1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo hiểm thất nghiệp trong luật việc làm năm 2013 từ thực tiễn tại thành phố hà nội

80 73 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dưới góc độ kinh tế xã hội, BHTN được hiểu là: giải pháp nhằm khắc phục hậu quả của tình trạng thất nghiệp, giúp người thất nghiệp tạm thời đảm bảo cuộc sống và tìm kiếm việc làm thông q

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TRONG LUẬT VIỆC LÀM NĂM 2013

TỪ THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

NGUYỄN THU HƯƠNG

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

MÃ SỐ: 8380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS LÊ THỊ HOÀI THU

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu

sử dụng phân tích trong luận án có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận án do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Các kết quả này chưa từngđược công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Thu Hương

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành đề tài luận văn và kết thúc khóa học, với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới trường Đại học Mở Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi có môi trường học tập tốt trong suốt thời gian tôi học tập, nghiên cứu tại trường Tôi xin gửi lời cảm ơn tới PGS.TS Lê Thị Hoài Thu - cô đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành đề tài luận văn tốt nghiệp này Đồng thời, tôi xin bày tỏ lòng cảm

ơn tới thầy cô trong Khoa luật, bạn bè đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp lần này

Em xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Nguyễn Thu Hương

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 01

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 0 6 DANH MỤC BẢNG BIỂU ĐỒ THỊ 07

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT 08

1.1 Khái niệm, ý nghĩa 08

1.1.1 Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp 08

1.1.2 Ý nghĩa bảo hiểm thất nghiệp 12

1.2 Điều chỉnh pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp 14

1.2.1 Khái niệm pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp 14

1.2.2 Nguyên tắc pháp luật bảo hiểm thất nghiệp 16

1.2.3 Nội dung pháp luật bảo hiểm thất nghiệp 19

1.3 Pháp luật bảo hiểm thất nghiệp một số nước trên thế giới và gởi mở cho Việt Nam 26 1.3.1 Bảo Hiểm thất nghiệp tại Đức 26

1.3.2 Bảo hiểm thất nghiệp tại Mỹ 27

1.3.3 Bảo hiểm thất nghiệp ở ChiLe 29

1.3.4 Những gợi mở cho Việt Nam 30

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TRONG LUẬT VIỆC LÀM 2013 VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI 34 2.1 Thực trạng các quy định pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp 34

2.1.1 Về đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp 34

2.1.2 Điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp 37

2.1.3 Về quyền lợi hưởng bảo hiểm thất nghiệp 40

2.1.4 Về quỹ bảo hiểm thất nghiệp và quản lý quỹ 45

2.1.5 Xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp 47

2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật bảo hiểm thất nghiệp tại thành phố Hà Nội 48

2.2.1 Về thành công 48

2.2.2 Về hạn chế 52

Trang 5

2.2.3 Nguyên nhân của những tồn tại 55

Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TỪ THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI 58

3.1 Những yêu cầu đặt ra cho việc hoàn thiện và nâng cao hiệu quả bảo hiểm thất nghiệp trong Luật Việc làm năm 2013 58

3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật bảo hiểm thất nghiệp trong Luật Việc làm 2013 và nâng cao hiệu quả thực hiện 62

3.3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện bảo biểm thất nghiệp từ thực tiễn tại thành phố Hà Nội 64

KẾT LUẬN 72

PHỤ LỤC 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

LĐTBXH: Lao động – thương binh và xã hội

NSDLĐ: Người sử dụng lao động

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU ĐỒ THỊ

Phụ lục 1 Tỷ trọng lực lượng lao động và tỷ lệ tham gia lực lượng

lao động theo thành thị/nông thôn và vùng kinh tế xã hội, năm 2017

77

Phụ lục 2 Phân bố phần trăm lao động có việc làm theo nhóm

ngành kinh tế và khu vực kinh tế năm 2017 78

Phụ lục 3 Tình hình tham gia và đóng bảo hiểm thất nghiệp, giai

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thất nghiệp là một trong những vấn đề bức xúc ở Việt Nam nói chung và thủ đô Hà Nội nói riêng Đặc biệt sau khi mở rộng địa giới hành chính, dân số của thành phố tuy lớn nhưng sự mất cân đối giữa cung và cầu lao động khá rõ nét, chất lượng cung qua đào tạo giảm hơn so với trước đã làm cho một số lượng không nhỏ lao động do nhiều nguyên nhân khác nhau đã

bị mất việc làm, đời sống khó khăn, ảnh hưởng đến trật tự an sinh xã hội Bảo hiểm thất nghiệp ra đời góp phần ổn định đời sống, hỗ trợ người lao động được học nghề, tư vấn giới thiệu việc làm nhằm sớm đưa họ trở lại với thị trường lao động Vì vậy, Bảo hiểm thất nghiệp trở thành một chính sách cần thiết trong nền kinh tế thị trường hiện nay Trước đây, chính sách bảo hiểm thất nghiệp lần đầu tiên được xây dựng trong Bộ Luật lao động 2002, tuy nhiên tới khi Luật Bảo hiểm xã hội ra đời năm 2006 bắt đầu được thực hiện từ ngày 01/01/2009, pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp mới thực hiện được quy định cụ thể, chi tiết Có thể nói, đây chính là bước đầu hết sức tích cực mà theo đó, Nhà nước tiến hành những biện pháp hữu hiệu để bảo hiểm thất nghiệp phát huy được vai trò, ý nghĩa quan trọng của mình đối với vấn

đề thất nghiệp trong xã hội Bên cạnh những thành tựu thu được thì chính sách về bảo hiểm thất nghiệp cũng không tránh được những vướng mắc bất cập còn tồn tại Chế độ bảo hiểm thất nghiệp đã được hoàn thiện một bước đáng kể trong Luật Việc làm 2013, thể hiện cái mới của Nhà nước, đặt Bảo hiểm thất nghiệp gắn liền với “việc làm” thay vì nhìn nhận chế độ bảo hiểm này dưới góc độ là một chế độ bảo hiểm xã hội thuần túy trước đây Luật Việc làm có hiệu lực 01/01/2015 với nhiều quy định mới về bảo hiểm thất nghiệp và việc nghiên cứu các quy định mới này để giúp hoàn thiện thêm chính sách Bảo hiểm thất nghiệp, góp phần ổn định

kinh tế - xã hội trên địa bàn Hà Nội Đây chính là lý do tôi chọn đề tài “ Bảo hiểm thất nghiệp

trong Luật Việc làm năm 2013 từ thực tiễn tại thành phố Hà Nội” làm luận văn tốt

nghiệp

2 Tình hình nghiên cứu

Tất cả các nước có nền kinh tế thị trường đều phải đối mặt với vấn đề thất nghiệp và giải quyết vấn đề này luôn được coi là một trong những ưu tiên hàng đầu Vì vậy, Bảo hiểm thất

Trang 9

nghiệp trở thành mối quan tâm và là đề tài nghiên cứu của nhiều nhà khoa học từ trước tới nay

- Giáo trình, sách tham khảo: Bao gồm giáo trình luật an sinh xã hội của một số cơ sở đào tạo luật học, như: Giáo trình luật an sinh xã hội Việt Nam của Đại học Luật Hà Nội năm 2013; Giáo trình bảo hiểm của Đại học Kinh tế quốc dân hà Nội năm 2004, Giáo trình bảo hiểm xã hội của Đại học Lao động - xã hội năm 2011… Sách tham khảo “Pháp luật an sinh

xã hội - những vấn đề lý luận và thực tiễn” Nguyễn Hiền Phương Theo đó, các công trình này có đề cập đến một số nội dung liên quan đến BHTN và pháp luật về BHTN

Đề tài nghiên cứu khoa học, luận án, luận văn: Các đề tài khoa học cấp bộ, cấp cơ sở, luận án, luận văn cũng có đề cập đến nội dung BHTN và pháp luật về BHTN tại Việt Nam Các đề tài nghiên cứu khoa học có thể kể đến như đề tài khoa học: “Giải pháp về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam” của Bộ Lao động, thương binh và xã hội, năm 1996; Đề tài khoa học: “Hoàn thiện pháp luật bảo hiểm xã hội” của Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2005 Các luận án, như: Luận án “Chế độ bảo hiểm thất nghiệp trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” của tác giả Lê Thị Hoài Thu, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2004; Luận án

“Cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Hiền Phương, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2009

Ngoài ra là các bài viết đăng trên tạp chí chuyên ngành về an sinh xã hội, với những phân tích tương đối chuyên sâu và có nhiều so sánh tham khảo với pháp luật nước ngoài Đó là: “Một số vấn đề về bảo hiểm thất nghiệp” của tác giả Trần Thị Thúy Lâm, đăng trên Tạp chí Luật học số 3/2004; “Điều kiện, thời gian hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam” của TS Lê Thị Hoài Thu, đăng trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 4/2005; “Những vấn đề cần quan tâm khi xây dựng chính sách bảo hiểm thất nghiệp” của Trần Thị Diệu Hồng, đăng trên Tạp chí Lao động và xã hội, số 260/2005; “Quy định về bảo hiểm thất nghiệp trong Công ước của Tổ chức lao động quốc tế ILO và một số nước trên thế giới” của tác giả Lê Thị Hoài Thu; “Tham gia bảo hiểm thất nghiệp có lợi cho cả người lao động và người sử dụng lao động” của tác giả Đặng Quang Điều đăng trên Tạp chí Lao động và xã hội, số 355/2009;

“Pháp luật bảo hiểm thất nghiệp sau 3 năm thực hiện ở Việt Nam” của tác giả Đỗ Thị Dung đăng trên Tạp chí Luật học, số 9/2012; “Nhìn lại 5 năm thực hiện chính sách bảo hiểm thất

Trang 10

nghiệp ở Việt Nam”, Lê Thị Thanh Hà, Tạp chí qu ản lý nhà nước, số 7/2014 Ngoài việc xây dựng hệ thống một số vấn đề lý luận, các công trình nghiên cứu này, ở các mức độ khác nhau,

đã đi sâu phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật BHTN và thực tiễn thực hiện

ở Việt Nam, từ đó đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật BHTN

Tuy vậy, theo tìm hiểu và khảo cứu của tác giả thì chưa có công trình nào ở cấp luận văn nghiên cứu về thực tiễn thực hiện pháp luật BHTN trên địa bàn Hà Nội Từ đó tác giả lựa

chọn đề tài “Bảo hiểm thất nghiệp trong Luật Việc làm năm 2013 từ thực tiễn tại thành

phố Hà Nội” làm luận văn để góp phần củng cố và làm rõ hơn những vấn đề lý luận về BHTN

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu với mục đích làm rõ những vấn đề chung về BHTN, khái quát hệ thống pháp luật về BHTN ở Việt nam hiện nay và đánh giá thực trạng quá trình áp dụng BHTN tại thủ đô Hà Nội từ đó nhận ra những mặt làm được và những khiếm khuyết còn tồn đọng để có hướng kiến nghị sửa đổi, hoàn thiện pháp luật Từ mục tiêu trên, luận văn tập trung vào các nhiệm vụ chính sau đây:

Một là, nghiên cứu để làm sáng tỏ một số vấn đề chung về thất nghiệp, BHTN, pháp luật về BHTN

Hai là, phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về BHTN ở Việt Nam và thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về BHTN tại địa bàn Hà Nội Qua đó, rút ra những điểm tích cực, những điểm còn tồn tại, bất cập trong các quy định của pháp luật cũng như thực tiễn thực hiện pháp luật trên địa bàn Hà Nội

Ba là, đề xuất kiến nghị sửa đổi một số quy định của pháp luật hiện hành về

BHTN và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện BHTN trên địa bàn Hà Nội

4 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn đi sâu vào nghiên cứu các quy định của pháp luật về BHTN trong Luật Việc làm bao gồm: đối tượng tham gia BHTN, điều kiện hưởng BHTN, các chế độ của BHTN, quỹ BHTN, xử lý vi phạm pháp luật về BHTN; cùng với đó là việc tâp trung phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về BHTN trên địa bàn Hà Nội Đồng thời có sự tham khảo pháp

Trang 11

luật quốc tế về BHTN để từ đó đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở của phương pháp luận về chủ nghĩa Mác – Lênin kết hợp với phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Bên cạnh đó luận văn cũng tham khảo quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách BHTN ở Việt Nam Ngoài ra, những phương pháp nghiên cứu khoa học kinh tế, xã hội phù hợp với từng vấn đề của đề tài cũng được vận dụng như: phân tích, tổng hợp, so sánh, chứng minh, đối chiếu, thống kê, dự báo khoa học Các phương pháp này có thể được sử dụng riêng rẽ hoặc có thể được kết hợp với nhau để làm sáng tỏ một vấn đề cụ thể

6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Về ý nghĩa khoa học: Luận văn làm rõ hơn nữa vấn đề cơ bản về thất nghiệp, bảo hiểm thất nghiệp Cùng với đó phân tích thực trang pháp luật về BHTN theo Luật Việc làm tại Việt Nam hiện nay và thực tiễn thực hiện BHTN tại địa bàn Hà Nội để từ đó tìm ra những bất cập, hạn chế còn tồn tại

Về ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có giá trị như một tài liệu tham khảo về vấn đề BHTN tại Việt Nam Đồng thời luận văn đưa ra một cái nhìn bao quát về việc thực hiện BHTN tại

Hà Nội, giúp các cơ quan quản lý tại địa phương này có thể xem xét nghiên cứu để có thể ngày càng hoàn thiện chính sách BHTN tại nơi đây

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm thất nghiệp và sự điều chỉnh của pháp luật

Chương 2 Thực trạng pháp luật bảo hiểm thất nghiệp trong luật Việc làm 2013 và thực tiễn

thi hành tại thành phố Hà Nội

Chương 3 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và

nâng cao hiệu quả thực hiện bảo hiểm thất nghiệp từ thực tiễn tại thành phố Hà Nội

Trang 12

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT

1.1 Khái niệm, ý nghĩa

1.1.1 Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp

Thất nghiệp là một hiện tượng kinh tế - xã hội mà hầu hết các nước trên thế giới phải đương đầu Trong nền kinh tế thị trường, thất nghiệp là một hiện tượng khách quan và nó được biểu hiện như một đặc trưng vốn có của kinh tế thị trường Tác động của thất nghiệp đến sự phát triển, ổn định kinh tế, chính trị và xã hội của mỗi quốc gia là rất lớn, nó đẩy người lao động bị thất nghiệp vào tình cảnh túng quẫn, lãng phí nguồn lực xã hội, là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho nền kinh tế bị đình trệ Thất nghiệp gia tăng làm cho tình hình chính trị xã hội bất ổn, các tệ nạn xã hội và tội phạm gia tăng làm băng hoại các giá trị đạo đức, văn hóa của gia đình và xã hội Thất nghiệp dẫn đến những thiệt hại nghiêm trọng về thu nhập kinh tế quốc dân, sự lãng phí nguồn nhân lực do tỷ lệ thất nghiệp cao đi liền với sự giảm sút thu nhập do không sản xuất Đồng thời, thất nghiệp còn làm tăng chi tiêu của Chính phủ, của doanh nghiệp và xã hội cho các trợ cấp thất nghiệp và các chi phí có liên quan như chi phí đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng, dịch vụ việc làm Vì vậy, hạn chế thất nghiệp và đảm bảo

ổn định đời sống người lao động trong trường hợp bị thất nghiệp là mục tiêu chung của các quốc gia và các tổ chức quốc tế và khu vực

Để giải quyết tình trạng thất nghiệp, nhiều biện pháp đã được thực hiện nhằm trợ giúp kịp thời cho những người thất nghiệp trong thời gian chưa tìm được việc làm và tạo cơ hội cho họ học nghề, tìm kiếm công việc mới Tại Việt Nam, Hiến pháp là văn kiện chính trị pháp

lý quan trọng nhất sau cương lĩnh của Đảng, là đạo luật gốc, quy định những vấn đề hết sức

cơ bản của một Nhà nước Nhà nước ta luôn coi trọng vấn đề an sinh xã hội, cụ thể tại Điều

34 – Hiến pháp 2013 quy định: “Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội” An sinh

xã hội là các chương trình hành động của nhà nước, nhằm thúc đẩy phúc lợi của người dân thông qua các biễn pháp hỗ trợ, để đảm bảo quyền tiếp cận các điều kiện sống tốt hơn và trong

đó quyền được tham gia bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động Do đó, quyền được tham gia bảo hiểm thất nghiệp chính là quyền con người mà nhà nước bảo vệ và bảo đảm thực hiện Nếu như trong Bộ luật lao động đã đưa ra một số biện pháp nhằm hỗ trợ cho những

Trang 13

người lao động bị thất nghiệp như trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc thì trong lĩnh vực An sinh xã hội chính sách bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) áp dụng bắt buộc đối với người lao động

và người sử dụng lao động; có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 1 năm 2009, được quy định trong Luật Bảo hiểm xã hội (LBHXH) số 71/2006/QH11 đã được Quốc hội nước Cộng hoà

Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI - kỳ họp thứ chín thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006; Nghị định số 127/2008/NĐ-CP - ngày 12 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết

và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp; thông

tư số 32/2010/TT-BLĐTBXH - ngày 25 tháng 10 năm 2010 của Bộ Lao động - Thương binh

và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 127/2008/NĐ-CP - ngày 12 tháng 12 năm 2008 nêu trên

Sau nhiều năm thực hiện bảo hiểm thất nghiệp trong thực tiễn và đồng thời nhận được những ý kiến đóng góp khác nhau từ những học giả, nhà nghiên cứu về lĩnh vực thất nghiệp, nhà nước đã có điều chỉnh mang tính đột phá khi chuyển toàn bộ chế độ bảo hiểm thất nghiệp quy định ở Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 sang Luật Việc làm năm 2013 Chúng ta tiếp thu

và bước đầu áp dụng theo mô hình bảo hiểm thất nghiệp là “chế độ bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi bị mất việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp Xét đến cùng thì bảo hiểm thất nghiệp không phải là biện pháp giải quyết hậu quả thất nghiệp một cách bị động, mà bảo hiểm thất nghiệp có vai trò chủ động trong việc thúc đẩy sự chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, giảm thất nghiệp, giúp người lao động trong việc thúc đẩy sự chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, giảm thất nghiệp, giúp người lao động nhanh chóng tìm được việc làm

Dưới góc độ kinh tế xã hội, BHTN được hiểu là: giải pháp nhằm khắc phục hậu quả của tình trạng thất nghiệp, giúp người thất nghiệp tạm thời đảm bảo cuộc sống và tìm kiếm việc làm thông qua việc tạo lập và sử dụng một quỹ tiền tệ quỹ này được hình thành do sự đóng góp của người lao động (NLĐ) và người sử dụng lao động (NSDLĐ), có sự hỗ trợ của Nhà nước, được sử dụng để trả trợ cấp cho người thất nghiệp, cũng như tiến hành các biện pháp nhằm nhanh chóng giúp người thất nghiệp có được việc làm mới

Theo công ước 102 của ILO BHTN là một trong chín nhánh của Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việc chi trả trợ cấp thất nghiệp nhằm hỗ trợ một phần thu nhập cho NLĐ bị mất

Trang 14

việc làm và giúp họ có điều kiện học nghề, tạo cơ hội tiếp tục tham gia thị trường lao động Cùng với các chế độ BHXH khác chế độ BHTN đã góp phần hoàn thiện và nâng cao khả năng bảo vệ NLĐ của hệ thống pháp luật BHXH

Để phù hợp với công ước của ILO, dảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật lao động, phù hợp với mục đích của BHTN, trong định hướng xây dựng chế độ BHTN ở Việt

Nam, BHTN được coi là một chế độ của BHXH Theo đó, “Bảo hiểm thất nghiệp là tổng thể

các quy phạm pháp luật quy định về việc đóng góp và sử dụng quỹ bảo hiểm thất nghiệp, chi trả trợ cấp thất nghiệp để bù đắp thu nhập cho người lao động bị mất việc làm và thực hiện các biện pháp đưa người thất nghiệp trở lại làm việc” BHTN vì thế thường được hiểu là một

chế độ trong hệ thống các chế độ BHXH, có mục đích hỗ trợ thu nhập cho NLĐ bị mất thu nhập do thất nghiệp

Giống như các chế độ BHXH khác, BHTN cũng xuất phát từ quan hệ lao động, có mục đích bù đắp thu nhập của NLĐ Bên cạnh đó, BHTN còn có một số đặc trưng riêng:

Thứ nhất, BHTN xuất phát từ quan hệ lao động nhưng khi thực hiện lại chủ yếu thuộc

về lĩnh vực việc làm Việc thực hiện chi trả trợ cấp thất nghiệp luôn được gắn liền với vấn đề giải quyết việc làm cho NLĐ BHTN do đó vừa có chức năng hỗ trợ khó khăn cho người thất nghiệp khi tạm thời mất thu nhập vừa có chức năng xúc tiến những hoạt động tìm kiếm và tạo việc làm cho NLĐ

Thứ hai, BHTN không chỉ thu và chi trả trợ cấp thất nghiệp mà còn thực hiện các biện

pháp để đưa NLĐ trở lại thị trường lao động Do đó, cơ quan BHTN vừa có trách nhiệm đăng

ký thất nghiệp, kiểm tra các điều kiện của NLĐ trước khi trả trợ cấp thất nghiệp vừa phải kịp thới nắm bắt các thông tin về thị trường lao động để giới thiệu việc làm, đào tạo nghề phù hợp cho người thất nghiệp Đây là điểm khác biệt giữa hoạt động quản lý thất nghiệp với các loại hình BHXH khác Đồng thời, vấn đề này cũng tạo nên những quan điểm thống nhất về việc nên giao cho cơ quan nào chịu trách nhiệm quản lý hoạt động BHTN Có ý kiến cho rằng nên giao cho cơ quan BHXH thống nhất quản lý các chế độ BHXH (trong đó có BHTN) Nhưng cũng có những ý kiến khác cho rằng nên giao cho cơ quan quản lý lao động các cấp quản lý

để chủ động thực hiện chức năng đăng ký thất nghiệp, chi trả trợ cấp thất nghiệp, cũng như tiến hành các hoạt động tìm kiếm và giới thiệu việc làm Như vậy khác với cơ quan quản lý

Trang 15

BHXH thông thường chỉ thực hiện chức năng thu, chi BHXH các cơ quan quản lý BHTN còn phải tiến hành các hoạt động nghiệp vụ nhằm giải quyết việc làm, bên cạnh các nghiệp vụ BHXH thuần túy

Thứ ba, đối tượng áp dụng chế độ BHTN là những người trong độ tuổi lao động, có

sức lao động nhưng bị mất việc làm, tạm thời không có thu nhập và sẵn sàng trở lại làm việc Như vậy,khác với các loại hình BHXH khác, đối tượng của BHTN là những NLĐ bị chấm dứt quan hệ lao động một cách không tự nguyện Còn đối tượng của các chế độ BHXH khác

là những người lao động vẫn đang tồn tại quan hệ lao động như chế độ trợ cấp ốm đau, thai sản hoặc chấm dứt quan hệ lao động do không có khả năng tiếp tục làm việc như tử tuất, hưu trí

Thứ tư, việc thực hiện chế độ BHTN rất phức tạp và khó quản lý Quy mô và tỷ lệ thất

nghiệp không thể dự đoán chính xác , gây khó khăn rất lớn trong việc hạch toán và cân đối thu – chi của quỹ BHTN Hoạt động của BHTN lại có mối quan hệ mật thiết với hệ thống đào tạo nghề, các trung tâm giới thiệu việc làm và chương trình quốc gia về việc làm nên đòi hỏi phải có sự phối hợp đồng bộ giữa cơ quan quản lý BHTN với các cơ quan chức năng khác trong lĩnh vực lao động việc làm Đây là hai chức năng cơ bản của BHTN và cũng là điểm khác biệt cơ bản của BHTN so với các chế độ BHXH khác

Thứ năm, việc xác định điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp khó khăn hơn so với các

chế độ BHXH khác Sở dĩ như vậy vì ranh giới để phân định giữa có việc làm và không có việc làm, giữa có thu nhập và không có thu nhập không rõ ràng, khó xác định và kiểm tra trong thực tế Vì vậy, việc xác định đúng các đối tượng đủ điều kiện để chi trả trợ cấp thất nghiệp trong thực tế gặp nhiều khó khăn

1.1.2 Ý nghĩa bảo hiểm thất nghiệp

BHXH - trong đó có BHTN cho NLĐ là một chế định rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường Nó góp phần phát triển một xã hội hài hòa các lợi ích của NLĐ cũng như của NSDLĐ, các chế độ của bảo hiểm thất nghiệp giúp cho việc kiểm soát nguồn nhân lực hiệu quả, đưa người lao động bị thất nghiệp sớm ổn định công việc Giảm nỗi lo lãng phí nguồn nhân lực Tận dụng nguồn nhân lực thất nghiệp hiệu quả đồng nghĩa với việc tận dụng tốt lực lượng lao động vào sản xuất, giúp gia tăng sản xuất về hành hóa dịch vụ, phát triển nền kinh

Trang 16

tế cho nên hướng phát triển của nền kinh tế thị trường sớm hay muộn cũng cần thiết phải đưa định chế này vào Đây là một điểm mới và cần thiết, việc thực hiện BHTN góp phần đáp ứng nguyện vọng của đông đảo NLĐ, đảm bảo mục tiêu an sinh xã hội Đặc biệt trong nền kinh

tế thị trường thì tình trạng NLĐ mất việc làm là điều dễ xảy ra BHTN sẽ tạo thế chủ động trong việc hỗ trợ NLĐ trong thời gian mất việc làm và là cơ sở từng bước đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế, quốc tế khi Việt Nam gia nhập WTO

Đối người lao động, việc thực hiện BHTN góp phần đáp ứng nguyện vọng của đông đảo NLĐ, đảm bảo mục tiêu an sinh xã hội Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường thì tình trạng NLĐ mất việc làm là điều dễ xảy ra BHTN sẽ tạo thế chủ động trong việc hỗ trợ NLĐ trong thời gian mất việc làm BHTN vừa giúp đỡ họ ổn định cuộc sống khi bị mất việc làm thông qua khoản trợ cấp thất nghiệp, vừa tạo cơ hội để cho họ có thể tiếp tục tham gia thị trường lao động BHTN là một chế độ mới rất cần thiết đối với NLĐ trong nền kinh tế thị trường và có tính nhân văn cao vì nó không những đảm bảo mức sống của chính NLĐ khi bị mất việc mà còn là sự chia sẻ rủi ro của những NLĐ đang làm việc đối với người bị mất việc làm

Đối với người sử dụng lao động, nhờ có chế độ BHTN nên khi những người lao động trong doanh nghiệp bị mất việc làm, họ không phải bỏ ra một khoản chi phí lớn để giải quyết chế độ cho người lao động Nhờ vậy gánh nặng tài chính của doanh nghiệp được san sẻ, đặc biệt trong những thời kỳ khó khăn, buộc phải thu hẹp sản xuất, nhiều người lao động thất nghiệp Với người sử dụng lao động, khi họ được đảm bảo tham gia bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động cũng chính là tạo ra một cơ hội cho họ đến gần hơn với người lao động, để giữ lại cho mình người lao động có tay nghề, có kinh nghiệm Người sử dụng lao động không đảm bảo được các chế độ an sinh xã hội cho người lao động, họ sẽ mất đi người lao động làm việc cho họ, từ đó không thể sản xuất và tạo ra thu nhập và lợi nhuận cho bản thân họ Lúc này các đối thủ cạnh tranh sẽ thừa cơ hội để thu hút người lao động, có tay nghề cao phía họ Hơn nữa, khi tham gia bảo hiểm thất nghiệp và biết rõ quyền được trợ cấp thất nghiệp, người lao động sẽ yên tâm làm việc tạo ra năng suất và chất lượng trong quá trình sản xuất Điều này góp phần tăng lợi nhuận và hiệu quả sử dụng sức lao động

Đối với nhà nước, BHTN là một loại hình bảo hiểm tiến bộ không chỉ có ý nghĩa hỗ trợ NLĐ khi mất việc làm mà còn có giá trị ổn định kinh tế - xã hội đối với đất nước Nhờ có

Trang 17

BHTN ngân sách nhà nước sẽ giảm bớt chi phí khi nạn thất nghiệp gia tăng trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế, tạo sự chủ động về tài chính cho nhà nước Nhờ được hỗ trợ khó khăn khi mất việc làm, quan hệ giữa NLĐ với doanh nghiệp và Nhà nước bớt căng thẳng, các cuộc bãi công, biểu tình cũng được hạn chế Nhà nước nhờ đó giảm bớt các mối lo đối phó với sự bất ổn gia tăng về chính trị - xã hội Các tệ nạn xã hội và phạm tội do thất nghiệp cũng hạn chế ở một mức độ nhất định Đặc biệt đối với những nước phát triển theo cơ chế kinh tế thị trường thì chế độ BHTN thực sự đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định nền kinh tế, hạn chế những mặt tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường Bảo hiểm thất nghiệp còn là một chính sách xã hội có ý nghĩa lớn Nếu thực hiện tốt chính sách này sẽ tạo sự ổn định về mặt

xã hội Một trong những nguyên nhân dẫn đến tệ nạn xã hội là do thiếu việc làm do con người

bị bần cùng hóa, thất nghiệp đi kèm với không thu nhập, mà con người thì bao giờ cũng có nhu cầu về ăn, ở, mặc đi lại… đó là những nhu cầu tối thiểu trong cuộc sống Khi người lao động bị mất việc làm, thất nghiệp sẽ tác động rất lớn đến tinh thần và tâm lý của họ Để ngăn chặn và hạn chế hành vi tiêu cực xảy ra cho xã hội có lẽ không có biện pháp nào phát huy tác dụng như chính sách trợ cấp thất nghiệp Rõ ràng chính sách này người lao động sẽ yên tâm phần nào về cuộc sống để tiến tới cải thiện đời sống của gia đình mình trong tương lai góp phần ổn định xã hội Bảo hiểm thất nghiệp còn có ý nghĩa to lớn về mặt chính trị Bảo hiểm thất nghiệp có ý nghĩa to lớn về mặt chính trị Bảo hiểm thất nghiệp là động lực giúp người lao động thấy được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với người lao động để họ yên tâm sản xuất, góp phần ổn định chính trị đất nước

Về mặt pháp lý, BHTN thể hiện tính ưu việt trong chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước ta BHTN thể hiện tính ưu việt hơn so với trợ cấp thôi việc và mất việc ở chỗ người lao động tham gia BHTN không chỉ được đảm bảo trợ cấp bằng tiền để trang trải cho cuộc sống

mà còn được giúp đỡ về mặt tinh thần, không phải lo lắng khi ốm đau, được hỗ trợ đào tạo nghề và tìm việc Tham gia BHTN còn có lợi cho người sử dụng lao động thể hiện ở chỗ: trước đây khi chi trả trợ cấp thôi việc, mất việc người sử dụng lao động phải lập quỹ dự phòng trợ cấp mất việc từ lợi nhuận của doanh nghiệp; chi trả trợ cấp thôi việc bằng chi phí đầu vào

và hạch toán vào giá thành, làm tăng chi phí cho sản xuất kinh doanh Nay tham gia BHTN NSDLĐ chỉ đóng góp 1% quỹ tiền lương của doanh nghiệp Còn lại mọi chi trả trợ cấp cho

Trang 18

người lao động do cơ quan BHXH chi trả, ngành lao động, thương binh và xã hội chịu trách nhiệm quản lý lao động thất nghiệp, đào tạo và giới thiệu việc làm cho người lao động Do

đó, sự ra đời của BHTN đã tạo ra sự đồng bộ trong việc ban hành văn bản pháp luật

1.2 Điều chỉnh pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp

1.2.1 Khái niệm pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp

Trên thế giới, vấn đề BHTN bắt đầu được ghi nhận trong các văn bản pháp lý của các quốc gia kể từ sau cuộc đại cách mạng công nghiệp lần thứ 2 và cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ

XX, khi mà khoảng thời gian này là sự bùng nổ của nạn thất nghiệp, sự phân hóa giai cấp, tầng lớp sâu sắc Quốc gia đầu tiên áp dụng và thực hiện chính sách pháp luật về BHTN là vương quốc Anh bắt đầu thực hiện từ năm 1911, tiếp theo là Italia Hợp chủng quốc Hoa Kỳ thực hiện vào năm 1935, cộng hòa Pháp thực hiện năm 1958, Trung Quốc thực hiện năm

1986 Tính đến nay đã có hơn 70 quốc gia thực hiện chế độ BHTN BHTN không chỉ là một chính sách riêng của bất kỳ quốc gia nào mà nó còn được thừa nhận trong cộng đồng quốc

tế

Tại Việt Nam, trước đây chúng ta theo trường phái Anh, Mỹ, Thụy Điển khi quy định BHTN nằm trong hệ thống BHXH theo từ điển tiếng Việt “ BHTN được hiểu là sự “bảo đảm những quyền và lợi ích cho người lao động, công nhân, viên chức khi không làm việc do bị mất việc làm” Các quan điểm trên chỉ mới đề cập BHTN như một chế độ trợ cấp về tài chính cho người lao động khi bị mất việc làm, điều này đã bó hẹp BHTN như một chế độ BHXH

mà không làm rõ được hết vai trò quan trọng của BHTN trong thực tế là sự thúc đẩy, sự chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp giảm thất nghiệp, tìm và tạo việc làm cho người lao động Sau nhiều năm thực hiện BHTN trong thực tiễn và đồng thời nhận được những ý kiến đóng góp khác nhau từ những học giả, nhà nghiên cứu về lĩnh vực thất nghiệp Nhà nước đã

có điều chỉnh mang tính đột phá khi chuyển toàn bộ chế độ BHTN quy định ở luật BHXH năm 2006 sang Luật Việc làm 2013 Chúng ta đã tiếp thu và bước đầu áp dụng theo mô hình BHTN của Nhật Bản khoản 4 Điều 3 Luật Việc làm 2013 đã định nghĩa BHTN là “ chế độ nhằm bù đắp một phần lao động của người lao động khi bị mất việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào quỹ BHTN” Xét cho đến cùng BHTN không phải là biện pháp giải quyết hậu quả thất nghiệp một cách bị động, mà

Trang 19

BHTN có vai trò chủ động trong việc thúc đẩy sự chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, giảm thất nghiệp, giúp người lao động nhanh chóng tìm được việc làm

Như vậy, có thể hiểu khái niệm pháp luật BHTN là tổng thể các quy phạm pháp luật

do Nhà nước ban hành điều chỉnh các quan hệ về việc đóng góp và sử dụng quỹ BHTN, chi trả trợ cấp thất nghiệp để bù đắp thu nhập cho NLĐ bị mất việc làm và thực hiện các biện pháp hỗ trợ nhằm đưa người thất nghiệp trở lại thị trường lao động và tìm được việc làm

Pháp luật BHTN, kể từ khi xuất hiện đến nay, luôn phát huy tác dụng trong việc tạo cơ sở pháp lý để các bên quan hệ BHTN thực hiện các nghĩa vụ đóng phí BHTN để được hưởng chế độ khi bị mất việc làm Đồng thời pháp luật BHTN luôn là hình thức bảo hiểm bắt buộc, theo đó NLĐ và NSDLĐ khi đủ điều kiện bắt buộc phải tham gia đóng phí vào quỹ BHTN, nhằm để tạo điều kiện vật chất và tinh thần cho NLĐ khi bị mất việc làm không có thu nhập

1.2.2 Nguyên tắc pháp luật bảo hiểm thất nghiệp

Nguyên tắc của BHTN là khung pháp lý chung mang tính chất chủ đạo, định hướng và chi phối toàn bộ các quy định pháp luật về BHTN Vì BHTN là một phần không thể thiếu trong chế độ an sinh – xã hội nên BHTN phải tuân theo những quy tắc chung của pháp luật

an sinh xã hội Theo quy định tại Điều 41 Luật việc làm quy định các quy tắc về BHTN gồm có:

Thứ nhất, bảo đảm sự chia sẻ rủi ro giữa người tham gia bảo hiểm thất nghiệp

Bảo hiểm thất nghiệp là một phần không thể thiếu trong chế độ an sinh xã hội của bất

kỳ quốc gia nào và là một trong những nguyên tắc cực kỳ quan trọng của chế độ an sinh xã hội là bảo đảm sự chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia, do đó nguyên tắc này cũng là nguyên tắc của BHTN Nguyên tắc này xuất phát từ sự tương trợ giữa người tham gia, đặt lợi ích cộng đồng, tập thể lên lợi ích một cá nhân cụ thể hay nói cách khác là lấy số đông bù số

ít Một nguyên tắc thể hiện rõ tính nhân văn xã hội

Theo nguyên tắc này, không phải bất cứ ai tham gia BHTN cũng được hưởng BHTN Nếu như vậy dường như có sự bất công khong công bằng đối với tất cả những người tham gia

và đóng bảo hiểm theo thời hạn quy định Tuy nhiên đó chỉ làm một góc nhìn mang tính chất

“ngắn hạn”, không đảm bảo tính chất lâu dài Khi người lao động gặp rủi ro và bị mất việc

Trang 20

làm thì BHTN như là chiếc phao cứu sinh giúp họ tạm ổn định cược sống trong một khoảng thời gian nhất định Mọi người tham gia đều phải ý thức được rằng càng nhiều người tham gia thì gánh nặng đóng góp đới với từng người càng có cơ hội để giảm xuống Ngược lại, khi NLĐ gặp rủi ro, phần họ được hưởng từ đó mà có điều kiện để tăng lên Chính vì vậy, việc tham gia BHTN là điều kiện bắt buộc đối với không chỉ riêng NLĐ mà cả người sử dụng lao động khu họ giao kết hợp đồng Chỉ khi có sự chung tay và chia sẻ của một cộng đồng thì BHTN mới thực sự hiệu quả

Thứ hai, mức đóng bảo hiểm thất nghiệp dựa trên cơ sở tiền lương của người lao động

Khác với các loại bảo hiểm dân sự hay thương mại thì bảo hiểm thất nghiệp mang tính chất của chế độ an sinh – xã hội Trong khi các loại bảo hiểm kia bảo đảm về tài sản thì bảo hiểm thất nghiệp bảo đảm cho người lao động về vấn đề tài chính mà cụ thể phần thu nhấp Mức thu nhập được bảo hiểm chính là mức tiền lương hay mức tiền công hàng tháng do nhà nước quy định thống nhất Vấn đề tiền lương luôn là một vấn đề được quan tâm hàng đầu trong bất kỳ hợp đồng lao động hay hợp đồng làm việc nào Chỉ khi xác định rõ mức tiền lương dựa trên tính chất công việc và khả năng của người lao động thì chúng ta mới có thể quy định được mức đóng bảo hiểm thất nghiệp

Về cơ bản, mức đóng bảo hiểm thất nghiệp dựa trên cơ sở tiền lương của người lao động Nếu người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do nhà nước quy định thì tiền lương hàng tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp là tiền lương theo ngạch, bậc và các khoản phụ trách chức vụ và thâm niên công tác, còn đối với trường hợp NLĐ đóng theo mức do người sử dụng lao động đề ra thì tiền lương đóng bảo hiểm thất nghiệp là tiền lương đã được thống nhất trong hợp đồng lao động mà người lao động và người sử dụng lao động đã ký trước đó

Thứ ba, mức hưởng của bảo hiểm thất nghiệp được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian

đóng BHTN

Nguyên tắc này dựa trên mối quan hệ giữa sự đóng góp và hưởng thụ của NLĐ, có đóng thì mới có hưởng Tuy nhiên cần phải có sự tương xứng về tỷ lệ đóng góp và hưởng thụ nhằm tạo ra sự công bằng, hợp lý cho người lao động cũng như đảm bảo sự an toàn và ổn định của quỹ BHTN tránh tình trạng nhà nước phải bù đắp và hỗ trợ quá nhiều Nhà nước phải tính

Trang 21

toán như thế nào cho phù hợp để mức hưởng có thể đáp ứng được mức sống tối thiểu của người lao động và tạo ra những điều kiện phù hợp và thuận lợi cho họ trong việc tìm kiếm việc làm nhằm nhanh chóngo thoát khỏi tình trạng thất nghiệp Nhà nước cũng phải làm sao

để cân đối giữa mức hưởng và thời gian hưởng không để tình trạng người lao động được hưởng trợ cấp quá thấp trong khoảng thời gian ngắn vì nếu không họ sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc ổn định cuộc sống và nhanh chóng tìm được việc Hay nếu người lao động được hưởng trợ cấp cao trong thời gian dài thì sẽ lãng phí tiền của trong việc chi trả bảo hiểm thất nghiệp cũng như sẽ sinh ra tâm lý ỷ lại và lười lao động của họ

Ngoài ra, nguyên tắc này cũng có mối quan hệ khăng khít với nguyên tắc chia sẻ rủi ro, lấy số đông bù số ít Bảo hiểm thất nghiệp không chỉ mang tính chất kinh tế thông qua các khoản trợ cấp thất nghiệp mà nó còn mang tính chất xã hội sâu sắc, có sự chung tay góp sức của cả cộng đồng nhằm giúp người lao động vượt qua khó khăn sau khi rơi vào tình trạng mất việc làm

Thứ tư, việc bảo hiểm thất nghiệp phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, đảm bảo kịp thời

và đầy đủ quyền lợi của người tham gia

Đối với bất kỳ người lao động nào họ ý thức được rằng một khi do rủi ro hay bất trắc

mà mất việc lafmt hì họ sẽ ngay lập tức rơi vào tình trạng khó khăn về tài chính cũng như trong việc cân bằng cuocj sống đồng thời chúng ta cũng không thể dự đoán trước khi nào rủi

ro sẽ đến với họ Do vậy, các quy định về bảo hiểm thất nghiệp phải đảm bảo yếu tố kịp thời lường trước được khả năng có thẻ xảy ra đới với người lao động Các thủ tục trong việc tham gia bảo hiểm thất nghiệp, điều kiện và thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp phải đơn giản chính xác, dễ dàng và đáp ứng đầy đủ cơ bản quyền lợi cho người lao động tránh để xảy ra tình trạng thủ tục rườm rà, qua nhiều khâu gây khó khăn vă phải mất thời gian cho NLĐ

Không những giúp NLĐ dễ dàng trong việc hưởng trợ cấp thất nghiệp, các quy định phải làm thế nào để hỗ trợ NLĐ quay lại thị trường lao động một cách nhanh nhất và sớm có việc làm Các hoạt động như hỗ trợ tìm kiếm việc làm, hỗ trợ học nghề cần được quy định mọt các cụ thể, hợp lý và dễ dàng cho người lao động tiếp cận và tìm hiểu

Trên thực tế có rất nhiều tình trạng NLĐ có đủ các điều kiện để hưởng BHTN nhưng lại không được hưởng vì những rào cản vướng mắc trong quá trình quản lý và thực hiện như

Trang 22

thiếu các thủ tục cần có, quá hạn hoàn thiện hồ sơ Vì thế, Nhà nước và người sử dụng lao động nên tạo những điều kiện thuận lợi nhất để giúp họ có thể hưởng các quyền lợi chính đáng của minh khi tham gia vào chế độ BHTN

Thứ năm, quỹ BHTN được quản lý tập trung thống nhất, công khai minh bạch, đảm bảo

an toàn và được Nhà nước bảo hộ

Theo nguyên tắc này thì Nhà nước là chủ thể duy nhất có quyền quản lý quỹ BHTN Do quỹ BHTN là quỹ tài chính tập trung, vì vậy, Nhà nước có vai trò chủ đạo và thống nhất trong việc quản lý và sử dụng quỹ Hoạt độngt hu chi và sử dụng quỹ sẽ được báo cáo thường xuyên

để nhà nước dễ dàng nắm bắt Nhà nước cũng sẽ chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch hoạt động xem xét mức hỗ trợ cho quỹ BHTN cũng như việc hỗ trợ quỹ BHTN để từ dó tạo ra sự đồng bộ thống nhất trong trình quản lý và sử dụng quỹ Bê cạnh đó, Nhà nước thiết lập một

hệ thóng cơ quan công quyền từ TW đến địa phương thống nhất trong việc quản lý và sử dụng quỹ BHTN Các kế hoạch thu chi của quỹ BHTN phải được công khai và báo cáo thường xuyên đến nhà nước, việc sử dụng quỹ và việc đầu tư quỹ phải đảm bảo minh bạch và an toàn cho quỹ BHTN, tránh để xảy ra trường hợp vỡ quỹ, gây ra những thiệt hại cho các bên tham gia

1.2.3 Nội dung pháp luật bảo hiểm thất nghiệp

Đối với mỗi quốc gia khi xây dựng hệ thống chính sách pháp luật về BHTN, đều cần những nội dung cơ bản làm nền tảng Các nội dung này xoay quanh các vấn đề về đối tượng tham gia BHTN, điều kiện hưởng BHTN, các chế độ của BHTN, quỹ BHTN; thủ tục thực hiện BHTN và tổ chức chính sách BHTN; xử lý vi phạm về BHTN

 Đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp

Trong vấn đề BHTN thì đối tượng tham gia là nội dung được quan tâm đầu tiên mang tính chất bắt buộc nhằm xác định chủ thể đủ điều kiện tham gia vào BHTN Đối với mỗi quốc gia thì tuy vào tình hình xã hội – việc làm mà có những quy định khác nhau, có thể mở rộng thêm cũng như bó hẹp đới tượng tham gia BHTN về cơ bản, đối tượng tham gia BHTN gồm

3 chủ thể là NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước

* Về phía NLĐ

Trang 23

Theo Điều 2 Công ước số 44 của ILO về “Công ước về bảo đảm tiền trợ cấp cho người thất nghiệp không tự nguyện” năm 1934, BHTN được áp dụng tới tất cả những NLĐ được trả tiền công, tiền lương Tuy vậy, tùy vào hoàn cảnh của mỗi quốc gia tham gia Công ước này

có thể đặt thêm những ngoại lệ về đối tượng tham gia BHTN như người giúp việc, người làm việc tại nhà, lao động theo mùa vụ, hay những người công tác ổn định trong lĩnh vực công Không những vậy, một số quốc gia còn đặt điều kiện về độ tuổi tham gia BHTN, quốc tịch hay thời hạn lao động để xác định đối tượng tham gia BHTN Về độ tuổi thì BHTN thường được áp dụng tới những người trong độ tuổi lao động Tuy nhiên các quốc gia có những quy định khá khác nhau về độ tuổi tham gia BHTN, thường độ tuổi này được tính từ năm 16 tuổi đến năm 60, thậm chí ở Nhật Bản độ tuổi tham gia BHTN của NLĐ lên đến con

số 65, cao hơn nhiều so với các quốc gia khác, hay như Hàn Quốc, Nam Phi không đặt ra yêu cầu về quốc tịch của NLĐ khi tham gia vào BHTN như Việt Nam và Trung Quốc đang

áp dụng

* Về phía NSDLĐ:

Bên cạnh NLĐ, thì trong việc xây dựng pháp luật về BHTN, hầu hết các quốc gia cũng đưa NSDLĐ vào là một trong những đối tượng tham gia BHTN giống như NLĐ NSDLĐ tham gia BHTN có thể là cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, hợp tác xã đủ điều kiện theo pháp luật lao động được phép sử dụng lao động Tuy vậy, vai trò của NSDLĐ chỉ dừng lại ở việc đóng phí BHTN vào quỹ BHTN, chứ không được hưởng các lợi ích từ BHTN như NLĐ

Một chủ thể nữa cũng được xem xét là đối tượng tham gia BHTN, đó là nhà nước Tuy nhiên, mức độ tham gia của nhà nước vào BHTN ở các quốc gia là rất khác nhau Việc nhà nước tham gia đóng phí BHTN thường tập trung ở các quốc gia đang phát triển cũng như bước đầu mới triển khai thực hiện chính sách BHTN như Việt Nam Còn đối với những quốc gia có nền kinh tế phát triển, BHTN được thực hiện lâu đời, nguồn quỹ dồi dào, thì nhà nước không đóng phí mà chỉ đóng vai trò bảo trợ khi thiếu và quản lý quỹ

 Điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp

Điều kiện hưởng BHTN là tổng thể các yêu cầu mà pháp luật đặt ra nhằm xác định đâu

là đối tượng được hưởng BHTN và đâu là đối tượng không được hưởng BHTN Không phải bất cứ NLĐ nào đã tham gia đóng BHTN sẽ nghiễm nhiên được hưởng BHTN khi họ mất

Trang 24

việc làm Một NLĐ được hưởng BHTN thì chắc chắn họ phải là người tham gia BHTN, có nghĩa vụ đóng phí BHTN hàng tháng trong một thời gian nhất định cho chính mình đồng thời đáp ứng các yêu cầu về việc chấm dứt hợp đồng lao động, về việc nộp hồ sơ hưởng BHTN, và khoảng thời gian chưa được tìm việc làm sau khi đã nộp hồ sơ trên Còn NLĐ tham gia BHTN thì chưa chắc họ đã là người được hưởng các chế độ của BHTN, vì họ có thể thiếu một trong các điều kiện do pháp luật quy định như NLĐ đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật, hay không nộp hồ sơ hưởng TCTN đúng thời hạn quy định của luật Theo Công ước số 44 của ILO thì NLĐ chỉ được hưởng BHTN khi đáp ứng đủ các yêu cầu đã được đặt ra ví du như về khả năng lao động và sẵn sàng làm việc khi được giới thiệu việc làm, về thời gian đóng, về nguyên nhân thất nghiệp, đã đăng ký tìm việc tại trung tâm giới thiệu việc làm hoặc tại các cơ quan có thẩm quyền do nhà nước quản lý Hay như tại Đan Mạch, để NLĐ được hưởng TCTN thì họ phải đáp ứng đủ điều kiện như sau: NLĐ phải đóng bảo hiểm ít nhất 52 tuần (tương ứng 1924 giờ làm việc) trong vòng 3 năm trước khi bị thất nghiệp; NLĐ phải đăng ký tìm việc làm tại các trung tâm lao động và phải sẵn sàng làm việc khi được giới thiệu một công việc phù hợp; Không những vậy, việc thất nghiệp của NLĐ không phải xuất phát từ việc tự ý rời việc, chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật hay tranh chấp lao động khác Hay tại Hoa Kỳ để được hưởng TCTN NLĐ phải đáp ứng đủ các yêu cầu, gồm có: phải là người thất nghiệp theo luật định, phải lao động ổn định tối thiểu 6 tháng ở các ngành nghề quy định BHTN và có đủ các yêu cầu hưởng trợ cấp thất nghiệp như

về thời hạn đóng, lý do thất nghiệp do ở các bang hay liên bang quy định cụ thể [2]

Nhìn chung, để được hưởng BHTN thì NLĐ cần đáp ứng ít nhất các điều kiện về thời gian tham gia BHTN; nguyên nhân thất nghiệp, thủ tực hương BHTN, khả năng lao động và sẵn sàng làm việc khi được giới thiệu việc làm mới

 Các chế độ của bảo hiểm thất nghiệp

- Trợ cấp thất nghiệp

Trợ cấp thất nghiệp là việc NLĐ khi mất việc làm được hõ trợ một khoản tiền từ quỹ BHTN sau khi đáp ứng đủ các điều kiện do pháp luật quy định Các quy định về trợ cấp thất nghiệp gồm các quy định về thời gian hưởng TCTN, mức hưởng và thủ tục hưởng

Trang 25

Mức hưởng TCTN về cơ bản được hiểu là tỷ lệ % trên mức lương bình quân của NLĐ

và biểu hiện thông qua một khoản tiền lấy từ quỹ BHTN Mức hưởng trợ cấp thường phụ thuộc và hai yếu tố, đó là cơ sở, mức đóng và thời gian đóng Nếu NLĐ cơ sở mức đóng càng cao và thời gian đóng càng lâu thì mức hưởng càng cao Ở mỗi quốc gia họ đều có cách tính

tỷ lệ hưởng riêng, tuy nhiên trên tất cả đều phải đảm bảo mức sống tối thiểu cho NLĐ bị thất nghiệp Nguyên tắc cơ bản mà tất cả các quốc gia đều áp dụng đó là mức hưởng trợ cấp bao giờ cũng phải thấp hơn mức thu nhập của người lao động trước khi bị mất việc làm cũng không quá thấp nhằm tránh trường hợp NLĐ không đủ tiền để trang trải và ổng định cuộc sống Theo luật Bảo hiểm việc làm Nhật bản thì mức hưởng trợ cấp thất nghiệp giao động từ

50 – 80% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHTN của 6 tháng liền kề trước khi thất nghiệp Đối với những người lao động từ 60 -64 tuổi thì mức hưởng dao động trong khoảng

45 – 80% Mức trợ cấp tối thiểu là 1,668 yên/ngày và tối đa không quá 7,935 yên

Tại Đức, họ quy định mức hưởng của người lao động còn phụ thuộc vào yếu tố con cái Nếu người lao động có con thì khi thất nghiệp tỷ lệ hưởng là 57%, còn nếu không có con thì mức hưởng chỉ là 53% Những người lao động thất nghiệp có con sẽ được hưởng cao hơn vì

họ cần nhiều chi phí hơn để lo cho cuộc sống gia đình, khi những đứa trẻ của họ còn nhỏ không đủ khả năng chi trả cho cuộc sống Hay như ở Hà Lan mức hưởng cho 2 tháng đầu là 75% trung bình của 12 tháng tiền lương trước khi thất nghiệp và 70% cho tháng hưởng thứ 3.[26]

Thời gian hưởng TCTN là khoảng thời gian mà NLĐ thất nghiệp nhận các khản trợ cấp hàng tháng dưới dạng tiền mặc do quỹ BHTN chi trả Đối với nhiều quốc gia thì việc quy định thời gian hưởng TCTN đều dựa trên thời gian đóng BHTN, khả năng tài chính của quỹ BHTN, tình hình chung của thị trường lao động – việc làm Theo công ước số 168 của ILO thì thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp có thể lên đến 26 tuần đối với một chu kỳ thất nghiệp

và 39 tuần trong mỗi giai đoạn 24 tháng Thông thường thì trong khảng thời gian hưởng trợ cấp giao động từ 12 – 16 tuần, một số nơi thậm chí có thể kéo dài hơn ví dụ như ở Mỹ có một số bang thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp vượt qua con số 26 như bang Massachusetts

là 30 tuần, bang Montana là 28 tuần, hay như ở Cannada là 45 tuần hưởng trợ cấp thất nghiệp, thậm chí ở Italia số tuần hưởng trợ cấp thất nghiệp có thể lên đến 78 tuần ở Áo thì thời gian

Trang 26

hưởng trợ cấp thất nghiệp lại tính bằng tháng chứ không tính bằng tuần và thời gian này sẽ phụ thuộc và thêm một yếu tố là độ tuổi của NLĐ Nếu NLĐ chưa đến 50 tuổi thì sẽ chỉ được hưởng tối đa là 8 tháng trợ cấp, còn từ 50 -55 tuổi thì được hưởng không quá 12 tháng và không quá 14 tháng đối với lao động trên 55 tuổi[36]

- Chế độ trợ học nghề và tư vấn – giới thiệu việc làm

Hỗ trợ học nghề là việc Nhà nước hỗ trợ NLĐ thất nghiệp thông qua hoạt động dạy nghề nhằm nâng cao trình độ tay nghề năng lực của bản thân, đẻ từ đó NLĐ có thể tìm được công việc mới phù hợp hơn Việc chi trả cho hoạt động hỗ trợ học nghề thường được trích từ quỹ BHTN và cả từ phái người lao động

Hỗ trợ tư vấn giới thiệu việc làm cho người thất nghiệp: mục đích của hoạt động này là giúp người lao động tìm được một công việc mới bằng nhiều cách thức khác nhau, mà chủ yếu là thông qua các trung tâm giới thiệu việc làm Tuy nhiên, để được hưởng các chế độ hỗ trợ tìm việc làm, NLĐ phải đáp ứng đủ các điều kiện mà pháp luật quy định đồn thời khi đủ điều kiện hưởng, thì cũng như các chế độ nêu trên, NLĐ sẽ được hưởng các quyền lợi cụ thể

Ở nhiều quốc gia thì hai chế độ này chưa thực sự phát huy được hiệu quả, tình hình thực hiện còn ở mức thấp, số người lao động còn khá hạn chế

- Chế độ hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động

Đây là chế độ nhà nước hỗ trợ cho NSDLĐ và các doanh nghiệp Mực đích là để NSDLĐ đào tạo, bồi dương, nâng cao trình độ cho người lao động nhằm hạn chế tình trạng NLĐ bị mất việc làm Có thể nói, chế độ này thể hiện rõ nhất sự chủ động đơn vị sử dụng lao động nói riêng, nhà nước nói chung trong việc không chế tình trạng mất việc làm, tránh ảnh hưởng đén tình hình sản xuất kinh doanh của đơn vị cũng như đời sống của NLĐ và trật tự xã hội nói chung Điều này góp phần lý giải tại sao một số quốc gia treent hế giới, trong đó có Việt Nam, không quy định BHTN trong Luật BHXH mà quy định trong Luật Việc làm

 Quỹ bảo hiểm thất nghiệp

Quỹ BHTN là một quỹ tài chính tập trung và độc lập được hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm thất nghiệp nhằm mục đích chi trả các chế độ BHTN cho người lao động khi họ đáp ứng đủ điều kiện do pháp luật quy định

Trang 27

-Về nguồn hình thành

Tuy các nước có những quy định khác nhau về nguồ hình thành quỹ BHTN, song nhìn chung đều xoay quanh ba chủ thể là NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước Có những quốc gia chỉ có NLĐ và NSDLĐ đóng góp là chính Nhà nước chỉ giữ vai trò bảo trợ, nghĩa là quỹ BHTN thiếu hụt thì Nhà nước sẽ cấp bù hỗ trợ một phần, điển hình như Hà Quốc, Đức, Canada Hay tại Ba Lan và Nga thì quỹ BHTN được đóng góp chủ yếu từ NSDLĐ và dưới sự bảo trợ của Nhà nước, NLĐ không phải đóng góp Thâm chí ở Australia và Phần Lan thì NLĐ và NSDLĐ

sẽ không phải đóng góp BHTN, Nhà nước chi trả toàn bộ trợ cấp cho người thất nghiệp [25] Ngoài ra, quỹ BHTN có thể được đầu tư quay vòng vốn để bảo toàn và thăng trưởng giá trị quỹ Tuy nhiên, việc đầu tư gia tăng quỹ này phải được đảm bảo an toàn và tránh rùi ro có thể xảy ra trong thực tế.[2]

- Tỷ lệ đóng góp

Tỷ lệ đóng góp BHTN của các bên tham gia của các quốc gia cũng rất khác nhau, có những nơi tỷ lệ đống góp của các bên bằng nhau như Đức, Việt Nam Tuy vậy, số lượng các quốc gia mà tỷ lệ đóng góp quỹ BHTN của NSDLĐ cao hơn NLĐ lại chiếm khá nhiều Điều này xuất phát từ trách nhiệm của NSDLĐ với NLĐ

 Xử lý vi phạm về bảo hiểm thất nghiệp

Vi phạm pháp luật về BHTN là những hành vi trái pháp luật trong lĩnh vực BHTN, do các chủ thể tham gia BHTN thực hiện gây ra những hậu quả nhất định tới các bên, cũng như tổn hại cho Nhà nước và xã hội Những vi phạm này, đều phải chịu trách nhiệm pháp lý cụ thể do Nhà nước đặt ra Đặc điểm của vi phạm pháp luật về BHTN

- Vi phạm pháp luật này do các bên tham gia BHTN thực hiện, cụ thể là NSDLĐ, NLĐ

và cơ quan quản lý và thực hiện BHTN

- Những vi phạm pháp luật này được thể hiện qua các hành vi trái pháp luật liên quan đến BHTN như trốn đóng, nợ đóng BHTN, cấu kết trục lợi từ quỹ BHTN, từ các chế độ BHTN…

Trang 28

- Những vi phạm pháp luật này gây ra những hậu quả nhất định cho các bên tham gia, đặc biệt là tới NLĐ, đối tượng tương đối yếu tố trong quan hệ pháp luật về BHTN Bên cạnh

đó, những vi phạm này còn gây ra thiệt hại về mặt tài chính đối với Nhà nước và xã hội, ví

dụ như hành vi trục lợi từ quỹ BHTN

Để giải quyết tình trạng vi phạm về BHTN, thì các quốc gia đều đặt ra những chế tài riêng để xử lý Thường thì có hai chế tài chính là hành chính và hình sự Về chế tài hành chính thì người vi phạm sẽ bị chịu các hình phạt như phạt tiền cảnh cáo, tịch thu tài sản từ việc vi phạm, hay một số quốc gia còn bắt người lao động công ích Chế tài hành chính thường tương đối nhẹ, chưa đủ sức răn đe dẫn đến tình trạng tái phạm diễn ra ngày càng nhiều, do đó nhiều quốc gia đã mạnh tay hợn trong việc xử phạt khi quy định trách nhiệm hình sự Theo đó, với những hành vi nghiêm trọng gây hậu quả lớn như trốn đóng BHTN với số tiền lớn hay cấu kết trục lợi gây thiệt hại nghiêm trọng đều phải chịu TNHS Tùy từng mức độ, thì phải chịu những hình phạt cụ thể như phạt tiền, quản chế tại nhà, cải tạo không giam giữ, hoặc phạt tù ngoài ra còn cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm tham gia vào các quan hệ BHTN

1.3 Pháp luật bảo hiểm thất nghiệp một số nước trên thế giới và gởi mở cho Việt Nam

Trên thế giới có lẽ từ “ Thất nghiệp” đã không còn xa lạ với bất cứ quốc gia nào, dù là quốc gia phát triển, đang phát triển hay kém phát triển Để đảm bảo chi tiêu trước cảnh thất nghiệp là một thách thức đối với người lao động Thất nghiệp không chỉ ảnh hưởng đến đời sống của riêng người lao động mà còn ảnh hưởng đến nền kinh tế vĩ mô Do đó, Bảo hiểm thất nghiệp đã ra đời Lần đầu tiên xuất hiện vào thế kỉ XIX tại Đức , Italia, Thụy Sĩ và lan rộng ra Pháp ,Anh, Hà Lan,Mỹ …cho tới nay bảo hiểm thất nghiệp đã trở thành một phần không thể thiếu trong hệ thống An sinh xã hội của nhiều nước trong đó có Việt Nam

Hiện nay, tại các nước phát triển bảo hiểm thất nghiệp được thực hiện rộng rãi với những bộ luật quy định khá toàn vẹn và chặt chẽ Mỗi nước đều có quy định riêng và thực

Trang 29

hiện đựa trên những nguyên tắc của mình Hệ thống bảo hiểm được thực hiện rộng khắp cả nước ,quản lý linh hoạt và nhiều loại hình bảo hiểm đáp ứng nhu cầu của con người

1.3.1 Bảo Hiểm thất nghiệp tại Đức [27]:

Bảo hiểm thất nghiệp được bắt đầu thực hiện tại Đức vào năm 1919 và chính thức hóa bằng một bộ luật vào năm 1927, là một cấu thành trong hệ thống BHXH của Đức bao gồm bảo hiểm hưu trí, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn và bảo hiểm chăm sóc Bảo hiểm thất nghiệp là một chương trình BHXH bắt buộc dựa trên sự đóng góp tài chính của người lao động và chủ sử dụng lao động Năm 2003, tỷ lệ đóng góp bảo hiểm thất nghiệp là 6,5% lương trong đó người lao động đóng 50%, chử sử dụng lao động đóng 50%

Đối tượng hưởng bảo hiểm thất nghiệp: Là người bị thất nghiệp tạm thời < 65 tuổi; đã đăng ký tại cơ quan việc làm địa phương; đủ điều kiện về thời gian làm việc và đóng bảo hiểm; Chứng tỏ được bản thân có nỗ lực tìm việc

Điều kiện hưởng BHTN: Có hợp đồng lao động > 12 tháng trong một giai đoạn xem xét (3 năm cuối trước khi đăng ký thất nghiệp) trừ trường hợp đặc biệt và đã đóng bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc Do đặc thù công việc làm dưới 1 năm cần 6 tháng làm việc đã đóng BHTN bắt buộc

Mức hưởng chế độ BHTN (thu nhập từ BHTN không phải nộp thuế): 60% lương thực

tế sau khi đã trừ đi các khoản đóng góp bắt buộc (thuế thu nhập, đóng góp BHXH, BHYT)

TH có ít nhất một trẻ phụ thuộc là 67% lương; Được đóng BHYT trong quỹ y tế công, và quỹ hưu trí bắt buộc trong thời gian thất nghiệp

Thời gian hưởng chế độ: Không có thời gian chờ áp dụng trước khi nhận phúc lợi cho người thất nghiệp Thời gian hưởng phụ thuộc vào thời gian làm việc có đóng bảo hiểm trước

đó và tuổi người lao động

Giai đoạn không đủ tiêu chuẩn hưởng và mất quyền hưởng: Bị tước quyền hưởng chế

độ trong vòng 12 tuần nếu bị chấm dứt hợp đồng do lỗi vi phạm hợp đồng hoặc sai phạm trong công viêc Thời hạn đình chỉ quyền hưởng chế độ tương tự cũng được áp dụng nếu người thất nghiệp từ chối nhận công việc được đề nghị bởi cơ quan việc làm hoặc từ chối tham gia các chương trình đào tạo Nếu người thất nghiệp đã từng bị tước quyền hưởng chế

Trang 30

độ trong 12 tuần và đã nhận thông báo bằng văn bản về vấn đề này thì quyền hưởng chế độ

sẽ vĩnh viễn bị tước nếu đối tượng vi phạm một vấn đề tương tự

Sự đình chỉ chi trả chế độ: Bị ngừng chi trong thời gian người thất nghiệp nhận tiền trợ cấp từ các chế độ BHXH khác như chế độ ốm đau, lương hưu

1.3.2 Bảo hiểm thất nghiệp tại Mỹ [36]:

Ra đời: Bảo hiểm thất nghiệp là chương trình nằm trong Luật Bảo hiểm xã hội của Hợp

chủng quốc Hoa Kỳ được thực hiện từ năm 1935, gồm có: hệ thống của Liên bang và Tiểu bang Hệ thống Liên bang quy định chung, từ đó cấp Tiểu bang hướng dẫn, quản lý và thực hiện chương trình của bang mình Việc quản lý và thực hiện chương trình bảo hiểm thất nghiệp ở các Tiểu bang cũng khác nhau Một số Tiểu bang có mức hỗ trợ thất nghiệp khá cao, một số Tiểu bang lại có mức thấp hơn Có thể nói Mỹ là một trong những quốc gia có nhiều loại hình bảo hiểm thất nghiệp nhất trên thế giới tiêu biểu với bảy loại hình là :

Bảo hiểm thất nghiêp trên diện rộng ,bảo hiểm thất nghiệp dành cho nhân viên liên bang, bảo hiểm thất nghiệp dành cho cựu quân nhân,khoản lợi ích mở rộng dành cho các khu vực

có tỉ lệ thất nghiệp cao, hỗ trợ thất nghiệp do thiên tai, phụ cấp ảnh hưởng thương mại, hỗ

trọ cho hoạt động tự doanh

Đối tượng được nhận bảo hiểm thất nghiệp: Là những người bị mất việc không do lỗi của cá nhân họ Họ vẫn đang cố gắng tìm kiếm việc làm, sẵn sàng nhận công việc mới và luôn

nỗ lực nhằm chấm dứt tình trạng thất nghiệp Những người này sẽ được hỗ trợ một khoản tiền theo tỉ lệ nhất định so với khoản thu nhập cũ nhận trong những thời kì cụ thể

Mục đích của bảo hiểm thất nghiệp: Ngăn ngừa sự bất ổn định về kinh tế, xã hội; hỗ

trợ, đào tạo nhằm giúp người lao động có cơ hội trở lại thị trường lao động, tìm việc làm mới; trợ cấp thất nghiệp; Thay thế một phần thu nhập cho người lao động bị mất việc làm mà không phải lỗi của họ

Trang 31

Có thể nhận thấy được vai trò và mức độ hiệu quả của bảo hiểm thất nghiệp đối với nền kinh tế Mỹ đặc biệt là trong những giai đoạn khủng hoảng , tuy nhiên bảo hiểm thất nghiệp

đã thật sự công bằng chưa ? Bởi mỗi bang đều có những nguồn luật điều chỉnh bang, khiến cho nhiều người dân không hài lòng Họ mong muốn có một mức trợ cấp thống nhất trên cả nước Thêm vào đó, phần lớn nguồn trợ cấp thất nghiệp là từ thuế Đối với nước đang phát triển như Việt Nam nếu trông chờ vào thuế để trợ cấp thì có thể sẽ dẫn tới hậu quả xấu, không mong muốn

1.3.3 Bảo hiểm thất nghiệp ở ChiLe [2]:

Chile đã xây dựng hệ thống bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) từ năm 1937, là nước đầu tiên ở Tây bán cầu cải cách hệ thống Bảo đảm xã hội và là nước đầu tiên trên thế giới thực hiện cải cách theo tài khoản đầu tư cá nhân Đó cũng là một con đường mới của một nước đầu tiên sử dụng tài khoản riêng trong hệ thống BHTN

Hệ thống BHTN chuyển đổi hiện nay của Chile bắt đầu từ tháng 10/2002, được xây dựng trên cơ sở sự sở hữu tài khoản cá nhân cho tình trạng ngừng việc và làm cơ sở cho việc chi trả

Trang 32

Chương trình BHTN mới sẽ được đóng góp như sau: Cơ quan quản lý BHTN sẽ trích từ thuế lương để người lao động đóng góp 0,6% tiền lương của họ vào tài khoản riêng của người lao động, đồng thời chủ sử dụng lao động đóng 2,4 vào tài khoản riêng và tài khoản chung (trong đó 1,6% vào tài khoản riêng của người lao động và 0,8% vào tài khoản chung) Mỗi tài khoản riêng sẽ đại diện cho một người lao động và tài khoản này sẽ không được rút ra, cho tới khi người lao động chủ của nó bị thất nghiệp hoặc về hưu Người lao động có thể rút tiền ngay khi họ chấm dứt công việc hoặc bị cho nghỉ việc từ công việc cuối cùng của họ từ nguồn tài khoản riêng Điều đó tạo cho người lao động linh hoạt trong việc chuyển đổi chỗ làm việc Điều kiện về thời gian đóng BHTN vẫn phải kéo dài đủ 12 tháng

Thời gian chờ đợi để được nhận tiền thất nghiệp là một tháng Thời gian này được quy định, nhằm thực hiện một loạt các đặc trưng chỉ định nhằm thúc đẩy sự cần thiết tìm việc làm mới Thời gian chờ đợi này được coi như thời gian”đồng chi trả” trong hoạt động bảo hiểm Việc chi trả tháng đầu tiên của người thất nghiệp hoàn toàn do người thất nghiệp từ nguồn tiền riêng Một tháng chờ đợi này, người lao động phải tích cực thực hiện các kế hoạch tái hoà nhập việc làm vì BHTN không trả tiền

Thời gian hưởng thất nghiệp kéo dài nhiều nhất là 5 tháng, tháng đầu sẽ chi trả 50% tỷ lệ tiền lương (nhằm hạn chế sự kéo dài tối đa) Các tháng kế tiếp sẽ giảm đi mỗi tháng là 5% cho tới 30% vào tháng thứ năm

Điều đó thể hiện rõ trong các nội dung quản lý tài chính của chương trình BHTN mới: việc thu và chi từ các tài khoản cá nhân; cập nhật các thông tin thường xuyên, nếu người lao động chuyển đổi chủ sử dụng lao động; tình trạng tài khoản cá nhân theo mức độ đầu tư và

sự theo dõi dòng tiền vào - ra của quỹ chung

1.3.4 Những gợi mở cho Việt Nam

Như vậy, qua tìm hiểu về chính sách bảo hiểm thất nghiệp của một số quốc gia trên thế giới cho thấy mỗi nước có quan điểm khác nhau và đặt ra những quy định điều chỉnh cũng khác nhau tùy vào từng hoàn cảnh cụ thể và điều kiện kinh tế mỗi nước Tuy nhiên đều hướng tới một nguyên tắc chung đó là nhằm bù đắp một phần chi phí tạm thời cho người lao động thất nghiệp và tạo cơ hội giúp đỡ họ tìm kiếm việc làm mới Bên cạnh đó, mỗi nước có những quy định để Việt Nam tham khảo:

Trang 33

Theo quy định về đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp tại Đức, người lao động nước ngoài có công việc thường xuyên có thể nhận được chế độ bảo hiểm thất nghiệp theo các điều kiện tương tự như người lao động Đức Vậy là pháp luật bảo hiểm thất nghiệp ở Đức đã mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp, cả người nước ngoài đang làm việc tại Đức thì đều tham gia bảo hiểm thất nghiệp Đây là một chính sách rất hay của chính phủ Đức, như vậy sẽ giúp “giữ chân” được người tài làm việc tại Đức Với chính sách bảo hiểm thất nghiệp, người lao động nước ngoài sẽ yên tâm làm việc và biết ơn sự quan tâm của Nhà nước đối với

họ Từ đó sẽ giúp mối quan hệ hữu nghị giữa các nước thêm chặt chẽ, đây cũng chính là một trong những chính sách ngoại giao của Đức Như vậy, quyền con người được đảm bảo ở nước ngoài mà không chỉ ở bản địa mới có Tùy vào từng điều kiện của mỗi nước mà có hay không việc đưa người nước ngoài vào làm đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp Ở Việt Nam, chưa có quy định về người nước ngoài được tham gia bảo hiểm thất nghiệp song bên cạnh

đó, người nước ngoài vẫn được đảm bảo chính sách an sinh xã hội khác như bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội Việt Nam có thể suy nghĩ mở rộng thêm việc mở rộng thêm đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội đó là người lao động nước ngoài vào làm việc và sinh sống tại Việt Nam

Vì vậy, sẽ giữ được nhiều người lao động nước ngoài đến Việt Nam làm việc hơn

Theo quy định về mô hình bảo hiểm thất nghiệp tại Chile, Tài khoản BHTN là một hình thức tài chính của BHTN theo phương thức lập quỹ Ở đây, người ta đề cập đến một hệ thống tài khoản cá nhân, mà ở đó người lao động đóng góp phần của mình vào tài khoản và cũng sẽ rút từ tài khoản này tiền thất nghiệp trong trường hợp bị thất nghiệp Số dư tài khoản đã đóng góp theo kiểu tiết kiệm sẽ được chi trả toàn bộ vào cuối cuộc đời lao động của họ Bên cạnh

đó, Chính phủ cũng lập ra một nguồn quỹ dự trữ cho những người lao động nào, mà tài khoản tiết kiệm cá nhân của họ không đủ để chi trả khi thất nghiệp Hệ thống BHTN mới ở Chile, thực chất là kế hoạch tiết kiệm bắt buộc, mà ở đó người lao động nhận được lợi thế riêng do phương pháp tài chính Người lao động sẽ có lợi nếu họ không khi nào bị thất nghiệp Bởi tất cả những lợi ích mà chính sách mới trên ,có thể nói đây là mô hình đáng để cho Việt Nam xem xét và học tập để hạn chế tình trạng nợ bảo hiểm thất nghiệp và người lao động gian dối khi làm hồ sơ chi trả thất nghiệp Theo thống kê của BHXH Việt Nam cho thấy, tính đến hết tháng 7-2016, số nợ BHTN lên tới 559,4 tỷ đồng Điều này đồng nghĩa với việc quyền

Trang 34

lợi của người lao động bị ảnh hưởng trực tiếp khi bị mất việc làm Cơ quan chức năng đã phát hiện không ít trường hợp người lao động nghỉ việc ở công ty này liền chuyển sang làm việc

ở công ty khác Nhưng khi có quyết định nghỉ việc ở đơn vị cũ, họ vẫn đi làm thủ tục để hưởng trợ cấp thất nghiệp Tiếp đến là trường hợp nhiều người lao động cố tình tạo hồ sơ giả

để được hưởng BHTN Việc áp dụng mô hình của Chile BHTN theo phương thức tiết kiệm

cá nhân nên đã tạo động lực thúc đẩy cho người lao động có gắng sớm tìm được việc làm mới

sẽ hạn chế được những bất cập, khó khăn mà Việt Nam đang gặp phải hiện nay

Theo quy định của bảo hiểm thất nghiệp tại Mỹ, có thể thấy rằng rất khó áp dụng và phù hợp với nền kinh tế Việt Nam Tuy nhiên, Việt Nam có thể xem xét điều kiện để được hưởng bảo hiểm thất nghiệp, những người bị thất nghiệp không phải lỗi tại bản thân họ, thì mới được hưởng trợ cấp thất nghiệp ở mức nhất định Người bị thất nghiệp do lỗi bản thân họ thì không được hưởng trợ cấp thất nghiệp như: tự ý bỏ việc, vi phạm kỷ luật lao động bị đuổi việc, tay nghề kém buộc phải thôi việc, đã được giới chủ trả trợ cấp thôi việc Xác định rõ nguyên nhân, xác định lỗi của người bản thân người hưởng bảo hiểm thất nghiệp sẽ giúp nâng cao tinh thần, trách nhiệm trong công việc của người lao động Đảm bảo bảo hiểm thất nghiệp được coi là biện pháp trợ giúp kinh tế tạm thời, hữu hạn cho người thất nghiệp xứng đáng trong thời gian không làm việc chứ không được coi là kế sách của những người lười lao động Chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam ra đời phần nào giúp người lao động thất nghiệp giảm bớt sự thiếu hụt về tài chính Giải quyết những vấn đề nhức nhối của xã hội Vậy nên, bảo hiểm thất nghiệp là một chính sách trụ cột đối với mỗi quốc gia, nhằm đảm bảo an sinh xã hội hướng tới quyền lợi con người, góp phần ổn định xã hội và phát triển kinh tế đất nước Vì vậy, nhà nước cần có những chính sách thay đổi để nâng cao hiệu quả chính sách bảo hiểm thất nghiệp Chúng ta cần tiếp thu, học hỏi kinh nghiệm các nước đã đang xây dựng các quy định về bảo hiểm thất nghiệp Để từ đó đưa ra những biện pháp phù hợp với tình hình kinh tế xã hội Việt Nam

Trang 35

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Bảo hiểm thất nghiệp trên cả nước nói chung và Thành phố Hà Nội nói riêng là chính sách lớn của Đảng Nhà nước ta hiện nay nhằm nhanh chóng đưa người lao động được hưởng bảo hiểm thất nghiệp sớm ổn định công việc và cuộc sống Trong chương 1, tác giả đã đi sâu phân tích từng nội dung quan trọng của thất nghiệp và đặc biệt là BHTN Những vẫn đề về khái niệm BHTN, vai trò của BHTN hay nguyên tắc của BHTN là vô cùng quan trọng, nó là tiền đề để xây dựng nên chính sách BHTN ở mỗi quốc gia Không những vậy, tác giả cũng chỉ ra những nội dung chính mà một chính sách BHTN cần có từ đối tượng tham gia, điều kiện hưởng cho đến việc xử lý vi phạm pháp luật về BHTN

Bên cạnh đó, tác giả cũng đã phân tích đánh giá những quy định về BHTN của một số quốc gia trên thế giới cụ thể là Đức, Mỹ, Chile Từ đó, đưa ra những điểm tiến bộ và phù hợp làm cơ sở lý luận để đổi mới và hoàn thiện pháp luật về BHTN trong thời gian tới tại Việt Nam

Trang 36

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TRONG LUẬT VIỆC LÀM 2013 VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.1 Thực trạng các quy định pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp

2.1.1 Về đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp

Căn cứ theo Điều 43, Điều 44 Luật việc làm 2013 và Điều 11 Nghị định

28/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp, các đối tượng bắt buộc tham gia bao gồm:

Thứ nhất, người lao động:

Ngày 16/11/2013, Quốc hội đã ban hành Luật Việc làm và có hiệu lực từ ngày 1/1/2015 Thông qua Luật này thì đối tượng tham gia BHTN được bổ sung và mở rộng hơn so với quy định của Luật cũ (Luật BHXH 2006) theo hướng có lợi hơn cho người lao động Theo khoản

1 Điều 43 Luật việc làm thì người lao động phải tham gia BHTN khi làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc xác định thời hạn; Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn đủ 3 tháng đến dưới 12 tháng Và phải là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên có khả năng lao động và có nhu cầu làm việc ( khoảng 1 Điều

3 Luật Việc làm) giao kết các loại hợp đồng lao động làm việc với NSDLĐ thì mới là đối tượng bắt buộc của BHTN Trường hợp người lao động đang hưởng lương hưu; trợ cấp mất sức lao động hàng tháng; giúp việc gia đình; người lao động giao kết hợp đồng lao động dưới

3 tháng thì không thuộc đối tượng tham gia BHTN Như vậy, theo Luật Việc làm 2013, trường hợp người nước ngoài làm việc tại Việt Nam thì không thuộc đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp

Theo quy định tại Điều 11- Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật việc làm về BHTN Trường hợp người lao động giao kết nhiều hợp đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 43 Luật Việc làm 2013, thì người lao động của hợp đồng lao động giao kết đầu tiên có trách nhiệm tham gia bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động Và khi đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo hợp đồng lao động giao kết

có hiệu lực đầu tiên, mà khi chấm dứt hoặc thay đổi hợp đồng dẫn đến NLĐ không thuộc đối tượng tham gia BHTN thì người lao động và người sử dụng lao động thuộc đối tượng tham

Trang 37

gia bảo hiểm thất nghiệp của hợp đồng lao động giao kết có hiệu lực kế tiếp có trách nhiệm tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật

Trường hợp người lao động nghỉ việc hưởng chế đọ thai sản hoặc ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên không hưởng tiền lương tháng tại đơn vị mà hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội, người lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đã giao kết theo quy định của pháp luật thì người lao động không thuộc đối tượng tham gia BHTN trong thời gian này

Như vậy, Luật Việc làm ra đời đã mở rộng đối tượng tham gia BHTN, tạo cơ hội cho người lao động được đảm bảo cuộc sống Nhà nước đã và đang cố gắng trong việc hoàn thiện chính sách BHTN, tuy nhiên vẫn còn hạn chế với một số người lao động như những người lao động có thời hạn dưới 3 tháng, người giúp việc gia đình Đây là những đới tượng cũng cần được quan tâm, giúp đỡ và tạo điều kiện Theo quy định tại Hiến pháp năm 2013, Điều

34 quy định “ công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội vậy nên, những đối tượng trên cần được Nhà nước cân nhắc, xem xét để họ được tham gia như những người lao động khác

Thứ hai, người sử dụng lao động:

Đối với người sử dụng lao động pháp luật Bảo hiểm thất nghiệp cũng đưa ra các quy định về các trường hợp được tham gia BHTN với người sử dụng lao động Những quy định

về BHTN được quy định trong Luật Việc làm ra đời thay thế các quy định về bảo hiểm thất nghiệp tại luật Bảo hiểm xã hội 2006 Đã có những điểm tiến bộ hơn về các trường hợp người

sử dụng lao động được tham gia BHTN Theo khoản 4 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2006 việc tham gia bảo hiểm thất nghiệp đối với người sử dụng lao động chỉ áp dụng khi có từ 10 lao động trở lên tại các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân Như vậy, sẽ gây nên thực trạng đó là có rất nhiều doanh nghiệp sử dụng dưới 10 lao động mà người lao động lại không được tham gia BHTN, không được đảm bảo về mặt quyền lợi Quy mô hoạt động của những doanh nghiệp này thường không ổn định, người lao động sẽ dễ gặp rủi ro mất việc hơn Luật Việc làm ra đời, đã khắc phục hạn chế này khi mở rộng các trường hợp tham gia BHTN với người sử dụng lao động Đó là theo quy định tại khoản 3 Điều 43 Luật Việc làm:

“Người sử dụng lao động tham gia BHTN bao gồm cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính tri, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính

Trang 38

trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình, hộ kinh doanh, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng làm việc hoặc hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 điều này.”

Người sử dụng lao động có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng làm việc hoặc hợp đồng lao động không xác định thời hạn; có xác định thời hạn hoặc theo mùa vụ, theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 3 tháng đế dưới 12 tháng Như vậy, người sử dụng lao động được tham gia BHTN hay không là do hợp đồng lao động và hợp đồng làm việc được

ký hết với người lao động theo loại hợp đồng nào Như vậy, sẽ tăng cơ hội được tham gia BHTN cho người lao động nhiều hơn là người sử dụng lao động Nhưng những người lao đọng có thời hạn dưới 3 tháng làm giúp việc gia đình vẫn không thuộc đới tượng được tham gia BHTN Mà những đới tượng này cũng rất cần có sự quan tâm của Nhà nước

Thứ ba, nhà nước:

Nguồn quỹ bảo hiểm thất nghiệp bên cạnh trách nhiệm đóng góp vào quỹ của NLĐ và NSDLĐ, còn có sự giúp đỡ từ phía Nhà nước Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đưa ra các chính sách và giải quyết chính sách cho người lao động bị thất nghiệp Theo quy định tại khaorn 1, 2 Điều 57 Luật Việc làm quy định về nguồn hình thành quỹ BHTN thì Nhà nước là một trong ba bên tham gia đóng góp vào BHTN Sự tham gia của Nhà nước là rất cần thiết vì thu nhập của NLĐ cũng còn hạn chế nên đây là biện pháp cần thiết đối với chế

độ trọe cấp thật nghiệp Việc đóng góp này đảm bảo chế độ BHTN được thực thi có hiệu quả Nhờ có sự tham gia của Nhà nước mà gánh nặng về tài chính của NSDLĐ cũng được san sẻ

và quyền lwoij của NLĐ cũng chắc chắn hơn Theo khoản 1 Điều 7-N Đ 28/2015/ NĐCP : ngân sách Nhà nước hỗ trợ quỹ BHTN theo quy tắc bảo đảm duy trì số sư quỹ hàng năm bằng

02 lần tổng các khoản chi các chế độ BHTN và chi phí quản lý BHTN của năm trước liền kề nhưng mức hỗ trợ tối đa bằng 1% quỹ tiền lương tháng đóng BHTN của những người lao động đang tham gia BHTN Mức đóng của NLĐ là 1% của người sử dụng lao động là 1% và Nhà nước là tối đa là 1%, do ngân sách TW chi trả Tỷ lệ này không cao nhưng cũng không thấp, để đảm bảo rằng Người thất nghiệp sẽ không ỷ lại vào số tiền này mà lười biếng hay số

Trang 39

tiền thấp không đủ để đảm bảo cuộc sống Vậy nên, Nhà nước là yếu tố quan trọng, quyết định đến việc hiệu quả hay không của BHTN

2.1.2 Điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp

Theo quy định tại Điều 49 Luật Việc làm, NLĐ bị thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi thỏa mãn các điều kiện sau:

Một là, người lao động đang đóng BHTN bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc theo quy định tại khoản 1 Điều 49 Luật Việc làm, tức là người lao động có tháng liền kề trước thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đã đóng BHTN và được xác nhận Trừ những trường hợp sau thì người lao động đang đóng BHTN mà bị mất việc làm sẽ không đủ điều kiện được hưởng trợ cấp:

Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật; bị xử lý kỷ luật theo hình thức sa thải hoặc buộc thôi việc theo quy định của pháp luật; hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hàng tháng hoặc bị kết án tù giam theo quyết định của Tòa án; chết hoặc mất tích theo tuyên bố của Tòa án thì sẽ không được hưởng TCTN Mục đích của quy định này nhằm nâng cao ý thức của NLĐ trong quá trình làm việc, tránh tình trạng người lao động nghỉ việc nhằm mục đích để hưởng trợ cấp thất nghiệp Bên cạnh đó, cách tính thời gian đóng BHTN để được hưởng trợ cấp, việc đóng phí để được hưởng trợ cấp phải có xác nhận của cơ quan BHTN, hạn chế việc gian lận

Hai là, Người thất nghiệp phải đóng đủ thời gian tham gia BHTN theo khoản 2 Điều 49 – Luật Việc là Đó là người lao động phải đóng đủ 12 tháng trở lên trong thời hạn 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng việc làm không xác định thời hạn hoặc xác định thời hạn (tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 43 Luật Việc làm) Như vậy, tùy từng loại hợp đồng mà thời hạn sẽ có sự khác nhau từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng hoặc 36 tháng trước khi NLĐ thất nghiệp Tháng đóng BHTN của NLĐ được tính nếu NSDLĐ và NLĐ đã thực hiện hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc và đã đóng BHTN Trách nhiệm đóng phí BHTN giúp phòng ngừa rủi ro khi NLĐ không may bị mất việc làm Lợi ích này không chỉ có phía NLĐ mà chính NSDLĐ cũng được hưởng Vì khi NLĐ bị mất việc làm mà có BHTN chi trả trợ cấp thất nghiệp thì NSDLĐ đỡ đi một khoản tài chính để trợ cấp cho NLĐ Và bản thân người sử dụng

Trang 40

lao động tham gia cũng được hưởng BHTN khi không may họ bị mất việc làm Như vậy, cả NSDLĐ với NLĐ đều thuộc đối tượng được tham gia BHTN Do đó, nếu NSDLĐ không tự giác tham gia BHTN cho người lao động thì NLĐ sẽ không được tham gia chế độ và khi thất nghiệp sẽ không được hưởng quyền lợi Mục đích duy trì sự tồn tại của quỹ BHTN, việc đóng quỹ còn là cơ sở đảm bảo thanh toán quyền lợi của người tham gia Do vậy, quy định này đưa

ra nhằm tránh tình trạng ỷ lại vào Nhà nước, gây thâm hụt quỹ do chậm hoặc không đóng phí từ phía NLĐ, NSDLĐ

Ba là, để hưởng trợ cấp thất nghiệp, người lao động thất nghiệp phải nộp hồ sơ tại trung tâm dịch vụ việc làm ở địa phương nơi người lao động muốn nhận trợ cấp thất nghiệp Theo quy định tại khoản 3 Điều 49 Luật Việc làm, nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm

Theo quy định tại khoản 1 Điều 46 đó là “Trong thời hạn 3 tháng, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, người lao động nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm do cơ quan quản lý nhà nước về việc làm thành lập” Theo quy định tại Điều 17 NĐ 28/2015/NĐ-CP: “Trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, người lao động chưa có việc làm và có nhu cầu hưởng trợ cấp thất nghiệp phải trực tiếp nộp 01 bộ hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp theo đúng quy định tại Điều 16 của Nghị định này cho trung tâm dịch vụ việc làm tại địa phương nơi người lao động muốn nhận trợ cấp thất nghiệp”

Như vậy, luật mới quy định về điều kiện hưởng BHTN đã bỏ đi quy định về việc đăng

ký thất nghiệp với tổ chức BHXH Đây là hướng mới trong việc cải cách thủ tục hành chính Quy định này tạo điều kiện cho người mất việc làm thuận lợi hơn trong quá trình giải quyết hưởng BHTN NLĐ được thoải mái, chủ động hơn trong việc tiến hành thủ tục hưởng trợ cấp thất nghiệp Tuy nhiên, hàng tháng NLĐ thất nghiệp vẫn phải có trách nhiệm khai báo với trung tâm giới thiệu việc làm Để cơ quan quản lý việc làm sẽ nắm bắt được chính xác số lượng người thất nghiệp, góp phần hoạch định chính sách kinh tế, xã hội đất nước

Bốn là, người lao động chưa tìm được việc làm sau 15 ngày làm việc kể từ ngày nộp hồ

sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp tới trung tâm dịch vụ việc làm 15 ngày làm việc được hiểu là tính từ ngày đầu tiên sau khi NLĐ nộp hồ sơ hưởng BHTN tới trung tâm dịch vụ việc làm và

Ngày đăng: 22/04/2020, 19:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm