Thông qua việc cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có thể quản lý được hoạt động của doanh nghiệp trong khuôn khổ đăng ký và được pháp luật cho phép.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ BẮC NINH
NGUYỄN HOÀI PHƯƠNG
HÀ NỘI- 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ BẮC NINH
NGUYỄN HOÀI PHƯƠNG
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 8380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN THỊ BẢO ÁNH
HÀ NỘI- 2019
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan luận văn của mình với đề tài “Pháp luật về đăng ký
doanh nghiệp từ thực tiễn thành phố Bắc Ninh” là công trình nghiên cứu của
riêng cá nhân tác giả Các số liệu, kết quả nghiên cứu của luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào trước đây
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Hoài Phương
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới TS
Trần Thị Bảo Ánh, Ban chủ nhiệm Khoa sau Đại học và các thầy, cô giáo trong
Khoa sau Đại học, Trường Đại học Mở Hà Nội đã truyền đạt cho tác giả những kiến thức vô cùng quý báu trong suốt quá trình học tập tại trường cũng như tạo điều kiện thuận lợi nhất để tác giả có thể thực hiện được luận văn tốt nghiệp
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn tới các đồng chí lãnh đạo Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh; các đồng chí, đồng nghiệp trong cơ quan, gia đình, bạn bè, người thân và những người đã luôn bên cạnh, không ngừng động viên, hỗ trợ và tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn thạc sĩ
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn thạc sĩ, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do tính phức tạp của đề tài đồng thời do trình độ, nhận thức của tác giả về lý luận và thực tiễn còn nhiều hạn chế nên luận văn thạc sĩ không thể tránh khỏi những thiếu sót Chính vì vậy, tác giả rất mong nhận được sự góp ý, bổ sung của các thầy, cô giáo để luận văn thạc sĩ được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày ……tháng …năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Hoài Phương
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP 5
1.1 Những vấn đề lý luận về đăng ký doanh nghiệp 5
1.1.1 Khái niệm về đăng ký doanh nghiệp 5
1.1.2 Đặc điểm của đăng ký doanh nghiệp 8
1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của đăng ký doanh nghiệp 11
1.2 Lý luận pháp luật về đăng ký doanh nghiệp 14
1.2.1 Khái niệm pháp luật về đăng ký doanh nghiệp 14
1.2.2 Cơ cấu pháp luật điều chỉnh về đăng ký doanh nghiệp 15
Kết luận chương 1 20
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BẮC NINH 21
2.1 Thực trạng quy định pháp luật về đăng ký doanh nghiệp 21
2.1.1 Điều kiện đăng ký doanh nghiệp 21
2.1.2 Cơ quan đăng ký doanh nghiệp 34
2.1.3 Trình tự, thủ tục thành lập doanh nghiệp 39
2.1.4 Chế tài xử lý khi vi phạm về đăng ký doanh nghiệp 42
2.2 Khái quát tình hình phát triển kinh tế - xã hội thành phố Bắc Ninh 48
2.3 Thực tiễn thực thi các quy định về đăng ký doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Bắc Ninh 50
2.3.1 Tổ chức thực hiện đăng ký doanh nghiệp 50
2.3.2 Phối hợp giữa các cơ quan có liên quan trong hoạt động đăng ký doanh nghiệp và quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp 58
2.3.3 Công tác kiểm tra và hậu kiểm sau đăng ký doanh nghiệp và xử phạt vi phạm về đăng ký doanh nghiệp 59
Trang 72.3.4 Đánh giá thực thi pháp luật về đăng ký doanh nghiệp trên địa bàn thành
phố Bắc Ninh 63
Kết luận chương 2 69
Chương 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ BẮC NINH 70
3.1 Bối cảnh của hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về đăng ký doanh nghiệp 70
3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về đăng ký doanh nghiệp 71
3.2.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về điều kiện đăng ký doanh nghiệp 71
3.2.2 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục đăng ký doanh nghiệp 74
Thủ tục đăng ký doanh nghiệp là thủ tục khai sinh ra doanh nghiệp, tạo cho 74 3.2.3 Tăng cường chế tài xử phạt đối với các doanh nghiệp vi phạm nghĩa vụ đăng ký doanh nghiệp 76
3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về đăng ký doanh nghiệp từ thực tiễn thành phố Bắc Ninh 78
3.3.1 Tăng cường nhân sự đáp ứng đủ về số lượng, nâng cao về chất lượng 78 3.3.2 Cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất và hoàn thiện hệ thống công nghệ thông tin đăng ký doanh nghiệp 80
3.3.3 Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật và hỗ trợ tư vấn đối với doanh nghiệp khi đăng ký doanh nghiệp 82
3.3.4 Tăng cường công tác hậu kiểm 84
KẾT LUẬN 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU TRONG LUẬN VĂN
Bảng 2.1 Sơ đồ trình tự thành lập doanh nghiệp 39 Bảng 2.2 Tổng số doanh nghiệp thành lập mới theo thủ tục đăng ký doanh nghiệp của Luật Doanh nghiệp năm 2014 giai đoạn từ năm 2015 – 2019 50 Bảng 2.3 Loại hình doanh nghiệp đã được tổ chức, cá nhân đăng ký thành lập mới tại thành phố Bắc Ninh 52 Bảng 2.4 Phương thức nộp hồ sơ 54 Bảng 2.5 Thời hạn giải quyết hồ sơ đăng ký doanh nghiệp 55 Bảng 2.6 Tình hình thực hiện bố cáo nội dung đăng ký doanh nghiệp đối với doanh nghiệp sau thành lập tại thành phố Bắc Ninh 57
Trang 9DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT LUẬN VĂN
LDN : Luật Doanh nghiệp ĐKDN : Đăng ký doanh nghiệp BLDS : Bộ luật dân sự
ĐKKD : Đăng ký kinh doanh Phòng ĐKKD : Phòng đăng ký kinh doanh
Trang 101
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quyền tự do kinh doanh là quyền con người và là một trong những quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam tại Điều 33 “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành
nghề mà pháp luật không cấm” Nhà nước cần tạo môi trường kinh doanh thông
thoáng, thuận lợi, nâng cao quyền tự chủ, linh hoạt cho các doanh nghiệp tận dụng tối đa năng lực, tiềm lực và cơ hội kinh doanh để phát triển Để thực hiện được mục tiêu này, một trong những vấn đề đang thu hút được sự quan tâm lớn của người dân, doanh nghiệp là hoạt động đăng ký doanh nghiệp Do đó, đăng ký doanh nghiệp là một thủ tục bắt buộc đầu tiên nhằm công khai hóa hoạt động của doanh nghiệp Pháp luật Việt Nam đang từng bước thay đổi, cải thiện chế định đăng ký doanh nghiệp nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp được thành lập một cách nhanh chóng, thuận tiện và mau chóng đi vào hoạt động Thủ tục đăng ký doanh nghiệp cũng là một nội dung quan trọng của pháp luật doanh nghiệp
Đăng ký doanh nghiệp là hành vi pháp lý đầu tiên ghi nhận sự ra đời của một doanh nghiệp trên thực tế Đăng ký doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp bởi lẽ, kể từ thời điểm được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, là thời điểm doanh nghiệp được thừa nhận tồn tại, được pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, đồng thời phải thực hiện những nghĩa vụ với Nhà nước Thông qua việc cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có thể quản lý được hoạt động của doanh nghiệp trong khuôn khổ đăng
ký và được pháp luật cho phép
Luật Doanh nghiệp năm 2014 ra đời và có hiệu lực vào ngày 01 tháng 07 năm 2015, được xem là cuộc đột phá thể chế, thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng của Việt Nam hiện nay, đặc biệt với thủ tục đăng ký doanh nghiệp có nhiều nội dung thay đổi quan trọng so với Luật Doanh nghiệp năm 2005 Với những quy định cụ thể và tương đối phù hợp, đã giảm
Trang 112
thiểu thủ tục, phù hợp với thực tiễn xu hướng vận động khách quan của nền kinh tế nước nhà đã bước đầu tạo môi trường pháp lý thuận lợi để thu hút đầu tư nước ngoài
Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua, quá trình thực thi Luật Doanh nghiệp năm 2014 ở lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp có nhiều quy định mới khi áp dụng trong thực tiễn đã phát sinh một số bất cập, hạn chế, đặc biệt là ở địa bàn thành phố Bắc Ninh – nơi thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước, dẫn đến thị trường đầu tư doanh nghiệp diễn ra sôi động Chính vì vậy, việc nghiên cứu quy định của pháp luật về đăng ký doanh nghiệp là cần thiết Đây là những lý do chủ yếu để tác
giả lựa chọn đề tài: “Pháp luật về đăng ký doanh nghiệp từ thực tiễn thành phố
Bắc Ninh” làm đề tài luận văn thạc sỹ luật học.
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trong những năm trở lại đây, đã có một số công trình nghiên cứu khoa học pháp lý đề cập đến nội dung về đăng ký doanh nghiệp đã được công bố Các công trình nghiên cứu được thể hiện chủ yếu trên các bài tạp chí nghiên cứu khoa học, các luận án, luận văn thạc sĩ có thể kể đến như:
Tạp chí: Cải cách thủ tục thành lập doanh nghiệp ở Việt nam - nhìn từ khía
cạnh pháp lý qua báo cáo của ngân hàng thế giới năm 2011, Trần Huỳnh Thanh
Nghị, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 7/2011, Gian dối trong quá trình thành lập
doanh nghiệp, Đậu Thị Quyên, Tạp chí Luật học, số 11/2011; Về vấn đề kiện toàn
hệ thống cơ quan đăng ký kinh doanh ở nước ta hiện nay, Dương Đăng Huệ và
Nguyễn Lê Trung, tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 1/2004; Cải cách thủ tục gia
nhập thị trường góp phần đảm bảo môi trường kinh doanh ở Việt Nam, Nguyễn
Như Chính, Tạp chí Luật học, số 11/2010; Những quy định về thủ tục thành lập
doanh nghiệp cần được tiếp tục hoàn thiện, Nguyễn Thị Yến đăng trên tạp chí Luật
học, số 9/2010…
Luận án, luận văn: Nguyễn Thị Thu Thủy, Pháp luật về đăng ký kinh doanh
ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Học viện khoa học và xã hội năm 2016;
Trang 123
Nguyễn Thị Thủy, Thực thi pháp luật về đăng ký kinh doanh trên địa bàn Hà Nội,
Luận văn thạc sĩ luật học khoa Luật đại học Quốc gia Hà Nội năm 2015; Lê Thế
Phúc, Đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam – thực trạng và một
vài kiến nghị; Luận văn thạc sĩ Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2006;
Trần Nguyễn Đan Quỳnh, Đăng ký doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp năm
2014 và thực tiễn thi hành tại thành phố Hồ Chí Minh, luận văn thạc sĩ luật học Đại
học luật Hà Nội năm 2016 ; Vũ Thị Thùy Dung, Đăng ký thành lập doanh nghiệp
theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, luận văn thạc sĩ luật học Đại học Luật Hà Nội
năm 2015 ; Trần Thị Nguyệt Lệ, Thủ tục đăng ký doanh nghiệp theo Luật Doanh
nghiệp năm 2014 và thực tiễn thi hành tại thành phố Hà Nội, luận văn thạc sĩ luật
học Đại học luật Hà Nội năm 2016…
Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện các vấn đề pháp luật đăng ký doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành từ một địa bàn cụ thể là thành phố Bắc Ninh Do đó, luận văn đảm bảo tính mới và không trùng lặp với các
đề tài đã được công bố
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quy định của pháp luật về đăng ký doanh nghiệp
- Phạm vi nghiên cứu:
Trang 134
+ Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích các quy định hiện hành về pháp luật đăng ký doanh nghiệp và chỉ ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về đăng ký doanh nghiệp từ thực tiễn thành phố Bắc Ninh
+ Về địa bàn nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu về đăng ký doanh nghiệp tại thành phố Bắc Ninh
+ Thời gian nghiên cứu: Các số liệu, kết quả thu thập trong 05 năm từ năm 2015-2019
5 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các yêu cầu mà đề tài đặt ra, luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
+ Phương pháp phân tích, bình luận, được sử dụng trong Chương 1 luận văn;
+ Phương pháp điều tra, thống kê, tổng hợp, so sánh, đánh giá được sử dụng tại Chương 2 luận văn;
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp, quy nạp được sử dụng tại Chương 3 khi nghiên cứu, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về đăng ký doanh nghiệp
6 Kết cấu của Luận văn
Bao gồm phần mở đầu và 3 chương với các phần chính sau đây:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về đăng ký doanh nghiệp và pháp luật về đăng ký doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng pháp luật về đăng ký doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Bắc Ninh
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về đăng ký doanh nghiệp từ thực tiễn thành phố Bắc Ninh
Trang 145
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐĂNG KÝ
DOANH NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ
DOANH NGHIỆP
1.1 Những vấn đề lý luận về đăng ký doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm về đăng ký doanh nghiệp
Điều 33 Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh
trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” Có thể nói, quyền tự do kinh
doanh là quyền cơ bản của công dân, theo đó, công dân được phép làm những gì mà pháp luật không cấm Bất kỳ một cá nhân, tổ chức nào khi đủ điều kiện mà pháp luật quy định, nếu có nhu cầu thì đều có thể tiến hành hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, dù kinh doanh dưới hình thức nào, hoạt động kinh doanh luôn cần đặt trong khuôn khổ pháp luật và dưới sự quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Vì vậy, cá nhân, tổ chức muốn hoạt động kinh doanh cần phải đăng ký doanh nghiệp
để được thừa nhận tư cách pháp lý và nhận được sự bảo hộ về quyền và lợi ích hợp pháp từ phía Nhà nước
Theo định nghĩa tại Từ điển Tiếng Việt: Đăng ký được hiểu là ghi vào sổ của
cơ quan quản lý để chính thức được công nhận cho hưởng quyền lợi hay làm nghĩa vụ; Cụm từ Doanh nghiệp là đơn vị hoạt động kinh doanh, cơ sở sản xuất Theo đó Đăng ký doanh nghiệp là hoạt động ghi vào sổ của cơ quan quản lý để đơn vị hoạt động kinh doanh, cơ sở sản xuất chính thức được công nhận cho hưởng quyền lợi hay làm nghĩa vụ [31] Phân tích khái niệm trên theo Từ điển Tiếng Việt như trên đã
phần nào giúp người đọc hiểu sơ lược về khái niệm đăng ký doanh nghiệp Tuy nhiên, cách hiểu đó chỉ là về mặt hình thức câu từ mà chưa chứa đựng những nội dung hàm chứa trong khái niệm này về mặt pháp lý khi sử dụng
Trang 156
Về mặt pháp lý, pháp luật Việt Nam chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào đề cập đến khái niệm “đăng ký”, nhưng khái niệm “doanh nghiệp” đã được quy
định cụ thể trong các văn bản luật, ngay từ Luật Công ty năm 1990 như sau: Doanh
nghiệp là đơn vị kinh doanh được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh Theo đó, bản chất “kinh doanh” của doanh nghiệp đã
được thể hiện qua khái niệm trên Tuy nhiên, quy định về khái niệm doanh nghiệp tại Luật Công ty 1990 chưa cụ thể và đầy đủ, bởi với nội dung như trên, các chủ thể cần tìm hiểu về “đơn vị kinh doanh” và “thành lập” chưa có cái nhìn rõ nhất về doanh nghiệp Nói cách khác khái niệm “doanh nghiệp” được quy định tại Luật Công ty 1990 đưa người tiếp cận đi từ khái niệm này đến khái niệm khác Nhằm khắc phục hạn chế trên, khái niệm “doanh nghiệp” đã được quy định theo hưởng
đầy đủ về bản chất và cụ thể tại khoản 1 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005: “Doanh
nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” Và đến Luật Doanh nghiệp 2014 đã rút gọn lại khái niệm Doanh
nghiệp nhưng vẫn đầy đủ nội hàm như Luật Doanh nghiệp 2005, cụ thể được quy
định tại khoản 7 Điều 4 như sau: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản,
có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” Như vậy, khái niệm “doanh nghiệp” đã được quy định ngay từ
các văn bản pháp luật đầu tiên về hoạt động kinh doanh
Đối với khái niệm Đăng ký doanh nghiệp: Trước đây, từ những năm 1990 ở Việt Nam, Luật Công ty năm 1990, Luật Doanh nghiệp tư nhân 1990, Luật Doanh nghiệp 1999, Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Đầu tư năm 2005, Luật Thương mại
2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành sử dụng thuật ngữ “đăng ký kinh doanh” Tuy nhiên, kể từ khi Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ quy định về đăng ký doanh nghiệp được ban hành thì cụm từ “đăng ký kinh doanh” chính thức được thay thế bằng cụm từ “đăng ký doanh nghiệp” Tại Khoản 1 Điều 3
Nghị định 43/2010/NĐ-CP quy định như sau: “Đăng ký doanh nghiệp quy định tại
Nghị định này bao gồm nội dung về đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế đối với các
Trang 167
loại hình doanh nghiệp thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp Đăng ký doanh nghiệp bao gồm đăng ký thành lập mới doanh nghiệp và đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp” Theo đó, khái niệm về đăng ký doanh nghiệp rộng
hơn khái niệm đăng ký kinh doanh Đăng ký kinh doanh được xem là hoạt động pháp lý bao gồm hành vi của chủ đầu tư thực hiện hoạt động kinh doanh phải khai báo theo quy định của pháp luật với các nội dung cụ thể và cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành ghi tên vào sổ đăng ký kinh doanh, đồng thời cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho chủ thể đăng ký Đăng ký doanh nghiệp bao gồm hai nội dung là đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế đối với các loại hình doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 Các tổ chức, cá nhân muốn thành lập doanh nghiệp không cần phải tiến hành làm thủ tục tại hai cơ quan như trước đây mà chỉ cần làm một thủ tục đăng ký doanh nghiệp tại cơ quan đầu mối là Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư Vì thế, Phòng ĐKKD thuộc Sở Kế hoạch
và Đầu tư phối hợp với các cơ quan thuế bằng biện pháp nghiệp vụ thực hiện qua hệ thống cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp để cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, trong đó, thống nhất mã số doanh nghiệp đồng thời là mã số thuế
Có thể thấy, Nghị định 43/2010/NĐ-CP được ban hành đã tạo ra một bước ngoặt tiến bộ trong việc thực hiện các thủ tục hành chính về đăng ký doanh nghiệp, khắc phục các nhược điểm trong quá trình thành lập doanh nghiệp ở thời gian trước
đó Tuy nhiên, khái niệm trên được quy định dưới hình thức liệt kê các thủ tục pháp
lý mà tổ chức, cá nhân cần thực hiện khi đăng ký doanh nghiệp Người đọc sẽ khó hình dung về những công việc, hoạt động hàm chứa trong nội dung đăng ký doanh nghiệp
Nhằm khắc phục những hạn chế nêu trên, ngày 14/9/2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 78/2015/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp đã có quy định một
cách cụ thể hơn về khái niệm đăng ký doanh nghiệp, cụ thể như sau: “Đăng ký
doanh nghiệp là việc người thành lập doanh nghiệp đăng ký thông tin về doanh nghiệp dự kiến thành lập, doanh nghiệp đăng ký những thay đổi hoặc dự kiến thay
Trang 178
đổi trong thông tin về đăng ký doanh nghiệp với cơ quan đăng ký kinh doanh và được lưu giữ tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp Đăng ký doanh nghiệp bao gồm đăng ký thành lập doanh nghiệp, đăng ký thay đổi nội dung đăng
ký doanh nghiệp và các nghĩa vụ đăng ký, thông báo khác theo quy định của Nghị định này” (Khoản 1 Điều 3 Nghị định 78/2015/NĐ-CP) Mặc dù khái niệm Đăng ký
nghiệp theo quy định trên vẫn được đề cập dưới hình thức liệt kê nhưng đã giúp người đọc hình dung cụ thể, chính xác những vấn đề pháp lý được bao hàm trong khái niệm, qua đó xác định được phạm vi và các thủ tục pháp lý cần thực hiện nhằm đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật Theo quan điểm của học viên, quy định khái niệm đăng ký doanh nghiệp tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định 78/2015/NĐ-CP là phù hợp, đầy đủ, tạo điều kiện thuận lợi, dễ hiểu trong quá trình áp dụng pháp luật trong thực tiễn
1.1.2 Đặc điểm của đăng ký doanh nghiệp
Đăng ký doanh nghiệp có các đặc điểm sau:
Một là, đăng ký doanh nghiệp là một thủ tục pháp lý cần thiết để các chủ thể kinh doanh có thể gia nhập thị trường
Để bắt đầu tham gia vào hoạt động kinh doanh, công việc đầu tiên của chủ thể kinh doanh phải chuẩn bị đầy đủ các điều kiện đảm bảo để hoạt động kinh doanh Điều kiện đầu tiên phải kể đến là thủ tục gia nhập thị trường hay còn gọi là thủ tục đăng ký doanh nghiệp Đăng ký doanh nghiệp là hoạt động mà ở đó chủ thể kinh doanh phải thực hiện những thủ tục cần thiết để khai báo với cơ quan quản lý nhà nước về nhu cầu khởi sự kinh doanh Như vậy, thông qua quy trình đăng ký doanh nghiệp để nhà nước thừa nhận sự tồn tại của một loại hình kinh doanh trên thương trường, đồng thời khẳng định tư cách pháp lý cho loại hình kinh doanh đó Ngoài ra, trong quá trình hoạt động, khi có sự thay đổi cũng cần đăng ký, thông báo Thông qua hoạt động đăng ký doanh nghiệp, Nhà nước hướng cho chủ thể kinh doanh kinh doanh đúng pháp luật, phát huy khả năng sáng tạo về ý tưởng kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật cho phép Bởi lẽ, trong nền kinh tế thị trường,
Trang 189
luôn tiềm ẩn những nguy cơ rủi ro đến lợi ích của các chủ thể kinh doanh việc quy định chủ thể kinh doanh phải tiến hành đăng ký doanh nghiệp là một thủ tục gia nhập thị trường không những đảm bảo quyền tự do kinh doanh cho các chủ thể kinh doanh mà còn đáp ứng nhu cầu quản lý của nhà nước đối với những tổ chức kinh tế này Vì vậy, việc thành lập một tổ chức kinh tế hoạt động kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận phải luôn đảm bảo theo quy định của pháp luật
Hai là, thông qua việc đăng ký doanh nghiệp, chủ thể kinh doanh được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là văn bản hoặc bản điện tử mà Cơ quan đăng ký doanh nghiệp cấp cho doanh nghiệp ghi lại những thông tin về đăng
ký doanh nghiệp Giấy chứng nhận ĐKDN thực chất là một loại văn bản mang tính chất pháp lý do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp, cho phép hoặc đồng ý để một chủ thể kinh doanh (cá nhân hoặc tổ chức) tiến hành một hoặc nhiều hoạt động kinh doanh nhất định hoặc chấp nhận sự sửa đổi bổ sung trong quá trình kinh doanh Mục đích thông qua việc cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp giúp nhà nước quản lý, nắm bắt và tổng hợp được tất cả các chủ thể kinh doanh đang hoạt động trên thương trường để thực hiện việc quản lý thuế, đồng thời đặt cơ sở ban đầu cho công tác quản lý trong điều tiết kinh tế vĩ mô và tạo điều kiện đảm bảo sự bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh ngay từ khâu gia nhập thị trường, ngoài ra việc đăng ký doanh nghiệp cũng là để tránh tình trạng các chủ thể kinh doanh vì mục đích tìm kiếm lợi nhuận mà kinh doanh các lĩnh vực ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, sức khỏe con người, vi phạm truyền thống lịch sử, đạo đức…vi phạm lợi ích cộng đồng Bởi vậy, chủ thể kinh doanh khi muốn thực hiện hành vi kinh doanh đòi hỏi doanh nghiệp phải thực hiện quy trình đăng ký doanh nghiệp để được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Quy trình cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp không chỉ để nhà nước thể hiện quyền lực của Nhà nước trong việc bảo vệ lợi ích cộng đồng, giúp nhà nước chủ động hơn trong việc hạn chế và điều tiết những ngành nghề sản xuất kinh doanh không có lợi cho cộng đồng, không cần khuyến khích sản xuất mà còn giúp nhà nước tiến hành cấp phép, kiểm tra một cách nghiêm ngặt các
Trang 1910
điều kiện cơ bản do Nhà nước quy định và yêu cầu các chủ thể kinh doanh phải đáp ứng Kể từ khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, các chủ thể kinh doanh chính thức đi vào hoạt động, có tư cách pháp nhân được thừa nhận trên thương trường (trừ doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp duy nhất không có tư cách pháp nhân)
Ba là, đăng ký doanh nghiệp là việc thể hiện quyền tự do kinh doanh, được làm những gì mà pháp luật không cấm
Tự do kinh doanh là quyền gắn với mỗi công dân, là nguyên tắc hiến định, theo đó những chủ thể không thuộc trường hợp bị hạn chế hoặc bị cấm kinh doanh thì được tự do kinh doanh, thành lập doanh nghiệp theo quy định Quyền tự do kinh doanh không có nghĩa là chủ thể kinh doanh được quyền làm tất cả những gì họ muốn, thích làm gì thì làm mà còn để đảm bảo sự ổn định và thống nhất trong quá trình hoạt động kinh doanh, tránh tình trạng “cá lớn nuốt cá bé” đòi hỏi chủ thể kinh doanh thực hiện quyền tự do kinh doanh của mình bằng cách “đăng ký doanh nghiệp” để xác lập tư cách pháp lý cho mình, nhà nước có trách nhiệm công nhận
sự tồn tại lâu dài và phát triển của các loại hình kinh doanh, đảm bảo cho chủ thể kinh doanh được quyền mở rộng ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn đầu tư kinh doanh, lựa chọn mô hình phù hợp…Thông qua việc đăng ký doanh nghiệp, các chủ thể kinh doanh được nhà nước, đối tác, xã hội thừa nhận trên thị trường Mặt khác, nếu các chủ thể kinh doanh thực hiện đầy đủ quy trình về đăng ký doanh nghiệp cũng có nghĩa chủ thể kinh doanh đó được nhà nước đảm bảo tôn trọng sự quyết định về hình thức kinh doanh của chủ thể, được tạo điều kiện thuận lợi về môi trường hoạt động kinh doanh
Quyền tự do kinh doanh là quyền của chủ thể kinh doanh được tự mình lựa chọn quy mô kinh doanh, được tự do quyết định mức vốn đầu tư, số lượng người đầu tư, phương thức, cách thức huy động vốn đầu tư rồi thông báo cho cơ quan quản lý nhà nước biết, được quyền tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh các
Trang 201.1.3 Vai trò, ý nghĩa của đăng ký doanh nghiệp
Đăng ký doanh nghiệp là nội dung quan trọng trong pháp luật về doanh nghiệp, đầu tư Do đó, đăng ký doanh nghiệp có vai trò, ý nghĩa quan trọng đối với nhà nước, các chủ thể kinh doanh và đối với xã hội, cụ thể:
Đối với Nhà nước: Có thể khẳng định pháp luật về đăng ký doanh nghiệp là
một trong những cách thức giúp Nhà nước thực hiện chức năng quản lý đối với toàn
bộ nền kinh tế quốc dân Thực tế cho thấy, trong nền kinh tế thị trường hiện nay, doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm các hoạt động kinh doanh Bên cạnh đó, số lượng doanh nghiệp ngày càng có xu thế gia tăng một cách nhanh chóng Vì vậy, việc quản lý Nhà nước về đăng ký doanh nghiệp là điều cần thiết
Việc các chủ đầu tư thực hiện đăng ký doanh nghiệp theo đúng quy định của pháp luật góp phần giúp cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có khả năng kiểm soát, quản lý quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp từ khi thành lập đến khi giải thể, phá sản Ngoài ra, thông qua đăng ký doanh nghiệp còn giúp cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có thể đánh giá được doanh nghiệp nào đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, doanh nghiệp nào không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và giám sát được doanh nghiệp nào thực hiện hoạt động kinh doanh không đúng nội dung trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Từ đó, ngăn ngừa các hoạt động kinh doanh trái pháp luật, đồng thời bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, các chủ nợ trong trường hợp doanh nghiệp giải thể hoặc phá sản
Trang 2112
Bên cạnh việc thực hiện đăng ký doanh nghiệp còn tạo điều kiện cho Nhà nước nắm bắt được xu hướng của thị trường, các yếu tố ảnh hưởng đến nền kinh tế quốc dân, từ đó đưa ra các chủ trương, chính sách phát triển nền kinh tế hợp lý cho từng vùng miền, cũng như cho cả nền kinh tế quốc dân
Đối với các chủ thể kinh doanh: Các cá nhân, tổ chức muốn thực hiện hoạt
động kinh doanh thì cần phải tiến hành đăng ký doanh nghiệp Có thể nói, đăng ký doanh nghiệp là một trong những bước đầu tiên thực hiện quyền tự do kinh doanh của chủ thể kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật Tuy nhiên, đăng ký doanh nghiệp không chỉ là nghĩa vụ mà còn là quyền năng pháp lý của chủ thể kinh doanh Khi chủ thể kinh doanh được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận ĐKDN, doanh nghiệp được phép tiến hành các hoạt động kinh doanh theo nội dung giấy chứng nhận ĐKDN, được thừa nhận về tư cách pháp lý của doanh nghiệp
để thực hiện, xác lập các quan hệ hợp tác kinh doanh với đối tác, quan hệ hành chính với cơ quan nhà nước, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho doanh nghiệp theo quy định của pháp luật
Thứ ba, đối với người chủ thể kinh doanh khác:
Trong quan hệ giao dịch quan hệ kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp chính là giấy tờ đảm bảo pháp lý quan trọng nhất chứng minh về năng lực pháp luật của chủ thể kinh doanh với đối tác của mình Xét trên phương diện thông tin, đăng ký doanh nghiệp đóng vai trò rất quan trọng đối với giới thương nhân trong việc tìm kiếm và thiết lập quan hệ hợp tác, kinh doanh Việc cung cấp đầy đủ thông tin về sự ra đời và hoạt động của các chủ thể kinh doanh là yêu cầu không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường hiện nay Những thông tin cơ bản trong nội dung giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp được cấp cho chủ thể kinh doanh công bố trên phương tiện thông tin đại chúng như: Tên công ty, loại hình tổ chức kinh doanh mà chủ thể kinh doanh lựa chọn thành lập, số vốn đầu tư vào hoạt động kinh doanh, thông tin về chủ sở hữu công ty và người đại diện theo pháp luật của công ty giúp cho giới thương nhân xác định được tư cách chủ thể của họ, bước
Trang 22Thứ tư, đối với xã hội:
Việc thành lập, ra đời của các doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp các sản phẩm, dịch vụ đa dạng phục vụ đời sống và sản xuất kinh doanh trong xã hội, tạo sức cạnh tranh, chất lượng, giá cả Trong những năm gần đây, sự tăng trưởng mạnh mẽ về số lượng và chất lượng doanh nghiệp đã tạo ra khối lượng hàng hóa và dịch vụ lớn hơn, phong phú hơn với chất lượng, tốt hơn cho toàn xã hội, thay thế được nhiều mặt hàng phải nhập khẩu, góp phần quan trọng cải thiện, nâng cao mức tiêu dùng trong nước và tăng xuất khẩu ra các nước trên thế giới, qua
đó góp phần giữ cho nền kinh tế được ổn định và phát triển Không những thế, việc thành lập doanh nghiệp còn giúp giải quyết vấn đề việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống cho người lao động Vì thế, số doanh nghiệp tăng nhanh đã giải quyết được nhiều việc làm với thu nhập cao cho người lao động Tuy chiếm tỷ trọng không cao trong tổng lao động toàn xã hội, nhưng lao động trong khu vực doanh nghiệp lại là lực lượng chủ yếu tạo ra nguồn thu cho ngân sách nhà nước và đóng góp lớn cho tăng trưởng GDP Bên cạnh đó, sau khi được thành lập, với nguồn lợi nhuận thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp sẽ có vai trò quan trọng trong việc thực hiện an sinh xã hội, hỗ trợ cộng đồng, hướng đến sự tăng trưởng bền vững của nền kinh tế đất nước
Trang 2314
Vì thế, việc thành lập doanh nghiệp không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo đảm quyền lợi cho bản thân các doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa đối với hoạt động quản lý nhà nước và hướng đến bảo vệ lợi ích chung cho các chủ thể khác trong toàn xã hội Do vậy, quan tâm xây dựng các chính sách đúng đắn phát triển kinh tế - xã hội và đẩy nhanh hoạt động cải cách thủ tục hành chính là một nhiệm vụ quan trọng mà Đảng và Nhà nước đề ra
1.2 Lý luận pháp luật về đăng ký doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm pháp luật về đăng ký doanh nghiệp
Theo hiểu biết chung, pháp luật về ĐKDN là một bộ phận quan trọng của
pháp luật về doanh nghiệp nhằm điều chỉnh các quan hệ pháp luật trong quá trình thực hiện ĐKDN Do đó, pháp luật về ĐKDN được hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ phát sinh giữa một bên chủ thể là cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về ĐKDN và một bên là các cá nhân, tổ chức có liên quan về việc đăng ký thành lập, thay đổi nội dung ĐKDN
Hiện nay việc đăng ký doanh nghiệp được điều chỉnh, quy định chủ yếu trong các văn bản pháp luật sau:
- Luật Doanh nghiệp của Quốc hội, số 68/2014/QH13 có hiệu lực ngày 01/7/2015
- Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 01 tháng 11 năm 2015 của Chính Phủ
về đăng ký doanh nghiệp
- Nghị định số 108/2018/NĐ-CP ngày 23 tháng 8 năm 2018 của Chính phủ
về sửa đổi, bổ sung Nghị định 78/2015/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp
- Nghị định số 81/2015/NĐ-CP ngày 05/11/2015 của Chính Phủ về công bố thông tin Doanh nghiệp nhà nước
- Nghị định số 96/2015/NĐ-CP ngày 08/12/2015 của Chính Phủ về hướng dẫn Luật Doanh nghiệp
Trang 2415
- Thông tư số 47/2019/TT-BTC ngày 05 tháng 8 năm 2019 của Bộ Tài chính quy định về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí cung cấp thông tin doanh nghiệp, lệ phí đăng ký doanh nghiệp
1.2.2 Cơ cấu pháp luật điều chỉnh về đăng ký doanh nghiệp
Pháp luật về đăng ký doanh nghiệp quy định về các nội dung cơ bản sau:
Một là: Quy định về điều kiện đăng ký doanh nghiệp
Điều kiện ĐKDN là yêu cầu mà cá nhân, tổ chức cần phải có hoặc phải đáp ứng được theo quy định của pháp luật khi thực hiện thủ tục ĐKDN để được cấp Giấy chứng nhận ĐKDN Điều kiện ĐKDN thường bao gồm các nội dung sau: Điều kiện về chủ thể, về ngành nghề kinh doanh, về vốn kinh doanh và một số điều kiện khác
+ Quy định về điều kiện ngành nghề kinh doanh:
Công dân được làm những việc mà pháp luật không cấm, bởi vậy chủ thể kinh doanh được kinh doanh bất kể các ngành nghề kinh doanh trong giới hạn, khuôn khổ pháp luật cho phép tại từng giai đoạn thực tiễn khách quan
Theo quan điểm của PGS.TS Phạm Duy Nghĩa thì: “Điều kiện kinh doanh
là mọi sự can thiệp của cơ quan hành chính vào quyền tự do kinh doanh của người dân, thường được cụ thể hoá bằng những hành vi của nhân viên hành chính có quyền chấp nhận, hạn chế hoặc khước từ việc đăng kí hoặc tổ chức những hoạt động kinh doanh cụ thể.”[33]
Theo đó, điều kiện kinh doanh luôn gắn liền với ngành nghề kinh doanh Tuy nhiên, Nhà nước không áp dụng điều kiện kinh doanh đối với tất cả các ngành nghề kinh doanh mà chỉ áp dụng đối với một số ngành nghề; và trong ngành nghề cũng chỉ có một số lĩnh vực quy định về điều kiện kinh doanh Những ngành nghề đó gọi
là ngành nghề kinh doanh có điều kiện Đó là những ngành nghề có liên quan đến môi trường; trật tự, an toàn xã hội; sức khoẻ người dân nên phải tuân thủ những yêu cầu kinh doanh hoặc những quy tắc nghề nghiệp chặt chẽ [33]
Trang 2516
Trường hợp, nhà đầu tư kinh doanh ngành nghề không thuộc ngành nghề kinh doanh bị cấm, ngành nghề kinh doanh có điều kiện, thì nhà đầu tư có quyền chủ động đăng kí doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh, không phải xin phép, xin chấp thuận, hỏi ý kiến cơ quan có thẩm quyền Doanh nghiệp được quyền tiến hành hoạt động kinh doanh kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp
Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp đăng ký ngành nghề thuộc ngành nghề kinh doanh có điều kiện, doanh nghiệp bị giới hạn quyền tự do kinh doanh bằng việc nhà đầu tư bắt buộc phải đáp ứng các điều kiện kinh doanh mà pháp luật quy định Doanh nghiệp chỉ được tiến hành các hoạt động kinh doanh kể từ khi đáp ứng đủ các điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật cho dù doanh nghiệp đã được cấp giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp
+ Quy định điều kiện về vốn kinh doanh: Vốn kinh doanh không những là tiền đề ban đầu không thể thiếu để nhà đầu tư kinh doanh triển khai các hoạt động của mình mà còn là cơ sở để đảm bảo thực hiện các nghĩa vụ về tài sản của nhà đầu
tư phát sinh từ hoạt động điều kiện bắt buộc đối với nhà đầu tư khi muốn tiến hành đăng ký thành lập doanh nghiệp Quy mô vốn đó sẽ được xây dựng trên yêu cầu và đặc thù từng ngành, nghề kinh doanh và từng loại hình doanh nghiệp và được gọi chung là vốn pháp định Theo đó, đối với những ngành nghề này, khi hoạt động sản xuất kinh doanh thì chủ thể kinh doanh phải đáp ứng được yêu cầu về số vốn tối thiểu
+ Quy định về điều kiện năng lực chuyên môn: Đối với những ngành, nghề kinh doanh mang tính đặc thù không phải ai cũng có khả năng đáp ứng được, mà đòi hỏi nhà cung cấp phải có trình độ chuyên môn nhất định Mặt khác “sản phẩm” của người bán ra thị trường, khách hàng không có khả năng kiểm tra được chất lượng thì pháp luật phải đưa ra các quy định yêu cầu trình độ chuyên môn của người quản lý Nhà nước quản lý về chuyên môn của doanh nghiệp thông qua chứng chỉ hành nghề Chứng chỉ hành nghề là văn bản được cấp bởi cơ quan Nhà nước có
Trang 26có thẩm quyền đăng ký doanh nghiệp này có một vị trí quan trọng trong hoạt động đăng ký doanh nghiệp Thông qua hoạt động kiểm tra, xem xét tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký doanh nghiệp, cơ quan có thẩm quyền đăng ký doanh nghiệp sẽ ra quyết định cấp hoặc từ chối cấp Giấy chứng nhận ĐKDN cho cá nhân, tổ chức nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp Bên cạnh đó, cơ quan có thẩm quyền đăng ký doanh nghiệp còn có vai trò cung cấp thông tin, hỗ trợ các chủ thể kinh doanh thực hiện thủ tục thành lập doanh nghiệp, thay đổi nội dung ĐKDN, cũng như quản lý, giám sát thông tin doanh nghiệp [30]
Pháp luật hiện hành có nhiều quy định về cơ quan đăng ký doanh nghiệp bao gồm: Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan ĐKDN Ngoài ra, trong hoạt động ĐKDN còn có sự phối hợp của nhiều cơ quan hữu quan như cơ quan ĐKKD phối hợp với cơ quan thuế để cấp mã số doanh nghiệp, đồng thời là mã Số thuế của doanh nghiệp Để tránh việc tùy tiện, không thống nhất, Luật
đã quy định rõ chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan đăng ký doanh nghiệp Khi thực hiện việc đăng ký doanh nghiệp, cơ quan chỉ được thực hiện theo thẩm quyền những nội dung mà pháp luật đã quy định Các quyết định không dựa trên cơ
sở pháp luật, vượt quá thẩm quyền quy định đều bị coi là hành vi vi phạm pháp luật cần phải xử lý
Trang 27Quy định về hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp: Hồ sơ ĐKDN là tài liệu đầy đủ nhất về thông tin của chủ thể kinh doanh mà Nhà nước cần nắm giữ để theo dõi và là cơ sở để xử lý doanh nghiệp khi vi phạm pháp luật Người thành lập doanh nghiệp phải tự kê khai hồ sơ ĐKDN và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính đầy đủ, hợp pháp, trung thực và chính xác của các thông tin kê khai trong hồ sơ ĐKDN
Thời hạn đăng ký doanh nghiệp: Là thời hạn mà cơ quan có thẩm quyền phải xem xét, giải quyết yêu cầu của người đăng ký doanh nghiệp
Ngoài ra, thủ tục đăng ký doanh nghiệp còn quy định một số vấn đề khác như lệ phí đăng ký doanh nghiệp, các thủ tục mà doanh nghiệp cần làm trước khi đi vào hoạt động kinh doanh chính thức
Bốn là: Quy định các biện pháp chế tài để đảm bảo việc đăng ký kinh doanh được thực hiện đúng luật
Việc đặt ra các biện pháp chế tài, xử lý vi phạm để đảm bảo hoạt động đăng
ký doanh nghiệp được thực hiện đúng luật luôn chiếm nội dung quan trọng trong chế định pháp lý về đăng ký doanh nghiệp Trước hết, xuất phát từ tính bắt buộc của thủ tục đăng ký doanh nghiệp nên đòi hỏi mọi chủ thể liên quan phải tuân thủ Hành
vi áp dụng trái quy định pháp luật của cơ quan Nhà nước nói chung, cơ quan có thẩm quyền đăng ký doanh nghiệp nói riêng và doanh nghiệp sẽ xâm phạm đến lợi ích của doanh nghiệp, của người tiêu dùng và cộng đồng, cản trở hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với doanh nghiệp Hình thức xử lý các vi phạm trong hoạt động đăng ký kinh doanh có thể bao gồm các biện pháp xử lý hành chính như cảnh cáo,
Trang 2819
phạt tiền, thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, chứng chỉ hành nghề, hoặc xử lý hình sự Pháp luật quy định hành vi vi phạm pháp luật về đăng ký doanh nghiệp là hệ thống các quy định nằm trong nhiều văn bản khác nhau từ các đạo luật
về doanh nghiệp, luật hình sự đến các nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp
Trang 2920
Kết luận chương 1
Tại chương 1, học viên đã trình bày được sơ lược những vấn đề lý luận chung về đăng ký doanh nghiệp và pháp luật đăng ký doanh nghiệp, theo đó khái niệm đăng ký doanh nghiệp là việc người thành lập doanh nghiệp đăng ký thông tin
về doanh nghiệp dự kiến thành lập, doanh nghiệp đăng ký những thay đổi hoặc dự kiến thay đổi trong thông tin về đăng ký doanh nghiệp với cơ quan đăng ký kinh doanh và được lưu giữ tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp Đăng
ký doanh nghiệp bao gồm đăng ký thành lập doanh nghiệp, đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp và các nghĩa vụ đăng ký, thông báo khác theo quy định Đây là khái niệm được trình bày trong Nghị định 78/2015/NĐ-CP, tuy nhiên học viên hoàn toàn đồng tình với khái niệm được trình bày tại Nghị đinh, trên cơ sở khái niệm trên sẽ giúp người đọc hình dung cụ thể, chính xác những vấn đề pháp lý được bao hàm trong khái niệm, qua đó xác định được phạm vi và các thủ tục pháp lý cần thực hiện nhằm đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật
Pháp luật về ĐKDN là một bộ phận quan trọng của pháp luật về doanh nghiệp nhằm điều chỉnh các quan hệ pháp luật trong quá trình thực hiện ĐKDN Do
đó, pháp luật về ĐKDN được hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ phát sinh giữa một bên chủ thể là cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về ĐKDN và một bên là các cá nhân, tổ chức có liên quan về việc đăng ký thành lập, thay đổi nội dung ĐKDN Đây là khái niệm được học viên sử dụng làm căn cứ xác định phạm vi các nội dung cơ bản của pháp luật về đăng ký doanh nghiệp
Những vấn đề lý luận chung tại chương 1 sẽ giúp chúng ta nắm được sơ lược
về đăng ký doanh nghiệp, tạo sơ sở, căn cứ quan trọng trong việc triển khai phân tích các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng pháp luật về đăng ký doanh nghiệp tại chương 2 của luận văn
Trang 3021
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BẮC NINH
2.1 Thực trạng quy định pháp luật về đăng ký doanh nghiệp
2.1.1 Điều kiện đăng ký doanh nghiệp
2.1.1.1 Điều kiện về chủ thể đăng ký doanh nghiệp
Kế thừa tinh thần của Luật Doanh nghiệp năm 2005: “Tổ chức, cá nhân Việt
Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này” [10] Tại Khoản 1 Điều 18 Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Khoản 1 Điều 5
Nghị định số 78/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định về đăng ký doanh nghiệp thì việc thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam là quyền của cá nhân và tổ chức được Nhà nước bảo hộ Trong đó, cá nhân, tổ chức bao gồm cá nhân, tổ chức trong nước và cá nhân, tổ chức nước ngoài thực hiện đăng ký doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam Pháp luật doanh nghiệp nghiêm cấm các Cơ quan đăng ký kinh doanh và các cơ quan khác gây phiền hà cho cá nhân, tổ chức thành lập doanh
nghiệp
So với Luật Doanh nghiệp năm 1999 thì Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã có sự mở rộng hơn về chủ thể thành lập Doanh nghiệp, không có sự phân biệt giữa tổ chức, cá nhân trong nước và nhà đầu tư nước ngoài
Vì thế, tổ chức, cá nhân nước ngoài cũng như tổ chức, cá nhân trong nước đều có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam, đồng thời họ cũng có quyền góp vốn, mua cổ phần đối với các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh
và công ty cổ phần Ngoài ra, Luật Doanh nghiệp 2014 cũng mở rộng đáng kể quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp cụ thể: Doanh nghiệp được tự chủ kinh doanh và lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh; chủ động lựa chọn ngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh; chủ động điều chỉnh quy mô và ngành, nghề kinh
Trang 3122
doanh; quyết định các vấn đề trong các hoạt động kinh doanh, quyền đầu tư kinh doanh và quyền huy động vốn đặc biệt là từ chối yêu cầu cung cấp nguồn lực không theo quy định pháp luật, tham gia tố tụng theo quy định pháp luật.Việc quy định mở rộng hơn về chủ thể thành lập doanh nghiệp góp phần thu hút đa dạng các nguồn vốn đầu tư trong nước và nước ngoài, tạo điều kiện cho nền kinh tế nước nhà được giao lưu, mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần phát triển nền kinh tế
quốc dân
Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp năm 2014 cũng quy định hạn chế một số đối tượng trong việc thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam cụ thể tại Khoản 2 Điều 18 nêu 06 đối tượng không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp đó là:
- Một là, cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình
Việc quy định đối tượng trên không được phép thành lập và quản lý doanh nghiệp nhằm đảm bảo công khai, minh bạch trong huy động và sử dụng nguồn ngân sách Nhà nước Đồng thời, quy định này còn góp phần ngăn chặn các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước để vụ lợi, gian lận hay tham nhũng gây thiệt hại đến nguồn ngân sách Nhà nước
- Hai là, cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức
Cán bộ, công chức, viên chức đều là những đối tượng đảm nhận công việc phục vụ Nhà nước, phục vụ nhân dân và xã hội Tính chất công việc của các đối tượng này là ổn định, thường xuyên và được trả lương từ nguồn ngân sách Nhà nước đủ đảm bảo đời sống cho họ Vì vậy, các đối tượng này phải tận tâm với công việc mà mình đảm nhận Do đó, không có thời gian để họ thực hiện những công việc tư khác Chính vì thế, pháp luật quy định cấm các đối tượng này tham gia thành lập và quản lý doanh nghiệp nhằm tránh sự lạm quyền giữa công việc tư với công việc chung, làm ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc cũng như dẫn đến thiệt hại sâu xa hơn liên quan đến lợi ích của Nhà nước, nhân dân và của xã hội
Trang 3223
- Ba là, sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp
Đây là đối tượng có vai trò vô cùng quan trọng trong công tác bảo vệ an ninh quốc phòng, đảm bảo an toàn cho đất nước Các đối tượng này được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ nghiêm ngặt nhằm đảm bảo cho họ có chuyên môn tốt để thực hiện nhiệm vụ giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của đất nước Đồng thời các đối tượng này được hưởng lương từ nguồn ngân sách nhà nước Chính vì thế, các đối tượng này thuộc đối tượng cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho họ phải chuyên tâm thực hiện công việc, nhiệm vụ của mình với quốc gia, tránh sự phân tán tư tưởng vào lợi ích cá nhân, ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị và tình hình trị an của quốc gia
- Bốn là, cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác
Đây là những đối tượng được Nhà nước giao nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý các doanh nghiệp nhà nước Doanh nghiệp nhà nước có vai trò quan trọng trong sự phát triển nền kinh tế quốc dân Do đó, việc quy định cấm những đối tượng này tham gia thành lập, quản lý doanh nghiệp nhằm tạo điều kiện cho họ chỉ cần tập trung vào công tác lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp Nhà nước, tránh cho họ tham ô, tư lợi vì mục đích cá nhân làm ảnh hưởng đến việc kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước, gây thất thoát cho ngân sách nhà nước và ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế quốc dân
- Năm là, người chưa thành niên, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự, tổ chức không có tư cách pháp nhân
Trang 3324
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng có quyền và có nghĩa vụ dân sự theo quy định của pháp luật Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân
sự Theo đó, những đối tượng bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì khả năng thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự của họ cũng bị hạn chế Do đó, những đối tượng này nếu tham gia thành lập, quản lý doanh nghiệp thì có thể sẽ không đảm bảo được hoạt động của doanh nghiệp Vì vậy, pháp luật có quy định cấm những đối tượng là người chưa thành niên, người bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân
sự, tổ chức không có tư cách pháp nhân thành lập, quản lý doanh nghiệp
- Sáu là, người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyết định xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định, liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Toà án, các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản, phòng, chống tham nhũng
Người bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người chấp hành hình phạt tù, quyết định xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc là những đối tượng bị tước hoặc hạn chế quyền tự do Vì vậy, các đối tượng này khó
có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Các trường hợp cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định, liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Toà án là các đối tượng bị hạn chế quyền tự do kinh doanh theo quyết định của Tòa án Do đó, họ bị hạn chế trong việc thành lập, quản lý doanh nghiệp
Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản, phòng, chống tham nhũng là những trường hợp người giữ chức vụ không được thành lập, tham gia quản lý doanh nghiệp (theo khoản 2 Điều 20 Luật Phòng chống tham nhũng năm 2018) và các đối tượng là người giữ chức vụ quản lý của doanh nghiệp, hợp tác xã
bị tuyên bố phá sản không được quyền thành lập doanh nghiệp, hợp tác xã, làm người quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong thời hạn 03 năm kể từ ngày Tòa án
Trang 3425
nhân dân có quyết định tuyên bố phá sản (theo khoản 3 Điều 130 Luật Phá sản năm 2014) Việc quy định cấm những đối tượng này thành lập, tham gia quản lý doanh nghiệp nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động của công ty được thành lập sau này Trường hợp những đối tượng này vẫn cố tình thành lập, tham gia quản lý doanh nghiệp sẽ có thể dẫn đến doanh nghiệp mới dễ rơi vào tình trạng phá sản, chấm dứt hoạt động kinh doanh, khó đạt hiệu quả kinh doanh trên thị trường Do đó, quy định cấm những đối tượng này thành lập, tham gia quản lý doanh nghiệp là cần thiết
Như vậy, có thể thấy rằng, Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã tiếp tục kế thừa
và phát huy Luật Doanh nghiệp năm 2005 bằng việc quy định chủ thể có quyền thành lập doanh nghiệp theo phương pháp loại trừ Theo đó, không chỉ mở rộng đối tượng có quyền thành lập doanh nghiệp mà còn bổ sung thêm một số đối tượng không được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp, đó là: Viên chức theo pháp luật về viên chức, tổ chức không có tư cách pháp nhân, người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiên bắt buộc,
cơ sở giáo dục bắt buộc và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật phòng, chống tham nhũng Bằng việc bổ sung, liệt kê chi tiết một số đối tượng như đã phân tích ở trên góp phần cho việc áp dụng pháp luật về đăng ký doanh nghiệp trên thực
tế đạt hiệu quả cao ngay từ công tác thành lập doanh nghiệp ban đầu
2.1.1.2 Điều kiện về ngành nghề kinh doanh
Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định cụ thể chia ngành, nghề kinh doanh thành ba nhóm chính: Ngành, nghề kinh doanh bị cấm, ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và ngành, nghề tự do kinh doanh
Đối với ngành, nghề kinh doanh bị cấm:
Theo Khoản 1 Điều 7 Luật Doanh nghiệpnăm 2014, doanh nghiệp có quyền
tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà luật không cấm Sở dĩ đặt ra các ngành, nghề cấm kinh doanh là do những ngành, nghề này có thể gây hại đến quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt Nam, làm hủy hoại tài nguyên, phá hủy môi trường
Trang 3526
Khoản 1 Điều 6 Luật Đầu tư năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nêu rõ 06 ngành, nghề cấm hoạt động đầu tư kinh doanh, bao gồm:
- Kinh doanh các chất ma túy theo quy định tại Phụ lục 1 của Luật này
- Kinh doanh các loại hóa chất, khoáng vật quy định tại Phụ lục 2 của Luật này
- Kinh doanh mẫu vật các loại thực vật, động vật hoang dã theo quy định tại Phụ lục 1 của Công ước về buôn bán quốc tế các loài thực vật, động vật hoang dã nguy cấp,mẫu vật các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm Nhóm I
có nguồn gốc từ tự nhiên theo quy định tại Phụ lục 3 của Luật này
- Kinh doanh mại dâm
- Mua, bán người, mô, bộ phận cơ thể người
- Hoạt động kinh doanh liên quan đến sinh sản vô tính trên người
Luật Đầu tư năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2017 sử dụng phương pháp tiếp cận mới là phương pháp “chọn bỏ” để quy định về ngành, nghề cấm kinh doanh Với phương pháp này thì những ngành, nghề kinh doanh bị cấm được quy định cụ thể trong Luật, còn lại tất cả ngành nghề kinh doanh khác thì nhà đầu tư, doanh nghiệp được kinh doanh theo quy định của pháp luật Đây là phương pháp tiên tiến, minh bạch, góp phần đổi mới căn bản nguyên tắc áp dụng pháp luật, từ việc nhà đầu
tư chỉ được quyền thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong những ngành, nghề
mà pháp luật cho phép sang nguyên tắc được tự do đầu tư kinh doanh tất cả các ngành, nghề mà Luật không cấm hoặc quy định phải có đủ điều kiện hoạt động Tuy nhiên, việc quy định các ngành, nghề kinh doanh bị cấm cũng đòi hỏi phải rà soát hết sức cẩn thận, tránh để “lọt” hay tạo ra những kẽ hở pháp lý dễ bị lợi dụng [28]
Về ngành, nghề kinh doanh có điều kiện:
Tại Khoản 1 Điều 7 Luật Đầu tư năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy
định: “Ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện là ngành nghề mà việc thực
hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề đó phải đáp ứng điều kiện vì
Trang 36115 Nghị định, 176 Thông tư, 26 Quyết định của các Bộ trưởng và 2 văn bản của
Bộ Phần lớn các điều kiện kinh doanh được quy định dưới hình thức giấy phép hoặc giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh Đây là loại điều kiện kinh doanh dễ phát sinh tiêu cực trong quá trình xin cấp phép, cấp chứng nhận trên thực tiễn [32]
Sau thời điểm Luật Đầu tư năm 2014 có hiệu lực thi hành, ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện được quy định cụ thể tại Phụ lục IV của Luật này, cụ thể chỉ còn 267 ngành, nghề kinh doanh có điều kiệm (đã giảm bớt 119 ngành, nghề) Hiện nay, theo Luật số 03/2016/QH14 ngày 22/11/2016 của Quốc hội quy định sửa đổi, bổ sung điều 6 và Phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư năm 2014 có hiệu lực thi hành từ 01/01/2017 thì chỉ quy định về 243 ngành nghề kinh doanh có điều kiện Đặc biệt Luật Đầu tư năm 2014, sửa đổi bổ sung năm 2017 cũng sửa đổi thẩm quyền quy định về ngành, nghề và điều kiện đầu tư kinh doanh Theo Khoản 3 Điều 7 Luật Đầu tư năm 2014, sửa đổi
bổ sung năm 2017 quy định: “… Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy
ban nhân dân các cấp, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác không được ban hành quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh”[11] Đồng thời, ngành, nghề đầu tư kinh
doanh có điều kiện và điều kiện đầu tư kinh doanh đối với ngành nghề đó phải được đăng tải trên Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia theo Khoản 5 Điều 7 Luật Đầu tư năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2017
Hiện nay,trên Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp Quốc gia có địa chỉ website:https://dangkyquamang.dkkd.gov.vn thì danh mục điều kiện kinh doanh
Trang 372.1.1.3 Điều kiện về đặt tên doanh nghiệp
Tên doanh nghiệp là tên gọi của doanh nghiệp được ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Do đó, tên doanh nghiệp là một thông tin quan trọng cần phải có khi tiến hành thủ tục đăng ký doanh nghiệp trên thực tế Doanh nghiệp cần có tên riêng để sử dụng trong hoạt động kinh doanh, dùng để nhận biết và phân biệt với các doanh nghiệp khác Tên doanh nghiệp còn là hình ảnh giúp doanh nghiệp thu hút khách hàng Đồng thời, trong tương lai có thể tên doanh nghiệp là tài sản có giá trị và tạo nên thương hiệu công ty khi doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ
Vì vậy, việc đặt tên cho doanh nghiệp là vấn đề rất quan trọng, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh sau này của cả doanh nghiệp Việc đặt tên doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định tại Luật Doanh nghiệpnăm 2014 và Nghị định 78/2015/NĐ-CP hướng dẫn quy định chi tiết vấn đề này
Theo Khoản 1 Điều 38 Luật Doanh nghiệpnăm 2014, tên tiếng Việt của doanh nghiệp bao gồm hai thành tố theo thứ tự sau đây:
- Loại hình doanh nghiệp: Tên loại hình doanh nghiệp được viết là “công ty trách nhiệm hữu hạn” hoặc “công ty TNHH” đối với công ty trách nhiệm hữu hạn; được viết là “công ty cổ phần” hoặc “công ty CP” đối với công ty cổ phần; được viết là “công ty hợp danh” hoặc “công ty HD” đối với công ty hợp danh; được viết
là “doanh nghiệp tư nhân”, “DNTN” hoặc “doanh nghiệp TN” đối với doanh nghiệp
tư nhân
Trang 38- Trường hợp doanh nghiệp có tên bằng tiếng nước ngoài, tên bằng tiếng nước ngoài của doanh nghiệp được in hoặc viết với khổ chữ nhỏ hơn tên tiếng Việt của doanh nghiệp tại trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp hoặc trên các giấy tờ giao dịch, hồ sơ tài liệu và ấn phẩm
Cụ thể, theo Điều 42 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định:
Trang 39đ) Tên riêng của doanh nghiệp đề nghị đăng ký chỉ khác với tên riêng của doanh nghiệp cùng loại đã đăng ký bởi ký hiệu “&”, “.”, “+”, “-”, “_”
e) Tên riêng của doanh nghiệp đề nghị đăng ký chỉ khác với tên riêng của doanh nghiệp cùng loại đã đăng ký bởi từ “tân” ngay trước hoặc “mới” ngay sau hoặc trước tên riêng của doanh nghiệp đã đăng ký
g) Tên riêng của doanh nghiệp đề nghị đăng ký chỉ khác với tên riêng của doanh nghiệp cùng loại đã đăng ký bởi từ “miền Bắc”, “miền Nam”, “miền Trung”, “miền Tây”, “miền Đông” hoặc từ có ý nghĩa tương tự
Các trường hợp quy định tại các điểm d, đ, e và g của khoản này không áp dụng đối với trường hợp công ty con của công ty đã đăng ký.”
Bên cạnh đó, khi đặt tên doanh nghiệp cần lưu ý về những điều cấm được quy định tại Điều 39 Luật Doanh nghiệp năm 2014:
Trang 4031
“1 Đặt tên trùng hoặc tên gây nhầm lẫn với tên của doanh nghiệp đã đăng
ký được quy định tại Điều 42 của Luật này
2 Sử dụng tên cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tên của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức
xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp để làm toàn bộ hoặc một phần tên riêng của doanh nghiệp, trừ trường hợp có sự chấp thuận của cơ quan, đơn vị hoặc tổ chức
1 Điều 19 Nghị định 78/2015/NĐ-CP) Trường hợp tên doanh nghiệp xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp thì doanh nghiệp có tên vi phạm phải đăng ký đổi tên và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật
Ngoài ra, Luật Doanh nghiệp năm 2014 còn quy định về tên chi nhánh, văn phòng đại diện và địa điểm kinh doanh tại Điều 41 như sau:
“1 Tên chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh phải được viết bằng các chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Việt, các chữ cái F, J, Z, W, chữ số và các ký hiệu
2 Tên chi nhánh, văn phòng đại diện phải mang tên doanh nghiệp kèm theo cụm từ “Chi nhánh” đối với chi nhánh, cụm từ “Văn phòng đại diện” đối với văn phòng đại diện