1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về hợp tác xã từ thực tiễn áp dụng tại tỉnh vĩnh phúc

107 116 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các tổ chức Đảng, các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội và người đứng đầu các cơ quan tổ chức có vai trò quan trọng trong việc triển khai các chính sách khuyến khí

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ là công trình nghiên cứu khoa học của cá

nhân tôi Các số liệu, các kết luận trong luận văn tốt nghiệp là trung thực, đảm bảo

độ tin cậy, có nguồn gốc rõ ràng

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Phùng Thị Vân Quỳnh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng biết ơn và cảm ơn các thầy, cô giáo giảng viên khoa Sau Đại học - Trường Đại học Mở Hà Nội đặc biệt là TS Đồng Ngọc Ba người hướng dẫn trực tiếp luận văn cho tôi Các thầy cô đã nhiệt tình giảng dạy và tạo mọi điều kiện thuận lợi, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu viết đề tài luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn tập thể lãnh đạo và cán bộ Sở Kế hoạch và Đầu

tư tỉnh Vĩnh Phúc, Liên minh Hợp tác xã tỉnh Vĩnh Phúc, các nhà quản lý và các chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực Hợp tác xã đã tạo điều kiện thuận lợi giúp

đỡ và cung cấp thông tin, số liệu cũng như kinh nghiệm trong quá trình nghiên cứu luận văn này của bản thân tôi

Tôi xin trân trọng cảm ơn toàn thể học viên lớp 17M - LKT63, người thân trong gia đình, bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để tôi hoàn thành luận văn này

Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Đồng Ngọc Ba, người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học, tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi hoàn thành luận

văn chuyên ngành Luật Kinh tế với đề tài “Pháp luật về Hợp tác xã từ thực tiễn áp

dụng tại tỉnh Vĩnh Phúc”

Tuy đã cố gắng hết mình trong khi nghiên cứu và hoàn thành luận văn song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của hội đồng khoa học của trường, các thầy, các cô, đồng nghiệp và đặc biệt những ý kiến phản biện đối với luận văn để luận văn được hoàn thiện hơn./

Tác giả luận văn

Phùng Thị Vân Quỳnh

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của công trình nghiên cứu 6

7 Cơ cấu của luận văn 6

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ HỢP TÁC XÃ VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP TÁC XÃ 8

1.1 Khái niệm Hợp tác xã 8

1.1.1 Định nghĩa Hợp tác xã 8

1.1.2 Đặc điểm của hợp tác xã 11

1.2 Nội dung cơ bản của pháp luật về Hợp tác xã 12

1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến nội dung hiệu quả của pháp luật Hợp tác xã 14

1.3.1 Đường lối, chính sách của Đảng về phát triển Hợp tác xã 14

1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 16

1.3.3 Ý thức pháp luật, năng lực của người quản lý Hợp tác xã 18

Trang 6

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 19

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP TÁC XÃ Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH VĨNH PHÚC 20

2.1 Lịch sử hình thành, phát triển của Hợp tác xã và pháp luật về Hợp tác xã ở Việt Nam 20

2.2 Thực trạng pháp luật về thành lập, hoạt động Hợp tác xã 26

2.2.1 Trình tự, thủ tục thành lập và đăng ký Hợp tác xã 26

2.2.2 Nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Hợp tác xã 28

2.2.3 Quyền và nghĩa vụ của Hợp tác xã 28

2.2.4 Thành viên Hợp tác xã 30

2.2.5 Tổ chức quản lý Hợp tác xã 32

2.2.6 Chia, tách, hợp nhất, sáp nhập Hợp tác xã 35

2.2.7 Điều lệ Hợp tác xã 37

2.2.8 Giải thể hợp tác xã 39

2.2.9 Chính sách hỗ trợ, ưu đãi của Nhà nước đối với Hợp tác xã 42

2.3 Thực tiễn áp dụng pháp luật về Hợp tác xã trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc 46 2.3.1 Về thành lập và hoạt động của Hợp tác xã 48

2.3.2 Kết quả hoạt động của các Hợp tác xã chia theo lĩnh vực: 49

2.3.3 Tình hình thực hiện các chính sách hỗ trợ của Nhà nước 57

2.3.4 Đánh giá chung 66

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 76

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP TÁC XÃ 77

3.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về Hợp tác xã 77

Trang 7

3.2 Giải pháp bảo đảm hiệu quả thực hiện pháp luật về Hợp tác xã từ thực

tiễn tỉnh Vĩnh Phúc 79

3.2.1 Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng nói chung và các cấp ủy Đảng ở địa phương nói riêng 79

3.2.2 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phố biến, giáo dục pháp luật hợp tác xã đến các cấp, các ngành liên quan và các hợp tác xã trong toàn tỉnh Vĩnh Phúc 80

3.2.3 Không ngừng đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ quản lý hợp tác xã để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và ý thức chấp hành pháp luật Hợp tác xã 82

3.2.4 Tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát, kiểm toán thực hiện pháp luật hợp tác xã và tăng cường công tácquản lý thị trường 83

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 87

KẾT LUẬN 88

PHỤ LỤC BẢNG BIỂU 1

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

Trang 8

BHYT : Bảo hiểm y tế

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Phong trào hợp tác xã trên thế giới đã có từ gần 2 thế kỷ nay, khi những người sản xuất nhỏ, hộ kinh doanh cá thể, các doanh nghiệp nhỏ và vừa buộc phải dựa vào nhau để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt hoặc ở những nơi thiên nhiên quá khắc nghiệt

Ở nước ta, phong trào HTX hình thành từ cuối những năm 50 đầu những năm 60 thế kỷ XX Vĩnh Phúc được coi là một trong những tỉnh sớm có phong trào HTX từ giữa những năm 1950 và phát triển mạnh vào những năm 1960 Các HTX trong giai đoạn này hoạt động ở nhiều ngành nghề, trên nhiều lĩnh vực, đã đóng góp đáng kể vào nền kinh tế của tỉnh, vào kháng chiến chống Mỹ thắng lợi, góp phần nâng cao đời sống nhân dân Từ đó đến nay, kinh tế HTX ở nước ta nói chung, Vĩnh Phúc nói riêng đã góp phần quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, kinh tế Hợp tác

xã luôn được Đảng và Nhà nước chăm lo xây dựng, phát triển, củng cố, đổi mới các hình thức kinh tế hợp tác mà nòng cốt là hợp tác xã Một dấu mốc quan trọng trong việc cải tiến và hoàn thiện mô hình tổ chức kinh tế hợp tác xã phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới là việc Quốc hội nước ta đã thông qua Luật Hợp tác xã vào năm 1996 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1997

Sau hơn 20 năm thực hiện Luật hợp tác xã, đã qua 2 lần sửa đổi, bổ sung, thay thế cho phù hợp với tình hình mới, khu vực kinh tế tập thể nước ta đã có bước phát triển mới Số hợp tác xã sau chuyển đổi đã thực hiện tốt các nguyên tắc: tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi và quản lý dân chủ Nhiều mô hình hợp tác xã mới được thành lập, bước đầu hoạt động có hiệu quả và đang có xu hướng phát triển Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đã đạt được, kinh tế hợp tác xã vẫn còn gặp nhiều khó khăn về nhận thức và tổ chức thực hiện

Trang 10

2

Trong giai đoạn hiện nay, với sự phát triển kinh tế thị trường nhiều thành phần, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, đường lối, chính sách để đổi mới quản lý kinh tế, trong

đó có việc đổi mới tổ chức và hoạt động của các HTX, nhằm đẩy mạnh phát triển nền kinh tế Trong nền kinh tế nhiều thành phần hiện nay, vai trò và hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã ngày càng được coi trọng và phát huy Vì vậy, việc thực hiện Luật HTX để nâng cao vai trò, vị trí, ý nghĩa của HTX trong nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế, quốc tế đang là một vấn đề mang tính thời sự và cấp thiết

Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII khẳng định:

Đẩy mạnh phát triển kinh tế tập thể với nhiều hình thức đa dạng, mà nòng cốt là HTX Tổng kết tình hình phát triển các HTX và thực hiện Luật Hợp tác xã Khẩn trương hoàn thiện hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc ra đời, phát triển các HTX kiểu mới và các mô hình kinh tế tập thể khác theo

nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi, có chức năng kinh tế và xã hội

Một trong những yếu tố có tính chất quyết định hiệu quả hoạt động của HTX chính là thực hiện nghiêm chỉnh các nguyên tắc và điều khoản của pháp luật Hợp tác xã Các tổ chức Đảng, các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội và người đứng đầu các cơ quan tổ chức có vai trò quan trọng trong việc triển khai các chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển hợp tác xã; tuyên truyền, vận động, quản lý, kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động hợp tác xã cũng như tạo các điều kiện đảm bảo thực hiện pháp luật Hợp tác xã trên thực tế

Do vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu, thực hiện các quy định của Luật Hợp tác

xã có ý nghĩa hết sức quan trọng Cùng với đó, việc đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực thi hành các quy định của pháp luật Hợp tác xã là cần thiết Chính

vì những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Pháp luật về Hợp tác xã từ thực tiễn áp

dụng tại tỉnh Vĩnh Phúc” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học Luật của mình,

với mong muốn sẽ góp phần vào việc nâng cao hiệu qủa thi hành pháp luật về Hợp tác xã ở địa phương

Trang 11

3

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Ở nước ta trong những năm gần đây, vấn đề thực hiện pháp luật đang được đặt ra và là nhiệm vụ cấp bách của các cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân

Thực hiện pháp luật đã được các Học Viện, các Trường Đại học nghiên cứu trong các giáo trình và một số công trình nghiên cứu như: Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật của Đại học Luật Hà Nội [62]; Tài liệu học tập và nghiên cứu môn học lý luận chung về Nhà nước và pháp luật của Trần Đình Thắng [52]; Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Lý luận và thực tiễn của Nguyễn Văn Mạnh [44]; Thực hiện và áp dụng pháp luật ở Việt Nam của Nguyễn Minh Đoan [35]

Nghiên cứu về thực hiện pháp luật trên một số lĩnh vực cụ thể có các đề tài: Thực hiện pháp luật hoà giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Bình Thuận hiện nay - thực trạng và giải pháp của Lê Trung Quân [46]; Thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bình Định hiện nay của Võ Thành Long [42]; Thực hiện pháp luật đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong xét xử hình sự sơ thẩm ở Việt Nam hiện nay của Nguyễn Tiến Long [43]; Thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã, phường trên địa bàn thành phố Thanh Hóa của Phạm Thị Việt Nga [45]; Thực hiện pháp luật về thi hành

án dân sự ở tỉnh Vĩnh Phúc của Đào Huy Toàn [61]; Thực hiện pháp luật về Du lịch

ở tỉnh Ninh Bình hiện nay của Nguyễn Thúy Hà [36]

Với nhiều điểm ưu việt của mình, HTX là một loại hình doanh nghiệp khá phù hợp trong nền kinh tế của nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Từ trước đến nay, tổ chức và hoạt động của HTX đã được nghiên cứu dưới góc độ kinh

tế - xã hội cũng như dưới góc độ Luật học Tổ chức, hoạt động, cơ cấu quản lý của HTX đã được một số tác giả nghiên cứu trong các công trình như sau: Tổ chức và quản lý hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp của Phạm Đắc Duyên [24]; Đổi mới mô hình hợp tác xã sản xuất nông nghiệp ở huyện An Lão, Hải Phòng của Lê Đình Thắng và cộng sự [51]; Luận cứ khoa học về đổi mới tổ chức, hoạt động và quản lý

Trang 12

4

hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường ở nước ta của Phạm Quang Quýnh [50]; Phát triển và đổi mới quản lý hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã của Nguyễn Văn Bích [8]; Những vấn đề pháp lý về đổi mới tổ chức và quản lý các hợp tác xã của Trần Thị Thơ [53]; Đổi mới mô hình pháp lý hợp tác xã của Vũ Vân Anh [1]; Địa vị pháp lý của các cơ quan quản lý trong hợp tác xã ở Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn của Đặng Thị Thùy Vân [68]

Như vậy, vấn đề quản lý và điều hành cũng như thực hiện pháp luật HTX nhìn chung đã được các tác giả xem xét và nghiên cứu theo nhiều phương diện và theo pháp luật về HTX trong nhiều thời kỳ Kể từ khi có Luật HTX đến nay, chưa

có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về thực hiện pháp luật HTX Do vậy, có thể nói luận văn này sẽ mở đầu cho những công trình nghiên cứu về thực hiện pháp luật HTX đối với HTX hiện nay

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích, nghiên cứu của đề tài là góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận về pháp luật Hợp tác xã, cụ thể là Luật Hợp tác xã 2012; đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về Hợp tác xã trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong thời gian qua Từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về Hợp tác xã và nâng cao hiệu quả thực hiện trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

Để đạt được mục đích nghiên cứu như trên, luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận của việc thực hiện pháp luật Hợp tác xã, bao gồm khái niệm, hình thức, đặc điểm và nội dung

- Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật Hợp tác xã 2012 ở Vĩnh Phúc hiện nay;

- Đánh giá những kết quả đạt được, hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm từ thực trạng thực hiện pháp luật Hợp tác xã ở Vĩnh Phúc trong những năm qua

Trang 13

5

- Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về Hợp tác xã nói chung và nâng cao hiệu quả thực hiện tại tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống các văn bản pháp luật về Hợp tác xã mà cụ thể là luật Hợp tác xã năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành

Đề tài cũng nghiên cứu về thực tiễn áp dụng Luật Hợp tác xã trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, thực trạng và giải pháp

Phạm vi nghiên cứu

Pháp luật về Hợp tác xã là vấn đề rộng có thể nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau Trong khuôn khổ luận văn này tác giả nghiên cứu pháp luật Hợp tác xã dưới góc độ lý luận chung về pháp luật Hợp tác xã và các nội dung chủ yếu như việc thành lập, tổ chức quản lý nội bộ hợp tác xã, quy định về hỗ trợ của Nhà nước đối với Hợp tác xã Các nội dung khác cũng được nghiên cứu ở mức độ nhất định Luận văn không tập trung nghiên cứu về tài sản, tài chính, chia, tách, sáp nhập, giải thể Hợp tác xã

Phạm vi về không gian: nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật Hợp tác xã trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

Phạm vi về thời gian: nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật Hợp tác xã trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 2014 đến năm 2018

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của triết học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; bám sát đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng về phát triển kinh tế nông nghiệp, về chuyển đổi

mô hình Hợp tác xã kiểu mới, thực hiện pháp luật Hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, về kế hoạch phát triển Kinh tế tập thể đến năm 2020

Phương pháp nghiên cứu: Khi nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử,

Trang 14

6

Triết học Mác – Lênin Đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp hệ thống cấu trúc; Phương pháp phân tích và tổng hợp; Phương pháp qui nạp và diễn dịch; Lịch sử và logic; Phương pháp thống kê; Phương pháp điều tra

xã hội học; Phương pháp đề xuất và kiểm chứng

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của công trình nghiên cứu

Đây là công trình trong khoa học pháp lý Việt Nam ở cấp độ luận văn thạc

sỹ, nghiên cứu chung về pháp luật Hợp tác xã từ thực tiễn áp dụng tại tỉnh Vĩnh Phúc Có thể xem những nội dung sau đây là những đóng góp mới về khoa học và thực tiễn của luận văn:

- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận về pháp luật Hợp tác xã

- Phân tích, đánh giá quy định pháp luật hiện hành về Hợp tác xã

- Đánh giá thực trạng hiệu quả thực hiện pháp luật về Hợp tác xã từ thực tiễn tại tỉnh Vĩnh Phúc, chỉ ra những mặt tích cực, hạn chế

- Đề xuất các giải pháp có tính khả thi cao nhằm đảm bảo thực hiện pháp luật

Hợp tác xã trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế, quốc tế hiện nay

- Luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho cấp ủy và chính quyền của tỉnh Vĩnh Phúc trong việc lãnh đạo, chỉ đạo công tác thực hiện pháp luật đối với hợp tác

xã Luận văn cũng có thể là tài liệu tham khảo của các sở, ngành hữu quan của tỉnh Vĩnh Phúc trong việc nghiên cứu và chỉ đạo, kiểm tra, giải quyết các vụ việc về hợp tác xã

- Luận văn có thể là tài liệu tham khảo để hệ thống Liên minh Hợp tác xã các tỉnh trong cả nước nói chung, tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng trong việc nghiên cứu, trao đổi, rút kinh nghiệm trong tổ chức và hoạt động của mình

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn chia thành 3 chương như sau:

Trang 15

7

Chương 1 - Lý luận về Hợp tác xã và pháp luật về Hợp tác xã

Chương 2 - Thực trạng pháp luật về Hợp tác xã ở Việt Nam và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Vĩnh Phúc

Chương 3 - Giải pháp hoàn thiện và bảo đảm thực hiện pháp luật về Hợp tác

Trang 16

Hợp tác xã là tổ chức kinh tế mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc, tổ chức

đã được hình thành cách đây gần 2 thế kỷ ở Châu Âu và từ đó được phát triển ở hầu khắp các nước trên thế giới Các hợp tác xã (HTX) tiếp tục phát triển và thể hiện được tính thích hợp của mình cho đến ngày nay bởi nó là một loại hình doanh nghiệp, dựa trên các giá trị tương trợ, tự chịu trách nhiệm, dân chủ, bình đẳng, công bằng và đoàn kết

Hợp tác xã là một khái niệm dùng để minh họa một dạng hoạt động (quan hệ) xã hội, trong đó các cá nhân liên kết, hợp tác với nhau, trợ giúp lẫn nhau nhằm thực hiện một công việc nhất định nào đó Hợp tác theo nghĩa ngôn ngữ của từ này:

"Hợp tác 1 Chung sức trợ giúp qua lại với nhau: hợp tác khoa học, hợp tác lao động; 2 Hợp tác xã, ban quản trị hợp tác xã" [70, tr.848] Trong nền kinh tế hợp tác

xã là một đơn vị kinh tế thuộc thành phần kinh tế tập thể "Hợp tác xã d.t Cơ sở sản xuất kinh doanh tập thể" [70, tr.848] Trước đây trong các nước xã hội chủ nghĩa, hợp tác xã là con đường chủ yếu để tiến hành cải tạo XHCN Trong nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp:

Hợp tác xã nông nghiệp tổng hợp cũng gọi là hợp tác xã của những người lao động nông nghiệp tổng hợp, là một trong những hình thức hợp tác xã ở Nam Tư, đặc điểm của nó là không đụng chạm đến quyền sở hữu ruộng đất của nông dân gia nhập hoặc xin ra đến hoàn toàn tự nguyện, dễ được nông dân tiếp nhận Người tham gia đa số là nông dân cá thể Đặc biệt là những người nông dân trước đây làm việc

ở ngành thương nghiệp hoặc thủ công nghiệp Thời kỳ đầu mới giải phóng Nam Tư coi việc thành lập hợp tác xã lao động nông dân là con đường chủ yếu tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa nông nghiệp [69, tr.71]

Trong điều kiện kinh tế sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, nền kinh tế sản xuất nhỏ, cá thể chủ yếu hợp tác xã càng được coi trọng "Chính sách kinh tế mới" mà

Trang 17

Kinh tế tập thể trong sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp theo hình thức hợp tác xã từ những năm 60 thế kỷ XX đến nay được tổ chức rộng khắp ở miền Bắc và ở miền Nam sau năm 1975 đến nay

Khái niệm HTX trong pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế

Trong luật HTX của nhiều nước cũng như một số tổ chức Quốc tế đều có định nghĩa về HTX Liên minh HTX Quốc tế đã định nghĩa HTX như sau: HTX là một tổ chức tự trị của những người tự nguyện liên hiệp lại để đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung của họ về kinh tế, xã hội và văn hoá thông qua một

xí nghiệp cùng sở hữu và quản lý dân chủ

Tổ chức lao động quốc tế định nghĩa HTX là sự liên kết của những người đang gặp phải những khó khăn kinh tế giống nhau, tự nguyện liên kết lại trên cơ sở bình đẳng quyền lợi và nghĩa vụ, sử dụng tài sản mà họ đã chuyển giao vào HTX phù hợp với các nhu cầu chung và giải quyết khó khăn đó chủ yếu bằng sự tự chủ,

tự chịu trách nhiệm và bằng cách sử dụng các chức năng kinh doanh trong tổ chức hợp tác phục vụ cho lợi ích và tinh thần chung

Hợp tác xã là mô hình kinh tế xuất hiện từ khá lâu trên thế giới, được định nghĩa và quy định trong khuôn khổ pháp lý của từng quốc gia và thường được khẳng định tại chương đầu tiên của hầu hết Luật HTX của các nước

- Luật HTX của Cộng hòa Liên bang Đức định nghĩa: HTX là các hiệp hội không hạn chế số lượng thành viên, mục đích khuyến khích thành viên hành nghề hoặc làm kinh tế dựa vào doanh nghiệp tập thể (Điều 1) [64, tr.12]

- Luật HTX của Philippin quy định tại Điều 3: HTX là một tổ chức được đăng ký chính thức của một nhóm người có quan hệ lợi ích chung, tham gia tự nguyện để cùng nhau đạt được các mục đích kinh tế và xã hội hợp pháp, có đóng góp tương đương nhau về vốn, chấp nhận chia sẻ công bằng những thiệt hại cũng

Trang 18

Ở một số nước trên thế giới, khái niệm HTX đã được luật hóa Khái niệm này đã được tham khảo để đưa vào trong các quy định của pháp luật về HTX của Việt Nam Quan điểm về HTX của Việt Nam cũng tương đối thống nhất, phù hợp với quan điểm của các nước trên thế giới

Ở Việt Nam, khái niệm HTX thể hiện trong Điều lệ mẫu hợp tác xã sản xuất nông nghiệp (do Thông tư số 449-TTg ngày 17/12/19559 của Thủ tướng Chính phủ ban hành) đã ghi tại điều 1:

Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp bậc thấp là tổ chức kinh tế tập thể có tính chất nửa xã hội chủ nghĩa, do nông dân lao động tự nguyện lập ra, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, nhằm đẩy mạnh một bước sản xuất nông nghiệp, dần dần xóa bỏ bóc lột, nâng cao đời sống ở nông thôn, góp phần đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội và củng cố miền Bắc thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà [60, tr.625]

Hợp tác xã bậc thấp là hình thức quá độ để chuyển lên hợp tác xã bậc cao Quyền sở hữu của xã viên ở HTX bậc thấp về tư liệu sản xuất còn được thừa nhận, còn HTX bậc cao trong đó các tư liệu sản xuất chủ yếu chuyển thành của tập thể Theo Thông tư số 297-TTg ngày 13/6/1958 về quy tắc tạm thời của HTX thủ công nghiệp có định nghĩa: "Hợp tác xã thủ công nghiệp là một tổ chức kinh tế tập thể của những người lao động thủ công nghiệp tự nguyện xây dựng dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ nhằm phát triển sản xuất, cải thiện dân sinh, thực hiện từng bước việc đưa thủ công nghiệp tiến lên chủ nghĩa xã hội" [60, tr.642] Về tổ chức hợp tác hay cửa hàng hợp tác của những người tiểu thương và hàng rong, buôn vặt,

có xác định: "Tổ hợp tác hay cửa hàng hợp tác là tổ chức mua bán của những người tiểu thương và hàng rong, buôn vặt tự nguyện, tổ chức theo hình thức mua chung " [60, tr.650]

Trang 19

11

Luật HTX năm 1996 và Luật HTX năm 2003 đều khẳng định việc thành lập HTX là hoàn toàn tự nguyện xuất phát từ nhu cầu, lợi ích chung của các thành viên nhằm phát huy sức mạnh tập thể, cùng giúp đỡ nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của từng xã viên, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Khái niệm HTX tiếp tục được sửa đổi và hoàn thiện ở Luật HTX (2012) như sau: HTX là tổ chức KTTT, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 7 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý HTX [48]

Phân loại Hợp tác xã: việc phân loại hợp tác xã chủ yếu căn cứ vào lĩnh vực hoạt động sản xuất hàng hóa, tiền tệ và dịch vụ

- Căn cứ vào lĩnh vực sản xuất hàng hóa, có các loại hợp tác xã: Hợp tác xã nông nghiệp, Hợp tác xã công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, Hợp tác xã xây dựng và Hợp tác xã kinh doanh tổng hợp

- Căn cứ vào lĩnh vực trên có Hợp tác xã thương mại

- Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động dịch vụ có: Hợp tác xã vận tải, Hợp tác xã bảo vệ môi trường và Hợp tác xã về điện

1.1.2 Đặc điểm của hợp tác xã

Là một tổ chức kinh tế, Hợp tác xã có một số đặc điểm như sau:

Thứ nhất, dưới góc độ kinh tế, Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế cơ bản và

quan trọng nhất của thành phần KTTT Đặc trưng của HTX là hình thức sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất và dựa trên sở hữu của các thành viên Hợp tác xã, từ đó mà phát sinh các quan hệ sản xuất và quan hệ phân phối tương ứng

Thứ hai, xét về góc độ xã hội, Hợp tác xã mang tính xã hội sâu sắc Tuy

nhiên, Hợp tác xã không phải là tổ chức xã hội mà chỉ mang tính xã hội

Những nguyên tắc tổ chức của Hợp tác xã đã thể hiện tính xã hội của nó Trong một thị trường có tính cạnh tranh và đẩy mạnh sự phát triển, HTX chính là tổ chức tạo điều kiện tốt nhất cho những người lao động, những người sản xuất nhỏ và vừa tham gia lao động sản xuất, xóa bớt gánh nặng về thất nghiệp Tham gia tổ chức

Trang 20

12

HTX, người lao động còn được nâng cao tinh thần một cách đáng kể bởi tính tương trợ và giúp đỡ lẫn nhau trong tổ chức này

Thứ ba, xét dưới góc độ pháp lý, HTX là một tổ chức kinh tế có tư cách pháp

nhân Điều 84, Bộ luật Dân sự (2005) quy định một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau: được thành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với các cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập HTX có đầy đủ những điều kiện của một pháp nhân: HTX được thành lập hợp pháp theo quy định của pháp luật và có đăng ký kinh doanh; cơ cấu tổ chức của HTX khá chặt chẽ, theo quy định của Luật HTX (2012), HTX là tổ chức KTTT, do ít nhất 7 thành viên thành lập, hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất kinh doanh; HTX có tài sản, tự chủ tự chịu trách nhiệm với tài sản của mình; trong các quan hệ pháp luật, HTX nhân danh chính mình và độc lập tham gia các quan hệ đó

Thứ tư, về tổ chức quản lý, Hợp tác xã hoạt động theo nguyên tắc tự chủ và

tự chịu trách nhiệm Nguyên tắc này cũng được quy định tại Điều 7 của Luật Hợp tác

xã (2012) Theo nguyên tắc này, Hợp tác xã tự lựa chọn và quyết định phương án sản xuất kinh doanh, phân phối kết quả sản xuất kinh doanh, lập và trích lập các quỹ, phân phối tiền lương cho các thành viên HTX…Nói chung, mọi vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động của HTX đều do chính Hợp tác xã tự quyết định và tiến hành, trong khuôn khổ Điều lệ Hợp tác xã và tuân thủ các quy định của pháp luật

Hiện nay, theo quy định của Luật Hợp tác xã 2012, HTX có những điểm khá tương đồng với một số loại hình doanh nghiệp Nhưng với tính chất là một tổ chức KTTT và tính xã hội sâu sắc của nó, Hợp tác xã vẫn có những điểm khác biệt nhất định, là một loại hình doanh nghiệp thu hút đông đảo người lao động, phát huy sức mạnh tương trợ nhau, rất cần thiết trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay

1.2 Nội dung cơ bản của pháp luật về Hợp tác xã

Thực hiện pháp luật Hợp tác xã là hoạt động có mục đích nhằm thực hiện các quy định của pháp luật HTX, đưa các quy phạm pháp luật này vào thực tiễn cuộc sống, biến nó thành những hành vi xử sự góp phần phát huy tính tích cực, chủ động trong thực hiện pháp luật Hợp tác xã

Trang 21

13

Các quy phạm pháp luật về HTX của nước ta hiện nay được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật (Hiến pháp 2013, Luật HTX 2012, Nghị định, Chỉ thị, Quyết định, Thông tư…) của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, với nội dung rộng, liên quan đến các lĩnh vực HTX như: thành lập và đăng ký hoạt động, nguyên tắc tổ chức, hoạt động, quyền và nghĩa vụ của Hợp tác xã, quy định về xã viên HTX, tổ chức quản

lý, tài sản HTX hay tổ chức lại, chia tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể HTX Nội dung thực hiện pháp luật HTX bao gồm 3 vấn đề chủ yếu: Thực hiện quy định của pháp luật về chính sách hỗ trợ phát triển HTX; thực hiện quy định của pháp luật về tuyên truyền, vận động, tạo điều kiện và hỗ trợ cho việc hình thành và phát triển HTX; thực hiện quy định của pháp luật về công tác quản lý nhà nước về HTX

Những nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam về Hợp tác xã gồm các chính sách của nhà nước đối với Hợp tác xã trong thời kỳ đầu đổi mới, chính sách của Nhà nước đối với HTX được pháp điển hóa và được thể chế hóa vào Luật HTX qua các thời kỳ sửa đổi Tại Điều 50 Luật HTX năm 1996, để cụ thể hóa Điều 50 của Luật HTX năm 1996, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 15/CP ngày 21/2/1997 về chính sách khuyến khích phát triển HTX Tuy vậy, trên thực tế các Bộ chức năng chưa có văn bản hướng dẫn thực hiện, nên hầu hết các HTX chưa được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước Ngày 18/3/2002, Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành trung ương Đảng khóa IX ban hành Nghị quyết số 13 “về tiếp tục đổi mới,phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể” Nghị quyết đã đề ra 6 nhóm cơ chế, chính sách đối với kinh tế tập thể, đó là: Chính sách cán bộ và đào tạo nguồn nhân lực, chính sách đất đai, chính sách tài chính - tín dụng, chính sách hỗ trợ về khoa học - công nghệ, chính sách hỗ trợ tiếp thị và mở rộng thị trường, chính sách đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng

Thể chế hóa các nội dung của Nghị quyết, Luật HTX năm 2003 đã ban hành

và thực hiện các chính sách, các chương trình hỗ trợ phát triển HTX về đào tạo cán

bộ, phát triển nguồn nhân lực; đất đai; tài chính; tín dụng; xây dựng Quỹ hỗ trợ phát triển HTX; áp dụng khoa học và công nghệ; tiếp thị và mở rộng thị trường; đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng; tạo điều kiện để HTX được tham gia các chương trình phát

Trang 22

Hệ thống những quy định pháp luật về Hợp tác xã giai đoạn thứ nhất, từ năm

1945 đến năm 1958 Giai đoạn thứ hai, từ năm 1959 đến năm 1988 Giai đoạn thứ

ba, từ năm 1988 đến trước khi Luật HTX năm 2003 ban hành Giai đoạn thứ tư, từ năm 2003 đến nay Pháp luật về HTX lại được tiếp tục hoàn thiện để phù hợp với sự đổi thay của pháp luật đối với các loại hình doanh nghiệp Đánh dấu bằng sự ra đời của Luật hợp tác xã ngày 26/11/2003 Luật này có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2004, cùng với một số văn bản như: Nghị định 177/2004/NĐ-CP ngày 12/10/2004 về hướng dẫn thi hành một số điều Luật HTX năm 2003, Nghị định số 77/2005/NĐ-CP ngày 9/6/2005 về ban hành mẫu hướng dẫn xây dựng điều lệ HTX; Nghị định số 87/2005/NĐ-CP ngày 11/7/2005 về đăng ký kinh doanh HTX; Nghị định số 88/2005/NĐ-CP ngày 11/7/2005 về chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển HTX…

1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến nội dung hiệu quả của pháp luật Hợp tác xã

1.3.1 Đường lối, chính sách của Đảng về phát triển Hợp tác xã

Hệ thống chính trị ở Việt Nam bao gồm các tổ chức: Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước cộng hòa XHCN Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên đoàn lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh và Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh Trọng tâm của hệ thống chính trị là nhà nước, phát huy vai trò của hệ thống chính trị vận hành theo cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản

lý và nhân dân làm chủ là điều kiện tiên quyết trong phát triển kinh tế tập thể nói chung và thực hiện pháp luật HTX nói riêng

Trang 23

15

Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam, đó là vấn đề có tính quy luật đã được thực tiễn kiểm nghiệm Trong thời kỳ đổi mới, Đảng là đội tiên phong trong công cuộc đổi mới đồng thời cũng là người lãnh đạo sự nghiệp đổi mới một cách toàn diện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Đối với lĩnh vực pháp luật nói chung và thực hiện pháp luật nói riêng, Đảng đã có nhiều chủ trương và biện pháp quan trọng Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định những định hướng lớn của Đảng về phát triển nền kinh tế nói chung và phát triển KTTT nói riêng:

Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo KTTT không ngừng được củng cố và phát triển Kinh tế nhà nước cùng với KTTT ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân

Đảng và Nhà nước ta đưa ra nhiều chủ trương, chính sách nhằm phát triển kinh tế tập thể, xây dựng nông nghiệp và nông thôn mới, việc đưa nông dân vào hợp tác xã là một trong những tiêu chí trong xây dựng nông nghiệp và nông thôn mới ở nước ta

Do đó, thực hiện pháp luật Hợp tác xã cũng như việc thực hiện pháp luật nói chung đều đòi hỏi phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, đó là điều kiện tiên quyết nhằm bảo đảm cho việc thực hiện pháp luật Hợp tác xã được nghiêm chỉnh, thống nhất theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng Các cấp uỷ Đảng lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện pháp luật về HTX bằng việc quán triệt về mặt tư tưởng, nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên đối với việc thực hiện pháp luật HTX; đồng thời, ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo đối với các cơ quan, tổ chức và cán bộ đảng viên trong thực hiện pháp luật Hợp tác xã Thực tiễn cho thấy, ở cơ quan, đơn vị, địa

Trang 24

16

phương nào có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của các cấp uỷ Đảng thì việc thực hiện pháp luật Hợp tác xã hiệu quả cao hơn

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của mặt trận; đặc biệt

là Hội Nông dân, Liên minh HTX các cấp Thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình trong phát triển hợp tác xã trên phạm vi cả nước và ở từng địa phương cơ sở Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp luôn tập hợp, vận động nhân dân nói chung và nông dân nói riêng trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh Hội nông dân cùng với Liên minh Hợp tác xã thực hiện chức năng của mình trong đại diện và bảo vệ quyền lợi, lợi ích hợp pháp của các thành viên Hợp tác xã; tuyên truyền, vận động phát triển HTX; hỗ trợ và cung cấp các dịch vụ cần thiết cho sự hình thành và phát triển các cơ sở hợp tác xã, tham gia xây dựng chính sách pháp luật có liên quan đến hợp tác xã

1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, các HTX, nông dân, doanh nghiệp Việt Nam đang có nhiều vận hội và gặp nhiều thách thức trở ngại Trong đó, nông dân ở nước ta là lực lượng đông đảo nhất nhưng lại nghèo nhất, trình độ, tính chất của lực lượng sản xuất cũng như năng suất lao động lại là thấp nhất Như ông Hoàng Trọng Thủy, nguyên Tổng biên tập tạp chí Nông thôn Mới phát biểu tại buổi tọa đàm do TW Hội Nông dân tổ chức Hà Nội ngày 18/11/2017 sau khi “kiểm kê” một loạt những tác động “chưa như mong muốn” của chính sách về đất đai, vốn, kinh tế tập thể đã cho rằng: “Nông dân đã nghèo con mắc cái eo” Nông dân hội nhập ra sao khi thuế; phí, lệ phí cao gấp 1,4 – 3 lần so với khu vực.; nông dân gánh tới 131 khoản đóng góp, 432 khoản phí, lệ phí và có tới 46% hộ nông dân không vượt qua được cú sốc về kinh tế do không có tích lũy tài chính

Trước tình hình trên, để phát triển kinh tế tập thể nói chung và phát triển HTX cũng như thực hiện pháp luật HTX, điều kiện về kinh tế là hết sức quan trọng

Đó là vốn ở dạng bất động sản (đất đai), tài chính và sản phẩm trí tuệ Chính sách

Trang 25

Nhà nước cần xây dựng cơ sở hạ tầng cho sự hoạt động sản xuất kinh doanh cho hợp tác xã như: hệ thống giao thông, hệ thống thủy lợi (tưới tiêu nước) và các dịch vụ kỹ thuật khác như: Điện, vật tư nông nghiệp, dịch vụ bảo vệ thực vật và thú y… Nhà nước cần quan tâm tổ chức, khuyến khích tạo mối liên kết giữa 3 nhà “Nhà nông, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp” để tạo tiền đề kinh tế, kỹ thuật cho sự tồn tại và phát triển hợp tác xã

Kinh phí, phương tiện vật chất là những yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến công tác thực hiện pháp luật Hợp tác xã, là cơ sở quyết định đến chất lượng của công tác tổ chức thực hiện pháp luật Nguồn kinh phí thực hiện công tác tuyên truyền, triển khai và tổ chức thực hiện pháp luật HTX do ngân sách nhà nước cấp theo phân cấp hiện hành và các nguồn kinh phí huy động, tài trợ khác là cơ sở đảm bảo hiệu quả hoạt động của đề án, dự án, kế hoạch trên thực tiễn cuộc sống

Tuy nhiên thực hiện chính sách khuyến khích, hỗ trợ hợp tác xã, công tác tuyên truyền, vận động hợp tác xã gặp không ít những khó khăn Vì vậy, để nâng cao hiệu quả của công tác thực hiện pháp luật nói chung và công tác thực hiện pháp luật Hợp tác xã nói riêng thì việc đầu tư kinh phí và trang thiết bị cho công tác này

là yếu tố rất quan trọng hiện nay

Thực tế cho thấy, ở địa phương nào có sự quan tâm và tập trung đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và nguồn tài chính kịp thời, đáp ứng yêu cầu thực tiễn thì việc thực hiện pháp luật phát triển, đồng thời việc thực hiện pháp luật về Hợp tác xã cũng được vận dụng và thực hiện có hiệu quả trong cuộc sống

Trang 26

18

1.3.3 Ý thức pháp luật, năng lực của người quản lý Hợp tác xã

Thực hiện pháp luật Hợp tác xã là hoạt động có chủ đích của con người, được thực hiện bởi cơ quan quản lý hợp tác xã, tổ chức, cá nhân có liên quan Điều này có nghĩa là bất kỳ hoạt động thực hiện pháp luật Hợp tác xã đều gắn với chủ thể

có năng lực Do đó, trình độ năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ hợp tác xã

có tác động trực tiếp tới hiệu quả hoạt động của Hợp tác xã

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì cán bộ là cái gốc của mọi công việc, công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém Quá trình thực hiện pháp luật HTX cũng vậy, chất lượng đội ngũ cán bộ có ý nghĩa quyết định đối với việc thực hiện có hiệu quả hay không hiệu quả các quy định của pháp luật Hợp tác xã Thực tiễn cho thấy, trong những năm gần đây, từ khi Luật 2012 có hiệu lực thi hành, đội ngũ cán bộ quản lý hợp tác xã đã có bước phát triển cả về số lượng và chất lượng, nhờ đó, đã góp phần từng bước nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật Hợp tác xã hiện nay, bảo đảm cho các quy định của Luật Hợp tác xã được chấp hành, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và pháp chế XHCN, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của Luật Hợp tác xã

Trang 27

19

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Thực hiện pháp luật là toàn bộ những hành vi (hành động hoặc không hành

động), những phương thức xử sự của các chủ thể pháp luật nhằm thực hiện những

quy định của pháp luật Thực hiện pháp luật có vị trí, vai trò và ý nghĩa quan trọng trong toàn bộ các hoạt động về pháp luật, là qúa trình đưa pháp luật vào cuộc sống, khắc phục tình trạng không chấp hành pháp luật, hạn chế và ngăn ngừa những vi phạm pháp luật

Thực hiện pháp luật Hợp tác xã là qúa trình hoạt động có mục đích làm cho các quy phạm pháp luật về Hợp tác xã đi vào cuộc sống thực tiễn Thực hiện pháp luật Hợp tác xã là hoạt động tích cực của các chủ thể, góp phần thúc đẩy kinh tế Hợp tác xã đổi mới và phát triển cả về số lượng, chất lượng và phát triển theo đúng quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương

Trang 28

Ở Việt Nam, Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là người đầu tiên đưa tư tưởng Hợp tác xã vào Việt Nam Ngay từ khi còn đương bôn ba tìm đường cứu nước, Người đã quan tâm

đến tổ chức kinh tế quan trọng này Trong cuốn Đường Cách mệnh viết năm 1927,

sau khi phân tích những lợi ích của hợp tác xã, Người đã nhấn mạnh: Tục ngữ An Nam có câu “Nhóm lại thành giàu, chia nhau thành khó” và “Một cây làm chẳng nên non, nhiều cây nhóm lại thành hòn núi cao”

Ngay sau khi giành được độc lập (năm 1945), Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm xây dựng và phát triển HTX Trong kháng chiến chống Pháp, dù chỉ mới hình thành một ít ở vùng tự do, căn cứ địa cách mạng, nhưng HTX đã bước đầu tập hợp được nông dân, người lao động vào làm ăn tập thể, có những đóng góp nhất định trong việc đảm bảo hậu cần cho cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Hợp tác xã có vai trò to lớn đối với công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Nhờ đẩy mạnh kinh tế hợp tác xã, miền Bắc thực sự trở thành hậu phương vững chắc cho cách mạng miền Nam, chi

Trang 29

21

viện sức người sức của để giải phóng miền Nam, góp phần đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc

Trong giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Hợp tác

xã vẫn là chỗ dựa cho hộ sản xuất, người lao động riêng lẻ, doanh nghiệp nhỏ và vừa tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt

Trải qua hơn 70 năm xây dựng và phát triển, khu vực HTX Việt Nam đã có bước phát triển nhất định, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tuy nhiên, so với yêu cầu của sự phát triển và hội nhập toàn diện với khu vực và thế giới, khu vực Hợp tác xã còn bộc lộ nhiều hạn chế: Quy mô nhỏ bé, năng lực nội tại kém, hoạt động hiệu quả thấp, lợi ích mang lại cho thành viên còn ít, chưa đáp ứng đầy đủ các nhu cầu phát triển của thành viên và cộng đồng

* Giai đoạn từ năm 1996 - trước khi có Luật Hợp tác xã 2003

Để khu vực Hợp tác xã nước ta đổi mới, hoạt động hiệu quả và phát triển bền vững trong cơ chế thị trường định hướng XHCN, đóng góp ngày càng nhiều vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Luật Hợp tác xã đầu tiên của nước ta được Quốc hội khóa IX thông qua ngày 20/3/1996, gồm 10 chương, 56 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1997 Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị 68-CT/TW ngày 24/5/1996; Chính Phủ đã ban hành Nghị định số 02/CP ngày 02/01/1997 quy định về chức năng quản lý nhà nước đối với Hợp tác xã, Nghị định số 15/CP ngày 21/02/1997 về chính sách khuyến khích phát triển Hợp tác xã, Nghị định số 16/CP ngày 21/02/1997 về chuyển đổi, đăng ký Hợp tác xã theo luật

Sau hơn 6 năm thực hiện, Luật Hợp tác xã 1996 đã từng bước đi vào cuộc sống và bước đầu phát huy tác dụng, góp phần thúc đẩy HTX ở nước ta chuyển đổi đúng hướng và tích cực, dần hình thành các HTX kiểu mới phát huy vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện, Luật Hợp tác xã năm 1996 đã bộc lộ những hạn chế và bất cập đòi hỏi phải có sự sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với những điều kiện mới đã có nhiều thay đổi:

Trang 30

22

Một là, nhiều nội dung quy định trong Luật Hợp tác xã năm 1996 chưa đáp

ứng được yêu cầu tiếp tục đổi mới kinh tế, đẩy mạnh cải cách hành chính và hoàn thiện môi trường kinh doanh, cũng như không còn phù hợp với bước phát triển mới của khu vực kinh tế hợp tác, Hợp tác xã

Hai là, từ khi Luật Hợp tác xã năm 1996 có hiệu lực thi hành, khung pháp lí

nói chung và khung pháp lí về doanh nghiệp nói riêng đã không ngừng được hoàn thiện và phát triển thêm Luật Doanh nghiệp ban hành năm 1999 đã tạo môi trường pháp lí thuận lợi hơn cho doanh nghiệp, bảo đảm quyền tự do kinh doanh, bình đẳng trước pháp luật của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế Luật Ngân sách Nhà nước, Pháp lệnh cán bộ, công chức …cũng được ban hành Vì vậy, một số quy định trong Luật Hợp tác xã đã không còn phù hợp với nội dung của Luật, Pháp lệnh nói trên

Ba là, trong điều kiện mở cửa và hội nhập nền kinh tế nước ta với các nước

trong khu vực và thế giới, các cơ sở kinh tế hợp tác và Hợp tác xa Việt Nam không thể phát triển đơn độc, mà phải liên kết chặt chẽ với nhau, liên kết với các tổ chức thuộc các thành phần kinh tế khác, gắn bó với phong trào HTX của các nước khu vực và quốc tế Như vậy, Luật Hợp tác xã Việt Nam cũng cần được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với xu hướng và yêu cầu phát triển chung đó

Bốn là, trên cơ sở đường lối Đại hội IX cuả Đảng về phát triển KTTT, Nghị

quyết số 13-NQ/TW Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa

IX ngày 18 tháng 3 năm 2002 “Về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả KTTT” một lần nữa khẳng định phát triển KTTT, mà nòng cốt là hợp tác xã mang tính tất yếu khách quan, để Kinh tế tập thể cùng với kinh tế Nhà nước ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế nhiều thành phần định hướng XHCN

Để thực hiện có kết quả những nội dung này, Nghị quyết cũng chỉ ra những nhiệm vụ cụ thể trong đó nhiệm vụ sửa đổi, bổ sung Luật Hợp tác xã có vị trí quan trọng Luật phải thể hiện rõ tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của Hợp tác xã trong lựa chọn ngành nghề kinh doanh mà pháp luật không cấm tạo điều kiện cho Hợp tác

xã dễ dàng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đa dạng hóa ngành nghề phù hợp với nhu cầu thị trường, tạo động lực cho bước phát triển mởi của Kinh tế tập thể

Trang 31

Bộ Kế hoạch & Đầu tư đã ban hành các Thông tư sau: Thông tư số 04/2005/TT-BKH ngày 15/12/2005 hướng dẫn một số quy định tại Nghị định số 87/2005/NĐ-CP ngày 11/7/2005 về đăng ký kinh doanh Hợp tác xã; Thông tư số 01/2006/TT-BKH ngày 19/01/2006 hướng dẫn tiêu chí đánh giá và phân loại HTX; Thông tư số 02/2006/TT-BKH ngày 13/02/2006 hướng dẫn thực hiện một số điều tại Nghị định số 88/2005/NĐ-CP ngày 11/7/2005 về một số chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển Hợp tác xã Và Bộ Tài chính đã ban hành thông tư số 66/2006/TT-BTC ngày 17/7/2006 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 88/2005/NĐ-

CP ngày 11/7/2005 về chế độ tài chính hỗ trợ sáng lập viên Hợp tác xã chuẩn bị thành lập, các đối tượng đào tạo, bồi dưỡng của Hợp tác xã

Việc Quốc hội thông qua Luật Hợp tác xã năm 2003 một lần nữa khẳng định, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến sự phát triển Hợp tác xã - bộ phận nòng cốt của Kinh tế tập thể Trên cơ sở kế thừa các quy định của Luật Hợp tác xã năm 1996, Luật Hợp tác xã năm 2003 đã góp phần hoàn thiện khung pháp lý về Hợp tác xã, phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành, đặc biệt là hệ thống pháp luật kinh tế, cũng như phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế về Hợp tác xã

Trang 32

24

Sau gần 9 năm thực hiện Luật Hợp tác xã năm 2003, bên cạnh một số kết quả đạt được, Luật Hợp tác xã đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế cần sửa đổi:

- Những tồn tại trong thực tiễn phát triển Hợp tác xã:

+ Khu vực Hợp tác xã chưa thoát ra khỏi yếu kém kéo dài về trình độ công nghệ lạc hậu, năng lực đội ngũ cán bộ quản lý yếu, chất lượng, hiệu quả hoạt động nói chung thấp

+ Nhiều hợp tác xã có tên nhưng không hoạt động hoặc hoạt động hình thức, lúng túng trong xây dựng phương án tổ chức hoạt động, chưa mang lại nhiều lợi ích cho thành viên; tổ chức Hợp tác xã chưa hấp dẫn nhân dân và tổ chức tham gia

+ Đóng góp vào GDP của KTTT mà nòng cốt là Hợp tác xã giảm sút liên tục trong những năm qua (từ gần 11% năm 1995 xuống còn 5,0% năm 2011); tốc độ tăng trưởng của KTTT rất thấp, chỉ bằng khoảng ½ tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế và thấp nhất so với các thành phần kinh tế khác

- Hạn chế của Luật Hợp tác xã năm 2003:

+ Luật chưa thể hiện rõ bản chất Hợp tác xã, chưa làm thật rõ lợi ích và vai trò người chủ của xã viên khi tham gia Hợp tác xã, mục tiêu của Hợp tác xã và mối quan hệ giữa nhiệm vụ, trách nhiệm, lợi ích của xã viên Hợp tác xã

+ Quy định về quản lý nhà nước đối với Hợp tác xã còn thiếu, hoặc chưa đủ

rõ, cụ thể, hoặc không còn thích hợp

+ Hạn chế về chế tài xử lý vi phạm pháp luật Hợp tác xã

- Yêu cầu cải thiện môi trường kinh doanh và hội nhập kinh tế quốc tế:

+ Qua hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, khung pháp luật dành cho doanh nghiệp đã và đang được tiếp tục hoàn thiện, thực tế đó tác động tới môi trường pháp luật Hợp tác xã

+ Việt Nam với tư cách là thành viên của tổ chức WTO, cam kết thực hiện nhiều điều ước Quốc tế Khung pháp luật về kinh tế, trong đó có khung pháp luật về Hợp tác xã đã được ban hành, cần được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp

* Giai đoạn từ khi có Luật Hợp tác xã năm 2012 đến nay

Trang 33

về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể

Theo quy định của Luật Hợp tác xã 2012, gồm 9 chương, 64 điều (Luật HTX

2003, gồm 10 chương, 52 điều) Luật Hợp tác xã 2012 không có chương về khen

thưởng Phần Liên hiệp Hợp tác xã được đưa chung vào với Hợp tác xã và được sửa đổi bổ sung thêm một số quy định mới đó là:

Về định nghĩa HTX (Điều 3): Luật Hợp tác xã 2012 làm rõ hơn bản chất hợp

tác xã là tổ chức kinh tế thuộc thành phần KTTT; quản lý dân chủ, tự chịu trách nhiệm, đồng sở hữu hợp tác xã Mặc dù Luật không xác định Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, nhưng xác định Hợp tác xã thành lập để hợp tác tương trợ nhau trong sản xuất, kinh doanh Hợp tác xã vẫn được thành lập doanh nghiệp trực thuộc, nhưng chỉ khác là khi Hợp tác xã phát triển đến trình độ cao hơn,

có nghĩa là hợp tác xã mới thành lập hoặc hợp tác xã hoạt động yếu kém thì chưa được thành lập doanh nghiệp trực thuộc

Về chính sách sách hỗ trợ, ưu đãi của Nhà nước (Điều 6), được làm rõ hơn

bao gồm 6 danh mục chính sách hỗ trợ; 02 danh mục chính sách ưu đãi chung cho các loại hình Hợp tác xã; đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp, ngoài các chính sách hỗ trợ, ưu đãi trên, còn được hưởng thêm

5 mục ưu đãi nữa về đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng; giao đất, cho thuê đất để phục

vụ hoạt động; tín dụng; vốn, giống khi gặp khó khăn do thiên tai, dịch bệnh; những chính sách này sẽ được Chính phủ quy định cụ thể

Về điều kiện trở thành thành viên (Điều 13), Cá nhân là người nước ngoài đủ

điều kiện như công dân Việt nam được tham thành viên Hợp tác xã

Trang 34

26

Về tổ chức của Hợp tác xã (Điều 29), cơ cấu tổ chức của Hợp tác xã gồm đại

hội thành viên, hội đồng quản trị, giám đốc (tổng giám đốc) và ban kiểm soát hoặc kiểm soát Theo đó, tổ chức của Hợp tác xã thống nhất chỉ có một mô hình (Luật Hợp tác xã 2003, cho phép chọn 1 trong 2 mô hình tổ chức, gồm: một bộ máy vừa quản lý vừa điều hành - Điều 27; hoặc thành lập riêng bộ máy quản lý và bộ máy điều hành - Điều 28)

Người đại diện theo pháp luật của Hợp tác xã: Là Chủ tịch Hội đồng quản trị Điều hành hoạt động của Hợp tác xã: Là giám đốc (tổng giám đốc) Hợp tác xã

Về nguyên tắc tổ chức và hoạt động, Luật bổ sung nguyên tắc kết nạp rộng

rãi thành viên đối với Hợp tác xã và nguyên tắc bình đẳng, gắn kết về kinh tế của thành viên với Hợp tác xã bằng cách quy định: Thành viên Hợp tác xã có quyền bình đẳng, biểu quyết ngang nhau không phụ thuộc vốn góp trong việc quyết định

tổ chức, quản lý và hoạt động của Hợp tác xã…

Ngoài các điểm mới trên, Luật Hợp tác xã năm 2012 còn thêm một số điểm mới về quyền và nghĩa vụ của thành viên, tổ chức, quản lý Hợp tác xã, tài chính hợp tác xa, đăng ký và nơi đăng ký kinh doanh Hợp tác xã, quản lý nhà nước đối với Hợp tác xã, chế độ chính sách đối với Hợp tác xã…

2.2 Thực trạng pháp luật về thành lập, hoạt động Hợp tác xã

2.2.1 Trình tự, thủ tục thành lập và đăng ký Hợp tác xã

2.2.1.1 Đăng ký hợp tác xã

Luật Hợp tác xã 2012 quy định hồ sơ đăng ký hợp tác xã, liên hiệp hợp tác

xã bao gồm: Giấy đề nghị đăng ký hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; Điều lệ; Phương

án sản xuất, kinh doanh; Danh sách thành viên, hợp tác xã thành viên; danh sách hội đồng quản trị, giám đốc (tổng giám đốc), ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên; Nghị quyết hội nghị thành lập

Người đại điện hợp pháp của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã phải kê khai đầy đủ, trung thực và chính xác các nội dung quy định tại khoản 2 Điều này và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các nội dung đã kê khai

Trang 35

27

Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ theo quy định tại khoản 2 Điều này, trường hợp từ chối phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do

2.2.1.2 Điều kiện cấp giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã:

Điều 24, Luật Hợp tác xã 2012 quy định điều kiện cấp giấy chứng nhận đăng

ký Hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã khi có đủ các điều kiện sau đây: Ngành, nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm; Hồ sơ đăng ký theo quy định; Tên của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được đặt theo quy định; Có trụ sở chính theo quy định

Về cơ quan đăng ký: Chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của liên hiệp hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân đăng ký tại Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư nơi liên hiệp hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân đặt chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh Chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của hợp tác xã đăng ký tại Phòng Tài chính - Kế hoạch thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi hợp tác xã đặt chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh

Về hồ sơ đăng ký thành lập hợp tác xã, gồm: Giấy đề nghị đăng ký thành lập hợp tác xã theo mẫu quy định; Điều lệ của hợp tác xã được xây dựng theo Điều 21 Luật Hợp tác xã; Phương án sản xuất kinh doanh theo mẫu quy định; Danh sách thành viên theo mẫu quy định; Danh sách hội đồng quản trị, giám đốc (tổng giám đốc), ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên theo mẫu quy định; Nghị quyết của hội nghị thành lập về những nội dung quy định tại Khoản 3 Điều 20 Luật Hợp tác xã đã được biểu quyết thông qua

Nếu hợp tác xã đáp ứng đủ điều kiện thì cơ quan đăng ký hợp tác xã cấp giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã cho hợp tác xã trong thời hạn 5 ngày làm việc

kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ Trường hợp không cấp giấy chứng nhận đăng ký thì

cơ quan đăng ký hợp tác xã thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho hợp tác xã biết

Trang 36

28

2.2.2 Nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Hợp tác xã

- Cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân tự nguyện thành lập, gia nhập, ra khỏi hợp tác xã Hợp tác xã tự nguyện thành lập, gia nhập, ra khỏi liên hiệp hợp tác xã

-Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã kết nạp rộng rãi thành viên, hợp tác xã thành viên

-Thành viên, hợp tác xã thành viên có quyền bình đẳng, biểu quyết ngang nhau không phụ thuộc vốn góp trong việc quyết định tổ chức, quản lý và hoạt động của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; được cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác về hoạt động sản xuất, kinh doanh, tài chính, phân phối thu nhập và những nội dung khác theo quy định của điều lệ

- Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động

- Thành viên, hợp tác xã thành viên và hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã có trách nhiệm thực hiện cam kết theo hợp đồng dịch vụ và theo quy định của điều lệ Thu nhập của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được phân phối chủ yếu theo mức độ

sử dụng sản phẩm, dịch vụ của thành viên, hợp tác xã thành viên hoặc theo công sức lao động đóng góp của thành viên đối với hợp tác xã tạo việc làm

- Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng cho thành viên, hợp tác xã thành viên, cán bộ quản lý, người lao động trong hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và thông tin về bản chất, lợi ích của hợp tác xã, liên hiệp HTX

- Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã chăm lo phát triển bền vững cộng đồng thành viên, hợp tác xã thành viên và hợp tác với nhau nhằm phát triển phong trào hợp tác xã trên quy mô địa phương, vùng, quốc gia và quốc tế

2.2.3 Quyền và nghĩa vụ của Hợp tác xã

2.2.3.1 Quyền của hợp tác xã:

Trang 37

29

- Thực hiện mục tiêu hoạt động của hợp tác xã, liêu hiệp hợp tác xã; tự chủ,

tự chịu trách nhiệm trong hoạt động của mình

- Quyết định tổ chức quản lý và hoạt động của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; thuê và sử dụng lao động

- Tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm theo ngành, nghề đã đăng ký nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, HTX thành viên

- Cung ứng, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ, việc làm cho thành viên, hợp tác xã thành viên và ra thị trường nhưng phải bảo đảm hoàn thành nghĩa vụ đối với thành viên, hợp tác xã thành viên

- Kết nạp mới, chấm dứt tư cách thành viên, hợp tác xã thành viên

- Tăng, giảm vốn điều lệ trong quá trình hoạt động; huy động vốn và hoạt động tín dụng nội bộ theo quy định của pháp luật

- Liên doanh, liên kết, hợp tác với tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài

để thực hiện mục tiêu hoạt động của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã

- Góp vốn, mua cổ phần, thành lập doanh nghiệp nhằm mục tiêu hỗ trợ hoạt động của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã

- Quản lý, sử dụng, xử lý vốn, tài sản và các quỹ của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã

- Thực hiện việc phân phối thu nhập, xử lý các khoản lỗ, khoản nợ của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã

- Tham gia các tổ chức đại diện của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã

- Khiếu nại hoặc thông qua người đại diện tố cáo các hành vi vi phạm quyền

và lợi ích hợp pháp của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; xử lý thành viên, hợp tác xã thành viên vi phạm điều lệ và giải quyết tranh chấp nội bộ

2.2.3.2 Nghĩa vụ của hợp tác xã:

- Thực hiện các quy định của điều lệ

Trang 38

- Quản lý, sử dụng vốn, tài sản và các quỹ của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác

xã theo quy định của pháp luật

- Quản lý, sử dụng đất và tài nguyên khác được Nhà nước giao hoặc cho thuê theo quy định của pháp luật

- Ký kết và thực hiện hợp đồng lao động, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y

tế và các chính sách khác cho người lao động theo quy định của pháp luật

- Giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, cung cấp thông tin cho thành viên, hợp tác xã thành viên

- Thực hiện chế độ báo cáo về tình hình hoạt động của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quy định của Chính phủ

- Bồi thường thiệt hại do mình gây ra cho thành viên, hợp tác xã thành viên theo quy định của pháp luật

2.2.4 Thành viên Hợp tác xã

2.2.4.1 Điều kiện trở thành thành viên Hợp tác xã:

Cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân trở thành thành viên hợp tác xã phải đáp ứng đủ các điều kiện sau đây: Cá nhân là công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam, từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân

sự đầy đủ; hộ gia đình có người đại diện hợp pháp theo quy định của pháp luật; cơ quan, tổ chức là pháp nhân Việt Nam Đối với hợp tác xã tạo việc làm thì thành viên

Trang 39

31

chỉ là cá nhân; Nhu cầu hợp tác với các thành viên và nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ của hợp tác xã; Đơn tự nguyện gia nhập và tán thành điều lệ của hợp tác xã; Vốn theo quy định tại khoản 1 Điều 17 của Luật Hợp tác xã 2012 và điều lệ hợp tác xã; Điều kiện khác theo quy định của điều lệ hợp tác xã

2.2.4.2 Quyền của thành viên, hợp tác xã thành viên

- Được hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã cung ứng sản phẩm, dịch vụ theo hợp đồng dịch vụ

- Phân phối thu nhập theo quy định của Luật này và điều lệ

- Được hưởng các phúc lợi của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã

- Được tham dự hoặc bầu đại biểu tham dự đại hội thành viên, hợp tác xã thành viên

- Được biểu quyết các nội dung thuộc quyền của đại hội thành viên theo quy định tại Điều 32 của Luật này

- Ứng cử, đề cử thành viên hội đồng quản trị, ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên và các chức danh khác được bầu của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã

- Kiến nghị, yêu cầu hội đồng quản trị, giám đốc (tổng giám đốc), ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên giải trình về hoạt động của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; yêu cầu hội đồng quản trị, ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên triệu tập đại hội thành viên bất thường theo quy định của Luật này và điều lệ

- Được cung cấp thông tin cần thiết liên quan đến hoạt động của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; được hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao trình độ nghiệp vụ phục vụ hoạt động của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã

- Ra khỏi hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quy định của điều lệ

- Được trả lại vốn góp khi ra khỏi hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quy định của Luật này và điều lệ

Trang 40

32

- Được chia giá trị tài sản được chia còn lại của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác

xã theo quy định của Luật này và điều lệ

- Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện theo quy định của pháp luật

- Quyền khác theo quy định của điều lệ

2.2.4.3 Nghĩa vụ của thành viên, hợp tác xã thành viên

- Sử dụng sản phẩm, dịch vụ của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo hợp đồng dịch vụ

- Góp đủ, đúng thời hạn vốn góp đã cam kết theo quy định của điều lệ

- Chịu trách nhiệm về các khoản nợ, nghĩa vụ tài chính của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trong phạm vi vốn góp vào hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã

- Bồi thường thiệt hại do mình gây ra cho hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quy định của pháp luật

- Tuân thủ điều lệ, quy chế của hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã, nghị quyết đại hội thành viên, hợp tác xã thành viên và quyết định của hội đồng quản trị hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã

- Nghĩa vụ khác theo quy định của điều lệ

2.2.5 Tổ chức quản lý Hợp tác xã

Theo Điều 29 Luật Hợp tác xã 2012, cơ cấu tổ chức hợp tác xã gồm đại hội thành viên, hội đồng quản trị, giám đốc (tổng giám đốc) và ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên:

2.2.5.1 Đại hội thành viên Hợp tác xã

Đại hội thành viên là cơ quan có quyền quyết định cao nhất của hợp tác xã Đại hội thành viên gồm đại hội thành viên thường niên và đại hội thành viên bất thường Đại hội thành viên được tổ chức dưới hình thức đại hội toàn thể hoặc đại hội đại biểu

Ngày đăng: 22/04/2020, 20:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w