quả; 2 Tự do liên kết, TLTT và giải quyết tranh chấp: Luật pháp Việt Nam về tự do liên kết và TLTT; Các tiêu chuẩn của ILO về tự do liên kết, TLTT và việc áp dụng vào Việt Nam; Các biện
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYấN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
Các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ
Trang 2HÀ NỘI - 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
Trang 3HÀ NỘI - 2019
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ, trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy, trung thực
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Hồng Quân
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của Khoa Sau đại học, Trường Đại học Mở Hà Nội và
sự đồng ý của giáo viên hướng dẫn TS Phạm Trọng Nghĩa về đề tài luận văn: "Các
tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản và sự nội luật hóa trong pháp luật Việt Nam"
Để hoàn thành được luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, động viên, giúp đỡ của quý thầy, cô giáo trong trường
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy, cô giáo của Trường Đại học Mở Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình tôi học tập, nghiên cứu tại Trường
Chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn khoa học TS Phạm Trọng Nghĩa
đã tận tình hướng dẫn tôi nghiên cứu thực hiện luận văn của mình
Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Khoa đào tạo sau đại học, Trường Đại học Mở Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, cố gắng để thực hiện luận văn một cách hoàn chỉnh nhất, nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà tự bản thân không thể tự nhận thấy được Tôi rất mong nhận được sự góp ý của Quý thầy, cô giáo để luận văn được hoàn chỉnh hơn
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện luận văn, công trình nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày 19 tháng 11 năm 2019
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Hồng Quân
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu: 3
3 Mục đích nghiên cứu 8
4 Nội dung và phạm vi nghiên cứu 8
4.1 Nội dung nghiên cứu 8
4.2 Phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn: 9
7 Bố cục của luận văn 9
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TIÊU CHUẨN LAO ĐỘNG QUỐC TẾ VÀ TIÊU CHUẨN LAO ĐỘNG QUỐC TẾ CƠ BẢN 10
1.1 Tiêu chuẩn lao động quốc tế 10
1.1.1 Sự điều chỉnh của pháp luật quốc tế đối với vấn đề lao động và sự ra đời của các tiêu chuẩn lao động quốc tế 10
1.1.2 Mục đích và vai trò của các tiêu chuẩn lao động quốc tế 17
1.1.3 Hình thức cơ bản của các tiêu chuẩn lao động quốc tế 20
1.1.4 Đối tượng điều chỉnh của các tiêu chuẩn lao động quốc tế 22
1.2 Các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản 23
1.2.1 Nhu cầu xác định các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản 24
1.2.2 Tại sao những tiêu chuẩn lao động quốc tế nêu trên lại là tiêu chuẩn lao động quốc tế "cơ bản"? 26
1.2.3 Các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản và khả năng cạnh tranh của quốc gia 28
1.3 Một số vấn đề cơ bản về nội luật hóa: 31
Trang 7Chương 2: THỰC TRẠNG VIỆC NỘI LUẬT HÓA CÁC TIÊU CHUẨN LAO
ĐỘNG QUỐC TẾ CƠ BẢN VÀO VIỆT NAM 34
2.1 Tiêu chuẩn về phòng, chống lao động cưỡng bức 34
2.1.1 Quy định của ILO về phòng chống lao động cưỡng bức 34
2.1.2 Nội luật hóa quy định về phòng, chống lao động cưỡng bức vào pháp luật Việt Nam 36
2.2 Tiêu chuẩn về xóa bỏ lao động trẻ em 40
2.2.1 Quy định của ILO về xóa bỏ lao động trẻ em 40
3.2.2 Nội luật hóa quy định về xóa bỏ lao động trẻ em vào pháp luật Việt Nam 43
2.3 Tiêu chuẩn về xóa bỏ phân biệt, đối xử tại nơi làm việc 46
2.3.1 Quy định của ILO về xóa bỏ phân biệt đối xử tại nơi làm việc 46
2.3.2 Nội luật hóa quy định về xóa bỏ phân biệt đối xử tại nơi làm việc vào pháp luật Việt Nam 49
2.4 Tiêu chuẩn về quyền lập hội và thương lượng tập thể 52
2.4.1 Quy định của ILO về quyền lập hội và thương lượng tập thể 52
2.4.2 Nội luật hóa các quy định về quyền lập hội và thương lượng tập thể vào pháp luật Việt Nam 53
Chương 3: ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ 69
3.1 Về xây dựng pháp luật 69
3.1.1 Về phòng, chống lao động cưỡng bức 69
3.1.2 Về xóa bỏ lao động trẻ em 72
3.1.3 Về xóa bỏ phân biệt, đối xử tại nơi làm việc 73
3.1.4 Về quyền lập hội và thương lượng tập thể 73
3.2 Về việc tiếp tục phê chuẩn các Công ước cơ bản 75
3.2.1 Đối với Công ước 87 về quyền tự do hiệp hội và về việc bảo vệ quyền được tổ chức 75
3.2.2 Đối với Công ước 105 về Xóa bỏ lao động cưỡng bức 76
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 9MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Toàn cầu hóa có ảnh hưởng mạnh mẽ đến vấn đề lao động cũng như đến pháp luật lao động Chính những ảnh hưởng này đã dẫn đến nhiều quan điểm khác nhau về vai trò của các tiêu chuẩn lao động quốc tế, cũng như xác định như thế nào
là tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản (TCLĐQTCB) Các quan điểm này bắt đầu xuất hiện từ khi cuộc chiến tranh lạnh chấm dứt Khi đó, cuộc đối đầu giữa hai hệ chính trị khác nhau được thay thế bằng cuộc chiến giữa những người ủng hộ toàn cầu hóa tự do hoàn toàn với đặc trưng là tự do thương mại, tự do đầu tư, quyền sở hữu trí tuệ và một bên là những người ủng hộ việc lập ra các quy định toàn cầu để bảo vệ người lao động (NLĐ) cũng như bảo vệ môi trường trước những ảnh hưởng tiêu cực của quá trình toàn cầu hóa
Quan điểm thứ nhất phủ nhận vai trò của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) trong quá trình toàn cầu hóa Những người theo quan điểm này cho rằng ILO có cách tiếp cận không lạc quan đối với quá trình toàn cầu hóa Theo quan điểm của
họ, thay vì thúc đẩy phát triển kinh tế để có thể đem lại lợi ích cho mọi người, ILO vẫn duy trì cách thức tiếp cận cũ, cách thức lập quy theo lối suy nghĩ của thế kỷ trước mà không thể hiện vai trò tích cực trong việc tiếp cận các cơ hội cũng như thách thức mới của nền kinh tế trong quá trình toàn cầu hóa Những người theo quan điểm này, căn cứ vào chủ thuyết thương mại tự do (neo-liberal), họ coi các tiêu chuẩn lao động là rào cản đối với thị trường, và theo họ, điều kiện lao động sẽ được cải thiện từ quá trình phát triển kinh tế, và tất cả mọi người (trong đó tất nhiên
có NLĐ) sẽ được hưởng lợi từ quá trình toàn cầu hóa Quan điểm này cho rằng, nếu như các tiêu chuẩn lao động được sử dụng để điều chỉnh những khuyết tật của thị trường lao động ở các quốc gia khác nhau, thì không có lý do gì để xây dựng các tiêu chuẩn lao động ở cấp độ quốc tế Nhóm quan điểm này đi đến kết luận rằng,
Trang 10việc xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn lao động quốc tế là không cần thiết và vai trò của ILO cũng không cần thiết
Quan điểm thứ hai đến từ những người theo trường phái thương mại công bằng (fair-trade); những tổ chức dân sự và nhóm những nhà hoạt động về quyền của NLĐ Những người theo quan điểm này cho rằng, bên cạnh những mặt tích cực, toàn cầu hóa cũng bộc lộ những mặt tiêu cực của mình Trong quá trình toàn cầu hóa, nhiều vấn đề lao động bức xúc vẫn xảy ra Tình trạng lao động trẻ em, lao động cưỡng bức (LĐCB), bóc lột, tình trạng phân biệt đối xử trong lao động, điều kiện lao động tồi tàn, NLĐ bị bóc lột vẫn diễn ra nhiều và có xu hướng phức tạp hơn Họ khẳng định rằng, trong bối cảnh toàn cầu hóa, các tiêu chuẩn lao động quốc tế càng đóng vai trò quan trọng hơn bao giờ hết Tuy nhiên, những người theo quan điểm này cho rằng, ILO đã thất bại trong việc bảo đảm thi hành các tiêu chuẩn do chính mình ban hành và việc vi phạm các tiêu chuẩn lao động quốc tế vẫn rất phổ biến Phương pháp bảo đảm thi hành các tiêu chuẩn lao động quốc tế của ILO dựa trên việc thuyết phục là chính cho nên không hiệu quả Từ đó, họ đề xuất đưa các tiêu chuẩn lao động quốc tế vào trong các hiệp định thương mại và sử dụng chế tài thương mại đối với những quốc gia vi phạm pháp luật lao động quốc tế
Qua nhiều tranh luận gay gắt, nhóm quan điểm thứ hai chiếm ưu thế hơn và vấn đề tiêu chuẩn lao động đã được đưa vào Chương trình nghị sự của Hội nghị Bộ trưởng WTO, tổ chức tại Singapore vào năm 1996 Về vấn đề tiêu chuẩn lao động, Hội nghị đi đến nhất trí rằng, các tiêu chuẩn lao động quốc tế là cần thiết trong bối cảnh toàn cầu hóa, và cần phải xác định đâu là các TCLĐQTCB để áp dụng trên phạm vi toàn cầu Đối với đề xuất đưa các tiêu chuẩn lao động vào trong khuôn khổ WTO, có hai luồng ý kiến trái chiều nhau diễn ra tại Hội nghị Các đại biểu đến từ các nước phát triển ủng hộ đề xuất đưa các tiêu chuẩn lao động vào trong khuôn khổ WTO, đồng thời sử dụng chế tài thương mại đối với những quốc gia vi phạm các tiêu chuẩn lao động đó Nhưng ý kiến này bị phản đối kịch liệt bởi các đại biểu đến
từ những nước đang phát triển, những đại biểu này cho rằng việc đưa các quy định
Trang 11về tiêu chuẩn lao động vào trong khuôn khổ WTO chính là sự ngụy trang của chủ nghĩa bảo hộ, thể hiện sự lo lắng của các nước phát triển đối với sự thành công trong hoạt động xuất khẩu của các nước đang phát triển Cuối cùng, Hội nghị bác bỏ
đề xuất đưa các tiêu chuẩn lao động quốc tế vào trong khuôn khổ WTO đồng thời, Hội nghị cũng khẳng định ILO là tổ chức phù hợp để giải quyết các vấn đề lao động
ở phạm vi toàn cầu
Tại Hội nghị Lao động Quốc tế lần thứ 86 họp ở Geneva tháng 6 năm 1998, các nước thành viên của Tổ chức Lao động Quốc tế, trong đó có Việt Nam, thông qua Tuyên bố về những Nguyên tắc và Quyền Cơ bản trong Lao động và cơ chế theo dõi thực hiện Tuyên bố Hai chương đầu của ấn phẩm xoay quanh Tuyên bố
1998 về các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động, cụ thể là: (a) tự do liên kết
và công nhận một cách thực chất quyền thương lượng tập thể (TLTT); (b) loại bỏ mọi hình thức LĐCB hoặc bắt buộc; (c) xóa bỏ một cách có hiệu quả lao động trẻ em; và (d) loại bỏ phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp Phần còn lại sẽ tập trung vào 8 Công ước cơ bản thể hiện những nguyên tắc và quyền trên: Công ước số 87 và 98 về tự do liên kết và TLTT; Công ước số 29 và 105 về xóa bỏ LĐCB và bắt buộc; Công ước số 138 và 182 về xóa bỏ lao động trẻ em; Công ước
số 100 và 111 về xóa bỏ phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp Tính đến nay, Việt Nam đã phê chuẩn 6/8 Công ước cơ bản này
Ở Việt Nam, quá trình sửa đổi Bộ luật Lao động (BLLĐ) và Luật Công đoàn 2012 đã có nhiều thay đổi, tạo ra khuôn khổ pháp lý và thể chế được cải thiện đối với quy định về thị trường lao động và quan hệ lao động ở Việt Nam và cải thiện việc tuân thủ tiêu chuẩn lao động quốc tế Mặc dù có những thay đổi đáng kể nêu trên, tuy nhiên còn những tiêu chuẩn có những hạn chế trong nội luật hóa cần được nghiên cứu
2 Tình hình nghiên cứu:
Liên quan đến quá trình luật hóa và các tiêu chuẩn lao động quốc tế có thể
Trang 12tham khảo một số công trình nghiên cứu dưới đây:
- ILO (2013), Sửa đổi Luật Lao động năm 2006 của Bangladesh phù hợp với
tiêu chuẩn lao động quốc tế, đăng tại: http://www.ilo.org/global/about-the-ilo/newsroom/
statements-and-speeches/WCMS_218067/lang en/index.htm Bài viết nêu rõ việc sửa đổi luật lao động Bangladesh 2006, được thông qua vào ngày 15 tháng 7 năm 2013, chứng minh được là bước đầu tiên để hoàn thành nghĩa vụ của Chính phủ phải tôn trọng đầy đủ các quyền cơ bản đối với tự do hiệp hội và đàm phán tập thể và giải quyết nhu cầu quan trọng để thúc đẩy nghề nghiệp an toàn va khỏe mạnh Bangladesh đã phê chuẩn các Công ước ILO 87 và 98 về tự do hiệp hội và TLTT và do đó cần phải bảo vệ các quyền Sự phù hợp của luật sửa đổi với các tiêu chuẩn lao động quốc tế được Bangladesh phê duyệt sẽ được cơ quan giám sát của ILO xem xét lại trong năm
- Pham Trong Nghia (2015) "The Implementation of Ratified ILO Fundamental
Conventions in Vietnam: Successes and Challenges", State Practice and International
Law Journal, vol.2 Issue 1 (2015), p 143 Đây là một trong các công trình công bố quốc tế đầu tiên đánh giá về việc nội luật hóa các TCLĐQTCB vào một quốc gia đặc thù như Việt Nam Công trình này phân tích sâu những yêu cầu cảu các TCLĐQTCB mà Việt Nam đã cam kết thông qua việc phê chuẩn các Công ước của ILO Từ đó, đánh giá việc nội luật hóa các tiêu chuẩn này vào hệ thống pháp luật quốc gia và đánh giá việc thực hiện các tiêu chuẩn đã được nội luật hóa trong thực tiễn Trên cơ sở thực tiễn của Việt Nam, công trình có những đề xuất có ý nghĩa cho ILO trong việc thực hiện sứ mệnh của mình và bảo đảm thúc đẩy, thực thi các TCLĐQTCB ở phạm vi toàn cầu
- Viện Khoa học Lao động và Xã hội, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội
(LĐTBXH) (2016), Thực hiện quyền tự do liên kết trong bối cảnh gia nhập các
hiệp định thương mại tự do thế hệ mới Nghiên cứu đã khẳng định Trong quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã và đang tiếp cận với bốn tiêu chuẩn lao động
cơ bản được nêu trong Tuyên bố ILO 1998 thông qua các hiệp định thương mại tự
do FTA thế hệ mới, việc đưa bốn tiêu chuẩn lao động cơ bản vào các hiệp định
Trang 13thương mại tự do đang trở thành một xu hướng trên thế giới Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương và Hiệp định FTA Việt Nam - EU mà Việt Nam kết thúc đàm phán đều bao gồm những cam kết chặt chẽ về việc thực hiện bốn tiêu chuẩn lao động cơ bản này Đồng thời, nghiên cứu này đã nêu ra một số hàm ý chính sách như: Quan điểm về thiết chế đại diện: Khi cho phép hình thành tổ chức đại diện cho NLĐ khác hoạt động song song và cạnh tranh trực tiếp với Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam (LĐLĐVN) Nhà nước cần có sự hỗ trợ các tổ chức đại diện NLĐ đảm bảo đại diện, bảo vệ một cách hiệu quả quyền và lợi ích của NLĐ Về sửa đổi luật pháp cần chú ý hơn tới các quy định đảm bảo quyền tự chủ, tự quản của tổ chức đại diện NLĐ; quy định nhằm bảo vệ công đoàn trước sự can thiệp, thao túng của người sử dụng lao động (NSDLĐ) Các tiêu chí xác định tổ chức công đoàn đại diện cũng cần làm rõ tránh khả năng thiên vị hoặc lạm dụng, các tiêu chí cần phải vừa có tính định lượng vừa có yếu tố định tính để đảm bảo lựa chọn được những tổ chức công đoàn đại diện nhất đứng ra thay mặt tập thể NLĐ tiến hành thương lượng với NSDLĐ, giám sát thực hiện thỏa ước Các nghiên cứu về các hình thái quan hệ lao động, vai trò của các bên có liên quan, và vị trí của Công đoàn Việt Nam, do vậy, cần tiếp tục được nghiên cứu nhằm bảo đảm NLĐ được hưởng lợi nhiều nhất của quá trình hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa mối quan hệ lao động
- Trung tâm Hỗ trợ quan hệ lao động - Bộ LĐTBXH (2015), Tiêu chuẩn
lao động quốc tế và hoàn thiện pháp luật lao động của Việt Nam, đăng tại:
lao-dong-cua-vn/ Mục đích chương trình nhằm nâng cao năng lực chuyên môn cho các cán bộ, công chức về các tiêu chuẩn lao động quốc tế và kỹ thuật soạn thảo trong quá trình nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện pháp luật lao động của Việt Nam Có các nội dung: (1) Các tiêu chuẩn của ILO, pháp luật lao động và quá trình hoàn thiện: Hệ thống tiêu chuẩn của ILO và việc áp dụng vào Việt Nam; Mục đích
http://quanhelaodong.gov.vn/tieu-chuan-lao-dong-quoc-te-va-hoan-thien-phap-luat-và tác động của luật lao động; Những thách thức của thị trường lao động http://quanhelaodong.gov.vn/tieu-chuan-lao-dong-quoc-te-va-hoan-thien-phap-luat-và định hướng chính sách của Việt Nam; Thiết kế một quy trình cải cách luật lao động hiệu
Trang 14quả; (2) Tự do liên kết, TLTT và giải quyết tranh chấp: Luật pháp Việt Nam về tự
do liên kết và TLTT; Các tiêu chuẩn của ILO về tự do liên kết, TLTT và việc áp dụng vào Việt Nam; Các biện pháp thúc đẩy TLTT; (3) TLTT, đình công và giải quyết tranh chấp: Luật pháp Việt Nam về đình công và giải quyết tranh chấp lao động tập thể; Tiêu chuẩn của ILO về đình công và giải quyết tranh chấp lao động tập thể; (4) Các quyền cơ bản: LĐCB, lao động trẻ em và không phân biệt đối xử:; Tiêu chuẩn của ILO về phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp; Tiêu chuẩn của ILO về lao động trẻ em; Tiêu chuẩn của ILO và LĐCB; (5) Quan hệ việc làm
và chấm dứt việc làm: Pháp luật Việt Nam về hợp đồng lao động; Các tiêu chuẩn của ILO và quan điểm so sánh giữa hợp đồng lao động và chấm dứt lao động
- ThS Phạm Thị Thu Lan (2016), Thúc đẩy các Tiêu chuẩn Lao động Quốc
tế ở Việt Nam: Yêu cầu của nội tại và hội nhập, đăng tại:
http://congdoan.vn/tin-yeu-cau-cua-noi-tai-va-hoi-nhap-125628 Tác giả bài viết nhấn mạnh: Tiêu chuẩn lao động quốc té là những tiêu chuẩn lao động tối thiểu được quốc tế công nhận, được chia thành ba nhóm:tiêu chuẩn cơ bản, tiêu chuẩn ưu tiên và tiêu chuẩn kỹ thuật;được ban hành dưới hình thức các Công ước và Khuyến nghị của ILO do chính các quốc gia thành viên ILO bao gồm các đối tác ba bên là chính phủ, tổ chức đại diện của người sử dụng lao động và tổ chức đại diện của người lao động tham gia xây dựng tại Hội nghị ILO (ILC) thường niên tại Giơ-ne-vơ, Thụy Sĩ Thúc đẩy TCLĐQT, đặc biệt là các tiêu chuẩn cơ bản của ILO chính là nghĩa vụ của Việt Nam với tư cách là thành viên của ILO kể từ khi Việt Nam tham gia trở lại ILO từ năm 1992 sau một thời gian gián đoạn Trong giai đoạn tới, tuân thủ TCLĐQT là yêu cầu bắt buộc đối với Việt Nam khi tham gia Hiệp định TPP và EVFTA, đòi hỏi Việt Nam nghĩa vụ tôn trọng, thúc đẩy và thực thi nếu muốn được hưởng lợi ích thương mại của các hiệp định này
tuc/nghien-cuu-trao-doi-524/thuc-day-cac-tieu-chuan-lao-dong-quoc-te-o-viet-nam ILO (2015), Rà soát pháp luật Việt Nam với các Tiêu chuẩn Lao động
Quốc tế Bài viết nêu rõ sau gần 30 năm chuyển đổi sang nền kinh tế định hướng thị
trường, thị trường lao động của Việt Nam đã trở nên phức tạp hơn Sở hữu doanh
Trang 15nghiệp, quan hệ lao động và quan hệ việc làm trở nên đa dạng hơn Do trong một nền kinh tế thị trường, lợi ích của NLĐ và người giữ vị trí quản lý có thể khác biệt
và đôi khi mâu thuẫn với nhau nên tranh chấp và đình công xảy ra Quan hệ lao động lành mạnh ở nơi làm việc đem lại lợi ích về mặt tăng hiệu quả, tăng năng suất, giảm xung đột và tranh chấp, cải thiện sự hài lòng với công việc và ra quyết định về những vấn đề cùng quan tâm đối với người quản lý và NLĐ Thúc đẩy quan hệ lao động lành mạnh tại nơi làm việc là một trong những nhiệm vụ cơ bản của ILO và được thể hiện trong Điều lệ của ILO và mục III (e) Tuyên bố Philadelphia Các tiêu chuẩn lao động quốc tế đưa ra những nguyên tắc định hướng về quan hệ lao động lành mạnh tại nơi làm việc
- TS Phạm Trọng Nghĩa (2009), Tác động của các tiêu chuẩn lao động
quốc tế cơ bản, đăng tại: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp Tác giả phân tích các
TCLĐQTCB được chia thành 22 nhóm khác nhau (2) Trong 22 nhóm tiêu chuẩn
đó, có những tiêu chuẩn được công nhận rộng rãi như: (i) gắn chặt với quyền của NLĐ; (ii) làm nền tảng cho việc bảo đảm, thực thi các tiêu chuẩn lao động quốc tế khác; (iii) mọi quốc gia thành viên của ILO phải tôn trọng và thúc đẩy thực hiện…việc thi hành các TCLĐQTCB là cơ sở để bảo vệ quyền và lợi ích của NLĐ cũng như của NSDLĐ, từ đó xây dựng hệ thống quan hệ lao động hài hòa, ổn định
từ cấp cá nhân đến cấp doanh nghiệp và cấp quốc gia Thực hiện các TCLĐQTCB làm tăng cường khả năng cạnh tranh của quốc gia trên cả phương diện thu hút FDI
và xuất khẩu Đồng thời, thực hiện các TCLĐQTCB, về lâu về dài, góp phần xây dựng lực lượng lao động chất lượng cao Lực lượng lao động có chất lượng là tài sản, là nguồn vốn quý giá nhất của mỗi quốc gia trong quá trình toàn cầu hóa
- Vụ Pháp chế - Bộ LĐTBXH (2004), Một số công ước quốc tế và khuyến
nghị của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) Cuốn sách đã nêu đầy đủ nội dung của
75 công ước, 5 Nghị định thư và 70 khuyến nghị của ILO đã cung cấp nội dung đầy
đủ các công ước, nghị định thư và khuyến nghị của ILO là một cẩm nang khá toàn diện và đầy đủ về việc tham gia và lộ trình tham gia của Việt Nam vào các công
Trang 16ước quốc tế
Trong bối cảnh như vậy, học viên lựa chọn đề tài "Các tiêu chuẩn lao động
quốc tế cơ bản và sự nội luật hóa trong pháp luật Việt Nam" làm Luận văn Thạc
sĩ của mình
3 Mục đích nghiên cứu
Tìm ra những điểm chưa tương thích của pháp luật Việt Nam so với pháp luật quốc tế trong quy định của các TCLĐQTCB Đồng thời chỉ ra những tồn tại, bất cập, hạn chế trong quá trình nội luật hóa các quy định trên Từ đó đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả nội luật hóa các TCLĐQTCB trên thực tiễn, góp phần đảm bảo hiện thực hóa các cam kết quốc tế của Việt Nam về các TCLĐQTCB với tư cách là một quốc gia thành viên của Tổ chức lao động quốc tế
4 Nội dung và phạm vi nghiên cứu
4.1 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm, vai trò, giá trị của các TCLĐQTCB trong bối cảnh toàn cầu hóa và mối quan hệ giữa quy định của tổ chức lao động quốc tế và TCLĐQTCB với pháp luật Việt Nam
- Sự điều chỉnh của pháp luật quốc tế đối với vấn đề lao động và sự ra đời của các tiêu chuẩn lao động quốc tế, nghiên cứu mục đích, vai trò, hình thức cơ bản
và đối tượng điều chỉnh của các tiêu chuẩn lao động quốc tế Phân tích các TCLĐQTCB, vai trò và nhu cầu xác định của TCLĐQTCB
- Thực trạng việc nội luật hóa các TCLĐQTCB vào Việt Nam
- Đề xuất và kiến nghi về xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn được đặt trong phạm vi những nội dung của bốn các TCLĐQTCB được ghi nhận tại tám công ước của Tổ chức lao động quốc tế về các nguyên tắc và quyền cơ bản tại nơi làm việc
Trang 175 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước và pháp luật, về quyền làm việc và quyền nghỉ ngơi của công dân; những luận điểm khoa học trong các công trình nghiên cứu và các bài viết đăng trên các tạp chí của một số nhà nghiên cứu pháp luật
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, tổng hợp, thống kê…
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn:
Đáp ứng mục đích, nhiệm vụ đề ra, Luận văn có những ý nghĩa khoa học cũng như thực tiễn sau:
- Thứ nhất, Luận văn nêu và phân tích đặc điểm, vai trò, giá trị của các TCLĐQTCB, phân tích các TCLĐQTCB, vai trò và nhu cầu xác định của TCLĐQTCB
- Thứ hai, Luận văn đánh giá thực trạng việc nội luật hóa các TCLĐQTCB vào Việt Nam Từ đó, đề xuất và kiến nghi về xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện
- Thứ ba, kết quả nghiên cứu của Luận văn là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách, pháp luật, các chuyên gia, nhà nghiên cứu và
sinh viên chuyên ngành luật
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề về tiêu chuẩn lao động quốc tế và tiêu chuẩn lao
động quốc tế cơ bản
Chương 2: Thực trạng việc nội luật hóa các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ
bản vào Việt Nam
Chương 3: Đề xuất và kiến nghị
Trang 18Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TIÊU CHUẨN LAO ĐỘNG QUỐC TẾ
VÀ TIÊU CHUẨN LAO ĐỘNG QUỐC TẾ CƠ BẢN
1.1 Tiêu chuẩn lao động quốc tế
1.1.1 Sự điều chỉnh của pháp luật quốc tế đối với vấn đề lao động và sự ra đời của các tiêu chuẩn lao động quốc tế
Vào những năm đầu của thế kỷ 19, những đòi hỏi đầu tiên về yêu cầu hợp tác ở cấp quốc tế để đưa ra các quy định về điều kiện lao động xuất hiện Tuy nhiên, các yêu cầu này không xuất phát từ chính những NLĐ, hay tổ chức đại diện của họ (công đoàn) - những người có quyền lợi trực tiếp đến điều kiện lao động - mà từ phía các chủ thể khác: Các bác sĩ, người quản giáo và chính các chủ sử dụng lao động Giải thích cho vấn đề này, Lammy Betten (1993) cho rằng "bởi vì trong giai đoạn này, NLĐ thì chưa đủ điều kiện để thực hiện còn tổ chức công đoàn thì mới được thành lập và đang phải tập trung vào việc đấu tranh để đảm bảo cho sự tồn tại của tổ chức của mình - do đó, việc đòi hỏi phải xây dựng các quy định về điều kiện lao động mang tính toàn cầu vượt ra khỏi phạm vi của họ"
Ban đầu, yêu cầu xây dựng luật lao động quốc tế căn cứ vào sự đòi hỏi mang tính nhân văn - đảm bảo điều kiện cho NLĐ Các bác sĩ, người quản giáo lo ngại về điều kiện sức khỏe của NLĐ, của tù nhân (vì phần lớn tù nhân trong giai đoạn này phải tham gia lao động); tiếp đó, vấn đề lao động nhận được sự quan tâm của giới chủ Đại diện tiêu biểu cho các quan điểm này có thể kể đến Robert Owen, một chủ xưởng ở Anh quốc, J.A Blanqui và Louis Rene - hai bác sĩ người Pháp và Edouard Ducpetieux - Thanh tra trại giam của Bỉ [11, tr 51-59] Owen cho rằng tất
cả các quốc gia cần phải bảo vệ tầng lớp lao động tránh khỏi các "nguyên nhân có thể đem lại sự bất hạnh, nghèo khổ trong xã hội loài người" Owen mơ ước một thế giới được xây dựng trên mô hình các cộng đồng giống như New Lanark quê hương
Trang 19ông - nơi điều kiện lao động được quan tâm và cải tiến, nơi đời sống của NLĐ được chăm lo Năm 1918, Owen gửi hai Bản ghi nhớ (Memorials) đến Hội nghị Châu Âu
tổ chức tại Aix - la - Chapelle, trong đó đề nghị Hội nghị lập một phái đoàn công tác đến thăm Lanark, xem xét mô hình của Lanark để "áp dụng trên toàn thế giới" Lời đề nghị của Owen không được chấp nhận Tuy nhiên, sau đó Anh quốc đã ban hành một đạo luật giới hạn thời giờ làm việc của trẻ em trong các nhà máy dệt cơ bản dựa trên các đề xuất của Owen - "đây là sự khởi đầu cho quá trình lập pháp về lao động của Anh quốc" [49, tr 2]
Các quan điểm của Owen được tiếp tục củng cố bởi Jacques Necker, một nhân viên ngân hàng tại Thụy Sĩ Necker không đòi hỏi phải xây dựng các quy định pháp luật lao động quốc tế nhưng đề xuất rằng "việc bảo vệ NLĐ cần phải là một câu hỏi cấp quốc tế" Mặc dù, mục đích của Owen cũng như các nhà tư tưởng trong giai đoạn này đều dựa trên các yêu cầu mang tính nhân nhân văn nhưng họ đã không phát hiện ra và dựa trên căn cứ rằng "các vấn đề xã hội đòi hỏi một giải pháp toàn cầu và thương mại tự do đã khiến các quốc gia lệ thuộc lẫn nhau" Nhưng chính những quan điểm này là động lực cho sự phát triển của các yêu cầu nâng cao điều kiện lao động, sự đòi hỏi phải xây dựng các quy định về điều kiện lao động ở cấp toàn cầu do các tổ chức của công nhân (công đoàn) trong các giai đoạn sau
Một nhóm quan điểm thứ hai yêu cầu phải xây dựng các quy định pháp luật lao động quốc tế đến từ những chủ sử dụng lao động với mục đích đảm bảo cạnh tranh công bằng - đảm bảo các doanh nghiệp có điều kiện để cạnh tranh bình đẳng với nhau trên phương diện yếu tố lao động Ở góc độ này, chính chủ sử dụng lao động là những người nhận thức được rằng việc tăng cường cải tiến điều kiện lao động về lâu về dài không thể gây bất lợi cho họ Mà ngược lại, sự suy yếu của lực lượng lao động, về lâu về dài, sẽ không đảm bảo cho lợi ích của chủ sử dụng lao động Nếu họ tăng cường điều kiện lao động, điều đó có nghĩa chi phí lao động trong sản phẩm sẽ tăng và giá cả của sản phẩm sẽ tăng Khả năng cạnh tranh của
họ sẽ bị ảnh hưởng nhưng về cơ bản lợi nhuận của họ trên một đơn vị sản phẩm sẽ
Trang 20không thay đổi Để làm được điều này cần phải có quy định pháp lý để đảm bảo các doanh nghiệp khác nhau phải chấp hành các quy định như nhau về điều kiện lao động Khi đó, yêu cầu xây dựng các quy định về lao động ban đầu được đặt ra
ở cấp quốc gia - để đảm bảo sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong nước với nhau Khi thương mại toàn cầu phát triển nhanh chóng, sự giao thương, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp không chỉ bó hẹp trong phạm vi quốc gia mà mở rộng ra trên toàn thế giới, kéo theo đó, các yếu tố lao động với tư cách là đầu vào của sản phẩm, là yếu tố có ảnh hưởng đến cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài Nếu như điều kiện lao động trong nước cao hơn - chi phí sản phẩm cao hơn - doanh nghiệp sẽ mất tình cạnh tranh Để tránh tình trạng này, các quốc gia khác nhau phải đồng thuận với nhau (ở một mức độ nhất định) việc cải tiến các điều kiện lao động Hay nói một cách khác để đảm bảo cho sự cạnh tranh công bằng các quy định về việc cải tiến điều kiện lao động cần được xác lập trên phạm vi toàn cầu
Đại diện tiêu biểu cho trường phái này có thể kể đến Daniel Legrand, một nhà công nghiệp ở vùng Alsace (Pháp) Trong suốt giai đoạn 1840 - 1850 Legrand
đã đưa ra quan điểm của mình rằng "các quy định pháp luật lao động quốc tế là con đường thực tế để vượt qua những khó khăn mà các nước công nghiệp gặp phải, nếu như họ đưa ra các biện pháp mang tính nhân văn để bảo vệ NLĐ của mình, từ sự cạnh tranh của nước ngoài" Theo quan điểm của Legrand vị trí cạnh tranh của các nước có điều kiện xã hội phát triển có thể bị hủy hoại Theo lý thuyết tự do cạnh tranh, trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo và thương mại tự do, việc giảm giờ làm việc và cấm lao động trẻ em sẽ làm tăng giá của sản phẩm nội địa Khi đó, các sản phẩm nước ngoài - nơi không có các quy định về lao động như vậy - có giá cả rẻ mạt hơn sẽ được nhập khẩu và điều này sẽ ảnh hưởng tới nền kinh tế trong nước Trong khi hàng rào bảo vệ chống lại ‘sự xâm lược" của hàng hóa rẻ mạt từ nước ngoài thông qua các phương tiện như thuế quan, hạn ngạch, hàng rào kỹ thuật đã,
Trang 21đang và sẽ không còn được chấp nhận thì việc xác lập một điều kiện tối thiểu chung
về lao động giữa các quốc gia là phương thức hợp lý nhất
Những tư tưởng lập pháp này dần được các tổ chức hiệp hội đón nhận và phát triển Những Hội nghị đầu tiên bàn về vấn đề luật lao động quốc tế được tổ chức tại Brusel (Bỉ) năm 1856 và Frankfurt (Đức) năm 1857 Tại Hội nghị ở Đức năm 1857, Hội nghị đã kêu gọi xây dựng các công ước quốc tế về điều kiện lao động
Cũng trong giai đoạn này, các tổ chức của NLĐ bắt đầu lớn mạnh và bắt đầu tăng cường áp lực và trọng lượng trong các yêu sách của mình Vào năm 1864, một Hội nghị để thành lập Hiệp hội lao động quốc tế (International Workers’ Association) được tổ chức Karl Mark chính là người dự thảo Hiến chương của tổ chức này, trong Hiến chương khẳng định rằng việc giải phóng NLĐ không chỉ là vấn đề của một địa phương hay của một quốc gia mà là vấn đề cần tất cả các quốc gia văn minh quan tâm Mark ủng hộ quan điểm ngày làm việc 8 giờ và ngăn cấm
việc sử dụng lao động chưa thành niên, lao động trẻ em [14]
Sau đó, hàng loạt các đề xuất nhằm thúc đẩy các quy định lao động quốc
tế được gửi đến Quốc hội Pháp, Đức và một số quốc gia châu Âu khác Hội nghị chính thức đầu tiên được tổ chức ở Thụy Sĩ, theo các đề xuất từ năm 1876 đến năm 1881 và sau khi tham khảo các quốc gia châu Âu khác, Thụy Sĩ tổ chức một Hội nghị ở Bern vào ngày 5/5/1890 để thảo luận về vấn đề xây dựng luật lao động quốc tế Tuy nhiên, nhà vua Đức - Wilhelm II - vì muốn tăng cường ảnh hưởng của mình đã tổ chức một hội nghị ở Berlin vào ngày 8/2/1890 cũng để bàn về nội dung tương tự Tại Hội nghị tổ chức ở Đức, chính phủ Đức đề xuất thành lập một nhóm gồm những cá nhân độc lập để giám sát việc thực hiện các quy định về cải thiện điều kiện lao động Và đề xuất này được chấp nhận Bên cạnh đó, hội nghị cũng đi đến thống nhất hàng loạt vấn đề mang tính chất nguyên tắc của luật quốc
tế "phản ánh mô hình của Châu Âu" như về tuổi tối thiểu của lao động trẻ em, thời giờ làm việc tối đa, cấm làm đêm đối với lao động trẻ em và lao động nữ, về thanh tra lao động
Trang 22Hai hội nghị tiếp theo được tổ chức vào năm 1897 tại Brusel (Bỉ) và Zuzich (Áo) Tại Hội nghị tổ chức ở Brusel, Hiệp hội quốc tế về bảo vệ pháp lý cho NLĐ (International Association for the Legal Protection of Workers) đã được thành lập Hiệp hội thành lập 2 nhóm công tác, một Nhóm về việc cấm sử dụng lao động nữ làm đêm và một về việc cấm sử dụng phốtpho trắng trong ngành công nghiệp sản xuất diêm Thông qua các hoạt động của mình Hiệp hội đã dự thảo hai công ước quốc tế và trình ra Hội nghị được tổ chức tại Bern (Thụy Sĩ) năm 1905 để xem xét Năm 1906, Hội nghị lần thứ hai lại được tổ chức tại Bern và đã thông qua hai công
ước này - đây là những công ước quốc tế đầu tiên chứa đựng các tiêu chuẩn lao
động quốc tế Hai công ước này có hiệu lực từ năm 1912 Sau đó, chính phủ Thụy
Sĩ đề xuất tổ chức nhiều hội nghị để xem xét nhiều nội dung khác nhau liên quan tới điều kiện lao động nhưng mọi hoạt động tiếp theo bị gián đoạn vì tháng 8/1914 chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ
Trong suốt giai đoạn chiến tranh thế giới lần I, tổ chức công đoàn của hai phía tham chiến (đồng minh và phát xít) cũng như tổ chức công đoàn của các quốc gia trung lập luôn mong muốn đưa ra quan điểm của mình khi bàn thảo về vân đề hòa bình, và họ đề xuất đưa vào trong Hiệp ước hòa bình các quy định về điều kiện lao động Hàng loạt các Hội nghị của NLĐ thể hiện cùng quan điểm được tổ chức ở nhiều nơi như ở Leeds năm 1916, ở Stockholm năm 1917, ở London năm 1918 và ở Berlin các năm 1917, 1918 Để đáp lại yêu cầu này, các chính phủ liên minh, đặc biệt là Anh quốc và Pháp đã đề xuất trong dự thảo Hiệp ước hòa bình (Peace Treaty), có chứa đựng các nội dung về điều kiện lao động Hội nghị hòa bình đã thành lập Ủy ban đặc biệt về vấn đề này gọi là Ủy ban về Luật lao động quốc tế (Commission on International Labour Legislation) [11, tr 51-59]
Qua quá trình nghiên cứu, các thành viên Ủy ban nhận định "hòa bình chỉ
có thể được thiết lập dựa trên công bằng xã hội Trong khi đó điều kiện lao động hiện nay, với những đặc điểm như bất công, nặng nhọc và khổ hạnh có liên quan đến một số lượng lớn NLĐ sẽ tạo ra sự nguy hiểm cho hòa bình và ổn định của thế
Trang 23giới Sự thất bại của bất cứ quốc gia nào trong việc thông qua các điều kiện lao động mang tính nhân văn sẽ là trở ngại cho các quốc gia khác trong việc cải thiện điều kiện lao động ở nước mình" - điều này được ghi nhận trong Hiệp ước hoà bình (Hiệp ước hoà bình được ký ngày 28/6/1919 tại Versailles (Pháp) (có tài liệu gọi là Hoà ước Versailles) giữa bên Đồng minh và phát xít để chấm dứt Chiến tranh thế giới thứ nhất Hiệp ước gồm 440 điều chia thành 16 phần Xem thêm Lời nói đầu phần XIII Hiệp ước hoà bình) Như vậy, để đảm bảo hòa bình thế giới cần phải đảm bảo công bằng xã hội, để đảm bảo công bằng xã hội thì một trong những điều kiện tiên quyết là phải đảm bảo và cải thiện điều kiện lao động, để cải thiện điều kiện lao động phải có được các quy định về điều kiện lao động ở cấp độ quốc tế
Kết quả hoạt động của Ủy ban này đã dẫn đến việc trong nội dung Hiệp ước Hòa bình có phần thứ XIII về vấn đề lao động - phần này gồm 12 điều (từ Điều 387 đến Điều 399) Điều 387, 388 của Hiệp ước hòa bình quy định việc thành lập một tổ chức hoạt động dựa trên hai thiết chế: Hội nghị đại biểu các quốc gia thành viên và Văn phòng lao động quốc tế thuộc Hội quốc liên (League of Nations) - Đây chính là
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) Với chức năng chính là thông qua các Công ước và khuyến nghị về vấn đề lao động - nguồn cơ bản của luật lao động quốc tế, sự ra đời của ILO đã đưa luật lao động quốc tế nói chung và các Công ước quốc tế về lao động lên một bước phát triển mới
Tập hợp các tiêu chuẩn lao động quốc tế tạo nên thống pháp luật lao động quốc tế Có nhiều cách tiếp cận khác nhau để đưa ra khái niệm luật lao động quốc tế: Tiếp cận từ khái cạnh nội dung dựa trên các quyền lao động cơ bản hay tiếp cận
từ khái cạnh nguồn luật Tuy nhiên, dù ở cách tiếp cận nào, khái niệm về Luật lao động quốc tế nhận được sự đồng thuận cao giữa các học giả Valticos (1995) cho rằng "Luật lao động quốc tế được hiểu trong bối cảnh hiện nay là một bộ phận của luật lao động có nguồn quốc tế Do đó, nó bao gồm các nguyên tắc pháp luật cơ bản được xây dựng ở cấp quốc tế cũng như các nguyên tắc về trình tự, thủ tục liên quan đến việc thông qua và thực hiện chúng" Hay "Luật lao động quốc tế bao gồm cả
Trang 24các nguyên tắc pháp lý được thiết lập ở cấp quốc tế và các quy định về trình tự, thủ tục liên quan đến việc thông qua và thực hiện chúng"
Theo quan điểm của ILO, luật lao động quốc tế là một bộ phận/loại của luật quốc tế Luật quốc tế là các nguyên tắc pháp lý áp dụng giữa các quốc gia có chủ quyền và các thực thể khác được các quốc gia có chủ quyền chấp nhận Giống như luật quốc tế, luật lao động quốc tế chứa đựng các nguyên tắc xử xử chung Nhưng khác với những nguyên tắc đạo đức, các nguyên tắc của luật lao động quốc tế được đảm bảo thực hiện bằng cơ quan tài phán độc lập
Cũng theo quan điểm của ILO, luật lao động quốc tế là một bộ phận của công pháp quốc tế được sử dụng để áp dụng để giải quyết mối quan hệ giữa các quốc gia Điều này cho phép phân biệt luât lao động quốc tế với phần lao động trong tư pháp quốc tế Luật lao động quốc tế cũng khác với luật lao động của quốc gia Trong khi luật lao động quốc gia áp dụng đối với các chủ thể thuộc phạm vi tài phán của quốc gia thì luật lao động quốc tế áp dụng với các quốc gia và các chủ thể
có năng lực pháp luật quốc tế
Việc thực hiện các tiêu chuẩn lao động quốc tế được giám sát thông qua các hình thức cơ bản như:
- Giám sát thông quá các bản báo cáo định kỳ: Phần lớn các báo cáo quốc gia về việc thực hiện các Công ước của ILO đều được Ủy ban chuyên gia về áp dụng công ước và khuyến nghị xem xét Ủy ban sẽ đưa ra lời bình luận, đánh giá về nội dung báo cáo, có thể yêu cầu chính phủ báo cáo cung cấp thêm thông tin và cũng có thể tiến hành các cuộc khảo sát thực tế nếu thấy cần thiết;
- Giám sát thông qua việc điều tra các khiếu nại: Theo quy định của Hiến chương ILO có hai khả năng khiếu nại xảy ra: Điều 24 Hiến chương cho phép đại diện giới chủ hoặc giới thợ của quốc gia thành viên có quyền khiếu nại khi cho rằng chính phủ của họ đã không thực hiện đúng nội dung công ước đã cam kết Điều 26 Hiến chương cho phép một chính phủ thành viên có thể kiện chính phủ thành viên khác về việc áp dụng công ước mà cả hai nước đã phê chuẩn;
Trang 25- Ngoài ra, còn có giám sát thông qua cơ chế đặc biệt trong lĩnh vực quyền
tự do hiệp hội
1.1.2 Mục đích và vai trò của các tiêu chuẩn lao động quốc tế
Nghiên cứu quá trình ra đời và sự phát triển của các tiêu chuẩn lao động quốc tế có thể nhận thấy các tiêu chuẩn lao động quốc tế là nguồn cơ bản của Luật lao động quốc tế và có các mục đích cũng như vai trò cơ bản như sau:
- Các tiêu chuẩn lao động quốc tế đảm bảo cạnh tranh công bằng Như đã phân tích ở trên, một trong nhưng tư tưởng nền tảng cho việc xây dựng luật lao động quốc tế đó là để đảm bảo sự bình đẳng về mặt lập pháp giữa các doanh nghiệp khác nhau ở những nước khác nhau về điều kiện lao động - đảm bảo cạnh tranh công bằng Bên cạnh đó, luật lao động quốc tế ra đời để bảo vệ NLĐ tránh khỏi tình trạng bị bóc lột do giới chủ muốn tăng khả năng cạnh tranh của mình trên thị trường quốc tế
- Các tiêu chuẩn lao động quốc tế góp phần đảm bảo hòa bình thế giới Hiệp ước Hòa bình đã khẳng định "hòa bình chỉ có thể được thiết lập dựa trên công bằng xã hội, và các hành động chống lại sự bất công trong xã hội chính là nguyên nhân, là nền tảng cho hòa bình" Thực tiễn cho thấy với việc mở rộng và củng cố quyền của NLĐ, trong đó có quyền của công đoàn, luật lao động quốc tế đã thúc đẩy các tiết chế dân chủ, chính các thiết chế dân chủ này là nhân tố làm cho các quốc gia trở nên "hòa bình" hơn trong khi đưa ra các chính sách và quyết định của mình Hòa bình trong một quốc gia có liên quan đến hòa bình thế giới vì nếu trong nước có xung đột thì áp lực trong nước có thể dẫn đến ảnh hưởng đối với bên ngoài Luật lao động quốc tế với chức năng tăng cường và củng cố điều kiện lao động đã phát huy một nhận thức chung về đoàn kết trên phạm vi toàn cầu cũng như thúc đẩy môi trường hợp tác giữa các quốc gia khác nhau, xuyên qua các nền văn hóa tôn giáo
và địa chính trị khác nhau Năm 1969 ILO được nhận giải Nobel hòa bình, chính giải
Trang 26thưởng cao quý này là minh chứng cho mối liên hệ cũng như vai trò của các quy định
về điều kiện lao động (nội dung của luật lao động quốc tế) đối với hòa bình thế giới
- Các tiêu chuẩn lao động quốc tế góp phần đảm bảo công bằng xã hội Công bằng xã hội chính là ẩn ý phía sau của ý tưởng xây dựng luật lao động quốc
tế Ngay trong lời nói đầu của Hiến chương ILO đã khẳng định điều này [51] Cùng
với quá trình phát triển của luật lao động quốc tế các điều kiện lao động và điều kiện sống của NLĐ ở nhiều quốc gia trên thế giới đã được cải thiện Tuy nhiên, vẫn còn nhiều quốc gia nơi mà điều kiện lao động không được đảm bảo, nơi mà cuộc sống của NLĐ luôn bị đe dọa bở sự mất an toàn, nguy cơ thất nghiệp, nơi mà dịch
vụ y tế và giáo dục tốt là những thứ đồ trang sức xa xỉ vượt ra khỏi khả năng tiếp cận của những NLĐ nghèo Mặc dù vậy, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ sự biến đổi nhanh chóng của xã hội, bản chất của "công bằng xã hội" không chỉ được xem xét trong phạm vi "xóa bỏ những gì bất công và bảo vệ những người yếu thế" như trước kia nữa nữa vì ngày càng có nhiều nhu cầu cần được tự do hơn, cần có công bằng hơn, cần được tham gia vào việc quản lý xã hội nhiều hơn cũng như cần có chất lượng cuộc sống tốt hơn và cần có điều kiện lao động tốt và bền vững hơn Chính Albert Thomas - Tổng thư ký đầu tiên của ILO - đã từng khẳng định "công bằng xã hội không chỉ là xóa bỏ bất công Mà nó còn dược hiểu là một chính sách mà thông qua đó các cá nhân có thể đạt được quyền chính trị, quyền kinh
tế và quyền về đạo đức" [58, tr 242] Trong bối cảnh ngày nay, công bằng xã hội không chỉ là việc cộng đồng thế giới có trách nhiệm trong việc duy trì hòa bình và mối quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia mà còn phải có các đóng góp tích cực cho
an sinh của nhân loại
- Các tiêu chuẩn lao động quốc tế tạo điều kiện lồng ghép các vấn đề xã hội và nhân văn vào trong các mục tiêu phát triển Thực tế cho thấy tăng trưởng kinh tế không tự nhiên đảm bảo sự phát triển của xã hội Ngày từ năm 1930, Abert Thomas đã khẳng định các yếu tố xã hội cần phải đặt lên trước các yếu tố kinh tế
Do đó, cần phải đưa các mục tiêu xã hội vào trong các các chính sách phát triển
Trang 27kinh tế Trong tuyến bố Philadenphia năm 1944, ILO đã chỉ rõ rằng tất cả các chính sách và giải pháp của quốc gia và quốc tế - đặc biệt là các chính sách, giải pháp có liên quan đến kinh tế, tài chính - cần được xem xét, đánh giá dưới tiêu chí mục tiêu phát triển xã hội Từ đó, các thành viên của ILO đều phải cân nhắc đến mục tiêu xã hội trong các chủ trương, chính sách của mình Như vậy bằng các tiêu chuẩn lao động của mình, luật lao động quốc tế đã tạo ra một sự quan tâm chung của các quốc gia và các tổ chức khác nhau về mục tiêu xã hội trong các chính sách kinh tế
- Các tiêu chuẩn lao động quốc tế thúc đẩy sự dịch chuyển lao động trên phạm vi toàn cầu Trong xã hội hiện đại, cùng với sự phát triển của thương mại tự
do, phân công lao động diễn ra trên phạm vi toàn cầu Song song với hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa thông thường, sự dịch chuyển của lao động (chủ thể sở hữu hàng hóa đặc biệt - sức lao động) cũng là điều tất yếu xảy ra Ngay từ giai đoạn đầu, mục tiêu của luật lao động quốc tế đó là đưa ra các quy định mang tính quốc tế Những quy định này có liên quan rất nhiều đến những NLĐ di cư - những người dịch chuyển từ sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia này sang sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia khác Nếu như có sự khác biệt rất lớn về mặt pháp luật giữa quốc gia nơi đi và quốc gia nơi đến thi sự dịch chuyển của NLĐ sẽ trở nên rất khó khăn Bằng việc xây dựng một "mặt bằng chung" về mặt pháp luật, luật lao động quốc tế thúc đẩy quá trình dịch chuyển lao động được thực hiện một cách dễ dàng, thuận tiện hơn NLĐ di cư, không phải lo lắng về sự bảo vệ đối với họ tại quốc gia nơi đến sẽ bị ảnh hưởng bởi các quy định pháp luật "nghèo nàn" ở đây nữa vì họ sẽ được bảo vệ bởi các quy phạm tiên tiến hơn quy định trong luật lao động quốc tế
- Các tiêu chuẩn lao động quốc tế góp phần củng cố pháp luật của quốc gia Ngay cả khi pháp luật quốc gia đã đạt đến một mức độ phát triển nhất định, thì việc phê chuẩn các công ước lao động quốc tế vẫn là cần thiết dù rằng các tiêu chuẩn lao động trong các công ước này thấp hơn pháp luật quốc gia bởi vì mọi việc
có thể thay đổi theo thời gian, đến một giai đoạn nào đó, khi quốc gia gặp khủng hoảng họ có thể sửa đổi pháp luật trong nước theo hướng làm giảm các điều kiện
Trang 28lao động xuống Nếu như quốc gia này đã ký công ước quốc tế về điều kiện lao động thì họ chỉ có thể giảm đến mức tối thiểu là bằng tiêu chuẩn đã được quy định trong công ước đã ký hoặc nếu vẫn muốn giảm hơn nữa quốc gia phải làm thủ tục rút ra khỏi công ước (điều này kéo theo nhiều thủ tục và đặc biệt là dẫn đến sự quan tâm, sự tác động, sự gây áp lực từ phía cộng đồng quốc tế lên quốc gia - có thể gây trở ngại cho việc quốc gia ban hành quy định làm giảm điều kiện lao động) Ngược lại, nếu như quốc gia chưa ký công ước thì họ có thể giảm điều kiện lao động xuống rất thấp Như vậy, bằng các quy đinh của mình luật lao động quốc tế có chức năng phòng ngừa và hạn chế các quốc gia đưa ra các quy định về lao động trong đó làm giảm đi điều kiện lao động tại quốc gia mình
Các tiêu chuẩn lao động quốc tế là động lực cho quá trình lập pháp của quốc gia Bên cạnh việc chứa đựng các quy định mang tính bắt buộc chung, luật lao động quốc tế còn có thể được xem xét như là các nguyên tắc định hướng cho các nhà lập pháp quốc gia Các quy định của pháp luật lao động quốc tế có thể là cơ sở cho NLĐ đòi hỏi quyền lợi của mình, đồng thời luật lao động quốc tế cũng có thể được sử dụng như là cẩm nang quản lý, sử dụng lao động đối với chủ sử dụng lao động Từ đó nhiều quy định điều chỉnh vấn đề lao động, xã hội của quốc gia được ban hành, sửa đổi hay bãi bỏ Landy (1970) cho rằng những sự thay đổi trong chính sách xã hội của nhiều quốc gia khác nhau đã làm sáng lên vai trò của các tiêu chuẩn lao động quốc tế
1.1.3 Hình thức cơ bản của các tiêu chuẩn lao động quốc tế
Các tiêu chuẩn lao động quốc tế được chứa đựng dưới nhiều hình thức đa dạng và được phân ra thành các loại như có thể là đa phương, có thể là song phương; được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: Công ước, hiệp ước, nghị định thư, khuyến nghị…; Tập quán quốc tế; Các án lệ…
Trong lĩnh vực luật lao động quốc tế, các nguồn của tiêu chuẩn lao động quốc tế còn có thể được xem xét dưới góc độ chủ thể ban hành như sau:
Trang 29- Các nguồn của ILO: ILO là tổ chức có vai trò quan trọng nhất và là chủ thể ban hành nhiều quy phạm nhất về luật lao động quốc tế Các nguồn luật lao động quốc tế từ ILO gồm:
+ Hiến chương ILO: Hiến chương này là một phần trong Hiệp ước hòa bình, sau đó được bổ sung bằng Tuyên bố Philadenphia năm 1944 (Tuyên bố Philadenphia được thông qua vào tháng 5/1944 liên quan đến mục tiêu và mục đích của ILO, vào năm 1946 Tuyên bố này được hợp nhất vào Hiến chương ILO) Hiến chương ILO chứa đựng những quy phạm điều chỉnh việc tổ chức và chức năng của ILO, các nguyên tắc chung liên quan đến vấn đề lao động
+ Các công ước và khuyến nghị: Tính đến nay ILO đã thông qua 190 Công ước và 206 Khuyến nghị [64]
+ Tuyên bố về các quyền và các nguyên tắc cơ bản: Năm 1998, ILO ban hành Tuyên bố về các quyền và nguyên tắc cơ bản tại nơi làm việc Đây là sự pháp điển hoá các quyền con người nêu trong Hiến chương ILO, gồm các vấn đề như quyền tự do hiệp hội và TLTT; LĐCB; lao động trẻ em; chống phân biệt đối xử
- Nguồn của Liên hiệp quốc: Nguồn cơ bản của của luật lao động quốc tế đến từ Liên hiệp quốc có thể kể đến như: Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948; Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966; Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa năm 1966; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc năm 1965; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ năm 1979; Công ước quốc tề vè quyền trẻ em năm 1989; Công ước
về việc bảo vệ quyền của tất cả lao động di cư và thành viên gia đình họ năm 1990
- Các nguồn khu vực: Hầu hết các khu vực trên thế giới đều có các công ước về vấn đề lao động Ở châu Âu, ngay từ năm 1950, trong Công ước châu Âu về nhân quyền đã có các quy định cấm LĐCB cũng như các quy định về quyền công đoàn Hiến chương xã hội châu Âu được ký năm 1961 Sau đó, năm 1989, Liên minh châu Âu thông qua Hiến chương về các quyền xã hội cơ bản cho NLĐ và năm
1991, Nghị định thư về chính sách xã hội được thông qua Bên cạnh các điều ước
Trang 30quốc tế, ở châu Âu còn có các quy định, các hướng dẫn và các quyết định của Ủy ban châu Âu về vấn đề lao động cũng là nguồn của luật lao động Ở châu Mỹ, năm
1969 Công ước châu Mỹ về nhân quyền được thông qua, trong đó cũng có các điều khoản cấm cưỡng bức lao động và các quy định về quyền lập hội Vào tháng 11/1988, một Nghị định thư liên quan đến Công ước trên tập trung vào các vấn đề
về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa được thông qua, trong đó có các quy định về quyền làm việc, điều kiện làm việc, quyền công đoàn… Ở các khu vực khác như châu Phi, châu Á cũng có các công ước về các vấn đề kinh tế - xã hội nói chung trong đó có các điều khoản về lao động Như Hiến chương châu Phi về con người
và quyền con người năm 1981 Tuyên bố của Asean về chống buôn bán người đặc biệt là phụ nữ và trẻ em Năm 1967, ở khu vực Trung đông, Liên đoàn Arập đã thông qua Công ước Arập về lao động
1.1.4 Đối tượng điều chỉnh của các tiêu chuẩn lao động quốc tế
Phạm vi bao phủ của các tiêu chuẩn lao động quốc tế rất rộng, và có nhiều cách thức khác nhau để phân chia nội dung của các tiêu chuẩn lao động quốc tế Có thể phân loại nội dung các tiêu chuẩn lao động quốc tế theo nhóm các quy định cơ bản và các quy định bổ sung; hay phân loại theo nhóm các quy định mang tính thúc đẩy, định hướng chính sách và các quy định mang tính nghĩa vụ cụ thể Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu này, hệ thống các tiêu chuẩn lao động quốc tế được phân theo các chế định theo đó các công ước và khuyến nghị của ILO làm nền tảng Theo cách phân chia này, luật lao động quốc tế có 16 chế định cơ bản như sau (theo ILO
- Chế định về tự do hiệp hội và bảo vệ quyền thành lập tổ chức: Với các văn bản như các Công ước số 87, 98, 135, 141, 151, 154 và các Khuyến nghị số 143,
149, 159, 163 của ILO;
- Chế định về LĐCB: Với các văn bản như các Công ước số 29, 155 và các Khuyến nghị số 35, 36 của ILO;
Trang 31- Chế định về chống phân biệt đối xử trong công việc: Với các văn bản như Công ước số100, 111 và Khuyến nghị số 90, 165 của ILO;
- Chế định về lao động trẻ em với các văn bản như Công ước số 5, 138, 182
và Khuyến nghị số 146, 190 của ILO;
- Chế định về thuê mướn lao động với các văn bản như Công ước số 88, 96,
159 và Khuyến nghị số 122, 169, 189 của ILO;
- Chế định về tiền lương với các văn bản như Công ước số 131, 173 và Khuyến nghị số 135, 180 của ILO;
- Chế định về điều kiện làm việc chung với các Công ước số 1, 14, 47, 52,
140, 171 và Khuyến nghị 98, 116, 148, 178 của ILO;
- Chế định về an toàn vệ sinh lao động với các Công ước số 155, 161, 181,
184 và các Khuyến nghị số 164, 171, 181 của ILO;
- Chế định về an sinh xã hội với các Công ước số 102, 121, 128, 130, 168,
183 và Khuyến nghị 167 của ILO;
- Chế định về chính sách xã hội với Công ước số 117 của ILO;
- Chế định về quan hệ công nghiệp với Công ước số 158 và Khuyến nghị
số 119, 166 của ILO;
- Chế định về sử dụng lao động nữ với các Công ước số 3, 45, 103, 183 của ILO;
- Chế định về lao động cao tuổi với Khuyến nghị số 162 của ILO;
- Chế định về lao động di cư với các Công ước 97, 143 của ILO;
- Chế định về các loại lao động đặc thù với các Công ước 11, 12, 110, 147,
149, 169, 175 và các Khuyến nghị 110, 132, 157, 182 của ILO;
- Chế định về quản lý nhà nước về lao động với các Công ước 81, 150, 160,
144 và các Khuyến nghị 152, 158, 170… của ILO
1.2 Các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản
Như đã phân tích ở trên, phạm vi điều chỉnh của các tiêu chuẩn lao động quốc tế là rất rộng Trong số này, có những tiêu chuẩn lao động quốc tế được coi là
Trang 32TCLĐQTCB, có những tiêu chuẩn lao động quốc tế được coi là tiêu chuẩn lao động quốc tế ưu tiên áp dụng
1.2.1 Nhu cầu xác định các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản
Toàn cầu hóa có ảnh hưởng mạnh mẽ đến vấn đề lao động cũng như đến pháp luật lao động Chính những ảnh hưởng này đã dẫn đến nhiều quan điểm khác nhau về vai trò của các tiêu chuẩn lao động quốc tế, cũng như xác định như thế nào
là TCLĐQTCB Các quan điểm này bắt đầu xuất hiện từ khi cuộc chiến tranh lạnh chấm dứt Khi đó, cuộc đối đầu giữa hai hệ chính trị khác nhau được thay thế bằng cuộc chiến giữa những người ủng hộ toàn cầu hóa tự do hoàn toàn với đặc trưng là
tự do thương mại, tự do đầu tư, quyền sở hữu trí tuệ và một bên là những người ủng
hộ việc lập ra các quy định toàn cầu để bảo vệ NLĐ cũng như bảo vệ môi trường trước những ảnh hưởng tiêu cực của quá trình toàn cầu hóa
Những người theo quan điểm thứ nhất phủ nhận vai trò của ILO trong quá trình toàn cầu hóa Họ cho rằng ILO có cách tiếp cận không lạc quan đối với quá trình toàn cầu hóa Theo quan điểm của họ, thay vì thúc đẩy phát triển kinh tế để có thể đem lại lợi ích cho mọi người, ILO vẫn duy trì cách thức tiếp cận cũ, cách thức lập quy theo lối suy nghĩ của thế kỷ trước mà không thể hiện vai trò tích cực trong việc tiếp cận các cơ hội cũng như thách thức mới của nền kinh tế trong quá trình toàn cầu hóa [11, tr 51-59] Những người theo quan điểm này, căn cứ vào chủ thuyết thương mại tự do (neo-liberal), họ coi các tiêu chuẩn lao động là rào cản đối với thị trường, và theo họ, điều kiện lao động sẽ được cải thiện từ quá trình phát triển kinh
tế, và tất cả mọi người (trong đó tất nhiên có NLĐ) sẽ được hưởng lợi từ quá trình toàn cầu hóa Quan điểm này cho rằng, nếu như các tiêu chuẩn lao động được sử dụng để điều chỉnh những khuyết tật của thị trường lao động ở các quốc gia khác nhau, thì không có lý do gì để xây dựng các tiêu chuẩn lao động ở cấp độ quốc tế Nhóm quan điểm này đi đến kết luận rằng, việc xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn lao động quốc tế là không cần thiết và vai trò của ILO là không cần thiết [13, tr 46-55]
Trang 33Quan điểm thứ hai đến từ những người theo trường phái thương mại công bằng (fair-trade); những tổ chức dân sự và nhóm những nhà hoạt động về quyền của NLĐ Những người theo quan điểm này cho rằng bên cạnh những mặt tích cực, toàn cầu hóa cũng bộc lộ những mặt tiêu cực của mình Trong quá trình toàn cầu hóa, nhiều vẫn đề lao động bức xúc vẫn xảy ra Tình trạng lao động trẻ em, LĐCB, bóc lột, tình trạng phân biệt đối xử trong lao động, điều kiện lao động tồi tàn, NLĐ bị bóc lột vẫn diễn ra nhiều và có xu hướng phức tạp hơn Họ khẳng định rằng, trong bối cảnh toàn cầu hóa, các tiêu chuẩn lao động quốc tế càng đóng vai trò quan trọng hơn bao giờ hết Tuy nhiên, những người theo quan điểm này cho rằng ILO đã thất bại trong việc đảm bảo thi hành các tiêu chuẩn do chính mình ban hành và việc vi phạm các tiêu chuẩn lao động quốc tế vẫn là phổ biến Phương pháp đảm bảo thi hành các tiêu chuẩn lao động quốc tế của ILO dựa trên việc thuyết phục là chính cho nên không hiệu quả Từ đó, họ đề xuất đưa các tiêu chuẩn lao động quốc tế vào trong các hiệp định thương mại và sử dụng chế tài thương mại đối với những quốc gia vi phạm pháp luật lao động quốc tế [13, tr 46-55]
Qua nhiều tranh luận gay gắt, nhóm quan điểm thứ hai chiếm ưu thế hơn và vấn đề tiêu chuẩn lao động đã được đưa vào Chương trình nghị sự của Hội nghị Bộ trưởng WTO, tổ chức tại Singapore vào năm 1996 Về vấn đề tiêu chuẩn lao động, Hội nghị đi đến nhất trí rằng các tiêu chuẩn lao động quốc tế là cần thiết trong bối cảnh toàn cầu hóa, và cần phải xác định đâu là các TCLĐQTCB để áp dụng trên phạm vi toàn cầu Đối với đề xuất đưa các tiêu chuẩn lao động vào trong khuôn khổ WTO, có hai luồng ý kiến trái chiều nhau diễn ra tại Hội nghị Các đại biểu đến từ các nước phát triển ủng hộ đề xuất đưa các tiêu chuẩn lao động và trong khuôn khổ WTO, đồng thời sử dụng chế tài thương mại đối với những quốc gia vi phạm các tiêu chuẩn lao động đó Nhưng ý kiến này bị phản đối kịch liệt bởi các đại biểu đến
từ những nước đang phát triển, những đại biểu này cho rằng việc đưa các quy định
về tiêu chuẩn lao động vào trong khuôn khổ WTO chính là sự ngụy trang của chủ nghĩa bảo hộ, thể hiện sự lo lắng của các nước phát triển đối với sự thành công trong
Trang 34hoạt động xuất khẩu của các nước đang phát triển Cuối cùng, Hội nghị bác bỏ đề xuất đưa các TCLĐQTCB vào trong khuân khổ WTO Đồng thời, Hội nghị cũng khẳng định ILO là tổ chức phù hợp để giải quyết các vấn đề lao động ở phạm vi toàn cầu
Ngày 18 tháng 6 năm 1998, ILO thông qua Tuyên bố về các Nguyên tắc cơ bản và các Quyền tại nơi làm việc (Declaration on Fundamental Principles and Rights at Work) [63] Tuyên bố của ILO khẳng định 4 nhóm TCLĐQTCB gồm:
- Tự do hiệp hội và quyền thương lượng tập thể;
- Xóa bỏ mọi hình thức LĐCB và lao động bắt buộc;
- Xóa bỏ có hiệu quả lao động trẻ em;
- Xóa bỏ phân biệt đối xử trong công việc
Những TCLĐQTCB nêu trên được quy định trong 8 Công ước của ILO, gồm:
1 Công ước số 87 về tự do hiệp hội và bảo vệ quyền tổ chức năm 1948;
2 Công ước số 98 về quyền tổ chức và thương lượng tập thể năm 1949;
3 Công ước số 29 về xóa bỏ LĐCB năm 1930;
4 Công ước số 105 về xóa bỏ LĐCB năm 1957;
5 Công ước số 100 về trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động
nữ năm 1951;
6 Công ước số 111 về chống phân biệt đối xử trong công việc năm 1958;
7 Công ước số 138 về độ tuổi tối thiểu năm 1973; và
8 Công ước số 182 về xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất năm 1999
1.2.2 Tại sao những tiêu chuẩn lao động quốc tế nêu trên lại là tiêu chuẩn lao động quốc tế "cơ bản"?
Thứ nhất, các TCLĐQTCB gắn chặt với những quyền cơ bản của con người,
của NLĐ Những quyền này đều được ghi nhận và quy định trong Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền chính trị và dân
sự năm 1966 Cụ thể như sau:
Trang 35- Vấn đề quyền tự do hiệp hội và thương lượng tập thể được quy định tại Điều 23(4) của Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền năm 1948 con người và Điều 8(1) của Công ước quốc tế về các quyền chính trị và dân sự năm 1966;
- Vấn đề xóa bỏ LĐCB và lao động bắt buộc được quy định tại Điều 4 và Điều 5 của Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền năm 1948;
- Vấn đề lao động trẻ em được quy định tại Điều 25(2) của Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền năm 1948;
- Vấn đề xóa bỏ phân biệt đối xử trong công việc được quy định tại Điều 23 (1, 2, 3) của Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền năm 1948 và được quy định tại Điều 7 Công ước quốc tế về các quyền chính trị và dân sự năm 1966
Thứ hai, các TCLĐQTCB đóng vai trò quan trọng cho sự hoạt động có hiệu
quả của nền kinh tế thị trường Các tiêu chuẩn này chứa đựng các nguyên tắc điều chỉnh
sự vận hành của thị trường lao động, chúng tương thích với nguyên tắc bảo vệ quyền
sở hữu tài sản và nguyên tắc tự do giao dịch trong nền kinh tế thị trường [50, tr 11] Ngoài ra, các tiêu chuẩn lao động nêu trên, đặc biệt là tiêu chuẩn về tự do hiệp hội
và quyền thương lượng tập thể, khi được thi hành sẽ tạo ra cơ sở pháp lý cho NLĐ
và NSDLĐ thiết lập, duy trì và củng cố các tiêu chuẩn lao động khác trong quan hệ lao động Ví dụ, đại diện của NLĐ và NSDLĐ có thể thương lượng về tiền lương, thời gian làm thêm, thời gian nghỉ phép năm Đây chính là nền tảng cho sự vận hành của thị trường lao động
Thứ ba, việc thi hành các TCLĐQTCB không làm tăng chi phí xã hội
Trong hệ thống các tiêu chuẩn lao động quốc tế, có nhưng tiêu chuẩn được gọi là tiêu chuẩn "cash standards" [50, tr 13] (phân biệt với "core standards"), ví dụ như tiêu chuẩn về tiền lương tối thiểu, về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, về bảo hiểm xã hội… Việc thi hành những tiêu chuẩn này sẽ phát sinh chi phí cho NSDLĐ,
do vậy, việc thi hành chúng phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia khác nhau Ngược lại, việc thi hành các TCLĐQTCB, về cơ bản, không
Trang 36làm phát sinh chi phí, không làm tăng giá thành lao động và không làm ảnh hưởng đến NSDLĐ
Thứ tư, các TCLĐQTCB có tính bắt buộc chung Đối với các tiêu chuẩn lao
động quốc tế khác được quy định trong các Công ước và khuyến nghị của ILO, một quốc gia chỉ có nghĩa vụ bắt buộc thi hành sau khi đã phê chuẩn Công ước, đối với khuyến nghị, quốc gia không có nghĩa vụ bắt buộc thi hành (Điều 19 Hiến chương ILO) Trong trường hợp của các TCLĐQTCB, mọi quốc gia thành viên của ILO có nghĩa vụ tôn trọng, thúc đẩy và ghi nhận ngay cả khi thành viên đó chưa phê chuẩn các 8 Công ước tương ứng của ILO Cơ sở cho việc áp dụng nghĩa vụ này là bởi vì, theo quan điểm của ILO, các TCLĐQTCB là các tiêu chuẩn tối thiểu và có thể áp dụng cho mọi quốc gia, không phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, trình độ phát triển của quốc gia Các TCLĐQTCB không tạo ra một mức độ mới của tiền lương, điều kiện an toàn vệ sinh lao động, chế độ bảo hiểm xã hội…
1.2.3 Các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản và khả năng cạnh tranh của quốc gia
Quá trình toàn cầu hóa (với các đặc điểm nổi bật là: sự tăng trưởng của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), sự tăng trưởng của ngoại thương và sự tăng lên của quá trình di cư) cho thấy rằng, các nền kinh tế mở cửa có điều kiện lao động tốt hơn so với những nền kinh tế khép kín Toàn cầu hóa nói chung và sự phát triển kinh tế nói riêng
có tác động mạnh mẽ đến điều kiện lao động, đến việc xác lập và thực hiện các tiêu chuẩn lao động của mỗi quốc gia Vậy, ngược lại, việc thi hành các tiêu chuẩn lao động quốc tế nói chung và các TCLĐQTCB nói riêng có làm ảnh hưởng đến khả năng hội nhập, đến sự phát triển kinh tế và đến khả năng cạnh tranh của mỗi quốc gia không?
1.2.3.1 Ảnh hưởng của việc thực hiện các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản đến việc thu hút FDI
Có nhiều quan điểm khác nhau về ảnh hưởng của FDI đến việc thi hành các tiêu chuẩn lao động cũng như ảnh hưởng của việc thi hành các TCLĐQTCB đến khả năng thu hút FDI Quan điểm thông thường cho rằng FDI bị hấp dẫn đến những
Trang 37quốc gia có điều kiện lao động thấp để tận dụng nguồn nhân công giá rẻ tại đó Các học giả theo quan điểm này cho rằng điều kiện lao động thấp là "thiên đường" cho nhà đầu tư nước ngoài, hay các nhà đầu tư nước ngoài thường tìm đến những quốc gia nơi mà tổ chức công đoàn hoạt động yếu kém, không có tiếng nói trọng lượng
Họ cho rằng khi NLĐ có điều kiện thực hiện quyền tự do hiệp hội, khi hoạt động công đoàn mạnh thì điều này có tác động tiêu cực đến FDI, hay nói một cách khác
sự yếu kém của quyền hiệp hội tỷ lệ thuận với lợi thế cạnh tranh trong thu hút FDI của quốc gia [13, tr 46-55]
Tuy nhiên, thống kê về FDI trên phạm vi toàn cầu đã chứng minh điều ngược lại Trên thực tế, những quốc gia có điều kiện lao động thấp, những nơi mà các TCLĐQTCB không được thi hành không phải là những quốc gia thu hút được nhiều FDI nhất
Về mặt lý thuyết, điều kiện lao động thấp thường gắn liền với năng suất lao động thấp điều này không hề hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài [48] Mặt khác, khi xem xét địa điểm để đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài thường đánh giá cao quy
mô và mức độ tăng trưởng của thị trường, sau đó đến sự ổn định về chính trị và xã hội, chất lượng của lực lượng lao động Nhà đầu tư coi các yếu tố trên quan trọng hơn các yếu tố như tiêu chuẩn lao động thấp, chi phí lao động rẻ Hơn thế nữa, việc thi hành các TCLĐQTCB còn góp phần tăng khả năng thu hút FDI của quốc gia Ví dụ như đối với trường hợp các tiêu chuẩn về tự do hiệp hội và thương lượng tập thể Việc thi hành các tiêu chuẩn này cho phép NLĐ và NSDLĐ được tham gia nhiều hơn vào quá trình lập chính sách, tăng cường năng lực của NLĐ trong quá trình thương lượng tập thể Từ đó nâng cao tiếng nói của NLĐ, tạo cơ chế bảo vệ NLĐ tránh khỏi việc bị bóc lột; đồng thời tạo điều kiện trao đổi, đối thoại giữa NLĐ và NSDLĐ, tạo sự đồng thuận, thông cảm, chia sẻ giữa họ Đây là những tiền đề xây dựng quan hệ lao động ổn định, hài hòa và lành mạnh Quan hệ lao động ổn định, hài hòa và lành mạnh là một trong những cơ sở để duy trì sự ổn
Trang 38định về chính trị và xã hội của quốc gia - điều kiện tiên quyết để thúc đẩy kinh tế
Về mặt lý thuyết, việc cho phép sử dụng LĐCB hoặc lao động trẻ em sẽ làm tăng nguồn cung lao động, điều này dẫn tới giá lao động sẽ giảm xuống, chi phí sản xuất hàng xuất khẩu sẽ giảm và sẽ tăng khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu Tuy nhiên, các nghiên cứu của ILO lại cho thấy LĐCB và lao động trẻ em là hiện tượng không phổ biến trong các khu chế xuất và trong các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, động thời, số lượng lao động bị cưỡng bức cũng như lao động trẻ em trong khu vực này chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng số lao động bị cưỡng bức và lao động trẻ em trên toàn thế giới Ngược lại, việc đưa trẻ em đến trường thay vì lao động trong nhà máy về lâu về dài sẽ nâng cao năng suất lao động thông qua việc xây dựng nguồn nhân lực có chất lượng Hơn thế nữa, việc tuân thủ các TCLĐQTCB về LĐCB sẽ giúp cho các doanh nghiệp xuất khẩu tránh được sự tẩy chay của người mua ở những nước nhập khẩu Đối với trường hợp phân biệt đối xử trong lao động, nếu 1 công ty phân biệt đối xử (ví dụ không tuyển lao động nữ, trả lương lao động không bình đẳng…) thì điều này sẽ làm giảm nguồn cung lao động cho công ty Từ
đó dẫn đến việc thu hút lao động có chất lượng vào làm cho công ty trở nên khó khăn hơn, tính cạnh tranh giữa những NLĐ đang làm việc trong công ty này không cao Những yếu tố này, cuối cùng dẫn đến năng suất lao động trong công ty sẽ bị sụt giảm
Có thể khẳng định rằng, các TCLĐQTCB là các quyền cơ bản của NLĐ tại nơi làm việc, những quyền này gắn chặt với quyền con người được thừa nhận rộng
Trang 39rãi trên phạm vi toàn cầu Tính đến thời điểm này, các nghiên cứu về TCLĐQTCB không những không tìm thấy tác động tiêu cực của việc thực hiện các TCLĐQTCB đến khả năng cạnh tranh của quốc gia mà ngược lại những nghiên cứu này chứng minh rằng việc áp dụng, thực hiện và thi hành tốt các TCLĐQTCB góp phần ổn định kinh tế, xã hội, thúc đẩy khả năng cạnh tranh của quốc gia
Tóm lại, có thể nhận thấy, qua quá trình hình thành và phát triển, đặc biệt là với sự ra đời của ILO, các tiêu chuẩn lao động quốc tế ngày càng khẳng định vai trò
và ý nghĩa của mình trong việc bảo vệ quyền lợi các bên trong quan hệ lao động, trong bảo đảm cạnh tranh bình đẳng và bảo đảm ổn định, trật tự xã hội Trong bối cảnh toàn cầu hóa, các tiêu chuẩn lao động quốc tế, đặc biệt là các TCLĐQTCB - gắn với các quyền của NLĐ tại nơi làm việc, ngày càng đóng vai trò quan trọng, có ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống xã hội - góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu thiên niên kỷ và mục tiêu phát triển bền vững
1.3 Một số vấn đề cơ bản về nội luật hóa:
Khoản 1 Điều 2 Luật Điều ước quốc tế năm 2016 quy định: Điều ước quốc
tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập là thỏa thuận bằng văn bản được ký kết hoặc gia nhập nhân danh Nhà nước hoặc nhân danh Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với một hoặc nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc chủ thể khác của pháp luật quốc tế, không phụ thuộc vào tên gọi là hiệp ước, công ước, hiệp định, định ước, thỏa thuận, nghị định thư, bản ghi nhớ, công hàm trao đổi hoặc văn kiện có tên gọi khác
“Nội luật hóa điều ước quốc tế” hay “nội luật hóa điều ước quốc tế” được hiểu là nội luật hóa các điều ước quốc tế thành quy phạm pháp luật trong nước và thi hành các điều ước quốc tế đó trên cơ sở các quy phạm pháp luật trong nước vốn là quy phạm của điều ước quốc tế Hiện nay, có hai ý kiến khác nhau về nội luật hóa Nội luật hóa là quá trình pháp lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành nhằm chấp nhận hiệu lực ràng buộc của điều ước quốc tế Như vậy, theo quan điểm này thì nội luật hóa dường như đồng nghĩa với việc quốc gia chấp nhận hiệu lực pháp lý
Trang 40của điều ước Do đó, sau khi hoàn tất thủ tục pháp lý trong nước chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế thì các quy định của điều ước có giá trị pháp lý và được
áp dụng trên lãnh thổ quốc gia Nội luật hóa và quá trình chấp nhận hiệu lực pháp lý của điều ước quốc tế là hai khái niệm pháp lý khác nhau và có mối quan hệ tương đối độc lập với nhau: Việc chấp nhận hiệu lực pháp lý của điều ước là hành vi của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoàn tất các thủ tục pháp lý trong nước và thông qua đó thể hiện việc quốc gia tham gia điều ước chấp nhận việc áp dụng các quy định của điều ước đó đối với mình Trong khi đó, nội luật hóa là quá trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành các hoạt động cần thiết để nội luật hóa các quy phạm của điều ước quốc tế thành quy phạm của pháp luật quốc gia bằng cách ban hành, sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật
Tại Việt Nam, việc nội luật hóa được thực hiện thông qua cách hiểu thứ hai Theo đó, việc nội luật hóa thể hiện qua phương thức sau:
Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung, ban hành pháp luật nhằm bảo đảm thực hiện
điều ước quốc tế Theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Luật Điều ước quốc tế năm
2016, căn cứ vào yêu cầu, nội dung, tính chất của điều ước quốc tế, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ khi quyết định chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế đồng thời quyết định áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế đó đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong trường hợp quy định của điều ước quốc tế
đã đủ rõ, đủ chi tiết để thực hiện; quyết định hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế đó Trong công tác xây dựng pháp luật, theo quy định tại khoản 5 Điều 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, một trong những nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật là phải không làm cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên Bên cạnh đó, ngay
từ khâu đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định cũng quy định căn cứ đề nghị xây dựng phải dựa trên cam kết quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên Đối với quyết định của Thủ tướng Chính phủ, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cơ quan chủ trì soạn thảo có nhiệm vụ nghiên cứu