Để đạt được kết quả đó thì việc tổ chức, thi hành các bản án, quyết định trong lĩnh vực cho vay của Ngân hàng thương mại đóng vai trò then chốt trong chỉ tiêu giải quyết về tiền, vì vậy
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu ghi trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lê Minh Tú
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này, học viên đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ cũng như là quan tâm, động viên từ phía cơ quan, tổ chức và
cá nhân Hoàn thành đề tài này một phần dựa trên sự tham khảo, học tập kinh nghiệm
từ các kết quả nghiên cứu liên quan, các sách, báo chuyên ngành của nhiều tác giả
ở Bộ Tư pháp, Tổng Cục Thi hành án dân sự, các trường Đại học, các bài viết trên tạp chí chuyên ngành…Đặc biệt hơn nữa là sự hợp tác của cán bộ giáo viên Khoa Sau đại học, Viện Đại học Mở Hà Nội và sự giúp đỡ, tạo điều kiện về vật chất và tinh thần từ phía gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp
Trước hết, học viên xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Thầy TS Nguyễn Thái Hà – người trực tiếp hướng dẫn khoa học đã luôn dành nhiều thời gian, công sức hướng dẫn học viên trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu và hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này
Học viên xin trân trọng cám ơn Ban giám hiệu, lãnh đạo khoa, phòng cùng toàn thể các thầy cô giáo công tác trong trường đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu, giúp đỡ học viên trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tuy có nhiều cố gắng, nhưng trong đề tài nghiên cứu khoa học này không tránh khỏi những thiếu sót Học viên kính mong Quý thầy cô, các chuyên gia, những người quan tâm đến đề tài, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè tiếp tục có những ý kiến đóng góp, giúp đỡ để đề tài được hoàn thiện hơn
Một lần nữa Học viên xin chân thành cám ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 20…
Tác giả Luận văn
Lê Minh Tú
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1:NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THI HÀNH ÁN ĐỐI VỚI CÁC BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN TRONG LĨNH VỰC CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 8 1.1 Khái quát chung về thi hành án đối với các bản án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực cho vay của ngân hàng thương mại 8
1.1.1 Khái niệm 8 1.1.2 Những đặc điểm cơ bản của thi hành đối với các bản án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực cho vay của ngân hàng thương mại 10 1.1.3 Tiêu chí đánh giá hiệu quả thi hành án đối với các bản án, quyết định của tòa
án trong lĩnh vực cho vay của ngân hàng 13 1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thi hành án đối với các bản án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực cho vay của ngân hàng thương mại 16
1.2 Vai trò của thi hành án đối với các bản án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực cho vay của ngân hàng thương mại 19
1.2.1 Thi hành án đối với các bản án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực cho vay của ngân hàng thương mại góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các ngân hàng thương mại 19 1.2.2 Thi hành án đối với bản án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực cho vay ngân hàng thương mại góp phần nâng cao chất lượng hoạt động xét xử, giải quyết các tranh chấp về tín dụng ngân hàng 19 1.2.3 Thi hành các bản án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực cho vay của các ngân hàng thương mại góp phần nâng cao ý thức pháp luật, trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức trong xã hội 20
Trang 5Chương 2:THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH CÁC BẢN
ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN TRONG LĨNH VỰC CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI TỈNH HƯNG YÊN 23 2.1 Thực trạng pháp luật về thi hành án đối với các bản án, quyết định của tòa án 23
2.1.1 Về hệ thống tổ chức thi hành án dân sự 23 2.1.2 Về chức năng thi hành án dân sự 23 2.1.3 Các quy định về thủ tục thi hành các bản án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực cho vay của ngân hàng thương mại 25 2.1.4 Các quy định về biện pháp bảo đảm và cưỡng chế thi hành án để thi hành cho các Ngân hàng thương mại 29
2.2 Thực trạng thi hành các bản án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực cho vay của các ngân hàng thương mại tại tỉnh Hưng Yên 46
2.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên
kể từ năm 1997 đến nay 46 2.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh Hưng Yên tác động tới việc thi hành các bản
án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực cho vay của ngân hàng thương mại 50 2.2.3 Thực tiễn thực hiện pháp luật về thi hành các bản án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực cho vay của ngân hàng thương mại ở tỉnh Hưng Yên 54
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÁC BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN TRONG LĨNH VỰC CHO VAY CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI TỈNH HƯNG YÊN 80 3.1 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thi hành các bản án, quyết định của Tòa án trong lĩnh vực cho vay của Ngân hàng thương mại ở tỉnh Hưng Yên 80
3.1.1 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về thi hành án cho tổ chức ngân hàng thương mại 80
Trang 63.1.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thi hành các bản án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực cho vay của ngân hàng thương mại từ thực tiễn tỉnh Hưng Yên 83
3.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thi hành các bản án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực cho vay của ngân hàng thương mại tại tỉnh Hưng Yên 87 KẾT LUẬN 95 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Thi hành án dân sự có vai trò quan trọng trong hoạt động tư pháp nói chung
và trong quá trình giải quyết vụ án nói riêng Các quyết định, bản án của Tòa án chỉ thực sự có giá trị khi được thi hành xong trên thực tế Thi hành án là hoạt động đưa các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân, cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền ra thi hành; bảo vệ bình đẳng các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân; góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội; tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước và góp phần thúc đẩy hoạt động kinh tế- xã hội Hiệu quả hoạt động thi hành án ảnh hưởng trực tiếp đến công lý, sự công bằng trong đời sống xã hội Chính vì vậy, thi hành án dân sự ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm, chỉ đạo từ lãnh đạo Đảng và Nhà nước, cũng như sự phối hợp, hỗ trợ từ các ngành, các cơ quan, tổ chức từ trung ương đến địa phương Bởi vậy, công tác này đã
có nhiều chuyển biến tích cực, đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận
Thi hành án dân sự ở tỉnh Hưng Yên trong những năm qua luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp, ngành từ trung ương đến địa phương, đội ngũ cán bộ, công chức được tăng cường cả về số lượng cũng như chất lượng Do vậy, kết quả thi hành án hàng năm luôn đạt và vượt chỉ tiêu do Quốc hội, Tổng cục Thi hành án dân
sự giao Để đạt được kết quả đó thì việc tổ chức, thi hành các bản án, quyết định trong lĩnh vực cho vay của Ngân hàng thương mại đóng vai trò then chốt trong chỉ tiêu giải quyết về tiền, vì vậy việc quan tâm, chỉ đạo tổ chức thi hành các bản án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực cho vay của Ngân hàng thương mại luôn được lãnh đạo Cục thi hành án, cũng như của Ngân hàng Nhà nước – Chi nhánh tỉnh Hưng Yên quan tâm, chú trọng
Tuy nhiên, những khó khăn, bất cập không vì đó mà dừng lại và có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả thi hành án Điển hình như trường hợp Thi hành án dân sự
mà người được Thi hành án là tổ chức ngân hàng thương mại Đây là loại án có điều kiện thi hành nhưng tương đối khó khăn và phức tạp Do đó, chậm Thi hành án trong
Trang 8trường hợp này đang là vấn đề “nóng” đối với cơ quan quản lý thi hành án và bên được thi hành án Nguyên nhân không chỉ có khách quan, mà còn tồn tại nhiều nguyên nhân chủ quan như các ngân hàng thương mại chưa thực hiện đúng quy định của Nhà nước; năng lực và tinh thần tích cực của Chấp hành viên còn hạn chế; thiếu sự kiểm tra, đôn đốc sát sao của lãnh đạo Cục Thi hành án, Chi cục Thi hành án Vì vậy, sự cần thiết phải có những giải pháp để thi hành án đạt được kết quả khả quan hơn
Thực trạng và nguyên nhân nêu trên đòi hỏi phải có những phương hướng, giải pháp để khắc phục tồn tại, khó khăn và nâng cao hiệu quả thi hành án đối với các khoản vay từ các ngân hàng thương mại, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của nước ta nói chung và của tỉnh Hưng Yên nói riêng
Xuất phát từ những lý do nêu trên, học viên đã lựa chọn đề tài:“Thi hành các bản án, quyết định của Tòa án trong lĩnh vực cho vay của Ngân hàng thương
mại từ thực tiễn tỉnh Hưng Yên” để nghiên cứu với tư cách luận văn tốt nghiệp bậc
cao học của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Liên quan đến Thi hành án dân sự nói chung, thi hành các bản án, quyết định cùa tòa án trong lĩnh vực cho vay của ngân hàng thương mại nói riêng đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố ở các góc nhìn và cấp độ khác nhau Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau đây:
- Thanh Hương: “Bàn về biện pháp phong tỏa tài sản tài khoản trongcông tác Thi hành án dân sự hiện nay”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số chuyên đề tháng
02/2013, 2013, tr.23-26; 32
- Lê Thị Lệ Duyên: “Kỹ năng giải quyết việc Thi hành án dân sự phức tạp”,
Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số chuyên đề tháng 02/2013, 2013, tr.04-11
- Nguyễn Thùy Trang: “Hoàn thiện các quy định pháp luật về trình tự, thủ tục Thi hành án dân sự”,Tạp chí Nhà nước và pháp luật số tháng 12(296)/2012, tr.28-32
-Phan Tấn Pháp:“Bất cập trong việc tạm giữ tài sản, giấy tờ theo Luật
Trang 9THADS”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số chuyên đề tháng 3/2011, 2011, tr.17-18
- Đinh Duy Bằng: “Nhứng khó khăn trong xác minh THADS”, Tạp chí Dân
chủ và pháp luật, số chuyên đề tháng 3/2011, 2011, tr.12-13
- Nguyễn Quang Thái: “Đổi mới tổ chức và hoạt động Thi hành án dân sự ở
Việt Nam” (Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh,
2003)
- Bộ Tư pháp: “Luận cứ khoa học của việc đổi mới tổ chức và hoạt động Thi
hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới” (Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước,
2005)
- Nguyễn Đức Nghĩa: “Cơ sở lý luận và thực tiễn khắc phục án tồn đọng trong Thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay” (Luận văn thạc sỹ Luật học, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2005)
- Nguyễn Thanh Thủy: “Vấn đề đổi mới thủ tục THADS ở nước ta hiện nay”,
Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề về THADS, 2006
- Nguyễn Văn Lực và Đào Anh Dũng: “Thực trạng về án tồn đọng và những
giải pháp của Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh”,Tạp chí Dân chủ và Pháp
luật, số chuyên đề về THADS, 2008
- Nguyễn Thùy Trang: “Hoàn thiện các quy định pháp luật về trình tự,thủ tục THADS”,Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số tháng 12(296), 2012
- Bùi Thái Bình: “Bàn về tính dân chủ trong pháp luật về THADS”,Tạp chí
Dân chủ và pháp luật, số 03, 2012
- Hương Lan: “Những trăn trở từ thực tế THADS”, Tạp chí Dân chủ và pháp
luật, số chuyên đề tháng 04, 2012
- Lê Thị Tuyết Minh: “Một số giải pháp để giải quyết hiệu quả việc Thi hành
án dân sự tồn đọng”,Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số chuyên đề tháng 06, 2012
- Lê Thị Lệ Duyên: “Bàn về quan hệ phối hợp giữa cơ quan THA vớicác cơ
Trang 10quan hữu quan trong THADS”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số tháng 10, 2012
- Nguyễn Mạnh Hùng: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng kiểm sát việc THADS”, Tạp chí Kiểm sát, số tháng 01, 2013
- Trần Đại Sỹ: “Thi hành án dân sự trong trường hợp người được Thi hành
án là ngân hàng và các tổ chức tín dụng”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số tháng
Nhìn chung, các công trình đã công bố đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về Thi hành án dân sự nhưng ít có công trình nghiên cứu đề cập trực tiếp
về Thi hành các bản án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực cho vay của ngân hàng thương mại mà đặc biệt là chưa từng có một công trình nào nghiên cứu vấn đề này trên địa bàn tỉnh Hưng Yên Chính bởi lý do này nên việc nghiên cứu đề tài mà học viên đã lựa chọn sẽ có thể nhận diện, đánh giá tương đối toàn diện và hệ thống về vấn
đề thi hành án dân sự nói chung và thi hành các bản án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực cho vay của Ngân hàng thương mại nói riêng với những đặc thù nhất định
để từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành án đối với các bản án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực cho vay của ngân hàng thương mại cũng như hiệu quả Thi hành án dân sự ở tỉnh Hưng Yên
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực trạng Thi hành án dân sự nói chung, Thi hành án đối với lĩnh vực cho vay của
Trang 11ngân hàng thương mại nói riêng và đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả Thi hành án đối với tổ chức ngân hàng thương mại ở tỉnh Hưng Yên trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có một số nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu nhữn vấn đề lý luận về thi hành các bản án, quyết định của tòa
án trong lĩnh vực cho vay của ngân hàng thương mại như: xây dựng khái niệm, làm
rõ đặc điểm, vai trò của thi hành án đối với vụ việc của ngân hàng thương mại; các tiêu chí đánh giá hiệu quả Thi hành án đối với bản án, quyết định của Tòa án trong lĩnh vực cho vay của ngân hàng thương mại và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả Thi hành án đối với lĩnh vực này ở Hưng Yên
- Đánh giá thực trạng thi hành án đối với bản án, quyết định của Tòa án trong lĩnh vực cho vay của ngân hàng thương mại ở tỉnh Hưng Yên (trong đó chú trọng những vấn đề tồn tại, vướng mắc và nguyên nhân)
- Xác định mục tiêu, yêu cầu và kiến nghị một số giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành án đối với các bản án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực cho vay của ngân hàng thương mại ở tỉnh Hưng Yên
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn là cơ sở lý luận về thi hành án dân sự; thực trạng thi hành án đối với bản án, quyết định của Tòa án trong lĩnh vực cho vay của ngân hàng thương mại ở tỉnh Hưng Yên để từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành án đối với các vụ việc của ngân hàng thương mại ở tỉnh Hưng Yên trong thời gian tới
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Hoạt động thi hành án dân sự nói chung, thi hành án cho ngân hàng thương
Trang 12mại nói riêng ở tỉnh Hưng Yên có thể được nghiên cứu, tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau Trong khuôn khổ luận văn thạc sỹ, học viên tập trung nghiên cứu thực trạng thi hành án đối với các bản án, quyết định của Tòa án trong lĩnh vực cho vay của ngân hàng thương mại ở tỉnh Hưng Yên trong phạm vi thẩm quyền thi hành án của cơ quan Thi hành án dân sự trên cơ sở Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014 và không đề cập đến hoạt động Thi hành án dân sự theo thẩm quyền của Thừa phát lại
- Thời gian nghiên cứu từ 01/10/2015 đến 28/02/2019 Học viên chọn thời gian nghiên cứu trên vì: Ngày 28/8/2015 Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên và Ngân hàng nhà nước chi nhánh tỉnh Hưng Yên ký kết quy chế phối hợp số 188/QCPHNHNN-CTHA trong công tác thi hành án dân sự và Cục Thi hành án dân
sự tỉnh Hưng Yên ban hành Quyết định số 496/QĐ-CTHADS ngày 22/6/2016 về kiện toàn Tổ công tác chỉ đạo xử lý các vụ việc có liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài học viên đã vận dụng các phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử trong triết học Mác –
Lê nin Đồng thời luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:
- Ở chương 1 Học viên sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh các quy định của pháp luật, luận giải các khái niệm, phương pháp tổng hợp để nghiên cứu vấn
đề lý luận về thi hành các bản án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực cho vay của ngân hàng thương mại
- Ở chương 2 Học viên sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, phân tích tổng hợp, bình luận những đểm chung, những điểm phù hợp và chưa phù hợp, thống
kê thực tiễn áp dụng các quy phạm pháp luật về thi hành các bản án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực cho vay của ngân hàng thương mại
- Ở chương 3 Học viên sử dụng phương pháp tổng hợp, phương pháp quy nạp, phân tích, so sánh, liệt kê để luận giải các vấn đề thực tiễn về thi hành các bản
Trang 13án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực cho vay của ngân hàng thương mại ở tỉnh Hưng Yên, đồng thời đánh giá, phân tích những ưu điểm, hạn chế và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thi hành án đối với các bản án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực cho vay của ngân hàng thương mại ở tỉnh Hưng Yên
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn đóng góp của đề tài
- Nêu và phân tích làm rõ các khái niệm, đặc điểm và giai đoạn của việc thi hành các bản án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực cho vay của các ngân hàng thương mại tại tỉnh Hưng Yên
- Nghiên cứu và phân tích các quy định của pháp luật hiện hành trong lĩnh vực
tổ chức, thi hành các bản án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực cho vay của ngân hàng thương mại
- Phân tích, đánh giá các ưu điểm và hạn chế từ thực tiễn thi hành các bản án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực cho vay của các ngân hàng thương mại tại tỉnh Hưng Yên từ 01/10/2015 đến 28/02/2019
- Đề xuất, phân tích những quan điểm và giải pháp có tính khả thi nhằm đảm bảo việc thi hành các bản án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực cho vay của ngân hàng thương mại tại tỉnh Hưng Yên trong thời gian tới đạt kết quả cao và bền vững
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được kết cấu gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về thi hành án đối với các bản án,
quyết định của tòa án trong lĩnh vực cho vay của ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng thi hành các bản án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực cho vay của ngân hàng thương mại tại tỉnh Hưng Yên
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành các ban án, quyết định của
tòa án trong lĩnh vực cho vay của các ngân hàng thương mại tại tỉnh Hưng Yên
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THI HÀNH ÁN ĐỐI VỚI CÁC BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN TRONG LĨNH VỰC CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI 1.1 Khái quát chung về thi hành án đối với các bản án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực cho vay của ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm
Theo giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật, trường Đại học Luật
Hà Nội: “Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục đích, định hướng của nhà nước” 1
Pháp luật về thi hành án dân sự là một trong những bộ phận cấu thành nên hệ thống pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Để có thể hiểu rõ hơn về khái niệm pháp luật về thi hành án dân sự nói chung cũng như pháp luật về thi hành
án đối với các bản án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực cho vay nói riêng chúng
ta cần tìm hiểu các khái niệm liên quan như: khái niệm thi hành án, khái niệm thi hành án dân sự
Từ điển Luật học có viết: “Thi hành án là hoạt động của Cơ quan nhà nước
có thẩm quyền được tiến hành theo thủ tục, trình tự được pháp luật quy định nhằm thực hiện các bản án, quyết định đã có hiệu lực của tòa án”2
Liên quan đến khái niệm thi hành án có rất nhiều ý kiến khác nhau nhưng tựu chung lại có ba ý kiến cơ bản:
Trang 15- Ý kiến thứ nhất cho rằng: Thi hành án là một hoạt động tư pháp – hoạt động
tố tụng3 Theo ý kiến này thì có xét xử thì phải có thi hành án Thi hành án củng cố kết quả của công tác xét xử, bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định
- Ý kiến thứ hai cho rằng: Thi hành án là một thủ tục hành chính – tư pháp4
Về bản chất thi hành án là dạng hoạt động chấp hành, quản lý và tiến hành theo phương pháp hành chính bắt buộc Tuy vậy, thi hành án cũng là một dạng của hoạt động tư pháp vì căn cứ để thi hành là các bản án, quyết định của tòa án và thi hành
án được thực hiện bởi các cơ quan tư pháp (theo nghĩa rộng)
- Ý kiến thứ ba cho rằng: Thi hành án là một thủ tục hành chính bởi nó mang tính chấp hành và điều hành
Qua nghiên cứu, học viên thấy ý kiến thứ nhất là có cơ sở hơn cả bởi thi hành
án là hoạt động kết thúc quá trình tố tụng – tư pháp được bắt đầu từ khâu điều tra, truy tố, xét xử qua đó nhằm đảm bảo thực thi bản án, quyết định của tòa án Mục đích của thi hành án là làm cho các bản án, quyết định của tòa án trở lên có hiệu lực trên thực tế Chính vì vậy trong phạm vi luận văn, khái niệm thi hành án được sử dụng sẽ
được giải thích theo từ điển Luật học Theo đó: “ Thi hành án là giai đoạn kết thúc trình tự tố tụng, là khâu cuối cùng kết thúc một vụ án được xét xử nhằm làm cho phán quyết của Tòa án nhất định có hiệu pháp luật Vì vậy bản án sau khi có hiệu lực pháp luật phải được thi hành nghiêm chỉnh” 5
Khái quát lại: Thi hành án dân sự là hoạt động tư pháp do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền tiến hành để làm cho các bản án, quyết định của tòa án về dân
sự, kinh doanh thương mại, hôn nhân và gia đình, lao động, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính và các quyết định khác do cơ quan thi hành án dân sự thực hiện theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức và cá nhân
3 Trường Đại học Luật Hà Nội (2004) giáo trình luật tố tụng hành chính, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr 339
4 Lê Minh Tâm (2001) “Thử bàn mấy vấn đề về thi hành án “, tạp chí Luật học, (02), tr 21-26
5 Từ điển luật học (1999), Nxb Tư pháp, Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội, tr 464
Trang 16Bản án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực cho vay của ngân hàng thương mại: Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng là tình trạng pháp lý trong quan hệ hợp đồng tín dụng, mà ở đó các bên thể hiện sự xung đột hay bất đồng ý chí với nhau
về những quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng tín dụng mà các bên không tự giải quyết được phải khởi kiện ra tòa án nhân dân để giải quyết Từ đó tòa án căn cứ vào hợp đồng tín dụng, xác định vi phạm, nghĩa vụ và phương thức giải quyết trong hợp đồng tín dụng để đưa ra phán quyết nhằm buộc bên vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng tín dụng phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ, bồi thường thiệt hại (nếu có) cho các ngân hàng thương mại
Từ những phân tích nêu trên, có thể hiểu Thi hành án đối với các bản án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực cho vay của ngân hàng thương mại là: hoạt động tư pháp do cơ quan thi hành án dân sự tiến hành được thực hiện theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định để buộc cá nhân, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ, bồi thường thiệt hại cho tổ chức ngân hàng thương mại theo bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực thi hành
1.1.2 Những đặc điểm cơ bản của thi hành đối với các bản án, quyết định của tòa
án trong lĩnh vực cho vay của ngân hàng thương mại
Thứ nhất, THA cho tổ chức ngân hàng thương mại là hoạt động của cơ quan
THADS có thẩm quyền Ở nước ta, hệ thống tổ chức THADS, trừ hệ thống tổ chức THA trong quân đội, được tổ chức và quản lý tập trung, thống nhất ở Trung ương có
cơ quan quản lý THA là Tổng cục THADS trực thuộc Bộ Tư pháp, ở cấp tỉnh có các
cơ quan THA trực tiếp thực hiện nhiệm vụ THA là Cục THADS trực thuộc Tổng cục THADS và ở cấp huyện là Chi cục THADS thuộc Cục THADS
Thứ hai, THA cho tổ chức ngân hàng thương mại để thu hồi các khoản nợ, bồi
thường cho các tổ chức cho tổ chức ngân hàng thương mại được thực hiện theo trình
tự, thủ tục được quy định tại Luật THADS, bao gồm các trình tự, thủ tục như sau: Tiếp nhận đơn yêu cầu THA; ra quyết định THA; thông báo THA; xác minh điều kiện THA; áp dụng biện pháp bảo đảm và cưỡng chế THA; xử lý tài sản bảo đảm, tài
Trang 17sản đã cưỡng chế kê biên
Thứ ba, THA cho tổ chức ngân hàng thương mại liên quan đến việc áp dụng
pháp luật ở nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội
THA cho tổ chức ngân hàng thương mại liên quan đến việc thu hồi các khoản
nợ, bồi thường cho tổ chức ngân hàng thương mại theo các bản án, quyết định về kinh doanh thương mại trong nhiều hoạt động của đời sống xã hội, đặc biệt là sự đa dạng, phong phú về chủ thể là người phải THA (cá nhân, doanh nghiệp, cơ quan nhà nước,
tổ chức chính trị - xã hội) và tài sản đảm bảo THA (tàu bay, tàu biển, ô tô, quyền sử dụng đất, nhà ở, dây chuyền sản xuất, nhà xưởng, cổ phiếu, vốn góp ) Do đó, để đảm bảo hiệu quả THA, Chấp hành viên-là người được thủ trưởng cơ quan THA giao nhiệm vụ trực tiếp tổ chức THA, Cơ quan THADS phải áp dụng các quy phạm pháp luật ở nhiều lĩnh vực khác nhau như: Bộ luật dân sự; Luật THADS; Luật đất đai; Luật doanh nghiệp; Luật các tổ chức tín dụng; Luật đầu tư; Luật nhà ở; Luật chứng khoán; Luật phá sản, Luật hàng hải; Luật hàng không dân dụng Việt Nam; Luật ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Bộ luật lao động…
Từ việc cho tổ chức ngân hàng thương mại chịu sự điều chỉnh của pháp luật trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội nên yêu cầu đặt ra là Chấp hành viên phải thận trọng trong việc lựa chọn quy phạm pháp luật để áp dụng cũng như đề cao tính trách nhiệm, độc lập trong quá trình THA Hơn nữa, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội chưa thực sự đồng bộ, thống nhất nên việc THA cho tổ chức ngân hàng thương mại thường mất nhiều thời gian, chí phí tuân thủ pháp luật, nhất là việc xác minh điều kiện THA, xử lý tài sản đảm bảo THA
Thứ tư, THA cho tổ chức ngân hàng thương mại đề cao quyền tự định đoạt và
thỏa thuận của các đương sự
Do THA cho tổ chức ngân hàng thương mại không chỉ liên quan đến người phải THA, người được THA mà còn là mối quan hệ giữa tổ chức ngân hàng thương mại và khách hàng nên nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình THA là tôn trọng quyền thỏa thuận và tự định đoạt của các đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Trang 18Ngay từ khi bản án, quyết định có hiệu lực thi hành, người được THA có quyền quyết định về việc yêu cầu THA; thời điểm yêu cầu THA trong thời hiệu pháp luật quy định; các đương sự có quyền thỏa thuận về thời gian, biện pháp THA, cách thức xử
lý tài sản; hoãn THA; lựa chọn tổ chức thẩm định giá, bán đấu giá tài sản; về miễn, giảm nghĩa vụ THA Trên cơ sở các thỏa thuận, quyền tự định đoạt của các đương
sự, trong quá trình THA, Chấp hành viên, cơ quan THADS có thể lựa chọn biện pháp thích hợp để việc THA nhanh chóng, hiệu quả (lựa chọn áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế THA; lựa chọn phương thức bán đấu giá tài sản…)
Tuy nhiên, do đặc thù của THA cho tổ chức ngân hàng thương mại liên quan đến việc THA có giá trị lớn; khả năng thực hiện nghĩa vụ của người phải THA thấp
do việc sử dụng các khoản vay trước đó không hiệu quả; quá trình THA liên quan nhiều đến đời sống, hoạt động sản xuất kinh doanh của người phải THA, nhất là doanh nghiệp, vì vậy trong quá trình THA cho tổ chức ngân hàng thương mại, nguyên tắc tôn trọng quyền thỏa thuận và tự định đoạt của các đương sự càng phải được đề cao hơn và có thể coi là đặc điểm quan trọng của THA cho tổ chức ngân hàng thương mại Thực tiễn cũng cho thấy rằng các việc THA cho tổ chức ngân hàng thương mại đều liên quan đến việc xử lý tài sản đảm bảo theo các hợp đồng tín dụng trước đó, do vậy hiệu quả THA cho tổ chức ngân hàng thương mại phụ thuộc nhiều vào quyền định đoạt và sự thỏa thuận của tổ chức tín dụng ngân hàng là người được THA với người phải THA trong những điều kiện cụ thể, nhất là trường hợp người phải THA
là các doanh nghiệp (Tổ chức ngân hàng thương mại có thể thỏa thuận với người phải THA về việc hoãn THA trong thời hạn nhất định; thỏa thuận về việc khai thác tài sản
kê biên; thỏa thuận về tiến độ thanh toán nợ; mua bán nợ )
Thứ năm, điều kiện THA và việc xử lý tài sản của người phải THA gặp nhiều
khó khăn, tốn kém thời gian và chi phí tuân thủ pháp luật
Bản án, quyết định có hiệu lực thi hành liên quan đến các tổ chức ngân hàng thương mại là hệ quả của việc các bên không thực hiện đúng cam kết theo các hợp đồng tín dụng trước đó và phát sinh tranh chấp, chủ yếu là khi bên vay không thực
Trang 19hiện đúng cam kết thanh toán nợ Mặc dù hầu hết các vụ việc người phải THA đều
có tài sản thế chấp, bảo lãnh nhưng đến giai đoạn THA thì việc xử lý tài sản của người phải THA cũng gặp nhiều khó khăn, thậm chí có trường hợp người phải THA đã phá sản Theo quy trình THA, để có cơ sở tổ chức THA cho tổ chức ngân hàng thương mại, Chấp hành viên phải xác minh điều kiện THA, tuy nhiên vì đối tượng là người phải THA rất đa dạng, phong phú nên việc xác minh gặp nhiều khó khăn, mất nhiều thời gian, nhất là xác minh điều kiện THA của người phải THA là doanh nghiệp (Chấp hành viên phải xác minh vốn, tài sản của doanh nghiệp; cam kết và trách nhiệm góp vốn của các thành viên; khả năng trách nhiệm THA theo loại hình doanh nghiệp ) và xử lý tài sản đảm bảo THA
1.1.3 Tiêu chí đánh giá hiệu quả thi hành án đối với các bản án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực cho vay của ngân hàng
Trong công tác THADS, nhìn nhận hiệu quả trên cơ sở so sánh kết quả và mục đích, có thể quan niệm tiêu chí đánh giá hiệu quả THADS là những tính chất, dấu hiệu để xác định mức độ đạt được mục đích THADS, hay nói cách khác đó là những căn cứ đánh giá kết quả, tác động của hoạt động THADS trong một hoặc nhiều việc THA cụ thể ở từng thời điểm nhất định
Hiệu quả THADS có thể được đánh giá theo các tiêu chí khác nhau tùy thuộc vào cách tiếp cận Về nguyên tắc, đánh giá hiệu quả THADS cần căn cứ vào sự so sánh, mối tương quan giữa kết quả thu được tối đa so với chi phí đạt được kết quả THA ở mức tối thiểu Tuy nhiên, với tính chất đặc thù của THADS, việc đánh giá chính xác, toàn diện hiệu quả THADS là một việc rất khó khăn, phức tạp và tùy vào các tiêu chí được xác định ban đầu Thực tiễn cho thấy hiệu quả THADS không chỉ đánh giá thuần tuý về mặt số học, về mặt định lượng mà còn phải đánh giá cả về mặt định tính, bởi vì với mục đích đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đảm bảo trật
tự pháp luật tại mà địa bàn cụ thể thì chi phí thực tế bỏ ra có thể lớn hơn giá trị thu được, thậm chí hiệu quả THA lúc đó không chỉ dừng ở thời điểm kết thúc việc THA
mà còn thể hiện ở hiệu ứng, ảnh hưởng tích cực sau này về mặt xã hội (ý thức pháp
Trang 20luật của cá nhân, tổ chức được nâng cao; sự thay đổi tích cực trong nhận thức và hành
vi của các tổ chức, cá nhân đối với công tác THA hay đối với một việc THA cụ thể); mức độ giảm thiểu chi phí nguồn lực con người, thời gian cho quá trình tổ chức THA
Từ những phân tích nêu trên, có thể đưa ra một số tiêu chí cơ bản đánh giá hiệu quả THA cho các tổ chức ngân hàng thương mại như sau:
- Tiêu chí 1: Mức độ đạt được mục đích, yêu cầu THA
Mục đích của THA cho các tổ chức ngân hàng thương mại là đảm bảo thi hành trên thực tế các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thực hiện hóa các quyền và lợi ích hợp pháp của các ngân hàng thương mại theo bản án, quyết định của tòa án
Khi bản án, quyết định có hiệu lực được đưa ra thi hành thì các đương sự, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đặc biệt là người được THA đều mong muốn bản án, quyết định được thi hành nghiêm chỉnh để thu hồi được tiền, tài sản Tuy nhiên, điều kiện THA của người phải THA và khả năng thực hiện nghĩa vụ lại
có ý nghĩa quyết định đến kết quả THA Bởi, nếu người phải THA chưa có điều kiện THA thì cho dù cơ quan THADS có tác động, thuyết phục thì vụ việc vẫn thuộc diện chưa có điều kiện thi hành, hoặc trường hợp tuy có điều kiện thi hành nhưng do người phải THA chống đối hay có những yếu tố tác động, ảnh hưởng tiêu cực khác làm cho việc xử lý tài sản gặp nhiều khó khăn thì mục đích THA cũng khó đạt được
Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả THA cho các tổ chức ngân hàng thương mại cần phải tính đến số lượng các việc có điều kiện thi hành và tính khả thi của việc xử
lý tài sản bảo đảm để THA
- Tiêu chí 2: Kịp thời thực hiện trình tự, thủ tục THA
Khi việc THA được xác định có điều kiện thi hành, Chấp hành viên, cơ quan THADS phải tiến hành áp dụng pháp luật theo các trình tự, thủ tục pháp luật quy định nhằm thu được tiền, tài sản cho người được THA là các tổ chức ngân hàng thương mại Vì vậy, hiệu quả thi hành cho các tổ chức ngân hàng thương mại cần dựa trên sự
Trang 21kịp thời thực hiện các trình tự, thủ tục THA Kết quả của hoạt động THA được thể hiện qua việc người phải THA hợp tác hay cản trở, trốn tránh việc THA; sự thay đổi tích cực trong nhận thức, hành vi, sự ủng hộ, phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan; sự công bằng, bình đẳng giữa các bên; tính khả thi của việc kê biên, xử lý tài sản thế chấp, bảo lãnh để thi hành nghĩa vụ; tính chính xác của việc áp dụng pháp luật của Chấp hành viên trong quá trình THA (vì nếu áp dụng pháp luật không đúng thì sẽ dẫn đến khiếu nại, tố cáo làm cho quá trình THA bị gián đoạn hoặc bị hủy)
Do đó, để đáp ứng tiêu chí này, Chấp hành viên phải nắm vững quy định pháp luật, thường xuyên cập nhật thông tin, điều kiện của người phải THA cũng như những mong muốn của các bên liên quan ở từng thời điểm nhất định để có thể lựa chọn biện pháp, cách thức áp dụng pháp luật phù hợp với thực tế diễn biến của quá trình THA (ví dụ như: sự thỏa thuận của đương sự về việc nhận tài sản để trừ vào tiền phải THA; thỏa thuận về việc giảm một phần nghĩa vụ THA)
- Tiêu chí 3: Giá trị thực tế thu được trong quá trình THA
Một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá hiệu quả THA cho các tổ chức ngân hàng thương mại là phải căn cứ vào những kết quả thực tế do tác động của hoạt động THA mang lại Quá trình THA, cơ quan THADS phải giành các nguồn lực nhất định (nguồn lực con người; trang thiết bị, phương tiện làm việc; chi phí cho việc xác minh, thẩm định tài sản; thù lao cho các cơ quan, đơn vị phối hợp cưỡng chế), do
đó khi kết thúc một giai đoạn hay một việc THA hoặc xử lý xong tài sản đảm bảo thì phải xác định được các kết quả đạt được về giá trị định lượng qua quá trình THA đó: giá trị tiền, tài sản thu được sau khi trừ các chi phí thực tế và các chi phí pháp luật quy định (phí THA; chi phí thẩm định giá ) Với tiêu chí này, hiệu quả THA được thể hiện ở kết quả THA về giá trị, qua đó có thể xác định chính xác tỷ lệ (%) về giá trị mà người phải THA đã thi hành được cho người được THA Hay nói cách khác tiêu chí này là cơ sở đánh giá hiệu quả THA cho các tổ chức ngân hàng thương mại thông qua mức độ, kết quả thực hiện nghĩa vụ mang tính định lượng về giá trị của người phải THA theo bản án, quyết định có hiệu lực thi hành
Trang 221.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thi hành án đối với các bản án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực cho vay của ngân hàng thương mại
Hiệu quả THADS nói chung, hiệu quả THA cho các tổ chức ngân hàng thương mại nói riêng phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan nhất định Từ thực tiễn THA cho các tổ chức ngân hàng thương mại, có thể nhận diện một số yếu tố cơ bản sau đây ảnh hưởng đến hiệu quả THA cho các tổ chức ngân hàng thương mại:
Thứ nhất, hệ thống pháp luật
Hệ thống pháp luật là cơ sở cho hoạt động thi hành nhưng cũng là yếu tố ảnh hưởng, chi phối mang tính quyết định đối với hiệu quả THADS nói chung, THA cho các tổ chức ngân hàng thương mại nói riêng Hệ thống pháp luật là cơ sở cho Chấp hành viên, cơ quan THADS tổ chức THA được quy định trong Luật THADS, Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, Nghị Quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc Hội về thí điểm
xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng Vì vậy, để hoạt động THA có hiệu lực, hiệu quả thì các quy định pháp luật phải thống nhất, đồng bộ, minh bạch và khả thi Điều này đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền phải không ngừng hoàn thiện các quy định pháp luật, kịp thời bãi bỏ các quy định không khả thi và bổ sung các quy định mới phù hợp với tình hình, yêu cầu công tác THA (Ví dụ như cần sửa đổi, bổ sung quy định hiện hành về đăng ký tài sản, đăng ký giao dịch bảo đảm, xử lý vi phạm hành chính, xử lý hình sự trong THADS thực sự có tính khả thi và đảm bảo tính nghiêm minh của hoạt động THA)
Thứ hai, năng lực tổ chức THA của Chấp hành viên
Theo quy định của Luật THADS, Chấp hành viên là người có thẩm quyền tổ chức THA với nhiệm vụ, quyền hạn là: Kịp thời tổ chức thi hành vụ việc được phân công; ra các quyết định về THA theo thẩm quyền; Thi hành đúng nội dung bản án, quyết định; áp dụng đúng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục THA, bảo đảm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi,
Trang 23nghĩa vụ liên quan; thực hiện nghiêm chỉnh chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp Chấp hành viên
Các nhiệm vụ, quyền hạn như vậy đã khẳng định vai trò trung tâm của Chấp hành viên trong việc đảm bảo tính khả thi, hiệu quả thi hành các bản án, quyết định
có hiệu lực pháp luật, hay nói cách khác là hiệu quả THA phụ thuộc chủ yếu vào năng lực tổ chức THA của Chấp hành viên (kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, phẩm chất chính trị, đạo đức, khả năng áp dụng chính xác pháp luật trong thực thi nhiệm vụ )
Thực tế thời gian qua cho thấy rằng số việc các cơ quan THADS phải tổ chức thi hành ngày càng tăng, nhất là có nhiều việc cho các tổ chức ngân hàng thương mại
có giá trị phải thi hành rất lớn, phức tạp, do đó để đảm bảo hiệu quả THA cho các tổ chức ngân hàng thương mại thì đội ngũ Chấp hành viên cần được đào tạo, tập huấn thường xuyên để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, bản lĩnh, trách nhiệm và phải được bố trí, phân công tổ chức THA phù hợp với các ngạch Chấp hành viên (sơ cấp, trung cấp và cao cấp) Ngoài ra, để đảm bảo năng lực tổ chức THA của Chấp hành viên thì việc lựa chọn, bổ nhiệm Chấp hành viên cần đảm bảo đúng các điều kiện theo quy định để quá trình tổ chức THA tín dụng ngân hàng thực sự là quá trình thực thi công lý, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, trong đó thước đo quan trọng nhất là giá trị tiền, tài sản thu hồi cho các tổ chức tín dụng, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
Thứ ba, các điều kiện đảm bảo cho hoạt động của Chấp hành viên, cơ quan THADS
Quá trình tổ chức THA là quá trình Chấp hành viên phải đối mặt với nhiều khó khăn, áp lực như: yêu cầu tuân thủ pháp luật, sự cản trở, chống đối của người phải THA; sự tác động, chi phối của các cơ quan, tổ chức liên quan Do đó, để Chấp hành viên thực sự độc lập, tuân thủ pháp luật trong quá trình THA cũng như đảm bảo hiệu quả THA thì các điều kiện đảm bảo cho hoạt động của Chấp hành viên cũng có
ý nghĩa quan trọng Trong thời gian qua, Chấp hành viên các cơ quan THADS đã được trang bị tương đối đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện làm việc (ô
Trang 24tô, xe máy, công cụ hỗ trợ, trang phục ) và chế độ đãi ngộ nhất định để đảm bảo thực thi nhiệm vụ
Tuy nhiên, do THA cho các tổ chức ngân hàng thương mại liên quan đến các việc THA có giá trị lớn, tính chất phức tạp, khó khăn ngày càng nhiều, việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên phụ thuộc quá nhiều vào sự phối hợp, hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức liên quan, vì vậy để đảm bảo hiệu quả THA cho các tổ chức ngân hàng thương mại thì các cơ quan THADS quan tâm hơn nữa đến các điều kiện đảm bảo cho hoạt động của Chấp hành viên, đặc biệt là về kinh phí phục vụ cho việc xử lý tài sản; tăng thẩm quyền cho Chấp hành viên; nâng cao hiệu quả công tác phối hợp của các cơ quan, tổ chức liên quan
Thứ tư, ý thức chấp hành pháp luật của đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan
Yêu cầu chấp hành nghiêm chỉnh các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật
là nguyên tắc có tính hiến định, do đó, hiệu quả THA phụ thuộc nhiều vào ý thức chấp hành pháp luật của các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan Thực tiễn cho thấy rằng các bản án, quyết định được đưa ra thi hành là kết quả hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng trong một thời gian nhất định, theo đó các đương sự liên quan đã phải tốn nhiều thời gian, chi phí cho quá trình tố tụng, do đó đến giai đoạn THA nếu các đương sự nhận thức đầy đủ được trách nhiệm, nghĩa vụ THA và
tự nguyện, tích cực phối hợp thi hành thì sẽ tạo thuận lợi, đảm bảo hiệu quả THA
Tuy nhiên, quá trình THADS, đặc biệt là THA cho các tổ chức ngân hàng thương mại liên quan, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tài sản và giá trị phải thi hành lớn nên tâm lý, thái độ của đương sự đối với việc THA thường có tính đối ngược nhau Các tổ chức ngân hàng thương mại là người được THA mong muốn nhanh chóng thu hồi được nợ, trong khi người phải THA mặc dù có điều kiện THA nhưng thường có tâm lý trì hoãn, cản trở, tìm mọi cách kéo dài quá trình THA Do đó, để nâng cao hiệu quả THA cho các tổ chức ngân hàng thương mại thì Chấp hành viên không chỉ làm tốt công tác xác minh, áp dụng các biện pháp THA phù hợp, đúng pháp
Trang 25luật mà còn chú ý làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật để đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có ý thức, trách nhiệm chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, giảm thiểu sự cản trở, can thiệp trái pháp luật cũng như khiếu nại, tố cáo trong quá trình tổ chức THA
1.2 Vai trò của thi hành án đối với các bản án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực cho vay của ngân hàng thương mại
1.2.1 Thi hành án đối với các bản án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực cho vay của ngân hàng thương mại góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các ngân hàng thương mại
Thực tiễn cho thấy rằng, thông qua THA cho tổ chức ngân hàng thương mại, các phán quyết, quyết định liên quan đến việc thu hồi nợ cho các tổ chức ngân hàng thương mại được thực thi, đảm bảo công lý trong đời sống xã hội Do đó, kết quả THA cho tổ chức ngân hàng thương mại có thể coi là thước đo mức độ bảo đảm, bảo
vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, các tổ chức, cá nhân liên quan, đặc biệt
là của các tổ chức ngân hàng thương mại Điều này cũng có nghĩa là hiệu quả THA cho tổ chức ngân hàng thương mại được thể hiện qua kết quả về giá trị thu hồi nợ cho các tổ chức ngân hàng thương mại, vì vậy, trong quá trình THA, nếu các cơ quan THADS thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình thì mục đích bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức ngân hàng sẽ đạt được và góp phần đảm bảo trật tự an toàn xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân đối với công lý, tính nghiêm minh của pháp luật; góp phần giảm nợ xấu, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế -
xã hội
1.2.2 Thi hành án đối với bản án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực cho vay ngân hàng thương mại góp phần nâng cao chất lượng hoạt động xét xử, giải quyết các tranh chấp về tín dụng ngân hàng
Kết quả xét xử, giải quyết tranh chấp của Tòa án và cơ quan, tổ chức có thẩm quyền là các bản án, quyết định, trong đó xác định cụ thể quyền, nghĩa vụ của các đương sự Tuy nhiên, vấn đề quan trọng hơn mà các đương sự, đặc biệt là người được
Trang 26THA quan tâm là hiệu lực, hiệu quả thực thi các phán quyết, quyết định đó trong đời sống xã hội thông qua hoạt động của cơ quan THADS Điều này cũng có nghĩa là thông qua các trình tự, thủ tục THA thì các bản án, quyết định mới có hiệu lực thực
tế, đồng thời tính thực tế, khả thi của các bàn án, quyết định cũng là cơ sở kiểm chứng chất lượng hoạt động xét xử, giải quyết tranh chấp để từ đó Tòa án, cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền có thể nhận diện những tồn tại, hạn chế trong hoạt động của mình để nâng cao chất lượng xét xử, giải quyết tranh chấp
Đối với hoạt động THA cho tổ chức ngân hàng thương mại, hiệu lực, hiệu quả THA phụ thuộc vào khả năng, kết quả xử lý tài sản của người phải THA, đặc biệt là các tài sản đảm bảo; tính khả thi và kết quả xử lý tài sản đảm bảo trong quá trình THA cho ngân hàng thương mại là một yếu tố quan trọng khẳng định chất lượng xét xử, giải quyết tranh chấp liên quan đến tín dụng ngân hàng, bởi vì thực tế cho thấy còn
có những bản án, quyết định chưa chính xác, khách quan, gây bức xúc cho đương sự
và khó khăn cho cơ quan THA
1.2.3 Thi hành các bản án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực cho vay của các ngân hàng thương mại góp phần nâng cao ý thức pháp luật, trách nhiệm của các
cá nhân, tổ chức trong xã hội
THA cho các tổ chức ngân hàng thương mại liên quan đến nghĩa vụ trả nợ cho các tổ chức ngân hàng theo các bản án, quyết định có hiệu lực thi hành, do đó việc tổ chức THA đòi hỏi không chỉ ở tính chủ động, trách nhiệm của cơ quan THADS mà còn cần có sự tích cực, phối hợp có hiệu quả của các cơ quan, tổ chức liên quan, sự ủng hộ của xã hội Thông qua quá trình THA, các cá nhân, tổ chức trong xã hội sẽ nhận thức rõ hơn ý thức, trách nhiệm của mình đối với việc nghiêm chỉnh chấp hành các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, đảm bảo giá trị công lý trong đời sống
xã hội, nhất là khi cơ quan THADS tổ chức cưỡng chế đối với những cá nhân, tổ chức
cố tình trốn tránh, chây ỳ, cản trở, chống đối việc THA
Bên cạnh đó, quá trình THA cho các tổ chức ngân hàng thương mại còn có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao ý thức trách nhiệm, sự thận trọng của các cá
Trang 27nhân, tổ chức và các ngân hàng trước khi tham gia các giao dịch, hợp đồng tín dụng (điều kiện tài sản, sự thận trọng khi thẩm định cho vay, tính khả thi của việc thực hiện nghĩa vụ ) nhằm giảm thiểu các rủi ro, tranh chấp phát sinh khi thực hiện các giao dịch, hợp đồng tín dụng cũng như những khó khăn trong việc thu hồi nợ
Trang 28KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương 1 này, học viên đã làm rõ được khái niệm về thi hành các bản
án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực cho vay của ngân hàng thương mại, phân tích các đặc điểm về thi hành án trong lĩnh vực này Đồng thời làm rõ các tiêu chí đánh giá tính hiệu quả cũng như những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả về thi hành án trong lĩnh vực cho vay của các ngân hàng thương mại
Căn cứ vào các quy định của Hiến pháp, các quy định của pháp luật thi hành
án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014 cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành, từ đó làm rõ nội dung, ý nghĩa, vai trò của cơ quan Thi hành án dân sự
là rất quan trọng trong việc giải quyết, tổ chức thi hành các bản án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực cho vay của các ngân hàng thương mại
Từ những phân tích trên, học viên khẳng định chắc chắn hơn về vai trò của thi hành án dân sự trong giải quyết, thi hành các bản án, quyết định trong lĩnh vực cho vay của các ngân hàng thương mại Đồng thời đây cũng là cơ sở cho việc phân tích, đánh giá thực tiễn cụ thể các quy định của pháp luật cũng như thực tiễn thi hành các bản án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực cho vay tại tỉnh Hưng Yên ở chương 2
Trang 29Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH CÁC BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN TRONG LĨNH VỰC CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
TẠI TỈNH HƯNG YÊN 2.1 Thực trạng pháp luật về thi hành án đối với các bản án, quyết định của tòa
án
2.1.1 Về hệ thống tổ chức thi hành án dân sự
Theo quy định tại Điều 13 Luật THADS và Điều 52 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS, hệ thống tổ chức THADS ở cấp tỉnh (trừ hệ thống
tổ chức THA trong quân đội), được tổ chức, quản lý tập trung, thống nhất, bao gồm:
- Ở cấp tỉnh: Cục THADS tỉnh Hưng Yên Tại Cục THADS, cơ cấu tổ chức
bao gồm: Văn phòng; Phòng Tổ chức cán bộ; Phòng Kiểm tra giải quyết khiếu nại,
tố cáo; Phòng Nghiệp vụ và tổ chức THA
- Ở cấp huyện: Chi cục THADS thành phố thuộc tỉnh, thị xã, huyện (gọi chung
là Chi cục THADS) là cơ quan THADS trực thuộc Cục THADS Hiện tại thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên có 10 Chi cục huyện, thành phố, thị xã
2.1.2 Về chức năng thi hành án dân sự
Trong hệ thống THADS, chỉ có các cơ quan THADS (Cục THADS và Chi cục THADS) có chức năng thi hành các bản án, quyết định dân sự, hình phạt tiền, tịch thu
tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Tòa án, quyết định của Tòa án giải quyết phá sản, quyết định xử lý
vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của
bên phải thi hành và phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại (gọi chung là
Trang 30bản án, quyết định) Tuy nhiên, tùy thuộc vào sự phân cấp, pháp luật quy định cụ thể
nhiệm vụ, quyền hạn về quản lý, chỉ đạo, phối hợp theo thẩm quyền của Cục THADS
và Chi cục THADS trong hoạt động THA Cụ thể là theo quy định của Điều 14 và Điều 35 Luật THADS:
- Chi cục THADS có thẩm quyền thi hành: Bản án, quyết định sơ thẩm của
Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương nơi cơ quan THADS có trụ sở; Bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đối với bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương nơi cơ quan THADS cấp huyện có trụ sở; Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương nơi cơ quan THADS có trụ sở; Bản án, quyết định do Chi cục THADS nơi khác, Cục THADS hoặc cơ quan THA cấp quân khu ủy thác
- Cục THADS có thẩm quyền thi hành: Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa
án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trên cùng địa bàn; Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp cao; Quyết định của TANDTC chuyển giao cho Cục THADS; Bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài được Tòa án công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; Phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại; Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý
vụ việc cạnh tranh; Bản án, quyết định do cơ quan THADS nơi khác hoặc cơ quan THA cấp quân khu ủy thác; Bản án, quyết định thuộc thẩm quyền thi hành của Chi cục THADS mà thấy cần thiết lấy lên để thi hành; Bản án, quyết định quy định thuộc thẩm quyền của Chi cục THADS mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp về THA
Với phạm vi bản án, quyết định thuộc chức năng thi hành của cơ quan THADS nêu trên, các bản án, quyết định liên quan đến các ngân hàng thương mại thuộc thẩm quyền thi hành của cơ quan THADS theo trình tự, thủ tục về THADS và người được
Trang 31giao nhiệm vụ tổ chức THA là Chấp hành viên được Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm Thực tế cho thấy rằng THA các bản án, quyêt định của tòa án trong lĩnh vực cho vay của ngân hàng thương mại chủ yếu liên quan đến nghĩa vụ của người phải THA phải thanh toán tiền cho tổ chức ngân hàng thương mại theo bản án, quyết định về kinh doanh thương mại số tiền thường có giá trị lớn và liên quan đến việc xử lý nhiều loại tài sản đảm bảo Vì vậy, việc THA trong lĩnh vực của ngân hàng thương mại càng có
ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ đối với việc đảm bảo thu hồi các khoản nợ, bồi thường cho ngân hàng mà còn góp phần đảm bảo sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội
2.1.3 Các quy định về thủ tục thi hành các bản án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực cho vay của ngân hàng thương mại
Đối với phần bản án, quyết định thuộc diện ra quyết định THA theo yêu cầu
mà các ngân hàng thương mại là người được THA, cơ quan THADS có thẩm quyền
ra quyết định THA trên cơ sở đơn yêu cầu THA của tổ chức ngân hàng thương mại khi đáp ứng các nội dung, điều kiện pháp luật quy định
2.1.3.2 Thông báo về thi hành án
Trên cơ sở quyết định THA được ban hành, Thủ trưởng cơ quan THADS có thẩm quyền phân công Chấp hành viên tổ chức THA Chấp hành viên được phân công
Trang 32tổ chức THA phải lập hồ sơ THA và thực hiện việc thông báo THA theo quy định pháp luật Cụ thể như: Chấp hành viên thông báo các quyết định THA, giấy báo, giấy triệu tập và văn bản khác có liên quan đến việc THA cho đương sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan để họ thực hiện quyền, nghĩa vụ theo nội dung của các văn bản
đó
Để đảm bảo tính minh bạch trong việc THA, pháp luật quy định việc thông báo THA có thể được thực hiện theo các hình thức: Thông báo trực tiếp hoặc qua cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định pháp luật; Niêm yết công khai; Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng
2.1.3.3 Xác minh điều kiện thi hành án
Xác minh điều kiện THA là một thủ tục quan trọng do Chấp hành viên tiến hành nhằm xác định khả năng, điều kiện thi hành nghĩa vụ của người phải THA
Theo quy định của Luật THADS, sau khi thực hiện thông báo THA, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện THA mà người phải THA không tự nguyện thi hành thì Chấp hành viên được phân công tổ chức thi hành vụ việc tiến hành xác minh điều kiện thi hành (trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải tiến hành xác minh ngay)
Quá trình xác minh điều kiện THA, Chấp hành viên xác minh cụ thể tài sản, tài sản, thu nhập, các điều kiện khác để THA; đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, sử dụng hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm thì Chấp hành viên còn phải xác minh tại cơ quan có chức năng quản lý, đăng ký tài sản, giao dịch bảo đảm đó
Trường hợp người phải THA chưa có điều kiện THA thì cơ quan THADS phải
ra quyết định về việc THA chưa có điều kiện thi hành và đăng tải công khai trên Trang thông tin điện tử về THADS và gửi cho UBND cấp xã nơi xác minh để niêm yết Đối với trường hợp người phải THA có điều kiện thi hành thì Chấp hành viên cơ quan THADS tiếp tục thực hiện các biện pháp tổ chức THA theo quy định pháp luật
Trang 332.1.3.4 Áp dụng biện pháp bảo đảm và cưỡng chế thi hành án
Sau khi xác minh điều kiện THA, nếu người phải THA có điều kiện thi hành thì Chấp hành viên có quyền áp dụng biện pháp bảo đảm và cưỡng chế THA
Chấp hành viên có quyền tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của đương
sự áp dụng ngay biện pháp bảo đảm THA nhằm ngăn chặn việc người phải THA hoặc người thứ ba đang giữ tài sản của người phải THA thực hiện việc tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh việc THA Khi áp dụng biện pháp bảo đảm THA, Chấp hành viên không phải thông báo trước cho đương sự Người yêu cầu Chấp hành viên áp dụng biện pháp bảo đảm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình Trong trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp bảo đảm hoặc cho người thứ ba thì phải bồi thường Các biện pháp bảo đảm THA pháp luật quy định cho Chấp hành viên được áp dụng là: Phong toả tài khoản; tạm giữ tài sản, giấy tờ; Tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản
Trên cơ sở áp dụng các biện pháp bảo đảm hoặc sau khi người phải THA được
thông báo các quyết định về THA, hết thời hạn tự nguyện THA (10 ngày, kể từ ngày người phải THA nhận được quyết định THA hoặc được thông báo hợp lệ quyết định THA) nếu người phải THA có điều kiện THA mà không tự nguyện THA thì bị cưỡng
chế CHV có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế THA sau đây:
+ Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải THA
+ Trừ vào thu nhập của người phải THA
+ Kê biên, xử lý tài sản của người phải THA, kể cả tài sản đang do người thứ
ba giữ
+ Khai thác tài sản của người phải THA
+ Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ
+ Buộc người phải THA thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định
Trang 342.1.3.5 Xử lý tài sản bảo đảm, tài sản đã cưỡng chế kê biên
Theo quy định pháp luật, tùy từng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế, Chấp hành viên phải thực hiện các trình tự, thủ tục xử lý tài sản để THA
Theo quy định của pháp luật THADS, việc xử lý tài sản kê biên để THA được thực hiện theo trình tự sau:
+ Định giá tài sản: Xuất phát từ việc kê biên, xử lý tài sản để THA cho ngân hàng thương mại là để bán tài sản, thu hồi tiền cho Ngân hàng, vì vậy để có cơ sở bán tài sản kê biên thì phải định giá tài sản nhằm xác định giá khởi điểm để bán đấu giá
và để đối trừ với nghĩa vụ phải THA trong trường hợp người được THA nhận tài sản
để trừ vào số tiền phải THA Việc định giá tài sản có thể thông qua thỏa thuận của đương sự hoặc thông qua tổ chức dịch vụ thẩm định giá tài sản (theo hợp đồng dịch
vụ thẩm định giá) Tuy nhiên, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
và tổ chức, cá nhân liên quan, pháp luật còn quy định về việc định giá lại khi phát hiện có sai phạm nghiêm trọng dẫn đến sai lệch kết quả định giá (ví dụ: việc ký kết hợp đồng thẩm định giá với tổ chức không có chức năng thẩm định giá; không tham khảo ý kiến bằng văn bản của cơ quan chuyên môn trong trường hợp Chấp hành viên định giá) hoặc đương sự có yêu cầu định giá lại trước khi có thông báo về việc bán đấu giá tài sản (việc yêu cầu định giá lại đối với tài sản kê biên chỉ được thực hiện 01 lần và chỉ được chấp nhận khi người yêu cầu có đơn trong thời hạn 05 ngày làm việc,
kể từ ngày nhận được thông báo về kết quả thẩm định giá và phải nộp ngay tạm ứng chi phí định giá lại tài sản)
+ Giao tài sản kê biên để THA: Trên cơ sở kết quả xác định giá tài sản kê biên,
việc xử lý tài sản để THA có thể được thực hiện bằng hình thức giao tài sản kê biên
để THA (Nếu đương sự thỏa thuận để người được THA nhận tài sản đã kê biên để trừ
vào số tiền được THA thì CHV lập biên bản về thỏa thuận đó; việc giao tài sản để trừ vào số tiền được THA được thực hiện trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày có
thỏa thuận) và bán đấu giá tài sản (thực tế cho thấy rằng tài sản kê biên trong các
việc THA cho Ngân hàng thương mại hầu như đều có giá trị lớn hơn 10.000.000 đồng
Trang 35nên Chấp hành viên phải thực hiện ký hợp đồng với tổ chức bán đấu giá để bán tài sản)
Như vậy, trên cơ sở thực hiện các biện pháp cưỡng chế THA, kết quả xử lý tài sản, bán đấu giá tài sản, người được THA là các ngân hàng thương mại sẽ được nhận tiền THA hoặc nhận tài sản để trừ vào số tiền được THA trong từng vụ việc cụ thể theo quy định pháp luật
Ngoài các trình tự, thủ tục cơ bản được khái quát ở trên, trong quá trình tổ chức THA cho các ngân hàng thương mại, tùy từng trường hợp Chấp hành viên và
cơ quan THADS còn thực hiện các trình tự, thủ tục khác như: ủy thác THA; hoãn THA; tạm đình chỉ THA; đình chỉ THA; thu phí THADS
2.1.4 Các quy định về biện pháp bảo đảm và cưỡng chế thi hành án để thi hành cho các Ngân hàng thương mại
2.1.4.1 Các quy định về biện pháp bảo đảm THA trong tổ chức thi hành các bản án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực cho vay của ngân hàng thương
Trong quá trình tổ chức THA, Chấp hành viên đã gặp rất nhiều trường hợp người phải THA có tài sản nhưng cố tình trốn tránh, tẩu tán, hủy hoại tài sản dẫn đến không còn điều kiện THA Trong khi đó, thời gian từ khi có bản án, quyết định THA, xác minh đến khi tổ chức cưỡng chế phải thực hiện khá nhiều thủ tục có thể ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công tác THADS Để ngăn chặn các hành vi nêu trên của người phải THA, kịp thời khắc phục những bất cập và tạo hành lang pháp lý cho Chấp hành viên thực thi nhiệm vụ, biện pháp bảo đảm THA và những nội dung liên quan trong quá trình ban hành và tổ chức thực hiện các biện pháp bảo đảm THA được quy định tại nhiều điều, khoản của Luật THADS năm 2008 (13/183 điều, gồm: Khoản
5 Điều 20, khoản 3 Điều 31, khoản 2 Điều 45 và 04 điều tại Mục 1 Chương IV, từ Điều 66 đến Điều 69, khoản 1 Điều 130, Điểm a, b khoản 2 Điều 140, khoản 1 và 2 Điều 146, Điều 175, khoản 2 Điều 176 và khoản 2 Điều 177) Các quy định trên của Luật THADS đã được quy định chi tiết và hướng dẫn cụ thể tại Điều 9, Điều 10, Điều
11 của Nghị định 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 Đây hoàn toàn là điểm mới của
Trang 36Luật THADS và Nghị định hướng dẫn thi hành so với các quy định về THADS trước đây, đặt những cơ sở pháp lý đầu tiên để Chấp hành viên tiến hành các hoạt động THA nhằm mục đích kịp thời ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc THA của người phải THA, đảm bảo các bản án, quyết định của Tòa án và cơ quan có thẩm quyền được thi hành một cách triệt để và hiệu quả
Tuy nhiên, qua thực tế thi hành Luật THADS năm 2008, các Chấp hành viên rất hạn chế áp dụng các biện pháp bảo đảm vì quá trình áp dụng gặp không ít khó khăn, vướng mắc như hình thức áp dụng biện pháp bảo đảm tạm giữ chưa rõ ràng, sự phối hợp hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức thiếu hiệu quả, thời hạn phong tỏa tài sản quá ngắn không phù hợp với thời hạn tự nguyện THA Theo số liệu thống kê kết quả thi hành áp dụng biện pháp bảo đảm THA từ 01/10/2016 đến 30/9/2017 trên toàn hệ thống Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên cho thấy: số việc áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản là 02 việc, áp dụng biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ là 01 việc,
áp dụng biện pháp tạm dừng đăng ký, chuyển dịch tài sản là 03 việc; có đơn vị chưa
ra quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm nào như Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lữ, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Cừ
Chính vì vậy, nhằm khắc phục các bất cập của Luật THADS 2008 và thực tiễn tổ chức thực hiện biện pháp bảo đảm THA, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật THADS (sau đây gọi là Luật sửa đổi, bổ sung) được Quốc hội thông qua
ngày 25/11/2014, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2015 đã sửa đổi, bổ sung 06 Điều liên quan đến biện pháp bảo đảm THA, cụ thể là: Điểm a khoản 1 Điều 7, điểm a khoản 1 Điều 7b, khoản 3 Điều 31, Điều 67, Điều 68 và Điều 69 Vấn đề này đã được hướng dẫn và quy định chi tiết tại 08 điều gồm Điều 13, Điều 15, Điều 18, Điều 19, Điều 20, Điều 23, Điều 34 và Điều 38 của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của
Luật THADS (sau đây gọi là Nghị định số 62/2015/NĐ-CP)
- Về biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ
Thứ nhất, bổ sung quy định phong tỏa tài sản tại nơi gửi giữ
Trang 37Trước đây, theo quy định tại Điều 67 Luật THADS năm 2008 và Điều 11 Nghị định số 58/2008/NĐ-CP ngày 13/7/2008 của Chính phủ quy định biện pháp bảo đảm
là phong tỏa tài khoản mà không quy định biện pháp phong tỏa tài sản tại nơi gửi giữ Theo đó, phong tỏa tài khoản là một biện pháp làm cho mọi hoạt động rút tiền ra từ một tài khoản nhất định bị hạn chế và bị kiểm soát; đối tượng bị áp dụng biện pháp phong toả tài khoản là người phải THA có tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng, kho bạc nhà nước
Thực tế hoạt động THADS trong thời gian qua cho thấy nhiều trường hợp người phải THA có tài sản không phải là tiền mà còn là các loại tài sản như kim khí quý, đá quý đang gửi người khác giữ (có thể là ngân hàng, các tổ chức tín dụng hoặc người thứ ba khác ), nhưng Luật THADS 2008 không quy định Chấp hành viên được quyền áp dụng biện pháp bảo đảm phong tỏa đối với loại tài sản này dẫn đến người phải THA dễ dàng tẩu tán, trốn tránh nghĩa vụ Do đó, Luật sửa đổi, bổ sung
đã bổ sung biện pháp bảo đảm “phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ” vào Điều 67 và quy định cách thức thực hiện tương tự như biện pháp phong tỏa tài khoản, nhằm tạo điều kiện tốt hơn để bảo vệ quyền lợi của người được THA Đồng thời, bổ sung đối tượng
“cá nhân” đang quản lý tài khoản, tài sản của người phải THA được nhận và phải thực hiện quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm Theo đó, Chấp hành viên phải giao quyết định phong tỏa cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản của người phải THA
Thứ hai, quy định đã rõ hơn về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân
nơi có tài khoản, tài sản
Trước đây, việc cung cấp thông tin về tài khoản của người phải THA cũng như trách nhiệm phối hợp của các tổ chức tín dụng, ngân hàng, kho bạc nhà nước với
cơ quan THADS rất khó khăn Mặc dù Bộ Tư pháp, Bộ Tài Chính, Bộ lao động thương binh xã hội và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành thông tư liên tịch
số 02/2014/TTLL-BTP-BTC-BLĐTBXH-NHNNVN ngày 14/01/2014 quy định việc cung cấp thông tin về tài khoản, thu nhập của người phải thi hành án nhưng các tổ
Trang 38chức này viện dẫn các quy định tại Điều 17 và Điều 104 Luật các tổ chức tín dụng để
từ chối cung cấp thông tin về tài khoản, số dư tài khoản, tài sản của người phải THA
Tuy nhiên, hiện nay mối quan hệ phối hợp giữa ngân hàng, tổ chức tín dụng với cơ quan THA đã được cải thiện hơn rất nhiều kể từ sau ngày 18/3/2015, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký Quy chế phối hợp
số 01/QCLN/NHNNVN-BTP giữa Ngân hàng nhà nước Việt Nam với Bộ Tư pháp trong hoạt động THADS; ngày 28/10/2015 Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên
và Ngân hàng Nhà nước – Chi nhánh tỉnh Hưng Yên đã ký quy chế phối hợp số 188/QCPHNHNN-CTHA trong công tác thi hành án dân sự Đồng thời Cục Thi hành
án dân sự tỉnh Hưng Yên ban hành Quyết định số 496/QĐ-CTHADS ngày 22/12/2016
về việc kiện toàn Tổ công tác chỉ đạo xử lý các vụ việc có liên quan đến hoạt động tín dụng, ngân hàng do Lãnh đạo Cục là Tổ trưởng Tổ đã định hướng, chỉ đạo, giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thi hành án vụ việc liên quan
Mặt khác, tại khoản 2 Điều 20 của Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ đã bổ sung quy định mới về trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật của tổ chức tín dụng, ngân hàng nói riêng và những cơ quan, tổ chức, cá nhân khác nói chung có trách nhiệm nhận văn bản mà không nhận quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ thì Chấp hành viên có trách nhiệm lập biên bản về việc họ không nhận quyết định, có chữ ký của người làm chứng hoặc chứng kiến và tiến hành niêm yết quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ của người phải THA tại trụ sở cơ quan, tổ chức đó Người đại diện theo pháp luật hoặc người
có trách nhiệm nhận văn bản của cơ quan, tổ chức không nhận quyết định phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật và phải bồi thường nếu có thiệt hại xảy ra Chính vì vậy, việc Luật sửa đổi, bổ sung cũng như Nghị định số 62/2015/NĐ-CP đã quy định trách nhiệm phối hợp của các cơ quan, tổ chức hữu quan trong THADS đã tạo điều kiện cho Chấp hành viên áp dụng biện pháp bảo đảm phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ được thuận lợi hơn
Thứ ba, về việc ra quyết định và gửi quyết định phong toả tài khoản
Trang 39Khoản 2 Điều 67 Luật THADS năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014
quy định “Quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ phải xác định rõ số tiền, tài sản bị phong tỏa Chấp hành viên phải giao quyết định phong tỏa cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản của người phải thi hành án”
Như vậy, việc phong toả tài khoản được thể hiện dưới hình thức quyết định Sau khi
có thông tin về tài khoản của người phải THA, để ngăn chặn việc tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh nghĩa vụ THA của người phải THA, Chấp hành viên tự mình hoặc theo yêu cầu của người được THA ra quyết định phong toả tài khoản và giao quyết định đó cho cơ quan, tổ chức đang quản lý tài khoản của người phải THA
Đến nay, theo quy định tại Điều 44 Luật sửa đổi, bổ sung đã bổ sung về trách nhiệm ký vào biên bản của các cơ quan, tổ chức trong trường hợp Chấp hành viên xác minh trực tiếp Việc bổ sung này nhằm tạo điều kiện để Chấp hành viên dễ dàng lựa chọn hình thức xác minh trực tiếp hay bằng văn bản Trong nhiều trường hợp, việc Chấp hành viên đến xác minh trực tiếp và lập biên bản xác minh hiệu quả hơn nhiều so với việc gửi văn bản đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin và chờ đợi sự phản hồi của họ Trong thực tế, trước đây theo quy định của Nghị định số 125/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS về thủ tục THADS, Thông tư liên tịch số 02/2014/TTLT-BTP-BTC- BLĐTBXH-NHNNVN ngày 14/01/2014 hướng dẫn việc cung cấp thông tin về tài khoản, thu nhập của người phải THA và thực hiện phong tỏa, khấu trừ để THADS thì chỉ quy định duy nhất một hình thức trả lời bằng văn bản của các Ngân hàng, tổ chức tín dụng trong thời hạn 03 ngày làm việc, dẫn đến nhiều Ngân hàng, tổ chức tín dụng từ chối ký vào biên bản xác minh trực tiếp của Chấp hành viên với lý do pháp luật không quy định Như vậy, với quy định mới này, trong thực tế Chấp hành viên có thể sử dụng hình thức xác minh trực tiếp và trường hợp cần phong tỏa ngay tài khoản, tài sản của người phải THA ở nơi gửi giữ mà chưa ban hành quyết định phong tỏa thì Chấp hành viên lập biên bản yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản của người phải THA phong tỏa tài
Trang 40khoản, tài sản đó Tuy nhiên, để đảm bảo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc phong tỏa tài khoản, tài sản thì hình thức quyết định cần phải được thực hiện ngay sau đó Vì thế, tại khoản 2 Điều 67 Luật sửa đổi, bổ sung và khoản 1 Điều 20 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định trong thời hạn 24 giờ kể từ khi lập biên bản, Chấp hành viên phải ra quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản; đồng thời Quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản phải được gửi ngay cho cơ quan, tổ chức, cá nhân nơi có tài khoản, tài sản đã bị phong tỏa
Thứ tư, về thời hạn phong toả tài khoản, tài sản
Trước đây, theo quy định tại khoản 3 Điều 67 Luật THADS 2008 thì thời hạn phong toả tài khoản là 05 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định phong toả tài khoản Trong thời hạn phong toả tài khoản, Chấp hành viên phải áp dụng biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải THA để đảm bảo THA theo quyết định THA Tuy nhiên, quy định thời gian như vậy chưa hợp lý vì việc áp dụng biện pháp bảo đảm có thể được thực hiện trong thời hạn tự nguyện THA, mà theo Luật THADS năm 2008 thì thời hạn tự nguyện THA là 15 ngày, vì thế có trường hợp ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế THA khi chưa hết thời hạn tự nguyện thi hành dẫn đến khiếu kiện của người phải THA
Khắc phục bất cập đó, tại khoản 3 Điều 67 Luật sửa đổi, bổ sung năm 2014 đã nâng thời hạn phong toả tài khoản từ 05 ngày lên thành 10 ngày làm việc, kể từ ngày
ra quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ, trong thời hạn này, Chấp hành viên phải áp dụng biện pháp cưỡng chế THA hoặc ra quyết định chấm dứt việc phong tỏa theo quy định Quy định mới về thời hạn này cũng phù hợp với thời hạn tự nguyện THA được sửa đổi từ 15 ngày xuống 10 ngày, kể từ ngày đương sự nhận được quyết định THA hoặc được thông báo hợp lệ quyết định THA, phù hợp với thực tiễn, tránh tình trạng phải áp dụng biện pháp cưỡng chế THA không cần thiết khi chưa hết thời gian 10 ngày tự nguyện THA
- Về biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự
Thứ nhất, về trách nhiệm phối hợp của các cơ quan hữu quan: