Nhìn chung các công trình nghiên cứu về chính sách ưu đãi người có công nói chung và chính sách ưu đãi đối với thương binh nói riêng đã cơ bản phản ánh toàn diện các quy định của pháp lu
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ ƯU ĐÃI ĐỐI VỚI THƯƠNG BINH TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TỈNH NAM ĐỊNH
BÙI QUANG HƯNG
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ ƯU ĐÃI ĐỐI VỚI THƯƠNG BINH
TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TỈNH NAM ĐỊNH
BÙI QUANG HƯNG
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 8380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS.PHAN THỊ THANH HUYỀN
HÀ NỘI - 2019
Trang 3ưu đãi đối với thương binh từ thực tiễn thực hiện tại tỉnh Nam Định” là công trình
nghiên cứu của cá nhân tôi và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này
Hà Nội, ngày … tháng …… năm 2019
Tác giả luận văn
Trang 4
thể, cá nhân đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được hoàn thành đề tài Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của Tiến sỹ Phan Thị Thanh Huyền đã giúp tôi hoàn thành tốt đề tài Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến sự giúp đỡ này
Tôi cũng chân thành cảm ơn:
- Các thầy, cô của Khoa sau đại học Viện đại học Mở Hà Nội
- Lãnh đạo Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Nam Định
- Phòng Người có công – Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Nam Định Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và tất cả bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày …… tháng … năm 2019
Tác giả luận văn
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3.1 Mục đích nghiên cứu 3
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn 5
6.1 Ý nghĩa khoa học 5
6.2 Ý nghĩa thực tiễn 5
7 Kết cấu của luận văn 5
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ CHẾ ĐỘ ƯU ĐÃI ĐỐI VỚI THƯƠNG BINH 6
1.1 Một số vấn đề lý luận về chế độ ưu đãi đối với thương binh 6
1.1.1 Các khái niệm liên quan 6
1.1.3 Các nguyên tắc cơ bản của chế độ ưu đãi xã hội đối với thương binh 12
1.1.4 Ý nghĩa và sự cần thiết phải thực hiện chế độ ưu đãi đối với thương binh 18
1.2 Pháp luật Việt Nam hiện hành về chế độ ưu đãi đối với thương binh 18
1.2.1 Điều kiện và thủ tục xác nhận thương binh được hưởng chế độ ưu đãi 18
1.2.1.1 Xác nhận đối tượng và điều kiện hưởng chế độ ưu đãi đối với thương binh 18
1.2.1.2 Thủ tục xác nhận thương binh hưởng chế độ ưu đãi 24
1.2.2 Các ưu đãi đối với thương binh 30
1.2.2.1 Ưu đãi trợ cấp 30
Trang 61.2.2.2 Chăm sóc sức khỏe cho thương binh 32
1.2.2.3 Ưu đãi trong giáo dục, đào tạo 34
1.2.2.4 Đối với chế độ ưu đãi về việc làm 36
1.2.2.5 Đối với chế độ hỗ trợ về nhà ở và các chế độ ưu đãi khác 37
Tiểu kết chương 1 39
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ ƯU ĐÃI ĐỐI VỚI THƯƠNG BINH TẠI TỈNH NAM ĐỊNH 40
2.1 Giới thiệu khái quát về tỉnh Nam Định và cơ sở pháp lý thực hiện chế độ ưu đãi đối với thương binh tại tỉnh Nam Định 40
2.1.1 Khái quát về tình hình kinh tế xã hội của tỉnh Nam Định 40
2.1.2 Cơ sở pháp lý thực hiện chế độ ưu đãi đối với thương binh tại tỉnh Nam Định 44
2.2 Thực hiện chế độ ưu đãi đối với thương binh tại tỉnh Nam Định 47
2.2.1 Về thực hiện xác nhận đối tượng và điều kiện hưởng chế độ ưu đãi đối với thương binh 47
2.2.2 Về thực hiện mức hưởng và thời gian hưởng chế độ ưu đãi đối với thương binh tại tỉnh Nam Định 49
2.3 Đánh giá thực trạng thực hiện chế độ ưu đãi đối với thương binh tại tỉnh Nam Định 58
2.3.1 Những kết quả đạt được 58
2.3.2 Một số vướng mắc trong quá trình thực thi chế độ ưu đãi đối với thương binh tại tỉnh Nam Định và nguyên nhân 60
Tiểu kết Chương 2 64
CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ ƯU ĐÃI ĐỐI VỚI THƯƠNG BINH TẠI TỈNH NAM ĐỊNH 65
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về chế độ ưu đãi đối với thương binh 65
3.1.1 Pháp luật ưu đãi đối với thương binh phải phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước 65
3.1.2 Pháp luật ưu đãi đối với thương binh phải đảm bảo tính toàn diện 67
3.1.3 Pháp luật ưu đãi đối với thương binh phải bảo đảm tính thực tiễn 68
Trang 73.1.4 Xã hội hóa hoạt động ưu đãi đối với người có công nói chung và thương binh
nói riêng 69
3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về chế độ ưu đãi đối với thương binh 71
3.2.1 Về xác định đối tượng và điều kiện hưởng ưu đãi đối với thương binh 71
3.2.2 Về các ưu đãi đối với thương binh 73
3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về chế độ ưu đãi đối với thương binh tại tỉnh Nam Định 79
3.3.1 Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền phổ biến chính sách đối với thương binh 79
3.3.2 Kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước và tăng cường sự phối, kết hợp giữa các ngành và chính quyền địa phương các cấp trong thực hiện chính sách đối với thương binh 80
3.3.3 Tiếp tục giải quyết những tồn đọng trong quá trình giải quyết chế độ cho thương binh 82
3.3.4 Xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lượng thực hiện chính sách cho đội ngũ cán bộ công chức làm chính sách ưu đãi đối với thương binh 83
3.3.5 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, phát hiện, chấn chỉnh, xử lý kịp thời những trường hợp vi phạm việc thực hiện chính sách ưu đãi đối với thương binh 83
3.3.6 Tăng cường nguồn lực thực hiện chính sách ưu đãi đối với thương binh 84
Tiểu kết chương 3 85
KẾT LUẬN 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,
đã có biết bao thế hệ người Việt Nam hy sinh tính mạng, xương máu, sức lực, trí tuệ
và tài sản để cho đất nước được tự do, độc lập Trên cơ sở kế thừa và phát huy đạo
lý, truyền thống tốt đẹp “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây” từ xưa của dân tộc, Đảng và Nhà nước ta luôn dành sự quan tâm ưu đãi đặc biệt đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng thông qua việc ban hành và thực hiện một hệ thống chính sách ưu đãi Chế độ ưu đãi người có công mang ý nghĩa kinh tế, chính trị-xã hội và nhân văn sâu sắc, đồng thời
là nền tảng thực hiện mục tiêu công bằng xã hội Chính sách ưu đãi người có công trong những năm qua đã có nhiều cải cách tiến bộ, thực hiện một cách rộng rãi trên địa bàn cả nước và có những cách thức riêng nhằm mục tiêu quan tâm, chăm lo, tạo điều kiện tối đa nhất có thể cho các đối tượng người có công, đảm bảo phù hợp với tình hình kinh tế, chính trị, xã hội hiện nay Trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc, Nam Định là mảnh đất đã đóng góp to lớn về sức người, sức của Chính vì thế, việc tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi người có công ở Nam Định được sự ủng hộ, đồng tình rất lớn của nhân dân và các cấp chính quyền Tuy nhiên, qua thực tiễn nghiên cứu cho thấy, quá trình thực hiện chế độ ưu đãi người có công vẫn còn những tồn tại nhất định Việc giám định, xác minh các loại tổn thương để công nhận là thương binh hay người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học… còn khá phức tạp Trong khi số lượng người đề nghị giải quyết chế độ chính sách lớn thì đội ngũ cán bộ chuyên môn mỏng, trình độ chuyên môn còn hạn chế, thậm chí còn có biểu hiện gây phiền hà cho nhân dân; Việc giải quyết chế độ chính sách còn chậm Một số chính sách, chế độ đối với một bộ phận người
có công còn bất cập, chưa phù hợp với hoàn cảnh thực tế của người thụ hưởng cũng như sự biến đổi nhanh chóng của kinh tế và những vấn đề nảy sinh trong xã hội,
Trang 9không thể hiện được tính ưu đãi, giá trị ưu đãi thực tế chưa đáp ứng được yêu cầu cải thiện đời sống của đối tượng chính sách Xuất phát từ thực tế quá trình tổ chức thực hiện các chính sách ưu đãi người có công còn nhiều vấn đề bất cập, để chính sách tiếp tục tác động vào cuộc sống một cách thiết thực, thực sự trở thành biện pháp hữu ích giúp đỡ, bù đắp những thiệt thòi đối với người có công, góp phần bảo đảm an sinh xã hội, tiến tới sự công bằng về mọi mặt trong đời sống xã hội
Việc nghiên cứu, phân tích tìm ra những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện chính sách ưu đãi người có công trên địa bàn tỉnh Nam Định hiện nay, từ đó đưa ra các giải pháp, phương hướng nhằm đẩy mạnh cũng như hoàn thiện chế độ ưu đãi người có công là đòi hỏi khách quan và cần thiết Với mong muống góp phần nghiên cứu cụ thể về chế độ ưu đãi đối với thương binh; Có cái nhìn tổng quan chuyên sâu về thực trạng thực hiện chế đội ưu đãi đối với thương binh trên địa bàn tỉnh Nam Định, đề từ đó rút ra bài học, đề xuất những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ ưu đãi đối với thương binh Tác giả chọn
đề tài “ Pháp luật về chế độ ưu đãi đối với thương binh từ thực tiễn thực hiện
tại tỉnh Nam Định” làm luận văn Thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Đã có nhiều đề tài nghiên cứu pháp luật về chế độ ưu đãi người có công nói chung và pháp luật về chế độ ưu đãi đối với thương binh nói riêng Tác giả có thể đề cập đến một số công trình nghiên cứu mà mình đã tiếp cận như:
Tác giả Nguyễn Hữu Đại với cuốn sách: “Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng và quy trình giải quyết hồ sơ xác nhận người có công” do nhà xuất bản Lao động xuất bản vào tháng 05 năm 2017 Tác giả Nguyễn Hữu Đại đã phân tích chi tiết pháp lệnh người có công với cách mạng, trong đó các chế độ ưu đãi với người có công cũng được phân tích một cách kỹ lưỡng, khách quan về quy định tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ cấp… Đồng thời tác giả Nguyễn Hữu Đại cũng đã nêu ra tồn đọng trong việc xác nhận người có công và đưa ra hướng giải quyết vấn đề
Trang 10Tác giả Nguyễn Mạnh với cuốn sách: “Chính sách ưu đãi người có công và công tác đền ơn đáp nghĩa của Nhà nước Việt Nam hiện nay” do nhà xuất bản Lao động xuất bản Cuốn sách đã đưa ra chi tiết chính sách ưu đãi đối với người có công nói chung và đối với thương binh nói riêng
Ngoài các công trình nêu trên thì còn có nhiều luận văn, báo cáo tốt nghiệp, tiểu luận, đề án môn học, các bài báo…có góc nhìn nghiên cứu đa chiều về chế độ
ưu đãi đối với thương binh như: Luận văn thạc sỹ “Chế độ ưu đãi xã hội đối với thương binh và người hưởng chính sách như thương binh từ thực tiễn thành phố Hải Phòng” năm 2018 – Đồng Tiến Doanh (Viện Đại học Mở Hà Nội) Báo cáo tốt nghiệp ngành luật “Thực trạng thực hiện chế độ ưu đãi đối với thương binh và người hưởng chính sách như thương binh tại phường Hợp Đức, quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng” năm 2018 – Nguyễn Văn Hùng (Trường Đại học Công Đoàn) Bài báo “Cần hoàn thiện pháp luật ưu đãi người có công” của TH.S Nguyễn Văn Lin đăng trên web: tapchitoaan.vn ngày 20/7/2018…
Nhìn chung các công trình nghiên cứu về chính sách ưu đãi người có công nói chung và chính sách ưu đãi đối với thương binh nói riêng đã cơ bản phản ánh toàn diện các quy định của pháp luật hiện hành, những mặt đã đạt được và nêu bật được vấn đề còn tồn đọng, cần khắc phục Tuy nhiên các nghiên cứu về thưc tiễn thực hiện chế độ ưu đãi đối thương binh tại địa bàn tỉnh Nam Định thì hoàn toàn chưa có 1 đề tài nào
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Với mong muốn nghiên cứu làm rõ chế độ ưu đãi đối với thương binh Nghiên cứu về quy định của pháp luật, thực trạng và các yếu tố tác động tới ưu đãi đối với người có công nới chung và thương binh nói riêng, luận văn xây dựng các giải pháp nhằm khắc phục những bất cập, đồng thời nâng cao hiệu quả thưc hiện chính sách pháp luật ưu đãi đối với thương binh trên địa bàn tỉnh Nam Định
Trang 113.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống cơ sở lý luận chính sách ưu đãi đối với người có công nói chung
và thương binh nói riêng
- Phân tích, đánh giá thực trạng về chế độ ưu đãi đối với thương binh theo quy định của pháp luật hiện hành
- Đánh giá thực trạng thực hiện chế độ ưu đãi đối với thương binh trên địa bàn tỉnh Nam Định
- Đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về chế độ ưu đãi đối với thương binh tại tỉnh Nam Định
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Pháp luật Việt Nam hiện hành về chế độ độ ưu đãi đối với thương binh
- Thực tiễn thực hiện pháp luật về chế độ ưu đãi đối với thương binh tại tỉnh Nam Định
- Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của chế độ ưu đãi đối với thương binh
từ thực tiễn thực hiện tại tỉnh Nam Định
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Trên cơ sở số liệu thực tiễn quá trình thực hiện chế độ
ưu đãi đối với thương binh trên địa bàn tỉnh Nam Định trong thời gian 03 năm trở lại đây (từ năm 2016 đến năm 2018)
Trong giới hạn luận văn, tác giả nghiên cứu về các chế độ ưu đãi đối với thương binh mà không tập trung vào việc xử lý vi phạm trong chế độ ưu đãi đối với thương binh
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, để giải quyết các vấn đề đặt ra, tác giả trên
cơ sở đường lối của Đảng và Nhà nước về chính sách xã hội kết hợp sử dụng các
Trang 12phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích và tổng hợp trên cơ sở các quy định của pháp luật, số liệu thống kê của Sở Lao động Thương binh và xã hội tỉnh Nam Định
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa khoa học
Để đóng góp bổ sung hoàn thiện những vấn đề lý luận về chính sách chuyên ngành mà thực tế chính sách đó đối với thương binh ở nước ta hiện nay và trên địa bàn tỉnh Nam Định
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu có tính chất tham khảo đối với các nhà hoạch định chính sách pháp luật về lĩnh vực an sinh xã hội và đối với cơ quan có thẩm quyền tại tỉnh Nam Định về thực tiễn thực hiện chế độ ưu đãi đối với thương binh Luận văn cũng
là tài liệu tham khảo cho sinh viên và những người làm công tác nghiên cứu về lĩnh vực an sinh xã hội
7 Kết cấu của luận văn
Kết cấu của luận văn gồm: Phần mở đầu, nội dung, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, trong đó nội dung của luận văn gồm có 3 chương, cụ thể:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và pháp luật Việt Nam hiện hành về chế độ
ưu đãi đối với thương binh
Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật về chế độ ưu đãi đối với thương binh tại tỉnh Nam Định
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về chế độ ưu đãi đối với thương binh tại tỉnh Nam Định
Trang 13CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ CHẾ ĐỘ ƯU ĐÃI ĐỐI VỚI THƯƠNG BINH
1.1 Một số vấn đề lý luận về chế độ ưu đãi đối với thương binh
1.1.1 Các khái niệm liên quan
Khái niệm ưu đãi:
Bất cứ xã hội nào, quốc gia nào, dân tộc nào thì những người có công với đất nước với dân tộc cũng đều được ghi nhận và tôn vinh Không những thế Nhà nước,
xã hội còn dành cho họ những ưu tiên, ưu đãi đặc biệt cả về vật chất và tinh thần trong mọi mặt của đời sống xã hội Những ưu tiên, đãi ngộ hơn mức bình thường đó chính là ưu đãi xã hội
Ưu đãi xã hội là khái niệm đã tồn tại từ lâu Đã có nhiều khái niệm về ưu đãi
xã hội do các học giả đưa ra, tuy nhiên các khái niệm đó chưa phản ánh đầy đủ chủ thể cũng như đối tượng của ưu đãi xã hội Ví dụ theo giáo trình an sinh xã hội của
trường đại học kinh tế quốc dân do Nhà xuất bản giáo dục xuất bản năm 2008: Ưu
đãi xã hội là sự ưu đãi đặc biệt cả về vật chất và tinh thần của Nhà nước và cộng đồng với những người hay với cả cộng đồng người có công với dân với nước [1,
trang 21,22] Hoăc theo giáo trình Ưu đãi xã hội của trường đại học Lao động – Xã
hội: “Ưu đãi xã hội là sự đãi ngộ đặc biệt cả về vật chất và tinh thần của Nhà nước
và xã hội nhằm ghi nhận và đền đáp công lao đối với những cá nhân hay tập thể có những cống hiến đặc biệt cho cộng đồng và xã hội”[2] Tuy nhiên những khái niệm
này chưa có được sự đồng nhất cao vì chưa đưa ra được đầy đủ chủ thể thực hiện chính sách ưu đãi xã hội, chưa bao quát được hết các đối tượng được hưởng chính sách ấy Khái niệm ưu đãi xã hội được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực pháp lý, phản ánh được bao quát nhất bản chất đó là: Ưu đãi xã hội được hiểu là sự đãi ngộ của Nhà nước, của cộng đồng và toàn xã hội về đời sống vật chất cũng như tinh thần đới với những người có công và gia đình họ [3, trang 267] Khái niệm này đã làm rõ được bản chất cũng như đặc trưng của ưu đãi xã hội
Trang 14Như vậy, trên cơ sở khái niệm ưu đãi xã hội, có thể hiểu chế độ ưu đãi xã hội
là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định về các điều kiện, hình thức, phương thức thực hiện ưu đãi, mức độ đảm bảo vật chất và tinh thần cho những người có công và thân nhân của họ trên các lĩnh vực đời sống, kinh tế, văn hóa, xã hội
Khái niệm thương binh
Thương binh là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong đời sống hiện nay Đây đồng thời cũng là thuật ngữ pháp lý mà nội hàm, ý nghĩa có sự thay đổi qua các thời kỳ lịch sử để phù hợp với tình hình thực tiễn
Ở Việt Nam, khái niệm thương binh lần đầu tiên xuất hiện trong Nghị định
08/1976/NĐ-CP ngày 17/6/1976, theo đó: “Thương binh là những cán bộ, chiến sỹ
thuộc các lực lượng vũ trang cách mạng tập trung trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng tập trung trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ vì chiến đấu, vì làm nhiệm vụ trong thời gian tại ngũ mà bị thương
có tỉ lệ thương tật từ 21% trở lên” Khái niệm thương binh trong thời kỳ này được
hiểu rất đơn giản là những người thuộc lực lượng vũ trang bị thương khi làm nhiệm
vụ mà tỷ lệ thương tật từ 21% trở lên
Khi đất nước hòa bình, bước vào công cuộc xây dựng đất nước, khái niệm thương binh cũng được quy định cụ thể và mở rộng hơn về đối tượng Theo Điều 12 Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sỹ, gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người giúp đỡ cách mạng ngày 29/8/1994:
“Thương binh là quân nhân, công an nhân dân do chiến đấu, phục vụ chiến đấu trong kháng chiến bảo vệ tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế hoặc trong đâu tranh chống thực dân Pháp, dũng cảm làm nhiệm vụ đặc biệt khó khăn nguy hiểm vì lợi ích của Nhà nước, của nhân dân mà bị thương, mất sức lao động từ 21% trở lên được cơ quan có thẩm quyền cấp “Giấy chứng nhận thương binh”, tặng “Huy hiệu thương binh” Quy định như vậy phù hợp với hoàn cảnh đất nước đã hòa bình, mở
rộng khái niệm thương binh cho cả trường hợp bị thương khi “đấu tranh chống tội
Trang 15phạm, dũng cảm làm nhiệm vụ đặc biệt khó khăn, nguy hiểm vì lợi ích của Nhà nước và nhân dân”
Đến nay, Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng số UBTVQH11 có hiệu lực kể từ ngày 01/10/2005 được sửa đổi, bổ sung bởi Pháp lệnh số 35/2007/PL-UBTVQH11 và Pháp lệnh số 04/2012/PL-UBTVQH13 đã đưa
26/2005/PL-ra quy định thống nhất, rõ ràng về khái niệm thương binh tại Điều 19: “Thương
binh là quân nhận, công an nhân dân bị thương làm giảm khả năng lao động từ 21% trở lên, được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền cấp “Giấy chứng nhận thương binh” và “Huy hiệu thương binh” thuộc một trong tám trường hợp sau: chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu; bị địch bắt, tra tấn vẫn không chịu khuất phục, kiên quyết đấu tranh, để lại thương tích thực thể; làm nghĩa vụ quốc tế; đấu tranh chống tội phạm; dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng, an ninh, dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân; làm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; khi đang trực tiếp làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sỹ do cơ quan
có thẩm quyền giao; trực tiếp làm nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu hoặc diễn tập phục vụ quốc phòng, an ninh có tính chất nguy hiểm.”
Khái niệm này đã khá hoàn thiện và thống nhất về nội dung, đồng thời cũng bao quát hết các trường hợp bị thương, mở rộng trường hợp bị thương trong phòng chống tội phạm, làm công việc cấp bách phục vụ quốc phòng, an ninh, cứu người, tài sản nhà nước, nhân dân … phù hợp với hoàn cảnh đất nước thời bình Tuy nhiên, khái niệm này chưa có tính khái quát cao khi các trường hợp bị thương mang tính liệt kê
Có thể hiểu một cách khái quát về thương binh như sau: “Thương binh là
những người thuộc lực lượng vũ trang do chiến đấu, phục vụ chiến đấu bảo vệ tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế, đấu tranh phòng chống tội phạm, làm công việc cấp bách phục vụ quốc phòng, an ninh, cứu người, tài sản nhà nước, của nhân dân mà
Trang 16bị thương, mất sức lao động từ 21% trở lên và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp “Giấy chứng nhận thương binh”, tặng “Huy hiệu thương binh”
Khái niệm pháp luật về chế độ ưu đãi đối với thương binh:
Để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, Nhà nước đặt ra pháp luật quy định những quy tắc xử sự chung nhất cho các mối quan hệ xã hội và đảm bảo quyền thực thi bằng những biện pháp thuyết phục, cưỡng chế của mình Pháp luật ưu đãi xã hội chính là sự thế chế hóa các chính sách, ưu đãi của Đảng, Nhà nước đối với người có công, các quyền ưu đãi của người có công và những đảm bảo về mặt pháp lý cho việc thực hiện quyền đó Pháp luật ưu đãi người có công quy định những nguyên tắc, cách thức, phương pháp thực hiện các chế độ ưu đãi người có công; quy định quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện ưu đãi với người có công nhằm mục đích thực hiện một cách tốt nhất, hữu hiệu nhất các chế
độ, ưu đãi với đối tượng đặc biệt này
Đồng thời, pháp luật ưu đãi xã hội là sự thể hiện rõ nhất tính dân tộc, tính nhân văn, tính xã hội của pháp luật Pháp luật ưu đãi xã hội là công cụ quản lý hữu hiệu mọi mặt đời sống, tinh thần của người có công, giúp phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đảm bảo công bằng, tiến bộ xã hội và góp phần cho xã hội phát triển bền vững
Với đặc điểm lịch sử của dân tộc Việt Nam, lịch sử của những cuộc đấu tranh giành và giữ nước, nên những người có công là một bộ phận lớn những người
đã hy sinh, cống hiến cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, đó là những bà mẹ Việt Nam anh hùng, những thương binh, liệt sỹ, người có công giúp đỡ cách mạng…Họ là những người có công với nhân dân, với cách mạng, với đất nước, được Nhà nước và nhân dân ghi nhận, biết ơn sâu sắc Do vậy, ưu đãi xã hội xét ở một góc độ nào đó chính là những ưu đãi đối với người có công với cách mạng
Tuy nhiên, đối tượng người có công được hưởng ưu đãi xã hội không chỉ bó hẹp trong phạm vi những người có công với cách mạng mà còn được hiểu theo nghĩa rộng, đó là những người đã cống hiến sức lực, năng lực, trí tuệ và mạng sống
Trang 17của mình cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, phát triển đất nước mà không có bất kỳ sự đòi hỏi, yêu cầu bù đắp nào Họ là những người có thành tích xuất sắc bảo vệ cho sự bình an của đất nước, của dân tộc, được sự công nhận của pháp luật mà không có sự phân biệt tôn giáo, dân tộc, tính ngưỡng, tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp … Như Nhà giáo nhân dân, Nghệ sỹ nhân dân, Thầy thuốc ưu tú, Nhà Kinh tế, Nhà khoa học… có đóng góp xuất sắc
Ưu đãi người có công là một chính sách nhân đạo, thể hiện sâu sắc bản chất ưu việt của xã hội xã hội chủ nghĩa nói chung và xã hội ta nói riêng, có liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như: Kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng, lịch sử, pháp lý và truyền thống đạo lý của dân tộc Đảng và Nhà nước ta tổ chức nghiên cứu, hoạch định ban hành hệ thống chính sách, chế độ từ trung ương đến địa phương và tổ chức thực hiện, kiểm tra việc thực hiện đến từng đối tượng, tùy điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội ở từng giai đoạn mà Nhà nước điều chỉnh chế dộ ưu đãi xã hội theo hướng nâng cao và cải thiện hơn nữa đời sống vật chất và tinh thần cho người có công, thể hiện sự quan tâm, biết ơn của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với sự hy sinh, cống hiến của họ cho đất nước; bù đắp một phần nào đó cho họ về đời sống vật chất cũng như tinh thần Chính sách ưu đãi đối với người có công là một chính sách đặc biệt giành cho những đối tượng đặc biệt Vì thế, Nhà nước với vai trò và chức năng của mình, sử dụng các biện pháp khác nhau để xây dựng và triển khai chính sách ưu đãi đối với người có công vào cuộc sống Không những vậy, Đảng và Nhà nước còn vận động, kêu gọi và khuyến khích mọi người dân, tổ chức tham gia vào phong trào thiết thực nhằm mục đích thực hiện tốt nhất chính sách ưu đãi đối với người có công Do vậy có thể hiểu pháp luật về chế độ ưu đãi xã hội là tổng thể các quy phạp pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ hình thành trong việc tổ chức và thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công trên tất cả các lĩnh vực của đời sống
1.1.2 Đặc trưng của chế độ ưu đãi đối với thương binh
Là một bộ phận của chế độ ưu đãi người có công, chế độ ưu đãi xã hội đối với thương binh bên cạnh những đặc trưng cơ bản của chế độ ưu đãi người có công còn có những đặc trưng riêng biệt, đó là:
Trang 18Thứ nhất: Đối tượng được thụ hưởng chế độ ưu đãi là thương binh
Ở nước ta, người có công gồm 12 đối tượng được pháp luật quy định gồm: Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945; Liệt sĩ; Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến; Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; Bệnh binh; Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt
tù, đày; Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; Người có công giúp đỡ cách mạng
Thương binh nằm trong nhóm đối tượng người có công Khác với chế độ ưu đãi đối với các đối thượng người có công khác, đối tượng được hưởng chế độ ưu đãi
ở đây chính là thương binh Đó là những người đã tự nguyện dâng hiến cuộc đời mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng và bảo vệ đất nước Tùy vào hoàn cảnh, điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội của mỗi thời kỳ mà chính sách đối với thương binh lại có quy định khác nhau Thương binh được quy định cụ thể tại Điều 19 Pháp lệnh sửa đổi bổ sung một số điều của pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng số 04/2012/UBTVQH13 ngày 16/7/2012
Thứ hai, chế độ ưu đãi đối với thương binh là sự đãi ngộ đặc biệt cả về vật chất lẫn tinh thần
Chế độ ưu đãi về vật chất đối với thương binh ở đây được hiểu là gồm toàn
bộ các hình thức ưu đãi nhằm đảm bảo cuộc sống vật chất trong đời sống thường ngày như: Trợ cấp tiền hằng tháng, trợ cấp một lần, mai tang phí, hưởng ưu đãi dịch
vụ y tế, ưu đãi về giáo dục … Về tinh thần thì Đảng và Nhà nước đã giành một ngày trong năm để ghi nhận công lao của thương binh đó là ngày 27/7 Bên cạnh đó thương binh cũng được chăm sóc nâng cao về đời sống tinh thần để giúp họ tránh khỏi mặc cảm tự ti về thương tật, về sức khỏe Thương binh được hưởng những quyền lợi về vật chất và tinh thần đặc biệt biệt hơn so với các đối tượng khác Tuy
Trang 19nhiên những ưu đãi đó phụ thuộc vào từng thời kỳ kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước khác nhau mà khác nhau Nhưng nhìn chung dù ở thời kỳ nào thì chính sách
ưu đãi đối với thương binh cũng rất phong phú, bao hàm trên hầu hết các lĩnh vực trong đời sống xã hội về cả mặt vật chất lẫn tinh thần
Thứ ba, mục tiêu chính mà chế độ ưu đãi đối với thương binh hướng tới là ghi nhận, đầu tư nhằm tái sản xuất những giá trị tinh thần cao đẹp của dân tộc
Ghi nhận ở đây là ghi nhận và tri ân những cá nhân, tập thể có cống hiến đặc biệt cho cộng đồng xã hội, cho cuộc sống của chúng ta Cùng với đó là sự công bằng xã hội, cụ thể hơn là người cống hiến phải được hưởng theo những gì mà mình
đã đóng góp Không những thế, uống nước nhớ nguồn là truyền thống quý báu của dân tộc ta, ông cha ta từ bao đời nay Vì vậy khi đất nước phát triển chúng ta cũng cần phải tái xuất những giá trị truyền thống cao đẹp đó Mặt khác, ưu đãi xã hội góp phần bảo đảm ổn định cho thể chế chính trị của đất nước Bởi lẽ một chính sách công bằng có thể thúc đẩy các cá nhân, tổ chức tiếp tục cống hiến, hy sinh cho sự nghiệp phát triển đất nước
Thứ tư, thực hiện chế độ ưu đãi đối với thương binh vừa là trách nhiệm của Nhà nước, vừa là trách nhiệm, tình cảm của nhân dân
Nếu như bảo hiểm xã hội chủ yếu thể hiện sự tương trợ cộng đồng giữa những người tham gia bảo hiểm Cứu trợ xã hội là thể hiện sự trợ giúp của Nhà nước, nhân dân đối với những người gặp khó khăn, không may trong cuộc sống Thì
ưu đãi xã hội nói chung và ưu đãi đối với thương binh nói riêng thể hiện trách nhiệm của Nhà nước và nhân dân đối với những người đã hy sinh tuổi trẻ, xương máu, kể cả sinh mạng để xây dựng và bảo vệ đất nước Vì thế nguồn tài chính để thực hiện ưu đãi xã hội không chỉ từ nguồn ngân sách nhà nước mà còn có sự đóng góp lớn của nhân dân trong, ngoài nước; Không chỉ là trách nhiệm mà còn là tình cảm cao đẹp của cộng đồng tri ân những người có công
1.1.3 Các nguyên tắc cơ bản của chế độ ưu đãi xã hội đối với thương binh
Để đảm bảo việc xây dựng và thực hiện pháp luật về chế độ ưu đãi đối với người có công nói chung và đặc biệt đối với thương binh nói riêng thì cần có những
Trang 20nguyên tắc căn bản làm nền tảng và định hướng Trên cơ sở những đặc trưng của chế độ ưu đãi xã hội thì chế độ ưu đãi đối với thương binh cần đảm bảo những nguyên tắc cơ bản sau:
- Ưu đãi đối với thương binh trước hết là trách nhiệm của Nhà nước
Thương binh là những người đã đóng góp, hy sinh cho sự nghiệp giải phóng, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Do đó khi bị thương, suy giảm sức khỏe, khi tuổi già hoàn cảnh sống khó khăn thì việc quan tâm chăm sóc, ưu đãi trước tiên thuộc trách nhiệm của Nhà nước Với tư cách là chủ thể quản lý, chủ thể đại diện cho nhân dân, đại diện cho cộng đồng, Nhà nước phải có trách nhiệm này Trước hết nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định đối tượng, điều kiện, chế độ được hưởng ưu đãi trên cơ sở điều kiện kinh tế chính trị và xã hội của đất nước Những quy định này được điều chỉnh theo từng thời kỳ sao cho phù hợp và được Nhà nước đảm bảo thực thi trong thực tế
Nguồn tài chính được dùng để thực hiện chế độ ưu đãi chủ yếu được trích từ ngân sách Nhà nước Bên cạnh đó, Nhà nước còn phát động phong trào để huy động nguồn lực của tổ chức, cá nhân và tổ chức phối hợp giữa các cấp, các ngành, đoàn thể để thực hiện chế độ ưu đãi có hiệu quả
- Thực hiện công bằng và công khai trong chế độ ưu đãi đối với thương binh
Chế độ ưu đãi xã hội với nội dung chủ yếu là trợ cấp để đảm bảo đời sống vật chất cho đối tượng được hưởng và những ưu tiên trong nhiều lĩnh vực khác của đời sống Do đó việc sử dụng ngân sách nhà nước để thực hiện ưu đãi phải đảm bảo công bằng giữa các lĩnh vực khác nhau và giữa các đối tượng trong cùng lĩnh vực sao cho có thể phù hợp tương đối giữa các đối tượng được hưởng trong cùng lĩnh vực và giữa các lĩnh vực với nhau
Công bằng trước hết được thể hiện là sự bình đẳng giữa những người có công, không phân biệt nam nữ, dân tộc, vùng miền … Mọi người có công theo quy định của pháp luật đều được hưởng ưu đãi Cùng có mức đóng góp như nhau thì có
Trang 21quyền hưởng ưu đãi như nhau trong cuộc sống Những người bị tổn thất mất mát nhiều hơn thì phải được hưởng ưu đãi nhiều hơn đối tượng khác Sự bình đẳng ở đây còn được hiểu rộng không chỉ là sự bình đẳng giữa thương binh với với nhau
mà còn giữa thương binh với những người có công khác và các thành viên khác trong cộng đồng
Việc công khai trong ưu đãi được hiểu là công khai trong từng địa phương, trong xã hội và trong cộng đồng Cần phải công khai điều điện hưởng, chế độ ưu đãi hưởng, mức hưởng… để đảm bảo các đối tượng được hưởng và toàn dân có thể giám sát việc thực hiện chế độ ưu đãi giúp phần hạn chế việc làm sai, làm giả hồ sơ
để hưởng ưu đãi gây bất bình trong nhân dân Mặt khác việc công khai ưu đãi chính
là nêu cao truyền thống đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn của cha ông ta Việc công khai ưu đãi có ý nghĩa trong việc giáo dục các thế hệ sau biết kính trọng, biết ơn những người có công và đặc biệt đối với thương binh với những hy sinh, mất mát và hy sinh để xây dựng và bảo vệ tổ quốc
- Xác định chế độ ưu đãi phải hợp lý, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội
Thương binh là những người đóng góp, hy sinh cho đất nước, họ tổn thất về sức khỏe nên cuộc sống gặp khó khăn trong nhiều phương diện Chính vì lẽ đó cần phải có chế độ ưu đãi hợp lý làm sao không những đảm bảo cuộc sống vật chất cho
họ mà còn đảm bảo cuộc sống tinh thần để họ tự lập trong cuộc sống, hòa nhập vào cộng đồng Vì vậy, ngoài việc trợ cấp thì những ưu đãi khác về nhà ở, việc làm, chăm sóc sức khỏe … cũng thực sự rất cần thiết Làm tốt nguyên tắc này thể hiện
sự quan tâm chính đáng của Nhà nước, xã hội đối với nhu cầu chính đáng của thương binh tạo điều kiện cho họ không chỉ có cuộc sống ổn định mà còn có thể vươn lên có cuộc sống tốt hơn, thậm chí làm giàu, tự khẳng định vị trí của mình trong xã hội
Tuy nhiên, mức ưu đãi cần phải phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước Nếu việc xác định đúng mức ưu đãi thì sẽ góp phần ổn định kinh tế xã hội của đất nước Ngược lại, nếu xác định mức ưu đãi không phù hợp thì có thể gây thiệt
Trang 22thòi cho thương binh không thể đảm bảo được cuộc sống hoặc nếu xác định mức ưu đãi quá lớn thì sẽ là gánh nặng cho nên kinh tế Mức ưu đãi đối với thương binh phải phù hợp với tình hình phát triển kinh tế của đất nước và phải dựa trên điều kiện kinh tế xã hội của đất nước Như thế, mới có căn cứ xác định trong từng thời kỳ đến mức nào để được hưởng ưu đãi, mức hưởng… nhằm đảm bảo cuộc sống cả về vật chất và tinh thần cho thương binh Bên cạnh đó, với việc tốc độ phát triển kinh tế xã hội tốt như hiện nay thì việc điều chỉnh ưu đãi là cần thiết để đảm bảo cho người có công nói chung và thương binh nói riêng có thể đảm bảo cuộc sống của họ Để đảm bảo nguyên tắc này, Đảng và Nhà nước ta cũng đã xác định rõ tại bài phát biểu hội nghị thế giới Copenhaghen, năm 1995: “Không đợi khi nền kinh tế phát triển cao mới thực hiện ưu đãi xã hội Và không thể hy sinh tiến bộ và công bằng xã hội để phát triển kinh tế đơn thuần”
- Xã hội hóa công tác ưu đãi đối với thương binh
Ưu đãi đối với thương binh là trách nhiệm của Nhà nước và của toàn xã hội Thương binh đã hy sinh một phần thân thể, máu thịt của mình để xây dựng và bảo
vệ đất nước Chính vì vậy, các thế hệ con cháu, các thành viên trong xã hội phải có trách nhiệm đối với họ - những người đã xả thân vì hòa bình đất nước Mặt khác việc ưu đãi đối với thương binh không chỉ là trách nhiệm mà còn là thái độ, tình cảm của nhân dân, của dân tộc, của các con các cháu đối với thế hệ ông cha Chính bởi lẽ đó việc thực hiện xã hội hóa công tác ưu đãi đối với thương binh nói riêng và với người có công nói chung là một tất yếu
Trên thực tế, đất nước ta trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
và đế quốc Mỹ xâm lược kéo dài hàng thập kỷ nên số lượng thương binh rất lớn, trong khi đó điều kiện kinh tế đất nước còn nghèo do đó cần phải dựa vào toàn xã hội để thực hiện chính sách ưu đãi đối với thương binh Tuy nhiên xã hội hóa không
có nghĩa là Nhà nước phó mặc cho xã hội mà ngược lại Nhà nước càng phải đóng vai trò quan trọng trong việc xã hội hóa Nhà nước phải giữ vai trò chủ chốt, phát động, định hướng để hoạt động xã hội hóa mang lại hiệu quả cao Thực hiện tốt
Trang 23công tác xã hội hóa sẽ phát huy được sức mạnh của toàn xã hội đồng thời đảm bảo cho hoạt động này đi vào đời sống xã hội là một nét đẹp luôn được duy trì và phát huy
1.1.4 Ý nghĩa và sự cần thiết phải thực hiện chế độ ưu đãi đối với thương binh
Là một trong những bộ phận cấu thành pháp luật ưu đãi với người có công, pháp luật chế độ ưu đãi đối với thương binh có ý nghĩa quan trọng bảo vệ quyền lợi của họ trong xã hội hiện nay Pháp luật chế độ ưu đãi đối với thương binh giúp họ
ổn định đời sống và quan trọng hơn, tạo nền tảng động viên họ khắc phục khó khăn hiện tại để vươn lên trong cuộc sống Trên thực tế, pháp luật chế độ ưu đãi với thương binh đã thể hiện rõ bản chất nhân đạo, lòng biết ơn của dân tộc đối với những người đã hy sinh một phần xương máu của mình cho đất nước Chính bởi lẽ
đó, pháp luật ưu đãi đối với thương binh có ý nghĩa trên mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, pháp lý …
Về mặt chính trị, thương binh là những người đã cống hiến, hy sinh xương
máu của mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ tổ quốc Do đó, việc quy định chế độ ưu đãi đối với họ mang ý nghĩa chính trị sâu sắc Để xây dựng đất nước giàu mạnh, một trong những yếu tố quan trọng là lòng tin của người dân vào thể chế lãnh đạo đất nước, mà trước hết là lòng tin từ những người đã hy sinh cống hiến một phần xương máu của mình vì tổ quốc Lòng tin của họ sẽ được củng cố khi sự
hy sinh của họ được Nhà nước và nhân dân ghi nhận, đền đáp xứng đáng, tạo điều kiện chăm sóc cả về vật chất và tinh thần trong mọi lĩnh vực của đời sống đối với bản thân và gia đình họ Đồng thời pháp luật chế độ ưu đãi đối với thương binh cũng tạo ra động lực cho mọi tầng lớp trong xã hội sẵn sàng xả thân vì đất nước dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào Do vậy việc thực hiện tốt pháp luật chế độ ưu đãi đối với thương binh là góp phần ổn định chính trị xã hội của đất nước, tạo được thế ổn định lâu dài cho đất nước phát triển Ngược lại, nếu không làm tốt công tác này có thể làm mất đi lòng tin của cả một thế hệ đã cống hiến, hy sinh một phần xương máu của mình cho tổ quốc Như vậy sẽ gây mất ổn định chính trị xã hội, ảnh hưởng tới sự tồn vong của đất nước
Trang 24Về mặt văn hóa, xã hội, pháp luật về chế độ ưu đãi đối với thương binh thể
hiện truyền thống tốt đẹp uống nước nhớ nguồn của dân tộc, tỏ lòng biết ơn đối với những người đã hy sinh một phần máu thịt của mình cho độc lập, tự do của tổ quốc Khi trở về cuộc sống hằng ngày, thương binh gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống, chế độ ưu đãi đối với họ trở nên quan trọng và mang tính nhân văn sâu sắc Những
ưu đãi họ được hưởng không chỉ là đơn thuần cải thiện cuộc sống mà còn giúp họ hòa nhập nhanh với cộng đồng, tránh những mặc cảm trong cuộc sống Những ưu tiên, ưu đãi về giáo dục, việc làm, chăm sóc sức khỏe … đã thể hiện sự quan tâm của Nhà nước, công đồng và toàn xã hội đến mọi mặt đời sống của họ
Pháp luật về ưu đãi đối với thương binh có ý nghĩa giáo dục cho các thế hệ sau nhận thức sâu sắc và phát huy truyền thống ăn quả nhớ kẻ trồng cây của cha ông
ta Điều đó khơi dậy niềm tự hào dân tộc, sự biết ơn của thế hệ sau đối với những người đi trước Chế độ này còn hình thành nên ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân trong xã hội với thương binh, tạo ra sự cảm thông, chia sẻ, trách nhiệm … trong cộng đồng Đó là những nét đẹp trong đời sống con người mà mỗi xã hội đều hướng tới
Về mặt kinh tế, thương binh là những người đã cống hiến cho công cuộc xây
dựng và bảo vệ tổ quốc Tuy nhiên, khi họ về già, sức khỏe đã yếu hoặc bị thương tật nên sức khỏe giảm sút đời sống hàng ngày gặp nhiều khó khăn Vì vậy chế độ ưu đãi có ý nghĩa lớn đối với họ và gia đình nhằm đảm bảo và nâng cao đời sống cho
họ Đặc biệt, đối với những người bị thương nặng không còn khả năng lao động cũng như không có người nương tựa thì trợ cấp chính là nguồn thu nhập để đảm bảo cuộc sống cho họ
Trong xu thế phát triển hiện nay, chế độ ưu đãi đối với thương binh có ý nghĩa rất to lớn Bên cạnh đó những ưu đãi về nhà ở, việc làm, về giáo dục, y tế …
đã thực sự phát huy tác dụng và góp phần không nhỏ nâng cao trình độ học vấn, tay nghề để họ có thể hòa nhập với cộng đồng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của đất nước trong thời kỳ phát triển Nhà nước cần có các chính sách phù hợp để tạo điều kiện, khơi dậy ý chí và nghị lực trọng họ thì đó cũng là một nguồn lực thúc đẩy phát
Trang 25triển kinh tế đất nước, đồng thời cũng tạo ra động lực thúc đẩy các thành phần xã hội khác trong công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế đất nước
Về mặt pháp lý, từ sự kính trọng, lòng biết ơn đối với thương binh, Đảng và
Nhà nước đã thể chế hóa thành pháp luật ưu đãi với họ, mà cụ thể là pháp luật về chế độ ưu đãi đối với người có công Việc thể chế hóa thành pháp luật đảm bảo cho
việc thực hiện chế độ ưu đãi này ổn định bằng Ngân sách nhà nước và sự trợ giúp
của toàn thể nhân dân Đây cũng chính là sự đảm bảo về mặt pháp lý cho các ưu đãi đối với thương binh được thực hiện trong thực tế Thực hiện chế độ ưu đãi đối với thương binh là trách nhiệm của Nhà nước và các cấp chính quyền, đồng thời cũng trở thành quyền lợi chính đáng của thương binh Khi đã trở thành quyền lợi của mình thì họ có thể tự hào vì sự cống hiến hy sinh của mình được ghi nhận, không tạo tâm lý được ban ơn, đồng thời tạo ý thức trách nhiệm cho những người thực hiện công tác này không thể làm việc theo cơ chế xin – cho, mà phải coi đây là công tác thiết thực, cao cả, biết ơn đối với thương binh Từ đó, họ có thái độ làm việc nghiêm túc, hết lòng vì công việc, thực hiện đúng những quy định của pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích cho thương binh nói riêng và đối với những người có công nói chung
1.2 Pháp luật Việt Nam hiện hành về chế độ ưu đãi đối với thương binh 1.2.1 Điều kiện và thủ tục xác nhận thương binh được hưởng chế độ ưu đãi
1.2.1.1 Xác nhận đối tượng và điều kiện hưởng chế độ ưu đãi đối với thương binh
Đối tượng được hưởng chế độ ưu đãi đối với thương binh là thương binh – những người đã hi sinh xương máu và một phần cơ thể cho sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước Tuy nhiên không phải mọi cá nhân có sự hy sinh đều được hưởng chế độ ưu đãi đối với thương binh Theo quy định tại Khoản 1 Điều 19 Pháp lệnh
ưu đãi người có công với cách mạng số 26/2005/PL-UBTVQH11, thương binh được hiểu là: Thương binh là quân nhân, công an nhân dân bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên, được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền cấp “Giấy
Trang 26chứng nhận thương binh” và “Huy hiệu thương binh” thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu;
- Bị địch bắt, tra tấn vẫn không chịu khuất phục, kiên quyết đấu tranh, để lại thương tích thực thể;
- Làm nghĩa vụ quốc tế;
- Đấu tranh chống tội phạm;
- Dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng, an ninh; dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân;
- Làm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;
- Khi đang trực tiếp làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ do cơ quan
có thẩm quyền giao;
- Trực tiếp làm nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu hoặc diễn tập phục vụ quốc phòng, an ninh có tính chất nguy hiểm
Theo đó để được xem xét công nhận là thương binh thì trước hết cá nhân phải
là quân nhân hoặc công an nhân dân Yếu tố thứ hai đó là phải bị thương Việc bị thương phải thuộc các trường hợp nhất định theo quy định, không phải trường hợp nào bị thương mất khả năng lao động nhất định cũng được công nhận là thương binh.Yếu tố thứ ba là việc bị thương đó dẫn đến suy giảm khả năng lao động nhất định (tỷ lệ thương tật) Và yếu tố thứ tư là được cơ quan thẩm quyền cấp giấy chứng nhận thương binh và huy hiệu thương binh
Trước hết để xem xét công nhận là thương binh phải là quân nhân hoặc công
an nhân dân mà không phải là một đối tượng nào khác Bởi quân nhân, công an nhân dân chính là lực lượng chính, chủ chốt thực hiện công việc cao cả là xây dựng
và bảo vệ tổ quốc, bảo vệ tính mạng và tài sản của Nhà nước và nhân dân Đây là
Trang 27lực lượng trực tiếp đối mặt với những khó khăn, hiểm nguy khi làm nhiệm vụ Khả năng bị thương khi làm nhiệm vụ rất dễ xảy ra Đó là những người cẩm súng bảo vệ độc lập đất nước, những người gìn giữ an ninh trật tự đấu tranh chống tội phạm, những người được phân đi làm nhiệm vụ quốc tế …
Thứ hai đó là phải bị thương Quân nhân, công an nhân dân khi thực hiện
nhiệm vụ do tính chất, yêu cầu của nhiệm vụ có thể đối mặt với nguy cơ bị thương Tuy nhiên không phải bất cứ trường hợp bị thương nào cũng có thể được xem xét công nhận là thương binh Ví dụ như bị thương do tự bản thân gây nên hoặc vi phạm pháp luật, vi phạm quy định của cơ quan, đơn vị thì không thể là cơ sở xem xét công nhận thương binh Tại Khoản 1 Điều 27 nghị định 31/2013/NĐ-CP quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng quy định chi tiết các trường hợp bị thương được xem xét để công nhận là thương binh bao gồm:
+ Bị thương trong chiến đấu bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an
ninh quốc gia Đó là trường hợp bị thương khi trực tiếp chiến đấu với địch, hoặc bị thương trong trường hợp truy bắt phản động, gián điệp … Nhằm bảo
vệ độc lập chủ quyền và an ninh quốc gia trên không, trên đất liền và trên biển
+ Trực tiếp phục vụ chiến đấu trong khi địch bắn phá: Đó là trường hợp những
quân nhân, công an nhân dân không trực tiếp tham gia chiến đấu nhưng nhiệm vụ của họ lại trực tiếp phục vụ chiến đấu như: Tải đạn, cứu thương, tải thương, đảm bảo thông tin liên lạc, cứu chữa kho hàng, bảo vệ hàng hóa và các trường hợp đảm bảo chiến đấu… Khi thực hiện nhiệm vụ đó mà bị thương thì cũng được xem xét công nhận thương binh
+ Hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt, tra tấn vẫn
không khuất phục, kiên quyết đấu tranh, để lại thương tích thực thể;
+ Làm nghĩa vụ quốc tế mà bị thương trong khi thực hiện nhiệm vụ Đó là
trường hợp quân nhân, công an nhân dân được phân công của Nhà nước đi
Trang 28thực hiện các nhiệm vụ quốc tế vì mục đích ngoại giao, hoặc chính trị mà bị thương thì cũng là trường hợp được xem xét để công nhận là thương binh Tuy nhiên nếu trường hợp bị thương trong khi học tập, tham quan, du lịch,
an dưỡng, chữa bệnh, thăm viếng hữu nghị; làm việc theo hợp đồng kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hóa, giáo dục, lao động thì không thuộc diện xem xét xác nhận là thương binh;
+ Trực tiếp tham gia đấu tranh chống lại hoặc ngăn chặn các hành vi gây nguy
hiểm cho xã hội thuộc các tội được quy định trong Bộ luật Hình sự Đó là việc quân nhân, công an nhân dân bị thương khi trực tiếp thực hiện nhiệm vụ trong trường hợp phòng chống tội phạm có hành vi đặc biệt nguy hiểm cho
xã hội được quy định tại bộ luật Hình sự như tội giết người cướp của, có thể
là những tội buôn bán trái phép chất ma túy, đó là những tội buôn lậu… mà
kẻ thực hiện hành vi phạm tội sẵn sàng chống cự, phản kháng quyết liệt Bị thương trong trường hợp này cũng là cơ sở để xem xét công nhận thương binh
+ Dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng, an
ninh; Dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân Đây là trường hợp quân nhân, công an nhân dân bị thương khi tình huống cấp bách không đủ trang thiết bị bảo hộ, công cụ hỗ trợ hoặc có nhưng cũng không thể trách được bị thương Hoặc bị thương khi cứu người, cứu tài sản Nhà nước khi bị thiên tai, dịch họa
+ Trực tiếp làm nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu hoặc diễn tập phục vụ quốc
phòng, an ninh có tính chất nguy hiểm: Bắn đạn thật, sử dụng thuốc nổ; huấn luyện, diễn tập chiến đấu của không quân, hải quân, cảnh sát biển và đặc công; chữa cháy; chống khủng bố, bạo loạn; giải thoát con tin; cứu hộ, cứu nạn, ứng cứu thảm họa thiên tai;
+ Làm nhiệm vụ quốc phòng và an ninh ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội
đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật Việc bị thương khi làm nhiệm
Trang 29vụ tại địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì khó có thể có điều kiện, trang thiết bị chữa trị kịp thời nhằm giảm thiểu, và hạn chế thương tật Đây cũng là một trường hợp là cơ sở để xem xét công nhận là thương binh Việc ghi nhận trường hợp này cũng rất hợp lý, ghi nhận đóng góp, hy sinh của quân nhân, công an nhân dân thực hiện nhiệm vụ tại những địa phương này Địa bàn có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn được quy định tại Thông tư liên tịch số 07/TTLT-BLĐTBXH-BQP-BNV ngày 04/5/2007
+ Khi đang trực tiếp làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ do cơ quan
có thẩm quyền giao Những liệt sĩ đã dũng cảm hy sinh thân mình để bảo vệ
tổ quốc, hài cốt nằm lại nơi rừng thiêng nước độc Việc tìm kiếm và quy tập hài cốt liệt sỹ thể hiện sự ghi nhận, biết ơn của Nhà nước và nhân dân đối với nhứng hy sinh to lớn của họ Trong quá trình tìm kiếm và quy tập hài cốt có
vô số những gian khổ và khó khăn do địa hình phức tạp, rồi bom đạn còn sót lại trong chiến tranh … Do đó việc quy định bị thương trong trường hợp này được xem xét để công nhận là thương binh cũng rất hợp lý
Có thể thấy pháp luật hiện hành đã quy định khá cụ thể và chi tiết, bao quát
và tương đối đầy đủ các trường hợp bị thương làm cơ sở để xem xét xác nhận là thương binh Đây là cơ sở pháp lý tạo thuận lợi cho việc lập hồ sơ để đề nghị công nhận thương binh
Thứ ba là tỷ lệ thương tật Quân nhân, công an nhân dân bị thương trong các
trường hợp đã luật định dẫn đến suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên thì được xem xét công nhận là thương binh Việc suy giảm khả năng lao động này phải
do nguyên nhân trực tiếp là các trường hợp được pháp luật quy định Với quy định
tỷ lệ suy giảm khả năng lao động là 21% là tương đối hợp lý Mức giảm khả năng lao động này là mức khiến người bị thương ảnh hưởng khá lớn đến sức khỏe và khả năng lao động của họ Việc công nhận thương binh và hưởng chế độ ưu đãi thương binh để họ có thể khắc phục những khó khăn, vất vả trong cuộc sống Tuy nhiên,
Trang 30tùy theo mức độ suy giảm khả năng lao động mà có những mức hưởng ưu đãi khác nhau Người bị suy giảm khả năng lao động càng nhiều thì mức hưởng ưu đãi càng
cao
Thứ tư là xác nhận của cơ quan có thẩm quyền khi đã có đủ 3 yếu tố cần
thiết nêu trên thì yếu tố cuối cùng là điều kiện đủ để được công nhân thương binh là được cơ quan, đơn vị có thầm quyền tùy từng trường hợp cấp “Giấy chứng nhận thương binh”, tặng “Huy hiệu thương binh” Sự xác nhận này thể hiện sự ghi nhận của Nhà nước đối với những đóng góp của thương binh cho tổ quốc, là bằng chứng,
cơ sở để thương binh được hưởng chế độ ưu đãi Thẩm quyền cấp giấy chứng nhận thương binh được quy định cụ thể tại Khoản 2, Điểm a Khoản 3 Điều 28 Nghị định 31/2013/NĐ-CP quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của pháp lệnh người có công với cách mạng, cụ thể như sau:
“2 Cấp giấy chứng nhận bị thương:
a) Người bị thương là quân nhân, công nhân viên quốc phòng do Thủ trưởng
Trung đoàn hoặc cấp tương đương trở lên;
b) Người bị thương là công an nhân dân, công nhân viên công an nhân dân do
Giám đốc Công an cấp tỉnh hoặc cấp tương đương trở lên;
c) Người bị thương thuộc cơ quan trung ương do Bộ trưởng hoặc cấp tương
đương;
d) Người bị thương thuộc cơ quan cấp tỉnh quản lý do Chủ tịch Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh;
đ) Người bị thương thuộc cơ quan cấp huyện hoặc cấp xã và các trường hợp
đóng trên địa bàn không thuộc quy định tại Điểm a, b, c, d Khoản này do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện
3 Cấp Giấy chứng nhận thương binh, Giấy chứng nhận người hưởng chính
sách như thương binh và trợ cấp, phụ cấp thương tật:
Trang 31a) Các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an
ra quyết định cấp Giấy chứng nhận thương binh và trợ cấp, phụ cấp thương tật đối với những trường hợp quy định tại Điểm a, b Khoản 2 Điều này;”
Thương binh loại B: Ngoài những người thuộc lực lượng vũ trang bị
thương khi làm nhiệm vụ được xem xét công nhận là thương binh thì những người
bị thương khi tập luyện, công tác cũng được xem xét hưởng những ưu đãi của Nhà nước, họ được xem xét để công nhận là thương binh loại B Thương binh loại B được quy định tại Khoản 2 Điều 19 Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng Đối với trường hợp này, kiều kiện công nhận khá đơn giản, trường hợp bị thương trong khi luyện tập, công tác và điều kiện quan trọng nhất để hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước là có tỷ lệ thương tật từ 21% trở lên có xác nhận của cơ quan, đơn vị
có thẩm quyền công nhận trước ngày 31/12/1993 Sau ngày 31/12/1993, những trường hợp tương tự không được công nhận là thương binh loại B mà chuyển sang chế độ bảo hiểm do bảo hiểm xã hội chi trả Quy định trên thống nhất các trường hợp bị thương trong lao động, thống nhất trong việc giải quyết quyền lợi cho họ theo quy định của Bảo hiểm xã hội
Đối với thương binh, nếu sau 2 năm vết thương tái phát sẽ được xem xét giới thiệu đi giám định lại Nếu sau khi giám định lại mà tỷ lệ thương tật giảm hay tăng hoặc vẫn giữ nguyên tỷ lệ thương tật thì giám đốc Sở lao động thương binh và xã hội ra quyết định điều chỉnh thương tật Đối với một số trường hợp đặc biệt, có các vết thương ở một số bộ phận cơ thể như sọ não, lồng ngực… mặc dù đã được giám định nhưng sau 2 năm vết thương vẫn tái phát, sức khỏe giảm đi thì được xem xét giám định phúc quyết lần 2 Thủ tục, hồ sơ giám định lại đối với thương binh được quy định tại Thông tư liên tịch số 20/2000/TTLT/BLĐTBXH-BYT của bộ Lao động thương binh xã hội, bộ y tế hướng dẫn việc giám định lại thương tật đối với người bị thương và giám định lại khả năng lao động đối với bệnh binh
1.2.1.2 Thủ tục xác nhận thương binh hưởng chế độ ưu đãi
Hồ sơ để hưởng chế độ thương binh được quy định tại Điều 29 Nghị định
Trang 3231/2013/NĐ-CP quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều pháp lệnh ưu đãi người có công bao gồm:
- Giấy chứng nhận bị thương
- Biên bản giám định thương tật của Hội đồng giám định y khoa
- Quyết định cấp Giấy chứng nhận thương binh, Giấy chứng nhận người
hưởng chính sách như thương binh và trợ cấp, phụ cấp thương tật
- Đầu tiên về giấy chứng nhận bị thương: Căn cứ cấp giấy chứng nhận bị
thương là giấy ra viện do điều trị vết thương và một trong các giấy tờ sau:
+ Trường hợp bị thương quy định tại Điểm a,b Khoản 1 Điều 27 của Nghị định 31/2013/ NĐ-CP do chiến đấu bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia; Trực tiếp phục vụ chiến đấu trong khi địch bắn phá: Tải đạn, cứu thương, tải thương, đảm bảo thông tin liên lạc, cứu chữa kho hàng, bảo vệ hàng hóa và các trường hợp đảm bảo chiến đấu phải có giấy xác nhận trường hợp bị thương do cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý cấp:
-> Người bị thương là quân nhân, công nhân viên quốc phòng do Thủ trưởng
cấp tiểu đoàn hoặc tương đương xác nhận;
-> Người bị thương là công an nhân dân do Trưởng công an cấp huyện hoặc
+ Trường hợp khi làm nghĩa vụ quốc tế mà bị thương trong khi thực hiện
nhiệm vụ quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 27 của Nghị định 31/2013/
NĐ-CP thì phải có:
Trang 33-> Quyết định đi làm nghĩa vụ quốc tế do Thủ trưởng cơ quan, đơn vị có thẩm
quyền cấp
-> Giấy xác nhận trường hợp bị thương do cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý
cấp;
+ Trường hợp bị thương khi trực tiếp tham gia đấu tranh chống lại hoặc ngăn
chặn các hành vi gây nguy hiểm cho xã hội thuộc các tội được quy định trong Bộ luật Hình sự được quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 27 của Nghị định 31/2013/NĐ-CP phải có một trong các giấy tờ sau:
-> Kết luận của cơ quan điều tra;
-> Trường hợp không xác định được đối tượng phạm tội phải có quyết định
khởi tố vụ án hoặc quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án;
-> Trường hợp đối tượng phạm tội bỏ trốn hoặc không xác định được nơi đối
tượng cư trú phải có quyết định truy nã bị can;
-> Trường hợp án kéo dài phải có quyết định gia hạn điều tra;
-> Trường hợp người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không có năng
lực trách nhiệm hình sự hoặc chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự hoặc đã chết phải có một trong các giấy tờ sau: Quyết định không khởi tố vụ án, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án, quyết định đình chỉ điều tra vụ án;
+ Trường hợp bị thương khi dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy
hiểm phục vụ quốc phòng, an ninh; dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân quy định tại Điểm e Khoản 1 Điều 27 của Nghị định 31/2013/ NĐ-CP phải có biên bản xảy ra sự việc do cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra sự việc lập;
+ Trường hợp bị thương khi trực tiếp làm nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu hoặc
diễn tập phục vụ quốc phòng, an ninh có tính chất nguy hiểm: Bắn đạn thật,
sử dụng thuốc nổ; huấn luyện, diễn tập chiến đấu của không quân, hải quân,
Trang 34cảnh sát biển và đặc công; chữa cháy; chống khủng bố, bạo loạn; giải thoát con tin; cứu hộ, cứu nạn, ứng cứu thảm họa thiên tai quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 27 của Nghị định 31/2013/ NĐ-CP phải có:
-> Biên bản xảy ra sự việc của cơ quan, đơn vị trực tiếp tổ chức huấn luyện,
diễn tập kèm bản sao kế hoạch hoặc văn bản chỉ đạo có liên quan của cấp có thẩm quyền
-> Quyết định giao nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu hoặc diễn tập phục vụ quốc
phòng, an ninh của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị có thẩm quyền;
+ Trường hợp bị thương khi làm nhiệm vụ quốc phòng và an ninh ở địa bàn có
điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 27 của Nghị định 31/2013/ NĐ-CP phải có giấy xác nhận trường hợp bị thương và giấy xác nhận làm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật do Thủ trưởng cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý cấp; + Trường hợp bị thương khi đang trực tiếp làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài
cốt liệt sĩ do cơ quan có thẩm quyền giao quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều
27 của Nghị định 31/2013/ NĐ-CP phải có:
-> Quyết định hoặc văn bản giao nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ do
Thủ trưởng cơ quan, đơn vị có thẩm quyền cấp
-> Biên bản xảy ra sự việc do Thủ trưởng đoàn (đội) quy tập lập
+ Trường hợp bị thương khi hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến
bị địch bắt, tra tấn vẫn không khuất phục, kiên quyết đấu tranh, để lại thương tích thực thể quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 27 của Nghị định 31/2013/ NĐ-CP thì việc cấp giấy chứng nhận bị thương căn cứ một trong các giấy tờ được xác lập từ ngày 31 tháng 12 năm 1994 trở về trước có ghi nhận bị tù đày và vết thương thực thể sau đây: Lý lịch cán bộ; lý lịch đảng viên; lý lịch quân nhân hoặc hồ sơ hưởng chế độ bảo hiểm xã hội
Trang 35+ Trường hợp bị thương từ ngày 31 tháng 12 năm 1994 trở về trước thì việc
cấp giấy chứng nhận bị thương căn cứ một trong các giấy tờ sau có ghi nhận vết thương thực thể:
* Giấy tờ được cấp khi bị thương: Phiếu chuyển thương, chuyển viện; bệnh án
điều trị; giấy ra viện; phiếu sức khỏe; sổ sức khỏe;
* Lý lịch cán bộ, lý lịch đảng viên, lý lịch quân nhân được lập từ ngày 31
tháng 12 năm 1994 trở về trước;
* Trường hợp lý lịch cán bộ, lý lịch đảng viên, lý lịch quân nhân, phiếu sức khỏe,
sổ sức khỏe lập trước ngày 31 tháng 12 năm 1994 nhưng không ghi vết thương thực thể (chỉ ghi bị thương) thì Thủ trưởng cơ quan, đơn vị có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận bị thương căn cứ kết quả kiểm tra vết thương thực thể của cơ
sở y tế cấp huyện hoặc tương đương để cấp giấy chứng nhận bị thương
- Thứ 2 về biên bản giám định thương tật: Sau khi được cấp Giấy chứng
nhận bị thương của cơ quan, đơn bị có thẩm quyền, người bị thương được giới thiệu
đi để giám định khả năng lao động bị suy giảm do thương tật gây ra để xác định tỷ
lệ thương thật Việc giám định thương tật được cơ quan có thẩm quyền lập thành Biên bản giám định thương tật Nếu tỷ lệ thương tật của họ từ 21% trở lên thì họ sẽ được công nhận là thương binh hoặc người hưởng chính sách như thương binh + Trường hợp người bị thương là quân nhân, công an nhân dân thì việc giám
định sẽ được thực hiện tại các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Bộ quốc phòng và bộ công an
+ Trường hợp người bị thương không phải là quân nhân, công an nhân dân thì
Sở Lao động thương binh và xã hội sẽ tiếp nhận hồ sơ và giới thiệu đi giám định tỷ lệ thương tật theo quy định của pháp luật
Bên cạnh đó theo quy định tại Điều 30 Nghị định 31/2013/NĐ-CP về giám định lại thương tật thì thương binh được giám định lại thương tật trong các trường hợp sau:
Trang 36“1 Người bị thương được kết luận thương tật tạm thời thì sau ba năm được giám
định để xác định tỷ lệ thương tật vĩnh viễn
2 Người bị thương đã giám định thương tật mà bị thương tiếp thì được giám định
bổ sung và tổng hợp tỷ lệ suy giảm khả năng lao động để hưởng chế độ ưu đãi
3 Người bị thương đã giám định thương tật nhưng còn sót vết thương chưa giám định thì được giám định bổ sung và tổng hợp tỷ lệ suy giảm khả năng lao động để hưởng chế độ ưu đãi
4 Thương binh đã giám định có vết thương sau đây tái phát thì được giám định lại: a) Vết thương sọ não bị khuyết xương sọ hoặc còn mảnh kim khí trong sọ gây biến chứng dẫn đến rối loạn tâm thần hoặc liệt;
b) Vết thương thấu phổi gây biến chứng dày dính màng phổi hoặc xẹp phổi dẫn đến phải cắt phổi hoặc thùy phổi;
c) Vết thương ở tim dẫn đến phải phẫu thuật;
d) Vết thương ổ bụng: Dạ dày hoặc ruột gây biến chứng ở dạ dày hoặc dính tắc ruột phải phẫu thuật;
đ) Vết thương ở gan; mật, lách; tụy hoặc thận gây biến chứng phải phẫu thuật; e) Vết thương ở cột sống biến chứng gây liệt hoặc rối loạn cơ tròn đại tiểu tiện không tự chủ;
g) Các vết thương ở tay hoặc ở chân tái phát phải phẫu thuật cắt đoạn chi;
h) Vết thương ở mắt tái phát dẫn đến mù mắt; vết thương ở tai gây mất hoàn toàn sức nghe hai tai.”
Như vậy, đối với một số trường hợp theo luật định có thể được giám định lại thương tật, việc quy định này đã giảm thiểu được việc bỏ sót đối tượng được xem xét công nhận thương binh và xác nhận lại tỷ lệ thương tật đối với đối tượng bị thương nặng
Trang 37- Thứ ba về Quyết định cấp Giấy chứng nhận và trợ cấp, phụ cấp thương tật: Khi đủ điều kiện theo quy định thì cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận
và trợ cấp phụ cấp thương tật cho người bị thương
+ Trường hợp người bị thương là quân nhân, công an nhân dân thì các cơ quan,
đơn vị có thẩm quyền theo quy định của Bộ quốc phòng và Bộ công an cấp giấy chứng nhận thương binh và giải quyết chế độ cho thương binh cho họ + Trường hợp người bị thương không phải là quân nhân, công an nhân dân thì
Sở Lao động thương binh và xã hội ra quyết định công nhận Người hưởng chính sách như thương binh và giải quyết trợ cấp, ưu đãi cho họ
Sau khi được cấp giấy chứng nhận thương binh và hưởng chế độ ưu đãi thì các đơn vị, cơ quan có thẩm quyền chuyển hồ sơ của họ về Sở Lao động thương binh và xã hội cấp tỉnh nơi họ đang cư trú để quản lý hồ sơ và thực hiện chi trả chế
độ
1.2.2 Các ưu đãi đối với thương binh
Các chế độ ưu đãi đối với thương binh là một phần quan trọng trong đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện chế độ ưu đãi đối với người có công với cách mạng Đó là tổng hợp những quy phạm pháp luật quy định
cụ thể về điều kiện hưởng, hình thức, mức độ đảm bảo vật chất, tinh thần cho thương binh trên các lĩnh vực đời sống xã hội mà chủ yếu thông qua 5 vấn đề chính sau đây:
1.2.2.1 Ưu đãi trợ cấp
Ưu đãi trợ cấp là hình thức ưu đãi bằng tiền để giúp đỡ về đời sống cho thương binh Mức trợ cấp căn cứ vào tỷ lệ thương tật và loại đối tượng thương binh hay thương binh loại B Tùy từng đối tượng và mức độ suy giảm khả năng lao động
mà được hưởng mức trợ cấp khác nhau Đây là chế độ chính trong các chế độ ưu đãi đối với thương binh Ưu đãi trợ cấp không chỉ có ý nghĩa thiết thực với đời sống của thương binh mà còn thể hiện lòng biết ơn, trách nhiệm, tình cảm của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với thương binh
Trang 38Mức trợ cấp ưu đãi đối với thương binh phải được cân đối với điều kiện kinh
tế xã hội và tương quan mức sống trung bình của cộng đồng dân cư Ngoài ra cũng phải cần có sự phù hợp với chính sách tiền lương và trợ cấp cho các đối tượng khác
Thời điểm hưởng trợ cấp thương tật tính từ ngày Hội đồng giám định y khoa
có thẩm quyền kết luận tỷ lệ mất sức lao động do thương tật Nếu cá nhân bị suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên thì được công nhận là thương binh và được hưởng trợ cấp hàng tháng
Mức hưởng trợ cấp đối với thương binh được quy định chi tiết tại Nghị định
số 58/2019/NĐ-CP Nghị định quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người
có công với cách mạng Mức hưởng đối với thương binh tùy theo tỷ lệ suy giảm khả năng lao động là từ 1.094.000 đồng/ tháng đến 5.207.000 đồng/ tháng Mức hưởng đối với thương binh loại B là từ 904.000 đồng/ tháng đến 4.308.000 đồng / tháng Trường hợp thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên, có vết thương đặc biệt nặng như: cụt hai chi trở lên, mù hai mắt, tâm thần không tự lực trong sinh hoạt được … thì được hưởng thêm phụ cấp Cụ thể: thương binh, thương binh loại
B suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên được hưởng phụ cấp 815.000 đồng/tháng, thương binh, thương binh loại B suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên có vết thương đặc biệt nghiêm trọng được hưởng phụ cấp 1.670.000 đồng/tháng
Ngoài ra, khi thương binh chết, người tổ chức mai táng sẽ nhận được tiền mai táng phí theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội (bằng 10 lần mức lương cơ sở
- Khoản 2 Điều 66 luật bảo hiểm xã hội 2014) Thân nhân của thương binh sẽ được hưởng trợ cấp 1 lần bằng ba tháng trợ cấp, phụ cấp mà thương binh được hưởng trước khi chết Đây là khoản chi phí nhằm chia sẻ nỗi đau mất mát người thân, đồng thời trợ giúp gia đình thương binh một phần kinh phí để lo việc mai táng Nhằm hỗ trợ cuộc sống cho thân nhân của thương binh đã chết, pháp luật quy định trợ cấp tiền tuất hàng tháng cho họ Căn cứ theo Điểm a, b khoản 4 Điều 21 Pháp lệnh: 04/2012/UBTVQH13 quy định:
Trang 39“Thương binh suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên chết thì thân nhân được hưởng trợ cấp tiền tuất như sau:
a) Cha đẻ, mẹ đẻ; vợ hoặc chồng từ đủ 60 tuổi trở lên đối với nam, từ đủ 55
tuổi trở lên đối với nữ; con dưới 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng;
b) Cha đẻ, mẹ đẻ; vợ hoặc chồng từ đủ 60 tuổi trở lên đối với nam, từ đủ 55
tuổi trở lên đối với nữ sống cô đơn không nơi nương tựa; con mồ côi cả cha
mẹ dưới 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng và trợ cấp tiền tuất nuôi dưỡng hàng tháng.”
Mức hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng được quy định tại Nghị định số 58/2019/NĐ-CP Nghị định quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng, cụ thể: trợ cấp tiền tuất là 911.000 đồng/ tháng, trợ cấp tiền tuất nuôi dưỡng là 1.299.000 đồng/tháng Việc quy định trợ cấp tiền tuất và trợ cấp tiền tuất nuôi dưỡng như trên giúp thân nhân của thương binh giảm bớt khó khăn trong cuộc sống Nó còn mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc là nhà nước thay mặt thương binh đã chết có trách nhiệm đối với thân nhân của họ
Như vậy, chế độ ưu đãi trợ cấp đối với thương binh có ý nghĩa rất thiết thực đối với họ và thân nhân của họ Tuy nhiên trong điều kiện đất nước đang phát triển, ngân sách thực chế độ ưu đãi trợ cấp còn chưa nhiều và phải phù hợp với các lĩnh vực khác do đó mới chỉ đảm bảo trợ giúp được phần nào những khó trong cuộc sống của thương binh Đảng, Nhà nước cần quan tâm hơn nữa đến chính sách ưu đãi đối với người có công nói chung và thương binh nói riêng để đảm bảo hơn nữa cuộc sống của họ
1.2.2.2 Chăm sóc sức khỏe cho thương binh
Đa số thương binh có sức khỏe giảm sút do thương tật để lại, chính vì thế chăm sóc, phục hồi sức khỏe cho thương binh là điều thực sự rất cần thiết Không
Trang 40chỉ riêng với bản thân thương binh mà cả đối với con em của họ cũng cần được chăm sóc sức khỏe để bù đắp cho những thiếu hụt do lao động chủ chốt trong gia đình không còn khả năng lao động, bị thương tật nặng dẫn đến gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống không tự giải quyết được
Theo quy định tại Điều 20, Điều 21 Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng số 26/2005/PL-UBTVQH11, được sửa đổi bổ sung bởi pháp lệnh số 35/2007/PL-UBTVQH11 và Pháp lệnh số 04/2007/PL-UBTVQH13, Điều 53 nghị định 31/2015/NĐ-CP quy định thương binh được cấp thẻ bảo hiểm y tế, được điều dưỡng sức khỏe (2 năm một lần, đối với thương binh mà tỷ lệ thương tật từ 81% trở lên thì được điều dưỡng hàng năm), được trợ cấp kinh phí mua phương tiện trợ giúp sinh hoạt của họ Bảo hiểm y tế là ưu đãi quan trọng hàng đầu trong chăm sóc sức khỏe chơ thương binh bởi do ảnh hưởng của thương tật nên thương binh thường xuyên phải khám và điều trị tại các cơ sở y tế Theo quy định tại Điều 12 Luật Bảo hiểm y tế thì người có công trong đó có thương binh, và thân nhân của người có công là đối tượng tham gia bảo hiểm y tế Theo quy định tại Điều 15 Luật bảo hiểm
y tế thì cơ quan, tổ chức quản lý người có công đóng bảo hiểm y tế cho họ và thân nhân Việc đóng bảo hiểm y cho thương binh và thân nhân của họ thể hiện pháp luật
ưu đãi đối với thương binh chú ý toàn diện không chỉ thương binh mà còn cả thân nhân của họ
Ngoài ra, để đảm bảo chăm sóc sức khỏe cho thương binh, Nhà nước còn thành lập các trung tâm điều dưỡng, chỉnh hình và phục hồi chức năng cho thương binh Tùy từng trường hợp cụ thể, thương binh được trợ cấp tiền mua phương tiện trợ giúp, dụng cụng chỉnh hình phù hợp ví dụ: mua tay giả, chân giả, nạng, xe lăn, mắt giả…… Chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe, cấp phương tiện trợ giúp, dụng
cụ chỉnh hình đối với thương binh được quy định tại Thông tư 13/2014/TTLT- BLĐTBXH-BTC của Bộ lao động thương binh xã hội và bộ tài chính ngày 03/6/2014