- Nhiệm vụ nghiên cứu: + Nghiên cứu những vấn đề lý luận về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất, những vấn đề lý luận về pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất từ đó xác định bản chất,
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐẤT
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC
NGUYỄN TIẾN HIỀN
HÀ NỘI - 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐẤT
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC
NGUYỄN TIẾN HIỀN
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 8380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN LỆ THU
HÀ NỘI - 2019
Trang 3CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lâp - Tự do - Hạnh phúc
XÁC NHẬN LUẬN VĂN ĐÃ CHỈNH SỬA THEO GÓP Ý CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN THẠC SĨ
Kính gửi: - Chủ tịch Hội đồng chấm luận văn;
- Người hướng dẫn luận văn;
- Khoa Đào tạo sau đại học
Tôi là: Nguyễn Tiến Hiền, sinh ngày 12/10/1977
Đã bảo vệ luận văn ngày 07 tháng 12 năm 2019 với đề tài “Pháp luật về
kiểm soát ô nhiễm môi trường đất từ thực tiễn huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh phúc”
Theo kết luận của Chủ tịch Hội đồng chấm luận văn, tôi đã chỉnh sửa những vấn đề sau:
1 Rà soát lỗi kỹ thuật chính tả
Tôi xin cam đoan tôi đã chỉnh sửa theo góp ý của hội đồng
Hà Nội, ngày tháng 12 năm 2019
Giáo viên hướng dẫn Chủ tịch hội đồng Học vıên
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và có kế thừa các công trình nghiên cứu trước đó có liên quan đến đề tài
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Tiến Hiền
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trong hơn 2 năm học tập, nghiên cứu chương trình cao học Luật Kinh tế tại trường Đại học Mở Hà Nội, chúng tôi đã tiếp thu được nhiều kiến thức mới, những kinh nghiệm quý báu, là hành trang cho chúng tôi tiếp tục thực hiện tốt hơn nhiệm
vụ của mình
Luận văn này là một phần kết quả quan trọng trong quá trình đào tạo cao học Với tất cả tình cảm của mình, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu Trường Đại học Mở, các Thầy, Cô giáo trong và ngoài Trường Đại học Mở đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin cảm ơn TS Trần Lệ Thu – người đã hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm Luận văn Cô giáo đã cho tôi thêm nhiều kiến thức về khoa học, cách tiếp cận và nghiên cứu về pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất nói riêng cũng như giúp tôi rèn luyện kỹ năng nghiên cứu khoa học
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới các cơ quan của Huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc đã giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập trong suốt thời gian qua
Mặc dù tôi đã có cố gắng trong quá trình làm luận văn, song không thể tránh khỏi những hạn chế nhất định, rất mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý và giúp đỡ quý báu của các Thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Hà Nội, tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Tiến Hiền
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
Trang 7TÓM TẮT LUẬN VĂN
Tên tác giả: Nguyễn Tiến Hiền
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Năm tốt nghiệp: 2019
Tên đề tài luận văn: “Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất từ thực tiễn
huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc”
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Lệ Thu
* Mục đích nghiên cứu:
Nội dung cơ bản:
- Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
- Mục tiêu nghiên cứu đề tài
- Phương pháp nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện Luận văn,
tác giả đã sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu bao gồm: *Phương pháp phân tích, phương pháp lập luận lôgic
* Phương pháp bình luận, phương pháp đối chiếu, phương pháp đánh giá
* Phương pháp tổng hợp, phương pháp quy nạp, phương pháp suy luận logic…
* Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu hồ sơ tài liệu báo cáo về thực tiễn áp dụng
pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất tại huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc
từ năm 2016 đến nay
* Kết luận: Luận văn cung cấp một cách trực diện những vấn đề lý luận về kiểm
soát ô nhiễm môi trường đất
Luận văn là nguồn tư liệu tổng hợp về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất tại huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc
Cung cấp thêm các luận cứ khoa học trong công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường đất tại huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc trong thời gian tới Thông qua khảo sát thực tiễn thi hành pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất trên địa bàn huyện sông
lô, tỉnh Vĩnh phúc tác giả đã nhận diện được những thiếu sót, bất cập, không phù hợp của pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất, xác định được những nguyên nhân của những hạn chế thiếu sót đó
Từ khóa: Kiểm soát ô nhiễm môi trường đất, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc
Hà Nội, ngày tháng 12 năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Tiến Hiền
Trang 8MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Danh mục các chữ viết tắt
Mục lục
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐẤT, PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI
TRƯỜNG ĐẤT 7
1.1 Một số vấn đề lý luận về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất 7
1.1.1 Các khái niệm: ô nhiễm môi trường đất, kiểm soát ô nhiễm môi trường đất 7
1.1.2 Đặc điểm của đất, những ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường đất 15
1.2 Một số vấn đề lý luận về pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất 17
1.2.1 Khái niệm pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất 17
1.2.2 Nguyên tắc cơ bản của pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất 18
1.2.3 Nội dung của pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất 20
1.2.4 Sự cần thiết điều chỉnh bằng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất và yêu cầu đặt ra 24
Kết luận Chương 1 29
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐẤT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC 32
2.1 Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất 32
2.1.1 Quy định pháp luật về xác định, thống kê, đánh giá, kiểm soát các yếu tố có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường đất 33
2.1.2 Quy định pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất tại các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ 34
Trang 92.1.3 Quy định pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất đối với khu vực ô nhiễm hóa chất độc hại 37 2.1.4 Quy định pháp luật về trách nhiệm kiểm soát ô nhiễm môi trường đất của các cơ quan nhà nước 38 2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất tại huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc 40 2.2.1 Vài nét khái quát về huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc 40 2.2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất tại huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc 42 2.2.3 Đánh giá việc áp dụng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất tại huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc 55 Kết luận Chương 2 61
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐẤT TẠI VIỆT NAM 63
3.1 Định hướng 63 3.1.1 Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất đảm bảo nguyên tắc phòng ngừa 63 3.1.2 Hoàn thiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất phải đảm bảo phát triển bền vững, sản xuất và tiêu dùng thân thiện với môi trường 64 3.1.3 Hoàn thiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất phải đảm bảo sự đồng bộ của hệ thống pháp luật môi trường 65 3.1.4 Hoàn thiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất phải đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế, quốc tế và hợp tác quốc tế trong bảo vệ môi trường 65 3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất 66 3.2.1 Các giải pháp pháp lý 66
Trang 103.2.2 Các giải pháp nhằm đảm bảo hiệu quả áp dụng pháp luật kiểm soát
ô nhiễm môi trường đất 69
3.2.3 Một số giải pháp riêng cho huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc 71
Kết luận Chương 3 74
KẾT LUẬN 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm môi trường đất nói riêng hiện đang được đặc biệt quan tâm, trở thành một trong những vấn đề môi trường khá bức xúc ở Việt Nam hiện nay Đặc biệt, tại khu vực nông thôn môi trường đất chủ yếu
bị ô nhiễm do sử dụng thuốc bảo vệ thực vật thiếu bền vững Hàng năm ước tính tổng lượng phân bón vô cơ sử dụng trong canh tác nông nghiệp vào khoảng 2,5 - 3 triệu tấn, trong đó có đến 50 - 70% không được cây trồng sử dụng thải ra môi trường Còn ở các vùng quanh đô thị, khu công nghiệp và làng nghề, môi trường đất cũng bị ô nhiễm do các chất thải từ hoạt động sản xuất, sinh hoạt Hiện chỉ có rất ít khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải Hầu hết nước thải sinh hoạt đô thị đều không được xử lý mà xả thẳng ra môi trường nên hàm lượng kim loại nặng trong đất ở một số làng nghề đã xấp xỉ hoặc vượt tiêu chuẩn cho phép Đặc biệt, môi trường đất ở một số nơi đang bị ô nhiễm do chất độc hóa học tồn lưu sau chiến tranh Đất bị ô nhiễm trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe con người thông qua tiếp xúc trực tiếp với đất hoặc qua đường hô hấp do sự bốc hơi của chất gây ô nhiễm đất Chẳng hạn như: Gây ra những tổn thương cho gan, thận và hệ thống thần kinh trung ương; Ảnh hưởng đến sức khỏe như nhức đầu, buồn nôn, mệt mỏi, kích ứng mắt và phát ban da; Thực vật trồng trên đất ô nhiễm sẽ bị nhiễm bệnh, con người ăn vào cũng sẽ nhiễm bệnh; Gây ô nhiễm nguồn nước ngầm, các chất độc công nghiệp, thuốc trừ sâu, trừ cỏ là nguyên nhân gây bệnh ung thư, đột biến, quái thai
Huyện Sông Lô là một huyện miền núi thuộc tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay đang
có tốc độ phát triển kinh tế tương đối tốt, nguy cơ xảy ra suy thoái tài nguyên đất đã
và đang diễn biến bất thường Môi trường đất phải đối mặt với sự ô nhiễm và thoái hóa trầm trọng Mặc dù có nhiều giải pháp được tiến hành nhưng hiệu quả thực sự không cao.Vì vậy, kiểm soát ô nhiễm môi trường đất là vấn đề cấp bách cần được thực hiện để bảo vệ môi trường và sức khỏe con người Tuy nhiên, về phương diện pháp lý, việc kiểm soát ô nhiễm đất còn nhiều hạn chế, cần được nghiên cứu, phát
Trang 12hiện và bổ sung, sửa đổi Thực tiễn áp dụng pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất tại cả nước nói chung, huyện Sông Lô nói riêng cũng cần được nghiên cứu để nhận diện những hạn chế khó khăn qua đó có hướng khắc phục, nhằm đảm bảo phát triển kinh tế bền vững cho cả nước và huyện Sông Lô.Với lý do đó, tôi chọn đề tài
“Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất từ thực tiễn huyện Sông Lô, tỉnh
Vĩnh Phúc” làm đề tài luận văn Thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Kiểm soát ô nhiễm môi trường đất đang là vấn đề được cả thế giới quan tâm, đặc biệt khi dân số ngày càng tăng cao thì nhu cầu về đất cũng tăng lên và theo đó vấn đề ô nhiễm cũng trở nên đáng lo ngại Nhiều công trình đã quan tâm nghiên cứu đến lĩnh vực này nhằm góp phần tìm ra giải pháp ở những khía cạnh khác nhau để bảo vệ môi trường đất
Một số đề tài và công trình nghiên cứu được công bố liên quan đến lĩnh vực
này Có một vài đề tài nghiên cứu nổi bật như: “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực
tiễn của việc đánh giá tiềm năng đất đai nhằm góp phần sử dụng hợp lý và bảo vệ nguồn tài nguyên đất trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam”của Viện Nghiên cứu Quản lý đất đai, do TS Bùi Văn Sỹ làm Chủ nhiệm; Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng quy định kỹ thuật về điều tra,đánh giá chất lượng đất phục vụ quy hoạch và sử dụng hợp lý tài nguyên đất,
của Viện Nghiên cứu Quản lý đất đai, do KS Phạm Đức Minh làm Chủ nhiệm,…
Liên quan đến bảo vệ đất và kiểm soát ô nhiễm môi trường đất, có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu của các cá nhân, tập thể đã được công bố trong thời gian qua như:
- Bùi Thế Mạnh, (2016), Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất,
Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học mở Hà Nội
- Các biện pháp kiểm soát ô nhiễm và quản lý chất thải của Bộ Khoa học
Công nghệ và môi trường, Cục môi trường (1998);
Trang 13- Chất thải trong quá trình sản xuất và vấn đề bảo vệ môi trường của Bộ Tài
nguyên và Môi trường, Cục môi trường (2004), NXB Lao động;
- Vấn đề quản lý chất thải theo hướng phát triển môi trường bền vững, của
tác giả Lê Thế Giới (2007) đăng trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ 8/2007;
- Đánh giá một số khía cạnh kinh tế của hoạt động xử lý chất thải công nghiệp nguy hại trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh của các tác giả Lê Thanh Hải,
Đỗ Thị Thu Huyền, NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội 2018;
- Bảo vệ môi trường trên quan điểm phát triển bền vững của tác giả Chu
Thành Thái đăng trên Tạp chí bảo vệ môi trường tháng 6/2012;
Các công trình trên thường đề cập, tập trung đến nghiên cứu vấn đề ô nhiễm môi trường dưới góc độ kỹ thuật, nghiên cứu khía cạnh quản lý chất thải để phòng ngừa và khắc phục nguy cơ ô nhiễm môi trường Có công trình nghiên cứu tới pháp luật kiểm soát ô nhiễm tới các môi trường khác nhau nhau như không khí, nước, thậm chí đất Điểm mới của luận văn là chưa có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện về thực trạng pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất qua khảo sát trên địa bàn huyện miền núi là huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc Qua nghiên cứu thực trạng pháp luật và khảo cứu thực tiễn như dự kiến nêu trên, tác giả sẽ đề xuất nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất ở Việt Nam nói chung và giải pháp đảm bảo thi hành pháp luật khung pháp lý này, đặc biệt là đảm bảo thi hành riêng cho địa bàn huyện Sông
ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất
Trang 14- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Nghiên cứu những vấn đề lý luận về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất, những vấn đề lý luận về pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất từ đó xác định bản chất, nội dung, yêu cầu của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất
+ Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất, chỉ ra những kết quả đạt được, nguyên nhân hạn chế, tồn tại của pháp luật trong lĩnh vực này
+ Đưa ra định hướng, đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất và các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thực thi pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất
4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng:
- Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất tại huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc theo quy định của Luật bảo vệ môi trường năm 2014
- Nghiên cứu khía cạnh pháp lý về vấn đề pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất không nghiên cứu khía cạnh xã hội, kỹ thuật
Trang 15- Phương pháp nghiên cứu:
Để giải quyết yêu cầu của đề tài, luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
*Phương pháp phân tích, phương pháp lập luận logic được sử dụng để nghiên cứu những vấn đề lý luận pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất (Sử dụng trong Chương 1)
* Phương pháp bình luận, phương pháp đối chiếu, phương pháp đánh giá … được sử dụng để tìm hiểu thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất
và thực tiễn áp dụng tại huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc (Sử dụng trong Chương 2)
* Phương pháp tổng hợp, phương pháp quy nạp, phương pháp suy luận logic… được sử dụng để đưa ra định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất và thực tiễn áp dụng tại huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc (Sử dụng tại Chương 3)
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của công trình nghiên cứu
Luận văn này cung cấp một cách trực diện những vấn đề lý luận về kiểm soát
ô nhiễm môi trường đất
Luận văn là nguồn tư liệu tổng hợp về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất tại huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc Cung cấp thêm các luận cứ khoa học trong công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường đất tại huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc trong thời gian tới
Luận văn có giá trị tham khảo đối với sinh viên đại học, cao học luật và hành chính, có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu ở Trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện, hoặc làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến vấn đề này
Những đề xuất, giải pháp của luận văn là tư liệu tham khảo để các nhà hoạch định
pháp luật tiếp tục hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất
Trang 167 Cơ cấu của luận văn
Ngoài Lời mở đầu, Kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất; pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất
Chương 2: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất và thực tiễn áp dụng tại huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô
nhiễm môi trường đất
Trang 171.1.1 Các khái niệm: ô nhiễm môi trường đất, kiểm soát ô nhiễm môi trường đất
Đất đai được coi là nguồn tài nguyên quý giá cho sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư xây dựng các cơ sở hạ tầng kinh tế, văn hóa
xã hội, an ninh quốc phòng Vì vậy, đất đai đóng vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của con người Môi trường đất là môi trường sinh thái hoàn chỉnh, bao gồm vật chất vô sinh sắp xếp thành cấu trúc nhất định Các thực vật, động vật và vi sinh vật sống trong lòng trái đất Các thành phần này có liên quan mật thiết với nhau Môi trường đất được xem như là môi trường thành phần của hệ môi trường bao quanh nó gồm nước, không khí, khí hậu
Môi trường đất là nơi trú ngụ của con người, là nơi diễn ra các hoạt động phát triển của con người, là nền móng cho các công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp và văn hóa của con người Con người sử dụng nguồn tài nguyên quý giá vào hoạt động sản xuất nông nghiệp để đảm bảo nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người Tuy nhiên, với sự phát triển dân số và các khu công nghiệp, đô thị hóa như hiện nay thì diện tích đất canh tác ngày một bị thu hẹp, chất lượng đất ngày một suy thoái, diện tích đất bình quân đầu người giảm, vấn đề ô nhiễm đất đang rơi vào tình trạng đáng báo động Ô nhiễm đất làm ảnh hưởng xấu đến các tính chất của đất, làm giảm năng xuất cây trồng và làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người [20, Tr.6]
Trang 18Theo cách hiểu thông thường thì ô nhiễm môi trường đất được xem là tất cả các hiện tượng làm nhiễm bẩn môi trường đất bởi các tác nhân gây ô nhiễm Đất bị
ô nhiễm có chứa một số độc tố, chất có hại cho cây trồng vượt quá nồng độ đã được quy định Ví dụ nồng độ thuốc trừ sâu, phân hóa học, kim loại nặng quá mức quy định của tổ chức Y tế thế giới Như vậy ô nhiễm môi trường đất có nguyên nhân từ
tự nhiên hoặc nhân tạo mà hậu quả là làm biến đổi các thành phần môi trường trong đất làm thay đổi các nhân tố sinh thái quá ngưỡng sinh thái của những quần xã sinh vật sống trong lòng đất [20, tr.7]
Dưới góc độ pháp lý, đánh giá mức độ nhiễm bẩn của môi trường đất do các tác nhân gây ô nhiễm (do tác động của con người hay tự nhiên) cần dựa trên quy chuẩn hay tiêu chuẩn môi trường đất đã được pháp luật quy định
Tại Khoản 8, Điều 3 Luật bảo vệ môi trường năm 2014 quy định: “ô nhiễm môi trường đất là sự biến đổi của các thành phần môi trường đất không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật” Chính vì thế ô nhiễm môi trường đất được xác định dựa trên hai tiêu chí như sau:
Một là: Có sự biến đổi các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường, sự thay đổi này là sự thay đổi các đặc tính lí hóa vốn có của môi trường đất Sự thay đổi này hiện nay chủ yếu do những tác động của con người tới môi trường mà cơ bản là việc thải bỏ các chất gây
ô nhiễm môi trường từ hoạt động sinh hoạt, sản xuất kinh doanh của con người Sự thay đổi đó không phù hợp với những giới hạn chuẩn mực đã được xác định trong tiêu chuẩn môi trường và quy chuẩn kỹ thuật môi trường mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã xây dựng làm căn cứ để quản lý môi trường
Hai là: sự biến đổi nêu trên gây ảnh hưởng xấu cho con người và sinh vật Tiêu chí này cho thấy chỉ khi nào những đặc tính lí hóa vốn có của môi trường đất
bị thay đổi không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, quy chuẩn môi trường mà gây ảnh hưởng bất lợi cho sức khỏe con người cũng như các sinh vật sống khác thì khi
ấy mới xảy ra tình trạng ô nhiễm môi trường đất
Trang 19Môi trường đất có thể bị ô nhiễm do rất nhiều nguyên nhân Sau đây là một
số nguyên nhân chủ yếu:
Thứ nhất: Ô nhiễm do hoạt động tại các khu công nghiệp và đô thị
Quá trình phát triển công nghiệp và đô thị cũng ảnh hưởng đến tính chất lý
và hóa học đất Những tác động về vật lý đất như: gây xói mòn, nén chặt đất và phá hủy cấu trúc đất do kết quả của các hoạt động xây dựng, sản xuất khai thác mỏ, Những tác động về hóa học như: các chất thải rắn, lỏng và khí tác động đến đất Tác động của công nghiệp và đô thị đến đất xảy ra rất mạnh từ cuộc cách mạng công nghiệp thế kỷ XVIII – XIX, đặc biệt là trong những thập niên gần đây Các chất thải công nghiệp ngày càng nhiều và có độc tính ngày càng cao, nhiều loại rất khó bị phân hủy sinh học Các chất thải độc hại có thể được tích lũy trong đất trong thời gian dài gây ra nguy cơ tiềm năng đối với môi trường
Thứ hai: Ô nhiễm do chất thải
Có thể phân chia chất thải gây ảnh hưởng xấu đối với môi trường đất ra thành 4 nhóm chính: Chất thải xây dựng, chất thải kim loại, chất thải khí, chất thải hóa học và hữu cơ
- Chất thải xây dựng: Chất thải xây dựng như gạch ngói, thủy tinh, gỗ, ống nhựa, dây cáp, bê tông, nhựa….trong đất các chất này bị biến đổi theo nhiều con đường khác nhau, nhiều chất rắn khó bị phân hủy
- Chất thải kim loại: các chất thải kim loại, đặc biệt là các kim loại nặng (Pb,
Zn, Cd, Cu và Ni) thường có nhiều ở các khu vực khai thác mỏ, các khu công nghiệp và đô thị Nguồn gốc chính của kim loại nặng trong chất thải: Các loại bình điện (pin, ac quy) có mức chất thải kim loại nặng cao nhất: 93% tổng số lượng thủy ngân, khoảng 45% số lượng Cadmium (Cd); Sắt phế liệu chứa khoảng 40% số lượng chì (Pb), 30% đồng (Cu), 10% crom (Cr) Các chất thải mịn (<20 mm) chứa 43% Cu thải, 20% Pb và 12% nickel (Ni) 38% Cd thải và 25%Ni là từ chất dẻo Nickel có trong các loại thành phần rác, trong đó có 6 loại rác chứa trên 10% Ni Các kim loại độc hại có thể tồn tại trong đất dưới nhiều dạng khác nhau, (hấp phụ,
Trang 20liên kết) với các hợp chất hữu cơ, vô cơ hoặc tạo thành các chất phức hợp (chelat)
Ở các đất có CEC cao, chúng bị giữ lại nhiều trên các phức hệ hấp thụ Các kim loại nặng có khả năng linh động lớn ở đất chua (ph<5,5) Các kim loại nặng được tích lũy trong các cơ thể sinh vật theo các chuỗi thức ăn và nước uống
- Chất thải khí: CO là sản phẩm đốt cháy không hoàn toàn carbon ©, 80%
Co là từ động cơ xe hơi, xe máy, hoạt động của các máy nổ khác, khói lò gạch, lò bếp, núi lửa phun…CO vào cơ thể động vật, người gây nguy hiểm do CO kết hợp với Hemoglobin làm máu không hấp thu oxy, cản trở sự hô hấp Trong đất một phần CO được hấp thu trong keo đất, một phần bị oxy hóa thành CO2, SO2, NO2trong không khí bị ô nhiễm là nguyên nhân gây ra mưa axit, làm tăng quá trình chua hóa đất
- Chất thải hóa học và hữu cơ
Các chất thải có khả năng gây ô nhiễm đất ở mức độ lớn như: Chất tẩy rửa, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc nhuộm, màu vẽ, công nghiệp sản xuất pin, thuộc da, công nghiệp sản xuất hóa chất Nhiều loại chất thải hữu cơ cũng dẫn đến ô nhiễm đất Nhiều loại nước từ cống rãnh thành phố thường được sử dụng như nguồn nước tưới trong sản xuất nông nghiệp Trong các loại nước thải này thường bao gồm cả nước thải sinh hoạt và công nghiệp, nên thường chứa nhiều các kim loại nặng Những chất tẩy rửa của những chất thải bỏ công nghiệp rắn có thể chứa những sản phẩm hóa học độc hại ở dạng dung dịch Đa số chất này được phóng ra mặt đất, một số chất được phóng ra biển, đi vào sông ngòi, hệ thống nước ngầm và được tưới cho cây trồng
Thứ ba: Ô nhiễm đất do hoạt động nông nghiệp
Các loại chất thải nông nghiệp gây ô nhiễm môi trường đất là: phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, tàn tích sản phẩm và cây trồng nông nghiệp, chất thải gia súc
và tàn tích rừng Thuốc bảo vệ thực vật bao gồm: thuốc trừ sâu, bệnh (nấm, tuyến trùng…), thuốc diệt cỏ, chất kích thích sinh trưởng đều là các chất hóa học hữu cơ hay vô cơ…là rất cần thiết để diệt sâu, bệnh, cỏ dại bảo vệ cây trồng, nhưng vì bản
Trang 21chất của các chất này là diệt sinh học nên ít nhiều đều ảnh hưởng đến môi trưởng đất Các hóa chất này gây ô nhiễm môi trường đất và hoạt tính của chúng sẽ là chất độc cho các động vật và con người
Môi trường là tất cả các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo 2 yếu tố này có quan hệ mật thiết với nhau và bao quanh con người Chúng có ảnh hưởng đến đời sống, sự tồn tại và phát triển của con người cũng như thiên nhiên [20, tr.8]
Thứ tư, Các ô nhiễm ngoại lai khác:
+ Chất thải của súc vật:
Những chuồng trại chăn nuôi gia súc như trại heo, trại gà, phân gia súc không được thu gom, xử lí bảo đảm kĩ thuật và vệ sinh môi trường thì sẽ là hiểm họa cho môi trường đất Vì lượng lớn các chất thải này làm đất mất khả năng tự làm sạch của nó thì sự nguy hại là khó lường lúc này sự ô nhiễm đã trở nên trầm trọng các cơ quan hoạt động môi trường đất đều bị tê liệt chất thải, vi trùng từ đó mà lan
ra khắp nơi: trong nước ngầm, trong nước suối trong hay bay vào không khí
+ Tàn tích của rừng:
Sau khi thu hoạch gỗ, phần bỏ đi chiếm một lượng lớn Tàn tích này khi nằm lại trong môi trường đất sẽ phân hủy tạo mùn cho đất, nhưng khả năng này phụ thuộc nhiều vào điều kiện môi trường và tỉ lệ C/N của tàn tích rừng Nếu điều kiện phân giải tạo mùn ít thì khả năng chuyển hóa thành những chất khó tiêu và gây chua nhiều hơn
Nếu tàn tích rừng bị vùi lấp trong điều kiện yếm khí lâu dài, thì hoặc tạo ra
cá đầm lầy than bùn phèn Điều đó có nghĩa là tạo ra môi trường đất acid
+ Tàn tích thực vật:
Khi cơ thể sinh vật chết đi và nằm trong môi trường đất sẽ phân hủy tạo thành mùn cho đất Nếu điều kiện phân giải tạo mùn cho đất ít thì khả năng chuyển hóa thành mùn ít, đồng thời các vật liệu này chuyển hóa thành các dạng mùn khó tiêu và gây chua cho đất
Trang 22Do chất thải động vật của các loại gia cầm: trâu bò, gà là các nguyên tố vi lượng rất cần cho đất (N, K, P, Ca) nhưng khi nồng độ quá nhiều sẽ gây hại cho thực vật trên đất
Các chất độc thoát ra trong đất tự nhiên thường là các khí độc sinh ra trong quá trình phản ứng hóa học do có sự thay đổi của các yếu tố môi trường trong đất, các phản ứng này có thể nảy sinh ra do hoạt động của núi lửa Các phản ứng sinh khí độc còn có thể xuất hiện do yếu tố khí hậu như nắng, mưa, nhiệt độ, độ ẩm của đất thay đổi một cách đột ngột
+ Vi sinh vật:
Nguồn gây ô nhiễm này chủ yếu là chất thải chưa qua xử lý của người và động vật, nước thải bệnh viện, nước thải sinh hoạt trong đó nguy hại lớn nhất là chất thải chưa được xử lý khử trùng của các bệnh viện truyền nhiễm Rất nhiều vi khuẩn và ký sinh trùng tiếp tục sinh sôi nảy nở trong đất, bám vào các cây trồng nông nghiệp và truyền vào cơ thể người, động vật Ngoài những nguồn ô nhiễm trên, các hoạt động tưới không thích đáng, chặt cây rừng, khai hoang cũng tạo thành các hiện tượng rửa trôi, bạc mầu,nhiễm phèn trong đất Theo thống kê, hàng năm diện tích đất này trên thế giới tăng từ 5.000.000 đến 11.000.000 ha
Thứ năm, ô nhiễm đất do tác động của hóa học:
- Ô nhiễm đất do kim loại nặng
Các kim loại nặng là nguồn chất độc nguy hiểm đối với hệ sinh thái đất, chuỗi thức ăn và con người Những kim loại nặng có tính độc cao nguy hiểm là: thủy ngân (Hg), cadimi (Cd), chì (Pb), niken (Ni); các kim loại nặng có tính độc mạnh là asen (As), crom (Cr), mangan (Mn), Kẽm (Zn), và thiếc (Sn)
Thực tế các chất hoá học nếu ở hàm lượng thích hợp rất cần cho sự sinh trưởng và phát triển của thực vật, của động vật và con người.Nhưng nếu chúng tích luỹ nhiều trong đất thì rất độc hại
Trang 23Có 2 loại ảnh hưởng độc hại:
- Độc hại cấp tính là khi có một lượng lớn các chất độc hại trong một khoảng thời gian ngắn thường dẫn đến gây chết các sinh vật
- Độc hại lâu dài (mãn tính) khi hàm lượng các chất độc hại thấp nhưng tồn tại lâu dài Chúng có thể làm chết sinh vật hoặc tổn thương ở các mức độ khác nhau
Khả năng độc hại của các kim loại nặng đối với các sinh vật khác nhau Sự ô nhiễm các kim loại nặng trong môi trường (đất, nước, sinh vật) có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua chuỗi thức ăn) đến sức khoẻ con người Tuỳ theo từng chất mà có những tác động khác nhau đến các bộ phận cơ thể
- Ô nhiễm đất do các chất phóng xạ
Nguồn ô nhiễm đất bởi các phóng xạ là những phế thải của các trung tâm khai thác các chất phóng xạ, trung tâm nghiên cứu nguyên tử, các nhà máy điện nguyên tử, các bệnh viện dùng chất phóng xạ và những vụ thử vũ khí hạt nhân Các chất phóng xạ thâm nhập vào đất và theo chu trình dinh dưỡng tới cây trồng, động vật và con người Người ta thấy rằng, sau mỗi vụ nổ thử vũ khí hạt nhân thì chất phóng xạ trong đất tăng lên gấp 10 lần Tỷ lệ giữa lượng đồng vị phóng xạ có trong
cơ thể động vật với lượng đồng vị phóng xạ có trong môi trường được gọi là” hệ số
cô đặc” sau các vụ nổ bom nguyên tử trong đất thường tồn lưu ba chất phóng xạ
Sn90; I131 ;Cs137 Các chất phóng xạ này xâm nhập vào cơ thể người, làm thay đổi cấu trúc tế bào, gây ra những bệnh về di truyền, bệnh về máu, bệnh ung thư…
- Ô nhiễm do chiến tranh
Miền Nam nước ta qua cuộc chiến tranh tàn khốc đã phải hứng chịu 100.000 tấn chất độc hóa học, trong đó có ít nhất 194 kg đioxin, 15 triệu tấn bom đạn đã thải xuống khắp các miền đất nước, không chỉ gây thiệt hại về người mà còn gây ra sự thay đổi về dòng chảy, tàn phá lớp phủ thực vật, đảo lộn lớp đất canh tác, để lại nhiều hố bom ở các vùng sản xuất nông nghiệp trù phú Kết quả là 34% diện tích đất trồng trọt và 44% diện tích rừng bị ảnh hưởng nghiêm trọng
Trang 24Vậy ô nhiễm môi trường là hiện tượng môi trường bị thay đổi Theo đó, các yếu tố có tính chất vật lý, sinh học, hoá học của môi trường bị thay đổi hay còn gọi
là “bị làm bẩn” Sự thay đổi này gây ảnh hưởng đến sức khoẻ con người cũng như các sinh vật khác
Thế nào là kiểm soát ô nhiễm môi trường đất?
Kiểm soát ô nhiễm là quá trình phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý ô nhiễm (Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014) So với khái niệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đất, khái niệm kiểm soát ô nhiễm môi trường đất có nội hàm rộng hơn, thể hiện ở nhiều khía cạnh như mục đích kiểm soát, chủ thể kiểm soát, cách thức, công cụ kiểm soát và nội dung kiểm soát Cụ thể là:
- Mục đích chính của việc kiểm soát ô nhiễm môi trường là phòng ngừa, khống chế không để ô nhiễm môi trường xảy ra;
- Kiểm soát ô nhiễm môi trường là sự nghiệp của toàn xã hội;
- Phải vận dụng tối đa mọi biện pháp để kiểm soát ô nhiễm môi trường: biện pháp hành chính, biện pháp dân sự, biện pháp kinh tế…
- Nội dung chính của kiểm soát ô nhiễm môi trường là: Thu thập, quản lí và công bố các thông tin về môi trường; xây dựng quy hoạch, kế hoạch kiểm soát ô nhiễm; ban hành và áp dụng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trường; quản lí chất thải; xử lí, khắc phục tình trạng bị ô nhiễm…
Tóm lại, kiểm soát ô nhiễm môi trường là quá trình con người chủ động ngăn chặn các tác động xấu đến môi trường từ các hoạt động phát triển kinh tế-xã hội Nếu vì những lí do khác nhau mà ô nhiễm môi trường vẫn xảy ra thì kiểm soát ô nhiễm chính là hoạt động xử lý, khắc phục hậu quả, phục hồi tình trạng môi trường [23, tr 68]
Trang 251.1.2 Đặc điểm của đất, những ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường đất
*Đặc điểm của đất
Theo điều 10, Luật đất đai năm 2013 căn cứ vào mục đích sử dụng, đất đai được chia thành 3 nhóm: đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng Đất có vai trò quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của con người, và sinh vật, là địa bàn sống, là nơi tiếp nhận các chất thải được tạo ra, là điều kiện cần thiết cho sự phát triển của mối quốc gia Đất đai có những đặc điểm cơ bản như sau:
Đặc điểm thứ nhất: Diện tích đất nông nghiệp có nguy cơ ngày một thu hẹp
Bản thân đất là loại tài sản không tự tăng thêm diện tích mà chỉ được chuyển từ mục đích này sang mục đích khác, đặc biệt quá trình phát triển kinh tế, đô thị hóa, dân số ngày càng tăng dẫn đến diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp
Đặc điểm thứ hai: Hiện nay các vùng đất nông nghiệp chủ yếu đều có khả
năng cho năng suất thấp do bị rửa trôi, nhiễm phèn, nhiễm mặn, suy thoái đất, ô nhiễm đất Nguyên nhân của tình trạng này chủ yếu là do sự phát triển kinh tế ngày càng mạnh mẽ kéo theo sự ra đời của các khu công nghiệp, nhà máy, làng nghề Bên cạnh đó, ý thức của người dân trong việc sử dụng phân bón, các loại hóa chất cho cây trồng cũng là nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm đất Phần khác nữa là do sự biến đổi bất thường của khí hậu, hạn hán, lũ lụt, sạt lở… cũng ảnh hưởng tới môi trường đất
*Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường đất
Đất đai được coi là tài sản đặc biệt và có vai trò quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của con người Tuy nhiên, hiện vấn đề ô nhiễm đất đang trong tình trạng đáng báo động, gây ra nhiều ảnh hưởng xấu như sau:
Một là, đất dễ bị xói mòn khi gặp các chuyển động lớn như bão, lũ dẫn đến
lở đất, khi lượng mưa cao Các thảm thực vật theo đó bị phá hủy gây suy giảm
nguồn đa dạng sinh học Người sử dụng đất hiện nay vẫn còn tình trạng canh tác không hợp lý giữa cây trồng với chất đất…Từ những nguyên nhân đó chất dinh
Trang 26dưỡng bị mất do trầm tích và bị rửa trôi theo dòng nước Khi đất bị suy giảm chất lượng thì hậu quả là việc canh tác sẽ không mang lại hiệu quả cao
Hai là, đất bị ô nhiễm thì các thành phần hóa học trong đất cũng bị biến đổi,
có những thành phần thiếu, có những thành phần thừa: ví dụ đất ô nhiễm có thể dẫn đến dư thừa muối nhưng lại thiếu các chất dinh dưỡng cần thiết nên cây trồng cũng không phát triển được; sự xuống cấp các thành phần hóa học của đất liên quan đến
sự mất đi những chất dinh dưỡng cần thiết và cơ bản cũng như sự hình thành các độc tố gây hại cho đất và cây trồng, khi các chỉ tiêu này quá cao hoặc quá thấp đều gây ảnh hưởng đến môi trường Sự xuống cấp sinh học là sự gia tăng tỉ lệ khoáng hóa của mùn mà không có sự bù đắp các chất hữu cơ sẽ làm cho đất nhanh chóng nghèo kiệt, giảm khả năng hấp thụ và giảm khả năng cung cấp chất dinh dưỡng cho sinh vật Từ đó các sinh vật sẽ không thể tồn tại được và nguồn đa dạng sinh vật trong môi trường đất sẽ bị giảm thiểu
Ba là, ô nhiễm môi trường đất làm thay đổi thành phần và tính chất của đất;
làm chai cứng đất; làm chua đất; làm thay đổi cân bằng dinh dưỡng giữa đất và cây trồng do hàm lượng nitơ còn dư thừa trong đất (chỉ có khoảng 50% nitơ bón trong đất là được thực vật sử dụng, số còn lại là nguồn gây ô nhiễm môi trường đất)
Bốn là, ô nhiễm môi trường đất gây nên một số bệnh truyền nhiễm, bệnh do
giun sán, ký sinh trùng mà đa số người dân mắc phải, đặc biệt là trẻ em ở các vùng nông thôn
Ngoài ra, đất bị ô nhiễm do chất thải rắn sinh hoạt, nước thải, chất thải công nghiệp… dẫn đến các chất có hại tồn lưu trong đất, không phân hủy được và gây trở ngại cho việc sử dụng đất Đất ô nhiễm còn do thói quen sử dụng phân hóa học cho cây trồng của nhân dân thường rất tùy tiện, từ đó dư lượng chất hóa học tồn lưu trong đất, tích tụ thành những lớp trên bề mặt đất, lâu ngày lắng đọng sâu trong lòng đất làm đất bị chai xấu, thoái hóa, không canh tác tiếp tục được
Trang 271.2 Một số vấn đề lý luận về pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất
1.2.1 Khái niệm pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất
Theo Đại từ điển Tiếng Việt: Đất đai là phần chất rắn làm thành lớp trên cùng của bề mặt trái đất, gồm các hạt rời, ít gắn kết với nhau và có thể trồng trọt được Với đặc thù độc đáo mà không một thực thể tự nhiên nào có được, đó là độ phì nhiêu, đất cung cấp chất dinh dưỡng cho toàn bộ cây trồng, vật nuôi Đất là chỗ dựa cho tất cả các hệ sinh thái
Đất đai có nhiều giá trị đối với con người Đất là yếu tố quan trọng để điều hòa nhiệt độ và điều hòa khí hậu, bởi đất giữ nhiệt độ, làm giảm sức nóng thiêu đốt của mặt trời bằng nhiều tầng đất của mình Đất còn là túi lọc chuyển nước bề mặt thành nước ngầm và chứa trong lòng nó vô số khối mạch nước tinh khiết Đất điều hòa lưu lượng nước trên toàn bộ hành tinh Đất cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng, vật nuôi
Tuy nhiên, hiện trạng ô nhiễm môi trường đất đang diễn ra mạnh Nguyên nhân chủ yếu là do hoạt động của con người: hoạt động công nghiệp, hoạt động nông nghiệp và hoạt động khác Do vậy, cần có những biện pháp bảo vệ đất đai nghiêm ngặt, kiểm soát được ô nhiễm môi trường đất, trong đó không thể thiếu được biện pháp pháp lí
Trên cơ sở những lợi ích của đất mang lại cho sự tồn tại và phát triển của con người, pháp luật quy định những nội dung chủ yếu về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất như: Những quy định pháp luật về các hoạt động làm tăng khả năng sinh lợi của vất dưới góc độ môi trường, cụ thể là việc sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả nhằm hạn chế tình trạng suy thoái và ô nhiễm tài nguyên đất; quy định các hoạt động đầu tư lao động, tiền vốn và áp dụng các thành tựu mới vào việc làm tăng hiệu quả sử dụng đất; quy định việc bảo vệ, cải tạo đất trong khi tiến hành các hoạt động trên đất, phục hồi khi có suy thoái và ô nhiễm đất xảy ra; Pháp luật xác định các hành vi bị nghiêm cấm trong khi tiến hành các hoạt động trên đất, Đối với hoạt động nông nghiệp, quy định hạn chế sử dụng phân bón hóa học, các hóa chất, thuốc
Trang 28bảo vệ thực vật… Đối với hoạt động công nghiệp: Không được hoặc hạn chế phát triển mới các ngành công nghiệp tiềm ẩn nguy cơ có hại đối với môi trường đất… Đối với hoạt động khác: Nhà nước nghiêm cấm các hành vi lấn chiếm đất đai, không sử dụng đất đúng mục đích, vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất… Bên cạnh đó nhằm đảm bảo tính thực thi của các quy định pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất, Nhà nước quy định Các cơ quan quản lí nhà nước về kiểm soát ô nhiễm tài nguyên đất có thẩm quyền chung và cơ quan có thẩm quyền chuyên môn, cụ thể Cơ quan có thẩm quyền chung: Chính phủ thống nhất việc quản
lí chung về đất đai và kiểm soát suy thoái tài nguyên đất trong phạm vi cả nước; Ủy ban nhân dân các cấp chịu trách nhiệm quản lí nhà nước về đất đai trong phạm vi địa phương; Cơ quan có thẩm quyền chuyên môn: Bộ tài nguyên môi trường; Tổng cục đất đai Bộ Tài nguyên môi trường; Sở tài nguyên môi trường; Bộ nông nghiệp
và phát triển nông thôn; Cơ quan thanh tra đất đai…
Như trên cho thấy, việc kiểm soát ô nhiễm môi trường đất cần phải được quy định chi tiết, cụ thể bằng những quy định của pháp luật, quy định trách nhiệm pháp
lý đối với các chủ thể sử dụng đất, bảo vệ đất và có hoạt động tác động vào đất
Tóm lại, Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất là hệ thống quy phạm
pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh mối quan
hệ giữa nhà nước với các chủ thể gây ô nhiễm môi trường đất, giữa các chủ thể gây
ô nhiễm môi trường đất với cá nhân, tổ chức khác
1.2.2 Nguyên tắc cơ bản của pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất
Nguyên tắc thứ 1: Kiểm soát ô nhiễm môi trường đất nhằm đảm bảo sự phát
triển bền vững
Tăng trưởng kinh tế chưa gắn với khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên, hiệu suất sử dụng tài nguyên thấp: tài nguyên thiên nhiên, bao gồm cả đất đai, là yếu tố đầu vào quan trọng của tăng trưởng kinh tế, nhưng thời gian qua đã khai thác bừa bãi, không có quy hoạch, sử dụng không hiệu quả, gây lãng phí, hiệu suất sử dụng tài nguyên vào loại thấp nhất thế giới Ở nước ta GDP có tốc độ tăng trưởng
Trang 29nhanh hơn tốc độ tăng hiệu suất sử dụng các tài nguyên quan trọng (đất, nước, năng lượng), tức là sử dụng tài nguyên ở Việt Nam ngày càng thiếu tính bền vững
Hiện nay ô nhiễm môi trường đất có xu hướng tăng lên; đang có xu hướng suy kiệt nguồn nước mặt Nguồn nước ngầm có hiện tượng ô nhiễm ngày càng tăng; môi trường không khí bị ô nhiễm ở mức cao, vượt ngưỡng quy chuẩn cho phép; ô nhiễm tiếng ồn diễn ra trên đường giao thông của các đô thị lớn đều vượt quy chuẩn Việt Nam; lượng chất thải rắn được thải ra quá mức Một số chỉ số sau thể hiện rõ điều đó: diện tích, chất lượng rừng bị suy giảm, mặc dù tỷ lệ che phủ rừng vẫn đạt hơn 41%; chỉ có 75% khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý ô nhiễm môi trường tập trung và mới chỉ xử lý được 62% lượng nước thải từ các khu công nghiệp, khu chế xuất này; 36% khu công nghiệp, khu chế xuất chưa thực hiện đúng quy định pháp luật về xử lý chất thải rắn nguy hại; việc xử lý chất thải rắn y tế chưa được quan tâm đồng đều giữa các địa phương và các cơ sở y tế, nhất là phương thức
xử lý còn lạc hậu, thủ công
Trước nguyên tắc bảo vệ sự phát triển bền vững nói chung, kiểm soát ô nhiễm môi trường đất đảm bảo phát triển bền vững nói riêng đòi hỏi các chủ thể khai thác, quản lý tài nguyên đất, có hoạt động tác động ảnh hưởng tới môi trường đất cần đảm bảo không làm ảnh hưởng tới tính chất đất hiện tại, không làm ảnh hưởng xấu tới đất trong tương lai
Nguyên tắc thứ 2: Kiểm soát ô nhiễm môi trường đất đảm bảo nguyên tắc
phối hợp, liên kết
Sự nghiệp kiểm soát ô nhiễm môi trường là sự nghiệp lâu dài, cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp các ngành, trong nước và quốc tế, nhằm đảm bảo kiểm soát được ô nhiễm môi trường đất Cụ thể cần xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, thể chế, tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất; thiết kế và triển khai thực hiện có hiệu quả chương trình hành động, kế hoạch thực hiện chiến lược về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất theo lộ trình thích hợp, nhưng khẩn trương, luôn đổi mới, sáng tạo cho phù hợp với sự biến đổi của
Trang 30thực tiễn Xây dựng và thực thi nghiêm ngặt các tiêu chuẩn, tiêu chí về kinh tế, kỹ thuật, môi trường phù hợp với yêu cầu về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất, bảo đảm sự phát triển bền vững từ trong quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội đến các hoạt động sản xuất, kinh doanh của từng đơn vị, tổ chức kinh tế, doanh nghiệp và cả trong tiêu dùng xã hội Bên cạnh đó, tăng cường hợp tác, hội nhập quốc tế nhằm thực hiện có hiệu quả về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất, bền vững: tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế, đổi mới, sáng tạo phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam Tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, của người dân, bảo đảm thực hiện hiệu quả về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất, phát triển bền vững đất nước Tạo sự thống nhất cao trong Ðảng, sự đồng thuận cao của toàn xã hội,
Nguyên tắc thứ 3: Kiểm soát ô nhiễm môi trường đất đảm bảo tính thống
nhất và coi trọng công tác phòng ngừa
Trong công tác bảo vệ môi trường nói chung, kiểm soát ô nhiễm môi trường nói riêng mà đặc biệt là môi trường đất, phòng ngừa được coi là ưu tiên hàng đầu Bởi lẽ những ảnh hưởng từ ô nhiễm môi trường nếu xảy ra là rất khó xác định, khó khắc phục và có tính lâu dài Vì vậy, phòng ngừa trở thành nguyên tắc trong công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường Bên cạnh đó cần phải có tính thống nhất về quan điểm chỉ đạo, hành động xuyên suốt từ cấp trên xuống cấp dưới, đảm bảo tính thống nhất từ lý luận đến thực tiễn nhằm mang lại hiệu quả
1.2.3 Nội dung của pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất
Nội dung 1: Xác định, thống kê, đánh giá và kiểm soát các yếu tố có nguy cơ
gây ô nhiễm môi trường đất
Có rất nhiều các yếu tố có nguy cơ dẫn đến ô nhiễm môi trường đất như: từ hoạt động của con người, từ yếu tố thiên nhiên gây ra Yếu tố con người do rác thải, chất thải sinh hoạt, chất thải, rác thải từ hoạt động công nghiệp, do canh tác nông nghiệp không đúng cách thức, sử dụng phân bón chất hóa học không đúng quy định Yếu tố thiên nhiên như lũ lụt, hạn hán…và một số yếu tố khác như chiến tranh tàn
Trang 31dư của chất độc hóa học…gây nên
Xác định những yếu tố có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường đất để từ đó có những biện pháp phù hợp nhằm phòng ngừa, giảm thiểu, xử lý những ô nhiễm gây
ra cho môi trường đất
Sau khi xác định yếu tố gây ô nhiễm, thực hiện việc thống kê những vùng đất
bị ô nhiễm, đánh giá mức độ ô nhiễm, sức ảnh hưởng của ô nhiễm có thể gây ra cho đất và những hoạt động của đất trong vùng ô nhiễm để từ đó dự kiến những giải
pháp thích hợp kiểm soát các yếu tố có nguy cơ gây ô nhiễm đất
Nội dung 2: Kiểm soát ô nhiễm môi trường đất tại các cơ sở sản xuất, kinh
đo lường chuyên dụng mới có thể xác định được Vì vậy, cần phải thực hiện các biện pháp theo dõi, giám sát chặt chẽ các công đoạn, khu vực phát sinh yếu tố có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường đất; phát hiện kịp thời, cô lập và xử lý các yếu tố
có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường đất khi có dấu hiệu ô nhiễm; xây dựng và thực hiện kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường theo quy định của pháp luật
Căn cứ vào mức độ phát thải và tính chất độc hại ra môi trường thì các cơ sở sau đây phải thực hiện quan trắc chất lượng môi trường đất định kỳ, báo cáo kết quả cho cơ quan quản lý môi trường theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường: Một là: Cơ sở xử lý chất thải; Hai là: Cơ sở khai thác khoáng sản; Ba là: Cơ sở sản xuất hóa chất và các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có sử dụng hóa chất độc hại thuộc Danh mục thực hiện quan trắc chất phát thải do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành
Trang 32Một số trường hợp khác cũng phải cung cấp thông tin về chất lượng môi trường đất như: khu vực thực hiện chuyển quyền sử dụng đất và quy định trách nhiệm này cho người chuyển quyền sử dụng đất; trong trường hợp chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang đất ở, đất thương mại phải thực hiện việc đánh giá chất lượng môi trường đất; công bố thông tin giữa các đối tượng sử dụng đất Chất lượng môi trường đất phải được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc cơ quan có thẩm quyền xác nhận kế hoạch bảo vệ môi trường xác nhận phù hợp với mục đích sử dụng là đất ở, đất thương mại Trong trường hợp chất lượng đất tại khu vực được chuyển đổi mục đích sử dụng không phù hợp với mục đích sử dụng là đất ở, đất thương mại, người đang sử dụng đất và người sẽ sử dụng đất cho mục đích đất ở, đất thương mại phải có phương án xử lý môi trường đất phù hợp với mục đích sử dụng
Nội dung 3: Kiểm soát ô nhiễm môi trường đất đối với khu vực bị ô nhiễm
hóa chất độc hại sử dụng trong chiến tranh, hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu và các chất độc hại khác (nơi không xác định được đối tượng gây ô nhiễm)
Các khu vực thuộc nội dung 3 là các khu vực đất bị ô nhiễm thuộc trách nhiệm xử lý của Nhà nước Những khu vực này được coi là khu vực có mức độ ô nhiễm cao, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài nguyên đất và nguy cơ cao ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt của con người và sinh vật Do đó, việc kiểm soát ô nhiễm đất cũng đặt ra nghiêm ngặt hơn Cụ thể, Nhà nước phải thực hiện thống kê, điều tra sơ bộ các khu vực bị ô nhiễm; đánh giá rủi ro sơ bộ; Điều tra chi tiết, xác định phạm vi, mức độ ô nhiễm và đánh giá rủi ro ô nhiễm; Xây dựng mô hình và các giải pháp xử lý ô nhiễm, cải tạo và phục hồi môi trường; Khoanh vùng, cô lập,
xử lý, cải tạo và phục hồi môi trường theo các giải pháp được phê duyệt; Quan trắc, theo dõi sau xử lý, cải tạo và phục hồi môi trường
Việc lập phương án xử lý, cải tạo và phục hồi môi trường, kiểm soát ô nhiễm môi trường đất ở những vùng tại nội dung 3, nhất thiết phải thuộc thẩm quyền của
ủy ban nhân dân cấp tỉnh Trường hợp tổ chức, cá nhân có nhu cầu xử lý, cải tạo và
Trang 33phục hồi môi trường đất để sử dụng cho mục đích khác thì phải lập phương án xử
lý, cải tạo và phục hồi môi trường trình ủy ban nhân dân cấp tỉnh thẩm định, phê duyệt và kiểm tra, xác nhận việc hoàn thành cải tạo, phục hồi môi trường trước khi
sử dụng đất Sau khi xác định chất lượng môi trường đất tại các khu vực bị ô nhiễm hóa chất độc hại sử dụng trong chiến tranh, hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu và các chất độc hại khác phải được công khai cho các tổ chức, cá nhân có liên quan biết Việc công khai này cũng là một trong những biện pháp để cộng đồng chung tay
kiểm soát ô nhiễm môi trường đất
Nội dung 4: Trách nhiệm kiểm soát ô nhiễm môi trường đất của các cơ quan
nhà nước
Đất đai được coi là tài nguyên đặc biệt, việc quản lý đất đai theo quy định của pháp luật thì chia làm hai hệ thống cơ quan là cơ quan có thẩm quyền chung và
cơ quan có thẩm quyền riêng
Đối với việc kiểm soát ô nhiễm môi trường, thẩm quyền được phân cấp cho từng cơ quan Qua đó xác định trách nhiệm, nghĩa vụ của từng cơ quan trong việc kiểm soát ô nhiễm đối với từng vùng, từng địa phương… Đối với Bộ Tài nguyên môi trường có trách nhiệm: Xây dựng quy định, hướng dẫn đánh giá khả năng tiếp nhận của môi trường đất theo mục đích sử dụng; Ban hành hướng dẫn xác định, thống kê, đánh giá, khoanh vùng và kiểm soát các yếu tố có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường đất; cung cấp thông tin về chất lượng môi trường đất; xác nhận chất lượng đất các khu vực chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang đất ở, đất thương mại quy định tại Khoản 4 Điều 12 Nghị định này; Xây dựng, cập nhật hệ thống thông tin quốc gia về các khu vực ô nhiễm đất và kiểm soát ô nhiễm môi trường đất; Tổng hợp và công bố chất lượng môi trường đất và các yếu tố có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường đất trên phạm vi toàn quốc; Hướng dẫn phương thức công bố thông tin
về chất lượng môi trường đất Đối với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm: Tổ chức điều tra, đánh giá và công khai thông tin về các yếu tố có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường đất trên địa bàn; quan trắc chất lượng môi trường đất các khu vực công
Trang 34cộng; Công bố thông tin về chất lượng môi trường đất (bản đồ, báo cáo đánh giá chất lượng đất, thoái hóa đất, ô nhiễm đất) theo quy định của pháp luật về đất đai; cập nhật thông tin về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất trên địa bàn vào hệ thống thông tin quốc gia về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất; Ban hành cảnh báo đối với các khu vực có chất lượng đất không phù hợp với mục đích sử dụng; theo dõi, giám sát việc lập, tổ chức thực hiện kế hoạch xử lý, cải tạo, phục hồi môi trường đất để phù hợp với mục đích sử dụng của chủ sử dụng đất hoặc người gây ô nhiễm; Tổ chức thực hiện xử lý các khu vực đất ô nhiễm trên địa bàn Riêng Bộ Quốc phòng,
Bộ Công an có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức điều tra, thống kê thông tin về chất lượng môi trường đất đối với đất quốc phòng, an ninh và gửi báo cáo kết quả về Bộ Tài nguyên và Môi trường để tổng hợp; tổ chức thực hiện xử lý các khu vực đất ô nhiễm được giao quản lý
1.2.4 Sự cần thiết điều chỉnh bằng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất và yêu cầu đặt ra
* Sự cần thiết điều chỉnh bằng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất
- Xuất phát từ vai trò của môi trường đất đối với sự tồn tại và phát triển nói chung của con người và sinh vật
Vai trò của đất đai đối với con người và sinh vật thể hiện ở hai mặt sau: (1) Mặt trực tiếp: Đất đai là nơi tồn tại và sinh sống của con người và sinh vật, là nền móng, địa bàn cho mọi hoạt động sống, nơi thiết đặt các hệ thống nông, lâm nghiệp
để sản xuất ra lương thực, thực phẩm nuôi sống con người và muôn loài (2) Mặt gián tiếp: Đất là nơi tạo môi trường sống cho con người và sinh vật trên trái đất Đồng thời thông qua cơ chế điều hoà của đất, nước, khí hậu, khí quyển, đã tạo ra các điều kiện môi trường khác nhau giúp cho con người và sinh vật tồn tại và phát triển Trên quan điểm sinh thái và môi trường, đất được xem như là một vật thể sống vì nó chứa nhiều loại sinh vật sống, từ sinh vật bậc thấp đến sinh vật bậc cao Cũng vì bản tính sống của đất mà đất được xem như nguồn tài nguyên tái tạo và
Trang 35vô cùng quý giá Đất là một vật thể sống vì vậy nó cũng tuân theo quy luật của sự sống, phát sinh, phát triển, thoái hoá và già cỗi Cũng như vậy, tùy vào cách ứng xử của con người đối với đất mà làm cho đất có thể trở nên phì nhiêu, màu mỡ, cho năng suất cây trồng cao hoặc ngược lại Cũng trên quan điểm nhìn nhận vấn đề các nhà khoa học cũng cho rằng đất là vật mang Đất luôn mang trên nó các hệ sinh thái, khi con người tác động vào đất là khi các hệ sinh thái này bị tác động Đối với
sự phát triển kinh tế - xã hội, tài nguyên đất cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng: Đất đai là một tư liệu sản xuất đặc biệt, trong những điều kiện vật chất cần thiết cho hoạt động sản xuất và đời sống của con người thì đất đai là điều kiện đầu tiên và là nền tảng tự nhiên của bất kì một quá trình sản xuất nào Do đó muốn đất có khả năng sản xuất cao thì hệ sinh thái trong nó phải bền vững, muốn vậy con người phải
có cách khai thác nguồn lực đất đai một cách hợp lý, phải luật hóa trách nhiệm và nghĩa vụ của các chủ thể trong công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường đất
- Xuất phát từ yêu cầu của công tác bảo vệ môi trường nói chung và môi trường đất nói riêng nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững
Bảo vệ môi trường là trách nhiệm không chỉ riêng của cá nhân tổ chức nào,
là trách nhiệm của toàn xã hội Chúng ta hiểu rất rõ rằng nếu môi trường ô nhiễm sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới sự tồn tại và phát triển của con người
Môi trường được biết đến với rất nhiều thành phần, trong đó có đất Với sứ mệnh quan trọng của môi trường đất, là không gian tồn tại và phát triển của con người, môi trường đất là nơi chứa đựng các chất thải do con người và hoạt động của con người tạo ra Các chất thải đó nếu không được kiểm soát chặt chẽ sẽ tác động tiêu cực ngược trở lại đối với con người gây ra nhiều hậu quả về sức khỏe, tính mạng…và sự tồn tại, phát triển nói chung của con người Chính vì lẽ đó, hiện nay vấn đề khẩu hiệu “phát triển để bảo vệ môi trường”, “bảo vệ môi trường để phát triển” đang được đặt ra cho nhiều chương trình, hội nghị về môi trường Để kêu gọi toàn dân tham gia vào công tác bảo vệ môi trường Trong số những biện pháp được
sử dụng để bảo vệ môi trường nói chung, môi trường đất nói riêng có biện pháp
Trang 36pháp lý được coi là hữu hiệu Biện pháp này quy định trách nhiệm pháp lý đối với các chủ thể có hoạt động tác động vào môi trường, quy định những nội dung nhằm phát hiện, ngăn chặn, phòng ngừa, xử lý để kiểm soát ô nhiễm môi trường Kiểm soát khi chưa có ô nhiễm và kiểm soát ngay cả khi đã xảy ra ô nhiễm
- Xuất phát từ quyền được sống trong môi trường trong lành của con người
Điều 43 Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: “Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường” Quy định này đặt vấn đề
“quyền được sống trong môi trường trong lành” trước khi thực hiện “nghĩa vụ bảo
vệ môi trường”, tức là nhà nước phải có trách nhiệm tạo ra một môi trường sống trong lành cho người dân trước khi yêu cầu họ tham gia bảo vệ môi trường Như thế nhà nước cần quy định trách nhiệm pháp lý bảo vệ môi trường của các chủ thể, trách nhiệm kiểm soát ô nhiễm môi trường bắt đầu từ các cơ quan quản lý nhà nước, thực hiện xác định, thống kê, đánh giá, kiểm soát các yếu tố có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường và yêu cầu tổ chức, cá nhân có hoạt động tác động vào môi trường đất phải thực hiện kiểm soát theo quy định của pháp luật…
- Xuất phát từ chính thực trạng ô nhiễm môi trường đất ngày càng gia tăng
Mới đây, Bộ Tài nguyên và Môi trường vừa có báo cáo tổng hợp tại Hội nghị toàn quốc bảo vệ môi trường Cụ thể, hàng năm, cả nước tiêu thụ hơn 100.000 tấn hóa chất bảo vệ thực vật; phát sinh hơn 23 triệu tấn rác thải sinh hoạt, hơn 7 triệu tấn chất thải rắn công nghiệp, hơn 630.000 tấn chất thải nguy hại trong khi việc xử
lý chất thải, nước thải còn rất hạn chế Đặc biệt, trên cả nước hiện có 283 khu công nghiệp với hơn 550.000m3
nước thải/ngày đêm; 615 cụm công nghiệp nhưng trong
đó chỉ khoảng hơn 5% có hệ thống xử lý nước thải tập trung Hơn 500.000 cơ sở sản xuất trong đó có nhiều loại hình sản xuất ô nhiễm môi trường, công nghệ sản xuất lạc hậu Bên cạnh đó, nước ta có hơn 5.000 doanh nghiệp khai thác khoáng sản, vật liệu xây dựng; hơn 4.500 làng nghề Hơn 13.500 cơ sở y tế hàng ngày phát sinh hơn 47 tấn chất thải nguy hại và 125.000 m3 nước thải y tế
Trang 37Cả nước hiện có 787 đô thị với 3.000.000 m3 nước thải ngày/đêm nhưng hầu hết chưa được xử lý và đang lưu hành gần 43 triệu môtô và trên 2 triệu ôtô Đây là những con số thống kê cho thấy nguy cơ và hiện tượng ô nhiễm môi trường đang ở
mức báo động [15, tr.1]
Với nhịp độ gia tăng dân số, tốc độ phát triển công nghiệp và hoạt động đô thị hoá như hiện nay thì diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp Chất lượng đất ngày càng bị suy thoái, diện tích đất bình quân đầu người giảm Riêng chỉ với ở Việt Nam, thực tế suy thoái tài nguyên đất là rất nghiêm trọng
Do vậy việc cần thiết điều chỉnh pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất
là phù hợp
*Các yêu cầu đặt ra đối với pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất
Yêu cầu 1: pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất phải chú ý đến yếu tố phòng ngừa
Phòng ngừa vừa được coi là nguyên tắc vừa được coi là đặc trưng của luật bảo vệ môi trường Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất phải xây dựng đảm bảo xác định được các yếu tố có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường đất, các vùng đất
có ô nhiễm, lường trước được những rủi ro gây ra đối với môi trường đất bị ô nhiễm
và dự kiến được những giải pháp hữu ích để khắc phục được những rủi ro ấy khi xảy ra ô nhiễm
Yêu cầu 2: Yêu cầu phát triển bền vững là yêu cầu quan trọng và tối thượng cần được quan tâm khi xây dựng pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất
Phát triển bền vững được hiểu là phát triển không làm tổn hại đến môi trường hiện tại và cũng đồng thời không làm tổn hại đến môi trường trong tương lai Như vậy, pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường phải được xây dựng khá chặt chẽ, mục đích chính là vừa giải quyết được những ô nhiễm đất đã xảy ra, vừa phòng ngừa tránh những ô nhiễm mới Để làm được điều này pháp luật cần quy định những giới hạn đối với chủ thể khi thực hiện những hành vi tác động vào môi
Trang 38trường Vấn đề rác thải sinh hoạt, vấn đề chất thải các cơ sở sản xuất kinh doanh, khu công nghiệp, vấn đề sử dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu…
Yêu cầu 3: Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất cần đảm bảo quyền được sống trong môi trường trong lành, quyền được sống trong một môi trường không bị ô nhiễm, đảm bảo cuộc sống được hài hòa với thiên nhiên
Quyền con người được sống trong môi trường trong lành được các công ước quốc tế ghi nhận là quyền cơ bản của con người, Hiến pháp hiện hành của Việt Nam cũng quy định rõ quyền này cho công dân Việt Nam Sống trong môi trường trong lành không phải là môi trường trong lành lý tưởng, mà một môi trường sống với các thành phần môi trường không bị biến đổi vượt quá giới hạn quy chuẩn, tiêu chuẩn
đã được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công bố Muốn vậy pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất phải quy định rõ giới hạn môi trường đất như thế nào được coi là trong lành, là đảm bảo không bị ô nhiễm Từ đó, đảm bảo được quyền sống trong môi trường trong lành của con người và là căn cứ để xác định trách nhiệm của các chủ thể gây ô nhiễm đất
Yêu cầu 4: Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất gây ra phải chú ý thực hiện nguyên tắc ai gây ô nhiễm, người đó phải trả tiền, phải khắc phục ô nhiễm
Điều này được hiểu là chủ thể gây hậu quả, tác động xấu đến môi trường, thì phải trả tiền để mua quyền khai thác, sử dụng các yếu tố của môi trường tổ chức
Hộ gia đình, cá nhân được giao quyền sử dụng đất có trách nhiệm bảo vệ môi trường đất và tổ chức, hộ gia đình, cá nhân gây ô nhiễm môi trường đất có trách nhiệm xử lý, cải tạo và phục hồi môi trường đất
Yêu cầu 5: Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất phải rõ ràng, minh bạch, dễ hiểu, bảo đảm tính thực thi
Để đảm bảo thực thi pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất thì vấn đề minh bạch, rõ ràng của pháp luật phải được đặt lên hàng đầu, có như vậy mới áp dụng đúng và hiệu quả
Trang 39Bảo đảm thực thi pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất bằng các biện pháp kích thích kinh tế nhằm quản lý và giảm thiểu chất thải, ngăn ngừa nguy cơ ô nhiễm môi trường đất
Để đảm bảo thực thi còn cần đến các chế tài, các biện pháp xử lý vi phạm pháp luật Các biện pháp này không chỉ nhằm giáo dục, phòng ngừa, ngăn chặn việc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật mà còn để trừng trị các hành vi vi phạm pháp luật
Kết luận Chương 1
Đất là tài nguyên thiên nhiên quí giá, có vai trò to lớn trong sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật, đất là địa bàn cư ngụ của con người, phục vụ nghiên cứu khoa học và là nơi lưu giữ các giá trị xã hội của con người Tuy nhiên, môi trường đất đang bị ô nhiễm do nhiều nguyên nhân khác nhau Do vậy, cần đặt ra nhu cầu kiểm soát ô nhiễm môi trường đất, góp phần đảm bảo cho sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường sinh thái
Bảo vệ môi trường nói chung, bảo vệ, kiểm soát ô nhiễm môi trường đất nói riêng là trách nhiệm của toàn xã hội, cụ thể là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, các tổ chức, cá nhân trong quá trình thực hiện việc quản lý, khai thác, bảo vệ, phát triển và sử dụng đất nhằm phòng ngừa, ngăn chặn và cải thiện tình trạng ô nhiễm môi trường đất, đảm bảo sự phát triển bền vững của hệ sinh thái đất trong phạm vi lãnh thổ quốc gia
Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất là hệ thống quy phạm pháp luật
do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữa nhà nước với các chủ thể gây ô nhiễm môi trường đất, giữa các chủ thể gây ô nhiễm môi trường đất với cá nhân, tổ chức khác
Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất được xây dựng dựa trên ba nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc thứ 1: Kiểm soát ô nhiễm môi trường đất nhằm đảm bảo sự
phát triển bền vững
Trang 40- Nguyên tắc thứ 2: Kiểm soát ô nhiễm môi trường đất đảm bảo nguyên tắc
phối hợp, liên kết
- Nguyên tắc thứ 3: Kiểm soát ô nhiễm môi trường đất đảm bảo tính thống
nhất và coi trọng công tác phòng ngừa
Để kiểm soát được ô nhiễm môi trường đất, cần thiết phải xác định được những nội dung chính là:
Nội dung 1: Xác định, thống kê, đánh giá và kiểm soát các yếu tố có nguy cơ
gây ô nhiễm môi trường đất
Nội dung 2: Kiểm soát ô nhiễm môi trường đất tại các cơ sở sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ
Nội dung 3: Kiểm soát ô nhiễm môi trường đất đối với khu vực bị ô nhiễm
hóa chất độc hại sử dụng trong chiến tranh, hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu và các chất độc hại khác (nơi không xác định được đối tượng gây ô nhiễm)
Nội dung 4: Trách nhiệm kiểm soát ô nhiễm môi trường đất của các cơ quan
- Xuất phát từ quyền được sống trong môi trường trong lành của con người
- Xuất phát từ chính thực trạng ô nhiễm môi trường đất ngày càng gia tăng
Trên cơ sở sự cần thiết điều chỉnh bằng pháp luật ở trên đặt ra những yêu cầu sau đây: