1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của tòa án về hợp đồng tín dụng ngân hàng từ thực tiễn thực hiện tại chi cục thi hành án dân sự thành phố bắc ninh

101 121 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 772,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cũng giống như thi hành các bản án, quyết định thông thường, quá trình tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Toà án về hợp đồng TDNH bên cạnh việc sử dụng các biện pháp mềm dẻo như

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

PHÁP LUẬT VỀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH CÁC BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CHI CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THÀNH PHỐ BẮC NINH

NGUYỄN THỊ THANH TÂM

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

MÃ SỐ: 8380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ THU HÀ

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác, trung thực và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Tâm

Trang 3

LỜI CÁM ƠN

Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến ban lãnh đạo Trường Đại học Mở Hà Nội, Ban chủ nhiệm khoa sau Đại học cùng các thầy cô tham gia giảng dậy tại khoa sau Đại học, những người đã truyền đạt những kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập và đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn

Tôi xin bầy tỏ sự kính trọng và biết ơn sâu sắc đến cô giáo hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hà, Người đã trực tiếp tận tình hưỡng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các đồng chí lãnh đạo đơn vị, đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành tốt luận văn này./

Hà nội, ngày …… tháng …… năm 2019

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Tâm

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH CÁC BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 10 1.1 Những vấn đề lý luận về cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Toà án

về hợp đồng tín dụng ngân hàng 10

1.1.1 Khái niệm cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Toà án về hợp đồng tín dụng ngân hàng 10 1.1.2 Đặc điểm cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Toà án về hợp đồng tín dụng ngân hàng 13

1.2 Khái niệm và vai trò của pháp luật về cưỡng chế thi hành bản án, quyết định của tòa án về hợp đồng tín dụng ngân hàng 15

1.2.1 Khái niệm về pháp luật về cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của tòa

án về hợp đồng tín dụng ngân hàng 15 1.2.2 Vai trò của pháp luật về cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của tòa

án về hợp đồng tín dụng ngân hàng 18

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 22

BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 23 2.1 Các quy định chung về cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Toà án

về hợp đồng tín dụng ngân hàng 23

2.1.1 Quy định về nguyên tắc cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Toà

án về hợp đồng tín dụng ngân hàng 23 2.1.2 Quy định về căn cứ cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Toà án về hợp đồng tín dụng ngân hàng 26

Trang 5

2.1.3 Quy định về thủ tục thực hiện cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của

Toà án về hợp đồng tín dụng ngân hàng 26

2.2 Quy định về các biện pháp cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Toà án về hợp đồng tín dụng ngân hàng 29

2.2.1 Quy định về biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án 29

2.2.2 Quy định về biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án 34

2.2.3 Quy định về biện pháp kê biên tài sản của người phải thi hành án 36

2.2.4 Quy định về biện pháp khai thác tài sản của người phải thi hành án 47

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 48

Chương 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH CÁC BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TẠI CHI CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH VÀ KIẾN NGHỊ CÁC GIẢI PHÁP 49

3.1 Thực tiễn thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Toà án về hợp đồng tín dụng ngân hàng tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh 49

3.1.1 Những kết quả đạt được trong thực hiện việc cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Toà án về hợp đồng tín dụng ngân hàng 51

3.1.2 Những hạn chế, vướng mắc trong cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Toà án về hợp đồng tín dụng ngân hàng thực tiễn thực hiện tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh 53

3.1.3 Nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc trong việc cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định về hợp đồng tín dụng ngân hàng thực tiễn tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh 70

3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và đảm bảo thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Toà án về hợp đồng tín dụng ngân hàng tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh 75

Trang 6

3.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật 75

3.2.2 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Tòa án về hợp đồng tín dụng ngân hàng 79

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 86

KẾT LUẬN 88

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Số việc án TDNH và số việc án TDNH phải cưỡng chế 51 Bảng 3.2 Số tiền án TDNH và số tiền án TDNH phải cưỡng chế 52 Bảng 3.3: Số việc THA còn tồn đọng 59

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Thi hành án dân sự (THADS) là một trong những hoạt động quan trọng của nhà nước trong việc đưa các bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền ra thi hành trên thực tế Hoạt động THADS một mặt đảm bảo cho quyền lực tư pháp được thực thi trên thực tế Mặt khác nó còn là công cụ hữu hiệu để khôi phục lại quyền và lợi ích hợp pháp của công dân bị xâm hại Hiệu quả của hoạt động thi hành án (THA) có tác động trực tiếp đến lòng tin của nhân dân đối với pháp luật Tuy nhiên trong điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay, không phải bản án, quyết định có hiệu lực nào của cơ quan có thẩm quyền cũng có thể được tổ chức thi hành một cách thuận lợi Do đó, các các biện pháp cưỡng chế THADS được áp dụng

Cưỡng chế THADS là hoạt động thường xuyên được thực hiện trong công tác THADS, là biện pháp nghiêm khắc được CHV áp dụng khi các bản án, quyết định không được tự nguyện thi hành Hiệu quả hoạt động cưỡng chế THADS ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công tác THA Cưỡng chế THADS là hoạt động mang tính đặc thù riêng, nó khác với cưỡng chế hình sự, cưỡng chế hành chính và cưỡng chế kỷ luật Thông qua hoạt động áp dụng pháp luật cưỡng chế THADS đã góp phần đảm bảo được trật tự, kỷ cương xã hội, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp về vật chất và tinh thần của mọi công dân, của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trong nước và nước ngoài tại Việt Nam Đối tượng của cưỡng chế THADS chỉ là tài sản

và các quan hệ nhân thân gắn liền với tài sản hoặc buộc phải thực hiện một hành vi Chính vì vậy, CHV phải đề cao trách nhiệm, công tâm, khách quan, thông hiểu pháp luật và có tư tưởng, bản lĩnh vững vàng CHV cơ quan thi hành dân sự là người được Nhà nước giao quyền ra quyết định áp dụng pháp luật cưỡng chế THADS, phải thực sự phụng công, thủ pháp, chí công vô tư

Nhận thấy tầm quan trọng của công tác THADS, để thúc đẩy sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân

Trang 10

2

dân Trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng, quan tâm đến công tác THADS Từ đó, Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh THADS (Pháp lệnh 1993, và Pháp lệnh 2004) Đặc biệt, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XII đã thông qua LTHADS năm 2008 Tuy nhiên, quá trình áp dụng đã nảy sinh nhiều bất cập, hạn chế ảnh hưởng tới hiệu quả của hoạt động THA, ngày 25/11/2014, tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của LTHADS năm 2008 có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2015 (LTHADS), đồng thời Chính phủ đã ban hành Nghị định số 62/NĐ-CP ngày 18/7/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của LTHADS (Nghị định số 62/NĐ-CP), quy định rõ hơn về các biện pháp cưỡng chế THA, đối tượng cưỡng chế THA và thủ tục áp dụng cưỡng chế THADS, sự phối hợp trong cưỡng chế THADS theo tinh thần xã hội hóa về cưỡng chế THADS

Ngày nay, trong xu thế hội nhập và phát triển của nền kinh tế thị trường, các quan hệ về kinh doanh thương mại, tín dụng, ngân hang (TDNH) phát triển mạnh

mẽ nhưng tiềm ẩn sau nó là những nguy cơ rủi ro của các chủ thể kinh doanh, dẫn đến phát sinh ngày càng nhiều các tranh chấp về hợp đồng TDNH phải giải quyết thông qua quá trình tố tụng mà công đoạn cuối cùng là tổ chức THA Cũng giống như thi hành các bản án, quyết định thông thường, quá trình tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Toà án về hợp đồng TDNH bên cạnh việc sử dụng các biện pháp mềm dẻo như tuyên truyền, thuyết phục, động viên người phải THA tự nguyện thi hành nghĩa vụ, thì đa số các trường hợp cơ quan THADS phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế để tổ chức việc THA Pháp luật hiện hành đã quy định chi tiết, cụ thể, chặt chẽ về trình tự, thủ tục, các bước tiến hành, đặc biệt là các quy định về cưỡng chế THADS, tuy nhiên do tính chất phức tạp, đặc thù của các vụ án về hợp đồng TDNH nên việc áp dụng đúng các quy định của pháp luật trong thực tế vẫn còn nhiều khó khăn, các sai phạm xảy ra trong quá trình tổ chức cưỡng chế còn nhiều, hiệu quả việc tổ chức cưỡng chế THA đối với loại việc này chưa cao…

Từ thực tiễn thực hiện việc cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của

Trang 11

an ninh, trật tự xã hội Bên cạnh đó, một số CHV do năng lực tổ chức thực tiễn áp dụng pháp luật cưỡng chế THA còn hạn chế, không kiên quyết, ngại va chạm, sợ khiếu nại, tác nghiệp cẩu thả, xác minh phân tích, đánh giá tình hình trước khi áp dụng biện pháp cưỡng chế không sát với thực tiễn, chưa nhận thức được sự khác biệt, tính đặc thù của cưỡng chế THADS trong các vụ án về TDNH so với cưỡng chế THADS thông thường dẫn đến sai lầm, bị thất bại hoặc bỏ sót các khâu trong quá trình áp dụng luật, nhiều vụ việc tài sản đã bán đấu giá thành nhưng không tổ chức giao được tài sản cho người trúng đấu giá do phát hiện có sự sai lệch giữa tài sản theo hợp đồng thế chấp với thực tế kê biên, nguy cơ dẫn đến phải hủy kết quả bán đấu giá tài sản, phát sinh trách nhiệm bồi thường nhà nước; có vụ việc

đã tổ chức cưỡng chế kê biên sau đó phát hiện sai sót phải thu hồi quyết định; nhiều vụ việc khó khăn, phức tạp, tồn đọng nhiều năm chưa có hướng giải quyết…

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế toàn cầu, đòi hỏi chúng ta cần phải tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống, chặt chẽ và khoa học các quy định của pháp luật về cưỡng chế THA trong các vụ án về hợp đồng TDNH, từ đó chỉ ra được những điểm mang tính chất đặc thù cần chú trọng khi tổ chức cưỡng chế đối với loại việc này là cần thiết và cấp bách đảm bảo những bản án, quyết định của Tòa án về hợp đồng TDNH có hiệu lực pháp luật được thực thi nghiêm chỉnh trên thực tế của đời sống xã hội Nhằm đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của mọi

Trang 12

4

công dân, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trong nước và nước ngoài tại Việt Nam

Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài: “Pháp luật về cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của tòa án về hợp đồng TDNH từ thực tiễn thực hiện tại chi cục THADS thành phố Bắc Ninh” để nghiên cứu viết luận văn Thạc sỹ

Luật kinh tế

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Pháp luật về cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Tòa án về hợp đồng TDNH là lĩnh vực rất phức tạp, trong quá trình áp dụng pháp luật đã nảy sinh nhiều vấn đề bất cập giữa lý luận và thực tiễn Chính vì vậy trong thời gian qua đã

có nhiều công trình nghiên cứu, đáng chú ý là các công trình:

- Các cuốn sách, giáo trình có liên quan như: "Giáo trình Luật tố tụng dân

sự" của Trường Đại học Luật Hà Nội;

- Nhóm nghiên cứu về tổ chức, về pháp luật và thực hiện pháp LTHADS,

một số công trình tiêu biểu như: “Các biện pháp cưỡng chế THADS, thực tiễn áp

dụng và hướng hoàn thiện” của tác giả Nguyễn Công Long;

Đề tài: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về cưỡng chế THADS ở Việt

Nam”, Luận án Tiến sĩ Luật học tại Trường Đại học Luật Hà Nội của tác giả Lê

Anh Tuấn, năm 2017

- Đề tài: “Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự theo pháp luật Việt

Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà Nội”, Luận văn Thạc sĩ Luật học tại Học

viện Khoa học Xã hội và Nhân văn của tác giả Nguyễn Xuân Tùng, năm 2017;

- Đề tài: “Xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo pháp luật thi

hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Bắc Giang”, Luận văn Thạc sĩ Luật học tại Học

viện Khoa học Xã hội của tác giả Hoàng Thị Thu Trang, năm 2017;

-Nguyễn Xuân Thu –Nguyễn Thị Phíp (Đồng chủ biên, 2016), Giáo trình nghiệp vụ THADS, Tập 1, Học viện Tư pháp, NXB Tư pháp, Hà Nội

-Nguyễn Xuân Thu –Nguyễn Thị Phíp (Đồng chủ biên, 2016), Giáo trình

Trang 13

5

nghiệp vụ THADS, Tập 2, Học viện Tư pháp, NXB Tư pháp, Hà Nội

-Đề tài: “Xử lý tài sản có đăng ký giao dịch bảo đảm để thu hồi nợ cho các

tổ chức tín dụng theo pháp LTHADS” của tác giả Phạm Nguyễn Đức Tài năm 2014;

- “Sổ tay Nghiệp vụ THADS”, PGS.TS Nguyễn Văn Luyện và TS Nguyễn Thanh Thủy (chủ biên), Tổng cục THADS, Bộ Tư pháp, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2012

- Ngoài ra còn một số bài viết trên các tạp chí chuyên ngành có liên quan đến

THADS và cưỡng chế THADS như: “Các biện pháp cưỡng chế THADS” của tác giả Hoàng Thọ Khiêm; “Thực tiễn áp dụng biện pháp cưỡng chế trong những năm

vừa qua” của tác giả Nguyễn Thanh Thủy …

- "Kỹ năng áp dụng các biện pháp bảo đảm trong THADS và kỹ năng cưỡng

chế THADS" của tác giả Lê Anh Tuấn

Các công trình trên đã nghiên cứu vấn đề chung nhất về THADS; về tổ chức quản lý THADS Một số công trình trực tiếp nghiên cứu các biện pháp cưỡng chế,

áp dụng cưỡng chế thi hành dân sự song lại tiếp cận từ góc độ chuyên ngành luật tố tụng và mang tầm vĩ mô; Một số công trình đã nghiên cứu và làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về cưỡng chế THADS nói chung và xử lý tài sản thế chấp nói riêng, chưa có công trình nào nghiên cứu về pháp luật về cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Tòa án về hợp đồng TDNH từ thực tiễn thực hiện tại chi cục THADS thành phố Bắc Ninh Vì vậy, luận văn này là chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu tương đối có hệ thống, toàn diện, có luận giải một cách cụ thể, trực tiếp về vấn đề Pháp luật về cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của tòa án về hợp đồng TDNH của một đơn vị THA cụ thể và ở một địa phương cụ thể Song, những công trình trên đã là tài liệu tham khảo có giá trị để tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn này Sau khi nghiên cứu, tiếp thu, kế thừa các quan điểm khoa học của các công trình khoa học trên, tác giả xác định việc nghiên cứu chuyên sâu pháp luật về cưỡng chế THADS nhằm thi hành các bản án, quyết định của Toà án

về hợp đồng TDNH xuất phát từ thực tiễn thực hiện tại Chi cục THADS thành phố Bắc Ninh là cần thiết

Trang 14

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên đề tài luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, Phân tích một số vấn đề lý luận về pháp luật cưỡng chế thi hành các

bản án, quyết định của Toà án về hợp đồng TDNH

Thứ hai, đánh giá thực trạng pháp luật về cưỡng chế thi hành các bản án,

quyết định của Toà án về hợp đồng TDNH; phân tích các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Toà án về hợp đồng TDNH

Thứ ba, đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật và bảo đảm

thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Toà án án về hợp đồng TDNH trên địa bàn thành phố Bắc Ninh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật Việt Nam về cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Toà án về hợp đồng TDNH; thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật TTDS Việt nam về

Trang 15

7

cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Toà án về hợp đồng TDNH tại Chi cục THADS thành phố Bắc Ninh

Phạm vi nghiên cứu: Đây là một lĩnh vực nghiên cứu rộng, có thể tiếp cận

từ nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về những vấn đề sau:

- Luận văn chỉ nghiên cứu cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Toà án về hợp đồng TDNH tại cơ quan THADS, không nghiên cứu về cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Toà án về hợp đồng TDNH tại tổ chức thừa phát lại

- Luận văn tập trung phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật thực định về cưỡng chế THA đối với nghĩa vụ trả tiền trong thi hành các bản án, quyết định của Toà án về hợp đồng TDNH Do đó, Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật về biện pháp cưỡng chế như khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải THA, khai thác tài sản

và kê biên tài sản Luận văn không nghiên cứu các quy định về việc xử lý tiền, tài sản sau khi thực hiện việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế nêu trên

Luận văn có sự tiếp thu và kế thừa có chọn lọc những kết quả nghiên cứu đã được công bố trong thời gian qua

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam trong tiến trình cải cách Tư pháp về Nhà nước và pháp luật, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp

quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam

- Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của triết học duy vật biện chứng và triết học duy vật lịch sử Mác - Lênin, chú trọng các phương pháp kết hợp

lý luận với thực tiễn, phân tích và tổng hợp, lịch sử cụ thể Ngoài ra luận văn còn sử dụng một số phương pháp của các bộ môn khoa học khác như luật học so sánh,

Trang 16

8

thống kê, xã hội học

Luận văn sử dụng linh hoạt, kết hợp giữa các phương pháp cứu khoa học chuyên ngành cụ thể như: phương pháp phân tích, chứng minh, so sánh, diễn giải, thống kê, tổng hợp…Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng đồng thời, có sự kết hợp, không áp dụng một cách cứng nhắc, tách biệt theo trình tự hết phương pháp này mới đến phương pháp khác Tuy nhiên, phương pháp logic và hệ thống được sử dụng xuyên xuốt, đảm bảo tính nhất quán, liên thông giữa các nội dung, các chương của đề tài, còn ở mỗi chương phương pháp nghiên cứu chủ yếu, đặc trưng được sử dụng như sau:

Chương 1 và Chương 2: Luận văn sử dụng phương pháp phân tích, diễn giải,

chứng minh, so sánh để làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về cưỡng chế THA các bản án, quyết định của Toà án về hợp đồng TDNH nói riêng

Chương 3: Luận văn sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp để

đánh giá thực trạng pháp luật về cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Toà

án về hợp đồng TDNH; phân tích các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Toà án về hợp đồng TDNH; đánh giá thực trạng thực hiện việc cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Toà án về hợp đồng TDNH trên địa bàn thành phố Bắc Ninh Từ kết quả phân tích, tổng hợp, kết hợp lý luận và thực tiễn để đảm bảo tính thuyết phục khi đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật về thi hành các bản án, quyết định của Toà án về hợp đồng TDNH trên địa bàn thành phố Bắc Ninh

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của công trình nghiên cứu

Luận văn là công trình nghiên cứu một cách khoa học, có hệ thống về các vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của tòa án về hợp đồng TDNH từ thực tiễn thực hiện tại chi cục THADS thành phố Bắc Ninh

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần nâng cao nhận thức của những người trực tiếp làm công tác THADS trong cơ quan THADS Làm rõ thực trạng

Trang 17

9

thực hiện và đưa ra các kiến nghị, giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả việc cưỡng chế THADS trong các vụ án về hợp đồng TDNH trên địa bàn thành phố Bắc Ninh Đồng thời giúp các CHV có cái nhìn tổng quát, hệ thống, đảm bảo việc lựa chọn các biện pháp phù hợp của pháp luật về cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của tòa án về hợp đồng TDNH, hạn chế đến mức thấp nhất sai sót có thể phát sinh, làm giảm thiểu khiếu nại - tố cáo liên quan đến cưỡng chế THADS và làm phong phú, bổ sung thêm cơ sở khoa học cho tiến trình cải cách

tư pháp cũng như cho hoạt động nghiên cứu khoa học về pháp luật trong lĩnh vực THADS

Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác tìm hiểu, nghiên cứu và cho cho các cán bộ trực tiếp làm công tác THADS của cơ quan THADS

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận văn được trình bày với kết cấu gồm 03 chương như sau:

- Chương 1: Những vấn đề lý luận về cưỡng chế thi hành bản án, quyết định của Tòa án về hợp đồng TDNH

- Chương 2: Pháp luật về cưỡng chế thi hành các bản án quyết định của Tòa

án về hợp đồng TDNH

- Chương 3: Thực tiễn cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Toà án

về hợp đồng TDNH tại Chi cục THADS thành phố Bắc Ninh và một số giải pháp

Trang 18

10

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH CÁC BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG

1.1 Những vấn đề lý luận về cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Toà án về hợp đồng tín dụng ngân hàng

1.1.1 Khái niệm cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Toà án về hợp đồng tín dụng ngân hàng

Theo Từ điển Luật học cưỡng chế được hiểu là: "Những biện pháp bắt buộc

cá nhân hay tổ chức phải thực hiện và phục tùng một mệnh lệnh nhất định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền do pháp luật qui định”[31]

Cưỡng chế là dùng quyền lực nhà nước bắt buộc cá nhân, tổ chức phải thực hiện những việc trái ý muốn của họ Cưỡng chế gắn liền với hoạt động quản lý nhà nước và là một trong những phương pháp chủ yếu của hoạt động quản lý nhà nước Cưỡng chế ở các Nhà nước khác nhau có bản chất khác nhau Trong Nhà nước pháp quyền việc cưỡng chế nhằm mục đích thi hành pháp luật của nhà nước, duy trì trật

tự xã hội Ở nhà nước pháp quyền XHCN cưỡng chế là sự áp đặt ý chí của đa số mà Nhà nước là người đại diện đối với thiểu số, được áp dụng trong giới hạn do pháp luật qui định và được thực hiện một cách chặt chẽ Cưỡng chế có nhiều loại, trong

đó cưỡng chế THA nói chung, cưỡng chế THADS nói riêng

THADS là quá trình thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự của các đương sự

đã được xác định trong các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, hoặc chưa

có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay (hay còn gọi là các bản án, quyết định dân sự) Theo quy định tại Điều 2 LTHADS thì các bản án, quyết định dân sự được đưa ra THA theo LTHADS bao gồm:

Trang 19

- Phán, quyết, quyết định của Trọng tài thương mại;

- Phần dân sự trong bản án, quyết định hình sự;

- Phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính;

- Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải THA của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh;

- Quyết định của Toà án giải quyết phá sản;

- Bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam;

Để tổ chức và thi hành các bản án, quyết định dân sự thì nhà nước khuyến khích đương sự tự nguyện THA và khi người phải THA có điều kiện THA mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế THA Do vậy, việc tự nguyện THA được coi là biện pháp quan trọng trong hoạt động THADS Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, người phải THA mặc dù có điều kiện THA nhưng vẫn không tự nguyện thi hành trong thời hạn mà cơ quan THA đã ấn định, tìm cách trì hoãn, trốn tránh việc THA Trong những trường hợp này, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được THA, bảo đảm cho pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh thì việc cưỡng chế THADS là hết sức cần thiết

Đây là hoạt động thực hiện quyền lực Nhà nước, thể hiện ở việc cơ quan THADS sử dụng các biện pháp cưỡng chế khác nhau do pháp luật qui định, để đảm bảo hiệu lực, hiệu quả của các bản án, quyết định của Tòa án được thực thi trên thực

tế mà bên phải THA không tự nguyện chấp hành án Việc làm này, nhằm bảo vệ pháp chế XHCN, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, Nhà

Trang 20

12

nước và doanh nghiệp Việc sử dụng các biện pháp cưỡng chế chỉ nhằm vào đối tượng chủ yếu là tài sản hoặc hành vi của người phải THA và chỉ trong giới hạn mà pháp luật cho phép Theo quy định tại Điều 46 LTHADS, sau khi hết thời hạn tự nguyện THA, nếu người phải THA có điều kiện THA mà không THA, hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải THA có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản, hoặc hành vi khác nhằm trốn tránh ngĩa vụ THA thì chấp hành viên có quyền áp dụng ngay các biện pháp cưỡng chế THA

Từ những phân tích nêu trên, ta có thể hiểu khái niệm về cưỡng chế THADS

như sau: cưỡng chế THADS là biện pháp THADS được bảo đảm thực hiện bằng sức

mạnh cưỡng chế của Nhà nước do chấp hành viên áp dụng buộc người phải THA thực hiện nghĩa vụ THADS của họ trong trường hợp người phải THA có điều kiện THA mà không tự nguyện THA để thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, hoặc chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay

Bản án, quyết đinh của Toà án (bản án quyết định về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động, hình sự, hành chính) là một trong các loại bản án, quyết định được đưa ra thi hành theo LTHADS Những bản án, quyết định này là các văn bản pháp lý mang tính quyền lực nhà nước, do Tòa án có thẩm quyền ban hành, nhằm xác định các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các cá nhân, tổ chức hoặc xác định những biện pháp trách nhiệm pháp lý đối với người vi phạm pháp luật Theo nghĩa đó có thể hiểu bản án, quyết định về hợp đồng TDNH

là văn bản pháp lý mang tính quyền lực nhà nước, do Tòa án có thẩm quyền ban hành, nhằm xác định các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của cá nhân, tổ chức trong việc thực hiện những giao ước đã ký kết trong các hợp đồng TDNH Thông thuường trong các bản án, quyết định của Toà án về TDNH thường kèm theo việc

xử lý các tài sản bảo đảm theo hợp đồng bảo đảm

Quá trình tổ chức THA đối với loại việc THA liên quan đến các tổ chức TDNH, việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế diễn ra phổ biến do nhiều nguyên nhân trong đó phải kể đến tính chất phức tạp trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm,

Trang 21

13

đặc biệt là trong trường hợp người phải THA là các tổ chức, doanh nghiệp, tài sản thế chấp có tính chất đặc thù như máy móc, trang thiết bị sử dụng trong sản xuất công nghiệp… Việc tổ chức cưỡng chế THA về liên quan đến TDNH là một trường hợp của cưỡng chế THADS do đó phải tuân thủ theo những quy định chung về nguyên tắc, điều kiện, trình tự, thủ tục áp dụng… các biện pháp cưỡng chế THADS

Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm sau: Cưỡng chế thi hành

các bản án, quyết định của Toà án về hợp đồng TDNH là biện pháp THADS được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước do chấp hành viên áp dụng buộc người phải THA phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền được ấn định trong bản án, quyết định của Toà án về hợp đồng TDNH của họ trong trường hợp người phải THA có điều kiện THA mà không tự nguyện THA

1.1.2 Đặc điểm cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Toà án về hợp đồng tín dụng ngân hàng

Ngoài những đặc điểm chung của cưỡng chế THADS, việc cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định về hợp đồng TDNH còn có những đặc điểm đặc trưng sau:

- Thứ nhất, về chủ thể, bên được THA thông thường là tổ chức TDNH, bên

còn lại có thể là cá nhân, tổ chức hay doanh nghiệp Đối với mỗi chủ thể, pháp luật

có những quy định riêng về điều kiện áp dụng biện pháp cưỡng chế THA, cụ thể:

+ Trường hợp người phải THA là cá nhân, tổ chức, hộ gia đình thì khi hết thời hạn tự nguyện THA, người phải THA có điều kiện mà không tự nguyện thi hành thì bị áp dụng biện pháp cưỡng chế để xử lý các tài sản cầm cố, thế chấp, tài sản khác nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ theo bản án, quyết định có hiệu lực thi hành

+ Trong trường hợp người phải THA là doanh nghiệp, thì pháp luật quy định

rõ: “Cơ quan THADS chỉ kê biên tài sản khác của doanh nghiệp phải THA, nếu sau

khi đã khấu trừ tài khoản, xử lý vàng, bạc, đá quý, kim khí quý khác, giấy tờ có giá của doanh nghiệp đang do doanh nghiệp quản lý hoặc đang do người thứ ba giữ mà

Trang 22

14

vẫn không đủ để THA, trừ trường hợp bản án, quyết định có quyết định khác hoặc đương sự có thỏa thuận khác” (khoản 5, Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ)

Ngoài ra, trong quá trình tổ chức việc THA đối với người phải THA là doanh nghiệp, Chấp hành viên cần xác định rõ loại hình doanh nghiệp để có cơ sở pháp lý xem xét tư cách người đại diện của doanh nghiệp để thực hiện các quyền, nghĩa vụ trong THADS Ví dụ: đối với chủ thể là doanh nghiệp tư nhân thì chủ doanh nghiệp

là người địa diện tham gia giải quyết việc THA, có quyền quyết định về các nội dung THA của doanh nghiệp trong quá trình giải quyết vụ việc; tuy nhiên đối với người phải THA là Công ty cổ phần thì cần phải xem xét Điều lệ công ty xem phạm

vi quyền hạn của giám đốc, hay tổng giám đốc, Điều lệ công ty có quy định cho họ

là người đại diện quyết định các vấn đề liên quan đến xử lý tài sản doanh nghiệp hay không, tránh tình trạng cơ quan THADS căn cứ trên những yêu cầu, hoặc quyết định của người không có thẩm quyền quyết định để giải quyết vụ việc là trái quy định[20,tr9]

- Thứ hai, tài sản phải kê biên, xử lý để THA thông thường được xác định rõ

trong bản án, quyết định, là những tài sản có đăng ký giao dịch bảo đảm và thường

có tính đặc thù: bên cạnh bất động sản, những tài sản là động sản thế chấp của các doanh nghiệp thông thường là máy móc, thiết bị, dây truyền sản xuất, nguyên nhiên vật liệu, hàng hóa, tài sản hình thành trong tương lai những tài sản này thường có giá trị rất lớn, yêu cầu về yếu tố kỹ thuật, công nghệ cao do vậy đòi hỏi CHV trong quá trình tổ chức việc THA, xử lý tài sản cần nắm chắc các quy định của pháp luật

có liên quan để tránh xảy ra sai phạm làm phát sinh khiếu nại, khiếu kiện dẫn đến trách nhiệm bồi thường Trong một số trường hợp đặc biệt, do giao dịch bảo đảm không hợp pháp, bị Tòa án tuyên vô hiệu, trong quá trình xử lý tài sản để thu hồi

nợ, cơ quan THADS, CHV có quyền kê biên, xử lý tài sản khác của người phải THA để thu hồi nợ cho các tổ chức TDNH, buộc người phải THA phải thực hiện nghĩa vụ theo án tuyên

Trang 23

15

- Thứ ba, quá trình xác minh, thiết lập hồ sơ để tổ chức cưỡng chế THA đối

với các tổ chức, doanh nghiệp, bên cạnh việc xác minh tài sản, doanh thu, hoạt động kinh doanh… của doanh nghiệp, CHV cần phải tiến hành việc xác minh đồng bộ với nhiều cơ quan, tổ chức như: cơ quan quản lý kinh doanh, cơ quan thuế, bảo hiểm, cơ quan quản lý đất đai… để thu thập các thông tin của doanh nghiệp về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, việc chấp hành nghĩa vụ đối với nhà nước, các lần đăng ký thay đổi người đại diện doanh nghiệp để xác định chính xác tư cách người đại diện doanh nghiệp trong quá trình làm việc, đặc biệt là trong giai đoạn áp dụng biện pháp cưỡng chế THA

- Thứ tư, quyền lợi của các tổ chức TDNH luôn được bảo đảm thông qua quy

định về ưu tiên thanh toán cho bên nhận thế chấp, cầm cố

Theo luật tổ chức tín dụng thì một trong những hoạt động của tổ chức TDNH

là cho vay Theo đó, cho vay là hình thức cấp tín dụng, bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của khách hàng thì giữa các tổ chức TDNH và khách hàng đều xác lập giao dịch bảo đảm tiền vay Khi phát sinh tranh chấp, Tòa án phải xem xét đến việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho các tổ chức TDNH [29, tr.259] LTHADS và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định quyền ưu tiên thanh toán cho bên nhận cầm cố, thế chấp khi xử lý các tài sản để THA

1.2 Khái niệm và vai trò của pháp luật về cưỡng chế thi hành bản án, quyết định của tòa án về hợp đồng tín dụng ngân hàng

1.2.1 Khái niệm về pháp luật về cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của tòa án về hợp đồng tín dụng ngân hàng

Theo khoa học pháp lý: “Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý trí của giai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình Pháp luật do Nhà nước ban hành thông

Trang 24

16

qua nhiều những thủ tục chặt chẽ và phức tạp với sự tham gia của rất nhiều các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các tổ chức và các cá nhân nên pháp luật luôn có tính khoa học, chặt chẽ, chính xác trong điều chỉnh các quan hệ xã hội Pháp luật được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng nhiều biện pháp trong đó có các biện pháp

cưỡng chế nhà nước rất nghiêm khắc’’[31]

Để quản lý nhà nước và đảm bảo trật tự an toàn xã hộ, Nhà nước sử dụng nhiều công cụ, biện pháp khác nhau ( pháp luật, đạo đức, tập quán ) trong đó pháp luật được coi là công cụ quan trọng nhất – đó là hộ thống quy phạp có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng lập đi lập lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định và được Nhà nước bảo đảm thực hiện

Trong THADS, pháp luật về cưỡng chế THADS tạo cơ sở cho việc bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh các bản án, quyết định của Tòa án nói chung và các bản án, quyết định của Tòa án về hợp đồng TDNH nói riêng khi đương sự, cá nhân, tổ chức liên quan không tự nguyện thi hành án Vì vậy, yêu cầu đặt ra là các quy phạm pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự nói chung và pháp luật về cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Tòa án về hợp đồng TDNH nói riêng phải được ban hành phù hợp và khả thi để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh khi phải áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS Cụ thể là các nhóm quan hệ xã hội cơ bản sau đây:

Thứ nhất, nhóm quan hệ mang tính nội dung: Phản ánh những quan hệ về nội dung chấp hành các bản án, quyết định của Tòa án về hợp đồng TDNH có hiệu lực thi hành và quyết định cưỡng chế của chủ thể có thẩm quyền Ví dụ: mối quan hệ giữa cơ quan th hành án dân sự ra quyết định cưỡng chế với người phải THA, người được THA và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với cơ quan THADS trong việc kiểm sát việc thực hiện các quy định pháp luật về cưỡng chế Mục đích của việc điều chỉnh các nhóm quan hệ này là nhằm xác nhận giá trị pháp lý của việc áp dụng biện pháp cưỡng chế, quyền và

Trang 25

17

nghĩa vụ của đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan theo quy định của pháp luật trong cưỡng chế thi hành án dân sự Ví dụ như Người phải THAb thực hiện quyền khiếu nại nếu cho rằng việc cơ quan THADS áp dụng biện pháp cưỡng chế trái quy định pháp luật Ngoài ra, những quan hệ về nội dung còn làm phát sịnh các mối quan hệ khác trong quá trình thực hiện việc cưỡng chế THADS ( ví dụ:

cơ quan THADS có quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với người phải THA nếu

họ không chấp hành quyết định cưỡng chế THADS, thậm chí cơ quan THADS đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý trách nhiệm hình sự đối với người phải THA

Thứ hai, nhóm quan hệ mang tính tổ chức, quản lý đối với hoạt động cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Tòa án về hợp đồng TDNH: các mối quan

hệ này liên quan đến việc hình thành cơ cấu tổ chức, quy định thẩm quyền và quy chế hoạt động của chủ thể có thẩm quyền cưỡng chế thi hành án dân sự Những mối quan hệ này được thể hiện cụ thể qua các mối quan hệ giữa CHV với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong quản lý, chỉ đạo THADS Ví dụ như mối quan hệ giữa thủ trưởng cơ quan THÁ với CHV trong giải quyết khiếu nại, mối quan hệ giữa Ban chỉ đạo THADS với cơ quan THADS trong chỉ đạo, phối hợp tổ chức thực hiện cưỡng chế THADS Thực tiễn THADS cho thấy rằng việc giải quyết các mối quan

hệ này thường phức tạp và cũng có những tồn tại, hạn chế nhất định, ví dụ như Ban chỉ đạo THADS có được chỉ đạo hoãn cưỡng thế THADS hay không? Khi cơ quan THADS tổ chức cưỡng chế THADS nếu không có đại diện Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp tham gia hay cơ quan Công an không tham gia bảo vệ cưỡng chế thì CHV

có được thực hiện cưỡng chế hay không Do đó, việc quy định rõ thẩm quyền, mối quan hệ phối hợp giữa các chủ thể liên quan trong quá trình tỏ chức cưỡng chế THADS sẽ góp phàn đảm bảo tính pháp chế và nâng cao hiệu quả cưỡng chế THADS

Thứ ba, nhóm quan hệ phát sinh trong quá trình thực hiện các trình tự, thủ tục về cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Tòa án về hợp đồng TDNH: Cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Tòa án về hợp đồng TDNH nhằm tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án về hợp đồng TDNH có hiệu lực thi

Trang 26

18

hành, đồng thời cũng là chế chế bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, tổ chức, cá nhân có liên quan, do đó, hoạt động cưỡng chế THADS phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật theo những nguyên tắc, trình tự, thủ tục nhất định Việc thực hiện các nguyên tắc, trình tự, thủ tục cưỡng chế làm xuất hiện hàng loạt các mối quan hệ giữa các chủ thể liên quan Đó là quan hệ phát dinh từ việc thực hiện thủ tục kê biên, bán đấu giá tài sản; thực hiện hoãn, tạm đình chỉ cưỡng chế khi có yêu cầu của người có thẩm quyền kháng nghị; Viện kiểm sát nhân dân kiến nghị, kháng nghị đối với việc thực hện trình tự, thủ tục tổ chức thực hiện quyết định cưỡng chế của CHV

Như vậy, để điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội cơ bản nêu trên trong cưỡng chế THADS nói chung và cưỡng chế thi hành các bản án về hợp đồng TDNH nói riêng Nhà nước phải ban hành các quy định pháp luật, các quy phạm pháp luật

về cưỡng chế THADS và tổng hợp các quy phạm pháp luật về cưỡng chế tạo thành pháp luật về cưỡng chế THADS

Từ sự phân tích trên có thể đưa ra khái niệm như sau: Pháp luật về cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Tòa án về hợp đồng TDNH là hệ thống các quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Tòa án về hợp đồng TDNH bao gồm quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế; trình tự; thủ tục áp dụng biện pháp cưỡng chế và quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân liên quan đến cưỡng chế thi

hành các bản án, quyết định của Tòa án về hợp đồng TDNH

1.2.2 Vai trò của pháp luật về cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của tòa

án về hợp đồng tín dụng ngân hàng

Trong đời sống xác hội, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng Nó là công

cụ không thể thiếu, bảo đảm cho sự tồn tại, vận hành bình thường của xã hội nói chung và của nền đạo đức nói riêng Pháp luật không chỉ là công cụ quản lý nhà nước hữu hiệu mà còn tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của ý thức đạo

Trang 27

19

đức, làm lành mạnh hóa đời sống xã hội và góp phần bồi đắp nên những giá trị mới

Là phương tiện để nhà nước quản lý mọi mặt của đời sống xã hội và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mỗi công dân[31]

Như chúng ta đã biết, Chính phủ và các ngành, các cấp đã thể hiện quyết tâm rất cao trong công tác giải quyết nợ xấu nhằm “khơi thông dòng chảy” tín dụng, tiền

tệ, phá vỡ sự “đóng băng” tài chính, bất động sản, vực dậy nền kinh tế, hướng tới sự phát triển bền vững Và một trong những yếu tố đóng góp tích cực vào công cuộc

xử lý nợ xấu tín dụng, ngân hàng chính là công tác thi hành án dân sự

Vai trò của Pháp luật về cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Tòa

án về hợp đồng TDNH đã trở thành sự quan tâm lớn của toàn xã hội và được thể hiện ở nhiều khía cạnh

Thứ nhất, Bảo đảm cho các bản án, quyết định của tòa án về hợp đồng

TDNH được thi hành nghiêm minh, qua đó phát huy được vai trò của Tòa án, giữ gìn được công lý của chế độ, tăng cường được pháp chế trong quản lý xã hội, quản

lý Nhà nước góp phần đấu tranh có hiệu quả các vi phạm pháp luật

Thứ hai, Góp phần quan trọng vào việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp

của công dân, bảo vệ công bằng xã hội, tạo sự đồng thuận xã hội

Pháp luật về cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Tòa án về hợp đồng TDNH nhằm bảo đảm thi hành bản án, quyết định của Tòa án mà trực tiếp là

cơ quan thi hành án thể hiện sự kiên quyết, nghiêm khắc nhất đối với hành vi cố tình trốn tránh, dây dưa chây ỳ nghĩa vụ phải thi hành án, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên được THA và các bên liên quan Từ đó, bảo đảm được công bằng

xã hội, có tác dụng giáo dục rất lớn đến ý thức chấp hành pháp luật của công dân, thu hút được sự quan tâm, đồng tình ủng hộ của xã hội

Thứ ba, Là cơ sở kiểm nghiệm tính đúng đắn của quyết định, bản án của Tòa

án, đề ra được những tiêu chí đảm bảo tính khả thi của các bản án và quyết định của Tòa án về hợp đồng TDNH, nâng cao được chất lượng xét xử

Trang 28

20

Thứ tư, góp phần đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, làm giảm

tình trạng khiếu nại - tố cáo trong lĩnh vực THADS, đồng thời góp phần làm trong sạch đội ngũ cán bộ, CHV, kịp thời xử lý những cán bộ thi hành án sa sút phẩm chất đạo đức, tiêu cực, cố tình không thực thi nhiệm vụ, phiền hà, sách nhiễu nhân dân

Thứ năm, Pháp luật về cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Tòa án

về hợp đồng TDNH vô cùng quan trọng, vì cưỡng chế thi hành án có tính đặc thù và phức tạp, khó khăn, xử lý nhiều mối quan hệ phức tạp, nhiều tình huống khó lường trước, mục tiêu là phải áp dụng đúng pháp luật Chính vì thế, thực tiễn pháp luật về cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Tòa án về hợp đồng TDNH đã trở thành trường học thực tiễn rèn luyện phẩm chất, bản lĩnh, ý thức, trách nhiệm, trình

độ nghề nghiệp của CHV, cán bộ làm công tác THA Thông qua thực tiễn người Chấp hành viên càng dầy dạn kinh nghiệm, vững vàng trong xử lý tình huống, càng tinh thông về nghiệp vụ

Theo công tác thống kê thi hành án dân sự hiện nay số vụ việc án TDNH phải đưa ra cưỡng chế thi hành án chiếm tỷ lệ cao, và do nhiều nguyên nhân, trong

đó có ý thức chấp hành pháp luật của người phải thi hành án Mặt khác, cần lưu ý pháp luật về cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Tòa án về hợp đồng TDNH không chỉ có giá trị bắt buộc đối với đương sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan,

mà tất cả những cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đều phải tôn trọng và thực hiện đúng với qui định ở Điều 106 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: “Bản án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chính chấp hành”, và được qui định tại Chương IV LTHADS1 Với giá trị pháp

lý bắt buộc phải thi hành, thì pháp luật về cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Tòa án về hợp đồng TDNH là công cụ hữu hiệu để đảm bảo việc hoàn thành chỉ tiêu được giao hàng năm của các cơ quan thi hành án dân sự và góp phần tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng cải thiện được thanh khoản, mở rộng tín dụng hợp lý, góp

1 Chương IV LTHADS quy định: Biện pháp bảo đảm và cưỡng chế thi hành án

Trang 30

22

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Biện pháp tự nguyện THA trong THADS luôn được đề cao, xuyên suốt trong quá trình THA, tuy nhiên ý thức tuân thủ bản án, quyết định của người dân chưa thực sự cao, thì cưỡng chế THA trong hoạt động THADS là hết sức cần thiết, CHV

là người được Nhà nước giao quyền trực tiếp tổ chức thi hành, nên khi xác minh, lựa chọn, ra quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế, tổ chức thực hiện việc cưỡng chế phải công tâm, khách quan, linh hoạt, tinh thông nghiệp vụ, khéo léo trong xử lý tình huống trong suốt các giai đoạn tổ chức cưỡng chế THADS

Cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định về hợp đồng tín dụng ngân hàng

là một dạng cụ thể của cưỡng chế THADS nói chung, vừa mang đầy đủ đặc điểm của cưỡng chế THADS, vừa có những đặc điểm đặc trưng cần lưu ý Về mặt lý luận, việc phân tích làm rõ và đi tới thống nhất các khái niệm, đặc điểm cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Toà án về hợp đồng TDNH, khái niệm và vai trò của pháp luật về cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Toà án về hợp đồng TDNH Những kết quả nghiên cứu tại Chương 1 sẽ là tiền đề quan trọng để đánh giá thực trạng pháp luật về cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định về hợp đồng TDNH (Chương 2) và là cơ sở lý luận quan trọng để đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định về hợp đồng TDNH thực tiễn thực hiện tại Chi cục THADS thành phố Bắc Ninh (Chương 3)

Trang 31

23

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH CÁC BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN

VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG

Trong các bản án, quyết định về hợp đồng TDNH, thông thường nghĩa vụ phải thi hành là nghĩa vụ trả tiền, trong một số ít trường hợp bản án, quyết định tuyên buộc người phải THA phải thực hiện các nghĩa vụ phi tài sản, tuy nhiên những trường hợp này không nhiều Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả tập trung phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật thực định về cưỡng chế THA đối với nghĩa vụ trả tiền trong thi hành các bản án, quyết định của Toà án về hợp đồng TDNH

2.1 Các quy định chung về cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Toà

Thứ nhất, Chỉ áp dụng các biện pháp cưỡng chế được pháp luật quy định

Đối với cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Toà án về hợp đồng TDNH thì chủ yếu là cưỡng chế buộc người phải THA thực hiện các nghĩa vụ trả tiền nên chấp hành viên áp dụng các biện pháp: 1.Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử

lý tiền, giấy tờ có giá trị của người phải THA 2 Trừ vào thu nhập của người phải THA.3 Kê biên, xử lý tài sản của người phải THA, kể cả tài sản đang do người thứ

ba giữ.4 Khai thác tài sản của người phải THA (Điều 71 LTHADS)

Trang 32

24

Thứ hai, CHV chỉ tiến hành cưỡng chế khi người phải THA có tiền, tài sản,

thu nhập mà không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ theo bản án, quyết định của Toà

án về TDNH

Thông thường, khi thực hiện nghĩa vụ trả tiền mà người phải THA không tự nguyện THA thì nếu có tài sản bảo đảm thì CHV sẽ xử lý các tài sản bảo đảm trước, sau đó nếu tài sản bảo đảm không đủ để thực hiện nghĩa vụ theo bản án, quyết định thì chấp hành viên sẽ tiến hành sẽ áp dụng biện pháp cưỡng chế thu giữ tiền hoặc cưỡng chế đối với tiền, tài sản khác của người phải THA

Thứ ba, Chỉ được áp dụng biện pháp cưỡng chế sau khi đã hết thời gian tự

nguyện THA trừ trường hợp cần ngăn chặn người phải THA có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh nghĩa vụ THA Ngoài ra, không tổ chức cưỡng chế trong thời gian từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau, các ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật hiện hành và các trường hợp đặc biệt khác do Chính phủ quy

định (Điều 46 LTHADS) Bên cạnh đó, “cơ quan THADS không tổ chức cưỡng chế

THA có huy động lực lượng trong thời gian 15 ngày trước và sau Tết Nguyên đán, các ngày truyền thống đối với các đối tượng chính sách nếu họ là người phải THA; các trường hợp đặc biệt khác ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, chính trị, trật

tự, an toàn xã hội, phong tục, tập quán địa phương” (khoản 2, Điều 13, Nghị định

số 62/2015/NĐ-CP)

Thứ tư, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế THA phải tương ứng với nghĩa vụ

của người phải THA và các chi phí cần thiết, trừ trường hợp người phải THA tự nguyện đề nghị kê biên tài sản cụ thể Trường hợp người phài THA chỉ có một tài sản duy nhất lớn hơn nhiều lần so với nghĩa vụ phải THA mà tài sản đó không thể phân chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì CHV vẫn có quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế để THA (khoản 1, Điều 13 Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính Phủ)

Thứ năm, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế phải căn cứ vào bản án, quyết

định và từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể

Trang 33

25

Khoản 1 Điều 13, Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định: “Chấp hành viên

căn cứ vào nội dung bản án, quyết định; quyết định THA; tính chất, mức độ, nghĩa

vụ THA; điều kiện của người phải THA; yêu cầu bằng văn bản của đương sự và tình hình thực tế của địa phương để lựa chọn việc áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế THA thích hợp Chấp hành viên áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế THA trong trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định tại Điều 130 LTHADS 2

Việc áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế THA phải tương ứng với nghĩa

vụ của người phải THA và các chi phí cần thiết, trừ trường hợp quy định tại Khoản

4 Điều 24 Nghị định này Trường hợp người phải THA chỉ có một tài sản duy nhất lớn hơn nhiều lần so với nghĩa vụ phải THA mà tài sản đó không thể phân chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì CHV vẫn có quyền áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế để THA”

Nguyên tắc này đòi hỏi rất cao về mặt chuyên môn nghiệp vụ của CHV, bản lĩnh nghề nghiệp và đạo đức chấp hành viên Vì việc tổ chức cưỡng chế THA có thuận lợi hay không, an toàn hay không và có ảnh hưởng đến tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa bàn xẩy ra việc cưỡng chế hay không tùy thuộc vào việc có áp dụng thống nhất nguyên tắc này trên thực tế của CHV Do đó, khi xác minh CHV cần thực hiện việc ước tính giá trị tài sản để làm cơ sở cho việc lựa chọn tài sản cưỡng chế Trong trường hợp cần thiết, CHV có thể xác định giá của từng tài sản để có cơ sở thực hiện nguyên tắc cưỡng chế “tương ứng” Tuy nhiên, trong trường hợp người phải THA chỉ có một tài sản duy nhất lớn hơn nhiều lần so với nghĩa vụ phải THA và các chi phí phát sinh mà tài sản đó không thể phân chia được hoặc việc phân chia sẽ làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì pháp luật quy định CHV vẫn có quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với tài sản đó để THA Ngoài ra, trong trường hợp người phải THA tự nguyện giao tài sản theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 7a LTHADS để thi hành nghĩa vụ trả tiền, và trường

2 Điều 130 LTHADS quy định về thủ tục thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Trang 34

26

hợp người phải THA tự nguyện đề nghị kê biên tài sản cụ thể trong số nhiều tài sản

mà không gây trở ngại cho việc THA và tài sản đó đủ để THA và các chi phí liên quan, thì CHV không nhất thiết phải áp dụng nguyên tắc “tương ứng”

2.1.2 Quy định về căn cứ cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Toà án

về hợp đồng tín dụng ngân hàng

Điều 70 Luật THA dân sự quy định:

“Căn cứ để cưỡng chế THA bao gồm:

1 Bản án, quyết định

2 Quyết định THA

3 Quyết định cưỡng chế THA, trừ trường hợp bản án, quyết định đã tuyên kê biên, phong tỏa tài sản, tài khoản và trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án.”

Như vậy, căn cứ tổ chức cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Toà án về TDNH gồm có: Bản án, quyết định của Tòa án, Quyết định THA, Quyết định cưỡng chế THA (trừ trường hợp bản án, quyết định đã tuyên kê biên, phong tòa tài sản, tài khoản và trường hợp áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án)

Như vậy, trên cơ sở pháp lý đã có, CHV cần phải tuân thủ đúng và đầy đủ những quy định của pháp luật để áp dụng biện pháp cưỡng chế

2.1.3 Quy định về thủ tục thực hiện cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Toà án về hợp đồng tín dụng ngân hàng

Thứ nhất, xác minh điều kiện THA của người phải THA trước khi tiến hành

cưỡng chế

Điều 44 Luật sửa đổi, bổ sung đã sửa đổi một cách căn bản quyền, nghĩa vụ của người được THA liên quan đến việc xác minh điều kiện THA Đó là đã sửa đổi nghĩa vụ của người được THA trong việc chứng minh điều kiện THA được chuyển thành nghĩa vụ của CHV Đồng thời, Điều 9 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày

Trang 35

27

18/7/2015 của Chính Phủ đã quy định về thời hạn, trình tự, thủ tục, quyền và nghĩa

vụ của cơ quan THA, CHV và người phải THA trong việc xác minh điều kiện THA Thông thường thì trước khi tiến hành cưỡng chế, CHV phải tiến hành xác minh điều kiện THA của người phải THA để đảm bảo việc cưỡng chế đống đối tượng, an toàn

Thứ hai, xây dựng kế hoạch cưỡng chế THADS

Sau khi có kết quả xác minh điều kiện THA thì CHV phải xây dựng kế hoạch cưỡng chế Đồng thời phải phối hợp với các cơ quan liên quan để triển khai

kế hoạch cưỡng chế

Điều 72 Luật THA dân sự quy định về nhiệm vụ xây dựng kế hoạch cưỡng chế THA của Chấp hành viên Luật THA quy định rõ CHV lập kế hoạch cưỡng chế THA trong trường hợp cần huy động lực lượng

Khoản 2 Điều 72 Luật THA dân sự có quy định rõ ràng kế hoạch cưỡng chế THA phải bao gồm 6 nội dung chính như sau:

- Tên người bị áp dụng biện pháp cưỡng chế;

- Biện pháp cưỡng chế cần áp dụng;

- Thời gian, địa điểm cưỡng chế;

- Phương án tiến hành cưỡng chế;

- Yêu cầu về lực lượng tham gia và bảo vệ cưỡng chế;

- Dự trù chi phí cưỡng chế

Trang 36

28

Đây là những nội dung hết sức quan trọng của kế hoạch cưỡng chế, thực tế thời gian qua, do điều luật không quy định rõ ràng nên dẫn đến sự áp dụng không thống nhất của các cơ quan THA Vì vậy, từ thời điểm Luật THA dân sự có hiệu lực pháp luật, các cơ quan THA cần xây dựng kế hoạch cưỡng chế với đầy đủ 6 nội dung nêu trên khi tiến hành cưỡng chế THA trong trường hợp cần huy động lực lượng

Kế hoạch cưỡng chế phải được gửi ngay cho VKSND cùng cấp, cơ quan Công an cùng cấp, Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế và cơ quan, tổ chức có liên quan đến việc cưỡng chế THA Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm thực hiện theo kế hoạch, yêu cầu của CHV Đảm bảo việc cưỡng chế được thống nhất về quan điểm, tổ chức thành công và an toàn trong suốt quá trình trước - trong - sau cưỡng chế

Theo Khoản Điều 72 Luật THA dân sự thì trong thời hạn 03 ngày làm việc,

kể từ ngày nhận được kế hoạch cưỡng chế của cơ quan THA dân sự cùng cấp, cơ quan Công an có trách nhiệm xây dựng kế hoạch và lập phương án bảo vệ cưỡng chế Cơ quan Công an có trách nhiệm bố trí lực lượng, phương tiện cần thiết để giữ gìn trật tự, bảo vệ hiện trường, kịp thời ngăn chặn, xử lý hành vi tẩu tán tài sản, cản trở, chống đối việc THA, tạm giữ người chống đối, khởi tố vụ án hình sự khi có dấu hiệu phạm tội

Nội dung của kế hoạch cưỡng chế phải ghi rõ: Tên người bị áp dụng biên pháp cưỡng chế; biện pháp cưỡng chế cần áp dụng; thời gian, địa điểm cưỡng chế; phương án tiến hành cưỡng chế; yêu cầu lực lượng tham gia và bảo vệ cưỡng chế.;

dự trù chi phí cưỡng chế; phương tiện sử dụng trong cưỡng chế; nhiệm vụ của các thành viên tham gia cưỡng chế

Thứ ba, thông báo trong Cưỡng chế THADS

Việc thông báo về cưỡng chế THADS được quy định rất chặt chẽ cả về thời hạn, hình thức và đối tượng thông báo theo trình tự, thủ tục được quy định tại điều 39,40,41,42,43 LTHADS và Điều 12 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP

Trang 37

29

Trong cưỡng chế THADS, CHV phải đặc biệt chú ý đến việc thông báo cho đương sự Việc thông báo phải được thực hiện đúng thủ tục, đúng thời hạn và đúng đối tượng Một trong những vi phạm của CHV trong thủ tục thông báo thường mắc phải là thiếu thông báo cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Hiện nay, có thể thấy pháp luật quy định về thủ tục trong THA còn quá rườm rà, bất cập vì trong hầu hết các giai đoạn trong suốt quá trình giải quyết, CHV đều tiến hành phải thông báo cho dù đương sự còn ở địa phương hay không; đương sự có hợp tác hay không cũng đều phải thông báo Mắc dù, pháp luật còn bất cập như vậy, nhưng CHV vẫn phải chấp hành nghiêm việc thông báo Đặc biệt, đối với thủ tục cưỡng chế THADS là giai đoạn thường xuyên bị đương sự phản ứng quyết liệt nhất và cũng là giai đoạn

có nhiều khiếu nại tố cáo nhất Rất nhiều đương sự lợi dụng sự sai sót trong thủ tục thông báo của CHV để khiếu nại kéo dài thời gian THA

2.2 Quy định về các biện pháp cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định của Toà án về hợp đồng tín dụng ngân hàng

2.2.1 Quy định về biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án

Khoản 1 Điều 71 LTHADS quy định 03 biện pháp cưỡng chế độc lập, gồm: khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền của người phải THA, và thu hồi, xử

lý giấy tờ có giá của người phải THA Đây là các biện pháp cưỡng chế đầu tiên mà CHV phải cân nhắc để lựa chọn khi người phải THA phải thi hành nghĩa vụ trả tiền Chỉ khi nào không đủ điều kiện để áp dụng biện pháp cưỡng chế này, thì CHV mới lựa chọn các biện pháp cưỡng chế khác như kê biên, xử lý tài sản để đảm bảo THA,

vì biện pháp cưỡng chế này dễ thực hiện hơn các biện pháp cưỡng chế khác

Biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải THA được quy định cụ thể tại Điều 76, Điều 79, Điều 80, 81, 82, 83 LTHADS, và các điều 21, 23 Nghị định 62/2015/NĐ-CP

Trong THA đối với các bản án, quyết định về hợp đồng TDNH, trường hợp người phải THA là doanh nghiệp thì pháp luật về THADS quy định trách nhiệm của

Trang 38

30

Chấp hành viên là phải xác minh để thực hiện việc khấu trừ tài khoản, xử lý vàng, bạc, đã quý, kim khí quý khác, giấy tờ có giá của doanh nghiệp đang do doanh nghiệp quản lý hoặc đang do người thứ ba giữ, trường hợp không đủ thì mới áp dụng đến biện pháp kê biên tài sản khác của doanh nghiệp phải THA (khoản 5, Điều

24, Nghị định 62/2015/NĐ-CP) trừ trường hợp bản án, quyết định có quyết định khác hoặc đương sự có thỏa thuận khác Như vậy, trong các trường hợp THA đối với doanh nghiệp, CHV phải thực hiện việc xác minh số dư tài khoản, thu nhập, các tài sản khác là vàng, bạc, đã quý, kim khí quý khác, giấy tờ có giá của doanh nghiệp

để thực hiện việc khấu trừ tiền trong tài khoản nếu đủ căn cứ; nếu không đủ mới áp dụng đến biện pháp kê biên, xử lý tài sản khác

có giá khác) để thực hiện nghĩa vụ trả tiền

- Hết thời gian tự nguyện THA mà người phải THA không tự nguyện thi hành hoặc chưa hết thời gian tự nguyện nhưng cần ngăn chặn người phải THA có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sảm hoặc hành vi khác nhằm trốn tránh việc THA

Điều 45 LTHADS đã quy định thời gian tự nguyện THA cho người phải THA

là 10 ngày kể từ ngày người phải THA nhận được hoặc được thông báo hợp lệ quyết định THA Vấn đề tự nguyện THA được hiểu theo nghĩa rộng gồm cả việc đương sự tự nguyện THA trong thời gian tự nguyện THA và việc đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc THA nhưng việc thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của người

Trang 39

31

thứ ba,…

* Đối với từng biện pháp cụ thể thì cần lưu ý sau:

+ Đối với biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản (Điều 76 LTHADS; Điều 21 Nghị định 62/2015/NĐ-CP) thì cần:

- Đảm bảo số dư tối thiểu để duy trì tài khoản: số dư này tùy thuộc vào từng ngân hàng, tổ chức tín dụng, đối với tài khoản cá nhân tối thiểu là 50.000đ, còn đối với tài khoản doanh nghiệp hoặc tổ chức thì mức tối thiếu là 01 triệu đồng;

- Không thực hiện việc khấu trừ tiền đối với tài khoản dự toán được mở cho các đơn vị thụ hưởng kinh phí của ngân sách nhà nước, các tổ chức ngân sách theo hình thức cấp bằng dự toán gồm: tài khoản dự toán chi thường xuyên, dự toán chi đầu tư xây dựng cơ bản, dự toán chi đầu tư phát triển khác, dự toán chi kinh phí ủy quyền; dự toán chi chuyển giao và tài khoản có tính chất tiền gửi được mở cho các

cơ quan thu để phản ánh các khoản phải trả về tiền, tài sản tạm giữ chờ xử lý theo quy định của pháp luật, các khoản thu phí, lệ phí được quy định tại khoản 2 Điều 10 Thông tư liên tịch số 02/2014/TTLT-BTP-BTC-BLĐTBXH-NHNNVN [17, tr.247]

Để ngăn chặn đương sự tẩu tán tiền trong tài khoản, khi xác định đương sự

có tiền trong tài khoản, CHV phải áp dụng biện pháp bảo đảm phong tỏa tài khoản trước khi áp dụng biện pháp cưỡng chế Đối với trường hợp cần phong tỏa ngay tài khoản, tài sản của người phải THA tại nơi gửi giữ mà chưa ban hành quyết định phong tỏa, Điều 67 LTHADS cũng quy định, CHV có thể lập biên bản yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản của người phải THA phong tỏa tài khoản, tài sản đó Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi lập biên bản, Chấp hành viên phải ra quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản; biên bản, quyết định phong tỏa trong trường hợp này phải được gửi ngay cho VKSND cùng cấp

+ Đối với biện pháp thu tiền từ hoat động kinh doanh của người phải THA (Điều 79 LTHADS; Điều 22 Nghị định 62/2015/NĐ-CP)

- Khi ra quyết định cưỡng chế thu tiền từ hoạt động kinh doanh của người

Trang 40

32

phải THA, CHV phải để lại số tiền tối thiểu cho hoạt động kinh doanh và sinh hoạt của người phải THA và gia đình Mức tiền tối thiểu để lại cho người phải THA phải đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu cho người phải THA và người mà người đó có nghĩa vụ cấp dưỡng, nuôi dưỡng Mức tiền tối thiểu để lại cho hoạt động sản xuất, kinh doanh do CHV ấn định căn cứ vào tính chất ngành nghề kinh danh, quy mô kinh doanh của người phải THA và mức ấn định này có thể được điều chỉnh

+ Đối với biện pháp thu tiền của người phải THA kể cả khoản tiền của người phải THA đang do người thứ ba giữ (Điều 80,81 LTHADS; Điều 23 Nghị định 62/2015/NĐ-CP)

So với quy định trước đây thì hiện nay, pháp luật về THADS đã quy định cụ thể trách nhiệm của người thứ ba khi không thực hiện yêu cầu của CHV về việc giao tiền, tài sản dẫn đến việc không thể thi hành được cho người được THA thì người thứ ba phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật

+ Đối với biện pháp cưỡng chế đối với tài sản là giấy tờ có giá (Điều 82,83 LTHADS)

Khi tiến hành cưỡng chế đối với tài sản là giấy tờ có giá, CHV cần lưu ý xác định đúng đối tượng giấy tờ đó có phải là loại giấy tờ có giá hay không Theo nghĩa thông thường thì giấy tờ có giá là giấy tờ trị giá được bằng tiền Còn theo nghĩa rộng, thì Giấy tờ có giá là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, trong đó xác nhận quyền tài sản của một chủ thể nhất định (tổ chức, cá nhân) xét trong mối quan hệ pháp lý với các chủ thể khác

Các quy định của pháp luật hiện hành tương đối đầy đủ và chặt chẽ, tuy nhiên trong quá trình áp dụng thì vấn đề khó khăn nhất của CHV chính là việc xác minh tiền, giấy tờ có giá và thu nhập từ hoạt động kinh doanh của người phải THA Trong quá trình tổ chức thi hành các bản án, quyết định về hợp đồng TDNH, phần lớn các vụ việc có giá trị phải thi hành lớn tập trung ở các doanh nghiệp, tuy nhiên đến giai đoạn tổ chức THA thì hầu hết đã ngừng hoạt động, hoặc hoạt động ở mức cầm chừng Xác minh tài khoản hầu như không còn tiền, hoặc nếu còn thì số dư cũng không đáng

Ngày đăng: 22/04/2020, 20:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w