1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật và vấn đề áp dụng trong thực tiễn

87 171 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

như: 1 “Một số vướng mắc trong giải quyết tranh chấp chia thừa kế theo pháp luật mà có một phần di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất đã hết thời hiệu ; 2 “Những vướng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT THEO PHÁP LUẬT

VÀ VẤN ĐỀ ÁP DỤNG TRONG THỰC TIỄN

LÊ VIỆT PHƯƠNG

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

MÃ SỐ: 60380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS.PHẠM HỮU NGHỊ

Hà Nội 2018

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT THEO PHÁP LUẬT 7

1.1 Khái niệm và đặc điểm của thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật 7

1.1.1 Khái niệm thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật 7

1.1.2 Đặc điểm của thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật 8

1.1.3 Phân loại thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật 9

1.1.3.1 Thừa kế quyền sử dụng đất theo di chúc 10

1.1.3.2 Thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật 11

1.2 Lý luận thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật 15

1.2.1 Những tác động và ảnh hưởng đến thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật và sự cần thiết phải giải quyết tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật 15

1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật 17

1.2.3 Cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật 18

1.3 Pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất 21

1.3.1 Khái niệm 21

1.3.2 Lược sử các giai đoạn lập pháp về thừa kế quyền sử dụng đất 21

1.3.2.1 Giai đoạn trước năm 1993 21

1.3.2.2 Giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2003 30

1.3.2.3 Giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2012 32

1.3.2.4 Giai đoạn từ năm 2012 đến nay 33

Tiểu kếtChương 1 38 Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT THEO PHÁP LUẬT 40

Trang 3

2.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam về thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật 40

2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật 48

2.2.1 Tranh chấp về tư cách người thừa kế theo pháp luật 49

2.2.2 Tranh chấp sau khi đã có bản án, quyết định có hiệu lực nhưng hết thời hiệu thi hành án 50

2.2.3 Tranh chấp về xác định quyền sử dụng đất được coi là di sản để chia thừa kế 51

2.2.4 Trong thực tiễn áp dụng pháp luật nhận thấy có một số trường hợp không nên tính vào thời hiệu khởi kiện. 52

2.2.5 Vấn đề di sản dùng vào việc thờ cúng, di tặng 54

2.2.6 Quyền sử dụng đất được tặng cho trước khi người để lại di sản chết 55

2.2.7 Hạn chế phân chia di sản 56

2.3 Những hạn chế, thiếu sót trong thực tiễn giải quyết tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật 56

2.3.1 Những hạn chế, thiếu sót 56

2.3.2 Nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót 62

Tiểu kếtChương 2 64

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT THEO PHÁP LUẬT 65

3.1 Định hướng 65

3.1.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật 65

3.1.2 Định hướng nâng cao hiệu quả pháp luật 66

3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật 68

3.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thừa kết quyền sử dụng đất theo pháp luật 68

3.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật 74

3.2.2.1.Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật 74

Trang 4

3.2.2.2 Không ngừng nâng cao trình độ, năng lực của cán bộ, công chức 74

Tiểu kếtChương 3 76

KẾT LUẬN 77

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Kết quả nghiên cứu và số liệu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc

(Ký và ghi rõ họ tên)

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Với lòng biết ơn sâu sắc của mình, em xin cảm ơn PGS.TS PHẠM HỮU NGHỊ đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận

Em xin cảm ơn thầy cô đã tham gia giảng dạy tại Viện Đại học Mở Hà Nội

đã giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài tôi luôn được sự động viên của bạn bè, đồng nghiệp và người thân trong gia đình

Tôi xin chân thành cảm ơn

Trang 8

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thừa kế là một trong những hình thức chuyển giao tài sản, xuất hiện gần như ngay sau khi con người bắt đầu có sự chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất Thừa

kế quyền tài sản do người chết để lại s được chuyển dịch cho người khác chiếm hữu, sử dụng và định đoạt Sự chuyển dịch tài sản từ người chết sang người còn sống là sự kiện di n ra phổ biến thường xuyên, liên tục ở bất kỳ xã hội nào Ở nước

ta, pháp luật về thừa kế có quá trình hình thành và phát triển khá sớm trong tiến trình lịch sử và có thể thấy quan hệ thừa kế không những chịu ảnh hưởng bởi chế độ chính trị xã hội, chế độ sở hữu mà còn chịu ảnh hưởng bởi chế độ hôn nhân gia đình, phong tục tập quán ở mỗi thời kỳ lịch sử trong một mức độ nhất định Để bảo đảm cho nhu cầu này bằng quyền lực nhà nước, chế định thừa kế đã ra đời

Hiện nay ở Việt Nam, thừa kế đã trở thành quyền con người được pháp luật bảo vệ Tại khoản 2, Điều 32 của Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ Như vậy, quyền thừa kế được xem

là quyền cơ bản của con người Thừa kế quyền sử dụng đất được thừa nhận và quy định lần đầu tiên trong LĐĐ năm 1993 và được quy định tại Chương VI phần thứ năm của LDS năm 1995, được hoàn thiện tại LĐĐ năm 2003 c ng như Chương XXXIII của LDS năm 2005, hiện nay là LĐĐ năm 2013 và LDS năm 2015 Qua

đó có thể thấy rằng thừa kế và để lại thừa kế là một quyền cơ bản của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự Đây là quyền thể hiện rất rõ tính chất tự do ý chí, tự

do định đoạt của chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự về tài sản nói chung, quan hệ thừa kế nói riêng Tài sản có thể tồn tại lâu hơn cuộc sống của một con người chính vì thế giải quyết vấn đề tài sản này ra sao khi người có tài sản đó qua đời là vấn đề rất quan trọng để bảo đảm cho việc định đoạt tài sản đó phù hợp với ý chí của người để lại di sản những c ng bảo đảm lợi ích hợp pháp của những người liên quan khác c ng như lợi ích chung của toàn xã hội

Trang 9

2

Trong thời gian qua các tranh chấp về thừa kế QSDĐ tại di n ra ngày càng nhiều với tính chất phức tạp, di n biến kéo dài chính vì thế thừa kế QSDĐ là một vấn đề thời sự liên quan đến từng cá nhân, từng gia đình bởi QSDĐ là một tài sản

có giá trị lớn, các vấn đề thừa kế chủ yếu là liên quan đến nhà và đất ở giữa những người có quan hệ hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng Thực ti n giải quyết tranh chấp về thừa kế QSDĐ đã có những thay đổi tích cực nhưng vẫn còn nhiền hạn chế, bất cập Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng nêu trên nhưng chủ yếu

do quy định của pháp luật còn chưa thực sự phù hợp, nhận thức của người dân và của người áp dụng pháp luật còn thấp Chính vì thế việc nghiên cứu các quy định pháp luật về thừa kế QSDĐ nhằm tiếp tục hoàn thiện thêm chế định pháp luật về thừa kế QSDĐ c ng như nâng cao hiệu quả giải quyết các tranh chấp về thừa kế QSDĐ là một yêu cầu khách quan Cụ thể là, trong giai đoạn hiện nay, với xu hướng hội nhập quốc tế, vấn đề thừa kế QSDĐ cần được nghiên cứu để mở rộng hơn nữa quyền tự định đoạt của chủ thể tham gia quan hệ pháp luật thừa kế QSDĐ; tạo sự bình đẳng hơn nữa về thừa kế và để lại thừa kế giữa cá nhân trong nước với

cá nhân là người Việt Nam định cư ở nước ngoài Các quy phạm pháp luật về thừa

kế QSDĐ cần được xây dựng dựa trên cơ sở bảo đảm mối quan hệ hài hoà giữa lợi ích của Nhà nước, lợi ích của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật thừa kế QSDĐ

và lợi ích của toàn xã hội, tôn trọng sự tự do định đoạt của các chủ thể trong quan

hệ pháp luật thừa kế QSDĐ ên cạnh đó, cần nghiên cứu đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết các tranh chấp thừa kế QSDĐ góp phần đem lại một trật tự

xã hội ổn định, đồng thời xây dựng một cơ chế pháp lý đồng bộ đảm bảo thực thi một cách hữu hiệu các quy định thừa kế QSDĐ

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Thừa kế quyền sử

dụng đất theo pháp luật và vấn đề áp dụng trong thực tiễn” làm luận văn tốt

nghiệp thạc sĩ luật học

2 Tình hình nghiên cứu để tài

Thừa kế QSDĐ theo pháp luật Việt Nam là vấn đề rộng và phức tạp nhưng

đề tài trên c ng đã được các nhà khoa học nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau

Trang 10

3

Liên quan đến đề tài của Luận văn, có thể kể đến một số công trình khoa học tiêu biểu đã được công bố, cụ thể như sau:

+ Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến quyền sử dụng đất như: (1)

“Luật thừa kế Việt Nam TS Phùng Trung Tập, Nhà xuất Bản Hà Nội, 2008; (2)

“Pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất theo Luật đất đai năm 2003 và ộ luật dân

sự năm 2005 , Luận văn thạc sỹ luật học của Nguy n Văn Phước, trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, năm 2007; (3)“Thừa kế theo quy định của pháp luật và thực

ti n áp dụng , TS.Phạm Văn Tuyết, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2007; (4)

“Pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất , Luận văn thạc sỹ của Lê Hoàng Anh, trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2013; (5) “Di sản thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam , Luận văn tiến sỹ của Trần Thị Huệ, trường Đại học Luật Hà Nội, năm

2007

+ Nhóm các công trình nghiên cứu về giải quyết tranh chấp đất đai bằng con đường Tòa án như: (1) “Cơ sở lý luận và thực ti n nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân , Đề tài khoa học cấp Bộ năm 2001 của Tòa án nhân dân Tối cao, do Nguy n Văn Luật làm chủ nhiệm đề tài; (2) “Pháp luật về giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất tại thành phố Hà Nội , Luận văn thạc sỹ của Nguy n Thị Hương, Trường Đại học Luật

Hà Nội, năm 2014

+ Các nghiên cứu về lý luận như: (1) Cuốn sách “Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ năm 1945 đến nay của TS Phùng Trung Tập, Nxb Tư pháp, xuất bản năm 2004; (2) Cuốn sách “Tìm hiểu pháp luật về thừa kế của Mai Văn Duẩn, xuất bản năm 2003

+ Các bài trên các bài báo, tạp chí về vấn đề khởi kiện, điều kiện có hiệu lực của di chúc, hành thừa kế như: (1) “Một số vướng mắc trong giải quyết tranh chấp chia thừa kế theo pháp luật mà có một phần di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất đã hết thời hiệu ; (2) “Những vướng mắc khi áp dụng chế định thừa

kế của Th.S Nguy n Văn Mạnh, Tạp chí lập pháp số 7/2008

Trang 11

4

Các công trình nghiên cứu khoa học, bài viết, tác giả đã đã phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về thừa kế QSDĐ và giải quyết các tranh chấp liên quan đến thừa kế QSDĐ Tuy nhiên, thời điểm hiện nay quy định của pháp luật về thừa kế QSDĐ đã được chuẩn hóa bởi Luật Đất đai năm 2013 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2014) Bộ luật Dân sự năm 2015 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017), theo đó thừa kế QSDĐ đã có những thay đổi, điều chỉnh theo hướng hoàn thiện từ nội dung đến hình thức Do có sự thay đổi pháp luật liên quan đến thừa kế QSDĐ nên vẫn cần có công trình tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu về thừa kế QSDĐ và vấn

đề áp dụng trong thực ti n hiện nay Do đó, trên cơ sở tiếp thu, thừa kế những thành tựu khoa học của các công trình khoa học đã được công bố, kết hợp với những kinh nghiệm, tác giả hi vọng Luận văn s cung cấp những thông tin, giải pháp phù hợp

để tăng cường hiệu quả việc áp dụng pháp luật thừa kế QSDĐ trong thực ti n

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích:

Mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm làm rõ sáng tỏ hơn về lý luận, thực

ti n của thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật, từ đó tìm ra giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật

- Nhiệm vụ:

+ Xây dựng các khái niệm về thừa kế, thừa kế quyền sử dụng đất; thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật; pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật

+ Tìm hiểu, phân tích về loại di sản đặc biệt là quyền sử dụng đất;

+ Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực ti n áp dụng pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật

+ Đề xuất các giải pháp hoàn thiện về thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật;

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Trang 12

5

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của đề tài, bao gồm:

- Hệ thống các quan điểm, lý luận về thừa kế quyền sử dụng đất và giải quyết tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật tại Việt Nam

- Pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật

- Thực ti n giải quyết các tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật

5.2 Các phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp biện chứng, phương pháp nghiên cứu lịch sử phân tích, tổng hợp, so sánh, xã hội học, logic và thống kê Cùng với việc sử dụng kết hợp các biện pháp nêu trên trong quá trình nghiên cứu, tác giả c ng s dựa vào đặc điểm truyền thống, tập quán của nước ta để làm rõ nét hơn về thừa kế QSDĐ

Trang 13

6

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu và những ý kiến đề xuất của luận văn có ý nghĩa trong việc hoàn thiện những quy định về thừa kế QSDĐ theo pháp luật c ng như nâng cao hiệu quả giải quyết các tranh chấp về thừa kế QSDĐ tại các Tòa án ở nước ta

Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong các cơ sở nghiên cứu và đào tạo về luật học

7 Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần MỞ ĐẦU, KẾT LUẬN và DANH MỤC THAM KHẢO Nội dung của luận văn thể hiện như sau:

Luận văn gồm mở đầu, 03 chương, kết luận, tài liệu tham khảo

Chương 1: Những vấn đề chung về thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp

luật

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực ti n áp dụng pháp luật về thừa kế

quyền sử dụng đất theo pháp luật

Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu

quả áp dụng pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật

Trang 14

7

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỪA KẾ QUYỀN SỬ

DỤNG ĐẤT THEO PHÁP LUẬT

1.1 Khái niệm và đặc điểm của thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật

1.1.1 Khái niệm về thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật

- Theo từ điển luật học do Viện Khoa học pháp lý biên soạn: "Thừa kế là sự chuyển dịch tài sản của người chết cho người còn sống" [28, tr.574] Như vậy, thừa

kế là một quan hệ xã hội được thực hiện giữa những chủ thể trong đời sống hằng ngày với đối tượng là các tài sản và nhằm đạt được mong muốn của các chủ thể

- Theo Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam (tập 1) của Trường Đại học Luật Hà Nội xuất bản năm 2008: “Thừa kế với tư cách là một quan hệ pháp luật dân sự trong

đó các chủ thể có những quyền và nghĩa vụ nhất định Trong quan hệ này, người có tài sản, trước khi chết có quyền định đoạt tài sản của mình cho người khác Những người có quyền nhận di sản họ có thể nhận hoặc không nhận di sản (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác) [28, tr.299]

- Trong lĩnh vực đất đai, vấn đề thừa kế quyền sử dụng đất (QSDĐ) được đặt

ra khi Luật đất đai năm 1993 được ban hành và tiếp tục được kế thừa trong Luật đất đai năm 2003 và Luật Đất đai năm 2013 Việc ra đời chế định thừa kế QSDĐ nhằm đảm bảo tính ổn định, lâu dài trong việc SDĐ của hộ gia đình, cá nhân và gắn kết chặt ch người lao động với đất đai – tư liện sản xuất quan trọng nhất

- Theo Từ điển luật học do Viện khoa học pháp lí ( ộ Tư pháp) biên soạn:

“Thừa kế quyền sử dụng đất: Sự dịch chuyển quyền sử dụng đất của người chết cho người còn sống Ở Việt Nam, với đặc thù đất đai thuộc sở hữu toàn dân mà Nhà nước là người đại diện chủ sở hữu, Nhà nước giao quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình, cá nhân Quyền sử dụng đất là quyền tài sản chung của hộ gia đình hoặc quyền tài sản riêng của cá nhân ởi vậy, cá nhân hoặc thành viên trong hộ gia đình

Trang 15

Bộ luật dân sự và pháp luật về đất đai [30, tr.69];

Như vậy có thể hiểu thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật là một quyền dân sự của người sử dụng đất, phản ánh các chính sách đất đai của Nhà nước và thể hiện sự phát triển của pháp luật về thừa kế, với nội dung là dịch chuyển quyền sử dụng đất từ người chết sang người còn sống theo quy định của luật dân sự và pháp luật đất đai

1.1.2 Đặc điểm của thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật

Thừa kế là một quyền dân sự, nhưng quyền sử dụng đất lại là một tài sản đặc biệt (do tính chất đặc biệt của đất đai), do đó thừa kế quyền sử dụng đất chịu sự điều chỉnh của cả luật dân sự và luật đất đai Điều đó tạo nên điểm đặc thù của thừa kế quyền sử dụng đất

Thứ nhất, thừa kế quyền sử dụng đất vừa tuân theo quy định của pháp luật

dân sự vừa tuân theo luật đất đai Pháp luật dân sự không điều chỉnh hết các nội dung quyền thừa kế của người sử dụng đất, nên nếu chỉ căn cứ vào pháp luật dân sự thì không đầy đủ, d dẫn đến sai lệch Do đó, thừa kế quyền sử dụng đất khác với thừa kế những tài sản khác là phải phụ thuộc vào các chính sách đất đai của Nhà nước

Thứ hai, di sản thừa kế là quyền sử dụng đất thường có giá trị lớn và rất khó

trong việc xác định nguồn gốc Đất đai là tài nguyên nên con người không thể tạo ra

và có ý nghĩa rất lớn trong cuộc sống của bất kỳ ai, do đó quyền sử dụng đất thường

có giá trị lớn không d để bỏ qua quyền dành được tài sản này Trải qua từng thời

kỳ, chính sách của Nhà nước về đất đai lại có những thay đổi nhất định, cùng với đó

là hàng loạt những văn bản luật được ban hành gây khó khăn trong việc theo dõi, áp

Trang 16

9

dụng Việc xác định nguồn gốc đất đai c ng trở nên khó khăn do quản lý chưa thực

sự phù hợp, ảnh hưởng không nhỏ đến việc giải quyết về thừa kế quyền sử dụng

đất

Thứ ba, đất đai được phân thành loại được sử dụng ổn định, lâu dài và loại sử

dụng có thời hạn Người thừa kế quyền sử dụng đất không phải lúc nào c ng được

sử dụng ổn định lâu dài mà trong trường hợp đất sử dụng có thời hạn thì người thừa

kế có thể chỉ được sử dụng trong thời hạn còn lại

Thứ tư, có sự hạn chế nhất định đối với trường hợp người thừa kế là người

nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài Hạn chế này c ng là một chính sách đất đai của Nhà nước do đất đai cần được sử dụng hợp lý, phát huy được tối đa giá trị của nó mà bản thân người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài lại bị hạn chế về điều kiện sử dụng đất so với người Việt Nam ở trong nước Tuy nhiên, hạn chế c ng có lúc thay đổi, do quan điểm của Nhà nước thay đổi, nhưng nhìn chung thì đối với các đối tượng này ít nhiều c ng có những khác biệt nhất định trong việc áp dụng quy định về thừa kế quyền sử dụng đất

Thứ năm, đăng ký thừa kế là thủ tục bắt buộc Thủ tục đăng ký thừa kế được

quy định tại Luật Đất đai Di sản thừa kế là quyền sử dụng đất thì cần đăng ký thừa

kế để thực hiện việc quản lý đất đai của Nhà nước

Thứ sáu, về thủ tục giải quyết tranh chấp: Trong giải quyết tranh chấp về

thừa kế quyền sử dụng đất, thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã là bắt buộc Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất là tranh chấp đất đai, mà tranh chấp đất đai phải thông qua hòa giải ở cơ sở trước khi nộp đơn xin giải quyết ở cơ quan nhà nước có thẩm quyền Khác với thừa kế tài sản khác, khi có tranh chấp, các chủ thể

có thể hòa giải trước, c ng có thể nộp đơn khởi kiện ngay Tranh chấp này có thể giải quyết bằng con đường hành chính qua Ủy ban nhân dân hoặc Tòa án nhân dân Tóm lại, đặc điểm của thừa kế quyền sử dụng đất là do điểm đặc thù của di sản là quyền sử dụng đất chi phối

1.1.3 Phân loại thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật

Trang 17

10

Pháp luật quy định có hai hình thức để lại thừa kế di sản nói chung và di sản

là quyền sử dụng đất nói riêng là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật

1.1.3.1 Thừa kế quyền sử dụng đất theo di chúc

Thừa kế theo di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự chuyển quyền tài sản của mình cho những người thừa kế sau khi chết theo ý chí tự nguyện của người đề lại di sản và được thể hiện trong di chúc “Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì

có thể di chúc miệng [25, Điều 627]

Di chúc bằng văn bản bao gồm: Di chúc bằng văn bản không có người làm

chứng; di chúc bằng văn bản có người làm chứng; di chúc bằng văn bản có công chứng; di chúc bằng văn bản có chứng thực [25, Điều 628]

Di chúc miệng quy định cụ thể: (1) Trường hợp tính mạng một người bị cái

chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng; (2) Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh

mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ [25, Điều 629]

Đối với người lập di chúc có các quyền sau đây: (1) Chỉ định người thừa kế;

truất quyền hưởng di sản của người thừa kế; (2) Phân định phần di sản cho từngngười thừa kế; (3) Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng; (4) Giao nghĩa vụ cho người thừa kế; (5) Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý

di sản, người phân chia di sản [25, Điều 626]

Di chúc được coi là hợp pháp phải đủ các điều kiện sau: (1) Người lập di

chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật; (2) Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha,

mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc; (3) Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực; (4) Di chúc bằng văn bản không

Trang 18

từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng [25, Điều 630]

Những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc:Con chưa

thành niên, con đã thành niên mà không có khả năng lao động, cha, mẹ, vợ, chồng vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất

đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định Thủ tục khai nhận di sản thừa kế được thực hiện theo quy định của pháp luật về thừa kế [25, Điều 644]

1.1.3.2 Thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật

Thực tế, nhiều trường hợp người có tài sản khi chết đi đã không lập di chúc, hoặc có lập di chúc nhưng di chúc không hợp pháp, do đó pháp luật đã quy định một hình thức thừa kế khác là thừa kế theo pháp luật Những người thừa kế theo pháp luật đều là những người có ít nhất một trong các mối quan hệ về hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng, nên dù không có di chúc thì thừa kế theo pháp luật c ng được suy đoán là gần nhất với nguyện vọng của người để lại di sản thừa kế Dù vậy

đó vẫn chỉ là suy đoán, còn thực chất thì thừa kế theo pháp luật không phụ thuộc vào ý chí của người để lại di sản "Nếu thừa kế theo di chúc là nhằm chuyển tài sản của người để lại di sản cho người thừa kế theo sự định đoạt ý chí của người lập di chúc thì thừa kế theo pháp luật là việc phân chia di sản cho người thừa kế theo ý chí của Nhà nước" [10, tr.78] "Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế,

Trang 19

12

điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định" [25, Điều 649] Thừa kế quyền

sử dụng đất theo pháp luật là sự dịch chuyển quyền sử dụng đất từ người chết sang cho người thừa kế theo hàng với điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định Thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật c ng phải tuân theo quy định chung về thừa kế theo pháp luật, các quy định về thừa kế quyền sử dụng đất trong Bộ luật Dân sự (từ Điều 649 đến Điều 655) Ngoài ra, hình thức thừa kế này còn phải tuân theo những quy định về đất đai liên quan đến thừa kế quyền sử dụng đất

- Những trường hợp thừa kế theo pháp luật quy định tại Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015

+ Không có di chúc: Đây là trường hợp người để lại thừa kế không lập di

chúc mặc dù họ đủ điều kiện để được lập di chúc Khi không có di chúc, di sản là quyền sử dụng đất mà họ để lại s được chia theo pháp luật Áp dụng thừa kế theo pháp luật trong trường hợp này cần lưu ý có thể di chúc bị ai đó giấu hay hủy đi (do

tư lợi cá nhân) hoặc bị thất lạc mà không ai biết, nên cần phải kiểm tra để tránh ảnh hưởng đến nguyện vọng của người có tài sản để lại

+ Di chúc không hợp pháp: Mặc dù có di chúc nhưng di chúc lại vi phạm

các điều kiện có hiệu lực của di chúc, do đó di chúc không hợp pháp và bị vô hiệu

Vì vậy, di sản c ng s được để lại thừa kế theo pháp luật

+ Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế: Đây là trường hợp di chúc bị vô hiệu toàn bộ, và di sản

được định đoạt trong di chúc s được chia theo pháp luật

+ Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền nhận di sản: Những người không có quyền

hưởng di sản ở đây là thuộc những trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự Tuy nhiên, nếu người để lại di sản đã biết hành vi đó nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc (có di chúc được lập sau khi người để lại di sản biết được hành vi vi phạm của người thừa kế) thì không áp dụng thừa kế theo pháp luật Từ

Trang 20

13

chối nhận di sản đã được pháp luật quy định tại Điều 620 Bộ luật Dân sự Người thừa kế khi từ chối quyền nhận di sản cần tuân theo quy định này thì mới áp dụng chia thừa kế theo pháp luật Còn trong trường hợp người thừa kế muốn nhường phần di sản mà mình được hưởng cho một người nào đó, nhưng không phải là từ chối quyền nhận di sản thì di sản c ng không được chia theo pháp luật (ví dụ A nhường phần di sản của mình được nhận cho , khi đó coi như A đã nhận thừa kế

và cho tài sản này, và như vậy phần di sản của A không đưa ra chia theo pháp luật cho những người thừa kế khác)

+ Phần di sản không được định đoạt trong di chúc: Người để lại thừa kế chỉ

lập di chúc định đoạt một phần di sản của mình, khi đó phần di sản còn lại không được định đoạt trong di chúc s được chia theo pháp luật

+ Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật: Di chúc bị vô hiệu một phần mà không làm ảnh hưởng đến các phần khác, thì

phần di sản có liên quan đến phần di chúc vô hiệu này s được chia theo pháp luật

+ Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối quyền nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn vào thời điểm mở thừa kế: Trong trường hợp không

có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thuộc Nhà nước (Điều 622 Bộ luật Dân sự)

- Diện và hàng thừa kế theo quy định của pháp luật

+ Diện thừa kế: Dưới góc độ quy định của pháp luật, diện thừa kế chưa được

đề cập tới Nhưng dưới góc độ khoa học pháp lý của Việt Nam nhận thấy, một người có thể được hưởng di sản thừa kế nếu họ thuộc một trong ba mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng với người để lại di sản Ở đây chỉ là khả năng có thể được hưởng mà không phải quyền của họ được hưởng "Như vậy, có thể hiểu: Diện thừa kế là phạm vi những người có thể được hưởng di sản do người chết để lại được

Trang 21

14

xác định theo một trong ba quan hệ (quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan

hệ nuôi dưỡng) với người để lại di sản" [12, tr 278] Các căn cứ để xác định diện thừa kế theo pháp luật:

Quan hệ hôn nhân: Theo Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: "Hôn

nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn" [24, Điều 3] Như vậy quan hệ

hôn nhân chính là quan hệ giữa một người nam và một người nữ sau khi có kết hôn hợp pháp Họ trở thành vợ chồng, có các quyền và nghĩa vụ đối với nhau, trong đó

có quyền thừa kế

Quan hệ huyết thống: Quan hệ huyết thống là quan hệ giữa những người cùng dòng máu (như cụ với ông bà; ông bà với cha mẹ; cha mẹ với con; anh chị em ruột với nhau; ông bà với cháu; cô, gì, chú, bác ruột với cháu; Có quan hệ huyết thống cùng dòng máu về trực hệ và cùng dòng máu về bàng hệ Trực hệ xác định mối quan hệ theo chiều dọc như cha mẹ đẻ với con đẻ (kể cả con ngoài giá thú); ông

bà với cháu nội, cháu ngoại àng hệ xác định mối quan hệ theo chiều ngang, không trực tiếp sinh ra nhau nhưng có cùng một nguồn gốc chung như anh chị em ruột với nhau; cô, gì, chú, bác ruột với cháu ruột;

Quan hệ nuôi dưỡng: Quan hệ nuôi dưỡng được xuất phát từ việc quan tâm, chăm sóc, nuôi dưỡng như nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng của những thành viên trong gia đình (cha mẹ với con đẻ và ngược lại; ông bà với cháu nội, cháu ngoại và ngược lại; anh chị em ruột với nhau ); xác định quan hệ nuôi dưỡng còn thông qua

sự kiện nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật ên cạnh đó, quan hệ nuôi dưỡng còn xuất phát từ trường hợp con riêng với bố dượng, mẹ kế khi họ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau cha con, mẹ con

+ Hàng thừa kế: Trên cơ sở diện thừa kế, pháp luật đã quy định ra các hàng

thừa kế, những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau, những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản Thứ tự hàng thừa kế theo pháp luật được sắp xếp theo nguyên tắc

Trang 22

15

ưu tiên: (1) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết; (2) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà

nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của

người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; (3) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì

ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại [25, Điều 651]

- Về thừa kế thế vị:Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc

cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu c ng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc

mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống [25, Điều 652] Thừa kế thế vị chỉ phát sinh khi chia thừa kế theo pháp luật, không áp dụng trong trường hợp thừa kế theo di chúc Đối với cháu là con đẻ của người con nuôi c ng được thừa kế thế vị của ông

bà (là cha mẹ nuôi của người đã sinh ra mình) Khi con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì cháu (con của người con riêng) s được thừa kế thế vị của ông, bà (là bố dượng, mẹ kế)

1.2 Lý luận thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật

1.2.1 Những tác động và ảnh hưởng đến thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật và

sự cần thiết phải giải quyết tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật

Thừa kế quyền sử dụng đất nếu có tranh chấp là rất phức tạp, gay gắt, đặc biệt gây ra sự mất đoàn kết, phá vỡ cấu trúc và mối quan hệ anh em trong một gia đình, dòng tộc… Việc xảy ra tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật thường xảy ra khi người để di sản không có di chúc hoặc di chúc không hợp pháp Do đó,

Trang 23

16

Nghiên cứu, tìm hiểu về thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật và thực

ti n áp dụng cho thấy hoạt động này đem lại một số ý nghĩa chủ yếu sau đây:

- Giải quyết tranh chấp đất đai nói chung và giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật nói riêng góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai ởi l , thông qua hoạt động giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất, các cơ quan nhà nước nắm được nguồn gốc quá trình sử dụng mảnh đất, thu thập hồ sơ, giấy tờ, chứng cứ pháp lý về quyền sử dụng đất nhằm xác định người sử dụng đất hợp pháp; xác định ranh giới, diện tích đất của mỗi đồng thừa kế v.v Trên cơ sở đó, các cơ quan nhà nước chỉnh lý bản đồ địa chính, sổ sách địa chính cho phù hợp với hiện trạng sử dụng đất thực tế

- Thông qua hoạt động giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật không chỉ giúp công chức nhà nước mà còn giúp các bên đương sự nâng cao nhận thức, sự hiểu biết về pháp luật thừa kế nói chung và tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất nói riêng Tranh chấp đất đất đai nói chung và tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất nói riêng là một trong những loại tranh chấp phức tạp, khó khăn

Do đất đai là vấn đề nhạy cảm và có nguồn gốc sử dụng đa dạng, phức tạp, chính sách pháp luật đất đai không nhất quán qua từng thời kỳ v.v, nên việc giải quyết tranh chấp đất đai không hề đơn giản Để giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất đòi hỏi cán bộ, công chức nhà nước phải nghiên cứu, nắm bắt đầy đủ nội dụng pháp luật đất đai Có như vậy, họ mới có thể vận dụng đúng pháp luật vào giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất, người có thẩm quyền giải quyết tuyên truyền, giải thích giúp các bên đường sự hiểu biết pháp luật đất đai nói chung và hiểu biết về quyền của người sử dụng đất nói riêng

- Giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật góp phần vào việc duy trì mối quan hệ đoàn kết gắn bó giữa các thành viên trong gia đình nói riêng và trong nội bộ nhân dân nói chung; ngăn ngừa các xung đột, mâu thuẫn gay gắt giữa các bên tranh chấp có thể đưa đến những hành vi manh động, xô xát (thậm chí gây thương tích, đổ máu) Hơn nữa, thông qua hoạt động này góp phần giáo dục

Trang 24

17

ý thức, lối hành xử văn minh, nhân văn cho các bên tranh chấp nói riêng và người dân nói chung trong việc hóa giải những bất đồng, mâu thuẫn nảy sinh trong việc phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất do người chết để lại…

- Giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật còn giúp bảo đảm sự chuyển dịch tài sản của người đã chết cho những người thân của họ, duy trì sự quản lý về mặt tài sản Nếu như thừa kế quyền sử dụng đất theo di chúc là

sự thể hiện việc tôn trọng ý chí của người đã chết về quyền định đoạt tài sản của họ, thì việc chia thừa kế theo pháp luật là sự bảo đảm tính công bằng, duy trì sự ổn định, tính liên tục trong quan hệ sở hữu tài sản của Nhà nước Quyền sử dụng đất khi người sở hữu chết đi mà không để lại di chúc s được phân chia cho những người thân thiết nhất của họ theo thứ tự, quy định là phù hợp với truyền thống đạo đức và phong tục tập quán của đất nước, đồng thời c ng bảo đảm quyền sử dụng đất không trở thành vô chủ không có người quản lý và sử dụng

1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật

- Đặc điểm dân cư, văn hóa, kinh tế, đất đai và quản lý đất đai: Dân cư đông, nhu cầu về đất và nhà ở tăng, văn hóa ứng xử thấp, kinh tế phát triển, đất đai càng ngày càng có giá và sự quản lý đất đai lỏng lẻo, không thống nhất s là tiền đề cho việc phát sinh nhiều tranh chấp đất đai về sau

- Hệ thống pháp luật: Hệ thống pháp luật về giải quyết tranh chấp bao gồm cả luật nội dung và luật hình thức chưa đồng bộ, chưa thống nhất, chưa rõ ràng thì s gây khó khăn cho công tác giải quyết tranh chấp Ngược lại, hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, rõ ràng s tạo điều kiện thuận lợi cho công tác giải quyết tranh chấp

- Nhận thức của công dân: Ý thức pháp luật, nhận thức của công dân cao thì khi tham gia giải quyết tranh chấp công dân s tuân thủ nghiêm trình tự tố tụng, d dàng chấp nhận phán quyết của Tòa án, ứng xử có văn hóa khi tham gia phiên tòa, cung cấp bằng chứng và lý l giúp tòa giải quyết nhanh chóng vụ án

- Cơ sở vật chất, kỹ thuật, trang thiết bị, điều kiện làm việc càng tốt, càng đầy đủ và hiện đại thì càng tạo điều kiện tốt cho công tác xét xử

Trang 25

18

- Sự phối hợp của các cơ quan hữu quan: Sự phối hợp của các cơ quan khác như:

Ủy ban nhân dân xã, các cơ quan giám định, tòa án cấp dưới, Viện kiểm sát, Cơ quan thi hành án trong việc xác minh, thu thập chứng cứ, thi hành quyết định của Tòa mà có hiệu quả thì s giúp cho quá trình giải quyết di n ra nhanh chóng, chính xác Ngược lại, sự phối hợp lỏng lẻo, thiếu hiệu quả giữa các cơ quan này s gây khó khăn trong quá trình giải quyết, làm cho quá trình này kéo dài, gây tốn kém về thời gian, không đảm bảo chất lượng

1.2.3 Cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật

Thông thường để giải quyết tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật, tòa án thường căn cứ vào các văn bản pháp luật sau đây: Các quy định của pháp luật đất đai; quy định của pháp luật dân sự; quy định của pháp luật tố tụng dân sự và các quy định trong cấc văn bản hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Thứ nhất, các quy định của pháp luật đất đai: Thông thường, tòa án sử dụng các

quy định của pháp luật đất đai để xem xét về những nội dung sau:

(i) Thẩm quyền xử lý của Tòa án đối với tranh chấp đất đai Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất là một dạng cụ thể của tranh chấp đất đai Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai nói chung và tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất được quy định tại Điều

203 Luật Đất đai năm 2013:"Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau: Tranh chấp đất đai mà đương

sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

- Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

Trang 26

(ii) Xác định quyền sử dụng đất đó đã đáp ứng đủ điều kiện trở thành di sản thừa kế theo khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013, bao gồm: Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hoặc đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khắc gắn liền với đất; Đất không có tranh chấp; Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án; trong thời gian sử dụng đất [23, Điều 188]

Thứ hai, các quy định pháp luật dân sự: Việc áp dụng các quy định của pháp

luật dân sự trong giải quyết tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật thường được sử dụng làm căn cứ, cơ sở pháp lý để tòa án giải quyết các quyền lợi và nghĩa vụ cho người hưởng thừa kế Theo đó, tòa án s áp dụng các nguyên tắc

về phân chia di sản thừa kế theo pháp luật, các trường hợp hưởng thừa kế… ên cạnh đó, hiện nay Bộ luât Dân sự năm 2015 đã có thêm những quy định mới, bổ sung các quyền liên quan đến quyền sử dụng đất như quyền bề mặt, quyền hưởng dụng Do đó, Tòa án c ng s căn cứ vào các quy định trong các văn bản pháp luật dân sự để giải quyết quyền lợi cho cả những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan

Thứ ba, các quy định trong các văn bản tố tụng dân sư và các văn bản hướng

dẫn giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất của Hội đồng thẩm phán Tòa

án nhân dân tối cao: Các văn bản này là cơ sở và căn cứ pháp lý để tòa án tiến hành các hoạt động tố tụng giải quyết các tranh chấp về thừa kế như:

- Xác dịnh thẩm quyền tòa án giải quyết tranh chấp: Hiện nay, tồn tại hai quan niệm trong xác định tòa án giải quyết các tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất Quan niệm thứ nhất xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp này là của tòa

Trang 27

20

án nơi có bất động sản Quan niệm này xuất phát từ việc Tòa án nơi có bất động sản

là Tòa án có điều kiện tốt nhất cho việc giải quyết tranh chấp Bởi l , tất cả các hồ

sơ, giấy tờ về bất động sản do cơ quan quản lý bất động sản nắm giữ Cơ quan này nắm vững thực trạng, nguồn gốc của bất động sản Do vậy, Tòa án nơi có bất động sản có điều kiện xác minh để giải quyết sát với thực tế: xem xét, thẩm định tại chỗ (xác minh thực địa); cho định giá tài sản; thu thập tài liệu từ cơ quan nhà đất… Quan niệm thứ hai cho rằng, tranh chấp thừa kế nhà đất hoặc quyền sử dụng đất không phải là tranh chấp về bất động sản, do vậy, trong những trường hợp này Tòa

án có thẩm quyền phải là Tòa án nơi bị đơn giải quyết Quan niệm này dựa trên lập luận rằng, đối với tranh chấp thừa kế nhà đất hoặc quyền sử dụng đất thì trước hết phải xác định xem ai là người có quyền thừa kế rồi mới chia, trong số các đương sự thì có đương sự chỉ yêu cầu hưởng giá trị chứ không yêu cầu chia hiện vật Ngoài

ra, c ng có ý kiến cho rằng, tranh chấp thừa kế thì di sản có thể bao gồm cả động sản, bất động sản cho nên không thể áp dụng nguyên tắc xác định thẩm quyền tòa

án theo nơi có bất động sản tọa lạc Hiện nay, các văn bản pháp lý chưa có hướng dẫn cụ thể về vấn đề này Tuy nhiên, việc nghiên cứu pháp luật một số nước và pháp luật chế độ c về tố tụng dân sự cho thấy, nguyên tắc nơi phát sinh sự kiện mở thừa kế s được áp dụng để xác định thẩm quyền của Tòa án đối với các vụ việc yêu cầu chia thừa kế Tức là, Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc s là Tòa án nơi

mở thừa kế hay Tòa án nơi khai phát di sản Thế nhưng, luật thực định của chúng ta hiện nay không đề cập đến nguyên tắc này

- Xác định việc thực hiện hòa giải ở cơ sở: Căn cứ theo khoản 3 Điều Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 để xác định tranh chấp về quyền sử dụng đất có cần bắt buộc thực hiện hòa giải ở cơ sở trước khi khởi kiện hay không?

- Xác định các bước, thủ tục giải quyết vụ án: Theo đó, căn cứ vào các quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân Tối cao, Tòa án s thực hiện các trình tự, thủ tục để tiến hành giải quyết vụ án, c ng như thực hiện các nhiệm vụ của mình đối với các bên (xem xét, thu thập chứng cứ; xét hỏi…)

Trang 28

21

1.3 Pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất

1.3.1 Khái niệm

Pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất là tổng thể các quy phạm pháp luật

do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh việc chuyển dịch tài sản của người chết cho cá nhân, tổ chức theo di chúc hoặc theo pháp luật, c ng như quy định phạm vi quyền, nghĩa vụ, phương thức bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của người thừa kế và được thực hiện theo những trình tự nhất định của pháp luật

Nếu xem xét dưới góc độ là một chế định pháp luật, thừa kế quyền sử dụng đất được hiểu là tổng thể các nhóm quy phạm pháp luật điều chỉnh việc chuyển quyền sử dụng đất từ người đã chết sang cho những người còn sống theo trình tự thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật

Dưới góc độ là một quan hệ pháp luật dân sự, thừa kế quyền sử dụng đất là hình thức pháp lý của các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình dịch chuyển quyền sử dụng đất từ người chế sang người còn sống

Đối với quyền sử dụng đất là khả năng pháp lý do pháp luật quy định cho người sử dụng đất để giúp chủ thể này có thể khai thác những thuộc tính có lợi từ đất một cách hợp pháp thông qua các hành vi sử dụng đất hoặc chuyển quyền đó cho người khác

Quyền sử dụng đất là một bộ phận của pháp luật đất đai, là một quan hệ pháp luật về đất đai, là một quyền năng chủ quan của chủ sở hữu và của người sử dụng đất và nó là một tài sản đặc biệt, chính vì thế quyền sử dụng đất vừa là đối tượng trong quan hệ pháp luật đất đai vừa là đối tượng trong quan hệ pháp luật dân sự

1.3.2 Lược sử các giai đoạn lập pháp về thừa kế quyền sử dụng đất

1.3.2.1 Giai đoạn trước năm 1993

Giai đoạn trước năm 1945

Thời kỳ phong kiến:

Trang 29

22

Bộ Quốc triều hình luật thời nhà Lê thể hiện được tư tưởng khá bình đẳng trong quan hệ nam - nữ, vợ - chồng, trong đó có sở hữu và thừa kế Ngoài tài sản sở hữu chung thì vợ, chồng đều được quyền có tài sản riêng Nếu cha mẹ để lại chúc thư thì chia thừa kế theo chúc thư, nếu không có chúc thư thì chia theo quy định của luật Con trai và con gái đều được thừa kế của cha mẹ và hưởng phần di sản bằng nhau Trường hợp vợ chồng đã có con thì khi cha mẹ chết, các con được hưởng thừa

kế điền sản Chồng chết trước thì vợ góa được kế quyền gia trưởng của chồng nuôi dạy các con, thờ cúng tổ tiên nhà chồng

Trường hợp vợ chồng không có con, khi chồng hoặc vợ chết trước thì người còn sống đều được dành một phần để nuôi dưỡng một đời:

+ Đối với điền sản do cha mẹ để lại nếu người chồng chết trước thì tài sản của chồng được chia thành hai phần bằng nhau, một phần dành cho thừa tự (nếu cha

mẹ còn sống thì thuộc về cha mẹ cả), phần còn lại dành cho vợ để phụng dưỡng một đời nhưng không được làm của riêng và nếu vợ chết hoặc cải giá thì tài sản đó được trả lại cho thừa tự Khi vợ chết trước chồng, tài sản của vợ c ng được chia thành hai phần như vậy, nhưng phần dành cho chồng thì "không bắt buộc h lấy vợ khác thì mất phần ấy" (tức là người chồng không cần phải trả lại tài sản nếu đi lấy vợ khác)

+ Điền sản của vợ chồng tạo ra thì nếu chồng chết trước thì được chia thành hai phần bằng nhau: Một phần chia cho vợ làm của riêng; phần còn lại được chia ba phần, một phần dành cho việc tế tự và phần mộ (phần về tế tự và phần mộ nếu cha

mẹ còn sống thì cha mẹ giữ, nếu cha mẹ không còn thì người thừa tự giữ), hai phần còn lại để cho vợ phụng dưỡng một đời, không được làm của riêng Nếu vợ chết hoặc cải giá thì phần để phụng dưỡng này s phải trả lại để việc tế tự và phần mộ Khi vợ chết trước chồng thì tài sản c ng được chia như vậy, nhưng phần để phụng dưỡng một đời thì "không cần câu nệ khi lấy vợ khác" (không phải trả lại khi đi lấy

vợ khác)

Con của vợ l , nàng hầu được phần thừa kế kém hơn con vợ cả Con nuôi mà

có văn tự là con nuôi và ghi trong giấy là sau s chia điền sản cho thì được phân

Trang 30

23

chia điền sản thừa kế của cha mẹ nuôi nếu cha mẹ không để lại chúc thư, nhưng phần của con nuôi kém hơn phần của con đẻ; khi đã làm con nuôi họ khác rồi thì không được về nhà tranh đất với anh em ruột

Thời nhà Lê, việc lập di chúc đã được coi trọng:"Người làm cha mẹ phải liệu tuổi già, mà lập sẵn chúc thư" Hương hỏa được quy định một cách cụ thể: Cha mẹ

để lại chúc thư hay không để lại chúc thư, thì đều lấy một phần hai mươi số ruộng đất làm phần hương hỏa Người giữ hương hỏa phải coi trọng dòng đích, ngành trưởng Ruộng đất hương hỏa của cụ cao tổ năm đời c ng không được đem chia để tránh tranh giành; không được bán ruộng đất hương hỏa dù nghèo khó

Bộ Quốc triều hình luật coi trọng truyền thống gia đình, tôn ti, trật tự trên dưới, đề cao thuyết "tam tòng" nên chưa có sự bình đẳng hoàn toàn giữa vợ và chồng, giữa con trai và con gái, giữa con đẻ và con nuôi, giữa con của vợ cả với con của vợ l , nàng hầu, chưa hoàn toàn ghi nhận quyền thừa kế di sản giữa vợ và chồng, nhưng ở vào thời kỳ đó, quy định như vậy đã là một sự tiến bộ đáng ghi nhận

Sau đó, Nhà Nguy n đã soạn ra Bộ "Hoàng Triều luật lệ" hay Hoàng Việt luật lệ Dưới sự trị vì của vua Gia Long, với Hoàng Việt luật lệ, dù ra đời sau nhưng

Bộ luật này đã bác bỏ nhiều sự tiến bộ đã có trong Quốc triều hình luật Hoàng Việt luật lệ rất ít chú ý đến những vấn đề như tài sản của vợ chồng, khế ước, thừa kế…

mà chủ yếu quy định về thuế, định phu, bán trộm ruộng, chia gia tài, hôn nhân nam

nữ Những quy định thể hiện sự cần thiết phải duy trì sản nghiệp của thế hệ "Tứ đại đồng đường" như con cháu không được tách khẩu, chia tài sản, không được có của riêng, trừ khi được ông bà, cha mẹ đồng ý hoặc có chúc thư thì chia theo chúc thư, nhưng những vấn đề về di chúc lại không được quy định trong Hoàng Việt luật lệ

Sự bất bình đẳng giữa nam nữ, vợ chồng được xác lập, trong thừa kế thì ưu tiên quyền hưởng di sản của con trai trưởng, vợ không được hưởng thừa kế của chồng

Trang 31

24

Hương hỏa trong Hoàng Việt luật lệ được gọi là tự sản, người giữ hương hỏa

là người ăn thừa tự Giới hạn về tự sản không được quy định Người ăn thừa tự có một số điểm khác với Quốc triều hình luật

Như vậy, thời kỳ phong kiến, các quy định về thừa kế chưa đầy đủ, còn thiếu

sự hợp lý, bình đẳng Các quy định còn nằm tản mạn ở các điều, các phần không tập trung và không theo trình tự nên khó theo dõi Tuy nhiên, ở đó c ng đã có những quy định là tiền đề để xây dựng pháp luật về thừa kế sau này như: ghi nhận việc chia thừa kế có chúc thư và không có chúc thư (sau này chính là hai hình thức thừa kế); các con được thừa kế của cha mẹ; những quy định khá đầy đủ về hương hỏa

Thời kỳ pháp thuộc

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nhân dân ta đã phải gánh chịu ách đô hộ dã man của thực dân Pháp Cả đất nước sống trong cảnh tối tăm thuộc địa nửa phong kiến Chúng không đem những gì tiến bộ của đất nước phương tây để cai trị, mà dựa vào những hủ tục của xã hội phong kiến nước ta để đàn áp dân ta Do đó, luật được sử dụng trong thời kỳ này chủ yếu là ộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931 và ộ Dân luật Trung Kỳ năm 1936 Sự bất bình đẳng trong quan

hệ vợ chồng, tư tưởng trọng nam khinh nữ được duy trì và bảo vệ Vợ bị hạn chế quyền thừa kế, không được lập di chúc để lại tài sản riêng của mình nếu không được chồng đồng ý Nếu vợ chết trước, chồng được thừa kế tài sản riêng của vợ, nhưng nếu chồng chết trước thì vợ chỉ có quyền hưởng dụng tài sản riêng của mình Vị trí của con trai trưởng, cháu đích tôn vẫn được coi trọng, được quản lý hương hỏa để thờ cúng tổ tiên, con gái thì không có quyền này

Trong Bộ Dân luật Bắc Kỳ có quy định về hình thức của chúc thư, điều kiện của người lập chúc thư Không có chúc thư, thừa kế được chia theo hàng dựa trên quan hệ huyết thống Theo đó hàng thứ nhất là các con đẻ, thừa kế thế vị được áp dụng Đây là những điểm quan trọng của thừa kế theo di chúc và theo pháp luật

Di sản thừa kế được xác định bao gồm cả động sản và bất động sản, trong đó

có nhà cửa, đất đai Di sản dùng để thờ cúng không được chia thừa kế và không

Trang 32

rõ nét hơn về di sản thừa kế, thừa kế theo di chúc, thừa kế theo pháp luật Đặc biệt rất nhiều quy định về thừa kế đã được sử dụng, nghiên cứu, chỉnh sửa để áp dụng xây dựng nên các quy định về thừa kế sau này Phần hương hỏa, di sản thờ cúng thời kỳ này được chú trọng, và có giá trị rất lớn đối với quy định phần di sản thờ cúng hiện nay Nói đến di sản thừa kế thì đất đai là tài sản chủ yếu

Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1993

Giai đoạn trước khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời

Trước sự non trẻ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa không thể đủ điều kiện để xây dựng luật, nên ngày 10/10/1945 Hồ Chủ tịch đã ký Sắc lệnh 90/SL cho phép áp dụng luật lệ c nếu không trái với nguyên tắc "độc lập của nước Việt Nam

và chính thể cộng hòa" Do đó ộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931, ộ Dân luật Trung

Kỳ năm 1936 vẫn tiếp tục được áp dụng những quy định không trái với nguyên tắc trên

Giai đoạn từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời đến trước năm

1980

Hiến pháp đầu tiên ra đời năm 1946 đã trở thành nền tảng, định hướng để xây dựng hệ thống pháp luật ở nước ta Tư tưởng lạc hậu, gia trưởng, trọng nam khinh nữ của chế độ phong kiến bị loại bỏ và thay vào đó là sự bình đẳng giữa vợ

và chồng, giữa con trai và con gái…

Hiến pháp năm 1946 đã quy định rõ: "Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện" (Điều 19); "Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được

Trang 33

hệ tài sản, quan hệ thừa kế như ghi nhận quyền bình đẳng của vợ chồng trong gia đình, vợ chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau; con trai, con gái đều có quyền hưởng di sản thừa kế của cha mẹ; người chồng góa, các con đã thành niên có quyền xin chia tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết, sau khi đã thanh toán tài sản chung; quyền nhận hay không nhận di sản thừa kế của những người là con cháu hoặc vợ hay chồng của người chết được bảo hộ; các chủ nợ của người chết c ng không có quyền đòi nợ quá số di sản để lại

Theo đó, Thông tư 1742- NC ngày 18/9/1956 của Bộ Tư pháp quy định rõ hơn: Vợ hoặc chồng của người chết có quyền thừa kế ngang với các con; vợ l và con nuôi có quyền thừa kế như vợ cả và con đẻ; vợ góa c ng được hưởng thừa kế với phần di sản ngang với những người thừa kế cùng hàng

Hiến pháp thứ hai của nước ta ra đời năm 1959 đã thay thế Hiến pháp năm

1946 Hiến pháp 1959 được ban hành trong thời điểm cả nước cùng chung tay xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc và đấu tranh giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước Các hình thức sở hữu được ghi nhận phong phú hơn, cụ thể hơn: Hình thức sở hữu nhà nước, hình thức sở hữu của hợp tác xã, hình thức sở hữu của người lao động riêng lẻ, hình thức sở hữu của tư sản dân tộc Cùng với đó, Hiến pháp năm

1959 c ng quy định Nhà nước chiểu theo pháp luật để bảo hộ quyền sở hữu về ruộng đất và tư liệu sản xuất; bảo hộ quyền thừa kế tài sản tư hữu của công dân Do

đó, tài sản được để lại thừa kế bao gồm ruộng đất và các tài sản khác

Trang 34

27

Sự bình đẳng nam nữ, vợ chồng trong gia đình và trong quan hệ thừa kế tiếp tục củng cố trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 tạo cơ sở cho việc xây dựng chế độ thừa kế

Tiếp đến là ngày 27/8/1968, Tòa án nhân dân tối cao đã ra Thông tư NCPL hướng dẫn giải quyết tranh chấp về thừa kế Thông tư này quy định: Quyền bình đẳng nam nữ trong việc hưởng di sản; các con của người chết không phân biệt giới tính, trẻ già, có năng lực hành vi dân sự hay không đều được hưởng phần di sản ngang nhau; vợ hoặc chồng của người để lại di sản được thừa kế ở hàng thứ nhất cùng với các con của người đó

594-Ở Miền Bắc, sau khi giành độc lập, quan hệ bình đẳng giữa vợ chồng, nam

nữ, được đề cao, tư tưởng tiến bộ đã lấn át hoàn toàn những hủ tục, lạc hậu của thời

kỳ trước, làm nền tảng cho sự phát triển chế độ thừa kế Công dân có quyền có tài sản riêng, có quyền sở hữu đất đai, tư liệu sản xuất, có quyền thừa kế, di sản thừa kế trở nên phong phú hơn Nhiều nội dung của thừa kế lần đầu được đề cập, kỹ thuật lập pháp được nâng cao

Tuy nhiên ở miền Nam dưới chế độ ngụy quyền Sài Gòn, các quan hệ dân sự vẫn được điều chỉnh bởi Bộ Dân luật giản yếu Nam kỳ 1883, Bộ Dân luật Trung Kỳ

1936, Bộ Dân luật Sài Gòn 1972 Những văn bản này đều thể hiện sự bất bình đẳng giữa vợ và chồng, giữa nam và nữ Mặc dù vậy nhưng về thừa kế, theo Bộ Dân luật Sài Gòn 1972 thì chế độ ngụy quyền vẫn thừa nhận ba hàng thừa kế, thừa kế thế vị,

vợ chồng không thuộc hàng thừa kế của nhau nhưng vẫn có những điều riêng quy định được thừa kế

Giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1993

Năm 1975, công cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước

đã hoàn thành Đất nước ta có sự biến đổi sâu sắc về kinh tế, chính trị, xã hội Giai đoạn này nhiệm vụ được đặt ra là phải xóa bỏ dần chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, xây dựng chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa với hai hình thức sở hữu chính là sở hữu

Trang 35

Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu của công dân về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, những công cụ sản xuất dùng trong những trường hợp được phép lao động riêng lẻ Pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân

Các quyền về sở hữu, thừa kế của công dân tiếp tục được thừa nhận, tuy nhiên có sự khác biệt rõ rệt so với những Hiến pháp trước đó: Khối tài sản thuộc sở hữu của công dân không bao gồm tư liệu sản xuất; đất đai không còn thuộc sở hữu của cá nhân mà thuộc sở hữu toàn dân, công dân không có quyền thừa kế đất đai

Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 thay thế cho Luật năm 1959 Tài sản

để lại thừa kế của vợ chồng quy định trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 đã

có sự thay đổi so với Luật năm 1959, đó là: Được phân định tài sản chung riêng, khi một bên chết trước thì di sản thừa kế được xác định là tài sản riêng của người đó và một nửa khối tài sản chung (Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 quy định: tất cả tài sản được chia đôi mà không bên nào được viện cớ là có tài sản riêng để tách ra)

Trên cơ sở Hiến pháp năm 1980, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông

tư 81-TANDTC ngày 24/7/1981 (sau đây gọi tắt là Thông tư 81) hướng dẫn đường lối giải quyết các tranh chấp về thừa kế di sản So với những văn bản luật trước đó, các quy định trong Thông tư 81 về thừa kế tương đối hoàn chỉnh như: Xác định di sản thừa kế; quy định về diện thừa kế, hàng thừa kế; trình tự thừa kế theo di chúc, theo pháp luật; thừa kế thế vị; thừa kế của người chết cùng thời điểm; chia di sản thừa kế Ra đời trong bối cảnh nước ta với nền kinh tế tập trung, bao cấp, trình độ lập pháp còn thấp nên Thông tư 81 không tránh khỏi những hạn chế Song, nó đã đánh dấu bước trưởng thành trong lịch sử pháp luật về thừa kế bởi thời kỳ này nhiều

Trang 36

29

văn bản luật chủ yếu mang tính nguyên tắc, định hướng do đó Thông tư 81 trở thành cơ sở pháp lý quan trọng cho các Tòa án các cấp áp dụng giải quyết từng tranh chấp, từng vụ việc cụ thể

Do đòi hỏi của tiến trình phát triển, Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 được ban hành ngày 30/8/1990, là văn bản pháp lý có giá trị cao nhất, hoàn chỉnh nhất về lĩnh vực thừa kế của nước ta kể từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 Di sản thừa kế của

vợ chồng khi một bên chết trước được xác định theo tinh thần của Luật Hôn nhân

và Gia đình năm 1986 Di sản thờ cúng được coi như di sản chưa chia và không giới hạn, đây lại là điểm không tiến bộ bởi s khuyến khích cho việc dùng toàn bộ tài sản để thờ cúng Diện thừa kế được mở rộng, hàng thừa kế được tăng lên là ba hàng (thay vì hai hàng như Thông tư 81) nhằm bảo vệ quyền thừa kế của những người có huyết thống trực hệ, bàng hệ Con nuôi được thừa kế theo pháp luật của cha mẹ đẻ, anh chị em ruột (Thông tư 81 quy định con nuôi không được thừa kế di sản của cha

mẹ đẻ và anh chị em ruột)

Năm 1992, Hiến pháp thứ ba của nước ta ra đời Đây là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử lập Hiến c ng như trong lịch sử phát triển kinh tế xã hội Hiến pháp năm 1992 là cơ sở ghi nhận sự thay đổi từ nền kinh tế kế hoạch, tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế Chủ trương cho các thành phần kinh tế thuộc sở hữu tư nhân phát triển Quyền tự do kinh doanh của công dân được thừa nhận Công dân có quyền sở hữu

về tư liệu sản xuất

Điều 18 Hiến pháp năm 1992 quy định:

Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả

Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài

Trang 37

30

Tổ chức và cá nhân có trách nhiệm bảo vệ, bồi bổ, khai thác hợp lý,

sử dụng tiết kiệm đất, được chuyển quyền sử dụng đất được Nhà nước giao theo quy định của pháp luật

Đặc điểm nổi bật của giai đoạn này, trước khi có Hiến pháp năm 1992 đó là đất đai thuộc sở hữu toàn dân, không thuộc sở hữu của cá nhân, không được để lại thừa kế Nhưng thời kỳ này, có thể nói chế định thừa kế được xây dựng hoàn chỉnh nhất cho đến thời điểm này, về cả nội dung và hình thức

1.3.2.2 Giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2003

Luật Đất đai năm 1993 được ban hành trên cơ sở Hiến pháp năm 1992 Điều

3, Điều 76 Luật Đất đai năm 1993 quy định: Nhà nước bảo hộ quyền và 36 lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất

Cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, sau khi chết thì quyền sử dụng đất của họ được để lại cho những người thừa kế theo quy định của pháp luật thừa kế Hộ gia đình được Nhà nước giao đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu trong hộ có thành viên chết thì các thành viên khác trong hộ được quyền tiếp tục sử dụng diện tích đất mà Nhà nước đã giao cho hộ, nếu trong hộ không còn thành viên nào thì Nhà nước thu hồi đất Cá nhân, thành viên của hộ gia đình được giao đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở, sau khi chết, quyền sử dụng đất của

họ được để lại cho những người thừa kế theo quy định của pháp luật thừa kế

Cá nhân là người Việt Nam định cư ở nước ngoài không được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất, không được để lại thừa kế quyền sử dụng đất

Như vậy, mặc dù không có việc chuyển quyền sở hữu về đất đai nhưng chuyển quyền sử dụng đất được thừa nhận và do đó công dân có quyền để lại thừa

kế quyền sử dụng đất Việc dịch chuyển quyền sử dụng đất phải tuân thủ những điều kiện nhất định

Trang 38

31

Năm 1995, ộ luật Dân sự được ban hành ộ luật Dân sự năm 1995 là Đạo luật quan trọng nhất điều chỉnh các quan hệ dân sự, trong đó có quan hệ thừa kế Bộ luật dành Phần thứ 4 để quy định về thừa kế, ngoài ra trong phần chuyển quyền sử dụng đất c ng dành một chương quy định về thừa kế quyền sử dụng đất Tài sản thuộc sở hữu tư nhân phong phú, đa dạng, không bị hạn chế về số lượng và được để lại thừa kế "Quyền sử dụng đất c ng thuộc di sản thừa kế " Thừa kế quyền sử dụng đất được quy định chặt ch hơn nhiều so với thừa kế những tài sản khác Vấn

đề di tặng lần đầu tiên được quy định rõ

Pháp luật thừa kế đã thể hiện được sự phát triển vượt bậc của mình, không chỉ là những văn bản mang tính định hướng và hầu hết là văn bản dưới luật như trước mà đã ra đời những văn bản có giá trị pháp lý cao, khái quát, đầy đủ hơn nhưng cụ thể hơn Quyền sử dụng đất Nhà nước giao được để lại thừa kế, nhưng có

sự phân biệt thừa kế các loại đất khác nhau

Liên quan đến đất đai là một lĩnh vực hết sức phức tạp, nhằm tạo thuận lợi cho việc chuyển quyền sử dụng đất c ng như thừa kế quyền sử dụng đất, Chính phủ

đã ban hành Nghị định 17/1999/NĐ-CP ngày 29/3/1999 (sau đây gọi tắt là Nghị định 17/1999/NĐ-CP) về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất và thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất Trong đó, quyền sử dụng đất thuê c ng được để lại thừa kế

Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã góp phần xác định về phần di sản thừa kế như: Xác định rõ những tài sản nào là tài sản riêng, những tài sản nào là tài sản chung của vợ chồng Theo Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình: "Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận", quy định này giúp khẳng định thêm tài sản

cá nhân bao gồm cả quyền sử dụng đất.Nghị định 70/2001/NĐ-CP ngày03 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm

2000 quy định: "Các tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng khi đăng ký quyền sở

Trang 39

Vậy, sau khi Luật Đất đai năm 1993 ra đời, sau đó là ộ luật Dân sự năm

1995 thì vấn đề thừa kế quyền sử dụng đất được phát triển ở tầm cao mới Tuy đất đai không thuộc sở hữu của công dân nhưng các giao dịch về quyền sử dụng đất được ghi nhận Tuy nhiên việc thừa kế các loại đất có sự khác nhau, sau khi có Nghị định 17/1999/NĐ-CP thì quyền sử dụng đất thuê c ng được để lại thừa kế Việc phân chia thừa kế được quy định cụ thể, đặc biệt việc phân chia tài sản chung riêng của vợ chồng Luật Đất đai 1993 và ộ luật Dân sự năm 1995 là những văn bản được phát triển để thành Luật Đất đai 2003 và ộ luật Dân sự năm 2005 hiện nay

1.3.2.3 Giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2012

Luật Đất đai 2003 và ộ luật Dân sự năm 2005 ra đời đã khắc phục nhiều điểm còn hạn chế tại Luật Đất đai năm 1993 và ộ luật Dân sự năm 1995 Việc quy định thừa kế quyền sử dụng đất đã quy định chung cho các loại đất không phân biệt đất ở, đất trồng cây hàng năm, đất rừng Nhưng đất thuê chỉ được để lại thừa kế đối với việc thuê trước ngày 01/7/2004 và kèm theo một số điều kiện khác Cá nhân người Việt Nam định cư ở nước ngoài được quyền để lại thừa kế quyền sử dụng đất nếu thuộc diện quy định tại Điều 121 Luật Đất đai 2003 (sửa đổi năm 2009) ộ luật Dân sự năm 2005 đã bổ sung, sửa đổi nhiều quy định so với Bộ luật Dân sự năm 1995: thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại; thừa kế của những người chết cùng thời điểm; quyền từ chối nhận di sản; thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản; người lập di chúc; di chúc miệng, di chúc hợp pháp; hiệu lực di chúc chung của vợ chồng; bổ sung hàng thừa kế thứ hai, thứ ba, thừa kế thế vị; hạn chế phân chia di sản Tóm lại, mặc dù giai đoạn này có nhiều

Trang 40

33

điểm tiến bộ hơn, phù hợp hơn về lĩnh vực thừa kế nói chung và quyền sử dụng đất nói riêng nhưng vẫn còn rất nhiều vướng mắc cần phải nghiên cứu để tiếp tục sửa đổi, có những quy định có l cần quay lại như thời kỳ trước

1.3.2.4 Giai đoạn từ 2012 đến nay

Kế thừa những thành quả đạt được ngày 29/11/2013, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2014; c ng như

kế thừa Bộ luật Dân sự năm 2005, sau thời gian góp ý, xây dựng luật, ngày 24 tháng

11 năm 2015 Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ộ luật Dân sự năm

2015 để thay thế ộ luật Dân sự năm 2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng

01 năm 2017 Nhìn chung, ộ luật dân sự năm 2015 quy định tương đối cụ thể, rõ ràng, chặt ch :

Về thời điểm, địa điểm mở thừa kế

Theo quy định tại Điều 611 ộ luật Dân sự 2015 thì thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết Trong trường hợp Tòa án tuyên bố một người đã chết, thì thời điểm mở thừa kế là ngày mà Tòa án xác định người đó đã chết Nếu không xác định được chính xác ngày chết của người đó thì ngày bản án tuyên bố một người đã chết có hiệu lực pháp luật được coi là ngày mà người đó chết

Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng, thì địa điểm mở thừa kế là nơi có tòan bộ hoặc phần lớn di sản

Việc xác định thời điểm, địa điểm mở thừa kế là yêu cầu đầu tiên của quan

hệ thừa kế và đóng vai trò rất quan trọng Vì tại thời điểm và địa điểm này s xác định được người thừa kế của người chết, di sản mà người chết để lại, xác định Tòa

án có thẩm quyền thụ lý, nơi thực hiện nghĩa vụ c ng như thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế Đồng thời việc xác định chính xác địa điểm mở thừa kế còn đóng vai trò quan trọng khi xác định việc từ chối nhận di sản có hợp pháp hay không Theo quy định tại Điều 620 ộ luật Dân sự năm 2015: “Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài

Ngày đăng: 22/04/2020, 17:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w