“Thực trạng và giải pháp từng bước thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2000 – 2010 trên địa bàn huyện Duy tiên, tỉnh Hà Nam”, Luận văn thạc sỹ Luật học, Học viện Nông ngh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ QUY HOẠCH, KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN MỸ LỘC, TỈNH NAM ĐỊNH
PHẠM VĂN BẨY
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 8380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TS.DƯƠNG QUỲNH HOA
HÀ NỘI - 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Họ và tên em là: Phạm Văn Bẩy
Em xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS.Dương Quỳnh Hoa
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này trung thực, chính xác và khách quan
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
HỌC VIÊN
Phạm Văn Bẩy
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin bày tỏ sự biết ơn, lòng kính trọng tới TS.Dương Quỳnh Hoa người đã vun đắp ý tưởng và tiếp sức cho tôi trong suốt thời gian nghiên cứu luận văn Tôi cảm ơn cô không chỉ vì những kiến thức hữu ích cô
đã truyền đạt mà còn bởi cô đã để lại trong trái tim tôi hình ảnh cao đẹp về một nhà nghiên cứu khoa học chân chính
Tôi không quên dành lời cảm ơn thân thương nhất đến những người thân trong gia đình tôi
Tôi muốn cảm ơn những đồng nghiệp nơi tôi công tác và bạn bè tôi – những người đã ủng hộ, giúp đỡ tôi về mặt tinh thần cũng như chia sẻ những khó khăn trong những năm tháng học tập, nghiên cứu
Và trên hết, tôi xin dành lời cảm ơn thiêng liêng nhất đến cha mẹ tôi - những người đã sinh thành ra tôi, nuôi dưỡng và luôn bên tôi khi tôi hạnh phúc cũng như khi tôi khó khăn, khi tôi vui cũng như lúc tôi buồn
Tôi xin dành thành quả mà tôi đạt được từ những nghiên cứu khoa học của mình kính tặng cha mẹ tôi với lòng biết ơn sâu sắc nhất!
HỌC VIÊN
Phạm Văn Bẩy
Trang 5MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT 9
VỀ QUY HOẠCH, KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 9
1.1 Những vấn đề lý luận về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 9
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất 9
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của kế hoạch sử dụng đất 13
1.1.3 Mục đích và ý nghĩa của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 15
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 18
1.2 Những vấn đề lý luận về pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 21
1.2.1 Khái niệm pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 21
1.2.2 Cơ cấu về pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 23
Kết luận chương 1 26
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ QUY HOẠCH, KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MỸ LỘC, TỈNH NAM ĐỊNH 27
2.1.2 Các quy định về căn cứ lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 31
2.1.3 Các quy định về nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 32
2.1.4 Các quy định về lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 36
2.1.5 Các quy định về thực hiện và quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 42
2.2 Về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Mỹ Lộc – tỉnh Nam Định 45
Trang 62.2.1 Về điều kiện tự nhiên và các nguồn tài nguyên 45
2.3 Thực tiễn thi hành pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định 55
2.3.1 Những kết quả đạt được trong việc thi hành pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định 55
2.3.2 Những bất cập, hạn chế còn tồn tại trong việc thi hành pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định 57
Kết luận chương 2 58
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUY HOẠCH, 59
KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 59
3.1 Những bất cập, hạn chế và bài học kinh nghiệm trong việc thi hành pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định 59
3.2 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 60
3.2.1 Đảm bảo những quy định cơ bản về xây dựng pháp luật đất đai của Đảng và Nhà nước trên cơ sở đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý 60
3.2.2 Góp phần ổn định chính trị, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và hôi nhập quốc tế 61
3.2.3 Đảm bảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là công cụ định hướng chiến lược cho Nhà nước để thực hiện công tác quản lý đất đai 62
3.2.4 Đảm bảo quỹ đất đai nông nghiệp, bảo vệ môi trường để phát triển bền vững, bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa, cảnh quan thiên nhiên, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc 63
Trang 73.3 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 64
3.3.1 Bài học kinh nghiệm trong việc thực hiện kế hoạch sử dụng đất trong thời gian tới 64
3.3.2 Ban hành hệ thống văn bản để hướng dẫn, cụ thể hóa nhằm thực hiện Luật Quy hoạch một cách đồng bộ, thống nhất quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất với các hệ thống quy hoạch, kế hoạch khác 65
3.2.3 Hoàn thiện quy định về hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 66
3.3.4 Hoàn thiện các quy định về lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 66
3.3.5 Hoàn thiện các quy định về việc lấy ý kiến của người dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 68
3.3.6 Hoàn thiện các quy định về điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 69
3.3.7 Hoàn thiện các quy định về thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 70 3.4 Các giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định 71
3.4.1 Giải pháp về công tác quản lý 71
3.4.2 Giải pháp về kinh tế - tài chính 72
3.4.3 Giải pháp về khoa học – công nghệ, bảo vệ môi trường 72
3.4.4 Các giải pháp khác 73
Kết luận chương 3 74
KẾT LUẬN 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhà nước vừa với tư cách là đại diện chủ sở hữu đất đai, vừa với tư cách là người quản lý thống nhất mọi mặt đời sống kinh tế xã hội, trong đó có quản lý đất đai nên Nhà nước là người duy nhất có quyền xây dựng các chiến lược phát triển, phê duyệt các chương trình quốc gia về khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó nguồn tài nguyên có giá trị quan trọng bậc nhất là đất đai Tuy nhiên, thực tế cho thấy, đất đai có giới hạn về không gian, diện tích, trong khi đó nhu cầu cho tất cả các ngành, các lĩnh vực và cho nhu cầu khác nhau của mỗi người dân là vô cùng phong phú, đa dạng và có chiều hướng ngày càng tăng cao Vì vậy, Nhà nước không thể để các nhu cầu đó phát triển một cách tự phát mà có QH, KH điều tiết nó cho phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và định hướng của Nhà nước QH, KHSDĐ là cơ sở khoa học của quá trình xây dựng chiến lược về khai thác, sử dụng đất, là tiền đề cho việc thực hiện đúng đắn các nội dung QLNN về đất đai, mà nội dung trọng tâm là hoạt động phân bổ và điều chỉnh đất đai cho mục tiêu kinh tế - xã hội
Nguyên tắc “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch” đã trở
thành một trong những nguyên tắc cơ bản và xuyên suốt của ngành LĐĐ Nguyên tắc này được ghi nhận tại Điều 06, LĐĐ năm 2003 thể hiện chức năng của Nhà nước là quản lý và sử dụng đất đúng QH, KHSDĐ Công tác QH, KHSDĐ được
“luật hóa” chính thức từ LĐĐ năm 1987 Trong gần 30 năm qua, các quy định của
pháp luật về QH, KHSDĐ không ngừng được bổ sung, hoàn thiện, tạo hàng lang pháp lý ngày càng đầy đủ hơn để triển khai thực hiện Trên cơ sở đó, công tác QH, KHSDĐ đã có những bước tiến rõ rệt và đạt được những kết quả tích cực như QH, KHSDĐ đã trở thành công cụ QLNN về đất đai hiệu quả; QH, KHSDĐ là một trong những giải pháp lớn để sử dụng đất đai hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả và bền vững Hơn nữa, LĐĐ năm 2013 ra đời và có hiệu lực từ ngày 01/7/2014 đã góp phần tăng cường tính dân chủ, công khai và minh bạch từ việc lập cho đến việc thưc hiện QH, KHSDĐ
Trang 9Tuy nhiên, bên cạnh đó, công tác QH, KHSDĐ cũng còn bộc lộ nhiều hạn chế: chất lượng quy hoạch chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt chưa có tầm nhìn xa trong dự báo; quy hoạch thường đi sau thực tế Việc lập, tổ chức triển khai và giám sát thực hiện QH, KHSDĐ chưa được quan tâm đúng mức; việc phân cấp trong quản lý quy hoạch còn bất cập Hệ thống QH, KH sử dụng đất chưa đảm bảo được tính hợp lý, tính kết nối và đồng bộ với các hệ thống quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triên kinh tế - xã hội; hệ thống QH, KHSDĐ các
ngành,…QH, KHSDĐ thiếu tính khả thi nên tình trạng quy hoạch “treo” vẫn diễn ra
phổ biến, hiện tượng quy hoạch nhiệm kỳ, bẻ cong quy hoạch vẫn còn tồn tại
Huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định là một huyện đang trên đà phát triển, đang trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp, xây dựng và dịch vụ Nên dẫn đến quỹ đất nông nghiệp sẽ giảm, quỹ đất dành cho công nghiệp, xây dựng, dịch vụ sẽ tăng Song song với quá trình chuyển dịch đó, để khai thác, sử dụng đất đạt được mục tiêu tiết kiệm, hiệu quả và bảo vệ môi trường trong công tác QLNN về đất đai thì công tác QH, KHSDĐ phải được đặc biệt quan tâm, chú trọng Thực thi pháp luật về QH, KHSDĐ trên địa bàn huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định trong những năm gần đây cũng gặp nhiều khó khăn, trở ngại và cũng xuất hiện những tồn tại, bất cập như đã nêu ở trên Nguyên nhân nào dẫn đến những tồn tại, bất cập nói trên trong QH, KHSDĐ?
Với mong muốn để hoạt động QH, KHSDĐ trong thời gian tới trên địa bàn huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định được chất lượng, hiệu quả hơn, đảm bảo là cầu nối cho việc thực hiện tốt mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, an ninh và quốc phòng một cách bền vững, tác giả mong muốn được nghiên cứu những quy định của pháp luật QH, KHSDĐ và công tác thi hành pháp luật QH, KHSDĐ trên địa bàn huyện
Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định để tìm ra những yếu kém, bất cập, chưa phù hợp và nguyên nhân của những bất cập, hạn chế và từ đó có những đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lượng công tác thi hành pháp luật QH, KHSDĐ trên địa bàn huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định Xuất phát từ những điều nói trên, tác giả lựa
Trang 10chọn đề tài: “Pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất từ thực tiễn huyện
Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định” làm đề tài luận văn cao học của mình
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Hiện có khá nhiều các công trình nghiên cứu khá đầy đủ và có hệ thống ở nhiều cấp
độ khác nhau về pháp luật QH, KHSDĐ của các chuyên gia, các nhà khoa học tại các cơ quan nhà nước, các cơ sở đào tạo luật học cũng như đào tạo chuyên ngành quản lý đất đai
Có thể kể đến các công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
PGS.TS Phạm Hữu Nghị “Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo pháp luật Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 10/2008;
TS Nguyễn Đình Bồng, “Công tác quy hoạch sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất trong quản lý nhà nước về đất đai”, tham
luận hội thảo, Hà Nội, 2012;
Lương Nhân Hòa, “Pháp luật về quy hoạch sử dụng đất – Thực trạng và kiến nghị”, Luận văn thạc sĩ, Học viện khoa học xã hội, năm 2012;
Nguyễn Thảo, “Kinh nghiệm về quy hoạch sử dụng đất của một số nước trên thế giới”, năm 2013;
ThS Đỗ Việt Cường, “Những sửa đổi, bổ sung của Luật Đất đai năm 2013 về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất”, Tạp chí Luật học, đặc san tháng 11/2014;
Lê Thị Phúc, “Pháp luật về quy hoạch sử dụng đất qua thực tiễn tại tỉnh Thừa Thiên Huế”, Luận án tiến sĩ luật học, Khoa Luật, Trường Đại học quốc gia
năm 2014;
Nguyễn Bích Huệ, “Pháp luật về quy hoạch sử dụng đất qua thực tiễn quận
Hà Đông, thành phố Hà Nội”, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Học viện khoa học xã
hội, năm 2014;
Chu Văn Thỉnh, “Nhìn lại công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở nước
ta 10 năm qua”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học về quy hoạch đất, năm 2014;
Trang 11“Thực trạng và giải pháp từng bước thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2000 – 2010 trên địa bàn huyện Duy tiên, tỉnh Hà Nam”, Luận
văn thạc sỹ Luật học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam;
Nguyễn Thị Thảo Hiền (2015), “Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc”, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại
học Khoa học Tự nhiên – Đại học quốc gia Hà Nội;
Bài viết “Từng bước hoàn thiện quy định về công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất kịp thời phục vụ phát triển kinh tế xã hội từng thời kỳ” của Tiến sỹ
Nguyễn Đắc Nhẫn – Phó Cục trưởng Cục quy hoạch đất đai – Tổng cục Quản lý đất đai (ngày 10/9/2015);
Bài viết: “Cách tiếp cận quy hoạch sử dụng đất trong dự thảo Luật Quy hoạch” của GS.TSKH Đặng Hùng Võ – Nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi
trường trên tạp chí Kinh tế và Dự báo số 07/2017…
Những công trình nghiên cứu này đã tiếp cận, luận giải khái niệm, đặc điểm
và các vấn đề lý luận cơ bản về QHSDĐ dưới góc độ là đối tượng điều chỉnh của pháp luật; xây dựng những lý luận cơ bản về pháp luật QHSDĐ; đã lý giải được sự cần thiết phải điều chỉnh pháp luật đối với QHSDĐ; bước đầu xây dựng lý luận về nội dung của pháp luật QHSDĐ; cũng đã phân tích được các yếu tố khách quan, yếu
tố tác động đến việc thực hiện QHSDĐ Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này chưa đi sâu phân tích mối quan hệ giữa QHSDĐ với các quy hoạch khác để thấy được sự tác động và ảnh hưởng lẫn nhau; chưa kết nối được thực tiễn và lý luận của QHSDĐ như đánh giá sự hiện thực hóa QH, KHSDĐ trên thực tế…
Vì vậy, luận văn này trên cơ sở kế thừa và phát triển sẽ có những điểm mới
so với các công trình trước đây như: làm rõ mối quan hệ của các loại quy hoạch; phân tích sự hiện thực hóa QHSDĐ tổng thể và chi tiết trên thực tế so với các chỉ tiêu đề ra, sự phù hợp và bám sát vào mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, sự tồn đọng của kỳ quy hoạch là gì, nguyên nhân và giải pháp của địa phương từ đó khái
Trang 12quát áp dụng trên cả nước Luận văn cũng đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật QHSDĐ và đảm bảo thực hiện tại huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về QH, KHSDĐ; Phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về QH, KHSDĐ trên địa bàn huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, từ đó chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của pháp luật về QH, KHSDĐ; từ đó luận văn đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật và tăng cường năng lực thực hiện pháp luật về QH, KHSDĐ trong giai đoạn hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, đề tài sẽ thực hiện, giải quyết một số nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về quy hoạch, kế hoạch SDĐ, Pháp luật quy hoạch, kế hoạch SDĐ Phân tích một cách có hệ thống các quy định của Pháp Luật về QH, KHSDĐ
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất như: khái niệm, đặc điểm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; làm rõ mục đích và ý nghĩa của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Phân tích làm rõ những vấn đề lý luận về pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất như khái niệm pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, bao gồm yếu tố chính trị, yếu tố kinh tế, yếu tố văn hóa – xã hội, yếu tố lịch sử
- Làm rõ Cơ cấu về pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Đánh giá thực trạng pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở Việt Nam hiện nay trên các nhóm quy phạm sau đây: Các quy định về nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Các quy định về căn cứ lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Các
Trang 13quy định về nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Các quy định về lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Tư vấn quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử đụng đất; phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Các quy định về thực
hiện và quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, nêu lên Những kết quả đạt được trong việc thi hành pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, Những bất cập, hạn chế còn tồn tại trong việc thi hành pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định
và nguyên nhân của nó
- Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phàn đổi mới, hoàn thiện pháp luật đất đai nói chung, chế định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nói riêng đồng thời nâng cao năng lực thực hiện hiệu quả công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong thực tiễn
4 Đối tƣợng và Phạm vi nghiên cứu đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật về QH, KHSDĐ và văn bản hướng dẫn thi hành liên quan để đánh giá những ưu điểm, hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành về QH, KHSDĐ Bên cạnh đó, đề tài cũng tập trung đánh giá việc áp dụng pháp luật và thực hiện QH, KHSDD trên địa bàn huyện Mỹ Lộc tỉnh Nam Định
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Phạm vi không gian: Đề tài chỉ đánh giá và phân tích thực tiễn thi hành pháp luật
về QH, KHSDĐ trên địa bàn huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định hiện nay;
Phạm vi thời gian: Đánh giá thực tiễn về thi hành pháp luật về kế hoạch sử dụng đất ở Mỹ Lộc (2011-2015) và quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020
Trang 145 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
5.1 Phương pháp luận
Cơ sở phương pháp luận là Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử; tư duy, quan điểm, đường lối về phát triển kinh tế nhiều thành phần, xây dựng nhà nước pháp quyền trong cơ chế thị trường của Đảng và Nhà nước ta Đây là những phương pháp luận khoa học được sử dụng xuyên suốt trong toàn bộ luận văn để đánh giá khách quan hệ thống pháp luật thực định về QH, KHSDĐ và thực tiễn QH, KH SDĐ trên địa bàn huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản mà luận văn đặt ra, Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
- Phương pháp phân tích, phương pháp lịch sử…được sử dụng trong chương 1 khi nghiên cứu tổng quan những vấn đề lý luận cơ bản về QH, KHSDĐ
- Phương pháp phân tích, phương pháp so sánh luật học, phương pháp thống kê, phương pháp diễn giải…được sử dụng trong chương 2 khi tìm hiểu, đánh giá thực trạng pháp luật về QH, KHSDĐ trên địa bàn huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định
- Phương pháp quy nạp, phương pháp khái quát,… được sử dụng trong chương 3 khi đưa ra định hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về QH, KHSDĐ trên địa bàn huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn tiếp tục làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và pháp luật về QH, KHSDĐ Có thể là tài liệu tham khảo cho các cơ quan nhà nước, các tổ chức liên quan trong việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật đất đai nói chung, pháp luật về quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất nói riêng Đồng thời còn là tài liệu tham khảo cho việc
Trang 15nghiên cứu, học tập và giảng dạy cảu các cơ sở đào tạo chuyên ngành Luật, chuyên ngành luật kinh tế.
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn chỉ ra những hạn chế, bất cập trong các quy định của pháp luật và trong công tác thi hành pháp luật về QH, KHSDĐ trên địa bàn huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định thời gian qua, từ đó đề ra giải pháp hoàn thiện pháp luật và công tác thi hành pháp luật về QH, KHSDĐ trên địa bàn huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn có bố cục gồm 03 chương:
Chương 3 Một số giải pháp hoàn thiện và đảm bảo thực hiện pháp luật quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định
KẾT LUẬN
Trang 16
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT
VỀ QUY HOẠCH, KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT
1.1 Những vấn đề lý luận về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất
Hiện nay trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về QHSDĐ, điển hình
là định nghĩa của tổ chức Nông lương thế giới (FAO) thì: “Quy hoạch sử dụng đất
là sự đánh giá tiềm năng đất nước có hệ thống, tính thay đổi trong sử dụng đất đai
và những điều kiện kinh tế xã hội để chọn lọc và thực hiện các sự lựa chọn sử dụng đất đai tốt nhất Đồng thời quy hoạch sử dụng đất đai cũng là chọn lọc và đưa vào thực hành những sử dụng đất đó mà nó phải phù hợp với yêu cầu cần thiết của con người về bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên trong tương lai” [10- Tr 1] Theo
cách định nghĩa này thì QHSDĐ là hướng tới việc đánh giá tiềm năng của đất đai thông qua việc khai thác và sử dụng loại tài nguyên thiên nhiên đăc biệt này Còn theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam trực tuyến thì có sự giải thích cụ thể, chi
tiết hơn, theo đó, quy hoạch đất đai là: “Việc bố trí, sắp xếp và sử dụng các loại đất đai một cách hợp lý để sản xuất ra nhiều nông sản chất lượng cao, hiệu quả kinh tế lớn Quy hoạch đất đai chia làm hai loại: Quy hoạch đất đai cho các vùng, các ngành, và quy hoạch đất đai trong nội bộ xí nghiệp Việc quy hoạch giữa các vùng, các ngành tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên và có mối liên hệ chặt chẽ của lực lượng sản xuất với phân vùng của cả nước Việt Nam đã và đang thực hiện quy hoạch lại đất đai trong nông nghiệp phuc vụ cho yêu cầu chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế hàng hóa, khắc phục tình chất tự cấp, tự túc tồn tại trước đây” [11- Tr 1]
Tiếp cận chung về quy hoạch, Từ góc nhìn pháp lý, tập thể tác giả Trường Đại học Luật Hà Nội đưa ra định nghĩa về quy hoạch như sau: “ Quy hoạch đất đai là việc khoanh định hoặc điều chỉnh việc khoanh định đối với các loại đất cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội của từng địa phương
Trang 17và trong phạm vi cả nước là sự tính toán, phân bổ sử dụng đất cụ thể về số lƣợng, chất lượng, vị trí, không gian” [12- Tr 114] Cụ thể hơn, sát hơn trong cách tiếp cận về quy hoạch sử dụng đất, Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội (2005), Giáo trình quy hoạch sử dụng đất,đưa ra khái niệm về QHSDĐ như sau:
“Quy hoạch sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của nhà nước về tổ chức sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, có hiệu quả cao thông qua việc phân phối và tái phân phối quỹ đất cả nước, tổ chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất cùng với các tư liệu sản xuất khác gắn liền với đất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất và bảo vệ môi trường” [13-Tr 97]
Mỗi quan điểm nêu trên tiếp cận quy hoạch ở những khía cạnh khác nhau, có quan điểm chú trọng tới các biện pháp kỹ thuật đo đạc thông qua bản vẽ, phân chia diện tích đất… có quan điểm lại chú trọng tới tính pháp chế và mục đích của quy hoach sử dụng đất Chúng tôi nhận thấy rằng, các quan điểm nêu trên đều đề cập tới những khía cạnh hết sức quan trọng của QHSDĐ nhưng chưa thực sự đầy đủ Đất đai là tài sản vô cùng quý giá đối với cuộc sống con người, cho sự phát triển kinh tế,
xã hội, cho nên QHSDĐ luôn là hiện tượng kinh tế - xã hội thể chế đồng thời ba yếu tố: pháp chế (thông qua việc xác nhận tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đất nhằm đảm bảo sử dụng và quản lý đất đai theo pháp luật), kỹ thuật (thể hiện ở công tác chuyên môn kỹ thuật: điều tra, khảo sát, xây dựng bản đồ, khoanh định, xử
lý số liệu…) và kinh tế (thể hiện ở hiệu quả việc sử dụng đất) Cùng với đó, QHSDĐ là một hệ thống các biện pháp của Nhà nước về quản lý và tổ chức sử dụng đất hợp lý, hiệu quả thông qua việc bố trí, phân bổ đất đai cho các mục đích sử dụng
và định hướng tổ chức sử dụng đất trong các đơn vị hành chính lãnh thổ, các ngành,
tổ chức đơn vị và người sử dụng đất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, thực hiện đường lối kinh tế của Nhà nước trên cơ sở dự báo theo quan điểm sinh thái, bền vững trong từng thời kỳ Với ý nghĩa như vậy, pháp luật hiện hành đưa ra khái niệm về QHSDĐ như sau:
Trang 18“Quy hoạch sử dụng đất là việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo
vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu
sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực đối với từng vùng kinh tế - xã hội và đơn vị hành chính trong một khoảng thời gian xác định”[14- Đ3- LĐĐ]
Từ khái niệm được nêu trên cho thấy, QHSDĐ là việc phân bổ, bố trí, khoanh vùng sắp xếp, tổ chức, quy hoạch sử dụng đất theo không gian nhằm mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường Nó là sự đảm bảo cho các mục tiêu kinh tế - xã hội có cơ sở khoa học và thực tế, đảm bảo cho việc sử dụng đất phù hợp với điều kiện tự nhiên và xã hội đối với từng loại mục đích sử dụng QHSDĐ là quá trình hình thành các quyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững để mang lại lợi ích cao nhất QHSDĐ hướng dẫn
sự quyết định sử dụng đất đai làm sao trong nguồn tài nguyên đó được khai thác có lợi cho con người, nhưng đồng thời cũng bảo vệ cho tương lai Cung cấp những thông tin tốt liên quan đến nhu cầu và sự chấp nhận của người dân và chức năng thực tại của nguồn tài nguyên và những tác động đến môi trường Có thể nhận thấy
rõ nét QHSDĐ qua những đặc trưng cụ thể sau đây:
Thứ nhất, QHSDĐ mang tính lịch sử xã hội
Trong quy hoạch sử dụng đất luôn nảy sinh quan hệ giữa người với đất đai – yếu tố tự nhiên cũng như quan hệ giữa người với người và nó thể hiện đồng thời hai yếu tố: thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển và thúc đẩy sự phát triển của các mối quan hệ sản xuất Do vậy, QHSDĐ luôn là một bộ phận của phương thức sản xuất
xã hội và lịch sử phát triển của xã hội chính là lịch sử phát triển cuả QHSDĐ Nói cách khác QHSDĐ có tính lịch sử xã hội Tính chất lịch sử của QHSDĐ xác nhận vai trò lịch sử của nó trong từng thời kỳ xây dựng và hoàn thiện phương thức sản xuất xã hội, thể hiện ở mục đích, yêu cầu, nội dung và sự hoàn thiện của phương án QHSDĐ
Thứ hai, QHSDĐ mang tính tổng hợp:
Trang 19Tính tổng hợp của QHSDĐ biểu hiện chủ yếu ở hai mặt:
Mặt thứ nhất: đối với của QHSDĐ là khai thác, sử dụng, cải tạo, bảo bệ,… tài
nguyên đất đai cho nhu cầu toàn bộ nền kinh tế quốc dân (trong quy hoạch sử dụng đất thường đụng đạm đến việc sử dụng của tất cả các loại đất chính)
Mặt thứ hai: QHSDĐ đề cập đến nhiều lĩnh vực khoa học, kinh tế và xã hội
như: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, dân số đất đai, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, môi trường và sinh thái…với đặc điểm này QHSDĐ lãnh trách nhiệm tổng hợp toàn bộ nhu cầu sử dụng đất, điều hòa các mâu thuẫn về đất đai của các ngành, lĩnh vực; xác định và điều phối phương hướng, phương thức phân phối sử dụng đất phù hợp với mục tiêu kinh tế xã hội, đảm bảo cho nền kinh tế quốc dân luôn phát triển bền vững, đạt tốc độ và ổn định
Thứ ba, QHSDĐ mang tinh dài hạn
Tính dài hạn của QHSDĐ thể hiện ở chỗ thời hạn của quy hoạch sử dụng đất
là 10 năm hoặc lâu hơn Tính dài hạn của QHSDĐ phụ thuộc vào dự báo xu thế biến động dài hạn của các yếu tố kinh tế xã hội quan trọng như sự thay đổi về nhân khẩu, tiến bộ khoa học kỹ thuật, quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn…quy hoạch dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu đất để phát triển lâu dài kinh tế xã hội Cơ cấu và phương thức sử dụng đất được điều chỉnh từng bước trong thời gian dài (cùng với quá trình phát triển kinh tế xã hội) cho đến khi đạt được mục tiêu dự kiến
Thứ tư, QHSDĐ mang tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô
Với đặc tính dài hạn quy hoach sử dụng đất chỉ dự kiến được các xu thế thay đổi phương hướng, mục tiêu, cơ cấu và phân bố sử dụng đất với tính đại thể chứ không dự kiến được các hình thức và nội dụng cụ thể, chi tiết của sự thay đổi Do khoảng thời gian dự báo là tương đối dài nhưng lại phải chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố kinh tế xã hội khó xác định, nên chỉ tiêu quy hoạch thường là không cụ thể
và chi tiết như trong kế hoạch ngắn và trung hạn do vậy nó chỉ có thể là một quy
Trang 20hoạch mang tính chiến lược chỉ đạo vĩ mô Các chỉ tiêu quy hoạch càng khái lược hóa quy hoạch càng ổn định
Thứ năm, QHSDĐ mang tính chính sách
QHSDĐ thể hiện rất rõ đặc tính chính trị và chính sách xã hội khi xây dựng phương án phải quán triệt các chính sách và quy định có liên quan đến đai đai của Đảng và Nhà nước, đảm bảo thực hiện cụ thể trên mặt bằng đất đai các mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân, phát triển ổn định kế hoạch kinh tế - xã hội, tuân thủ các quy định, các chỉ tiêu khống chế về dân số, đất đai và môi trường sinh thái
Thứ sáu, QHSDĐ mang tính khả biến
Dưới sự tác động của nhiều nhân tố khó dự đoán được, theo nhiều phương diện khác nhau, QHSDĐ chỉ là một trong những giải pháp biến đổi hiện trạng sử dụng đất sang trạng thái mới thích hợp hơn cho việc phát triển kinh tế xã hội trong một thời kỳ nhất đinh Khi xã hội phát triển, khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ, chính sách và tình hình kinh tế thay đổi, các dự kiến của QHSDĐ không còn phù hợp thì việc chỉnh sửa, bổ sung hoàn thiện quy hoạch và điều chỉnh biện pháp thực hiện là cần thiết Điều này thể hiện tính khả biến của quy hoạch QHSDĐ luôn là
quy hoạch động, một quá trình lặp lại theo chu kỳ “Quy hoạch – thực hiện – quy hoạch lại hoặc chỉnh lý – Tiếp tục thực hiện…” với chất lượng, mức độ hoàn thiện
và tính phù hợp ngày càng cao [15- P1- Tr 21]
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của kế hoạch sử dụng đất
Với vai trò là công cụ hoạch định, nên cả quy hoạch và kế hoạch đều giống nhau ở chức năng định hướng phát triển Tuy nhiên, sự khác biệt là ở chỗ: việc đảm nhận chức năng định hướng phát triển của mỗi công cụ cụ này ở các vị trí, mức độ, phạm vi khác nhau Nếu quy hoạch là cụ thể hóa chiến lược, là một bước triển khai biến chiến lược thành thực tế ở các khía cạnh thời gian, không gian và tổ chức Chiến lược và quy hoạch với chức năng như vậy thì chưa thể là công cụ quản lý, điều tiết các hoạt động của doanh nghiệp diễn ra trong từng giai đoạn, thời điểm cụ
Trang 21mục tiêu của quy hoạch để từng bước thực hiện và biến chiến lược, quy hoạch thành thực tế cuộc sống Kế hoạch được thể hiện rõ nhất (so với chiến lược và quy hoạch) chức năng: phân chia chiến lược và quy hoạch thành các lộ trình ngắn hơn, xác định nhiệm vụ cần phải đạt được trong từng giai đoạn phát triển, đặt ra một cách cụ thể
hệ thống mục tiêu, chỉ tiêu và những giải pháp, chính sách thích hợp cho thời kỳ kế hoạch Trên cơ sở QHSDĐ tổng thể đã được phê duyệt, thì cơ quan nhà nước cần lên kế hoạch cụ thể phân chia thời gian để có thể hiện thực hóa quy hoạch
Xét về thuật ngữ, theo từ điển tiếng Việt (2009) trang 47 nói về kế hoạch nói
chung được hiểu là: “toàn bộ những điều vạch ra một cách có hệ thống và cụ thể về cách thức, trình tự, thời hạn tiến hành những công việc dự định làm trong một thời gian nhất định, với mục tiêu nhất đinh”[16,Tr54] Còn dưới góc độ pháp lý, LĐĐ hiện hành quy định: “Kế hoạch sử dụng đất là việc phân chia quy hoạch sử dụng đất
Do KHSDĐ là sự cụ thể hóa của QHSDĐ theo lộ trình thời gian, có mối quan hệ hữu cơ không tách rời do đó bản thân KHSDĐ cũng thể hiện tính chất pháp
lý buộc thi hành Tuy nhiên, KHSDĐ có những đặc trưng riêng với vai trò vị trí độc lập so với QHSDĐ, cụ thể:
Thứ nhất, KHSDĐ mang tính cụ thể
Trái ngược với tính tổng thể của QH, KHSDĐ chi tiết hóa, cụ thể kết quả của quy hoạch, thời gian thực hiện phương án quy hoạch Nếu nội dung của QHSDĐ là phân bổ ngành thì nội dung của KHSDĐ bao gồm: xác định diện tích các loại đất đã được phân bổ trong KHSDĐ cấp trên và diện tích các loại đất theo nhu cầu sử dụng đất của cấp dưới trong năm kế hoạch; xác đinh vị trí, diện tích đất phải thu hồi để thực hiện công trình, dự án sử dụng đất vào mục đích trong năm kế hoạch đến từng đơn vị hành chính cấp xã; xác định diện tích các loại đất cần chuyển mục đích sử dụng đối với các loại đất phải xin phép trong năm kế hoạch đến từng đơn vị hành chính cấp xã Khi đó, căn cứ KHSDĐ có thể đưa ra các quyết định một cách cụ thể
để hiện thực hóa hiệu quả quy hoạch
Trang 22Thứ hai, KHSDĐ mang tính ngắn hạn
Trong khi thời gian của QHSDĐ trên 10 năm đến 20 năm hoặc lâu hơn nữa (quy hoạch trung hạn hay quy hoạch dài hạn) thì thời gian kế hoạch sử dụng đất thường chỉ là 5 năm một lần Căn cứ kết quả thực hiện cùa kỳ kế hoạch trước thì cơ quan có thẩm quyền sẽ lập kế hoạch 5 năm một lần, chi tiết trong 5 năm này việc chuyển đổi mục đích, thu hồi,…sẽ diễn ra như thế nào để đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong 5 năm tương ứng với các chỉ tiêu cụ thể và chi tiết
Thứ ba, là cơ sở, là căn cứ để Nhà nước phân bổ và điều chỉnh đất đai qua
từng năm và từng thời kỳ ngắn hạn
Trên cơ sở KHSDĐ 05 năm đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt ở từng cấp, xuất phát từ định hướng và yêu cầu của phát triển kinh tế xã hội trong phạm vi của huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, của từng ngành, từng lĩnh vực, cũng như nhu cầu của các chủ thể khác nhau trong phạm vi huyện mình, KHSDĐ hàng năm của cấp huyện được lập và phê duyệt nhằm phúc đáp các yêu cầu đó của cấp mình Trên cơ sở kế hoạch hàng năm đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, chúng trở thành căn cứ quan trọng để cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở các cấp thực hiện việc phân bổ và điều chỉnh đất đai thông qua các hoạt động gia đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất [18- Đ 52; 63, LĐĐ 2013]
1.1.3 Mục đích và ý nghĩa của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Quy hoạch và kế hoạch hóa việc sử dụng đất đai là công cụ quan trọng và không thể thiếu được trong công tác quản lý đất đai bởi đó là cơ sở để đảm bảo cho việc quản lý thống nhất của Nhà nước đối với đất đai, cân đối quỹ đất của từng vùng, ngành địa phương để đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội đặt ra, đảm bảo cho đất đai được phân phối, sử dụng công bằng, hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả
Để quản lý và sử dụng đất đai một cách hiệu quả và triệt để thì Nhà nước phải đưa ra các QH, KHSDĐ trước để xác định được hướng sử dụng đất ra sao, QHSDĐ chính là khoanh từng vùng đất đai hay phân bổ đất theo không gian sử dụng nhất định theo từng mục đích khác nhau phù hợp để phát triển ổn định kinh tế
Trang 23– xã hội, ngoài ra còn bảo vệ môi trường khả năng thích ứng với sự biến đổi của khí hậu, đảm bảo an ninh – quốc phòng của quốc gia, đánh giá tiềm năng phát triển cũng như nhu cầu sử dụng đất của từng lĩnh vực, từng ngành, mỗi đơn vị hành chính, khu vực kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định, để đảm bảo an ninh đất đai
Khi đã có QHSDĐ thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xác định KHSDĐ như thế nào để hiện thực hóa QHSDĐ, phân chia QHSDĐ ra theo một thời gian nhất định và thực hiện trong kỳ QHSDĐ QH, KHSDĐ có ý nghĩa to lớn trong công tác quản lý và sử dụng đất, cụ thể là:
Thứ nhất, QH, KHSDĐ là công cụ để Nhà nước quản lý đất đai được thống nhất
Với tư cách là đại diện của chủ sở hữu toàn dân về đất đai, Nhà nước thực hiện quyền sở hữu và quyền quản lý của mình thông qua các quyết định quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất nhằm phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, an ninh – quốc phòng, bảo vệ môi trường,…thông qua QH, KHSDĐ, Nhà nước xác định mục đích sử dụng cụ thể cho từng loại đất, đáp ứng các nhu cầu sử dụng khác nhau trong xã hội Cũng thông qua
QH, KHSDĐ, Nhà nước có thể theo dõi, giám sát quá trình sử dụng đất, ngăn chặn các hoạt động chuyển mục đích sử dụng đất tùy tiện, lấn chiếm đất đai, đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích và đúng quy hoạch, tránh tình trạng tiêu cực trong quá trình quản lý đất đai
Thứ hai, QH, KHSDĐ là biện pháp hữu hiệu để Nhà nước tổ chức lại việc sử
Trang 24năng đất đai, phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh – xã hội, bảo vệ quốc phòng,
an ninh và môi trường; đồng thời còn giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế; bảo vệ quỹ đất nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực thông qua việc khoanh định quỹ đất sản xuất nông nghiệp, đặc là quỹ đất trồng lúa Việc tổ chức lại quỹ đất, điều phối đất đai thông qua QH, KHSDĐ nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng đất hiện tại và tương lai của xã hội một cách tiết kiệm khoa học và có hiệu quả cao nhất
Thứ ba, QH, KHSDĐ góp phần thúc đẩy phát triển bền vững
Phát triển bền vững là đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần
và văn hóa, sự bình đẳng của công dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa giữa con người và tự nhiên; phát triển phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba yếu tố là phát triển kinh tế, ổn định xã hội và bảo vệ môi trường Để gắn kết ba nền tảng này thì QH, KHSDĐ là giải pháp hữu hiệu, bởi nó sẽ lựa chọn và ưu tiên những hoạt động phát triển kinh tế mà không ảnh hưởng đến môi trường, phát triển kinh tế góp phần ổn định xã hội
Thứ tư, QH, KHSDĐ điều tiết thị trường bất động sản đẩy nền kinh tế quốc
dân tăng trưởng bền vững
Thực tế cho thấy, QH, KHSDĐ sau khi được xét quyệt nó tác động mạnh mẽ đến thị trường bất động sản, kích thích thị trường bất động sản phát triển QH, KHSDĐ làm tăng thêm giá trị của đất bởi việc chuyển mục đích từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp, đồng thời với việc xây dựng hệ thống giao thông, trường hợp, khu thương mại…làm cho các thừa đất trong quy hoạch được tăng thêm giá trị
Thông qua việc tác động trực tiếp đến thị trường bất đông sản, QH, KHSDĐ khi làm thay đổi giá trị của từng thửa đất đã kích thích tăng trưởng, thu hút đầu tư vào bất động sản như dự án phát triển kinh tế, du lịch…sự thay đổi đó tạo ra sự chuyển dịch lao động giữa các ngành, các vùng và cũng tác động mạnh mẽ đến thị trường tài chính của quốc gia
Thứ năm, QH, KHSDĐ góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng
Trang 25Đất đai là nơi phân bố dân cư và là nơi tổ chức mọi hoạt động sống của con người Vì thế, khi QH, KHSDĐ tốt và hợp lý, đáp ứng các mục tiêu và yêu cầu do Nhà nước đặt ra sẽ góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển và nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng động Chất lượng sống của con người ngoài những nhu cầu về vật chất còn là nhu cầu về chăm sóc sức khỏe, nhu cầu tinh thần tất cả các nhu cầu đó của cộng động chỉ được thỏa mãn khi có một QHSDĐ tốt
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Cũng như bất cứ một chế định pháp luật nào, pháp luật về QH, KHSDĐ bị chi phối bởi các yếu tố nhất định đến quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện các hoạt động liên quan đến QH, KHSDĐ Các yếu tố chi phối đó là yếu tố chính trị, yếu tố kinh tế, yếu tố văn hóa –
xã hội và yếu tố lịch sử
1.1.4.1 Yếu tố chính trị
Pháp luật nói chung và pháp luật QH, KHSDĐ nói riêng là công cụ để Nhà nước thực hiện quyền quản lý, vì thế nó thể đường lối chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước Pháp luật QH, KHSDĐ mang đậm tính giai cấp, thể hiện
rõ tính chính trị, cụ thể:
- Pháp luật QH, KHSDĐ khi được xây dựng phải đảm bảo nguyên tắc “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” Đây là nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật
đất đai, đặc biệt là pháp luật về QH, KHSDĐ Nguyên tắc này được khẳng định
trong Điều 53, Hiến pháp năm 2013: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” và tiếp tục được củng cố tại Điều 04 LĐĐ năm 2013: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của luật này” Thông qua QH, KHSDĐ, Nhà nước thực hiện quyền định
đoạt đất đai với tư cách đại diện chủ sở hữu toàn dân bằng việc quyết định mục đích
Trang 26sử dụng đất của từng loại đất và chỉ có cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép mới được phép thay đổi mục đích sử dụng đất
- Quan điểm, đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, quan điểm đảm bảo an ninh – quốc phòng, quan điểm bảo vệ môi trường, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa,… được cụ thể hóa thông qua pháp luật QH, KHSDĐ Đối với
QH, KHSDĐ của cả nước, Quốc hội là cơ quan trực tiếp xét duyệt và quyết định
QH, KHSDĐ cấp quốc gia trên cơ sở quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng
Ở địa phương, do những nhiệm vụ chính trị, bảo đảm an ninh – quốc phòng khác nhau nên QH, KHSDĐ có những khoanh định khác nhau nhằm đảm bảo thực hiện các mục tiêu trên
Vì vậy, pháp luật về QH, KHSDĐ khi xây dựng và thực hiện chịu sự chi phối mạnh mẽ của yếu tố chính trị Việc QH, KHSDĐ đảm bảo cân đối nhu cầu sử dụng đất của các chủ thể nhằm mục tiêu ổn định và giữ vững thể chế chính trị của quốc gia
1.1.4.2 Yếu tố kinh tế
Hiện nay, với xu thế mở cửa và hội nhập thì nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta ngày càng phát triển mạnh mẽ Nằm trong xu thế đó, đất đai trở thành một loại hàng hóa đặc biệt, được tiền tệ hóa để tham gia vào nền sản xuất hàng hóa Vì vậy, QH, KHSDĐ điều phối quan hệ cung cầu đất đai trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế thế giới nhằm sử dụng có hiệu quả, hợp lý và tiết kiệm nguồn tài nguyên đất QH, KHSDĐ tối đa hóa giá trị của bất động sản, theo đó việc sử dụng đất được quyết định trên cơ sở động lực của thị trường, QH, KHSDĐ trở thành sản phẩm của thị trường
QH, KHSDĐ phản ánh sự phát triển kinh tế của từng vùng lãnh thổ trong từng giai đoạn nhất định Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và chuyển đổi cơ cấu kinh tế làm tăng nhu cầu về bất động sản để phục vụ cho các hoạt động kinh tế,
xã hội, sản xuất kinh doanh dịch vụ thì QH, KHSDĐ cần phải làm tốt vai trò của nó
để đáp ứng nhu cầu sử dụng đất, phát huy tối đa các tiềm năng do đất đai mang lại
Trang 27Đặc biệt là trong xu thế hội nhập hiện nay thì QH, KHSDĐ cần phải làm tốt công tác sử dụng đất xuất phát từ việc phân tích tiềm năng thiên nhiên của đất để thu xếp các chức năng của đất, tạo nên điều kiện thuận lợi cho các hoạt động phát triển
Vì thế, pháp luật QH, KHSDĐ bị chi phối mạnh mẽ bởi nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay nước ta đang mở cửa và hội nhập với nền kinh tế thế giới thì sự chi phối ấy càng mạnh mẽ hơn
1.1.4.3 Yếu tố văn hóa – xã hội
Để QH, KHSDĐ phát huy vai trò nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng về vật chất cũng như tinh thần thì khi lập QH, KHSDĐ, ngoài việc căn cứ vào hiện trạng và nhu cầu sử dụng đất, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương,…thì QH, KHSDĐ cần phải căn cứ đến các yếu tố văn hóa – xã hội, phong tục tập quán của từng vùng lãnh thổ Tâm lý, tín ngưỡng, văn hóa, phong tục, tập quán là các yếu tố mà khi các nhà quy hoạch đất quyết định các chỉ tiêu để phân phối đất đai cho từng ngành, lĩnh vực thì không thể không tính đến Nó chính là cơ
sở để nâng cao chất lượng QH, KHSDĐ, là điều kiện để naagn cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng Pháp luật QH, KHSDĐ lúc này không chỉ bị chi phối bởi ý chí chủ quan của Nhà nước mang yếu tố chính trị và tình hình phát triển kinh tế mà còn
bị chi phối bởi các yếu tố văn hóa – xã hội Từ những đặc trưng về kinh tế, văn hóa,
xã hội khác nhau ở mỗi khu vực, mỗi địa phương thì các nhà làm quy hoạch sẽ có những chiến lược quy hoạch sử dụng đất khác nhau
1.1.4.4 Yếu tố lịch sử
Lịch sử nước ta gắn liền với lịch sử của quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất như hiện nay Trên mỗi thửa đất, vùng đất, lãnh thổ đều để lại những thành quả lao động của nhân dân ta qua các thời kỳ lịch sử, đó là đất đai, rừng núi,
là các công trình công cộng, đường xá giao thông, cầu cống, các di tích lịch sử - văn hóa, cảnh quan thiên nhiên
Trang 28QH, KHSDĐ là định hướng chung cho việc sử dụng đất, là sự sự sắp xếp, bố trí việc sử dụng đất cho tương lai Vì vậy, việc tính toán lựa chọn phương án sử dụng đất không thể tách rời hiện trạng sử dụng đất hiện tại với nhiều dấu ấn lịch sử
QH, KHSDĐ mang tính tổng hợp không chỉ do tính đa mục đích sử dụng đất của các chủ thể sử dụng và chiếm hữu đất đai mà còn do tính lịch sử, truyền thống, phong tục, văn hóa của quốc gia Chính vì vậy, để giải quyết các vấn đề đất đai hiện tại, các quốc gia phải kế thừa và xử lý các vấn đề quá khứ, các vấn đề do lịch sử để lại đồng thời với việc tính đến các mục tiêu phát triển kinh tế và ổn định xã hội cho tương lai Pháp luật QH, KHSDĐ được xây dựng, thiết kế không nhằm ngoài mục đích ưu tiên, giữ gìn các di tích lịch sử, các giá trị văn hóa truyền thống, xác định đúng nhu cầu sử dụng đất của thị trường, bảo vệ môi trường để phát triển kinh tế xã hội bền vững Vì vậy, có thể nói pháp luật QH, KHSDĐ cũng bị chi phối, tác động mạnh mẽ bởi yếu tố lịch sử
Như vậy, QH, KHSDĐ cũng bị chi phối bởi các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa –
xã hội và lịch sử Khi xây dựng QH, KHSDĐ, các nhà quy hoạch cần chú ý tổng hợp các yếu tố trên để đề ra phương án sử dụng đất tối ưu nhất trên cơ sở hài hòa, phát huy các tiềm năng do đất đai mang lại để phục vụ người sử dụng đất, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế
- xã hội, bảo đảm an ninh – quốc phòng, bảo vệ môi trường của đất nước nhằm mục đích phát triển bền vững
1.2 Những vấn đề lý luận về pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
1.2.1 Khái niệm pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Bất cứ một lĩnh vực nào, một quan hệ xã hội nào phát sinh trong đời sống xã hội cũng rất cần đến sự điều chỉnh của phát luật, nhằm định hướng các quan hệ này đi theo một trật tự chung thống nhất, phù hợp với lợi ích của Nhà nước, của các bên tham gia quan hệ và
vì lợi ích chung của toàn xã hội Pháp luật được xem là một trong những phương thức hiệu quả để thực hiện chức năng QLNN Hệ thống pháp luật được chia thành những bộ phận cấu thành khác nhau để điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội riêng biệt, nhưng có sự tác động qua lại với nhau, đảm bảo cho các quan hệ này tồn tại, phát triển hợp quy luật Trong lĩnh vực đất
Trang 29đai, cùng với quá trình tổ chức triển khai việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất nhằm phục vụ cho mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, công cộng và vì mục tiêu phát triển kinh tế hay nói cách khác là việc Nhà nước thực hiện việc phân bổ và điều chỉnh đất đai cho các mục tiêu kinh tế, xã hội và cho nhu cầu khác nhau của mỗi chủ thể sử dụng đất thì đi kèm với các hoạt động đó là hàng loạt các quy phạm pháp luật được ban hành để quy định về nguyên tắc, căn cứ, nội dung và phương thức, trình tự, thủ tục lập, xét duyệt và tổ chức triển khai QH, KHSDĐ trong phạm vi cả nước cũng như ở từng địa phương Nghiên cứu, tìm hiểu nội dung các quy định này, có thể thấy pháp luật về
QH, KHSDĐ là một chế định quan trọng của pháp luật đất đai Việt Nam và được hiểu về mặt lý luận như sau: pháp luật về QH, KHSDĐ là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh quá trình phân bổ và điều chỉnh đất đai trong phạm vi cả nước cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, an ninh, quốc phòng trong một không gian, thời gian cụ thể và những cách thức và biện pháp cụ thể để thực hiện quá trình đó
Sự điều chỉnh của pháp luật về QH, KHSDĐ được thể hiện bằng việc Nhà nước sử dụng pháp luật tác động vào hành vi xử sự của các chủ thể xây dựng và thực hiện QH, KHSDĐ theo hướng: một là, đối với những hành vi xử sự của các chủ thể phù hợp với quy định của pháp luật về QH, KHSDĐ thì pháp luật bảo vệ, tạo điều kiện khuyến khích để nó phát triển; hai là, đối với những hành vi xử sự của các chủ thể trái hoặc không phù hợp với quy định của pháp luật về QH, KHSDĐ thì pháp luật xử lý, ngăn ngừa và tiến tới loại bỏ dần khỏi đời sống xã hội
Với ý nghĩa nếu trên có thể thấy, pháp luật về QH, KHSDĐ có những đặc trưng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, pháp luật về QH, KHSDĐ chịu ảnh hưởng và chi phối bởi hình thức sở
hữu toàn dân về đất đai Khẳng định như vậy bởi lẽ: Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu đối với đất đai nên Nhà nước có quyền phân bổ và điều chỉnh đất đai cho các mục tiêu kinh tế, xã hội Trên cơ sở đó, Nhà nước có quyền phân định các vùng đất, các diện tích đất
cụ thể cho các mục đích khác nhau theo ý đồ của Nhà nước trên cơ sở giải quyết hài hòa lợi
ích “công” của Nhà nước và xã hội và lợi ích “tư” của các chủ thể sử dụng đất
Trang 30Thứ hai, pháp luật về QH, KHSDĐ là hệ thống pháp luật rộng lớn bao gồm
nhiều mảng pháp luật khác nhau bao gồm cả pháp luật chung và pháp luật chuyên ngành Theo đó, pháp luật đất đai điều chỉnh QH, KHSDĐ tổng thể, pháp luật về
QH, KHSDĐ của các ngành điều chỉnh quy hoạch trong nội bộ ngành hay lĩnh vực của mình trên cơ sở phù hợp với quy hoạch chung
Thứ ba, pháp luật về QH, KHSDĐ mang tính ổn định tương đối trong một khoảng
thời gian nhất định và chúng thay đổi theo nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội ở mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ khác nhau
Thứ tư, pháp luật về QH, KHSDĐ mang tính bắt buộc đối với các chủ thể tham gia
vào quan hệ quản lý và sử dụng đất đai phải tuân thủ và chấp hành khi phân bổ và điều chỉnh đất đai cũng như khi sử dụng đất
1.2.2 Cơ cấu về pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
QH, KHSDĐ có nội dung pháp luật rộng lớn, từ vấn đề xây dựng, phê duyệt tới tổ chức thực thi và đánh giá, tổng kết quá trình thực hiện pháp luật về QH, KHSDĐ trên thực tế Cơ cấu pháp luật điều chỉnh vấn đề QH, KHSDĐ bao gồm các nội dung cơ bản như sau:
Trang 31Thứ ba, về kỳ QH, KHSDĐ
Đây là quy định cần thiết nhằm đảm tính ổn định tương đối của QH, KHSDĐ, cũng là nhằm đảm bảo việc tổ chức thực thi pháp luật về vấn đề này được nghiêm minh, hạn chế tình trạng sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh QH, KHSDĐ tùy tiện của các địa phương vì lợi ích cục bộ và lợi ích của một nhóm người trong xã hội
Thứ tư, về căn cứ và nội dung lập QH, KHSDĐ
Đây là nội dung có ý nghĩa vô cùng quan trọng để bảo đảm tính phù hợp, sát thực của QH, KHSDĐ của mỗi cấp, mỗi ngành trên cơ sở điều kiện tư nhiên, kinh tế, xã hội, định hướng phát triển của mỗi cấp, mỗi ngành đó Có thể nói, tính khả thi của QH, KHSDĐ, tiềm năng đất đai có được khai thác hiệu quả, hợp lý và tiết kiệm hay không là phụ thuộc rất lớn từ công tác này
Thứ năm, về trách nhiệm tổ chức và tư vấn lập QH, KHSDĐ
Quy định này nhằm xác định trách nhiệm của từng cấp không chỉ trong việc lập QH, KHSDĐ mà còn xác định trách nhiệm về tính hiệu quả và tính khả thi của từng cấp không chỉ trong việc lập QH, KHSDĐ mà còn xác định trách nhiệm về tính hiệu quả và tính khả thi của QH, KHSDĐ mà cấp đó lập
Thứ sáu, quy định quy trình lập, điều chỉnh, lấy ý kiến, thẩm định, phê duyệt
và công bố QH, KHSDĐ
Đảm bảo cho người dân được đề bạt, được nói lên tiếng nói của mình đối với những quyết sách của Nhà nước Bên cạnh đó, hoạt động QH, KHSDĐ còn phải tuân thủ quy trình chặt chẽ từ khâu lập, điều chỉnh đến thẩm định và phê duyệt để bảo đảm tính nghiêm minh, sát thực của quy hoạch Thông qua đó đảm bảo không chỉ tính khả thi của quy hoạch, mà còn đảm bảo ngăn ngừa sự tùy tiện trong công tác nay
Thứ bảy, việc thực hiện và báo cáo thực hiện quy hoạch, giải quyết các vấn
đề phát sinh về QH, KHSDĐ
Trang 32Đây là quy định cần thiết nhằm đảm bảo QH, KHSDĐ được đưa vào thực thi trong cuộc sống Thực hiện quy hoạch cũng là yếu tố nhằm đánh gia về tính phù hợp và hiệu quả của QH, KHSDĐ đã lập, những tồn tại và hạn chế cần phải điều chỉnh để đáp ứng ngày càng tốt hơn trong thời gian tới
Trang 33Kết luận chương 1
Để đánh giá về thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về QH, KHSDĐ và đưa ra những phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về QH, KHSDĐ ở Việt Nam hiện nay, chương 1 tập trun nghiên cứu giải quyết những vấn
đề sau:
- Thứ nhất, luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất như khái niệm và đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất; khái niệm và đặc điểm của kế hoạch sử dụng đất; mục đích và ý nghĩa của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Thứ hai, luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về pháp luật
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất như khái niệm pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đât; các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội, lịch sử);cơ cấu về pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Trang 34Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ QUY HOẠCH, KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA
BÀN HUYỆN MỸ LỘC, TỈNH NAM ĐỊNH
2.1 Thực trạng pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Đất đai có vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi đất nước Ở nước ta, đất đai được xác định tài nguyên vô cùng quý giá của quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt, nguồn nội lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế, là thành phần quan trọng của môi trường sống Hiến pháp năm 2013
khẳng định: “Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật”
Đất đai có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng như vậy nên quản lý, sử dụng đất đai luôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta chú trọng quan tâm Từ khi chúng ta tiến hành đường lối đổi mới đến nay, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương, quan điểm
về quản lý, sử dụng đất đai và được ghi nhận trong các Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX, X, XI và XII Hội nghị Trung ương 7 khóa IX (ngày 13/01/2003) đã dành hẳn một Nghị quyết bàn về vấn đề đất đai, trong đó, đề ra các quan điểm chỉ đạo về quản lý, sử dụng đất đai Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 31/10/2012 của Hội nghị Trương ương 6 khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đã khẳng định đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, tư liệu sản xuất đặc biệt, là tài sản, nguồn lực to lớn của đất nước
Thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng về đất đai, quản lý, sử dụng đất đai, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật đất đai như: Hiến pháp, LĐĐ năm 1987, LĐĐ năm 1993, LĐĐ năm 2003, LĐĐ năm 2013 và nhiều văn bản hướng dẫn thi hành, tạo thành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đất đai khá đồ sộ LĐĐ năm 2013 là đạo luật lớn với 14 chương, 212 điều, quy định tương đối đầy đủ, toàn diện về quản lý và sử dụng đất đai, đã cụ thể thành công các quy định về đất đai trong Hiến pháp năm 2013 So với LĐĐ năm 2003, LĐĐ năm 2013
Trang 35đã khắc phục, giải quyết được những tồn tại, hạn chế phát sinh trong quá trình thi hành LĐĐ năm 2003 Đây là đạo luật quan trọng, có tác động sâu rộng đến chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước, thu hút được sự quan tâm rộng rãi của nhân dân Tuy nhiên, sau một thời gian triển khai, LĐĐ năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập, đặt ra yêu cầu cấp bách là cần phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật đất đai như: giá đất, thu hồi, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; giao đất, cho thuê đất; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đât; xử lý vi phạm pháp luật đất đai; cải cách thủ tục hành chính; QH, KHSDĐ
LĐĐ năm 2013, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2014 tiếp tục khẳng định, bảo vệ tài nguyên đất, nhấn mạnh vai trò điều chỉnh pháp luật đối với QHĐĐ nói chung và hoạt động QH, KHSDĐ nói riêng Các quy định về QH, KHSDĐ nằm tại chương 4 với 17 điều
đã tiếp tục kế thừa những quy định về QH, KHSDĐ còn phù hợp của LĐĐ năm 2003 đồng thời sửa đổi, bổ sung một số quy định mới nhằm tạo hành lang pháp lý ngày càng đầy đủ, hoàn thiện hơn Trên cơ sở đó, các quy định này tiếp tục được cụ thể hóa tại Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/04/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của LĐĐ năm 2013
2.1.1 Các quy định về nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Nguyên tắc lập QH, KHSDĐ là những phương hướng chỉ đạo, cơ sở chủ yếu để dựa vào đó mà pháp luật điều chỉnh những quy định về lập QH, KHSDĐ Các nguyên tắc
lập QH, KHSDĐ phải quán triệt được các quan điểm chỉ đạo theo tinh thần của những Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam qua các thời kỳ
Do vậy, nguyên tắc lập QH, KHSDĐ các cấp phải căn cứ vào: chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của cả nước; quy hoạch phát triển của các ngành và các địa phương; kế thừa phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước; điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và nhu cầu của thị trường; hiện trạng sử dụng đất và nhu cầu sử dụng đất; định mức sử dụng đất; tiến bộ khoa học và công nghệ có liên quan đến việc sử dụng đất; kết quả thực hiện QHSDĐ kỳ trước khi lập KHSDĐ các cấp phải căn cứ vào
Trang 36QHSDĐ đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định, xét duyệt; kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và hàng năm của Nhà nước; nhu cầu sử dụng đất của tổ chức,
hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư; kết quả thực hiện KHSDĐ kỳ trước; khả năng đầu
tư thực hiện các dự án, công trình có sử dụng đất
Nhằm khẳng định nâng cao vai trò, vị trí của QH, KHSDĐ là phân bổ đất đai cho các ngành, lĩnh vực sử dụng hợp lý, hiêu quả, tránh chồng chéo; khắc phục những khó khăn, bất cập trong việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; đồng thời làm căn cứ để văn bản dưới luật quy định chi tiết trách nhiệm của UBND các cấp trong việc rà soát quy hoạch, kế hoạch của ngành, lĩnh vực, địa phương có sử dụng đất bảo đảm phù hợp với QH, KHSDĐ đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, LĐĐ năm
2013 bổ sung những quy định quan trọng trong nguyên tắc lập QH, KHSDĐ, trong đó quy
định: nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải được lập từ tổng thể đến chi tiết; quy hoạch sử dụng đất của cấp dưới phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của cấp trên; kế hoạch sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt Quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia phải bảo đảm tính đặc thù, liên kết của các vùng kinh tế - xã hội; quy hoạch sử dụng đất cấp huyện phải thể hiện nội dung sử dụng đất của cấp xã (Khoản 02, Điều 35); như vậy có thể hiểu rằng:
“Quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia phải bảo đảm tính đặc thù, liên kết của các vùng kinh tế -xã hội; quy hoạch sử dụng đất cấp huyện; quy hoạch sử dụng đất cấp huyện phải thể hiện nội dung sử dụng đất của cấp xã” và theo (Khoản 02, Điều 35) thì nguyên tắc lập
QH, KHSDĐ cũng phải bảo đảm ưu tiên quỹ đất cho mục đích quốc phòng, an ninh, phục
vụ lợi ích quốc gia, cộng đồng, an ninh lương thực và bảo vệ môi trường; đồng thời quy hoạch, kế hoạch của ngành, lĩnh vực, địa phương có sử dụng đất phải bảo đảm phù hợp với
QH, KHSDĐ đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt (Khoản 8, Điều 35)
Với quy định nêu trên cho thấy, LĐĐ năm 2013 tiếp tục kế thừa các quy định hợp
lý trong Điều 21, LĐĐ năm 2013, đồng thời đã có sự bổ sung, điều chỉnh một số nội dung quan trọng xuất phát từ những đòi hỏi thiết thực của cuộc sống Cụ thể, LĐĐ năm 2013 đặc biệt quan tâm tới tính tổng thể và thống nhất của QHSDĐ, theo đó, QHSDĐ cấp quốc
Trang 37gia phải bảo đảm tính đặc thù, liên kết của các vùng kinh tế - xã hội; quy hoạch sử dụng đất cấp huyện phải thể hiện nội dung sử dụng đất của cấp xã Quy định này sẽ giải quyết được tình trạng chồng chéo và trùng lắp trong việc xây dựng QH, KHSDĐ tồn tại trong thời gian qua Bên cạnh đó, QH, KHSDĐ không chỉ hướng tới mục đích là nhằm phân bổ đất đai cho các mục tiêu kinh tế, xã hội của đất nước và nhu cầu của các chủ thể mà trong bất luận trường hợp nào, bảo vệ an ninh tổ quốc là yếu tố phải được đặt lên hàng đầu Vì vậy, LĐĐ đã quán triệt nguyên tắc: Bảo đảm ưu tiên quỹ đất cho mục đích quốc phòng, an ninh phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng trong xây dựng QH, KHSDĐ Lồng ghép vào quá trình đó, vấn đề an ninh lương thực và bảo vệ môi trường lần đầu đầu tiên được ghi nhận trở thành nguyên tắc pháp lý, định hướng trong việc lập QHSDĐ Đây là quy định quan trọng bởi thực tế hiện nay cho thấy, quỹ đất nông nghiệp bị giảm sút nghiêm trọng do tốc độ đô thị hóa thời gian qua diễn ra nhanh chóng, trong khi tỷ lệ lao động nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ khá cáo (trên 60%) Do vậy, an ninh lương thực là nhiệm vụ quan trọng
không thể không đặt ra Từ xa xưa ông cha ta đã có câu: “Có thực mới vực được đạo”, việc
ghi nhận nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ nghiêm ngặt quỹ đất nông nghiệp có giá trị kinh tế cao một mặt đảm bảo sự an toàn lương thực của quốc gia trước tác động trái chiều của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, đảm bảo cho người nông dân có đất để sản xuất, đảm bảo nguồn sống, nguồn việc làm; đó cũng là bảo vệ nền văn minh lúa nước đã tồn tại ngàn đời của dân tộc ta Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy,
trong nguyên tắc lập QHSDĐ có điểm nêu rõ: “Phải bảo vệ nghiêm ngặt 120 triệu ha đất canh tác”; còn trong giải pháp để bảo vệ đất nông nghiệp, Trung Quốc chỉ cụ thể: “Trong quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia phải xác định được diện tích đất canh tác cần phải bảo vệ nghiêm ngặt theo quy định của Nhà nước, trong đó phải chỉ rõ diện tích đất canh tác cơ bản (chiếm 80% tổng diện tích canh tác) có chất lượng tốt nhất cần được duy trì vĩnh cửu và không được phép chuyển đổi mục đích sử dụng dưới bất cứ lý do gì”[19,]
Bên cạnh đó, không chỉ vì nhiệm vụ trước mắt mà quên đi nhiệm vụ lâu dài, không chỉ đơn thuần là phát triển mà là phải phát triển một cách bền vững, vì vậy, LĐĐ năm
2013 đã đặt ra nguyên tắc lập QH, KHSDĐ phải gắn với việc “bảo vệ môi trường” Đây là
vấn đề mang tính chất toàn cầu, đảm bảo quyền và lợi ích thiết thực của công dân được
Trang 38sống trong môi trường trong lành Bởi vậy, QH, KHSDĐ hướng tới bảo vệ môi trường là
sự cần thiết khách quan phải được ghi nhận và thực thi nghiêm túc
2.1.2 Các quy định về căn cứ lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
So với Luật Đất đai năm 2003, LĐĐ năm 2013 quy định đầy đủ, rõ ràng căn
cứ và nội dung lập QH, KHSDĐ của từng cấp: cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện tại các Điều 38, 39, 40 và QH, KHSDĐ quốc phòng, an ninh tại Điều 41 Thay vì quy định chung như LĐĐ năm 2003, căn cứ và nội dung QH, KHSDĐ được quy định riêng cho từng loại QH, KHSDĐ nhằm đảm bảo tính chặt chẽ, khoa học, góp phần nâng cao hiệu quả của QH, KHSDĐ các cấp, đáp ứng được yêu cầu quản lý của
từng cấp, đảm bảo nguyên tắc “Quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia phải đảm bảo tính đặc thù, liên kết các vùng kinh tế - xã hội, quy hoạch sử dụng đất cấp huyện phải thể hiện nội dung sử dụng đất của cấp xã” Qua đó, khắc phục được những khó
khăn khi lập QH, KHSDĐ
Căn cứ lập QH, KHSDĐ là căn cứ có tính định hướng cho việc thực thi quy hoạch và kế hoạch Theo đó, khi xây dựng QHSDĐ phải căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của quốc gia, quy hoạch tổng thể phát triển các vùng kinh tế - xã hội; chiến lược, quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực để tạo ra sự đồng bộ thống nhất trong hệ thống quy hoạch của cả nước Lập QHSDĐ,
cơ quan nhà nước được giao trách nhiệm và các tổ chức chuyên môn về xây dựng quy hoạch còn phải căn cứ vào điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và hiện trạng sử dụng đất, nhu cầu sử dụng đất cho các địa phương, các ngành vì nhu cầu sử dụng đất cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội luôn gia tăng mà đất đai lại là nguồn tài nguyên có hạn Vì vậy, muốn sử dụng đất hợp lý thì phải có định mức sử dụng đất trong khi xây dựng QHSDĐ Tuy nhiên, nội dung này không phải là một trong những căn cứ lập QHSDĐ cấp quốc gia Căn cứ lập quy hoạch còn là những tiến bộ khoa học và công nghệ liên quan đến sử dụng đất và kết quả thực hiện QHSDĐ của
kỳ trước Căn cứ lập quy hoạch càng rõ ràng, cụ thể và khoa học thì quy hoạch được lập càng có hiệu quả cao và đảm bảo tính khả thi của QHSDĐ Từ căn cứ lập
Trang 39QHSDĐ, các căn cứ lập KHSDĐ cũng được chi tiết hóa và cụ thể hóa góp phần hiện thực hóa mục tiêu quy hoạch trong từng giai đoạn phát triển các căn cứ này cũng xuất phát từ các QH, KHSDĐ đã được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực; kết quả thực hiện KHSDĐ kỳ trước cũng như khả năng thu hút đầu tư, huy động nguồn lực của Nhà nước trong việc thực thi KHSDĐ
2.1.3 Các quy định về nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Nội dung QH, KHSDĐ là một phần không thể thiếu được trong việc lập QH, KHSDĐ; nó ảnh hưởng nhiều đến việc xét duyệt và tính khả thi khi thực hiện sau này Vì vậy, khi lập QH, KHSDĐ cần phải chú ý đến nội dung của nó
Theo LĐĐ năm 2003, nội dung QH, KHSDĐ được quy định chung cho cả bốn cấp (hơn 40 chỉ tiêu) do vậy gây nên những bất cập như: có những căn cứ ở quy hoạch của cấp này có những cấp kia không có, song do yêu cầu của công tác quản
lý nhà nước về đất đai thì QHSDĐ vẫn được lập, gây nên chất lượng của quy hoạch không đồng đều Bên cạnh đó, nội dung QH, KHSDĐ các cấp được quy định như nhau, dẫn đến tình trạng là chỉ tiêu QHSDĐ cấp quốc gia, cấp tỉnh quá chi tiết Từ
đó không xác định rõ được trách nhiệm của từng cấp trong việc quản lý, tổ chức thực hiện QH, KHSDĐ đã được phê duyệt Mặt khác, các căn cứ và nội dung giữa QHSDĐ và KHSDĐ các cấp cũng khác nhau là không khoa học và không phù hợp nên tiềm năng đất đai chưa được đánh giá đúng, QH, KHSDĐ chưa đóng vai trò là
cơ sở tiền đề để khai thác tiềm năng và thế mạnh của mỗi loại đất, ở mỗi vùng, miền khác nhau Chính vì vậy, LĐĐ năm 2013 quy định cụ thể về căn cứ cho việc lập QHSDĐ và KHSDĐ của từng cấp nhằm khắc phục những tồn tại và hạn chế nêu trên Theo đó, quy định cụ thể căn cứ lập QHSDĐ, KHSDĐ của từng cấp nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý của mỗi cấp; bổ sung và lồng ghép nội dung QHSDĐ của các vùng kinh tế - xã hội vào QHSDĐ cấp quốc gia để tăng cường tính liên kết giữa các tỉnh, liên kết giữa các vùng; lồng ghép nội dung QHSDĐ chi tiết ở cấp xã vào quy hoạch sử dụng đất cấp huyện nhằm nâng cao chất lượng và rút ngắn thời gian hoàn
Trang 40thành việc lập QH, KHSDĐ; quy định cụ thể nội dung KHSDĐ cấp huyện để làm
cơ sở thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất gắn với nhu cầu sử dụng đất trong năm của các ngành, các lĩnh vực, của các cấp, phù hợp với khả năng đầu tư và huy động nguồn lực Cụ thể, nội dung của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được quy định cụ thể từ Điều 38 (QH, KHSDĐ cấp quốc gia); Điều 39 (QH, KHSDĐ cấp tỉnh); Điều 40 (QH, KHSDĐ cấp huyện); Điều 40 (QH, KHSDĐ cấp quốc phòng, an ninh), trong đó các nội dung quan trọng cần được thể hiện trong QHSDĐ của các cấp không thể thiếu các nội dung quan trọng sau đây:
Thứ nhất, điều tra, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh
tế, xã hội trên địa bàn thực hiện quy hoạch Đánh giá tiềm năng đất đai và sự phù hợp của hiện trạng sử dụng đất so với tiềm năng đất đai, so với xu hướng phát triển kinh tế - xã hội, khoa học – công nghệ Đối với đất đang sử dụng thì đánh giá sự phù hợp và không phù hợp của hiện trạng sử dụng đất so với tiềm năng đất đai, so với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, khả năng áp dụng tiến bộ khoa học – công nghệ trong sử dụng đất Đối với đất chưa sử dụng thì đánh giá khả năng đưa vào sử dụng cho các mục đích
Thứ hai, xác định phương hướng, mục tiêu sử dụng đất trong kỳ quy hoạch
và định hướng cho kỳ tiếp theo phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của các ngành và các địa phương
Thứ ba, xây dựng các phương án phân bổ diện tích các loại đất cho nhu cầu
phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh trong kỳ quy hoạch được thực hiện Xác định diện tích đất không thay đổi mục đích sử dụng; diện tích đất phải chuyển mục đích sử dụng sang mục đích khác, trong đó có diện tích đất dự kiến phải thu hồi để thực hiện các công trình, dự án
Thứ tư, phân tích hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của từng phương án
phân bổ quỹ đất để lựa chọn phương án phù hợp nhất, cụ thể: phân tích hiệu quả kinh
tế bao gồm việc dự kiến các nguồn thu từ việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, các loại thuế có liên quan đến đất đai và chi phí cho việc bồi