1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sự hỗ trợ của tòa án đối với trọng tài thương mại theo pháp luật việt nam hiện nay

82 116 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Trọng tài thương mại” là một hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại, được thực hiện bởi Hội đồng trọng tài hoặc một trọng tài viên duy nhất với tư cách là

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

SỰ HỖ TRỢ CỦA TÒA ÁN ĐỐI VỚI TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

HIỆN NAY

KHƯƠNG THỊ THÙY TRANG

HÀ NỘI – 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

SỰ HỖ TRỢ CỦA TÒA ÁN ĐỐI VỚI TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

HIỆN NAY

KHƯƠNG THỊ THÙY TRANG

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

MÃ SỐ: 8380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS HỒ NGỌC HIỂN

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn hoàn toàn trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, chính xác và do các cơ quan chức năng đã công bố Các thông tin, số liệu ghi trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Khương Thị Thùy Trang

Trang 4

đã truyền thụ kiến thức cho tác giả trong suốt quá trình tác giả học tập tại trường

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Hồ Ngọc Hiển, người đã trực

tiếp hướng dẫn và chỉ bảo tác giả hoàn thành luận văn này

Tác giả xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và đặc biệt là sự khích lệ của gia đình đã giúp tác giả trong suốt quá trình học tập, thực hiện và hoàn thành tốt

luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Khương Thị Thùy Trang

Trang 5

DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỰ HỖ TRỢ CỦA TÒA ÁN ĐỐI VỚI TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 5

1.1 Khái quát về trọng tài thương mại 5

1.1.1 Khái niệm trọng tài thương mại 5

1.1.2 Đặc điểm trọng tài thương mại 7

1.1.3 Các hình thức trọng tài thương mại 9

1.2 Hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài thương mại 14

1.2.1 Khái niệm, cơ sở của sự hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài thương mại 14

1.2.2 Ý nghĩa của sự hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài thương mại 15

1.3 Các hình thức hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài thương mại 15

1.3.1 Thay đổi trọng tài viên 16

1.3.2 Xem xét khiếu nại và giải quyết khiếu nại quyết định của hội đồng trọng tài về thẩm quyền 18

1.3.3 Triệu tập người làm chứng, thu thập chứng cứ 19

1.3.4 Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 20

1.3.5 Đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc 27

1.3.6 Hủy phán quyết trọng tài 28

Tiểu kết chương 1 37

Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ CỦA TÒA ÁN ĐỐI VỚI TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 38

2.1 Các quy định chung của pháp luật về hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài thương mại ở Việt Nam hiện nay 38

2.1.1 Quy định của pháp luật về hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài trong lựa chọn trọng tài viên 38

2.1.2 Quy định của pháp luật về hố trợ của Tòa án đối với trọng tài trong áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 39

Trang 7

2.1.3 Quy định của pháp luật về hố trợ của Tòa án đối với trọng tài trong hủy phán

quyết trọng tài 40

2.1.4 Quy định của pháp luật về hố trợ của Tòa án đối với trọng tài trong triệu tập người làm chứng, thu thập chứng cứ 41

2.2 Thực tiễn sự hỗ trợ của Tòa án đối với Trọng tài thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay 41

2.2.1 Thực tiễn sự hỗ trợ của Tòa án trong việc ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 43

2.2.2 Thực tiễn sự hỗ trợ của Tòa án trong việc xem xét khiếu nại và giải quyết khiếu nại quyết định của hội đồng trọng tài về thẩm quyền 44

2.2.3 Thực tiễn sự hỗ trợ của Tòa án trong việc hủy phán quyết trọng tài 46

Tiểu kết chương 2 58

Chương 3: MỘT SỐ HẠN CHẾ KHÓ KHĂN VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ SỰ HỖ TRỢ CỦA TÒA ÁN ĐỐI VỚI TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY 59

3.1 Một số hạn chế khó khăn của Luật trọng tài thương mại 2010 trong vấn đề sự hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài thương mại theo pháp luật Việt Nam 59

3.2 Một số giải pháp hoàn thiện quy định sự hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay 62

3.2.1 Hỗ trợ của Tòa án trong việc thu thập chứng cứ và áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 62

3.2.2 Hỗ trợ của Tòa án trong việc xác định thẩm quyền của trọng tài, chỉ định trọng tài viên 64

3.2.3 Hỗ trợ của Tòa án trong việc triệu tập nhân chứng 66

3.2.4 Hỗ trợ của Tòa án trong việc hủy quyết định trọng tài 66

Tiểu kết chương 3 68

KẾT LUẬN 69

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

Trang 8

1

MỞ ĐẦU

1 Cở sở khoa học và thực tiễn của đề tài

Trong thời đại kinh tế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp ngày càng có điều kiện được thành lập với nhiều hình thức khác nhau và trong nhiều ngành nghề khác nhau thì việc liên kết, hợp tác hay thậm chí là cạnh tranh nhau đang ngày càng trở nên phổ biến Bên cạnh những hợp đồng hợp tác, những giao kết thành công vẫn tồn tại khá nhiều những mâu thuẫn, bất đồng thậm chí vi phạm quyền lợi lẫn nhau giữa các doanh nghiệp Từ đó gây thiệt hại cho các bên và cho nền kinh tế thị

trường Chính vì vậy, thuật ngữ “ tranh chấp thương mại” hay “ tranh chấp kinh

doanh” đã là thuật ngữ quen thuộc trong đời sống kinh tế xã hội ở các nước trên thế

giới và mới được sử dụng rộng rãi, phổ biến ở nước ta trong mấy năm gần đây

Tranh chấp thương mại là một hiện tượng phổ biến và thường xuyên diễn ra trong hoạt động của nền kinh tế thị trường Do tính chất thường xuyên cũng như hậu quả của nó gây ra cho các chủ thể tham gia tranh chấp nói riêng và cho cả nền kinh tế nói chung, pháp luật Việt Nam cũng đã sớm có những quan tâm nhất định đến hoạt động này, cũng như các phương thức giải quyết nó thể hiện thông qua các quy định cụ thể trong nhiều văn bản pháp luật

Trọng tài thương mại ra đời và phát triển từ rất sớm, ở nhiều nước có nền kinh tế thị trường phát triển thì phần lớn các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại thường được giải quyết thông qua phương thức trọng tài Trọng tài thương mại là hình thức giải quyết tranh chấp khá phổ biến trên thế giới, nhất là tại những nước có nền kinh tế thị trường phát triển Tại Việt Nam, tuy mới được hình thành nhưng trọng tài cũng được khuyến khích sử dụng trong một loạt các luật như Luật thương mại, Luật đầu tư, Luật doanh nghiệp….Giải quyết tranh chấp thương mại bằng hình thức trọng tài có 04 ưu thế so với giải quyết bằng con đường tòa án Thứ nhất, thủ tục giải quyết đơn giản và nhanh gọn Thứ hai, đảm bảo bí mật ( xử kín) Điều này rất quan trọng đối với doanh nghiệp vì nó bảo toàn được uy tín,

Trang 9

2

thương hiệu của doanh nghiệp Thứ ba, các trọng tài viên là những chuyên gia hàng đầu Thứ tư, xét xử bằng cơ chế trọng tài chỉ một lần nên nó là chung thẩm Quyết định của trọng tài buộc các bên phải thi hành ngay, nếu không sẽ được chuyển sang

cơ quan thi hành án dân sự thi hành

Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại một cách nhanh chóng, hiệu quả và cũng làm giảm bớt gánh nặng cho Tòa án Trong thực tế, vì trọng tài là một cơ quan phi Chính phủ nên vẫn cần có sự trợ giúp của Tòa án Tòa

án hỗ trợ giám sát rất lớn đối với việc thực thi các phán quyết của trọng tài, hỗ trợ trong việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời….Có thể nói trọng tài không thể hoạt động tốt nếu thiếu sự hỗ trợ của Tòa án Vì vậy, việc nghiên cứu những vấn

đề lý luận chung, thực trạng về trọng tài và sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động trọng tài là cần thiết trong giai đoạn hiện nay để đảm bảo cho việc giải quyết tranh chấp bằng con đường trọng tài thực sự đạt hiệu quả Chính vì vậy tác giải chọn đề

tài “Sự hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài thương mại theo pháp luật Việt Nam

hiện nay” để nghiên cứu

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Từ trước đến nay cũng đã có một số bài báo, bài viết về vấn đề này sự hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài thương mại đáng chú ý là các bài viết, công trình nghiên cứu sau:

- Dương Văn Hậu (1999), Trọng tài thương mại Việt Nam trong tiến trình đổi mới,

NxB Chính trị quốc gia, Hà Nội

- Hội luật gia Việt Nam (2009), Báo cáo số 10/BCTĐ – HLGV ngày 30/4 về đánh

giá tác động dự kiến của Luật trọng tài, Hà Nội

- Hội luật gia Việt Nam (2009), Tờ trình về dự án luật số 10/BCTĐ – HLGV ngày

30/4, Hà Nội

- Dương Đăng Huệ (2003), “Một điển hình của việc xây dựng pháp luật theo hướng

hội nhập”, Nghiên cứu lập pháp, ( 6)

Trang 10

3

- Trần Hữu Quỳnh (chủ biên) ( 2007), Các quyết định trọng tài quốc tế chọn lọc,

NxB Tư pháp, Hà Nội

- Đặng Thị Bích Liễu (1998), Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng con đường trọng

tài, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội

- Nguyễn Đình Thơ (2007), Hoàn thiện pháp luật về trọng tài thương mại của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế, Luận án tiến sĩ Luật học, Trường đại học Luật Hà Nội, Hà Nội

- Dương Thanh Mai (chủ nhiệm đề tài) (2006), Bình luận khoa học pháp lệnh trọng

tài thương mại 2003, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Bộ tư pháp, Hà Nội

- Đào Trí Úc ( 2008), “Tham luận góp ý cho dự thảo Luật trọng tài thương mại”,

Hội thảo lấy ý kiến cho dự thảo Luật trọng tài thương mại 2010, Phòng thương mại

và công nghiệp Việt Nam phối hợp với Hội luật gia Việt Nam tổ chức, Hà Nội

- Văn phòng Quốc Hội (2009), Báo cáo Tổng kết thi hành Pháp lệnh trọng tài

thương mại 2003, Hà Nội

- Tưởng Duy Lượng ( 2016), “ Bình luận bộ luật tố tụng dân sự, Luật trọng tài

thương mại và thực tiễn xét xử”

Tuy nhiên, những bài viết công trình trên chỉ nói chung chung mà chưa đi sâu nghiên cứu pháp luật về trọng tài thương mại bản chất thỏa thuận trọng tài cũng như thực trạng về thỏa thuận trọng tài thương mại ở nước ta Trong xu thế hội nhập hiện nay, việc nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đề này mang ý nghĩa lý luận

và thực tiễn sâu sắc Những giải pháp của đề tài hy vọng sẽ đem lại những kết quả thiết thực cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật về trọng tài của Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Luận văn có mục đích nghiên cứu những vấn đề lý luận về sự hỗ trợ của Tòa

án đối với trọng tài thương mại, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật và thực

Trang 11

4

tiễn áp dụng pháp luật về hỗ trợ của Tòa án đối trọng tài thương mại ở Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả

áp dụng pháp luật về hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài thương mại

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Thứ nhất, luận văn góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận pháp lý về hỗ

trợ của Tòa án đối với trọng tài thương mại

Thứ hai, luận văn đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn áp

dụng pháp luật về hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài thương mại ở Việt Nam

Thứ ba, luận văn đề xuất một số kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật về

hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài thương mại ở Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay về sự hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài thương mại

Phạm vi nghiên cứu: Đây là một lĩnh vực nghiên cứu rộng, có thể tiếp cận

từ nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về những vấn đề sau:

- Luận văn chỉ nghiên cứu về sự hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài thương mại

- Luận văn tập trung phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật thực định về sự hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài thương mại Do đó, Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật về về sự hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài thương mại như hỗ trợ thu thập chứng cứ, hỗ trợ trong việc triệu tập người làm chứng, hỗ trợ trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Luận văn có sự tiếp thu và kế thừa có chọn lọc những kết quả nghiên cứu đã được công bố trong thời gian qua

Trang 12

5

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam trong tiến trình cải cách Tư pháp về Nhà nước và pháp luật, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp

quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam

- Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của triết học duy vật biện chứng và triết học duy vật lịch sử Mác - Lênin, chú trọng các phương pháp kết hợp

lý luận với thực tiễn, phân tích và tổng hợp, lịch sử cụ thể Ngoài ra luận văn còn sử dụng một số phương pháp của các bộ môn khoa học khác như luật học so sánh, thống kê, xã hội học

Luận văn sử dụng linh hoạt, kết hợp giữa các phương pháp cứu khoa học chuyên ngành cụ thể như: phương pháp phân tích, chứng minh, so sánh, diễn giải, thống kê, tổng hợp…Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng đồng thời, có sự kết hợp, không áp dụng một cách cứng nhắc, tách biệt theo trình tự hết phương pháp này mới đến phương pháp khác Tuy nhiên, phương pháp logic và hệ thống được sử dụng xuyên suốt, đảm bảo tính nhất quán, liên thông giữa các nội dung, các chương của đề tài, còn ở mỗi chương phương pháp nghiên cứu chủ yếu, đặc trưng được sử dụng như sau:

Chương 1 và Chương 2: Luận văn sử dụng phương pháp phân tích, diễn giải,

chứng minh, so sánh để làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận liên quan đến sự hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài thương mại

Chương 3: Luận văn sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp để

đánh giá đưa ra các giải pháp, định hướng cơ bản để hoàn thiện quy định của pháp luật liên quan đến sự hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài thương mại theo pháp luật hiện nay

Trang 13

6

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của công trình nghiên cứu

Luận văn là công trình nghiên cứu một cách khoa học, có hệ thống về các vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật Việt Nam hiện nay về sự hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài thương mại

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần nâng cao nhận thức của những người trực tiếp làm công tác giải quyết trọng tài và Tòa án Đồng thời giúp hội đồng trọng tài, trọng tài viên, thẩm phán và chính các đương sự có cái nhìn tổng quát, hệ thống, đảm bảo việc lựa chọn các biện pháp phù hợp của pháp luật về sự hỗ trợ của tòa án đối với trọng tài thương mại Góp phần hạn chế đến mức thấp nhất những sai sót, giảm thiểu khiếu nại – tố cáo có liên quan

Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác tìm hiểu, nghiên cứu và cho cho các cán bộ trực tiếp làm công tác tại Hội đồng trọng tài và Tòa án

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 03 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về sự hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài thương mại

Chương 2: Thực trạng pháp luật về sự hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài thương mại ở Việt Nam hiện nay

Chương 3: Một số định hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định về sự

hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay.

Trang 14

5

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỰ HỖ TRỢ CỦA TÒA ÁN

ĐỐI VỚI TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

1.1 Khái quát về trọng tài thương mại

1.1.1 Khái niệm trọng tài thương mại

“Trọng tài” là một phương thức giải quyết tranh chấp ngoài tòa án, xét về

mặt lịch sử, hòa giải và trọng tài là hai phương thức giải quyết tranh chấp xuất hiện sớm hơn so với sự ra đời của tòa án Trọng tài ra đời cách đây mấy trăm năm nhưng mãi đến sau thế kỷ 20 mới phát triển một cách mạnh mẽ

“Trọng tài thương mại” là một hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh

trong hoạt động thương mại, được thực hiện bởi Hội đồng trọng tài hoặc một trọng tài viên duy nhất với tư cách là bên thứ ba độc lập nhằm giải quyết tranh chấp bằng việc đưa ra một phán quyết trên cơ sở sự thỏa thuận của các bên tranh chấp và có hiệu lực bắt buộc đối với các bên Trọng tài là một cơ quan giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại, được thành lập tự nguyện bởi các trọng tài viên để giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại bởi các bên tranh chấp Khái niệm trọng tài được hiểu đa dạng theo các phương diện khác nhau

Theo cuốn “ Đại từ điển kinh tế thị trường” thì trọng tài là phương thức giải

quyết một cách hòa bình các vụ tranh chấp Đôi bên đương sự tự nguyện đem những sự việc, những vấn đề tranh chấp giao cho bên thứ ba có tư cách công bằng chính trực xét xử, lời phán quyết do người này đưa ra có hiệu lực rằng buộc với cả hai bên

Theo Luật mẫu của UNCITRAL – một văn bản nhiều nước tiếp nhận khi xây dựng luật trọng tài thì trọng tài nghĩa là mọi hình thức trọng tài có hoặc không có sự giám sát của tổ chức

Trang 15

6

Theo hội đồng trọng tài Mỹ ( AAA) thì trọng tài là cách thức giải quyết tranh chấp bằng cách đệ trình vụ tranh chấp cho một số người khách quan xem xét giải quyết và họ sẽ đưa ra quyết định cuối cùng, có giá trị bắt buộc các bên tranh chấp phải thi hành

Theo cuốn “Đạo đức và kỹ năng hành nghề luật sư trong nền kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa” do PGS.TS Lê Hồng Hạnh làm chủ biên thì

trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp theo đó hai hay nhiều bên đưa vụ tranh chấp của họ ra trước bên thứ ba trung lập để chủ thể này giải quyết tranh chấp theo những thủ tục đặc trưng của quá trình đó

Theo nghị định số 116/CP ngày 05/9/1994 về tổ chức và hoạt động của trọng tài kinh tế thì: Trọng tài kinh tế là tổ chức xã hội – nghề nghiệp có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về hợp đồng kinh tế, các tranh chấp giữa công ty với các thành viên công ty với nhau, liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty; các tranh chấp có liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu

Tuy nhiên, trọng tài thương mại còn cụ thể và chi tiết hơn trọng tài kinh tế vì hoạt động thương mại chỉ là một phần của hoạt động kinh tế Hiểu một cách ngắn gọn thì trọng tài thương mại trước hết phải là một trong những hình thức trọng tài, chức năng của trọng tài thương mại là giải quyết các tranh chấp thương mại

Pháp luật trọng tài Việt Nam cũng có quy định tương tự về khái niệm này “

Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại được các bên thỏa thuận và được tiến hành theo trình tự thủ tục

do pháp lệnh này quy định [ 30, khoản 1, điều 2]

Bên cạnh đó, trọng tài với tư cách là một cơ quan giải quyết tranh chấp cũng

là cách tiếp cận khá phổ biến, ví dụ như theo từ điển Tiếng Việt thì trọng tài là người trực tiếp được cử ra để phân xử, giải quyết những vụ tranh chấp

Ngoài ra, khái niệm này còn được tiếp cận với tư cách là một chế định pháp luật, theo cuốn danh từ pháp luật lược giải thì trọng tài là một chế định cử tư nhân giải quyết sự bất hòa cho hai bên nguyên bị trong một vụ tranh chấp [6]

Trang 16

7

Như vậy, có rất nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về trọng tài, nhưng tựu chung lại, có thể nhìn nhận trọng tài thương mại với hai tư cách:

Một là, trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp

Hai là, trọng tài thương mại là cơ quan giải quyết tranh chấp

1.1.2 Đặc điểm trọng tài thương mại

* Trọng tài với tư cách là một cơ quan giải quyết tranh chấp

Trọng tài được hiểu là một cơ quan tài phán, có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại Ở các nước có nền kinh tế phát triển, trọng tài được thừa nhận là cơ quan tài phán độc lập tồn tại song song với tòa

án Pháp luật tôn trọng quyền tự lựa chọn của các bên, khi có tranh chấp trong thương mại, các chủ thể có thể lựa chọn tòa án hoặc trọng tài làm cơ quan giải quyết tranh chấp cho mình Nếu các bên đã có thỏa thuận trọng tài có hiệu lực, nếu một bên đưa ra tòa án giải quyết thì tòa án không thụ lý và sẽ trả lại đơn khởi kiện do không thuộc thẩm quyền

So với Tòa án, trọng tài có những đặc trưng riêng khác hẳn tòa án cụ thể là:

Một là, với hình thức là một trung tâm trọng tài thì trọng tài là một tổ chức

xã hội – nghề nghiệp do các trọng tài viên tự thành lập nên để giải quyết tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh thương mại; còn với hình thức là trọng tài vụ việc (ad – hoc) thì trọng tài là một tổ chức lâm thời do các bên tranh chấp thỏa thuận thành lập để giải quyết một vụ việc tranh chấp cụ thể Trọng tài không phải cơ quan xét xử của Nhà nước, không do Nhà nước lập nên và không hoạt động bằng ngân sách nhà nước Các trọng tài viên không phải viên chức nhà nước và cũng không hưởng lương từ ngân sách nhà nước Khi xét xử trọng tài không nhân danh

nhà nước mà nhân danh “ quyền lực tư” để ra các phán quyết

Hai là, thẩm quyền giải quyết của trọng tài đối với tranh chấp thương mại cụ

thể không tự nhiên mà có, không do pháp luật ấn định mà còn phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các chủ thể tranh chấp Pháp luật quy định, trọng tài chỉ có thẩm

Trang 17

8

quyền giải quyết vụ tranh chấp khi các bên tranh chấp có thỏa thuận lựa chọn trọng tài giải quyết Nếu không có thỏa thuận trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp về việc lựa chọn trọng tài hoặc có thảo thuận trọng tài nhưng vô hiệu thì trọng tài không có thẩm quyền giải quyết Như vậy, chính các chủ thể tranh chấp là người quyết định

cơ quan giải quyết tranh chấp cho mình

Ba là, phán quyết trọng tài vừa có tính tài phán của cơ quan có thẩm quyền

xét xử, vừa thể hiện ý chí, sự thảo thuận của các bên Tuy nhiên, do trọng tài không phải là cơ quan xét xử của Nhà nước như tòa án nên phán quyết của trọng tài không mang tính quyền lực Nhà nước Phán quyết của trọng tài có giá trị rằng buộc đối với các bên tranh chấp mà không có giá trị rằng buộc với bên thứ ba Ngay cả khi một hoặc các bên tranh chấp không tôn trọng phán quyết trọng tài, không tự nguyện thi hành phán quyết thì trọng tài cũng không có cơ quan cưỡng chế riêng của mình để cưỡng chế thi hành Phán quyết trọng tài do các bên đương sự tự nguyện thi hành hoặc nhờ đến sự hỗ trợ của cơ quan nhà nước để cưỡng chế thi hành

Như vậy, với tư cách là một cơ quan tài phán, trọng tài không nằm trong hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước, tồn tại độc lập, song song với tòa án và có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp khi được các bên lựa chọn

* Trọng tài thương mại với tư cách là một hình thức giải quyết tranh chấp thương mại

Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh thương mại, tồn tại song song với các phương thức giải quyết tranh chấp khác như: thương lượng, hòa giải, Tòa án và các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn ADR Trọng tài và các phương thức ADR nói chung là các phương thức giải quyết ngoài tòa án, không cạnh tranh với tòa án mà hỗ trợ lẫn nhau Thực tế trọng tài không thể phát triển mà không có sự hợp tác và kiểm soát cuối cùng của tòa án quốc gia Trọng tài đã trở thành phương thức được sử dụng phổ biến để giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế Với tính chất là một phương thức giải quyết tranh chấp, trọng tài thương mại được hiểu là phương thức mà trong đó các

Trang 18

9

bên tranh chấp tự nguyện thỏa thuận với nhau để ủy thác việc giải quyết tranh chấp

đã hoặc sẽ phát sinh giữa họ cho trọng tài Và trọng tài trên cơ sở các tình tiết khách quan của tranh chấp được quyền đưa ra quyết định cuối cùng để giải quyết tranh chấp và quyết định này có giá trị bắt buộc với các bên Tại Việt Nam, trọng tài theo đúng nghĩa là một phương thức giải quyết tranh chấp ra đời năm 1993 trên cơ sở quyết định số 204 – TTg của thủ tướng chính phủ ngày 28/4/1993 về việc thành lập trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam ( VIAC)

Với tư cách là một hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại, trọng tài có những đặc trưng cơ bản sau:

Một là, trọng tài là một hình thức giải quyết tranh chấp có sự tham gia của bên thứ ba – một hội đồng trọng tài hoặc một trọng tài viên duy nhất Trọng tài do chính các bên tranh chấp thỏa thuận lựa chọn trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp Trọng tài là người hoàn toàn độc lập với các bên, đứng giữa để giải quyết tranh chấp, đưa ra các phán quyết bắt buộc để bảo vệ quyền và lợi ích của các bên

Hai là, trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua một thủ tục tố tụng chặt chẽ Đối với trọng tài thường trực trong quá trình giải quyết tranh chấp, trọng tài viên và các bên tranh chấp phải tuân thủ đúng trình tự tố tụng mà pháp luật trọng tài, điều lệ và quy tắc tố tụng của tổ chức trọng tài đó quy định Còn đối với trọng tài vụ việc, các bên có thể thỏa thuận thủ tục tố tụng riêng Ngoài ra, các trọng tài viên và các bên cũng phải tuân thủ đúng thủ tục tố tụng trọng tài mà mình đặt ra

Ba là, kết quả của việc giải quyết tranh chấp tại trọng tài là phán quyết do trọng tài, nó mang tính chung thẩm, vừa kết hợp yếu tố thỏa thuận (các bên đương

sự có thể thỏa thuận về trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp, luật áp dụng đối với

vụ tranh chấp…), vừa kết hợp yếu tố tài phán ( có giá trị bắt buộc với các bên)

1.1.3 Các hình thức trọng tài thương mại

Trọng tài thường được biết đến với hai hình thức phổ biến là trọng tài vụ việc ( trọng tài ad – hoc) và trọng tài thường trực ( trọng tài quy chế)

Trang 19

10

* Trọng tài vụ việc ( trọng tài ad – hoc)

Trọng tài vụ việc là hình thức trọng tài được lập ra theo yêu cầu của các đương sự để giải quyết một vụ tranh chấp cụ thể và tự giải thể khi tranh chấp đó đã được giải quyết xong Tính chất vụ việc của hình thức trọng tài này được thể hiện ở

chỗ:

Thứ nhất, trọng tài vụ việc chỉ được thành lập khi phát sinh tranh chấp và tự

chấm dứt hoạt động khi tranh chấp được giải quyết xong

Thứ hai, trọng tài vụ việc không có trụ sở thường trực, không có bộ máy điều

hành và không có danh sách trọng tài viên riêng Trọng tài viên được các bên lựa chọn hoặc được chỉ định có thể là người có tên hoặc ngoài danh sách trọng tài viên của bất cứ trung tâm trọng tài nào

Thứ ba, trọng tài vụ việc không có quy tắc tố tụng dành riêng cho mình, mà

quy tắc tố tụng để giải quyết vụ tranh chấp phải được các bên thỏa thuận xây dựng Thông thường, các bên tranh chấp có thể thỏa thuận lựa chọn bất kỳ một quy tắc tố tụng phổ biến nào, thường là quy tắc tố tụng của các trung tâm trọng tài có uy tín ở trong nước và quốc tế

Vì vậy, khi tiến hành xét xử, hội đồng trọng tài không bị lệ thuộc vào bất kỳ quy tắc tố tụng nào, tuy nhiên phải đảm bảo nguyên tắc xét xử khách quan, vô tư và đúng pháp luật Hoạt động của trọng tài vụ việc rất linh hoạt, phù hợp với những tranh chấp đơn giản Trọng tài viên do các đương sự thỏa thuận lựa chọn không bị giới hạn bởi danh sách trọng tài viên sẵn có Thông thường trọng tài viên được lựa chọn có thể là các thương gia có tu nghiệp pháp lý hoặc luật sư làm việc cho các công ty, họ không chỉ nắm vững kiến thức pháp luật mà còn có am hiểu hoạt động thương mại

Thỏa thuận trọng tài vụ việc thường được thiết lập khi tranh chấp đã xảy ra nên thường phù hợp với tính chất, điều kiện cụ thể của tranh chấp Thời gian giải quyết tranh chấp nhanh chóng theo sự định đoạt của đương sự, họ có toàn quyền trong việc xác định quy chế tố tụng Tuy nhiên, để soạn thảo được các thỏa thuận

Trang 20

11

trọng tài vụ việc đòi hỏi các bên phải có luật sư chuyên gia tư vấn pháp lý có chuyên môn trong lĩnh vực trọng tài Giữa các bên tranh chấp có sự thiện chí, hợp tác chặt chẽ Mặt khác, do tính chất không ổn định, không có quy chế hoạt động chặt chẽ nên hiệu quả giải quyết vụ việc tranh chấp của trọng tài vụ việc là không cao

Sự khác biệt cơ bản giữa nước ta với nhiều nước có nền kinh tế thị trường phát triển và có lịch sử trọng tài tồn tại khá lâu đó là ngay khi xuất hiện phương thức giải quyết tranh chấp bằng con đường trọng tài, họ đã thừa nhận có hai hình thức tổ chức trọng tài là ad – hoc và trọng tài thường trực

Ở Việt Nam, trước khi pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 ra đời chưa từng

có trọng tài vụ việc Mặc dù đã có một số văn bản điều chỉnh các quan hệ kinh tế, thương mại với nước ngoài thừa nhận trọng tài ad – hoc trong việc giải quyết các tranh chấp quốc tế như: Luật đầu tư nước ngoài 1987, Luật hàng không dân dụng Việt Nam 1991…nhưng chưa có văn bản pháp luật nào về trọng tài quy định về trọng tài vụ việc Do vậy, trên thực tế hình thức trọng tài này hầu như không tồn tại

Ưu điểm của hình thức trọng tài vụ việc so với trọng tài quy chế là quyền tự định đoạt của các bên lớn hơn, chi phí cho tố tụng trọng tài thấp và thời gian giải quyết nhanh Tuy nhiên, trọng tài vụ việc cũng có những hạn chế nhất định, hạn chế lớn nhất là phụ thuộc hoàn toàn vào thiện chí của các bên Nếu một bên không có thiện chí quá trình tố tụng sẽ luôn có nguy cơ bị trì hoãn và nhiều khi không thể thành lập được hội đồng trọng tài bởi vì không có quy tắc tố tụng nào được áp dụng Mặt khác trong quá trình tố tụng cũng không có tổ chức nào giám sát nên kết quả phần lớn phụ thuộc vào việc tiến hành tố tụng và khả năng kiểm soát quá trình tố tụng của các trọng tài viên Trọng tài viên và các bên sẽ không có cơ hội nhận được

sự ủng hộ và trợ giúp đặc biệt từ một tổ chức trọng tài thường trực trong trường hợp pháp sinh sự kiện không dự kiến trước và trong trường hợp các trọng tài viên không thể giải quyết được vụ việc Sự hỗ trợ duy nhất mà các bên có thể nhận được là sự

hỗ trợ của tòa án

Trang 21

12

* Trọng tài thường trực ( trọng tài quy chế)

Khác với trọng tài Ad – hoc, trọng tài thường trực luôn tồn tại không phụ thuộc vào tranh chấp của các bên, là hình thức trọng tài có tổ chức, hoạt động thường xuyên, có điều lệ, quy tắc tố tụng riêng và có danh sách trọng tài viên Trọng tài thường trực được tổ chức dưới những hình thức đa dạng như: các trung tâm trọng tài, các hiệp hội trọng tài hay các viện trọng tài, nhưng chủ yếu và phổ biến vẫn là các trung tâm trọng tài Có thể kể tên các trung tâm trọng tài nổi tiếng như: Tòa án trọng tài quốc tế ( IAC) thuộc phòng thương mại quốc tế ( ICC) có trụ

sở tại Pari ( Pháp); Hiệp hội trọng tài Mỹ ( AAA); Trọng tài quốc tế Singapore; Trọng tài quốc tế Hồng Kông; ở Việt Nam có trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam – VIAC và một số trung tâm khác

Trung tâm trọng tài là tổ chức phi Chính phủ có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài khoản riêng và có trụ sở giao dịch ổn định

Từ khái niệm về trung tâm trọng tài trên, có thể đưa ra một số đặc trưng cơ bản về hình thức trọng tài như sau:

Thứ nhất, các trung tâm trọng tài là tổ chức phi Chính phủ, không nằm trong

hệ thống cơ quan nhà nước, thể hiện:

- Các trung tâm trọng tài được thành lập theo sáng kiến của các trọng tài viên sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép chứ không phải được thành lập bởi Nhà nước Do đó, nó không nằm trong hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước cũng không thuộc hệ thống cơ quan xét xử Nhà nước

- Hoạt động của trung tâm trọng tài theo nguyên tắc tự trang trải mà không được cấp kinh phí hoạt động từ ngân sách nhà nước

- Trọng tài viên duy nhất hoặc hội đồng trọng tài không nhân danh quyền lực nhà nước mà nhân danh người thứ ba độc lập ra phán quyết

- Dù không được thành lập bởi Nhà nước nhưng trung tâm trọng tài vẫn luôn đặt dưới sự quản lý và hỗ trợ của Nhà nước, thông qua các hoạt động như: ban hành

Trang 22

13

các văn bản pháp luật tạo hành lang pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của trung tâm trọng tài; cấp, thay đổi, bổ sung hay thu hồi giấy phép thành lập, giấy đăng ký hoạt động của các trung tâm trọng tài; hỗ trợ trung tâm trọng tài trong việc hủy hoặc không hủy quyết định trọng tài, hỗ trợ trong việc cưỡng chế thi hành quyết định trọng tài…

Thứ hai, các trung tâm trọng tài có tư cách pháp nhân, tồn tại độc lập với

nhau Giữa các trung tâm trọng tài không tồn tại quan hệ phụ thuộc cấp trên, cấp dưới

Thứ ba, tổ chức và quản lý ở các trung tâm trọng tài rất đơn giản, gọn nhẹ

Cơ cấu của trung tâm trọng tài gồm có ban điều hành và các trọng tài viên của trung tâm Cụ thể:

- Ban điều hành gồm có chủ tịch, một hoặc các phó chủ tịch trung tâm trọng tài và có thể có tổng thư ký trung tâm trọng tài do chủ tịch trung tâm trọng tài cử

- Các trọng tài viên trong danh sách trung tâm trọng tài có thể tham gia vào việc giải quyết tranh chấp khi được chọn hoặc chỉ định

Thứ tư, mỗi trung tâm tài tự quyết định về lĩnh vực hoạt động và có quy tắc

tố tụng riêng, thể hiện:

- Tùy theo khả năng chuyên môn của đội ngũ trọng tài viên, mỗi trung tâm trọng tài có quyền tự xác định về lĩnh vực hoạt động của mình, đồng thời có thể mở rộng hoặc thu hẹp phạm vi lĩnh vực hoạt động trên cơ sở sự chấp thuận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

- Việc xây dựng quy tắc tố tụng của các trung tâm trọng tài thường dựa trên

cơ sở là một số bản quy tắc trọng tài hay một số công ước quốc tế có liên quan cũng như quy tắc tố tụng của một số trung tâm trọng tài quốc tế có uy tín

Thứ năm, hoạt động xét xử của trung tâm trọng tài được tiến hành bởi các

trọng tài viên của trung tâm Việc chọn hoặc chỉ định trọng tài viên tham gia giải quyết tranh chấp chỉ được giới hạn trong danh sách trọng tài viên của trung tâm Vì

Trang 23

Ưu điểm thứ hai là hầu hết các tổ chức trọng tài đều có những chuyên gia hỗ trợ cho quá trình trọng tài Họ đảm bảo cho hội đồng trọng tài sẽ được thành lập, các khoản phí trọng tài sẽ được nộp đủ, đôn đốc đúng thời hạn… Bên cạnh đó, trọng tài quy chế cũng có những hạn chế nhất định, mà hạn chế lớn nhất là tốn kém, nhiều chi phí

vì ngoài việc phải trả thù lao cho các trọng tài viên, các bên còn phải trả thêm các chi phí hành chính để nhận được sự hỗ trợ của các trung tâm trọng tài Hạn chế thứ hai là với những vụ việc cần giải quyết nhanh chóng hoặc vụ việc đơn giản thì quá trình tố tụng thường bị kéo dài mà các bên tranh chấp và hội đồng trọng tài vẫn bắt buộc phải tuân theo do phải tuân thủ các thời hạn theo quy định của quy tắc tố tụng

1.2 Hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài thương mại

1.2.1 Khái niệm, cơ sở của sự hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài thương mại

Khái niệm sự hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài thương mại: Hỗ trợ được

hiểu là giúp đỡ nhau, tương trợ lẫn nhau Sự hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài thương mại là tổng hợp các quy định của pháp luật liên quan đến quá trình tòa án hỗ trợ trọng tài khi trọng tài giải quyết các tranh chấp thương mại

Cơ sở của sự hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài thương mại:

Cơ sở lý luận bao gồm tổng thể các quy định của pháp luật được cụ thể hóa trong

Luật trọng tài thương mại năm 2010, Nghị quyết số 01/2014 của hội đồng thẩm

phán Tòa án nhân dân tối cao, Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự…

Trang 24

15

Cơ sở thực tiễn là quá trình thực tế khi Tòa án thực hiện các biện pháp hỗ trợ trọng

tài như triệu tập người làm chứng, thu thập chứng cứ, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời…

1.2.2 Ý nghĩa của sự hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài thương mại

Thứ nhất, đối với đương sự, việc pháp luật quy định sự hỗ trợ của Tòa án với

trọng tài thương mại là thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của đương sự

Thứ hai, đối với trọng tài: hoạt động hỗ trợ này của Tòa án có ý nghĩa góp

phần làm tăng thêm tính hấp dẫn và tính hiệu quả của phương thức trọng tài, đảm bảo khả năng thi hành phán quyết trọng tài

Thứ ba, đối với tòa án sự hỗ trợ của Tòa án với trọng tài thương mại sẽ tăng

cường cơ chế phối hợp giữa hai cơ quan Khi trọng tài hoạt động hiệu quả sẽ có nhiều doanh nghiệp tìm đến phương thức giải quyết tranh chấp này, từ đó làm giảm

áp lực cho Tòa án khi đang phải giải quyết quá nhiều các vụ tranh chấp như hiện nay, dẫn đến nhiều án tồn đọng, giải quyết không đúng thời hạn

1.3 Các hình thức hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài thương mại

Trên thế giới, mối quan hệ đặc trưng giữa Tòa án và trọng tài là mối quan hệ

hỗ trợ và giám sát Nhờ có sự hỗ trợ và giám sát của Tòa án mà trọng tài tuy là tổ chức tài phán phi chính phủ nhưng vẫn hoạt động được một cách hiệu quả Sự ra đời của Luật trọng tài thương mại năm 2010 đã thể hiện một quan điểm mới tiếp cận với sự phát triển của pháp luật tài phán các nước phát triển Trong đó, một trong những nội dung cơ bản là việc thừa nhận vai trò, trách nhiệm của Tòa án trong hỗ trợ, giám sát hoạt động tố tụng của trọng tài, sự hỗ trợ của cơ quan thi hành án về cơ chế thi hành phán quyết trọng tài Có thể gọi đây là sự tiếp sức cho trọng tài, thể hiện quan điểm của nhà nước trong việc đa dạng hóa phương thức giải quyết tranh chấp và tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho các chủ thể kinh doanh được sự bảo hộ của nhà nước về mặt pháp lý trong quá trình thực hiện giao dịch thương mại Đó

Trang 25

16

cũng là một minh chứng về việc đáp ứng nhu cầu hội nhập của Việt Nam trong nền kinh tế thị trường hiện nay Sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động trọng tài thương mại thể hiện ở các nội dung cơ bản sau:

1.3.1 Thay đổi trọng tài viên

Theo pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003 thì Tòa án có thẩm quyền chỉ định trọng tài viên theo quy định tại điều 26 gồm:

- Khi phía bị đơn không thông báo việc chọn trọng tài viên cho nguyên đơn biết trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nguyên đơn gửi đơn kiện cho bị đơn

- Trong trường hợp có nhiều bị đơn, các bị đơn không chọn được trọng tài viên thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Tòa án chỉ định trọng tài viên mình đã chọn trong 30 ngày

- Trong trường hợp mà hai trọng tài viên không chọn được trọng tài viên thứ ba thì yêu cầu Tòa án cấp tỉnh chỉ định trọng tài viên thứ ba

- Đối với vụ tranh chấp do Hội đồng trọng tài được các bên thành lập, giải quyết (trọng tài vụ việc) thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án chỉ định

- Việc thay đổi trọng tài viên theo Luật trọng tài thương mại năm 2010 được quy định tại Điều 34 trong hai trường hợp:

- Đối với vụ tranh chấp được giải quyết tại trung tâm trọng tài, nếu hội đồng trọng tài chưa được thành lập, việc thay đổi trọng tài vien do chủ tịch trung tâm trọng tài quyết định Nếu hội đồng trọng tài đã được thành lập, việc thay đổi trọng tài viên do các thành viên còn lại của hội đồng trọng tài quyết định Trong trường hợp các thành viên Hội đồng trọng tài không quyết định được hoặc nếu cá trọng tài viên hay trọng tài viên duy nhất từ chối giải quyết tranh chấp, chủ tịch trung tâm trọng tài quyết định về việc thay đổi trọng tài viên ( khoản 3 điều 43 Luật trọng tài thương mại 2010)

- Đối với vụ tranh chấp do hội đồng trọng tài vụ việc giải quyết, việc thay đổi trọng tài viên sẽ do các thành viên còn lại của hội đồng trọng tài quyết định

Trang 26

17

Trong trường hợp các thành viên còn lại của hội đồng trọng tài không quyết được hoặc nếu các trọng tài viên hay trọng tài viên duy nhất từ chối giải quyết tranh chấp thì trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của một hoặc các trọng tài viên nói trên, hoặc của một hoặc các bên tranh chấp, chánh án Tòa án có thẩm quyền giao cho một thẩm phán quyết định về việc thay đổi trọng tài viên ( khoản 4 Điều 43 Luật trọng tài thương mại 2010)

Như vậy, theo Điều 43 Luật trọng tài thương mại 2010 thì Tòa án chỉ hỗ trợ việc thay đổi trọng tài viên trong trường hợp trọng tài vụ việc giải quyết còn việc chỉ định trọng tài viên hoặc thay đổi trọng tài viên mà vụ tranh chấp được giải quyết tại trung tâm trọng tài do chủ tịch trọng tài quyết định Việc thay đổi trọng tài viên (hội đồng trọng tài vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án là tòa án nơi có hội đồng giải quyết tranh chấp thực hiện (điểm b, khoản 2, điều 7 Luật trọng tài thương mại 2010)

Các trường hợp phải thay đổi trọng tài viên:

Hoạt động trọng tài cũng là một hình thức tư pháp, phán quyết trọng tài cũng

là một hình thức tài phán, nó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các bên Do đó, đòi hỏi các trọng tài viên khi hoạt động phải vô tư, khách quan Luật trọng tài thương mại yêu cầu trọng tài viên phải chủ động từ chối giải quyết tranh chấp hoặc các bên đương sự có quyền thay đổi trọng tài viên khi thuộc một trong các trường hợp sau:

- Trọng tài viên là người thân thích hoặc là người đại diện của một bên: Những trường hợp được coi là người thân thích của một trong các bên đương sự là:

+ Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của đương

sự

+ Bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của đương sự

+ Cháu ruột của đương sự, mà đương sự là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột

Trang 27

18

Dù không phải người thân thích của một trong các bên đương sự, nhưng trọng tài viên đồng thời là người đại diện của một bên đương sự trong vụ án tranh chấp thì họ cũng không được tham gia giải quyết tranh chấp với tư cách trọng tài viên

- Trọng tài viên có lợi ích liên quan trong vụ tranh chấp: Khi đã có lợi ích liên quan đến vụ tranh chấp thì không thể là trọng tài viên tham gia giải quyết tranh chấp, không thể giải quyết tranh chấp đúng pháp luật, công bằng Do đó, pháp luật không cho phép người có lợi ích liên quan trong vụ tranh chấp tham gia giải quyết tranh chấp

- Có căn cứ rõ ràng cho thấy Trọng tài viên không vô tư, khách quan: Người yêu cầu thay đổi trọng tài viên trong trường hợp này phải đưa ra chứng cứ chứng minh trong cuộc sống họ có mối quan hệ với nhau, có quan hệ về mặt kinh tế…chứ không thể suy diễn, võ đoán Trọng tài hoặc thẩm phán xử lý trường hợp này cần yêu cầu đương sự chứng minh cho đề nghị thay đổi trọng tài viên; và trọng tài hoặc thẩm phán cần xem xét toàn diện, kiểm tra, đánh giá khách quan trên cơ sở tài liệu, chứng cứ cho các bên xuất trình quyết định

- Đã là hòa giải viên, người đại diện, luật sư của bất cứ bên nào trước khi đưa vụ tranh chấp đó ra giải quyết tại trọng tài, trừ trường hợp được các bên chấp thuận bằng văn bản Về nguyên tắc trọng tài viên thuộc trường hợp nêu trên có thể

bị thay đổi Tuy nhiên, trong trường hợp trọng tài viên đã từng tham gia các hoạt động nói trên, nhưng được các bên đương sự đồng ý thì họ vẫn tiếp tục tham gia giải quyết tranh chấp với tư cách trọng tài viên Song phải được các bên đương sự chấp thuận bằng văn bản

1.3.2 Xem xét khiếu nại và giải quyết khiếu nại quyết định của hội đồng trọng tài

về thẩm quyền

Theo pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003 nếu hội đồng trọng tài đã xem xét và giải quyết khiếu nại của một bên về việc hội đồng trọng tài không có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp mà một trong các bên đương sự không đồng ý

Trang 28

19

giải quyết thì có quyền khởi kiện ra Tòa án, để yêu cầu xem xét lại quyết định của trọng tài Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu Chánh án tòa án nơi có trụ sở của hội đồng trọng tài đang giải quyết tranh chấp (cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) sẽ giao cho một thẩm phán xem xét giải quyết

Luật trọng tài thương mại 2010 cũng quy định tương tự pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003 Tuy nhiên, nếu Tòa án xác định vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của hội đồng trọng tài thì các bên có quyền khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền để giải quyết theo thủ tục chung

1.3.3 Triệu tập người làm chứng, thu thập chứng cứ

Theo Điều 48 Luật trọng tài thương mại 2010 thì hội đồng trọng tài có quyền yêu cầu người làm chứng có mặt tại phiên họp giải quyết tranh chấp Trong trường hợp người làm chứng đã được hội đồng trọng tài triệu tập hợp lệ mà không đến phiên họp và không có lý do chính đáng Việc vắng mặt của người làm chứng gây ảnh hưởng đến việc giải quyết tranh chấp thì hội đồng trọng tài có thể yêu cầu Tòa

án có thẩm quyền ra quyết định triệu tập người làm chứng đến phiên họp của hội đồng trọng tài

Trình tự thủ tục yêu cầu triệu tập người làm chứng được thực hiện theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự; người làm chứng có nghĩa vụ nghiêm chỉnh chấp hành quy định của Tòa án

Theo điều 46 Luật trọng tài thương mại 2010 các bên có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho hội đồng trọng tài để chứng minh các sự việc có liên quan đến nội dung đang tranh chấp Theo yêu cầu của một hoặc các bên, Hội đồng trọng tài có quyền yêu cầu người làm chứng cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến việc giải quyết tranh chấp Trong trường hợp Hội đồng trọng tài, một hoặc các bên

đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì có thể gửi văn bản đề nghị Toà án có thẩm quyền yêu cầu cơ quan,

tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật

Trang 29

20

khác liên quan đến vụ tranh chấp Văn bản đề nghị phải nêu rõ nội dung vụ việc đang giải quyết tại Trọng tài, chứng cứ cần thu thập, lý do không thu thập được tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ chứng cứ cần thu thập

đó Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản, đơn yêu cầu thu thập chứng cứ, Chánh án Tòa án có thẩm quyền phân công một Thẩm phán xem xét, giải quyết yêu cầu thu thập chứng cứ Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải có văn bản yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ cung cấp chứng cứ cho Tòa án và gửi văn bản đó cho Viện kiểm sát cùng cấp để thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu.Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được chứng cứ do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp, Tòa án phải thông báo cho Hội đồng trọng tài, bên yêu cầu biết để tiến hành việc giao nhận chứng cứ.Trường hợp quá thời hạn quy định mà cơ quan, tổ chức, cá nhân không cung cấp chứng cứ theo yêu cầu thì Tòa án phải thông báo ngay cho Hội đồng trọng tài, bên yêu cầu biết đồng thời có văn bản yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật

1.3.4 Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Theo pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 thì việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thuộc thẩm quyền của Tòa án (cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) nơi có trụ sở của trọng tài đang thụ lý giải quyết tranh chấp

Theo Điều 48 Luật trọng tài thương mại 2010 thì “ các bên tranh chấp có

quyền yêu cầu hội đồng trọng tài, Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của Luật này và các quy định của pháp luật có liên quan, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”[23]

Trang 30

21

Như vậy, Luật trọng tài thương mại 2010 đã mở rộng thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cho cả hai cơ quan tài phán hiện nay là Tòa án nhân dân có thẩm quyền và hội đồng trọng tài đang giải quyết tranh chấp

Khoản 1 Điều 51 Luật trọng tài thương mại 2010 quy định “ theo yêu cầu

của một bên, hội đồng trọng tài có quyền thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời vào bất kỳ thời điểm nào trong quá trình giải quyết tranh chấp” [23]

Luật trọng tài thương mại 2010 đã giao thẩm quyền xem xét, áp dụng, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời cho hội đồng trọng tài trong quá trình giải quyết tranh chấp Theo khoản 1 Điều 53 Luật trọng tài thương mại 2010

quy định: “ Sau khi nộp đơn khởi kiện và trước khi thành lập Hội đồng trọng tài,

nếu quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại hoặc có nguy cơ trực tiếp bị xâm hại, một bên có quyền làm đơn gửi lên Tòa án có thẩm quyền yêu cầu áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời” [12]

Khoản 4 Điều 53 Luật trọng tài thương mại 2010 quy định “Trình tự, thủ tục

áp dụng, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.” [12]

Để tránh sự chồng chéo trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời giữa hai cơ quan tài phán, Luật trọng tài thương mại 2010 quy định như sau:

Khoản 3 Điều 49: “Trong quá trình giải quyết tranh chấp, nếu một trong các

bên đã yêu cầu Tòa án áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại khoản 2 Điều này mà sau đó lại có đơn yêu cầu Hội đồng trọng tài áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Hội đồng trọng tài phải từ chối.”[12]

Khoản 5 điều 53 :” Trong quá trình giải quyết tranh chấp, nếu một trong các

bên đã yêu cầu Hội đồng trọng tài áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời mà lại có đơn yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Tòa

án phải từ chối và trả lại đơn yêu cầu, trừ trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài”.[12]

Trang 31

22

Đồng thời để hiểu chính xác về yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

của một bên khoản 2 điều 48 quy định “ Việc yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp

khẩn cấp tạm thời không bị coi là sự bác bỏ thỏa thuận trọng tài hoặc khước từ quyền giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài.” [12]

Các biện pháp khẩn cấp tạm thời được thực hiện theo điều 49 Luật trọng tài thương mại 2010 bao gồm các biện pháp sau:

- Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp: Trong quá trình giải

quyết việc tranh chấp, Hội đồng trọng tài có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp này khi hội tụ đầy đủ các điều kiện sau:

+ Đối tượng mà đương sự yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải

là tài sản đang có tranh chấp

+ Người đang chiếm hữu hoặc giữ tài sản hoặc người khác đang có hành vi làm thay đổi hiện trạng của tài sản như phá hủy, tháo dỡ, lắp ghép xây dựng thêm hoặc có hành vi khác làm thay đổi hiện trạng tài sản

+ Người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đã thực hiện nghĩa vụ bảo đảm tài chính

Đương sự yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải đưa ra tài liệu, chứng cứ chứng minh bên đang chiếm hữu, giữ tài sản đang có hành vi làm thay đổi hiện trạng tài sản Hội đồng trọng tài hoặc thẩm phán phải xem xét các yêu cầu, các căn cứ mà đương sự đã đưa ra để quyết định có áp dụng biện pháp khẩn cấp đó hay

- Cấm hoặc buộc bất kỳ bên tranh chấp nào thực hiện một hoặc một số hành

vi nhất định nhằm ngăn ngừa các hành vi ảnh hưởng bất lợi đến quá trình tố tụng trọng tài: Trong quá trình Trọng tài giải quyết tranh chấp, nếu thấy đương sự nào đó

đang có hành vi (hành động hoặc không hành động) mà hành vi đó sẽ có tác động gây bất lợi cho quá trình tố tụng thì đương sự bên kia có quyền yêu cầu trọng tài hoặc tòa án áp dụng biện pháp cấm hoặc buộc bên tranh chấp thực hiện một hoặc

Trang 32

23

một số hành vi nhất định Khi có đương sự yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp này, nếu thấy yêu cầu đó là chính đáng và đương sự đã xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho việc cần thiết phải áp dụng biện pháp khẩn cấp này thì

- Kê biên tài sản đang tranh chấp: Biện pháp này chỉ áp dụng cho trường

hợp người chiếm giữ tài sản đang có tranh chấp có hành vi tẩu tán, cất giấu tài sản đnag có tranh chấp gây khó khăn trong việc xem xét, giải quyết của Hội đồng trọng tài hoặc thi hành án sau này, thì theo yêu cầu của một trong các bên đương sự Hội đồng trọng tài hoặc tòa án có quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp này Tài sản kê biên có thể thu giữ bảo quản tại cơ quan thi hành án hoặc lập biên bản giao cho một bên đương sự hoặc người thứ ba quản lý cho đến khi có quyết định của Hội đồng trọng tài hoặc tòa án Khi lập biên bản kê biên phải ghi rõ ngày, giờ, loại tài sản, mô

tả đầy đủ, chính xác tình trạng tài sản Cơ quan, người thứ ba được giao quản lý tài

- Yêu cầu bảo tồn, cất trữ, bán hoặc định đoạt bất kỳ tài sản nào của một

hoặc các bên tranh chấp: Có những tài sản đang tranh chấp hoặc có liên quan đến

tranh chấp, nếu không xử lý kịp thời sẽ hư hỏng, mất giá trị, hoặc giảm giá trị hoặc làm biến dạng tài sản Trong trường hợp này, theo yêu cầu của một trong các bên tranh chấp Hội đồng trọng tài hoặc Tòa án có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “ bảo tồn, cất trữ, bán hoặc định đoạt bất kỳ tài sản nào của một hoặc các bên tranh chấp” khi các bên đương sự đã đưa ra tài liệu, chứng cứ chứng minh cho sự

- Yêu cầu tạm thời về việc trả tiền giữa các bên: Để kịp thời xử lý những nhu

cầu cấp bách của đương sự, dù hai bên còn đang có tranh chấp về quyền và nghĩa

vụ, về hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ….đang phải chờ hội đồng trọng tài phán xử, thì theo yêu cầu của một trong các bên tranh chấp, Hội đồng trọng tài hoặc tòa án có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời về việc trả tiền giữa các bên

Trang 33

24

tranh chấp khi bên yêu cầu đã chứng minh yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp này

- Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp: Dù tố

tụng trọng tài diễn ra trong thời gian không dài so với tố tụng Tòa án, nhưng nó vẫn cần một khoảng thời gian nhất định Lợi dụng thời gian tố tụng trọng tài đang diễn

ra một bên tranh chấp có thể có hành vi bán, chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho… tài sản đang có tranh chấp, hành vi này đe dọa gây thiệt hại cho đương sự khác hoặc gây khó khăn trong việc giải quyết tranh chấp Do đó, khi có yêu cầu của một trong

các bên đương sự áp dụng biện pháp khẩn cấp Cấm chuyển dịch quyền về tài sản

đối với tài sản đang tranh chấp thì hội đồng trọng tài hoặc Tòa án phải áp dụng

biện pháp này

Các biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại khoản 2 Điều 49 Luật trọng tài thương mại, có biện pháp chỉ là một hành vi, một đối tượng, một hoạt động chuyển dịch, một hành động… cần ngăn chặn hoặc buộc phải thực hiện, cấm thực hiện, nhưng có biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định kép, nên chứa đựng nhiều nội dung, nhiều hành vi, hoạt động cần điều chỉnh bằng biện pháp khẩn cấp tạm thời Ví dụ: biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại điểm b khoản 2 Điều 49 Luật trọng tài thương mại điều chỉnh hai loại hành vi trái ngược nhau đó là “ cấm” thực hiện một hoặc một số hành vi hoặc “ buộc” thực hiện một hoặc một số hành vi; còn biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại điểm d khoản 2 Điều 49 Luật trọng tài thương mại lại điều chỉnh rất nhiều hoạt động khác nhau đó là: hoạt động về bảo tồn, hoạt động

về cất trữ, hoạt động giao dịch như mua bán, chuyển nhượng, hành vi định đoạt…

Do đó, khi áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không phải bê nguyên xi toàn bộ các hành vi mà chỉ nêu những hành vi, hoạt động nào cần điều chỉnh, ngăn chặn theo yêu cầu của đương sự Nếu thực tế đang diễn ra hoặc sẽ diễn ra tất cả các hành

vi, hoạt động… được quy định trong biện pháp khẩn cấp tạm thời đó và một bên yêu cầu áp dụng biện pháp ngăn chặn toàn bộ các hành vi, hoạt động… đang hoặc

sẽ diễn ra được quy định trong biện pháp khẩn cấp tạm thời đó mới ghi nguyên văn tất cả hành vi, hoạt động được quy định trong điểm, khoản của điều luật

Trang 34

25

Khi một hay các bên có yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp thì phải có đơn yêu cầu với nội dung cụ thể theo khoản 2 Điều 50 Luật trọng tài thương mại 2010:

- Ngày, tháng, năm làm đơn;

- Tên, địa chỉ của bên có yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;

- Tên, địa chỉ của bên bị yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;

- Tóm tắt nội dung tranh chấp;

- Lý do cần phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;

- Biện pháp khẩn cấp tạm thời cần được áp dụng và các yêu cầu cụ thể

Kèm theo đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, bên yêu cầu phải cung cấp cho Hội đồng trọng tài chứng cứ để chứng minh cho sự cần thiết phải

áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đó

Tùy theo yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà người yêu cầu phải cung cấp cho Tòa án chứng cứ để chứng minh cho sự cần thiết phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đó

Người yêu cầu Tòa án áp dụng một trong các biện pháp khẩn cấp tạm thời phải nộp cho Tòa án chứng từ bảo lãnh được bảo đảm bằng tài sản của ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do Tòa án ấn định nhưng phải tương đương với tổn thất hoặc thiệt hại có thể phát sinh do hậu quả của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng để bảo vệ lợi ích của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và ngăn ngừa sự lạm dụng quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời từ phía người có quyền yêu cầu

- Phải có xác nhận của trung tâm trọng tài về việc thụ lý đơn khởi kiện

- Phải gửi tài liệu liên quan đến đơn khởi kiện ( tài liệu nước ngoài phải được dịch và công chứng hợp lệ)

Trang 35

26

Sau khi nhận được đơn yêu cầu của đương sự yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp trong thời hạn 03 ngày Tòa án phải xem xét nếu đủ điều kiện thì cho đương sự nộp án phí và thụ lý giải quyết Không đủ điều kiện thì trả lại đơn yêu cầu

Thủ tục thay đổi, áp dụng bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời

Bên yêu cầu thay đổi, bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời phải làm đơn gửi Hội đồng trọng tài Nội dung cơ bản gồm:

+ Ngày, tháng, năm làm đơn;

+ Tên, địa chỉ của bên có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;

+ Tên, địa chỉ của bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;

+ Tóm tắt nội dung tranh chấp;

+ Lý do cần phải thay đổi, bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời;

+ Biện pháp khẩn cấp tạm thời cần được thay đổi, bổ sung và các yêu cầu cụ thể

Hội đồng trọng tài xem xét, quyết định

Hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời:

Khi có một trong các căn cứ dưới đây thì hội đồng trọng tài phải ra quyết định hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời

- Bên yêu cầu áp áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời yêu cầu hủy bỏ;

- Bên phải thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đã nộp tài sản hoặc có người khác thực hiện biện pháp bảo đảm thi hành nghĩa vụ đối với bên có yêu cầu;

tr 247 - 248].

Trang 36

27

1.3.5 Đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc

Chủ thể có quyền đăng ký phán quyết trọng tài: Chỉ có các bên trong quan

hệ tranh chấp có quyền đăng ký phán quyết trọng tài Việc đăng ký phán quyết trọng tài không đòi hỏi phải có sự đồng thuận của các bên tranh chấp Chỉ cần một trong số các bên tranh chấp yêu cầu tòa án đăng ký phán quyết trọng tài là được chấp nhận Thời hạn đăng ký phán quyết trọng tài theo khoản 2 Điều 62 Luật trọng tài thương mại là 01 năm kể từ ngày ban hành phán quyết trọng tài, hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày ban hành phán quyết trọng tài, mà một hoặc các bên mới có đơn yêu cầu tòa án đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc, thì Tòa án không có thẩm quyền xem xét, giải quyết đơn yêu cầu đó

Xử lý đơn yêu cầu quá hạn: Trường hợp đơn yêu cầu gửi quá hạn, người yêu cầu phải trình bày trong đơn lý do quá hạn và xuất trình các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho sự quá hạn đó Nếu lý do quá hạn là vì sự kiện bất khả kháng thì thời gian thì thời gian có sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hạn 30 ngày nêu trên Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép Ví dụ: động đất, núi lửa, lũ lụt, chiến tranh…

Theo Điều 62 Luật trọng tài thương mại năm 2010 thì tòa án nơi Hội đồng trọng tài vụ việc đã ra phán quyết trước khi yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án sẽ có đơn yêu cầu Tòa án xem xét phán quyết trọng tài vụ việc

Trình tự, thủ tục đăng ký phán quyết trọng tài:

- Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn xin đăng ký phán quyết, Chánh án Tòa án phải phân công một Thẩm phán xem xét đơn đăng ký phán quyết

- Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải kiểm tra tính xác thực của các tài liệu gửi kèm theo đơn và thực hiện việc đăng ký Trường hợp xác định phán quyết trọng tài không có thật thì Thẩm phán từ chối đăng

Trang 37

28

ký, trả lại đơn yêu cầu và các tài liệu kèm theo và phải thông báo ngay cho bên có yêu cầu biết, đồng thời nêu rõ lý do

- Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa

án, người yêu cầu đăng ký phán quyết trọng tài có quyền khiếu nại với Chánh án Tòa án về việc từ chối đăng ký phán quyết trọng tài

- Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Chánh

án Tòa án phải xem xét và ra quyết định giải quyết khiếu nại Quyết định giải quyết khiếu nại của Chánh án Tòa án là quyết định cuối cùng

Nội dung đăng ký phán quyết trọng tài được quy định như sau:

- Thời gian, địa điểm thực hiện việc đăng ký;

- Tên Tòa án tiến hành việc đăng ký;

- Tên, địa chỉ của bên yêu cầu thực hiện việc đăng ký;

- Phán quyết được đăng ký;

- Chữ ký của người có thẩm quyền và đóng dấu của Tòa án

Dù luật trọng tài thương mại Việt Nam đã có quy định rất rõ về đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc Nhưng có một điều cần chú ý tại khoản 1 Điều 62 Luật

trọng tài thương mại “ Việc đăng ký hoặc không đăng ký phán quyết trọng tài không

ảnh hưởng đến nội dung và giá trị pháp lý của phán quyết trọng tài” Điều đó có

nghĩa là phán quyết trọng tài dù đăng ký hay không đăng ký đều có giá trị pháp lý

1.3.6 Hủy phán quyết trọng tài

Theo Điều 69 Luật trọng tài thương mại năm 2010 thì Tòa án có thẩm quyền xem xét việc hủy quyết định của trọng tài khi có yêu cầu của một bên nếu có căn cứ như sau:

- Không có thoả thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu: Thỏa

thuận trọng tài là một cấu thành quan trọng tạo nên thẩm quyền của trọng tài Dù loại việc tranh chấp được quy định tại Điều 2 của Luật trọng tài thương mại thuộc

Trang 38

29

thẩm quyền trọng tài nhưng nếu không có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu thì tranh chấp đó Trọng tài không có thẩm quyền giải quyết Trong trường hợp trọng tài đã thụ lý đơn thì phải căn cứ Điều 43 Luật trọng tài thương mại

để ra quyết định đình chỉ giải quyết Nếu Hội đồng trọng tài không đình chỉ mà tiếp tục giải quyết và ra phán quyết thì đương sự có quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài đó Trường hợp này Tòa án căn cứ điểm a, khoản 2 Điều 68 Luật trọng tài thương mại để hủy phán quyết trọng tài, nếu như bên yêu cầu hủy phán quyết trọng tài đã có phản đối về thẩm quyền trọng tài trong thời hạn luật định Việc xác định

vụ việc đó có thỏa thuận trọng tài hay không rất quan trọng Căn cứ Luật trọng tài thương mại và nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP thì có thể coi các trường hợp sau là không có thỏa thuận trọng tài, là căn cứ để hủy quyết định trọng tài theo khoản 2 Điều 68 Luật trọng tài thương mại:

+ Giữa các bên tranh chấp hoàn toàn không có thỏa thuận trọng tài Giữa các bên tuy có ký hợp đồng về đầu tư, mua bán hàng hóa, dịch vụ… nhưng trong hợp đồng, phụ lục hợp đồng hoặc các văn bản khác giữa các bên không có thỏa thuận nếu có tranh chấp sẽ do trọng tài giải quyết Khi tranh chấp, khi đã khởi kiện, trong quá trình tố tụng… các bên cũng không có thỏa thuận tranh chấp sẽ do trọng tài giải quyết thì trọng tài không có thẩm quyền giải quyết Tuy nhiên, cần tôn trọng ý chí đích thực của các bên Do vậy, trên thực tế trong một số trường hợp mặc dù trong hợp đồng hay các tài liệu kèm theo các bên đều không có điều khoản trọng tài nhưng nếu một bên nộp đơn ra hội đồng trọng tài và bên còn lại chỉ phản đối nội dung không phản đối việc nguyên đơn nộp đơn khởi kiện ra trọng tài Trong quá trình tố tụng bị đơn vẫn tham gia giải quyết tại Hội đồng trọng tài cho đến khi ban hành phán quyết Như vậy, trường hợp này cũng có thể xem như các bên đã xác lập thỏa thuận trọng tài mới sau khi tranh chấp xảy ra Thỏa thuận này cũng có thể xem như đã lập thành văn bản là đơn khởi kiện của nguyên đơn hoặc quyết định về thẩm quyền của hội đồng trọng tài mà không có sự phản đối của các bên

+ Thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được: Đây là trường hợp các bên

đã có thỏa thuận trọng tài trước, trong hoặc sau khi xảy ra tranh chấp tuy nhiên xuất

Trang 39

30

hiện những tình huống, sự kiện và có thể luật dành quyền lựa chọn cho một bên khi tranh chấp xảy ra dẫn đến thỏa thuận trọng tài đó không thể thực hiện được Trường hợp này cũng có thể coi như không có thỏa thuận trọng tài “ Thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được” quy định tại Điều 6 Luật trọng tài thương mại, Điều 4 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP gồm:

Các bên đã có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại một trung tâm trọng tài cụ thể nhưng trung tâm trọng tài này đã chấm dứt hoạt động mà không có tổ chức trọng tài kế thừa và các không thỏa thuận được việc lựa chọn Trung tâm trọng tài khác để giải quyết tranh chấp

Các bên đã có thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên trọng tài vụ việc, nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà Trọng tài viên không thể tham gia giải quyết tranh chấp, hoặc Trung tâm trọng tài, Tòa án không thể tìm được Trọng tài viên như các bên thỏa thuận và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trọng tài viên khác để thay thế

Các bên đã có thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên trọng tài vụ việc, nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, Trọng tài viên từ chối việc được chỉ định hoặc Trung tâm trọng tài từ chối việc chỉ định Trọng tài viên và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trọng tài viên khác để thay thế

Các bên có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài nhưng lại thỏa thuận áp dụng Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài khác với Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm trọng tài đã thỏa thuận và điều lệ của Trung tâm trọng tài do các bên lựa chọn để giải quyết tranh chấp không cho phép áp dụng Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài khác và các bên không thỏa thuận được về việc lựa chọn Quy tắc tố tụng trọng tài thay thế

Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng có điều khoản về thỏa thuận trọng tài được ghi nhận trong các điều kiện chung về cung cấp hàng hoá, dịch

vụ do nhà cung cấp soạn sẵn quy định tại Điều 17 Luật TTTM nhưng khi phát sinh

tranh chấp, người tiêu dùng không đồng ý lựa chọn Trọng tài giải quyết tranh chấp

Trang 40

án xét thấy đó là những vi phạm nghiêm trọng và cần phải hủy nếu Hội đồng trọng tài không thể khắc phục được hoặc không khắc phục theo yêu cầu của Tòa án quy định tại khoản 7 Điều 71 Luật TTTM

Ví dụ 1: Trường hợp một bên không được thông báo về đơn khởi kiện quy

định tại Điều 32 Luật TTTM kịp thời và hợp pháp theo quy tắc tố tụng trọng tài, Luật TTTM dẫn tới việc không đảm bảo được quyền được thành lập Hội đồng trọng tài là trường hợp vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trọng tài quy định tại điểm b khoản 2 Điều 68 Luật TTTM

Ví dụ 2: Các bên thỏa thuận tranh chấp được giải quyết bởi Hội đồng trọng

tài gồm ba trọng tài viên và áp dụng luật nội dung của Việt Nam để giải quyết vụ tranh chấp nhưng thực tế việc giải quyết tranh chấp được tiến hành bởi Hội đồng Trọng tài gồm một Trọng tài viên duy nhất, pháp luật áp dụng là pháp luật nội dung của Singapore mặc dù một bên có phản đối nhưng không được Hội đồng trọng tài chấp nhận thì đây là trường hợp vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trọng tài quy định tại điểm b khoản 2 Điều 68 Luật TTTM

- Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; trường hợp phán quyết trọng tài có nội dung không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài thì nội dung đó bị hủy Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng

trọng tài có thể hiểu theo nghĩa rộng gồm ba trường hợp: Vụ tranh chấp không thuộc loại việc được quy định tại Điều 2 Luật trọng tài thương mại; vụ tranh chấp thuộc loại việc được quy định tại Điều 2 Luật trọng tài thương mại nhưng thỏa thuận đó không thể thực hiện được; thỏa thuận trọng tài vô hiệu Nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì đó là vụ tranh chấp không thuộc loại việc được quy định tại Điều 2

Ngày đăng: 22/04/2020, 17:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w