1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của tòa án nhân dân từ thực tiễn TAND huyện khoái châu, tỉnh hưng yên

95 146 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu của đề tài Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp đất đai và lý luận pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền củ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI THUỘC THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỪ THỰC TIỄN TAND HUYỆN KHOÁI CHÂU,

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan mọi kết quả trong đề tài này là công trình nghiên cứu của riêng tôi và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này

Hà Nội, ngày…….tháng….….năm 2019

Tác giả luận văn

VŨ VĂN HẬU

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để có được kết quả này, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc và chân thành tới Khoa Luật kinh tế cùng toàn bộ các cán bộ, giảng viên đã giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn

Đặc biệt, em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sỹ Phạm Thu Thủy là giáo viên trực tiếp hướng dẫn đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em trong quá

trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn

Em xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của TAND huyện Khoái Châu, TAND tỉnh Hưng Yên đã tạo điều kiện cho em thu thập số liệu, những thông tin cần thiết để hoàn thành luận văn

Dù đã hết sức cố gắng, song chắc chắn luận văn không tránh khỏi những sai sót, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy, cô để em chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện luận văn đạt chất lượng tốt hơn!

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày…….tháng….….năm 2019

Tác giả luận văn

VŨ VĂN HẬU

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

LỜI CẢM ƠN 2

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 9

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI 9

VÀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI THUỘC THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN 9

1.1 Lý luận về tranh chấp đất đai 9

1.1.1 Khái niệm tranh chấp đất đai 9

1.1.2 Đặc điểm của tranh chấp đất đai 15

1.1.3 Phân loại tranh chấp đất đai 17

1.1.4 Nguyên nhân và hậu quả của tranh chấp đất đai 18

1.2 Lý luận về giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân 22

1.2.1 Khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai bằng Tòa án 22

1.2.2 Sự cần thiết phải giải quyết tranh chấp đất đai bằng Tòa án 23

1.2.3 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp đất đai bằng Tòa án 24

1.2.4 Các yếu tố đảm bảo cho hiệu quả giải quyết tranh chấp đất đai 26

1.3 Lý luận về pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của TAND 29

1.3.1 Khái niệm về pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của TAND 29

1.3.2 Đặc điểm pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của TAND 29

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 33

Chương 2 34 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI THUỘC THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN VÀ

Trang 6

THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, 34 TỈNH HƯNG YÊN 34

2.1 Quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân 342.1.1 Các quy định của pháp luật đất đai về giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân 342.1.2 Các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân 402.1.3 Pháp luật tổ chức Tòa án về giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân 492.2 Thực tiễn thi hành về giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên 512.2.1 Tình hình giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên 512.2.2 Đánh giá hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên 59

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 68 Chương 3 69 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI THUỘC THẨM QUYỀN CỦA TAND CẤP HUYỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TẠI TAND HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN 69

3.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của TAND 693.1.1 Định hướng, yêu cầu hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của TAND 69

Trang 7

3.1.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai thuộc

thẩm quyền của TAND 70

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai tại TAND huyện Khoái Châu 76

3.2.1 Tăng cường kiểm tra, giám sát giải quyết tranh chấp đất đai tại TAND 76

3.2.2 Nâng cao nghiệp vụ đội ngũ cán bộ Tòa án 77

3.2.3 Hướng dẫn cụ thể và thống nhất cho những trường hợp còn vướng mắc 78

3.2.4 Cơ chế phối hợp trong giải quyết các tranh chấp đất đai 80

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 82

KẾT LUẬN 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLTTDS Bộ luật Tố tụng dân sự

GCNQSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất LUẬT ĐẤT ĐAI Luật đất đai

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ xưa đến nay, đất đai luôn luôn được coi là tài nguyên đặt biệt trong cuộc sống của loài người Trải qua nhiều thế hệ, mỗi tấc đất trở thành “tấc vàng”, vô cùng quý giá, thiêng liêng – nó là điều kiện để tồn tại, phát triển của con người và các sinh vật khác trên trái đất

Dưới sự tác động của con người, xét dưới góc độ kinh tế thị trường, đất đai trở thành hàng hóa đặc biệt Đất đai tham gia vào tất cả các ngành sản xuất vật chất của xã hội Trong nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chính Trong công nghiệp, đất đai là cơ sở, làm địa điểm để tiến hành những thao tác, những hoạt động sản xuất kinh doanh Trong bối cảnh hiện nay, đất đai ngày càng trở nên khan hiếm và

có vai trò quyết định đối với sinh kế của người dân Chính vì vậy, chính sách của các quốc gia đều tập trung vào điều chỉnh quy hoạch, sử dụng đất đai một cách hiệu quả

Việt Nam là quốc gia đang phát triển, chính sách pháp luật về đất đai của Đảng và Nhà nước đã có nhiều thay đổi để phù hợp với từng giai đoạn phát triển của xã hội ta Những năm gần đây, quá trình đô thị hóa ở nước ta diễn ra mạnh mẽ nên những hoạt động, tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất cũng khá nhiều

và mức độ ngày càng nghiêm trọng Do nhận thức của người dân về sở hữu đất đai không đồng nhất với quy định của pháp luật; vẫn còn tồn tại các phong tục, tập quán truyền thống, hương ước, luật tục với những quy định lạc hậu về sở hữu đất đai chưa được loại bỏ đã “ăn sâu, bám rễ” trong tiềm thức của một bộ phận dân chúng vốn ít có điều kiện tiếp xúc với pháp luật Trong tiềm thức của một bộ phận dân chúng (đặc biệt là những người dân sống ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng

xa hoặc người dân có trình độ học vấn thấp) vẫn tồn tại quan niệm đất đai là của ông cha, tổ tiên để lại Hoặc cũng có một số người dân quan niệm rằng đất đai là của Nhà nước nhưng khi Nhà nước đã giao cho sử dụng ổn định lâu dài và cấp giấy

Trang 10

2

chứng nhận quyền sử dụng đất thì là của họ Chính vì nhận thức không đúng này nên trong điều kiện kinh tế thị trường, đất đai ngày càng trở nên có giá thì tình trạng đòi lại đất của ông cha ngày càng gia tăng Tuy vậy, nhiều quy định còn thiếu thống nhất, việc giải thích, hướng dẫn của các cơ quan chức năng còn chưa kịp thời Nên tình hình giải quyết tranh chấp đất đai của các cơ quan chức năng nói chung và Tòa

án nhân dân nói riêng trong những năm qua còn chậm trễ, không thỏa đáng, gây ra tình trang xử đi xử lại, khiếu kiện dài và nhiều lần Điều này ảnh hưởng không tốt đến niềm tin của nhân dân vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước

Khoái Châu là một huyện đồng bằng của tỉnh Hưng Yên Diện tích đất tự nhiên của toàn huyện tính đến năm 2017 là 13.097,59 ha, đây là một trong những địa bàn có diện tích khá lớn của tỉnh Quá trình đô thị hóa diễn ra ở Khoái Châu cũng rất mạnh mẽ nên đất đai ở đây ngày càng có giá trị Do vậy, ở Khoái Châu tình trạng tranh chấp đất đai cũng rất nghiêm trọng Trong đó phần lớn các vụ việc liên quan đến bồi thường khi giải phóng mặt bằng, thu hồi đất, tranh chấp liên quan đến chuyển nhượng quyền sử dụng đất… Có những vụ việc khiếu kiện kéo dài, hơn nữa

do số lượng án tăng, tính chất ngày càng phức tạp và nhiều nguyên nhân khác nhau

mà hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân còn bộc lộ những hạn chế nhất định như

án bị hủy, bị sửa vẫn còn, việc xét xử kéo dài gây ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân và các cơ quan, tổ chức khác

Chính vì thực trạng như vậy, nên tác giả chọn đề tài “Pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân từ thực tiễn Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên” làm đề tài nghiên cứu của mình

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Đất đai là tài nguyên quý giá của quốc gia chính vì vậy, ở Việt Nam cũng như trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về đất đai nói chung và chính sách pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai Có thể kể đến như:

Đinh Văn Ninh (2010), Một trăm mười một câu hỏi - đáp về khiếu nại hành

chính, khiếu kiện hành chính, tranh chấp đất đai và tố cáo, NXB Chính trị quốc gia,

Trang 11

3

Hà Nội Trong công trình của mình, tác giả đề cập đến các câu hỏi đã được thu thập

về khiếu nại hành chính, khiếu kiện hành chính, tranh chấp đất đai và tố cáo cùng lời giải đáp để người đọc tiếp cận với các kiến thức về khiếu nại, khiếu kiện hành chính và các tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật hiện hành

Nguyễn Văn Dũng (2018), Bàn về mối quan hệ giữa toà án với cơ quan có

thẩm quyền tại địa phương trong giải quyết tranh chấp đất đai, Tạp chí Tòa án

nhân dân tối cao, số 22, tr12-33 Trong bài viết này, tác giả bàn về mối quan hệ giữa Toà án nhân dân với cơ quan có thẩm quyền tại địa phương trong giải quyết tranh chấp đất đai, đưa ra một số vướng mắc, hạn chế và kiến nghị, đề xuất giải pháp nhằm góp phần tháo gỡ các vướng mắc, nâng cao chất lượng, đẩy nhanh tiến độ giải quyết các vụ án tranh chấp đất đai

Nguyễn Quang Toản (2016), Pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai qua

thực tiễn tại tỉnh Hải Dương, Luận văn Thạc sĩ, Viện Đại học Mở Hà Nội Trong

luận văn này, tác giả đề cập đến các vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp đất đai đồng thời phân tích thực trạng giải quyết tranh chấp đất đai tại tỉnh Hải Dương từ

đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai và nâng cao hiệu quả áp dụng giải quyết tranh chấp đất đai tại tỉnh Hải Dương

Đặng Hùng Võ, Nguyễn Văn Thắng, T&C Consulting (2013), Báo cáo Cải

thiện quản trị đất đai tại Việt Nam, Dự án của Ngân hàng Thế giới Trong báo cáo

này, các tác giả tập trung nghiên cứu nhằm cung cấp phương tiện để hiểu rõ hơn các điểm mạnh và hạn chế trong lĩnh vực đất đai ở Việt Nam, tạo sự đồng thuận về tình hình quản trị đất đai trong nước, xác định các hành động ưu tiên cải thiện thể chế và quy định pháp quy, thí điểm các cách tiếp cận mới để cải thiện quản trị đất đai ở phạm vi lớn hơn Báo cáo trình bày đánh giá các khía cạnh của quản trị đất đai cũng như phân tích chính sách, các kết luận và khuyến nghị chính sách

Nguyễn Ngọc Chung (2017), Hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp

đất đai từ thực tiễn giải quyết tại các Tòa án trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, Luận văn

Thạc sĩ, Viện Đại học Mở Hà Nội Trong luận văn này, tác giả tìm hiểu và hệ thống

Trang 12

Báo cáo tham luận “Thực trạng giải quyết tranh chấp đất đai tại tòa án nhân

dân – Kiến nghị và giải pháp” của TS Nguyễn Văn Cường và cử nhân Trần Văn

Tăng, Viện khoa học xét xử, Tòa án nhân dân tối cao tại hội thảo “Tình trạng tranh

chấp và khiếu kiện đất đai kéo dài: Thực trạng và giải pháp”, ngày 08 – 09 tháng

10 năm 2008 tại Buôn Mê Thuột – Đắc Lắc

Bài viết “Giải quyết tranh chấp đất đai bằng tòa án qua thực tiễn tại một địa

phương” của Mai Thị Tú Oanh đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật số

08/2009;

Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu khác của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước về vấn đề tranh chấp đất đai, giải quyết tranh chấp đất đai nhưng với đề tài của mình, tác giả tập trung nghiên cứu lý luận và thực tiễn về giải quyết tranh chấp đất đai với thẩm quyền của TAND thông qua một địa bàn cụ thể là TAND huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp đất đai và lý luận pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của TAND, làm rõ các quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của TAND để thấy được ưu điểm và bất cập của hệ thống pháp luật về vấn đề này, đặc biệt thông qua việc phản ánh, phân tích thực tiễn thi hành tại TAND huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên Trên cơ sở những vấn đề lý luận và thực tiễn, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh

Trang 13

5

chấp đất đai thuộc thẩm quyền của TAND cũng như giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện tại TAND huyện Khoái Châu trong những năm tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài tập trung vào các nhiệm vụ cụ thể sau:

- Tìm hiểu về lý luận chung về tranh chấp đất đai, giải quyết tranh chấp đất đai tại TAND và về pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của TAND

- Hệ thống hóa các quy định pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của TAND

- Phản ánh, phân tích và đánh giá thực trạng vấn đề giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện thông qua thực tiễn giải quyết của TAND huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên

- Đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về vấn đề này ở TAND huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện và thực tiễn thực hiện tại TAND huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu các quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện và thực tiễn thực hiện tại TAND huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên

Phạm vi về không gian: Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên Phạm vi về thời gian: Từ năm 2013 đến nay

Trang 14

Phương pháp duy vật biện chứng được dùng để nghiên cứu các vấn đề pháp luật về đất đai trong mối liên hệ với các ngành luật khác, cụ thể hơn là vấn đề về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của TAND Từ đó, có thể rút ra được bản chất của vấn đề để có thể có được những kết luận khoa học

Phương pháp duy vật lịch sử được sử dụng để nghiên cứu các vấn đề về pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của TAND trong các thời kì lịch

sử để nhận thấy sự kế thừa, phát triển và hướng tới khắc phục những vướng mắc của pháp luật và hoàn thiện pháp luật hơn

5.2 Các phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập số liệu: Số liệu được thu thập từ các nguồn tài liệu thứ cấp (báo cáo, số liệu thống kê của TAND huyện Khoái Châu, UBND, Viện Kiểm sát…) về các vụ việc giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Khoái Châu được thực hiện từ năm 2013 đến nay để có thể có những phản ánh thực trạng

về vấn đề giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của TAND một cách xác thực nhất

- Phương pháp xử lý số liệu: Các số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm excel

- Phương pháp phân tích: Các số liệu thu thập, các tài liệu khác sẽ được tác giả phân tích trên cở sở phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử để đưa ra nhận định lô gic và khoa học, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp

Trang 15

7

- Phương pháp thống kê: Xử lý số liệu thu thập được bằng phương pháp này, đồng thời để tài tổng hợp được những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân

- Phương pháp so sánh: Luận văn sử dụng phương pháp so sánh số liệu thực tiễn qua các mốc thời gian đồng thời so sánh quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân qua các giai đoạn khác nhau của lịch sử, của địa phương khác trong cả nước và rút ra các kết luận, nhận định phù hợp

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Đề tài luận văn “Pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm

quyền của TAND và thực tiễn thi hành tại TAND huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên” có những đóng góp khoa học và thực tiễn nhất định Với mục tiêu nghiên cứu

của đề tài và kết quả khi đạt được thì đề tài sẽ góp phần tìm hiểu và hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai nói chung

và pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của TAND nói riêng

Mặt khác, đề tài còn phản ảnh, phân tích và đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề này thông qua thực tiễn thực hiện tại TAND huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của TAND và nâng cao hiệu quả thực thi tại TAND huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, bố cục của luận văn gồm ba chương sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về tranh chấp đất đai và lý luận pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân

Trang 16

8

Chương 2: Quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện và thực tiễn thi hành tại Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện và nâng cao hiệu quả thực hiện tại Tòa

án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên

Trang 17

9

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI

VÀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI THUỘC THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN

1.1 Lý luận về tranh chấp đất đai

1.1.1 Khái niệm tranh chấp đất đai

Đất đai là một tài sản vô cùng quý giá đối với bất kỳ quốc gia nào và trong một xã hội luôn tồn tại những mâu thuẫn bởi mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn là động lực để phát triển xã hội Chính vì vậy, tranh chấp đất đai là hiện tượng xã hội xảy ra ở bất cứ hình thái kinh tế - xã hội nào trong lịch sử Tranh chấp đất đai phát sinh manh nha từ những bất đồng, mâu thuẫn giữa những người sử dụng đất với nhau hoặc giữa họ với tổ chức, cá nhân khác về quyền và nghĩa vụ hay lợi ích trong quá trình quản lý, sử dụng đất Ngoài ra, còn tồn tại mâu thuẫn giai cấp đối kháng không thể điều hoà được, đó là những tranh chấp đất đai mang “màu sắc” chính trị thể hiện thành cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp sở hữu đất đai và các tư liệu sản xuất chủ yếu khác của xã hội (giai cấp thống trị) với giai cấp lao động không có tư liệu sản xuất phải đi làm thuê (giai cấp bị thống trị) Việc giải quyết triệt để các tranh chấp đất đai dạng này được thực hiện bởi những cuộc cách mạng xã hội Thuật ngữ “tranh chấp đất đai” hiện được sử dụng phổ biến trong đời sống, xã hội

để chỉ những bất đồng, những “điểm nghẽn” trong quản lý và sử dụng đất Tuy nhiên, xét dưới góc độ học thuật thì tranh chấp đất đai là gì?

Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng: “Tranh chấp: 1 Giành giật, giằng co nhau cái không rõ thuộc về bên nào; 2 Bất đồng, trái ngược nhau”1 Như vậy, theo

1 Nguyễn Như Ý (2009), Từ điển Tiếng Việt thông dụng, NXB Giáo dục Việt Nam,

Hà Nội, tr80

Trang 18

10

ngôn ngữ học, tranh chấp được hiểu là những bất đồng, trái ngược nhau giữa hai hoặc nhiều người (hoặc nhiều bên) trong quan hệ xã hội Trên thực tế, tranh chấp xảy ra ở nhiều lĩnh vực của đời sống, xã hội với những loại hình rất phong phú, đa dạng

Trải nhiều giai đoạn với những chính sách đất đai khác nhau, hiện tượng TCĐĐ đều được pháp luật chính thức ghi nhận và quy định việc giải quyết Tuy nhiên, cho đến trước khi Luật Đất đai 2003 ra đời, thuật ngữ “TCĐĐ” chưa một lần được chính thức giải thích, mà chủ yếu là chỉ được “hiểu ngầm” qua các quy định của pháp luật về giải quyết TCĐĐ, quy định về giải quyết các tranh chấp khác có liên quan đến QSDĐ trong các đạo luật Luật Đất đai qua các thời kỳ và trong các văn bản pháp luật có liên quan của các cơ quan nhà nước

Luật Đất đai năm 2003 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26/11/2003, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2004 (thay thế Luật Đất đai năm 1993; Luật sửa đổi, bổ sung một

số điều của Luật Đất đai năm 1998; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 2001) lần đầu tiên đã định nghĩa: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai” 2 Theo khái niệm này, đối tượng tranh chấp trong TCĐĐ là quyền và nghĩa

vụ của NSDĐ

Căn cứ quy định tại các Điều 105, 106 và 113 Luật đất đai năm 2003 thì quyền của người sử dụng đất bao gồm 02 nhóm:

Nhóm thứ nhất, đó là những quyền chung của người sử dụng đất đã được quy

định ở Điều 105 Luật đất đai Theo các Điều luật này, thì người có quyền sử dụng đất hợp pháp có quyền khai thác công dụng và hiệu quả của đất Họ được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất được Nhà nước hỗ trợ (thông qua việc hưởng lợi từ các công trình Nhà nước); Nhà nước hướng dẫn, giúp đỡ trong việc cải

2 Khoản 26, Điều 4 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 2001

Trang 19

11

tạo, bồi bổ đất; đồng thời được Nhà nước bảo hộ quyền sử dụng đất khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình

Nhóm thứ hai, đó là những quyền chung của người sử dụng đất đã được quy

định ở Điều 106, Điều 113 Luật đất đai Theo đó, người có quyền sử dụng đất được thực hiện các hành vi dân sự liên quan đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình,

đó là quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; được quyền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

Bên cạnh các quyền thì người có quyền sử dụng đất còn phải tuân thủ đầy đủ các nghĩa vụ chung được quy định tại các Điều 107, Điều 113 Luật đất đai

Theo Giáo trình Luật đất đai của Trường Đại học Luật Hà Nội thì: “Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai”3Như vậy, có thể hiểu khi có tranh chấp về những quyền và nghĩa nêu trên thì những tranh chấp

đó là tranh chấp về đất đai

Kế thừa quy định đó Luật Đất đai năm 2013 ghi nhận: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai” 4

Qua những quy định nêu trên, có thể rút ra khái niệm về tranh chấp đất đai

như sau: Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về mặt lợi ích,

về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ đất đai trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai

Như vậy, trong khái niệm TCĐĐ có ba điểm cần làm rõ, cụ thể:

3Trần Quang Huy (2008), Giáo trình Luật Đất đai, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an

nhân dân, Hà Nội.

4 Khoản 24, Điều 3 Luật Đất đai năm 2013

Trang 20

12

Thứ nhất, TCĐĐ được nhận thức ở đây không chỉ trong quá trình sử dụng

đất đai, mà còn bao gồm cả quá trình quản lý đất đai Việc nhận thức như vậy là hoàn toàn phù hợp với xu hướng Nhà nước đang ngày càng mở rộng quyền cho người sử dụng đất và các cơ quan Nhà nước được giao quản lý đất đai nếu không tuân thủ pháp luật, gây thiệt hại cho lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất cũng có thể bị người sử dụng đất khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại chứ không còn đơn thuần là mệnh lệnh hành chính một chiều

Thứ hai, cần làm rõ TCĐĐ ở nước ta chính là tranh chấp quyền sử dụng đất

hay bao gồm cả tranh chấp quyền sử dụng đất và các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất? Về nội dung này, trong khoa học pháp lí hiện nay còn tồn tại hai quan điểm như sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, TCĐĐ chỉ là tranh chấp về quyền sử dụng đất

Theo đó, TCĐĐ không xác định được là tranh chấp tổng thể các quyền và nghĩa vụ hay chỉ là tranh chấp từng quyền và nghĩa vụ đơn lẻ của người sử dụng đất do pháp luật đất đai quy định, hay bao gồm cả tranh chấp những quyền và nghĩa vụ mà người sử dụng đất có được khi tham gia vào các quan hệ pháp luật khác Bên cạnh

đó, chủ thể tranh chấp vốn được gọi là “hai hay nhiều bên” cũng không được xác định rõ ràng là chỉ bao gồm người sử dụng đất hay là tất cả các chủ thể có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất trong quan hệ TCĐĐ Chính sự chung chung này đã khiến cho nội dung của TCĐĐ nhiều lúc được mở rộng tối đa ở mức

độ có thể Vì vậy, trường phái có quan điểm này cho rằng: Việc mở rộng khái niệm TCĐĐ trong điều kiện của nước ta hiện nay là chưa hợp lý vì xuất phát từ chế độ sở hữu toàn dân đối với toàn bộ đất đai mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu thì người

sử dụng đất chỉ có quyền sử dụng đối với đất đai Vì vậy, cái mà họ tranh chấp khi TCĐĐ chỉ có thể là quyền sử dụng đất Mặt khác, các thuật ngữ TCĐĐ và tranh chấp quyền sử dụng đất đã được sử dụng như những thuật ngữ thay thế nhau kể từ khi có Luật Đất đai năm 1987 đến nay mà không có sự phân biệt Hơn nữa, các tranh chấp có liên quan đến quyền sử dụng đất của người sử dụng đất cũng đã từng được quy định cụ thể trong một số văn bản hướng dẫn về thẩm quyền giải quyết các

Trang 21

đó, TCĐĐ cần được hiểu là tranh chấp quyền sử dụng đối với diện tích đất cụ thể

giữa các chủ thể trong hoạt động quản lý, sử dụng đất Còn các dạng tranh chấp

khác, đều được hiểu là tranh chấp liên quan đến đất đai và được giải quyết bởi cơ quan Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự, mà không có sự ràng buộc với những quy định về giải quyết tranh chấp trong pháp luật đất đai

Quan điểm thứ hai, nhận định TCĐĐ bao gồm cả tranh chấp quyền sử dụng

đất và các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất, bởi: Trong pháp luật đất đai, trước khi Luật Đất đai năm 2003 được thông qua và có hiệu lực thi hành thì khái niệm TCĐĐ hầu như chưa được ai đề cập một cách chính thống và giải thích cụ thể Mặc dù vậy, hiện tượng TCĐĐ trong xã hội được pháp luật ghi nhận và quy định việc giải quyết Luật đất đai 2003 lần đầu tiên ghi nhận khái niệm TCĐĐ Kế thừa

quy định đó Khoản 24 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 ghi nhận: “Tranh chấp

đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai” Vậy, đối tượng tranh chấp là quyền và nghĩa vụ của

người sử dụng đất Nghĩa là, bao gồm cả tranh chấp quyền sử dụng đất và các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất

Đồng thời, xem xét ở góc độ thực tiễn xét xử, ngành tòa án ở nước ta vẫn thống kê các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất vào mục tranh chấp đất đai nói chung Bên cạnh đó, Thông tư liên tịch số 01 ngày 03/01/2002 hướng dẫn về thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất sử dụng thuật ngữ khác là “các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng

5Nguyễn Văn Luật, Tưởng Duy Lượng (2011), Cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả

giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân, Đề tài khoa học cấp bộ, tr24

Trang 22

14

đất” thuộc thẩm quyền của Toà án Theo đó các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền của Toà án bao gồm:

- Tranh chấp về việc ai là người có quyền sử dụng đất;

- Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất và thế chấp hoặc bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất;

- Thừa kế quyền sử dụng đất;

- Tranh chấp về tài sản gắn liền với việc sử dụng đất

Vậy, thuật ngữ “các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất” là một thuật ngữ có nội hàm rất rộng, bao gồm cả tranh chấp về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất Theo suy luận logic thì tranh chấp về quyền sử dụng đất sẽ bao gồm ba loại: tranh chấp về việc ai là người có quyền sử dụng đất (thực chất là tranh chấp quyền sử dụng đất hay cụ thể hơn là kiện đòi đất đang bị người khác chiếm giữ, tranh chấp mốc giới); tranh chấp hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất và thế chấp hoặc bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất; tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất Không thể phủ nhận rằng,

ở mỗi quan điểm đều được lập luận dựa trên những căn cứ nhất định Việc hiểu và vận dụng “tranh chấp đất đai” bao gồm cả tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất là hợp lý cả về vấn đề logic ngôn ngữ và thực tiễn áp dụng pháp luật trong giai đoạn hiện nay hơn cả

Thứ ba, cần phân biệt TCĐĐ và khiếu nại liên quan đến đất đai “Khiếu nại”

được quy định và điều chỉnh tại Luật Khiếu nại tố cáo, còn “tranh chấp đất đai” lại được quy định và điều chỉnh tại Luật đất đai Mặc dù Luật Đất đai cũng có quy định

về khiếu nại nhưng ở phạm vi hẹp là “khiếu nại quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai”6 Khiếu nại thông thường xuất phát từ một mối quan hệ không bình đẳng giữa cơ quan hành chính Nhà nước là cơ quan quản lý Cơ quan

6 Điều 204, Luật Đất đai 2013

Trang 23

15

Nhà nước có quyền ban hành các quyết định hành chính có hiệu lực bắt buộc mọi cá nhân, tổ chức phải thi hành Cá nhân, tổ chức có nhiệm vụ chấp hành quyết định hành chính đó nhưng đồng thời cũng có quyền khiếu nại với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Ngược lại, tranh chấp giữa hai cá nhân hoặc cá nhân với tổ chức là sự tranh chấp giữa hai chủ thể bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ trước pháp luật Khi tranh chấp xảy ra thì người bị phía bên kia vi phạm có thể yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đề nghị người có hành vi vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm đó, khôi phục lợi ích cho mình, hoặc bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm

đó gây ra Như vậy, có thể thấy sự khác biệt về bản chất giữa TCĐĐ và khiếu nại, trong đó những tranh chấp mang tính dân sự và cần phải được giải quyết theo các quy định của pháp luật về dân sự, ngược lại khiếu nại là “tranh chấp” có tính chất hành chính

1.1.2 Đặc điểm của tranh chấp đất đai

Tranh chấp đất đai có những đặc điểm chung của tranh chấp trong kinh doanh, thương mại, tranh chấp dân sự… đó là sự mâu thuẫn, bất đồng quan điểm nhưng lại có những đặc điểm riêng:

Thứ nhất, chủ thể của tranh chấp đất đai không phải là chủ sở hữu đất đai

Do tính đặc thù của chế độ sở hữu đất đai ở nước ta: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân

do Nhà nước đại diện chủ sở hữu Nhà nước giao đất, cho thuê đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân (gọi chung là người sử dụng đất) sử dụng ổn định lâu dài hoặc công nhận quyền sử dụng đất ổn định lâu dài của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang

sử dụng đất Vì vậy, người sử dụng đất chỉ có thể là chủ thể quản lý đất đai hoặc chủ thể sử dụng đất

Thứ hai, do tính đặc thù của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta nên

đối tượng của tranh chấp đất đai chỉ giới hạn trọng phạm vi tranh chấp về quyền và nghĩa vụ trong quản lý, sử dụng đất đai Điều này có nghĩa là pháp luật chỉ thừa nhận và giải quyết các tranh chấp về quản lý đất đai hoặc tranh chấp về sử dụng đất Các tranh chấp về quyền sở hữu đất đai như tranh chấp về đòi lại đất trước đây đã

Trang 24

16

hiến, tặng cho Nhà nước; tranh chấp về đòi lại đất mà Nhà nước đã chia cấp cho người nông dân trong cải cách ruộng đất; tranh chấp về đòi lại đất trước đây đã góp vào hợp tác xã, tập đoàn sản xuất để làm ăn tập thể nay hợp tác xã, tập đoàn sản xuất bị giải thể v.v sẽ không được thừa nhận và không xem xét giải quyết

Thứ ba, trên thực tế, đất đai được sử dụng vào các mục đích khác nhau

Quan hệ đất đai liên quan đến lợi ích của nhiều đối tượng trong xã hội: Nhà nước, cộng đồng dân cư, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cơ sở tôn giáo, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam Do đó, tranh chấp đất đai phát sinh không chỉ liên quan đến lợi ích của một bên mà còn liên quan đến lợi ích của nhiều bên Vì vậy, tranh chấp đất đai nếu không giải quyết nhanh chóng, dứt điểm, kịp thời thì sẽ gia tăng sự phức tạp Trong vài năm trở lại đây, xuất hiện ngày càng nhiều các vụ tranh chấp đất đai với tính chất phức tạp, kéo dài thậm chí có thể dẫn đến vi phạm hình sự

Thứ tư, quan hệ đất đai có liên quan đến những quan hệ xã hội khác thuộc

phạm vi điều chỉnh của một số đạo luật như Bộ luật dân sự, Luật xây dựng, Luật nhà ở, Luật bảo vệ môi trường, Luật kinh doanh bất động sản, Luật bảo vệ và phát triển rừng, Trên thực tế, TCĐĐ xảy ra liên quan đến nhà ở, công trình xây dựng, cây cối và vật kiến trúc khác, nên khi giải quyết TCĐĐ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền không chỉ áp dụng Luật đất đai mà còn áp dụng các đạo luật khác có liên quan để xem xét, giải quyết

Thứ năm, tranh chấp đất đai có khả năng lôi kéo nhiều người, gây bất ổn

chính trị, mất ổn định xã hội Đặc biệt là tranh chấp đất đai giữa các dòng họ, tài sản chung khác thuộc quyền sử dụng của nhiều chủ thể khiến cho việc giải quyết tranh chấp rất khó khăn, dẫn đến việc các bên “tự giải quyết” tranh chấp một cách manh động theo kiểu “xã hội đen” Điều này làm cho tính chất tranh chấp đất đai rất phức tạp, việc giải quyết gặp nhiều khó khăn, vướng mắc và kéo dài

Thứ sáu, đất đai có vai trò quan trọng trên các khía cạnh chính trị, kinh tế,

xã hội; khi mà tranh chấp đất đai xảy ra nếu không giải quyết kịp thời thì có thể

Trang 25

17

phát triển thành vấn đề chính trị - xã hội như dẫn đến hận thù nhau, gây mất ổn định, bất đồng trong nội bộ nhân dân, gây rối trật tự an ninh xã hội Do vậy, về bản chất tranh chấp đất đai chứa đựng ba phương diện chủ yếu: Phương diện quyền chi phối đất đai, phương diện lợi ích, phương diện chính trị - xã hội Tuy nhiên, không phải bất kỳ sự tranh chấp đất đai nào cũng chứa đựng cả ba phương diện trên, trong những điều kiện cụ thể các phương diện đó có thể chuyển hóa lẫn nhau

1.1.3 Phân loại tranh chấp đất đai

Nhóm thứ nhất: Tranh chấp xác định chủ thể có quyền sử dụng đất Đây là

tranh chấp phát sinh trong quá trình sử dụng đất không liên quan đến các giao dịch

về đất đai và tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất Về bản chất khi giải quyết tranh chấp này tòa án phải xác định quyền sử dụng đất thuộc về ai Các tranh chấp phổ biến trong trường hợp này là tranh chấp về ranh giới đất liền kề, ngõ đi, cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng bị trùng diện tích, người sử dụng đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng chủ cũ đòi lại đất hoặc chủ cũ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng người sử dụng đất cho rằng việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không đúng

Nhóm thứ hai: Tranh chấp liên quan đến các giao dịch về quyền sử dụng đất (chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển đổi quyền sử dụng đất, cho thuê,

cho thuê lại quyền sử dụng đất, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất…) Các tranh chấp này có thể là yêu cầu thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng, công nhận hiệu lực của hợp đồng, tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu…Bản chất của tranh chấp trong các trường hợp này là tranh chấp về hợp đồng dân sự Thời hiệu khởi kiện đối với dạng tranh chấp này được áp dụng như đối với thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp về hợp đồng nói chung

Riêng đối với vụ án ly hôn khi các bên đương sự có tranh chấp quyền sử dụng đất trong việc xác định tài sản chung, tài sản riêng vợ chồng, quan điểm của chúng tôi cho rằng đây không phải thuộc loại quan hệ tranh chấp đất đai Trong quan hệ ly hôn, Tòa án giải quyết quan hệ trọng tâm là quan hệ mang tính nhân thân,

Trang 26

18

đây là nhóm quan hệ chủ đạo và có ý nghĩa quyết định tính chất và nội dung của quan hệ tài sản Cơ sở pháp lý để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể xuất phát chính từ các quan hệ nhân thân trước

Nhóm thứ ba: Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất Thông thường đây là

các tranh chấp yêu cầu phân chia di sản thừa kế Bản chất của dạng tranh chấp này

là tranh chấp thừa kế có đối tượng là quyền sử dụng đất và Tòa án phải xác định ranh giới đất để phân chia Thời hiệu khởi kiện đối với dạng tranh chấp này được áp dụng như đối với thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp về thừa kế tài sản nói chung

Nhóm thứ tư: Tranh chấp về tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất Tranh

chấp về tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất bao gồm: tranh chấp tài sản về nhà ở, vật kiến trúc khác như nhà bếp, nhà tắm, nhà về sinh, giếng nước, nhà để ô tô, nhà thờ, tường xây làm hàng rào gắn với nhà ở; các công trình xây dựng trên đất được giao để sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh như nhà xưởng, kho tàng, hệ thống tưới, tiêu nước, chuồng trại chăn nuôi hay vật kiến trúc khác hoặc trên đất có các tài sản khác như cây lấy gỗ, cây lấy lá, cây ăn quả, cây công nghiệp hay các cây lâu năm khác….gắn liền với quyền sử dụng đất đó Tranh chấp trong trường hợp này có thể là tranh chấp về ai là người có quyền sử dụng đất gắn liền với tài sản, thừa kế hoặc tranh chấp về ai là người có quyền sử dụng đất gắn liền với tài sản, thừa kế hoặc tranh chấp về các hợp đồng liên quan đến tài sản gắn liền với đất

Như vậy, có thể nói nhóm thứ nhất và nhóm thứ tư là các tranh chấp đất đai được điều chỉnh bởi Luật Đất đai 2013 khi khởi kiện tại Tòa án thì theo thủ tục tố tụng hành chính, còn nhóm 2 và nhóm 3 được nếu khởi kiện tại Tòa án thì theo thủ tục tố tụng dân sự Việc phân loại và xác định đâu là tranh chấp đất đai rất quan trọng bởi sẽ xác định được thẩm quyền và phương thức để giải quyết tranh chấp đất đai

1.1.4 Nguyên nhân và hậu quả của tranh chấp đất đai

1.1.4.1 Nguyên nhân

Trang 27

Nguyên nhân khách quan

Một là, do quan hệ đất đai ở nước ta có nhiều thay đổi qua các thời kỳ Trước

đây, đất đai thuộc nhiều hình thức sở hữu trong đó có sở hữu tư nhân ở thời kỳ trước khi Hiến pháp 1980 được ban hành, còn sau khi Hiến pháp 1980 được ban hành chế độ sở hữu đất đai chuyển thành sở hữu toàn dân do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu Sự thay đổi về các chính sách, chủ trương về quản lý kinh tế cũng dẫn đến những mâu thuẫn trong sử dụng đất đai Hơn nữa, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về đất đai có những thay đổi, số lượng văn bản lớn, đôi khi còn thiếu đồng

bộ, nhất quán gây ra những khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng Chính điều này đã làm cho thực tế các quan hệ đất đai nảy sinh qua các thời kỳ là rất phức tạp, khi phát sinh tranh chấp thì không biết phải áp dụng văn bản quy phạm pháp luật nào để giải quyết

Hai là, giá trị của đất đai ngày càng tăng lên, do sự phát triển về kinh tế Khi

đất nước ta đang trong thời kỳ tập trung, bao cấp đất đai là “của chung” do Nhà nước quản lý hoàn toàn, hơn nữa thời kì kinh tế khó khăn, người dân không chú ý nhiều đến việc chuyển nhượng đất đai hay thừa kế hay những giá trị khác của đất ngoài việc khai thác đất đai để sản xuất kinh doanh Khi Nhà nước quyết định mở cửa nền kinh tế và chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, để giải phóng mọi năng lực sản xuất của con người, Nhà nước chuyển sang thực hiện hình thức giao đất, cho thuê đất cho tổ chức, cá nhân, hộ gia đình sử dụng ổn định lâu dài (gọi chung là người sử dụng đất) Người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất trong thời hạn giao đất, cho thuê đất Đất đai từ chỗ không có giá được

Trang 28

20

Nhà nước định khung giá đất và được đem thế chấp hoặc góp vốn trong sản xuất – kinh doanh, Người sử dụng đất ngày càng nhận thức được giá trị của đất đai, điều này vô hình chung đã làm này sinh TCĐĐ

Nguyên nhân chủ quan

Ngoài những nguyên nhân khách quan kể trên, thì TCĐĐ còn phát sinh từ những nguyên nhân bên trong, cụ thể như sau:

Một là, công tác quản lý nhà nước về đất đai chưa thực sự hiệu quả Trong

cơ chế quản lý tập trung, bao cấp, Nhà nước phân công, phân cấp cho quá nhiều ngành dẫn đến việc quản lý đất đai thiếu chặt chẽ và còn nhiều sơ hở Có thời kỳ, mỗi loại đất được giao cho một ngành để quản lý điều này đã dẫn đến việc tranh chấp giữa đất nông nghiệp với đất lâm nghiệp cũng như với đất chuyên dùng; có loại đất nhiều cơ quan quản lý nhưng cũng có loại đất không có loại cơ quan nào quản lý Đất đai được hình thành là do một quá trình lịch sử lâu dài, do đó, những ảnh hưởng từ chế độ quản lý đất đai thời kỳ trước rất nghiêm trọng đến quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất dẫn đến những tranh chấp ở thời kỳ hiện nay Hiện nay, trong thời kỳ đất nước đang chuyển mình xây dựng nền kinh tế hiện đại, việc quản lý đất đai càng trở nên phức tạp do đất đai ngày càng trở nên có giá trị, những giao dịch liên quan đến đất đai cũng phong phú hơn và tiềm ẩn nhiều nguy cơ tranh chấp Lực lượng quản lý nhà nước về đất đai hiện nay còn “mỏng” và “yếu”, nhiều nơi không quản lý hết được các biến động đất đai tại địa phương, giải quyết tranh

chấp đất đai cũng rất phức tạp và tốn thời gian, chi phí

Hai là, trong việc điều chỉnh địa giới hành chính giữa đơn vị hành chính xã,

huyện ở một số địa phương được thực hiện song nội dung xác định địa giới hành chính không thực hiện kịp thời hoặc không rõ ràng, cụ thể làm cho tình trạng TCĐĐ trở nên phức tạp hơn

Ba là, Công tác giải quyết TCĐĐ có trường hợp chưa đúng pháp luật mà chủ

yếu dựa vào cảm tính chủ quan của người có thẩm quyền hoặc hữu khuynh mất

Trang 29

21

cảnh giác để kẻ xấu lợi dụng kích động, xúi giục quần chúng nhân dân gây mất ổn định chính trị - xã hội

Bốn là, nhận thức pháp luật của người dân chưa cao do công tác tuyên truyền

phổ biến pháp luật đất đai chưa đạt hiệu quả thực sự Do vậy, khi thực hiện các giao dịch liên quan đến đất đai như chuyển quyền sử dụng đất, thừa kế đất đai, thế chấp đất đai còn có nhiều hiện tượng trái pháp luật do người dân thiếu hiểu biết pháp luật hoặc có khi là cố ý vi phạm pháp luật để trục lợi

1.1.4.2 Hậu quả

Trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa với định hướng tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đất đai ngày càng có vai trò quan trọng hơn với hoạt động sống của loài người Khi xảy ra TCĐĐ, tranh chấp

đó có thể để lại những hậu quả nghiêm trọng như:

Thứ nhất, tranh chấp đất đai gây tổn hại đến tình đoàn kết trong nội bộ nhân

dân, phá vỡ sự gắn kết chặt chẽ giữa các thành viên trong gia đình, họ hàng hoặc giữa các thành viên trong cộng đồng dân cư Do bất đồng, mâu thuẫn trong sử dụng đất mà các bên tranh chấp trở thành các bên đối địch nhau Khi đã tranh chấp với nhau rồi thì các bên tranh chấp có thái độ thù ghét nhau, tư thù và bất hợp tác với nhau trong cuộc sống

Thứ hai, tranh chấp đất đai phá vỡ sự vận hành của trật tự quản lý và sử

dụng đất đai đã được xác lập Tranh chấp đất đai xảy ra làm gián đoạn hoạt động sử dụng đất; do người sử dụng đất phải dành thời gian, công sức vào việc giải quyết những bất đồng mâu thuẫn trong việc quản lý, sử dụng đất đai nên việc sử dụng đất

bị ngừng trệ

Thứ ba, tranh chấp đất đai gây ra sự tốn kém về thời gian, tiền bạc và công

sức… của các bên trong việc giải quyết, theo đuổi vụ việc kiện, những bất đồng, mâu thuẫn trong quản lý và sử dụng đất Các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cũng mất nhiều thời gian, công sức vào việc tìm hiểu và giải quyết tranh chấp đất đai Điều này ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác quản lý Nhà nước về đất đai

Trang 30

22

Thứ tư, tranh chấp đất đai kéo dài, lôi kéo đông người tham gia gây mất an

ninh, trật tự và tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định chính trị Hơn nữa, nó là nguyên nhân

để các thế lực thù địch lợi dụng tuyên truyền, kích động và gây chia rẽ khối đoàn kết trong nhân dân

1.2 Lý luận về giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân

1.2.1 Khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai bằng Tòa án

Trong quan hệ pháp luật đất đai, việc giải quyết các TCĐĐ là một trong những biện pháp quan trọng để pháp luật đất đai phát huy được hiệu quả, vai trò trong đời sống xã hội Trong thực tế hiện nay có nhiều phương thức khác nhau để giải quyết TCĐĐ như hòa giải, giải quyết tại UBND và giải quyết thông qua Tòa án

Giải quyết TCĐĐ bằng TAND thực hiện đối với tranh chấp về tài sản gắn liền với đất đai và tranh chấp về quyền sử dụng đất mà người sử dụng có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều

100 Luật đất đai năm 2013 hoặc không có một trong các giấy tờ quy định tài Điều

100 Luật đất đai 2013 nhưng có yêu cầu Tòa án giải quyết thì thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND Đây là phương thức giải quyết tranh chấp phổ biến và lâu đời nhất Hình thức giải quyết này thông qua cơ quan quyền lực công có chức năng xét

xử để đưa ra một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật bắt buộc đối với các bên tham gia tranh chấp, là cơ sở để các cơ hành chính nhà nước về đất đai có những điều chỉnh phù hợp theo nội dung quyết định, bản án đã nêu Ngoài ra, theo tổ chức

bộ máy nhà nước thì Tòa án được tổ chức và có cơ chế hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật nên các phán quyết của Tòa án đảm bảo sự công bằng, khách quan, công minh Chính vì lẽ đó, giải quyết TCĐĐ bằng Tòa án là phương thức giải quyết TCĐĐ phổ biến trong thực tế đời sống hiện nay

Như vậy, có thể hiểu: Giải quyết TCĐĐ bằng Tòa án là việc Tòa án áp dụng

các quy định của pháp luật để giải quyết những bất đồng, mâu thuẫn giữa các chủ thể nảy sinh trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai Tuy nhiên, không phải TCĐĐ nào cũng có thể được giải quyết thông qua Tòa án Pháp luật có quy định cụ

Trang 31

23

thể về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các TCĐĐ, theo đó Tòa án chỉ được giải quyết những TCĐĐ nào thuộc thẩm quyền của mình được pháp luật quy định Cụ thể, pháp luật đất đai căn cứ vào việc người sử dụng đất có hay không có GCNQSDĐ hoặc có hay không có giấy tờ hợp lệ về đất đai và vào sự tự do lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp của đương sự để phân định thẩm quyền giải quyết TCĐĐ

1.2.2 Sự cần thiết phải giải quyết tranh chấp đất đai bằng Tòa án

Mỗi phương thức giải quyết tranh chấp đều có những ưu và nhược điểm riêng Hòa giải để giải quyết tranh chấp thường dùng khi tranh chấp nhỏ, các bên có thể ngồi lại và thỏa thuận với nhau Hòa giải bằng UBND xã rất thuận lợi khi UBND xã và thành viên Hội đồng hòa giải này là người ở địa phương, nơi có tranh chấp đất đai họ có uy tín và biết rõ nguồn gốc của mảnh đất đang tranh chấp Giải quyết bằng cơ quan nhà nước có thẩm quyền như UBND huyện và UBND tỉnh cũng

có những lợi thế nhất định song nhiều khi giải quyết bằng những phương thức trên hiệu quả cuối cùng là hiệu quả thi hành thì lại không đạt được hoặc nhiều khi chính UBND các cấp lại là người vi phạm pháp luật về đất đai khiến người sử dụng đất không có niềm tin So với các phương thức giải quyết khác thì giải quyết TCĐĐ bằng Tòa án có một số ưu điểm nổi bật hơn, cụ thể:

Thứ nhất, Tòa án là một thiết chế của nhà nước, hoạt động của tòa án là một

hoạt động rất đặc biệt và mang tính kỹ năng nghề nghiệp cao TAND được tổ chức theo một hệ thống độc lập nằm ngoài hệ thống cơ quan quản lý Hơn nữa, Tòa án có một đội ngũ thẩm phán có năng lực, trình độ và kỹ năng xét xử chuyên nghiệp Do

đó, hoạt động xét xử của Tòa án đảm bảo tính chính xác, công minh

Thứ hai, Tòa án xét xử nhân danh quyền lực Nhà nước Trong quá trình giải

quyết các tranh chấp, Tòa án trực tiếp thụ lý, giải quyết, các phán quyết của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm thực thi, nếu không tự nguyện sẽ bị cưỡng chế thi hành án Như vậy, có thể thấy giải quyết TCĐĐ thông qua Tòa án có hiệu lực pháp luật và được đảm bảo

Trang 32

24

bằng quyền lực Nhà nước nên là cơ sở để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho các bên tham gia tranh chấp

Thứ ba, Nguyên tắc xét xử công khai của Tòa án đảm bảo tính minh bạch

cho hoạt động của Tòa án Hơn nữa, nguyên tắc này còn tạo điều kiện để người dân

và công luận xã hội giám sát hoạt động xét xử của Tóa án Do đó, phán quyết của Tòa án phải có tính thuyết phục cao đối với các bên đương sự Hay nói cách khác, phán quyết của Tòa án phải đảm bảo được quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của các bên tham gia tranh chấp

Tuy nhiên, khi giải quyết bằng Tòa án thì phải tuân thủ theo trình tự, thủ tục rất chặt chẽ và không linh hoạt khiến cho vụ việc giải quyết có trường hợp kéo dài rất lâu và tốn kém chi phí cho các bên Chính vì những ưu điểm khi giải quyết TCĐĐ bằng Tòa án nhân dân mà pháp luật cần phải quy định một loại hình là giải quyết tranh chấp đất đai bằng Tòa án

1.2.3 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp đất đai bằng Tòa án

Nguyên tắc giải quyết tranh chấp được hiểu là hệ thống các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo có tác dụng định hướng trong suốt quá trình giải quyết tranh chấp Việc giải quyết tranh chấp đất đai nói chung và bằng tòa án nói riêng phải tuân theo một số nguyên tắc cơ bản sau:

Một là, Nguyên tắc bảo đảm đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thực

hiện vai trò đại diện chủ sở hữu: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân có nghĩa là, đất đai không thuộc quyền sở hữu riêng của một tổ chức hay cá nhân nào Các tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân chỉ là chủ thể của quyền sử dụng đất Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu Quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai là quyền sở hữu duy nhất và tuyệt đối

Tính duy nhất và tuyệt đối thể hiện ở chỗ quyền sở hữu toàn dân bao trùm lên tất cả đất đai, dù đất đó đang do ai sử dụng Việc sử dụng đất của các tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư phải đảm bảo đúng quy hoạch, kế hoạch, mục đích sử dụng đất, tiết kiệm, có hiệu quả và bảo vệ môi trường Đây là nguyên tắc pháp lý xuyên

Trang 33

Hai là, Nguyên tắc đảm bảo lợi ích của người sử dụng đất, nhất là lợi ích

kinh tế, khuyến khích tự hòa giải trong nội bộ quần chúng nhân dân: Thực hiện nguyên tắc này, có nghĩa là hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai đã thể hiện được

tư tưởng đổi mới trong quá trình Nhà nước điều hành các quan hệ xã hội về đất đai Trên thực tế, bất cứ cá nhân, tổ chức nào khi tham gia vào một quan hệ dân sự đều mong muốn đạt được một lợi ích nhất định, trong quan hệ pháp luật đất đai cũng vậy, vấn đề lợi ích luôn là vấn đề cốt lõi, luôn là mối quan tâm hàng đầu của các bên, nếu lợi ích của người sử dụng đất không được đảm bảo thì việc sử dụng đất không thể đạt được hiệu quả mong muốn Do vậy, khi giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn về đất đai, điều đầu tiên cần phải chú ý là giải quyết hài hòa lợi ích kinh

tế giữa các bên Đấy cũng là điểm mấu chốt để giải quyết các tranh chấp đất đai Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật hiện hành, trước khi đưa các tranh chấp đất đai ra giải quyết tại các cơ quan có thẩm quyền, nhất thiết các tranh chấp này đã phải qua thủ tục hòa giải và pháp luật khuyến khích các bên tự thương lượng hòa giải

Có thể nói, đây là giải pháp hữu hiệu để giải quyết tranh chấp đất đai Nó vừa tiết kiệm thời gian, tiền của, thể hiện rõ nhất ý chí của các bên, lại vừa giảm được áp lực cho các cơ quan giải quyết tranh chấp đất đai

Ba là, Nguyên tắc giải quyết tranh chấp phải nhằm mục đích ổn định tình

hình kinh tế, xã hội: Khi tranh chấp đất đai nảy sinh nhiều sẽ gây tác động lớn đến

Trang 34

26

các mặt của đời sống kinh tế xã hội, gây nên sự căng thẳng trong các mối quan hệ

xã hội, tạo ra gánh nặng cho các cơ quan giải quyết tranh chấp Vì vậy, yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai phải gắn với việc tổ chức lại sản xuất, tạo điều kiện cho ai giỏi nghề gì thì làm nghề đó, chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất theo hướng thâm canh, tăng vụ trên cơ sở không ngừng cải tạo đất đai, bố trí lại cơ cấu sản xuất hàng hóa

1.2.4 Các yếu tố đảm bảo cho hiệu quả giải quyết tranh chấp đất đai

1.2.4.1 Yếu tố pháp luật

Muốn thực hiện pháp luật giải quyết TCĐĐ có hiệu quả phụ thuộc rất lớn vào mức độ hoàn thiện của hệ thống văn bản pháp luật về lĩnh vực này Bản thân các văn bản pháp luật đó phải có chất lượng thì mới đảm bảo việc thực hiện pháp luật có kết quả tốt Vì thế, văn bản pháp luật về giải quyết TCĐĐ phải đảm bảo các tiêu chí sau: Một là, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất Nội dung các văn bản pháp luật về giải quyết TCĐĐ không trái với Hiến pháp, không chồng chéo, không mâu thuẫn nhau và không mâu thuẫn với các văn bản pháp luật có liên quan Nhưng vẫn phải có đặc điểm riêng biệt của việc giải quyết TCĐĐ Thông qua giải quyết TCĐĐ, những quy định cơ bản của pháp luật về đất đai, về BLTTDS, Luật về hòa giải, Luật

tố tụng hành chính và Luật tổ chức TAND v.v được tuyên truyền đến các tổ chức,

cơ quan và người dân Hoạt động này cung cấp tri thức, sự hiểu biết về pháp luật, xây dựng tình cảm, thái độ đúng đắn đối với pháp luật, làm cho mọi người nhận thức được quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của họ, hình dung được hành vi xử sự nào

là đúng đắn Hai là, trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật về giải quyết TCĐĐ không chỉ của hệ thống chính trị, của xã hội mà còn là trách nhiệm của mọi người dân Lâu nay khi đề cập đến vấn đề thực hiện pháp luật, chúng ta thường coi đó là trách nhiệm của các cơ quan hành pháp, tư pháp Tuy nhiên, hiệu quả thực hiện pháp luật về giải quyết TCĐĐ sẽ không cao nếu mọi người dân không tự giác chấp hành pháp luật về giải quyết TCĐĐ Ba là, xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi vi phạm pháp luật về giải quyết TCĐĐ Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, giải thích, hướng dẫn, tổ chức vận động thực hiện pháp luật có tác dụng nâng cao ý

Trang 35

27

thức pháp luật cho các chủ thể Tuy nhiên, vai trò này tác động đến các chủ thể không phải lúc nào cũng có kết quả như nhau, trong xã hội vẫn có những người vi phạm pháp luật Để bảo đảm cho pháp luật được thực hiện đòi hỏi phải xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi hành vi vi phạm pháp luật Đó là nội dung yêu cầu khách quan trong tổ chức thực hiện pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được thực hiện trong thực tế Các văn bản pháp luật về giải quyết TCĐĐ có quy định về khen thưởng và xử lý vi phạm trong lĩnh vực đất đai, tùy theo tính chất, mức độ của vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật

1.2.4.2 Trình độ, năng lực, phẩm chất chính trị và đạo đức của đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai

Trình độ, năng lực, phẩm chất chính trị và đạo đức của đội ngũ cán bộ, công chức làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai là một trong những yếu tố quyết định bảo đảm thực hiện pháp luật về giải quyết TCĐĐ đạt hiệu quả cao Cán bộ, công chức làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai phải là người có đủ trình độ, năng lực hoàn thành tốt công việc được giao, đồng thời là người có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt Thực tiễn đã chứng minh rằng các chủ thể này mà trình độ, năng lực yếu kém, lại thiếu trách nhiệm, thiếu nhiệt tình trong công việc thì việc thực hiện pháp luật về giải quyết TCĐĐ đạt hiệu quả thấp Phẩm chất chính trị, đạo đức của cán bộ, công chức làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai có ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện pháp luật về giải quyết TCĐĐ

Họ phải biết kết hợp giữa quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước với điều kinh tế - xã hội, điều kiện thực tiễn của đất nước, của từng địa phương để thực hiện pháp luật về giải quyết TCĐĐ Bản thân cán bộ, công chức làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai phải là người gương mẫu trong chấp hành pháp luật, là người có uy tín, có đạo đức trong cộng đồng thì mới có thể thuyết phục được người khác Như vậy, để bảo đảm thực hiện pháp luật về giải quyết TCĐĐ đạt hiệu quả cao cần nâng cao kiến thức pháp luật, trình độ chuyên

Trang 36

28

môn, năng lực, kỹ năng nghiệp vụ, bên cạnh đó còn phải tăng cường giáo dục, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống cho đội ngũ cán bộ, công chức làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai

1.2.4.3 Ý thức pháp luật của các chủ thể trong thực hiện pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai

Ý thức pháp luật thể hiện sự nhận thức của các chủ thể và thái độ của họ đối với các quy định của pháp luật Pháp luật về giải quyết TCĐĐ được thực hiện tốt hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó ý thức pháp luật của các chủ thể là yếu tố chủ quan có ý nghĩa rất quan trọng Các chủ thể trong thực hiện pháp luật về giải quyết TCĐĐ bao gồm: các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước có thẩm quyền, tổ chức, đoàn thể, doanh nghiệp và mọi người dân Trong nhiều trường hợp vi phạm pháp luật, không tuân thủ pháp luật là do trình độ văn hóa thấp, thiếu hiểu biết pháp luật của một bộ phận nhân dân

Tuy nhiên cũng có trường hợp công dân có trình độ văn hóa nhất định, có hiểu biết pháp luật nhưng đạo đức, nhân cách kém nên vẫn cố tình vi phạm pháp luật hoặc một bộ phận cán bộ, công chức nhà nước có thẩm quyền lợi dụng chức vụ quyền hạn, công việc được giao để tham nhũng, tiêu cực, trục lợi, thực hiện hành vi trái pháp luật Trong một xã hội ngày càng phát triển, trình độ văn hóa của nhân dân

sẽ ngày càng được nâng cao, tạo cơ sở cho việc nâng cao ý thức pháp luật, vì phải

có trình độ văn hóa nhất định thì mới có thể tiếp thu, nhận thức về pháp luật, xây dựng tình cảm, lòng tin vào pháp luật; qua đó chuyển hóa thành hành vi tích cực thực hiện theo yêu cầu của pháp luật Sự bảo đảm thực hiện pháp luật về giải quyết TCĐĐ không chỉ xuất phát từ ý thức pháp luật của các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước có thẩm quyền, các tổ chức, đoàn thể mà còn từ ý thức pháp luật của các doanh nghiệp và người dân Do vậy, nâng cao ý thức pháp luật của các chủ thể trong thực hiện pháp luật về giải quyết TCĐĐ là một giải pháp hữu hiệu để bảo đảm thực hiện tốt pháp luật về giải quyết TCĐĐ

Trang 37

1.3.2 Đặc điểm pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của TAND

Thứ nhất, những tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của TA và thẩm quyền

giải quyết TCĐĐ của TAND: BLTTDS năm 2015 được xây dựng dựa trên Hiến pháp năm 2013 và theo đó nguyên tắc quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể được ghi nhận tại Điều 4 BLTTDS năm 2015 Đáng chú ý

là sự bổ sung khoản 2 Điều luật này: “Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng”, đây có thể nói là sự thay đổi quan trọng nhất của BLTTDS năm 2015 so với BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) nhằm đảm bảo quyền con người, quyền công dân, quyền tiếp cận công

lý của người dân được thực hiện Chính vì vậy cách quy định của BLTTDS năm

2015 khác so với BLTTDS năm 2004 (BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011) Theo BLTTDS năm 2004 (BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011), Tòa án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp khác về dân sự khác mà pháp luật có quy định ngoài các

Trang 38

30

tranh chấp được BLTTDS quy định Điều này có nghĩa Tòa án chỉ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp khác về dân sự nếu có một văn bản pháp khác đang có hiệu lực thi hành quy định vụ việc đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Khác với điều này, các điều khoản cuối cùng của các Điều 26, 28, 30, 32 BLTTDS năm 2015 quy định “… trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật”, điều này có nghĩa, Tòa án chỉ có quyền từ chối thụ ý giải quyết các tranh chấp dân sự khi pháp luật quy định thuộc thẩm quyền của cơ quan, tổ chức khác Trước đây khi Luật Đất đai năm 2013 chưa có hiệu lực thì tranh chấp quyền sử dụng đất sẽ được giải quyết theo hướng dựa trên việc có hay không

có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm căn cứ giải quyết các tranh chấp về đất đai Nói cách khác, nếu chủ thể có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc các giấy tờ hợp lệ được quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2003 thì TAND sẽ giải quyết theo thủ tục TTDS Ngược lại, nếu chủ thể không có giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất hoặc các giấy tờ hợp lệ không được khởi kiện yêu cầu TAND giải quyết

mà phải giải quyết ở UBND nơi có đất đang tranh chấp Hiện nay, khi Luật Đất đai

2013 có hiệu lực thì đối với đất không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc các giấy tờ hợp lệ; các đương sự có quyền lựa chọn TAND hoặc UBND là nơi giải quyết tranh chấp Quy định như vậy có phần hợp lý hơn bởi có như vậy mới đảm bảo được quyền tiếp cận công lý của công dân

Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự thường thuộc các quan hệ tranh chấp sau: Tranh chấp đất đai mà trên đất không có tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất; Tranh chấp về tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất Trong mỗi trường hợp trên lại chia thành bốn dạng: Tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất, sở hữu tài sản gắn liền với đất; Chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; Tranh chấp liên quan đến các giao dịch về đất, tài sản gắn liền với đất; Thừa kế quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất Theo điểm c khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015 thì đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm

Trang 39

31

quyền giải quyết Do đó, tranh chấp đất sẽ do Tòa án nơi có đất có thẩm quyền giải quyết Nếu đất đai có ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi có một trong các diện tích đất giải quyết

Thứ hai, về trình tự, thủ tục giải quyết TCĐĐ của TAND: Theo khoản 9

Điều 26 BLTTDS năm 2015, Tòa án có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự đối với tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai Do đó, việc giải quyết tranh chấp đất đai theo trình tự tố tụng dân sự cụ thể là: cá nhân, cơ quan,

tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để khởi kiện vụ

án tại Tòa án (Tòa án nơi có bất động sản) Người khởi kiện vụ án gửi đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ đến Tòa án có thẩm quyền, thực hiện việc tạm ứng án phí

và hoàn chỉnh hồ sơ, đơn khởi kiện theo yêu cầu của Tòa án Khi Tòa án đã thụ lý giải quyết vụ án, sẽ tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án Khác với hoạt động hòa giải trước khi khởi kiện, đây là giai đoạn bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ án dân sự do chính Tòa án chủ trì và tiến hành Nếu hòa giải thành thì tòa án sẽ lập biên bản hòa giải thành, hết 07 ngày mà các bên đương sự không thay đổi ý kiến thì tranh chấp chính thức kết thúc Nếu hòa giải không thành thì Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử Ngay trong quá trình xét xử, các đương sự vẫn có thể thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án Nếu không đồng ý thì các bên vẫn có quyền kháng cáo theo trình tự phúc thẩm

Thứ ba, về chức năng, nhiệm vụ của TAND các cấp trong xét xử các vụ việc

nói chung và xét xử TCĐĐ: Với mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hệ thống Tòa án có vai trò đặc biệt quan trọng để bảo đảm kỷ cương trật tự xã hội và công bằng, dân chủ của Nhân dân Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong phạm vi chức năng của mình, có nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của Nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự

và nhân phẩm của công dân Theo Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2014 quy định: “Tòa án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xét xử các vụ

án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành

Trang 40

32

chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật; xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình tố tụng; căn cứ vào kết quả tranh tụng ra bản án, quyết định việc có tội hoặc không có tội, áp dụng hoặc không áp dụng hình phạt, biện pháp tư pháp, quyết định về quyền và nghĩa vụ về tài sản, quyền nhân thân”7 Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ

để giải quyết các vụ việc dân sự, trong đó có các tranh chấp đất đai Trong quá trình xét xử vụ án, Tòa án phát hiện và kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm trả lời Tòa án kết quả xử lý văn bản pháp luật bị kiến nghị theo quy định của pháp luật làm cơ sở để Tòa án giải quyết vụ án Tòa án là cơ quan có trách nhiệm bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử và thực hiện quyền hạn khác theo quy định của luật

Trong phạm vi của luận văn này, tác giả chủ yếu tập trung vào nghiên cứu các quy định pháp luật liên quan đến việc giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện tức là giai đoạn xét xử sơ thẩm với các vụ việc tranh chấp đất đai Theo đó, cơ cấu pháp luật điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện tập trung vào các nội dung: (1) Quy định của pháp luật đất đai về giải quyết tranh chấp đất đai; (2) Quy định của pháp luật tố tụng dân sự về giải quyết tranh chấp đất đai; (3) Quy định của pháp luật tổ chức tòa

án về giải quyết tranh chấp đất đai

Ngày đăng: 22/04/2020, 20:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w