2017), Cơ chế pháp lý bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong giải quyết vụ

án dân sự tại TAND, Nxb Lao Động, trang 21,22,

Trang 27

thấy phán quyết của nhà nước dành cho mình là không đúng, không công bằng, đương sự có quyền được kháng cáo Nhà nước phải tôn trọng và tạo điều kiện thuận lợi cho đương sự kháng cáo, như thế mới bảo đảm được quyền tự do, dân chủ của công dân Như vậy, bảo vệ quyền con người, quyền công dân là yêu cầu tất yếu của nhà nước xã hội chủ nghĩa, của nhà nước pháp quyền nên việc ghi nhận và quy định

về thủ tục phúc thẩm chịu sự cho phối mạnh mẽ của yêu cầu này Đặc biệt khi đương sự trong vụ án KDTM là những nhà kinh doanh thì nhu cầu cần được tự do kinh doanh, nhu cầu tìm kiếm các lợi ích thương mại cần được ghi nhận cụ thể trong các quy định của Nhà nước về thủ tục phúc thẩm Việc ghi nhận các chủ thể KDTM có quyền kháng cáo thể hiện “tính dân chủ trong hoạt động tố tụng, bảo đảm và tạo cơ hội cho các đương sự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm”

- Thứ hai, việc xây dựng các quy định về thủ tục phúc thẩm vụ án KDTM xuất phát từ yêu cầu bảo đảm nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng dân sự

Nguyên tắc hai cấp xét xử là một trong những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp của mỗi quốc gia nói chung và của nước ta nói riêng Nguyên tắc hai cấp xét xử là cần thiết, được thực hiện như một nguyên tắc bởi sau xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm được thực hiện khi có kháng cáo, kháng nghị sẽ kịp thời khắc phục được sai lầm, ngăn chặn việc đưa rat hi hành những phán quyết không đúng Nói theo một cách khác thì việc xây dựng các quy định của pháp luật về thủ tục phúc thẩm xuất phát từ nhu cầu cần phải bảo đảm các phán quyết của tòa giải quyết vụ án KDTM là khách quan, đúng đắn

* Cơ sở thực tiễn

Việc xây dựng các quy định về thủ tục thẩm vụ án KDTM còn xuất phát từ yêu cầu bảo đảm tranh tụng trong thực tiễn xét xử và thực tiễn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là các nhà KDTM trong TTDS

Khi tham gia tố tụng dân sự, vì quyền, lợi ích trong vụ án là của đương sự nên đương sự có nghĩa vụ chủ động bảo vệ quyền, lợi ích của mình Các đương sự được quyền tranh tụng tại phiên tòa như được quyền đưa ra, trao đổi, chứng cứ lý lẽ, căn

Trang 28

cứu pháp lý để chứng minh cho quyền, lợi ích hơp pháp của mình Nếu họ không đồng ý với kết quả phiên tòa sơ thẩm thì họ được quyền tranh tụng tiếp tại phiên tòa phúc thẩm để bảo vệ quyền, lợi ích của mình Để được tranh tụng tiếp tại phúc thẩm thì pháp luật của Nhà nước cần phải ghi nhận rõ quyền được kháng cáo, quyền được cung cấp chứng cứ mới, quyền được tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm… Đây cũng là những nội dung cơ bản của chế định phúc thẩm Như vậy, việc quy định về thủ tục phúc thẩm được xuất phát từ yêu cầu bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong vụ án KDTM

Ngoài ra, thực tiễn giải quyết các vụ án KDTM tại tòa án còn cho thấy có thể

do những nguyên nhân khách quan, chủ quan khác nhau mà việc giải quyết vụ án KDTM của tòa sơ thẩm là chưa đúng đắn, vì vậy cần phải có cơ chế pháp lý để khắc phục những sai lầm của tòa sơ thẩm Cơ chế đó chính là pháp luật tố tụng dân

sự cần phải quy định về một cấp xét xử tiếp theo sau cấp xét xử sơ thẩm, với cơ sở pháp lý xuất phát từ quyền yêu cầu của các chủ thể có quyền, lợi ích (quyền kháng cáo, kháng nghị)

1.1.3 Các yếu tố chi phối đến hiệu quả của thủ tục phúc thẩm giải quyết vụ

án kinh doanh thương mại

* Các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về thủ tục phúc thẩm

Pháp luật tố tụng dân sự là phương tiện không thể thiếu để các chủ thể KDTM bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình tại Tòa án Pháp luật tố tụng dân sự cũng

là cơ sở pháp lý để tòa án, VKS tiến hành các hoạt động bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự Hiệu quả của thủ tục phúc thẩm vụ án KDTM trước hết phụ thuộc rất lớn vào các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Yêu cầu đặt ra đối với công tác xây dựng pháp luật về thủ tục phúc thẩm là phải đầy đủ, phù hợp, khả thi thì đương sự cũng như những người tham gia tố tụng, những người tiến hành tố tụng mới thuận lợi trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp đã được luật nội dung ghi nhận

Để pháp luật về thủ tục phúc thẩm vụ án KDTM cung cấp được đầy đủ cơ sở pháp lý khi Tòa phúc thẩm giải quyết vụ án KDTM thì về mặt nội dung phải bao

Trang 29

quát quy định được hết các vấn đề như kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, chuẩn bị xét xử phúc thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại tòa

án cấp phúc thẩm, quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm… Các quy định này phải cụ thể, không bị chồng chéo, bảo đảm được quyền và nghĩa vụ của đương sự, nâng cao trách nhiệm của các chủ thể tham gia tố tụng dân sự Nếu các quy định này tính khả thi không cao, dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau thì việc thực hiện thủ tục phúc thẩm sẽ gặp nhiều khó khăn Hoặc nếu các quy định của pháp luật về phúc thẩm bị chồng chéo, không thống nhất, không phù hợp thì việc thực hiện thủ tục phúc thẩm sẽ lung túng, khó khăn dẫn đến không phát huy được năng lực của các chủ thể Pháp luật là cơ sở để đảm bảo cho việc thực hiện và áp dụng nên để đạt hiệu quả cao thì pháp luật về thủ tục phúc thẩm phải được ban hành đầy đủ, phù hợp

và thống nhất

* Trình độ và ý thức pháp luật của đương sự và những người tham gia tố tụng khác

Trình độ nhận thức là một trong các yếu tố giúp chủ thể định hướng hành vi

xử sự một cách phù hợp Một chủ thể có trình độ hiểu biết cao, ý thức tốt thì hành vi

xử sự của họ thường đúng mực, nhân văn Trong tố tụng dân sự cũng vậy, đương sự

và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án nói chung, trong vụ án KDTM nói riêng nếu có trình độ nhận thức cao, ý thức tuân thủ pháp luật tốt thì thường họ

sẽ có những hoạt động tố tụng dân sự phù hợp, họ sẽ bảo vệ quyền, lợi ích của họ hài hòa với quyền, lợi ích của những người khác trong vụ án

Trong tố tụng dân sự, đương sự có quyền tự định đoạt, toà án phải tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự Tuy nhiên đương sự chỉ được định đoạt trong phạm vi mà pháp luật cho phép, việc định đoạt đó phải phù hợp với quyền và nghĩa

vụ của họ Chính vì thế, trong quá trình thực hiện thủ tục phúc thẩm, nếu đương sự

có ý thức thực hiện quyền đi đôi với nghĩa vụ của mình thì chắc chắn sẽ góp phần làm cho thủ tục phúc thẩm sẽ được thực hiện thuận lợi, nhanh chóng có kết quả giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm Ngược lại nếu đương sự lạm dụng quyền của mình và không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thì chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của người khác, kéo dài thời gian giải quyết, gây khó khăn cho người tiến hành

Trang 30

tố tụng Như vậy, trình độ nhận thức và ý thức của đương sự, của những người tham gia tố tụng dân sự sẽ chi phối hành vi tố tụng và hành vi sẽ góp phần quyết định tính hiệu quả hay kém hiệu quả của hoạt động thực hiện thủ tục phúc thẩm

* Trình độ chuyên môn, phẩm chất nghề nghiệp của những người tiến hành tố tụng

Thủ tục phúc thẩm các vụ án KDTM được tiến hành bởi Tòa án nhưng các hoạt động của Tòa án lại đặt dưới sự giám sát của VKSND, vì thế thẩm phán và kiểm sát viên là những người tiến hành tố tụng rất quan trọng trong tố tụng dân sự nói chung, trong việc giải quyết vụ án KDTM theo thủ tục phúc thẩm nói riêng Thẩm phán, KSV phải nhận thức đứng nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của mình Nếu vì tư lợi hoặc do năng lực chuyên môn kém thì rất dễ đến sai lầm trong việc giải quyết vụ án KDTM Đặc biệt, trong tố tụng dân sự, với vị trí người tiến hành tố tụng, thẩm phán, kiểm sát viên là người quyết định số phận pháp lý của đương sự nên cho dù đương sự có trình độ và ý thức pháp luật tốt đến mấy nhưng người tiến hành tố tụng lại cố tình không công nhận, không tạo thuận lợi cho đương sự thực hiện đúng quyền, nghãi vụ của mình thì hiệu quả của thủ tục tố tụng đã tiến hành chắc chắn sẽ không cao Vì vậy có thể khẳng định trình độ, năng lực chuyên môn và

ý thức của người tiến hành tố tụng phúc thẩm là một yếu tố quyết định đến hiệu quả của thủ tục phúc thẩm vụ án KDTM Người tiến hành tố tụng phải trình độ chuyên môn vững vàng, phải có tinh thần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, phải có thái độ lắng nghe, giải thích, giúp đỡ đương sự và đặc biệt phải có tính chịu trách nhiệm cao thì việc xét xử phúc thẩm của họ mới đúng, mới hợp tình hợp lý

1.2 Quy định của Bộ luật tố tụng dân sự Việt nam năm 2015 về thủ tục phúc thẩm trong giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại

1.2.1 Kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm

* Chủ thể có quyền kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm

Thủ tục phúc thẩm vụ án KDTM chỉ có thể được thực hiện khi có kháng cáo hoặc kháng nghị hợp lệ, vì thế nội dung đầu tiên mà pháp luật về thủ tục phúc thẩm phải quy định cho đầy đủ, phù hợp là chủ thể có quyền kháng cáo, kháng nghị Hiện

Trang 31

nay, thủ tục phúc thẩm dân sự nói chung, thủ tục phúc thẩm vụ án KDTM nói riêng được thực hiện theo quy định tại BLTTDS năm 2015 Bộ luật này là văn bản pháp

lý chủ yếu quy định về thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự, trong đó có vụ án KDTM, bao gồm các nội dung sau:

- Về chủ thể có quyền kháng cáo:

Theo quy định tại Điều 171 BLTTDS, có 03 nhóm chủ thể có quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm là đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức đã khởi kiện Điều luật quy định khá cụ thể, ngắn gọn nhưng khi áp dụng phải theo nguyên tắc chủ thể trong vụ án KDTM có quyền kháng cáo phải là chủ thể có quyền, lợi ích hợp pháp trong vụ án, đã được tòa án cấp sơ thẩm xem xét, giải quyết, đã tham gia tố tụng ở cấp sơ thẩm, vìkhông đồng ý với kết quả giải quyết của tòa sơ thẩm họ có quyền sử dụng đến cấp xét xử thứ hai, họ có quyền yêu cầu tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án KDTM Điều này cũng có nghĩa nếu một chủ thể có quyền, lợi ích hợp pháp trong vụ án nhưng chưa được tòa sơ thẩm xem xét, giải quyết, chưa tham gia tố tụng ở tòa sơ thẩm, tức là không có tư cách đương sự ở cấp sơ thẩm thì vẫn không có quyền kháng cáo phúc thẩm

- Về chủ thể có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm:

Theo quy định tại Điều 278 BLTTDS thì Viện trưởng VKS cùng cấp và Viện trưởng VKS cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Quy

định này đã “thể hiện một thẩm quyền đặc trưng, đặc thù của VKS nước ta”25, theo

đó nếu VKS không đồng ý với kết quả giải quyết của tòa sơ thẩm thì VKS có quyền kháng nghị, yêu cầu tòa phúc thẩm xem xét lại vụ án

* Thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm

- Về thời hạn kháng cáo:

Theo quy định tại Điều 273 BLTTDS, thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt

25 Bùi Thị Huyền (Chủ biên) (2016), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Nxb Lao Động, tr.363

Trang 32

khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết Đối với trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính

từ ngày tuyên án.Thời hạn kháng cáo đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, kể từ ngày đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật này.Trường hợp đơn kháng cáo được gửi qua dịch vụ bưu chính thì ngày kháng cáo được xác định căn cứ vào ngày tổ chức dịch

vụ bưu chính nơi gửi đóng dấu ở phong bì Trường hợp người kháng cáo đang bị tạm giam thì ngày kháng cáo là ngày đơn kháng cáo được giám thị trại giam xác nhận Ngoài ra, theo quy định tại Điều 275 BLTTDS thì người kháng cáo có thể kháng cáo quá hạn nếu có lý do chính đáng

- Về thời hạn kháng nghị:

Theo quy định tại Điều 280 BLTTDS thì thời hạn kháng nghị đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 01 tháng, kể từ ngày tuyên án Trường hợp Kiểm sát viên không tham gia phiên tòa thì thời hạn kháng nghị tính từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được bản án.Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp đối với quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là

07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 10 ngày, kể từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được quyết định.Khi Tòa án nhận được quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát mà quyết định kháng nghị đó đã quá thời hạn quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu Viện kiểm sát giải thích bằng văn bản và nêu rõ lý do

* Về thủ tục kháng cáo, kháng nghị, hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị

Người có quyền kháng cáo muốn kháng cáo thì phải làm đơn kháng cáo và phải có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự Theo quy định tại Điều 272 BLTTDS, đơn kháng cáo phải có đầy đủ các nội dung và phải được gửi về tòa án

Trang 33

cấp sơ thẩm Kèm theo đơn kháng cáo là các tài liệu, chứng cứ bổ sung nếu có Người có thẩm quyền kháng nghị muốn kháng nghị phải ra quyết định kháng nghị

và trong quyết định kháng nghị phải có đầy đủ các nội dung theo quy định tại Điều

279 BLTTDS

Sau khi đơn kháng cáo được nộp, Tòa án cấp sơ thẩm sẽ kiểm tra tính hợp lệ của đơn kháng cáo theo quy định tại Điều 272 của BLTTDS Trường hợp đơn kháng cáo quá hạn thì Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu người kháng cáo trình bày rõ lý

do và xuất trình tài liệu, chứng cứ (nếu có) để chứng minh lý do nộp đơn kháng cáo quá hạn là chính đáng Trường hợp đơn kháng cáo chưa đúng quy định tại Điều 272 BLTTDS thì Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu người kháng cáo làm lại hoặc sửa đổi, bổ sung đơn kháng cáo.Tòa án trả lại đơn kháng cáo nếu người kháng cáo không có quyền kháng cáo; người kháng cáo không làm lại đơn kháng cáo hoặc không sửa đổi,

bổ sung đơn kháng cáo theo yêu cầu của Tòa án…

Nếu sau khi xét thấy việc kháng cáo, kháng nghị là hợp lệ thì tùy thuộc vào việc kháng cáo, kháng nghị một phần hay toàn bộ mà toàn bộ bản án, quyết định của Tòa

án cấp sơ thẩm hoặc một phần bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp pháp luật quy định cho thi hành ngay Theo quy định tại Điều 282 BLTTDS, bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc những phần bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị Lý do giải thích cho các quy định này của BLTTDS là

“phán quyết của tòa nguyên thẩm có thể bị tòa phúc thẩm sửa đổi lại, cần phải chặn đứng sự thi hành, kẻo mai hậu quá trễ”26

* Thông báo về việc kháng cáo, kháng nghị

Sau khi chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ, Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo ngay bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự có liên quan đến kháng cáo biết về việc kháng cáo kèm theo bản sao đơn kháng cáo, tài liệu, chứng cứ bổ sung mà người kháng cáo gửi kèm đơn kháng cáo.Đương sự có liên quan đến kháng

26 Nguyễn Huy Đẩu (1962), Luật tố tụng dân sự Việt Nam, xuất bản dưới sự bảo trợ của Bộ Tư pháp, tr.623

Trang 34

cáo được thông báo về việc kháng cáo có quyền gửi văn bản nêu ý kiến của mình về nội dung kháng cáo cho Tòa án cấp phúc thẩm Văn bản nêu ý kiến của họ được đưa vào hồ sơ vụ án

Nếu kháng nghị, Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị phải gửi ngay quyết định kháng nghị cho đương sự có liên quan đến kháng nghị.Người được thông báo

về việc kháng nghị có quyền gửi văn bản nêu ý kiến của mình về nội dung kháng nghị cho Tòa án cấp phúc thẩm Văn bản nêu ý kiến của họ được đưa vào hồ sơ vụ

án

*Thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị

Theo quy định tại Điều 284 BLTTDS, nếu chưa hết thời hạn kháng cáo theo luật định thì người đã kháng cáo có quyền thay đổi, bổ sung kháng cáo mà không bị giới hạn bởi phạm vi kháng cáo ban đầu.Trường hợp chưa hết thời hạn kháng nghị theo quy định tại Điều 280 của BLTTDS thì Viện kiểm sát đã kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị mà không bị giới hạn bởi phạm vi kháng nghị ban đầu.Tuy nhiên, đến khi trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo có quyền thay đổi, bổ sung kháng cáo, Viện kiểm sát đã kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị, nhưng không được vượt quá phạm vi kháng cáo, kháng nghị ban đầu, nếu thời hạn kháng cáo, kháng nghị đã hết

Về việc rút kháng cáo, hang nghị thì trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo có quyền rút kháng cáo, Viện kiểm sát đã kháng nghị hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền rút kháng nghị.Tòa án cấp phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với những phần của vụ án mà người kháng cáo

đã rút kháng cáo hoặc Viện kiểm sát đã rút kháng nghị.Việc đình chỉ xét xử phúc thẩm trước khi mở phiên tòa do Thẩm phán chủ tọa phiên tòa quyết định, tại phiên tòa do Hội đồng xét xử quyết định

Về thủ tục thì việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị trước khi mở phiên tòa phải được lập thành văn bản và gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm Tòa án cấp phúc thẩm phải thông báo cho các đương sự về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị, thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc thay đổi, bổ sung,

Trang 35

rút kháng cáo.Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị tại phiên tòa phải được ghi vào biên bản phiên tòa

xử phúc thẩm những vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật (khoản 2 Điều 37 LTCTAND)

- Tòa án nhân dân cấp cao có thẩm quyền phúc thẩm vụ việc mà bản án, quyết định sơ thẩm của TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của luật tố tụng (khoản 1 Điều 29 LTCTAND năm 2014)

Tòa án có thẩm quyền xét xử phúc thẩm phải vào sổ thụ lý ngay sau khi nhận được hồ sơ vụ án, kháng cáo, kháng nghị và tài liệu, chứng cứ kèm theo Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án và thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).Chánh án Tòa án cấp phúc thẩm thành lập Hội đồng xét xử phúc thẩm và phân công một Thẩm phán làm chủ tọa phiên tòa

* Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm

Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm được quy định tại Điều 286 BLTTDS, theo đó thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm là 02 tháng, trừ những vụ án có tính

Trang 36

chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa

án cấp phúc thẩm có thể quyết định kéo dài thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không được quá 01 tháng

Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa phúc thẩm, trừ trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là

02 tháng.Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật Riêng đối với vụ án xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn, vụ án có yếu tố nước ngoài thì các thời hạn nêu trên sẽ không

áp dụng

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, tòa án cấp phúc sẽ ra quyết định tố tụng phù hợp, ví dụ ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án khi có căn

cứ của Điều 288, quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án khi có căn cứ tại Điều

289, quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm khi có căn cứ tại Điều 290 BLTTDS, quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời

Sau khi ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án cấp phúc thẩm phải chuyển hồ sơ vụ án cùng với quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu Thời hạn nghiên cứu hồ sơ của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày,

kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án; hết thời hạn đó, Viện kiểm sát phải trả hồ sơ vụ

án cho Tòa án

* Cung cấp tài liệu, chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm

Theo quy định tại Điều 287 BLTTDS thì trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, đương sự có quyền cung cấp, giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không cung cấp, giao nộp được vì

có lý do chính đáng; tài liệu, chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm không yêu cầu đương sự giao nộp hoặc đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ việc theo thủ tục sơ thẩm

Như vậy, khi vụ án được xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm, đương sự vẫn có quyền cung cấp, giao nộp bổ sung chứng cứ Đây là một quy định thể hiện rõ quan

Trang 37

điểm của nhà nước là nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho đương sự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ, tuy nhiên trên thực tiễn áp dụng lại bộc lộ những khó khăn nhất định như về phía tòa án thì với quy định này sẽ làm cho các thẩm phán rất áp lực khi phải chủ động chỉ ra và hướng dẫn cho đương sự cung cấp những chứng cứ nào, còn về phía đương sự, đáng ra là người chủ động cung cấp, giao nộp chứng cứ thì lại trở thành bị động trong việc giao nộp chứng cứ hoặc muốn giao nộp chứng cứ nhưng vì thẩm phán không có yêu cầu nên không được giao nộp

1.2.3 Xét xử phúc thẩm

* Phạm vi xét xử phúc thẩm

Theo quy định tại Điều 293 BLTTDS, tòa án cấp phúc thẩm là chỉ xem xét lại phần của bản án sơ thẩm, quyết định của tòa sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị Như vậỵ, khi đưa vụ án ra xét xử lại thì tòa phúc thẩm sẽ tùy thuộc vào phạm vi kháng cáo, kháng nghị để xác định phạm vi xét xử phúc thẩm chứ không phải trong mọi trường hợp tòa phúc thẩm đều mang toàn bộ các vấn đề của vụ án đã được xét xử sơ thẩm ra để xét xử lại Quy định này thể hiện sự tong trọng quyền tự định đoạt của đương sự, tránh được tình trạng đương sự không yêu cầu xem xét lại mà tòa án lại xem xét lại, dẫn đến vi phạm quyền định đoạt của đương sự Tuy nhiên khi áp dụng quy định này trên thực tế cho thấy cũng có sự lung túng nhất định tại một số tòa án bởi xác định khi nào một nội dung trong bản án, quyết định không bị kháng nghị nhưng lại

“có liên quan” đến kháng cáo, kháng nghị? Việc xác định “có liên quan” này cũng

dễ dẫn tới tình trạng lạm quyền từ phía tòa phúc thẩm khi mà đương sự cho rằng nội dung đó không liên quan nhưng tòa án lại xác định là có liên quan hoặc ngược lại

* Những người tham gia phiên tòa phúc thẩm

Phiên tòa phúc thẩm được điều hành bởi một Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm

03 thẩm phán, không có hội thẩm nhân dân Theo quy định tại Điều 21 BLTTDS, kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia phiên tòa phúc thẩm để kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa phúc thẩm

Ngoài Hội đồng xét xử phúc thẩm, ngoài kiểm sát viên thì theo quy định tại

Trang 38

Điều 294 BLTTDS, phiên tòa phúc thẩm còn có những người tham gia tố tụng như người kháng cáo, đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương

sự phải được triệu tập tham gia phiên tòa Tòa án có thể triệu tập những người tham gia tố tụng khác tham gia phiên tòa nếu xét thấy cần thiết cho việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị Như vậy, nếu phiên tòa sơ thẩm phải triệu tập đầy đủ tất cả những người liên quan đến việc giải quyết vụ án thì phiên tòa phúc thẩm lại không phải triệu tập đông đủ như vậy Xuất phát từ phạm vi kháng cáo, kháng nghị, phạm vi xét xử phúc thẩm nên về cơ bản chỉ những chủ thể nào liên quan đến việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị thì mới cần phải triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm

* Hoãn phiên tòa phúc thẩm

Về nguyên tắc, những người tham gia phiên tòa phúc thẩm theo quy định tại Điều 294 BLTTDS phải có mặt tại phiên tòa phúc thẩm Tuy nhiên, có thể vì lý do nào đó họ không đến tham gia phiên tòa phúc thẩm, vì thế phiên tòa phúc thẩm phải

bị hoãn lại Các trường hợp dẫn đến hoãn phiên tòa phúc thẩm được quy định tại Điều 296 BLTTDS như:

+ Vắng mặt kiểm sát viên được phân công tham gia phiên tòa phúc thẩm trong trường hợp Viện kiểm sát có kháng nghị phúc thẩm;

+ Người kháng cáo, người không kháng cáo nhưng có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của

họ được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà vắng mặt thì phải hoãn phiên tòa Như vậy, nếu không phải trường hợp Viện kiểm sát có kháng nghị phúc thẩm thì dù kiểm sát viên có vắng mặt tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét

xử, không cần phải hoãn phiên tòa phúc thẩm hoặc người kháng cáo, người không kháng cáo nhưng có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt thì Tòa án tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt họ

Sau khi hoãn phiên tòa phúc thẩm thì tòa phúc thẩm phải triệu tập phiên tòa

Trang 39

phúc thẩm lần thứ hai Người kháng cáo được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng thì bị coi như từ bỏ việc kháng cáo và Tòa

án đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của người đó, trừ trường hợp người đó đề nghị xét xử vắng mặt thì Tòa án tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét

xử vắng mặt họ.Trường hợp người kháng cáo vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì phải hoãn phiên tòa

Trường hợp có nhiều người kháng cáo, trong đó có người kháng cáo được Tòa

án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt nhưng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt thì coi như người đó từ bỏ việc kháng cáo và Tòa án đưa vụ án ra xét xử Trong phần quyết định của bản án, Tòa án đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo của người kháng cáo vắng mặt đó

Người không kháng cáo nhưng có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị và những người tham gia tố tụng khác đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án tiến hành xét xử vụ án

Theo quy định tại khoản 4 Điều 296 BLTTDS thì thời hạn hoãn phiên tòa và quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm được thực hiện giống như tại tòa án cấp sơ thẩm, theo đó với những vụ án thông thường thời hạn hoãn là không quá 01 tháng, đối với vụ án theo thủ tục rút gọn thì thời hạn hoãn không quá 15 ngày

* Thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm

Về cơ bản, thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm được BLTTDS quy định tương tự như phiên tòa sơ thẩm, cũng gồm bốn bước: thủ tục bắt đầu phiên tòa, thủ tục tranh tụng, thủ tục nghị án và thủ tục tuyên án phúc thẩm Các thủ tục này được quy định từ Điều 297 đến Điều 307 BLTTDS

Trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn có quyền xin rút đơn khởi kiện nhưng Hội đồng xét xử phúc thẩm phải hỏi bị đơn có đồng ý hay không Nếu bị đơn không đồng ý thì không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn Ngược lại, nếu bị đơn đồng ý thì chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định hủy bản án sơ thẩm

và đình chỉ giải quyết vụ án Trong trường hợp này, các đương sự vẫn phải chịu án

Ngày đăng: 22/04/2020, 21:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm