1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trình tự thủ tục giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm các vụ án kinh doanh thương mại theo thực tiễn ở tòa án nhân dân tối cao

93 97 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời gian gần đây, thông qua thủ tục giám đốc thẩm Tòa án nhân dân tối cao TANDTC đã phát hiện ra một số bản án, quyết định của Tòa án đã xét xử không phù hợp với những tình tiết k

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

TRÌNH TỰ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT

ĐƠN ĐỀ NGHỊ GIÁM ĐỐC THẨM CÁC VỤ ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN

Ở TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

HOÀNG THANH AN

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

TRÌNH TỰ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT

ĐƠN ĐỀ NGHỊ GIÁM ĐỐC THẨM CÁC VỤ ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN

Ở TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả và kết luận nêu trong luận văn

là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Hoàng Thanh An

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Mở

Hà Nội, Khoa Đào tạo Sau Đại học, quý thầy, cô là giảng viên tham gia giảng dạy

đã trang bị cho tôi nhiều kiến thức quí báu trong thời gian qua

Tôi xin trân trọng cảm ơn TS Hoàng Ngọc Thỉnh, người đã tận tình hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình làm luận văn này Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã nỗ lực, cố gắng lĩnh hội các ý kiến góp ý của quý thầy, cô, bạn bè cũng như tham khảo nhiều tài liệu, sách báo Luận văn không thể tránh khỏi những sai

sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy, cô và bạn đọc

Tác giả luận văn

Hoàng Thanh An

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ GIÁM ĐỐC THẨM VỤ ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI 7 1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thủ tục giám đốc thấm vụ án kinh doanh thương mại 7

1.2 Quy định của pháp luật tố tụng dân sự về thủ tục giám đốc thẩm vụ án Kinh doanh thương mại 16

1.2.2 Quy định về thủ tục xem xét lại bản án, quyết định bị kháng nghị theo thủ

2.1.1 Thực trạng gửi đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm các vụ án kinh

2.1.2 Thực trạng kháng nghị và giải quyết kháng nghị giám đốc thẩm các vụ

2.2 Một số kiến nghị và hoàn thiện pháp luật về nâng cao hiệu quả kháng nghị, giải quyết kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm các vụ án kinh doanh thương mại 73

Trang 6

2.2.1 Một số đề xuất hoàn thiện pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm vụ án kinh

doanh thương mại 73

2.2.2 Một số giải pháp về tổ chức và thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả giám đốc thẩm thủ tục giám đốc thẩm vụ án kinh doanh thương mại 75

Kết luận chương 2 79

KẾT LUẬN 81

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của luận văn

Thực tiễn trên thế giới và pháp luật tố tụng hình sự, dân sự và hành chính của Việt Nam, cao hơn nữa là nguyên tắc Hiến định thì Tòa án chỉ có hai cấp xét xử là cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm Tuy nhiên, pháp luật tố tụng, Việt Nam còn tồn tại một thủ tục đặc biệt là thủ tục xem xét lại bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án trong đó có thủ tục Giám đốc thẩm

Trong thời gian gần đây, thông qua thủ tục giám đốc thẩm Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) đã phát hiện ra một số bản án, quyết định của Tòa án đã xét xử không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án, có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng hoặc có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật, từ đó kháng nghị hủy các bản án, quyết định có sai phạm nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án Việc sửa chữa các sai lầm đó có ý nghĩa rất lớn trong việc tạo niềm tin trong nhân dân đối với các cơ quan tố tụng như Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân Đồng thời góp phần vào việc bảo đảm, trật tự an toàn xã hội Ngoài ra, thông qua thủ tục giám đốc thẩm Kinh doanh thương mại đã góp phần nâng cao chất lượng xét xử của thẩm phán, ban hành các văn bản hướng dẫn nhằm bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật như các nghị quyết của Hội đồng thẩm phán TANDTC Mặt khác thông qua các quyết định giám đốc thẩm trong chừng mực nhất định còn tạo tiền lệ để Tòa án cấp dưới rút kinh nghiệm khi vận dụng giải quyết các vụ việc tương tự, trở thành tài liệu hướng dẫn của Tòa án cấp trên đối với hoạt động xét xử của Tòa án cấp dưới

Tuy nhiên, ở Việt Nam trong thực tiễn hiện nay, tình hình đề nghị xem xét lại bản án, quyết định kinh doanh thương mại (KDTM) đã có hiệu lực pháp luật của người dân ngày một tăng nhanh về số lượng và mức độ phức tạp Công tác giải quyết đơn đề nghị của đương sự, thông báo, kiến nghị các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác của Tòa án các cấp cũng gặp nhiều vấn đề vướng mắc, phức tạp và quá tải nhiều vụ

án kéo dài nên chưa tạo niềm tin cho nhân dân Sau khi Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) hiện hành được ban hành cho đến nay vẫn thấy những quy định về thủ tục

Trang 9

giám đốc thẩm vụ án KDTM của chúng ta chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu thực tế

về việc giải quyết các vụ án KDTM Chính những hạn chế, thiếu sót của các quy định

về thủ tục giám đốc thẩm trong BLTTDS hiện hành đã dẫn tới những vướng mắc, khó khăn trong quá trình giải quyết và giảm thiểu quả công tác giám đốc thẩm vụ án KDTM của TANDTC Vấn đề đặt ra như một nhu cầu cấp thiết, đòi hỏi các nhà lập pháp phải nghiên cứu sửa đổi, hoàn thiện các quy định chưa rõ ràng, chưa phù hợp về thủ tục giám đốc thẩm KTDM khiến công tác thực hiện trên thực tế còn gặp nhiều vướng mắc, bất cập Trong quá trình sửa đổi, chúng ta cũng cần học hỏi những kinh nghiệm quý báu của các nước có nền lập pháp tiên tiến để hoàn thiện pháp luật Việt

Nam về vấn đề này Vì những lý do trên, học viên đã chọn đề tài “Trình tự thủ tục

giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm các vụ án Kinh doanh thương mại từ thực tiễn ở Tòa án nhân dân tối cao” để thực hiện luận văn tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu luận văn

Thủ tục giám đốc thẩm vụ án kinh doanh thương mại là một đề tài được nhiều người quan tâm nghiên cứu Việc khảo sát tình hình nghiên cứu cho thấy đã

có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này được thể hiện dưới hình thức luận văn, luận án hoặc bài viết chuyên khảo Có thể nêu ra đây một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau:

* Trước khi Bộ luật Tố tụng dân sự ra đời có một số công trình nghiên cứu

về thủ tục giám đốc thẩm sau đây:

- Cuốn sách về “Tìm hiểu các quy định của pháp luật về thủ tục giám đốc

thẩm vụ án dân sự” của tác giả Dương Thị Thanh Mai [19] Trong tác phẩm này,

tác giả đã giải quyết một số vấn đề về khái niệm, sự hình thành thủ tục giám đốc thẩm, thực trạng giải quyết án dân sự theo thủ tục giám đốc thẩm và đưa ra một số giải pháp, kiến nghị

- Cuốn sách về “Một số suy nghĩ về cơ chế xét xử vụ án dân sự đáp ứng yêu

cầu cải cách tư pháp” của tác giả Lê Thu Hà [12] Tác giả đã nghiên cứu tổng thể

các cấp xét xử của Tòa án các cấp bao gồm cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm và thủ tục

Trang 10

xét lại bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu của đề tài rộng nên tác giả chưa tập trung nghiên cứu chuyên sâu về thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật Ngoài ra, do công trình này được tiến hành trước năm 2004 nên chưa có điều kiện phân tích, luận giải về các quy định của BLTTDS sửa đổi năm 2011

- Bài viết “Thủ tục giám đốc thẩm trong dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự” của

tác giả Hoàng Văn Minh trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp [21] đã đóng góp ý kiến về việc có nên quy định đơn đề nghị và thời hạn gửi đơn đề nghị giám đốc thẩm của đương sự là bắt buộc hay không, thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm như thế nào

Các công trình trên được thực hiện trước năm 2004 nên nhiều thực trạng, kiến nghị và giải pháp đưa ra đã được tiếp thu và chỉnh lý trong BLTTDS 2004 (sửa đổi năm 2011) Hơn nữa, với tình hình kinh tế - xã hội thay đổi nhanh chóng như hiện nay, những vấn đề mà các tác giả luận giải và đề xuất đã không còn phù hợp nên cần được tiếp tục tập trung nghiên cứu thêm

* Sau khi Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 ra đời cũng đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này như:

- Luận án “Thủ tục xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp

luật trong tố tụng kinh tế, dân sự ở Việt Nam” của Đào Xuân Tiến [33] Tác giả đã

đưa ra khái niệm về thủ tục xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trong tố tụng kinh tế, dân sự, phân tích pháp luật tố tụng kinh tế, dân sự, thực trạng áp dụng của Tòa án và một số giải pháp nhằm hoàn thiện thủ tục xét lại bản án, quyết định về kinh tế, dân sự của Tòa án

- Luận án “Giám đốc thẩm dân sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của

Mai Ngọc Dương [9] Luận án giải quyết một số vấn đề lý luận về giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự và nêu lên thực trạng công tác giám đốc thẩm của ngành Tòa

án Từ đó, tác giả đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự

về phần quy định giám đốc thẩm

- Luận văn “Hoàn thiện thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự” của Hà

Hoàng Hiệp [14] Luận văn tập trung nghiên cứu làm sáng tỏ về mặt lý luận một số

Trang 11

nội dung cơ bản của thủ tục giám đốc thẩm, trên cơ sở có tiếp thu chọn lọc kinh nghiệm của một số nước trên thế giới

- Đề tài khoa học cấp Bộ “Thực trạng giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm,

tái thẩm tại Tòa án nhân dân tối cao” do Nguyễn Huy Du làm chủ nhiệm đề tài [6]

Ngoài ra, còn có một số chuyên đề, bài viết của các tác giả đăng trong các

sách, báo, tạp chí chuyên ngành như: “Chế định giám đốc thẩm, tái thẩm và những

vấn đề đặt ra trong việc thi hành” của tác giả Trần Anh Tuấn [45]; “Một số vấn đề liên quan đến việc sửa đổi, bổ sung Điều 285, Điều 288 Bộ luật Tố tụng dân sự”

của tác giả Hà Tĩnh [35]; “Một số ý kiến đối với Dự thảo Sửa đổi, bổ sung một số

điều của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004” của tác giả Nguyễn Như Bích [4];

“Một số vấn đề về thủ tục giám đốc thẩm” của tác giả Nguyễn Quang Hiền [13]

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên đây được thực hiện trước khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2004 có hiệu lực thi hành, do đó việc nghiên cứu về đề tài này vẫn rất cần thiết và hữu dụng

* Sau khi BLTTDS được sửa đổi năm 2011 cũng đã có công trình nghiên cứu

về vấn đề này như:

Luận văn “Giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự Việt Nam” của tác giả Hà Thị Thúy Hà [10], “Bàn về Dự thảo Thông tư liên tịch hướng dẫn Điều 284b Bộ

luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011” của tác giả Nguyễn Hồng Nam

đăng trên Tạp chí TAND tháng 5 năm 2012 (kỳ 2) và tháng 6 năm 2012 (kỳ 1) [22];

chuyên đề “Thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự và thủ tục xem xét lại các quyết

định của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao” của tác giả Trần Anh Tuấn

trong cuốn Bình luận khoa học BLTTDS sửa đổi năm 2011 [46]

Như vậy, cho đến thời điểm hiện nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự nói chung và giám đốc thẩm trong vụ án

về KDTM nói riêng Tuy nhiên, nghiên cứu cụ thể về trình tự, thủ tục giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm vụ án KDTM theo quy định của BLTTDS năm 2015 chưa có tác giả nào đề cập nghiên cứu đến trong giai đoạn gần đây

Trang 12

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc nghiên cứu đề tài, luận văn làm rõ những vấn đề cơ sở lý luận, trình tự nội dung và thực trạng về thủ tục giám đốc thẩm vụ án KDTM; ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân dẫn đến ưu điểm, khuyết điểm về thủ tục giám đốc thẩm vụ án KDTM của TANDTC từ đó, đưa ra các quan điểm bảo đảm và một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm nói chung, cũng như các quy định của pháp luật vê thủ tục giám đốc thẩm tại TANDTC nói riêng

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, việc nghiên cứu luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện các vấn đề lý luận về thủ tục giám đốc thẩm trong giải quyết vụ án KDTM;

- Phân tích cụ thể các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về giám đốc thẩm trong vụ án KDTM;

- Khảo sát và đánh giá thực trạng giám đốc thẩm vụ án KDTM tại các cơ quan tiến hành tố tụng dân sự Việt Nam;

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giám đốc thẩm vụ

án KDTM ở Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hệ thống những quy định pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm vụ án KDTM cũng như việc áp dụng những quy định pháp luật đó trong thực tiễn hoạt động giám đốc thẩm của TANDTC

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu trong đề tài này là thủ tục giám đốc thấm được thực hiện tại Tòa án nhân dân tối cao đối với các bản án KDTM đã có hiệu lực pháp luật của

Trang 13

TAND cấp huyện, TAND cấp tỉnh và TANDTCC bị kháng nghị theo quy định của

Bộ luật TTDS hiện hành của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ năm

2014 đến hết năm 2018

5 Phương pháp nghiên cứu luận văn

Luận văn dược thực hiện trên cơ sở sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Triết học Mác- Lênin về Nhà nước pháp quyền, tư tưởng

Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật Ngoài ra các phương pháp nghiên cứu khoa học khác cũng được sử dụng như: phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp đối chiếu so sánh, phương pháp thống kê và phương pháp lịch sử

6 Những đóng góp của luận văn

Việc nghiên cứu đề tài, tác giả có đóng góp những điểm mới sau đây:

- Làm rõ thêm những vấn đề lý luận về giám đốc thẩm KDTM

- Đánh giá đúng thực trạng về thủ tục giám đốc thẩm vụ án KDTM và thực tiễn thực hiện chúng tại TANDTC trong những năm gần đây

- Đề xuất một số giải pháp bảo đảm về thủ tục giám đốc thẩm KDTM để có

hướng sửa đổi phù hợp với thực tiễn

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 02 chương:

Chương 1: Khái quát về giám đốc thẩm vụ án Kinh doanh thương mại

Chương 2: Thực tiễn thực hiện việc kháng nghị và giải quyết kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm các vụ án KDTM tại TANDTC và một số kiến nghị

Trang 14

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ GIÁM ĐỐC THẨM VỤ ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI

1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thủ tục giám đốc thấm vụ án kinh doanh thương mại

1.1.1 Khái niệm giám đốc thẩm vụ án kinh doanh thương mại

Theo Hiến pháp một vụ án KDTM có thể được xét xử qua cả hai cấp sơ thẩm

và cấp phúc thẩm Khi vụ án được xét xử sơ thẩm, bản án chưa có hiệu lực pháp luật ngay, trong thời hạn luật định nếu thấy bản án, quyết định của Tòa án không phù hợp với thực tế khách quan hoặc đúng pháp luật thì các đương sự có quyền kháng cáo hoặc Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Việc ghi nhận nguyên tắc này nhằm mục đích đảm bảo tính đúng đắn và tuân theo pháp luật của hoạt động xét xử, qua đó bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Tuy nhiên, hết thời hạn luật định, nếu bản án, quyết định sơ thẩm không

bị kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm thì đương nhiên có hiệu lực pháp luật Khác với cấp sơ thẩm, bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án có tính chất chung thẩm

và được thi hành ngay

Từ thực tiễn xét xử của hệ thống Tòa án trong nhiều năm đã chứng minh một thực tế rằng nhiều vụ án, kể cả những vụ đã qua hai cấp xét xử và bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng vẫn phát hiện cỏ những sai lầm trong quá trình giải quyết làm tổn hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Vì vậy, cần thiết phải xây dựng một cơ chế để kiểm tra, giám đốc việc xét xử của Tòa án nhằm khắc phục tình trạng nói trên Thủ tục giám đốc thẩm vụ án KDTM là một thủ tục đặc biệt của tố tụng Dân sự do Tòa án có thẩm quyền thực hiện để xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị do phát hiện có sai lầm hoặc vi phạm pháp luật trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án Giám đốc thẩm vụ án KDTM không phải là một cấp xét xử thứ ba và khác biệt với tái thẩm KDTM Theo đó, kháng nghị giám đốc thẩm được tiến hành trên cơ sở phát

Trang 15

hiện những sai lầm, vi phạm của Tòa án, trong khi đó kháng nghị tái thẩm được dựa trên việc phát hiện những tình tiết mới làm thay đổi về cơ bản nội dung vụ án

Đến nay, do có nhiều cách tiếp cận khác nhau nên cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về thủ tục giám đốc thẩm vụ án KDTM Có thể nêu ra đây một số quan niệm tiêu biểu như sau:

Thứ nhất: Căn cứ đối tượng, Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam của

Trường Đại học Luật Hà Nội đã đưa ra khái niệm như sau: “Giám đốc thẩm vụ án dân sự là việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án bị kháng nghị do phát hiện có sai lầm, vi phạm pháp luật trong giải quyết vụ án” [43, tr.325] Quan điểm này về cơ bản đã thể hiện được tính chất của thủ tục giám đốc thẩm, nhưng chưa xác định rõ giám đốc thẩm là một loại thủ tục tố tụng đặc biệt,

mà không phải là một cấp xét xử thứ ba

Thứ hai: Căn cứ vào mục đích của việc xét lại bản án, quyết định theo thủ

tục giám đốc thẩm, trong Luận án tiến sĩ về “Thủ tục xét lại bản án, quyết định của

Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trong tố tụng kinh tế, dân sự ở Việt Nam” của tác

giả Đào Xuân Tiến đã cho rằng: “Thủ tục xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã

có hiệu lực pháp luật là thủ tục đặc biệt nhằm kiểm tra, xem xét, xác định bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được xét xử đúng pháp luật và xét

xử lại đối với bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng có sai lầm nghiêm trọng hoặc có tình tiết mới làm thay đổi nội dung hoặc kết quả giải quyết vụ án” [33, tr.20] Với quan điểm này, tác giả Đào Xuân Tiến đã khẳng định

thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật (trong đó bao gồm thủ tục

giám đốc thẩm) là loại thủ tục tố tụng đặc biệt, qua đó đã gián tiếp phân biệt với thủ tục xét xử sơ thẩm và phúc thẩm vụ án KDTM Tòa án có thẩm quyền tiến hành thủ tục đặc biệt này nhằm hai mục đích: thứ nhất là để kiểm tra, xem xét tính đúng đắn của các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật: thứ hai là để xét xử lại đối với các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng có sai lầm nghiêm trọng hoặc

có tình tiết mới làm thay đổi nội dung, kết quả giải quyết vụ án Như vậy, thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nói chung và thủ tục giám đốc

Trang 16

thẩm nói riêng được hiểu theo nghĩa rộng hơn trong đó bao gồm cả hoạt động giám đốc việc xét xử Tuy nhiên, khái niệm trên lại không đề cập đến căn cứ để xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật là phải dựa trên kháng nghị của người

có thẩm quyền theo quy định pháp luật

Thứ ba: Dựa vào mục đích, căn cứ và đối tượng của việc xét lại bản án,

quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, tác giả Khuất Văn

Nga với bài viết “Thủ tục giám đốc thẩm trong Bộ luật Tố tụng dân sự” đã đưa ra

khái niệm như sau: “Thủ tục giám đốc thẩm là một trình tự đặc biệt của tô tụng tư pháp nhằm xét lại những bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có vi phạm ở mức độ nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án” [23] Theo quan điểm này, giám đốc thẩm cũng được khẳng định là một trình tự tố tụng đặc biệt, được tiến hành dựa trên sự kháng nghị của những người có thẩm quyền nhằm mục đích xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Đồng thời, khái niệm này đã chi tiết hơn khi đưa ra căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm là các bản

án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng có vi phạm ở mức độ nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án

Từ những phân tích trên đây có thể rút ra khái niệm vê thủ tục giám đốc thẩm vụ án KDTM như sau:

Thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự là một trình tự tố tụng đặc biệt được tiến hành trên cơ sở kháng nghị của người có thẩm quyền nhằm xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhưng phát hiện có sai lầm, vi phạm pháp luật trong quả trình giải quyết vụ án dân sự

Nhìn chung, các cách hiểu về thủ tục giám đốc thẩm nêu trên tuy khác nhau

về cách thức tiếp cận nhưng để nhận diện được đầy đủ bản chất của thủ tục giám đốc thẩm cần phải làm rõ về đặc điểm của thủ tục giám đốc thẩm

1.1.2 Đặc điểm của thủ tục giám đốc thấm vụ án kinh doanh thương mại

Thứ nhất: Đối tượng xem xét theo thủ tục GĐT phải là bản án, quyết định giải quyết vụ án kinh doanh thương mại của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật

Trang 17

Đối tượng của giám đốc thẩm KDTM là những bản án, quyết định giải quyết

vụ án KDTM đã có hiệu lực pháp luật bị phát hiện có sai lầm, vi phạm pháp luật trong việc phải quyết vụ án KDTM Các bản án, quyết định dân sự có hiệu lực pháp luật của Tòa án xét xử bao gồm: Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân cấp cao hiện nay

Thứ hai: Bản án, quyết định này phải bị người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự kháng nghị

Về thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng, trước đây chỉ Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp dưới Nhưng theo quy định tại BLTTDS năm 2015 thì chỉ có Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao, Chánh án TAND cấp cao, Viện trưởng VKSND cấp cao có quyền kháng nghị bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án nhân dân cấp dưới nếu có vi phạm theo quy định đã nêu trên Như vậy, thẩm quyền của người có thẩm quyền kháng nghị kháng nghị đã bị thu hẹp đáng kể (chỉ có 8 người so với 128 người theo luật cũ)

Quyền này không được giao cho đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, cơ quan, tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung nhưng pháp luật vẫn đảm bảo cho đương sự được thực hiện quyền của mình thông qua hoạt động phát hiện bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật cần xem xét lại và thông báo bằng văn bản cho người có quyền kháng nghị Đối với Tòa

án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân trong trường hợp phát hiện có vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì cũng phải thông báo bằng văn bản cho những người có thẩm quyền kháng nghị để những người này xem xét kháng nghị bản án, quyết định đó Đối với Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao kiến nghị người có thẩm quyền kháng nghị

Thứ ba: Về tính chất thì thủ tục giám đốc thấm KDTM là một loại thủ tục tố tụng đặc biệt, chứ không phải là cấp xét xử thứ ba

Trang 18

Theo quy định của pháp luật, mọi bản án, quyết định dã có hiệu lực pháp luật đều phải được các cá nhân, đơn vị, tổ chức trong xã hội tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành Cơ quan, tổ chức dược giao nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành đó Tuy nhiên, nếu bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực nhưng vẫn không đảm bảo đầy đủ tính có căn cứ và hợp pháp thì bản án, quyết định đó cần phải được xét lại theo thủ tục đặc biệt Giám đốc thẩm không phải một cấp xét xử như xét xử sơ thẩm hay phúc thẩm, mà thực chất

nó là một trong số những hoạt động giám đốc xét xử của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới Nội dung của nó là việc Tòa án kiểm tra lại tính có căn cứ và hợp pháp của bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật thông qua hoạt động

“xét” chứ không “xử” Sự khác biệt này thể hiện rõ nét nhất qua các quy định về phiên tòa xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ án KDTM và phiên xét lại vụ án KDTM theo trình tự giám đốc thẩm, thành phần Hội đồng, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và Hội đồng giám đốc thẩm Tòa án sau khi tiến hành thủ tục giám đốc thẩm sẽ ban hành một trong các quyết định sau: Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản

án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật; hủy bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp dưới đã bị hủy hoặc sửa; hủy một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án

đã có hiệu lực pháp luật để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm hoặc xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm; hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ giải quyết vụ án; sửa một phân hoặc toàn bộ vụ án, quyết định của Tòa án dã có hiệu lực pháp luật

Thứ tư: Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm vụ án KDTM chỉ được kháng nghị trong trường hợp phát hiện có sai lầm hay vi phạm đã được pháp luật quy định trước

Đây là đặc điểm phân biệt với thủ tục phúc thẩm, theo đó pháp luật quy định đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị phúc thẩm nhưng không yêu cầu giới hạn căn cứ bắt buộc của việc kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm Trong khi đó, việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm vụ án KDTM chỉ

Trang 19

được thực hiện khi nó đáp ứng một trong các căn cứ: Kết luận trong bản án, quyết định dân sự không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật

Đây cũng là đặc điểm phân biệt với thủ tục tái thẩm dân sự Mặc dù, giám đốc thẩm dân sự và tái thẩm dân sự đều là thủ tục tố tụng đặc biệt, xét lại những bản

án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật mà không phải là cấp xét xử thứ ba nhưng giữa chúng cũng có những điểm khác biệt nhất định về căn cứ kháng nghị Giám đốc thẩm xét lại những bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật nhưng phát hiện có vi phạm pháp luật trong việc giải quyết vụ án, như thu thập, xác minh không đầy đủ chứng cứ, áp dụng pháp luật không đúng, vi phạm thủ tục tố tụng dân sự Trong khi đó, tái thẩm dân sự xét lại những bản án, quyết định dân sự

đã có hiệu lực pháp luật nhưng mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án

mà Tòa án và các đương sự đã không biết được khi Tòa án giải quyết vụ án Những tình tiết này có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của vụ án nên cần phải tiến hành theo thủ tục tái thẩm

1.1.3 Vai trò của thủ tục giám đốc thẩm vụ án kinh doanh thương mại

- Giám đốc thẩm các vụ án KDTM có vai trò quan trọng trong việc tổng kết kinh nghiệm

Hiện nay, công tác hướng dẫn xét xử được xác định là một công tác trọng tâm của ngành Tòa án Từ các quyết định giám đốc thẩm trên thực tế, Tòa án cấp trên, nhất là TANDTC đã tổng hợp và đúc kết nên những kinh nghiệm quý báu để hướng dẫn hoạt động xét xử Rõ ràng, nếu không sử dụng kết quả giám đốc thẩm là nguồn tư liệu hướng dẫn xét xử thì những sai lầm của một Tòa án cụ thể sẽ vẫn tiếp tục bị mắc phải ở một Tòa án khác Thông qua hoạt động hướng dẫn xét xử của Tòa

án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới đã kịp thời ngăn chặn các sai lầm tương tự xảy

ra trên diện rộng, từ đó chất lượng xét xử ngày càng được nâng cao Đây được xem

là một sợi dây kết nối thông suốt để hoạt động xét xử được thực hiện đúng pháp luật một cách thống nhất trên phạm vi cả nước

Trang 20

Bên cạnh đó, thông qua hoạt động giám đốc thẩm vụ án KDTM, vô hình chung, Tòa án đã tham gia thực hiện có hiệu quả công tác giải thích pháp luật Khác với pháp luật hình sự, pháp luật dân sự luôn chứa đựng các quy phạm phức tạp nhưng cũng khá mềm dẻo để giải quyết những quan hệ pháp luật dân sự đa dạng, muôn hình muôn vẻ trong đời sống xã hội Do đó, đối với những người am hiểu pháp luật, ngay cả khi họ là Thẩm phán thì việc vận dụng pháp luật dân sự trong quá trình xét xử cũng không thể tránh khỏi sai lầm Vì vậy, những quyết định, phán quyết của TANDTC đối với việc vận dụng pháp luật trong giải quyết những vụ án

cụ thể đã thể hiện quan điểm của Tòa án trong việc phải hiểu và áp dụng những quy định của pháp luật dân sự như thế nào Giám đốc thẩm không chỉ có ý nghĩa đối với những đương sự trong vụ án mà còn có ý nghĩa đối với các công dân khác cũng đang tham gia các mối quan hệ dân sự tương tự trong xã hội

Từ các quyết định giám đốc thẩm được thông báo một cách công khai, kịp thời

và rộng rãi trong phạm vi toàn ngành, các Thẩm phán trực tiếp giải quyết vụ án nhận thức được sai lầm, thiếu sót của mình và tự rút ra kinh nghiệm trong công tác xét xử, tránh lặp lại sai lầm tương tự Đồng thời, căn cứ vào các văn bản hướng dẫn xét xử, Thẩm phán có cơ sở và định hướng cho các hoạt động xét xử sau này, từ đây năng lực của Thẩm phán và chất lượng xét xử ngày càng được nâng cao Ngoài ra, Tòa án cấp trên căn cứ vào số lượng vụ án bị hủy, sửa hàng năm để đánh giá chất lượng Thẩm phán và các cán bộ khác, từ đó đánh giá thi đua làm cơ sở cho việc bổ nhiệm lại Song song với đó, ngành Tòa án sẽ xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ phù hợp với năng lực, đạo đức và củng cố đội ngũ Thẩm phán của ngành

- Giám đốc thẩm các vụ án KDTM là biện pháp tố tụng nhằm đảm bảo cho

vụ việc KDTM được giải quyết đúng pháp luật, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong công tác kiểm tra việc thực hiện và xây dựng pháp luật

Nhà nước ta trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình không chỉ xây dựng, ban hành pháp luật mà còn kiềm tra việc thực hiện pháp luật Tòa án, một trong những bộ phận cấu thành nên bộ máy nhà nước thông qua hoạt động xét

xử đã kiểm tra việc thực hiện pháp luật ở các khâu trước xét xử, phát hiện những vi

Trang 21

phạm pháp luật trong quản lý của các cơ quan, tổ chức hữu quan Và với công cụ giám đốc thẩm, ngành Tòa án đã tự tiến hành kiếm tra trong hệ thống của mình mà không phải là sự kiểm tra của cơ quan nhà nước khác Đây là một trong những cách thức hữu hiệu để kiểm tra việc thực hiện, tuân thủ pháp luật của ngành Tòa án, đồng thời đảm bảo cho vụ án KDTM được giải quyết đúng pháp luật

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án phải tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành, nghiên cứu hồ sơ vụ án và lựa chọn các quy định pháp luật phù hợp Chính trong giai đoạn này, Tòa án có thể phát hiện ra những điểm hạn chế của các quy phạm pháp luật như không phù hợp với thực tiễn khách quan hoặc thậm chí không có quy phạm pháp luật thích hợp để giải quyết vụ án Từ đây, Tòa án có quyền kiến nghị với cơ quan lập pháp để kịp thời sửa đổi, hủy bỏ hoặc bổ sung điều luật mới để pháp luật thực định phù hợp với yêu cầu thực tiễn Có thể nói hoạt động giám đốc thẩm là một hoạt động thực tiễn rất quan trọng của hệ thống Tòa án để kiểm nghiệm lý luận luật học, kiểm nghiệm các văn bản pháp luật và từ đó quay trở lại hoàn thiện, bổ sung và nâng cao hoạt động lý luận luật học, hoạt động xây dựng pháp luật

dựng Nhà nước pháp quyền

Bản chất của nhà nước pháp quyền chính là yếu tố “thượng tôn pháp luật”,

do đó đòi hỏi hai điều kiện cơ bản: dân chủ và tổ chức quyền lực nhà nước mà trong

đó pháp luật được đề cao Giám đốc thẩm thông qua hoạt động xét lại những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đã vô hiệu hóa các bản án, quyết định có vi phạm pháp luật nghiêm trọng nhằm đảm bảo việc xét xử hợp pháp và hợp hiến, hạn chế và khắc phục những sai lầm, vi phạm trong quá trình giải quyết vụ án Từ chính nhiệm vụ của mình, giám đốc thẩm góp phần bảo đảm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa được thực hiện, bảo đảm tính ổn định và thống nhất của pháp luật, tính chặt chẽ và nhất quán của bộ máy Nhà nước

Việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân là một trong những yêu cầu quan trọng của nhà nước pháp quyền Căn cứ vào tình hình thực tế, việc

Trang 22

thực hiện chế độ hai cấp xét xử trong nhiều trường hợp chưa thể đáp ứng được đòi hỏi của xã hội Do đó, giám đốc thẩm các vụ án KDTM chính là một cơ chế được xây dựng để bảo đảm việc xét xử đúng đắn, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được bảo đảm đến mức tối ưu Khi phát hiện bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật có sai lầm hay vi phạm pháp luật nghiêm trọng, ảnh hưởng đến quyền

và lợi ích hợp pháp của dân, Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm có thể hủy những bản án, quyết định sai đã tạo cơ sở pháp lý để vụ án được phục hồi xét xử lại, khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của công dân bị vi phạm[2]

- Giám đốc thẩm trong tố tụng các vụ án KDTM có vai trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triển hệ thống án lệ

Ngoài các nước theo hệ thống pháp luật Common Law, án lệ cũng được nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay chú trọng xây dựng và phát triển Theo pháp luật Trung Quốc, một nước có chế độ pháp luật tương đồng với Việt Nam, các bản

án, quyết định của Tòa án cấp cao nhất được coi như là quy phạm cho Thẩm phán trong quá trình xét xử Ở nhiều quốc gia, phán quyết của Tòa án cấp cao nhất thực hiện hai vai trò chính là hủy, sửa kết quả xét xử sai và hình thành án lệ Tuy nhiên,

ở Việt Nam hiện nay, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, chúng ta mới chỉ chú trọng đến vai trò hủy, sửa kết quả xét xử sai thông qua hoạt động giám đốc thẩm của Tòa án Trong quá trình hội nhập Quốc tế như hiện nay, muốn phù hợp với xu hướng phát triển chung tất yếu đòi hỏi thủ tục giám đốc thẩm phải được nâng cao để hoàn thành tốt cả hai nhiệm vụ trọng tâm của mình Do đó, việc xây dựng và phát triển án lệ từ các quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày càng được quan tâm sâu sắc Nghị quyết 49/NQ-TW của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp và Luật Tổ chức TAND đã nhấn mạnh: Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm áp dụng thống nhất pháp luật và phát triển án lệ [2] Tính đến thời điểm hiện tại thì đã có tổng số 26 án lệ được Tòa án nhân dân tối cao công

bố áp dụng trong quá trình giải quyết các vụ việc, vụ án tại Việt Nam Trong đó, việc xây dựng và phát triển án lệ từ các quyết định giám đốc thẩm vụ án KDTM của HĐTP TANDTC là 4 án lệ, chiếm tỷ lệ 15,3% Để xây dựng được một hệ thống án

Trang 23

lệ thực sự chất lượng đòi hỏi trong tương lai phải có những nghiên cứu sâu sắc và toàn diện vê đường lối xét xử dân sự thông qua công tác giám đốc thẩm các vụ án KDTM không chỉ của HĐTP TANDTC mà còn cả của Tòa án cấp cao

1.2 Quy định của pháp luật tố tụng dân sự về thủ tục giám đốc thẩm vụ án Kinh doanh thương mại

1.2.1 Quy định về nhận đơn đề nghị và kháng nghị giám đốc thẩm

2 Trường hợp Tòa án, Viện kiểm sát hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác phát hiện có vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì phải thông báo bằng văn bản cho người có thẩm quyền kháng nghị quy định tại Điều 331 của Bộ luật này

3 Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh kiến nghị Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao hoặc Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao kiến nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nếu phát hiện có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 326 của Bộ luật này [30]

Như vậy, theo quy định tại Điều 327 BLTTDS thì các chủ thể có quyền đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm theo quy định của BLTTDS không chỉ là đương sự trong vụ án mà còn có Tòa án, Viện kiểm sát, các

cơ quan, tổ chức, cá nhân khác [30]

Trang 24

Về thời hạn mà đương sự được đề nghị người có thẩm quyền xem xét bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực theo thủ tục giám đốc thẩm là trong thời hạn một năm kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, việc quy định thời hạn đó Mục đích của việc rút ngắn thời gian đề nghị là nhằm đảm bảo tính ổn định của bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và hạn chế thời gian mà đương sự có quyền đề nghị bằng văn bản với người có thẩm quyền kháng nghị Tại khoản 1 Điều 327 BLTTDS lại không hạn chế về thời gian thông báo bằng văn bản theo thủ tục giám đốc thẩm của Tòa án, VKS hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác là không phù hợp về mặt lý luận và không phù hợp với nguyên tắc về quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự Bởi vì, bản án, quyết định nếu có vi phạm pháp luật thì ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của đương sự, nhưng quyền đề nghị xem xét lại bản án, quyết định của họ lại bị khống chế trong thời hạn 1 năm, trong khi những cá nhân, tổ chức khác lại không bị hạn chế về thời hạn Việc quy định như vậy sẽ tạo ra khe hở trong hoạt động tư pháp, là lỗ hổng tạo

ra các tiêu cực trong hoạt động tố tụng [30]

Trước đây BLTTDS năm 2004 không quy định riêng về thời hạn đề nghị xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà tại Điều 288 BLTTDS chỉ quy định chung về thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là

3 năm kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật Do đó, thời hạn nộp đơn khiếu nại của đương sự được xác định là 3 năm kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật

Mặc dù thời gian để đương sự nộp đơn khiếu nại chỉ được giới hạn trong thời hạn là 1 năm kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật nhưng BLTTDS cũng có quy định mở hơn

Các quy định của BLTTDS năm 2004 về việc phát hiện kháng nghị giám đốc thẩm được xây dựng trên quan niệm việc phát hiện vi phạm pháp luật là quyền của đương sự, cho nên khi phát hiện vi phạm pháp luật thì đương sự phải làm đơn khiếu nại và nộp các chứng cứ, tài liệu kèm theo gửi cho người có thẩm quyền kháng nghị

Trang 25

Trường hợp Tòa án, VKS hoặc các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác phát hiện

có vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì phải thông báo bằng văn bản cho người có thẩm quyền kháng nghị

Điều 329 BLTTDS quy định thủ tục nhận đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục GĐT như sau:

- Tòa án, VKS nhận đơn đề nghị được đương sự nộp trực tiếp tại cơ quan hoặc qua đường bưu điện phải ghi vào sổ nhận đơn, cấp giấy xác nhận đã nhận đơn cho đương sự

- Tòa án, VKS chỉ thụ lý đơn đề nghị khi có đủ các nội dung quy định Nếu không đủ thì yêu cầu đương sự sửa đổi, bổ sung Nếu không sửa đổi, bổ sung thì trả lại đơn đề nghị

- Người có quyền kháng nghị GĐT phân công cán bộ nghiên cứu đơn báo cáo người có quyền kháng nghị xem xét Nếu không kháng nghị thì phải thông báo bằng văn bản cho người có đơn đề nghị và nêu rõ lý do [30]

1.2.1.2 Chủ thể kháng nghị giám đốc thẩm

“Kháng nghị giám đốc thẩm là quyết định của người có thẩm quyền đối với một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật; là cơ sở pháp lý để Tòa án có thẩm quyền xét xử giám đốc thẩm” [11, tr.60]

Khác với thủ tục phúc thẩm, thủ tục giám đốc thẩm xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nên phải được thực hiện theo trình tự thủ tục hết sức chặt chẽ Do đó, pháp luật tố tụng quy định chỉ những người có thẩm quyền nhất định mới có quyền kháng nghị các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật

của Tòa án

Điều 331 BLTTDS năm 2015 quy định: Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao: bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định giám đốc

Trang 26

thẩm của HĐTPTANDTC Chánh án TAND cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đà có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp

huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ [30]

Ngoài ra, thông qua công tác kiểm tra, giám đốc việc xét xử trong nội bộ hệ thống Tòa án và thông qua hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS cũng phát hiện được những sai lầm trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Đối với các trường hợp này, người có thẩm quyền kháng nghị cũng có thể ra quyết định

kháng nghị không dựa trên cơ sở đề nghị của đương sự

Việc quy định quyền kháng nghị ở phạm vi rộng, vượt ra ngoài yêu cầu, đề nghị của đương sự như hiện nay ở nước ta thiết nghĩ cần được xem xét cẩn trọng hơn Một nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự là tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự Đối với một bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nếu các bên đương sự đều thấy quyền và lợi ích hợp pháp của mình được đảm bảo và không có

đề nghị gì thì kháng nghị của người có thẩm quyền vô hình đã làm ảnh hưởng đến quyền tự định đoạt của các đương sự

1.2.1.3 Căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm

Kháng nghị giám đốc thẩm là một quyết định quan trọng của người có thẩm quyền kháng nghị với đối tượng là những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Trong trường hợp kháng nghị được chấp nhận sẽ dẫn tới khả năng thay đổi, thậm chí là đảo ngược kết quả của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, làm

ảnh hưởng đến quyền lợi, nghĩa vụ của các đương sự trong vụ án Vì vậy, pháp luật

tố tụng dân sự phải đặt ra những quy định rất chặt chẽ đối với hoạt động kháng nghị nhằm đảm bảo việc kháng nghị là chính xác, đúng pháp luật Những căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm được pháp luật quy định trên cơ sở các sai lầm, vi

phạm pháp luật của Tòa án trong việc giải quyết các vụ án KDTM

Điều 326 BLTTDS năm 2015 quy định kháng nghị giám đốc thẩm phải dựa trên một trong ba căn cứ sau đây:

Trang 27

Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách

quan của vụ án gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự

Kết luận trong bản án, quyết định là kết quả của việc đánh giá chứng cứ nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án Dựa vào kết luận này, Tòa án sẽ đưa

ra quyết định chính thức để phân xử quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong vụ

án Nếu trong quá trình đánh giá chứng cứ, người tiến hành tố tụng do vô ý mà đánh

giá sai lệch chứng cứ, sử dụng các chứng cứ không liên quan đến vụ án hoặc sử

dụng các chứng cứ không phản ánh sự thật khách quan của vụ án để đưa ra kết luận thì kết luận này là sai lầm, không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, và do đó bản án quyết định

có hiệu lực pháp luật sẽ bị kháng nghị giám đốc thẩm

Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ

không được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật

Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là trường hợp bắt buộc cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng phải tuân theo các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, nhưng các chủ thể này bỏ qua

hoặc thực hiện không đầy đủ, không đúng các quy định của BLTTDS

Có thể hiểu sự vi phạm thủ tục tố tụng này phải xâm phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình dẫn đến quyền lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ hoặc làm cho việc giải quyết vụ án thiếu khách quan, thiếu toàn diện Trên thực tế các vi phạm nghiêm

trọng thủ tục tố tụng thường gặp như: việc thu thập chứng cứ, xác minh chứng cứ

chưa được tiến hành khách quan, đúng theo trình tự luật định; chưa xác định đầy đủ đương sự trong vụ án; xác định không đúng tư cách tố tụng của đương sự; chưa làm

rõ vấn đề cần chứng minh trong vụ án; xác định sai thẩm quyền; vi phạm thủ tục

trong việc xét xử vắng mặt đương sự; nội dung bản án không phù hợp với diễn biến

phiên tòa được thế hiện tại biên bản phiên tòa, nội dung bản án đã tuyên không phù

hợp với biên bản phiên tòa

Trang 28

+ Việc thu thập, xác minh chứng cứ thiếu khách quan, chưa đúng theo trình tự luật định Biểu hiện cụ thể là quá tin vào các tài liệu trong hồ sơ; đánh giá chứng cứ dựa trên định kiến có sẵn; việc tranh tụng, xét hỏi tại phiên tòa không đầy đủ; việc xác minh không đầy đủ như không triệu tập nhân chứng, không hỏi đầy đủ những

người tham gia tố tụng, không tiến hành đối chất khi có ý kiến trái ngược nhau

+ Chưa xác định đầy đủ đương sự trong vụ án: Đối với một vụ án được Tòa án thụ lý giải quyết, đương sự là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, gồm nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (nếu có) “Việc xác định đương sự trong tố tụng nhằm bảo đảm cho họ thực hiện những quyền hay nghĩa vụ tố tụng như quyền đề đạt yêu cầu, cung cấp chứng cứ, kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án” [11, tr.88] Thực hiện việc xác định đúng và đủ tư cách đương sự trong vụ án nhằm đảm bảo cho đương sự có cơ sở để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, đồng thời cũng là điều kiện để vụ án được giải quyết đúng đắn và toàn diện Do đó, việc bỏ sót không đưa hoặc đưa không đúng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng trong vụ án được coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và bản án,

quyết định của Tòa án sẽ bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm

+ Xác định không đúng tư cách tố tụng của đương sự: việc xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự có ảnh hưởng rất lớn đến việc giải quyết đúng đắn vụ án Đây chính là một trong những căn cứ để xác định quyền và nghĩa

vụ pháp lý của các đương sự Việc xác định sai tư cách tham gia tố tụng, cũng là sai

lầm thường xảy ra dẫn đến phải kháng nghị giám đốc thẩm

+ Chưa xác định rõ vấn đề cần chứng minh trong vụ án: Theo quy định tại Điều 93 BLTTDS, chứng cứ trong vụ việc KDTM là những gì có thật được đương

sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ

và hợp pháp Tuy nhiên, không phải tất cả chứng cứ đều có giá trị như nhau trong

Trang 29

việc giải quyết vụ án Tòa án cần phải nắm rõ tình tiết của vụ án và xác định những vấn đề nào cần phải chứng minh, tập trung làm sáng tỏ Việc xác định không đầy đủ vấn đề chính cần chứng minh hoặc xác định không đúng vấn đề trọng tâm sẽ dẫn tới những sai lầm trong việc giải quyết vụ án Thông thường bản

án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật chỉ bị kháng nghị khi việc điều tra không đầy đủ, gây ảnh hưởng đến việc xác định sự thật của vụ án KDTM Nếu việc điều

tra thiếu đầy đủ này không gây ảnh hưởng đến việc xác định sự thật của vụ án,

không làm tổn hại đến quyền và lợi ích của các bên thì thông thường sẽ không bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm [30]

Có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến việc ra bản án, quyết định

không đúng gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, xâm phạm đến

lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của người thứ ba

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án phải căn cứ vào các quy định của pháp luật để đưa ra những phán quyết hợp lý nhất, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của người thứ ba Việc áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án

KDTM nhìn chung đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật dân sự

Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án vẫn tồn tại những thiếu sót, sai lầm trong việc áp dụng pháp luật của Tòa án Sai lầm trong việc áp dụng pháp luật được hiểu là việc Tòa án lựa chọn và sử dụng sai các quy định pháp luật không đúng để giải quyết vụ án, dẫn đến hậu quả Tòa án đưa ra các phán quyết sai làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các đương sự, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba Các sai lầm trong việc áp dụng pháp luật thường được thể hiện dưới dạng không áp dụng điều luật trong trường hợp cần phải

áp dụng, áp dụng điều luật trong trường hợp không được áp dụng, áp dụng văn bản pháp luật không đúng, không còn hiệu lực hoặc áp dụng không đúng nội dung, tinh thần của điều luật Trong đó, phổ biến nhất là việc Tòa án áp dụng sai điều luật hoặc không đúng nội dung quy định của điều luật vào việc giải quyết vụ án

Trang 30

1.2.1.4 Thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm

Để đảm bảo việc xét lại vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm đạt hiệu quả tốt, đáp ứng được yêu cầu sửa chữa những sai lầm của Tòa án trong các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, việc kháng nghị của những người có thẩm quyền cần được tiến hành trong, một thời hạn nhất định Việc xây dựng, các quy định về thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm phải đáp ứng được hai yêu cầu là tạo điều kiện cho đương sự có thể bảo vệ quyền, lợi ích của mình, đồng thời bảo đảm tính ổn định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Do vậy, quy định về thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm là sự kết hợp một cách hài hòa hai yếu tố này trên cơ sở xác định hợp lý mốc tính thời hạn kháng nghị và độ dài của thời gian mà người có thẩm quyền có thể thực hiện việc kháng nghị Khoản 1 Điều 334 BLTTDS năm 2015 quy định: Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm

có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa

án có hiệu lực pháp luật Việc quy định thời hạn như vậy là tương đối dài, khiến cho hoạt động thi hành án gặp nhiều khó khăn Khi bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đương sự có đơn yêu cầu, Cơ quan Thi hành án sẽ thực thi nhiệm vụ, chức năng của mình theo quy định của pháp luật Nhiều trường hợp bản án, quyết định đã được thi hành xong, các quan hệ dân sự đã ổn định nên khi xét lại theo thủ

tục giám đốc thẩm sẽ dẫn tới việc khắc phục hậu quả rất khó khăn

Khoản 2 Điều 334 BLTTDS năm 2015 đã ghi nhận thêm hai trường hợp mà theo đó thời hạn kháng nghị được kéo dài thêm 02 năm kể từ ngày hết thời hạn

kháng nghị [30], đó là:

+ Đương sự đã có đơn đề nghị trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và sau khi hết thời hạn kháng nghị 03 năm

đương sự vẫn tiếp tục có đơn đề nghị;

+ Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm pháp luật, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, của người thứ ba, xâm phạm lợi ích của cộng đồng, lợi ích của Nhà nước và phải kháng nghị

để khắc phục sai lầm trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đó

Trang 31

Quy định này của BLTTDS đã phá bỏ sự cứng nhắc về thời hạn kháng nghị, nhằm tạo cơ chế tốt hơn quyền tiếp cận công lý của công dân Tuy nhiên, cần có sự hướng dẫn cụ thể hơn trong việc xem xét kéo dài thời hạn kháng nghị như đơn đề nghị dược gửi sau khi hết thời hạn kháng nghị có cần phải đáp ứng điều kiện gì không; việc “xâm phạm lợi ích của của đương sự của người thứ ba, xâm phạm lợi ích của cộng đồng, lợi ích của Nhà nước” có cần phải tuân thủ điều kiện “xâm phạm nghiêm trọng” hay không … để tránh tình trạng thời hạn kéo dài vô lý, gây mất ổn

định đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật

Ngoài ra, theo BLTTDS năm 2015 thì thủ tục đặc biệt để xem xét lại quyết định của HĐTP TANDTC được thực hiện dựa trên yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội, kiến nghị của Ủy ban Tư pháp, kiến nghị của Viện trưởng VKSNDTC hoặc đề nghị của Chánh án TANDTC chứ không phải dựa trên kháng nghị của Chánh

án TANDTC hay Viện trưởng VKSNDTC vấn đề đặt ra là các “yêu cầu, kiến nghị,

đề nghị” như trên có phải tuân thủ các quy định về thời hạn kháng nghị hay không? Hiện nay, không có một điều luật cụ thể nào quy định hay dẫn chiếu về thời hạn đối với các “yêu cầu, kiến nghị, đề nghị” này Do đó, có thể hiểu thời hạn để các chủ thể

có quyền thực hiện việc “yêu cầu, kiến nghị, đề nghị” xem xét lại quyết định của HĐTPTANDTC dường như là vô hạn [30] Như vậy, để việc áp dụng pháp luật được thống nhất và đảm bảo được tính ổn định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nhất thiết cần phải có hướng dẫn rõ ràng, cụ thể hơn về vấn đề này

1.2.2 Quy định về thủ tục xem xét lại bản án, quyết định bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm

1.2.2.1 Thẩm quyền giám đốc thẩm các vụ án kinh doanh thương mại

Khi một bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng

nghị tức là bản án, quyết định đó đang bị đặt trong tình trạng phải xem xét lại tính

hợp pháp Tuy nhiên, việc xem xét lại và quyết định về tính có đúng đắn hay không của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật lại thuộc thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm Điều 339 BLTTDS năm 2015 quy định Tòa án có thẩm quyền giám

Trang 32

đốc thẩm phải mở phiên tòa để xét lại vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm trong thời hạn 04 tháng kể từ ngày nhận được kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án Theo quy định tại Điều 337 BLTTDS năm 2015 không phải Tòa án nào cũng có thẩm quyền giám đốc thẩm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, mà quyền này chỉ được trao cho TANDTC và Tòa án nhân dân cấp cao có quyền Giám đốc thẩm Bản

án, quyết định của TAND theo quy định Có thể thấy thẩm quyền giám đốc thẩm đã được phân cấp tương đối rành mạch [30]

1.2.2.2 Chuẩn bị mở phiên tòa giám đốc thẩm

Như đã nêu ở trên, trong thời hạn 04 tháng, kể từ ngày nhận được kháng nghị, phiên tòa giám đốc thẩm phải được mở ra để xem xét lại những sai lầm của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Đây là khoảng thời gian cần thiết để Tòa án có

thẩm quyền thực hiện công tác chuẩn bị cho phiên tòa giám đốc thẩm Kết quả của

phiên tòa có tốt hay không phụ thuộc rất nhiều vào công tác chuẩn bị, bởi lẽ việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật chủ yếu dựa vào hồ sơ vụ án Theo Điều 338 BLTTDS năm 2015 quy định: Trường hợp xét thấy cần thiết, Tòa án triệu tập đương sự hoặc người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác có liên quan đến việc kháng nghị tham gia phiên tòa giám đốc thẩm [30] Như vậy, Tòa án vẫn có thể tùy nghi quyết định việc triệu tập đương sự trong trường hợp luật không quy định bắt buộc Tại

khoản 2 Điều 341 BLTTDS quy định: Đương sự, người đại diện hợp pháp, người bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác được Tòa án triệu tập đến phiên tòa giám đốc thẩm trình bày ý kiến về những vấn đề mà Hội đồng giám đốc thẩm yêu cầu [30] Căn cứ theo nội dung điều luật, đương sự chỉ được trình bày ý kiến khi Hội đồng giám đốc thấm cho phép và về những vấn đề mà Hội đồng yêu cầu Rõ ràng, với các quy định trên đây thì thực chất việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật vẫn chủ yếu dựa vào tài liệu, chứng cứ có trong

hồ sơ vụ án Do đó, công tác chuẩn bị cho phiên tòa giám đốc thẩm vẫn có ý nghĩa rất

quan trọng đối với việc giải quyết lại vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm

Trang 33

Sau khi nhận được kháng nghị, Chánh án Tòa án sẽ phân công một Thẩm phán là thành viên Hội đồng giám đốc thẩm chịu trách nhiệm chính đối với việc chuẩn bị phiên tòa Thẩm phán này sẽ thực hiện việc nghiên cứu hồ sơ vụ án, bản

án, quyết định bị kháng nghị, bản kháng nghị, kết luận của Viện kiểm sát nếu có và làm bản thuyết trình về vụ án tại phiên tòa Bản thuyết trình này phải tóm tắt nội dung vụ án và các bản án, quyết định của các cấp Tòa án, nội dung kháng nghị Bản thuyết trình phải được gửi trước cho các thành viên của Hội đồng giám đốc thẩm chậm nhất là 07 ngày trước ngày mở phiên tòa Các thành viên khác của Hội đồng cũng tham gia nghiên cứu hồ sơ vụ án và nắm vững các nội dung, chi tiết của vụ án

để tham gia phiên tòa giám đốc thẩm

Trong quá trình chuẩn bị, nếu thấy những chứng cứ, tài liệu cần thiết cho việc xét lại bản án, quyết định bị kháng nghị chưa đầy đủ thì phải tiến hành thu thập thêm chứng cứ, tài liệu cần thiết Xét thấy cần phải xác minh thêm thì Tòa án cấp giám đốc thẩm có thế tự mình tiến hành xác minh hoặc ủy quyền cho Tòa án cấp

1.2.2.3 Người tiến hành tố tụng và người tham gia phiên tòa giám đốc thẩm

Khác với phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, phiên tòa giám đốc thẩm không yêu cầu bắt buộc phải có mặt người tham gia tố tụng Việc có sự xuất hiện của người này hay không phụ thuộc vào nhận định và quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm trong quá trình xét xử vụ án

Thành phần Hội đồng giám đốc thẩm được quy định tại khoản 2 Điều 66 BLTTDS năm 2015 như sau: Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm năm Thẩm phán hoặc toàn thể Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao [30]

Trang 34

Tương tự như giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, Thẩm phán trong giai đoạn giám đốc thầm cũng phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đồi trong những trường hợp quy định tại Điều 52 và Điều 53 BLTTDS năm 2015 như sau: Thẩm phán đồng thời là đương sự, người đại diện, người thân thích của đương sự; hoặc đã tham gia tố tụng với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch trong cùng vụ án đó hoặc có căn cứ rõ ràng cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ; họ cùng trong một Hội đồng xét xử và là người thân thích với nhau: họ đã tham gia giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm vụ việc KDTM đó và đã ra bản án sơ thẩm, bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, quyết định giải quyết việc dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, trừ trường hợp

là thành viên của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao thì vẫn được tham gia giải quyết vụ việc đó theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm; họ đã là người tiến hành tố tụng trong vụ việc đó với tư cách là Thẩm tra viên, thư ký Tòa án, kiểm tra viên [30]

Thành phần của Hội đồng giám đốc thẩm quy định như hiện nay là tương đối hợp lý Tuy nhiên, việc xác định chủ tọa của các phiên tòa giám đốc thẩm vẫn cần được nghiên cứu và tìm kiếm một giải pháp phù hợp hơn Hiện nay, theo quy định BLTTDS thì Chánh án TANDTC chủ tọa các phiên tòa của HĐTPTANDTC Một vấn đề đặt ra là pháp luật quy định Chánh án TANDTC có thẩm quyền kháng nghị,

và thực tế số lượng kháng nghị của Chánh án chiếm đa số trong tổng số những kháng nghị giám đốc thẩm Sau đó, chính những người này lại kiêm vai trò chủ tọa phiên tòa giám đốc thẩm đế xem xét chính kháng nghị của mình Rõ ràng, chủ tọa giữ vai trò rất lớn và có sự ảnh hưởng không nhỏ đến ý chí của các thành viên khác trong Hội đồng, nhất là khi chủ tọa lại là thủ trưởng của cơ quan Như vậy, việc xem xét kháng nghị theo thủ tục giảm đốc thẩm có thực sự khách quan hay không? Việc phát huy trí tuệ tập thể của Hội đồng thẩm phán và Ủy ban thẩm phán có thực

sự được thực hiện hay không? Vấn đề này cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng để

Trang 35

đảm bảo hoạt động xét lại bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật được thực hiện một cách khách quan, minh bạch hơn

- Sự tham gia của Viện kiểm sát trong phiên tòa giám đốc thẩm

Việc tham gia của đại diện Viện kiểm sát là nguyên tắc có tính chất bắt buộc tại phiên tòa GĐT Khoản 1 Điều 338 BLTTDS năm 2015 quy định: “Phiên tòa

giám đốc thẩm phải cỏ sự tham gia của VKS cùng cấp” [30] cụ thể: Viện trưởng

VKSNDTC tham gia phiên họp GĐT của HĐTPTANDTC (Khoản 6 điều 359 BLTTDS) Việc tham gia phiên họp giám đốc thẩm không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ của Viện kiểm sát Khác với pháp luật hình sự, Viện kiểm sát không thực hành quyền công tố trong lĩnh vực pháp luật dân sự, nhưng lại có vai trò rất quan trọng trong việc kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng, đảm bảo cho việc giải quyết đúng đắn vụ án

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện VKS phát biểu quan điểm của VKS về quyết định kháng nghị giám đốc thẩm Trong trường hợp kháng nghị giám đốc thẩm

do Viện trưởng VKS ban hành thì Kiểm sát viên phát biểu để làm rõ, bảo vệ kháng nghị giám đốc thẩm Nếu qua thuyết trình và thảo luận của Hội đồng giám đốc thẩm

mà Kiểm sát viên thấy kháng nghị của Viện trường Viện kiểm sát chưa đúng, thiếu căn cứ thì có thể đề nghị Hội đồng giám đốc thẩm hoãn phiên tòa để báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát xem xét rát quyết định kháng nghị Đây là một điểm khác biệt với phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm khi mà Viện kiểm sát chỉ có quyền phát biểu ý kiến tại phiên tòa Trong trường hợp kháng nghị giám đốc thẩm là của Chánh án Tòa

án thì đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm nhất trí hay không nhất trí với kháng nghị và phân tích lý do đưa ra quan điểm của mình Tại phiên tòa giám đốc thẩm, nếu phát hiện cỏ vi phạm pháp luật Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng giám đốc thẩm khắc phục, trong trường hợp thật cần thiết thì có thể đề nghị hoãn phiên tòa

- Sự tham gia của Thư ký phiên tòa, Thẩm tra viên trong phiên tòa giám đốc thẩm

Mặc dù pháp luật tố tụng dân sự không có điều luật nào quy định bắt buộc phải có sự tham gia của Thư ký phiên tòa, Thẩm tra viên hoặc Chuyên viên, tuy

Trang 36

nhiên trong thực tiễn xét xử giám đốc thẩm, sự tham gia của những thành phần này

là rất cần thiết Bất kể một phiên tòa nào cũng cần Thư ký ghi lại diễn biến phiên tòa được thể hiện dưới dạng biên bản Bên cạnh đó, Thẩm tra viên cùng đóng vai trò quan trọng vì họ thường được phân công cùng với Thẩm phán nghiên cứu hồ sơ và trong thực tế họ là người tham gia thuyết trình trước Hội đồng giám đốc thẩm về các nội dung của vụ án cần xem xét lại

- Những người tham gia phiên tòa giám đốc thẩm:

Tương tự như phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, pháp luật tố tụng dân sự cũng quy định sự có mặt của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa giám đốc thẩm nhưng với điều kiện Hội đồng giám đốc thẩm nhận định việc có mặt của những người này là cần thiết Theo Khoản 2 Điều 338 BLTTDS năm 2015 quy định: “Khi xét thấy cần thiết, Tòa án triệu lập những người tham gia tố tụng và những người khác có liên quan đến việc kháng nghị tham gia phiên tòa giám đốc thẩm vụ án” [30] Những người tham gia tố tụng chủ yếu phải kể đến nguyên đơn; bị đơn; người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (Luật sư) Việc pháp luật tố tụng dân sự không quy định bắt buộc sự có mặt của những người tham gia tố tụng xuất phát từ tính chất đặc thù của thủ tục giám đốc thẩm là hoạt động xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật chứ không phải là xét xử lại vụ án Tòa án mở phiên tòa giám đốc thẩm để xem xét lại

vụ án trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án hoặc các chứng cứ do Tòa án thu thập thêm nên sự có mặt của những người tham gia tố tụng rất hạn chế Một thực tế là việc quy định như vậy dường như chỉ mang tính hình thức vì sự có mặt của những người tham gia tố tụng, đặc biệt là nguyên đơn và bị đơn tại phiên tòa giám đốc thẩm gần như là không có Thông thường, họ chỉ gửi đơn đề nghị, tài liệu bổ sung thông qua đường bưu điện cho Tòa án Trong trường hợp thật đặc biệt thì họ mới được đại diện của Tòa án, Viện kiểm sát gặp gỡ để trình bày trực tiếp

Nhiều ý kiến cho rằng việc có mặt của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa giám đốc thẩm là không cần thiết vì các bản án, quyết định dân sự có hiệu lực pháp luật đã được xét xử qua ít nhất một lần và có thể nhiều hơn, do đó đã đủ

Trang 37

chứng cứ, lài liệu để phục vụ cho việc xem xét lại vụ án Ngoài ra, việc bảo đảm sự

có mặt của những người tham gia tố tụng và những người khác có liên quan đến dự phiên tòa là khó khăn cho chính đương sự, bởi vì TANDTC thực hiện việc giám đốc thẩm đối với các vụ án trên phạm vi toàn quốc nhưng không thể tiến hành xét xử lưu động mà chỉ giải quyết các công việc tại trụ sở TANDTC Tuy nhiên, các ý kiến trái chiều lại cho rằng việc các đương sự không có mặt tại phiên tòa giám đốc thấm

là một điểm hạn chế vì việc thu thập chứng cứ còn chưa đầy đủ, nhiều hồ sơ vụ án rất sơ sài, hoặc bị làm sai lệch Nếu các đương sự không có mặt và không được trình bày thì rất có thể Hội đồng giám đốc thẩm sẽ đưa ra phán quyết sai lầm Bên cạnh đó, sự vắng mặt, của đương sự sẽ kéo theo tính trách nhiệm chưa cao của Hội đồng giám đốc thẩm do thiếu đi sức ép trực tiếp từ phía các bên và tính tranh luận tại phiên tòa cũng giam đi đáng kể Chính vai trò của đương sự mờ nhạt như vậy làm cho việc xét lại vụ án ở giai đoạn giám đốc thẩm nhiều khi mang tính chất một chiều, dẫn đến phán quyết của Hội đồng giám đốc thẩm thiếu tính khách quan, toàn diện và chính xác Về vấn đề này, pháp luật tố tụng Dân sự của đa số các nước trên thế giới như: Cộng hòa Pháp, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Liên bang Nga đều cho phép các đương sự có mặt tại phiên tòa giám đốc thẩm Để pháp luật tố tụng dân sự được hoàn thiện hơn, đảm bảo sự khách quan, chính xác của hoạt động giám đốc thẩm BLTTDS cần sửa đổi theo hướng cho phép đương sự được tham gia phiên tòa giám đốc thẩm mà không phụ thuộc vào việc được triệu tập khi Tòa án thấy cần thiết

Hiện nay, việc tham gia phiên tòa dân sự của những ngươi bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, mà cụ thể là Luật sư đang ngày càng được đề cao Tuy nhiên, hoạt động của Luật sư ở giai đoạn giám đốc thẩm lại không được coi trọng đúng mức Việc tiếp cận hồ sơ vụ án trong giai đoạn giám đốc thẩm thường khá khó khăn và nhiều khi không thể thực hiện được BLTTDS cũng không có điều khoản nào quy định trực tiếp quyền tham gia phiên tòa giám đốc thẩm của Luật sư Rõ ràng, vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự là rất quan trọng Đây là một nhân tố bên ngoài Nhà nước, có vai trò đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, đồng thời tạo điều kiện để Tòa án giải quyết vụ án KDTM một cách chính xác Việc Luật sư không tham gia phiên tòa giám đốc thẩm sẽ là một thiệt thòi cho các bên đương sự, và cùng

Trang 38

là một khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng khi đưa ra phán quyết vì không cỏ sự phản biện dân chủ và khách quan của Luật sư nên nhiều khi mang tính phiến diện, một chiều, để xảy ra sai lầm Pháp luật tố tụng dân sự của nhiều nước cùng đều có các điều khoản quy định để Luật sư tham gia một cách tích cực vào quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn giám đốc thẩm như BLTTDS của Cộng hòa Pháp, Hoa Kỳ

1.2.2.4 Thủ tục phiên tòa giám đốc thẩm

Sau khi các công tác chuẩn bị được hoàn thành, phiên tòa giám đốc thẩm sẽ được tiến hành bởi HĐTP TANDTC Cũng được gọi là phiên tòa nhưng thực chất phiên tòa giám đốc thẩm diễn ra dưới hình thức như một cuộc họp Tòa án có thể triệu tập người tham gia tố tụng khi thấy cần thiết, nhưng nếu những người nay vắng mặt thì phiên tòa vẫn được tiến hành bình thường Hiện nay hầu hết các phiên tòa giám đốc thẩm chỉ có thành phần những người tiến hành tố tụng và đại diện Viện kiểm sát mà không có các bên đương sự Bên cạnh đó, phòng xử án không theo một quy định bắt buộc như phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm (chẳng hạn như quy định về chuẩn bị khai mạc phiên tòa, nội quy phiên tòa) Nếu như tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, vị trí ngồi của từng thành phần trong phiên tòa rất được chú ý, coi trọng và có sự phân biệt rõ ràng thì tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát và Thư ký ngồi chung với Hội đồng xét xử Do đó, khó có thể phân biệt một phiên tòa giám đốc thẩm với một cuộc họp thông thường

Điều 341 BLTTDS năm 2015 quy định về trình tự, thủ tục phiên tòa giám đốc thẩm [30] như sau:

+ Sau khi chủ tọa khai mạc phiên tòa, một thành viên Hội đồng xét xử giám đốc thẩm trình bày tóm tắt nội dung vụ án, quá trình xét xử vụ án, quyết định của bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị, các căn cứ, nhận định của kháng nghị và đề nghị của người kháng nghị Trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị thì đại diện Viện kiểm sát trình bày nội dung

+ Đương sự, người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác được Tòa án triệu tập đến phiên tòa giám đốc thẩm trình bày ý kiến về những vấn đề mà Hội đồng giám đốc

Trang 39

thẩm yêu cầu Trường hợp họ vắng mặt nhưng có văn bản trình bày ý kiến thì Hội đồng xét xử giám đốc thẩm công bố ý kiến của họ

+ Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến quyết định kháng nghị và việc giải quyết vụ án

Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ án

+ Các thành viên Hội đồng xét xử giám đốc thẩm phát biểu ý kiến và thảo luận Hội đồng xét xử giám đốc thẩm nghị án và biểu quyết về việc giải quyết vụ án

và công bố nội dung quyết định về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa [30]

Với hình thức mở phiên tòa không công khai và quy mô của phiên tòa chỉ như một phiên họp bình thường đã làm giảm đi tính dân chủ của phiên tòa giám đốc thẩm Từ đây dẫn đến một hệ lụy là tính trách nhiệm của Hội đồng giám đốc thẩm chưa cao do không phải chịu sức ép trực tiếp từ các bên đương sự và từ dư luận Rõ ràng, chất lượng việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm sẽ bị ảnh hưởng vì thiếu tính tranh tụng và sự giám sát của xã hội đối với hoạt động này Bên cạnh đó, nếu coi phiên tòa giám đốc thầm cũng là một dạng phiên tòa thì nó phải tuân theo các nguyên tắc chung của BLTTDS, cụ thể là nguyên tắc tòa án xét xử công khai phiên tòa giám đốc thẩm nhằm thúc đẩy tranh tụng, tăng cường sự giám sát của xã hội đối với hoạt động xét xử giám đốc thẩm Pháp luật tố tụng dân sự của nhiều nước tiên tiến như Cộng hòa Pháp, Hoa Kỳ cũng ghi nhận phiên tòa giám đốc thẩm được mở công khai

1.2.2.5 Phạm vi giám đốc thẩm

Mục đích của việc xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm là nhằm khắc phục, sửa chữa những sai lầm trong các bản án, quyết định đó Muốn làm được việc này, Hội đồng giám đốc thẩm phải căn

cứ vào những nội dung, tài liệu, chứng cứ của vụ án Tuy nhiên, để tránh làm mất tính ổn định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, phạm vi của việc xét lại vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm phải bị đặt dưới những giới hạn nhất định

Trang 40

Điều 342 BLTTDS năm 2015 quy định: Hội đồng xét xử giám đốc thẩm chỉ xem xét lại phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị [30] Ngoài ra, Hội đồng xét xử giám đốc thấm có quyền xem xét phần quyết định của bản án, quyết định

đã có hiệu lực pháp luật không bị kháng nghị hoặc không có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị, nếu phần quyết định đó xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, lợi ích của người thứ ba không phải là đương sự trong vụ án [30] Việc quy định phạm vi của giám đốc thẩm phụ thuộc vào quyết định kháng nghị

là hoàn toàn hợp lý, đặc biệt là đối với các vụ án trong lĩnh vực dân sự Nếu những vấn đề không được các bên đề nghị kháng nghị để xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm nhưng vẫn bị đưa ra xét lại sẽ làm ảnh hưởng đến tính ổn định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và quyền tự định đoạt của đương sự Bên cạnh đó, phạm

vi giám đốc thẩm cũng được linh hoạt mở rộng hơn đối với những phần của bản án, quyết định không có kháng nghị trong trường hợp những phần quyết định này xâm phạm đến lợi ích Nhà nước, lợi ích của người thứ ba không phải đương sự Vì nếu phát hiện bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật xâm phạm quyền lợi của mình, bên thứ ba hoàn toàn có thể làm đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm Rõ ràng, việc Tòa án tự ý xem xét lại những nội dung không bị kháng nghị với mục đích bảo vệ bên thứ ba không phải đương sự, trong khi chính những người này không yêu cầu đã làm cho các quan hệ dân sự mất tính ổn định và chưa đảm bảo nguyên tắc tự định đoạt trong tố tụng dân sự

1.2.2.6 Quyền hạn của Hội đồng giám đốc thẩm

Sau khi tiến hành phiên tòa giám đốc thẩm, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm

sẽ biểu quyết về việc giải quyết vụ án Điều 343 BLTTDS năm 2015 đã trao cho Hội đồng xét xử giám đốc thẩm những quyền như sau:

+ Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định của Tòa án

đã có hiệu lực pháp luật;

+ Hủy bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp dưới đã bị hủy hoặc bị sửa;

Ngày đăng: 22/04/2020, 21:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w