Ý nghĩa thực tiễn: Là một đề tài nghiên cứu các quy định của pháp luật về lĩnh vực quản lý chất thải nguy hại, tác giả hy vọng luận văn có giá trị tham khảo nhất định, trước hết đối với
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI
NGUY HẠI TẠI VIỆT NAM
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI
NGUY HẠI TẠI VIỆT NAM NGUYỄN VŨ DUY
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 8380107
GVHD: PGS TS VŨ THỊ DUYÊN THỦY
HÀ NỘI – 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách khách quan, trung thực và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Các kết quả này chƣa từng đƣợc công bố trong một nghiên cứu nào khác
Hà Nội, ngày 24 tháng 10 năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Vũ Duy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trân trọng cảm ơn PGS TS Vũ Thị Duyên Thủy - Giảng viên cao cấp, trường Đại học Luật Hà Nội đã tạo những điều kiện tốt nhất để tác giả thực hiện luận văn
Đồng thời, xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất đến các cơ quan mà tác giả đã có điều kiện gặp gỡ, khảo sát và các chuyên gia trong các lĩnh vực liên quan, đã đóng góp những thông tin vô cùng quý báu và những ý kiến xác đáng, để tác giả có thể hoàn thành nghiên cứu này
Hà Nội, ngày 24 tháng 10 năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Vũ Duy
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 01
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI 05
1.1 Những vấn đề lý luận về quản lý chất thải nguy hại 05
1.1.1 Khái niệm về chất thải nguy hại 05
1.1.2 Ảnh hưởng của chất thải nguy hại đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng 06
1.1.3 Nguồn gốc phát sinh chất thải nguy hại 10
1.1.4 Khái niệm quản lý chất thải nguy hại 14
1.2 Lý luận pháp luật về quản lý chất thải nguy hại 15
1.2.1 Khái niệm pháp luật quản lý chất thải nguy hại 15
1.2.2 Nội dung điều chỉnh của pháp luật quản lý chất thải nguy hại 16
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 20
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI TẠI VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN 21
2.1 Thực trạng pháp luật quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam 21
2.1.1 Các quy định về trách nhiệm của chủ nguồn thải chất thải nguy hại 21
2.1.2 Các quy định về trách nhiệm của chủ vận chuyển chất thải nguy hại 23
2.1.3 Các quy định về trách nhiệm của chủ xử lý chất thải nguy hại 25
2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam 27
2.2.1 Những kết quả đạt được 27
2.2.2 Những vấn đề còn tồn tại 30
2.3 Kinh nghiệm quản lý chất thải nguy hại trên thế giới và những bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam 37
2.3.1 Kinh nghiệm quản lý chất thải nguy hại trên thế giới 37
2.3.2 Những bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam 45
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 48
Trang 6CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC
HIỆN PHÁP LUẬT QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI TẠI VIỆT NAM 49
3.1 Các giải pháp pháp lý 49
3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật 52
3.2.1 Các giải pháp về năng lực và tài chính 52
3.2.2 Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức của cộng đồng trong việc thực hiện pháp luật quản lý chất thải nguy hại 53
3.2.3 Đẩy mạnh xã hội hóa công tác quản lý chất thải nguy hại 55
3.2.4 Tăng cường hợp tác quốc tế trong quản lý chất thải nguy hại 56
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 59
KẾT LUẬN 60
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
PHỤ LỤC 65
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH – HĐH Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
N&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
KHCN&MT Khoa học công nghệ và môi trường
TN&MT Tài nguyên và môi trường
Thông tư 36 Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/06/2015
về quản lý chất thải nguy hại
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bảo vệ môi trường để phát triển bền vững hiện đang là vấn đề cấp bách cho mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ trên toàn thế giới, đặc biệt đối với quốc gia đang phát triển như Việt Nam.Cùng với sự phát triển của đất nước, các đô thị không ngừng gia tăng dân số, bộ mặt đất nước được đổi mới.Cho nên lượng chất thải phát sinh ngày càng nhiều, khó quản lý, nhất là đối với chất thải nguy hại (CTNH).Đây cũng là nguồn gốc chính gây ô nhiễm môi trường, làm phát sinh và lan truyền các dịch bệnh, ảnh hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống, văn minh đô thị Ý thức được tầm quan trọng của việc quản lý chất thải, đặc biệt là CTNH vì thế hệ thống pháp luật về quản lý CTNH đã và đang được xây dựng ngày càng hoàn thiện Cụ thể, Nhà nước
ta đã ban hành nhiều văn bản điều chỉnh về việc quản lý chất thải Ngày nay lượng CTNH phát sinh ngày càng nhiều và xu hướng này hiện gia tăng nhanh chóng vậy nên nếu không có các biện pháp quản lý phù hợp thì tất yếu sẽ dẫn đến nguy cơ gây
ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Các nguyên nhân có thể bắt nguồn từ các hoạt động không kiểm soát như: vận chuyển trái phép hoặc xử lý không an toàn, không đúng quy trình cho việc xử lý CTNH Theo khảo sát và đánh giá sơ bộ, hiện nay, tổng công suất của các nhà máy xử lý chất thải thông thường, CTNH chỉ đáp ứng một phần lượng CTNH phát sinh hàng ngày Ngoài ra còn có một số đơn vị chưa có
sự hiểu biết đúng đắn hoặc chưa cập nhật đối với các quy định về phương tiện vận chuyển CTNH chuyên dụng, các loại hình công nghệ xử lý chất thải ở trong và ngoài nước Từ đó rất khó khăn cho việc lựa chọn công nghệ thích hợp để lắp đặt tại
cơ sở xử lý
Nhận thức được vai trò to lớn của công tác quản lý chất thải nguy hại đối với
vấn đề bảo vệ môi trường trong giai đoạn hiện nay, tôi đã chọn đề tài: “Pháp luật
về quản lý chất thải nguy hại tại Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trang 9Tại Việt Nam, có rất nhiều các lĩnh vực pháp luật khác nhau nhưng pháp luật bảo vệ môi trường nói chung và pháp luật quản lý chất thải nguy hại nói riêng là một lĩnh vực tương đối mới Về lĩnh vực quản lý chất thải nguy hại, có một số những công trình nghiên cứu khác nhau đã được công bố Về vấn đề quản lý chất thải nguy hại nói chung, tiêu biểu có cuốn: “Quản lý chất thải nguy hại” của tác giả Nguyễn Đức Khiển - Nhà xuất bản Xây dựng Hà Nội 2003; Giáo trình quản lý chất thải nguy hại của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh - Nhà xuất bản Xây dựng năm 2006; hay luận văn thạc sĩ của Nguyễn Hòa Bình (năm 2004) với đề tài:
“Điều tra, đánh giá tình hình quản lý chất thải rắn nguy hại của Việt Nam và đề xuất một số giải pháp quản lý có hiệu quả”… Các công trình nghiên cứu về chất thải nguy hại từ góc độ pháp lý thì không nhiều Bên cạnh những khóa luận tốt nghiệp của sinh viên trường Đại học Luật Hà Nội, chỉ có một số bài viết về vấn đề này như: bài viết của tác giả Nguyễn Hòa Bình trên tạp chí Bảo vệ môi trường năm 2000 và
2002 của Cục môi trường: “Một số công việc cần triển khai thực hiện Quy chế quản
lý chất thải nguy hại ở Việt Nam”; “Thực hiện công ước Basel về kiểm soát, vận chuyển xuyên biên giới chất thải nguy hại…”; và mới đây là đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường mã số LH-08-16/ĐHL của Trường Đại học Luật Hà Nội “Hoàn thiện pháp luật về quản lý chất thải” năm 2008
Pháp luật về quản lý chất thải nguy hại là một phạm trù nghiên cứu rộng cho nên với khuôn khổ của luận văn thạc sĩ không đủ điều kiện để nghiên cứu hoạt động quản lý của tất cả các loại chất thải hiện nay, cũng không đi sâu nghiên cứu các lĩnh vực chuyên môn của quản lý chất thải mà chủ yếu đề cập đến các vấn đề pháp lý liên quan đến quản lý chất thải nguy hại Trong đề tài luận văn này, người viết chỉ tập trung nghiên cứu những quy định hiện hành của pháp luật về quản lý chất thải nguy hại theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và các văn bản pháp luật như: Nghị định số 38/2015/NĐ-CP 24/04/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu;Nghị định số 40/2019/NĐ-CP ngày 13/05/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Bảo
vệ môi trường; Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 của Chính phủ về
Trang 10quản lý chất thải rắn;Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/06/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại Từ đó, rút ra những nhận định và đưa ra giải pháp về công tác quản lý chất thải nguy hại ở nước ta
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục tiêu của luận văn là làm sáng tỏ cơ sở lý luận về quản lý chất thải nguy hại và pháp luật quản lý chất thải nguy hại, đánh giá thực trạng pháp luật quản lý chất thải nguy hại ở nước ta Từ đó luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật quản lý chất thải nguy hại tại nước ta
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ sự cần thiết của việc quản lý chất thải nguy hại bằng pháp luật, cách tiếp cận của pháp luật quốc tế về quản lý chất thải nguy hại, những quan điểm, nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam về quản lý chất thải nguy hại
- Nghiên cứu, đánh giá những quan điểm lý luận chung về chất thải nguy hại, quản lý chất thải nguy hại và pháp luật quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam
- Phân tích thực trạng pháp luật quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam
- Nghiên cứu những kinh nghiệm trong vấn đề quản lý chất thải nguy hại của một số nước, từ đó đề xuất những kinh nghiệm có thể vận dụng vào việc hoàn thiện pháp luật về quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu những vấn đề pháp lý về quản lý chất thải nguy hại tại Việt Nam.Trên cơ sở đó tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật về chất thải nguy hại và thực tiễn thực hiện mà không đi sâu vào những vấn đề có tính kỹ thuật, chuyên môn như phương pháp, công nghệ, thiết bị xử lý CTNH
Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi luận văn, tác giả đi sâu vào nghiên cứu khía cạnh pháp lý trong hoạt động quản lý CTNH diễn ra tại Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm
2014 đến nay
Trang 115 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền
Các phương pháp nghiên cứu: phân tích, thống kê, so sánh, đối chiếu, lịch
sử, chứng minh, tổng hợp, quy nạp Trong đó, phân tích, thống kê, so sánh và chứng minh được xác định là những phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận văn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Ý nghĩa lý luận: Với những nội dung được trình bày, luận văn sẽ góp phần
hoàn thiện hệ thống lý luận về quản lý chất thải nguy hại và pháp luật về quản lý chất thải nguy hại
Ý nghĩa thực tiễn: Là một đề tài nghiên cứu các quy định của pháp luật về
lĩnh vực quản lý chất thải nguy hại, tác giả hy vọng luận văn có giá trị tham khảo nhất định, trước hết đối với những người quan tâm về vấn đề quản lý chất thải nguy hại ở góc độ pháp lý và là nguồn tham khảo hữu ích trong việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập môn học Luật Môi trường
Bên cạnh đó một só kiến nghị của đề tài còn là tài liệu có giá trị tham khảo đối với các cơ quan xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường nói chung và pháp luật về quản lý chất thải nguy hại nói riêng
7 Kết cấu của luận văn
Bao gồm phần mở đầu và 3 chương với các phần chính sau đây:
Chương 1: Những vấn đề chung về quản lý chất thải nguy hại và pháp luật quản lý chất thải nguy hại
Chương 2: Thực trạng pháp luật quản lý chất thải nguy hại tại Việt Nam và thực tiễn thực hiện
Chương 3: Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật quản lý chất thải nguy hại tại Việt Nam
Trang 12CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI VÀ PHÁP LUẬT
VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI
1.1 Những vấn đề chung về quản lý chất thải nguy hại
1.1.1 Khái niệm chất thải nguy hại
Hoạt động sản xuất và tiêu dùng của con người luôn làm phát sinh ra các loại chất thải Hiểu một cách đơn giản, chất thải là những chất không sử dụng được nữa,
do con người thải bỏ ra trong hoạt động của mình
Nếu căn cứ vào mức độ độc hại của chất thải, có thể phân loại chất thải thành chất thải nguy hại và chất thải thông thường Cả hai loại này đều mang những đặc điểm chung của chất thải Tuy nhiên, xét về khả năng gây hại trực tiếp hoặc gián tiếp cho môi trường và con người thì chất thải nguy hại được coi là có mức độ độc hại cao hơn hẳn so với chất thải thông thường
Thuật ngữ “chất thải nguy hại” (CTNH)được bắt đầu chấp nhận từ những năm 70 của thế kỷ XX và được đưa vào các văn bản pháp lý của Mỹ và các nước Châu Âu một vài năm sau đó Theo Cục bảo vệ môi trường Mỹ (US EPA) chất thải nguy hại được định nghĩa như sau: chất thải nguy hại là chất có chứa một chất (hoặc các chất) có tính nguy hại có tiềm năng gây nguy hiểm đến sức khỏe cộng đồng và đối với chất lượng môi trường Theo công ước Basel công bố năm 1995 về “kiểm soát vận chuyển xuyên biên giới và đổ thải các loại chất thải nguy hại”, có 45 loại chất thải được xếp vào danh mục nguy hại nếu chúng có một hay nhiều 13 đặc tính nguy hại và được xếp theo mã số từ H1 đến H13 trong đó có những đặc tính nguy hại điển hình là dễ cháy, ôxi hóa, độc, lây nhiễm, ăn mòn và độc tính sinh thái [5] Theo định nghĩa về chất thải nguy hại ở Châu Âu, trong danh mục 850 loại chất thải thì có khoảng 429 loại được xếp là chất thải nguy hại với các đặc tính chính là độc,
ăn mòn, dễ cháy và dễ phản ứng
Trang 13Ở Việt Nam, theo Luật Bảo vệ môi trường 2014được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII thông qua ngày 23 tháng 06 năm 2014: CTNH là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác Có thể nói cách khác, chất hại nguy hại là chất:
- Có chứa một chất (hoặc các chất) có tính nguy hại
- Có thể gây nguy hại trực tiếp đến sức khỏe con người hoặc môi trường Nhìn chung, định nghĩa chất thải nguy hại ở các nước tuy có khác nhau về cách diễn đạt, nhưng bản chất đều nhấn mạnh đến tính chất độc hại của loại chất thải này đến môi trường và sức khỏe con người
Có nhiều tiêu chí để phân loại chất thải nguy hại như: Phân loại theo nguồn thải đặc thù, phi đặc thù; phân loại theo chất thải công nghiệp; phân loại theo loại nguy hại; theo nhóm hóa học; theo thành phần hóa học ban đầu; theo tình trạng vật lý Theo Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/06/2015 về việc ban hành danh mục chất thải nguy hại, CTNH được phân loại theo các nhóm nguồn hoặc dòng thải chính như: Chất thải từ ngành thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản, dầu khí và than; chất thải từ ngành sản xuất hóa chất vô cơ, hữu cơ; chất thải từ ngành luyện kim; chất thải từ ngành sản xuất vật liệu xây dựng và thủy tinh; chất thải từ ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản; chất thải từ ngành y tế và thú y; chất thải từ các cơ sở tái chế, xử lý, tiêu hủy chất thải, xử lý nước cấp sinh hoạt và công nghiệp… [25]
1.1.2 Ảnh hưởng của chất thải nguy hại đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng
Ảnh hưởng của chất thải nguy hại đối với môi trường
Việc chôn lấp, xử lý chất thải nguy hại không đúng quy cách đã gây ra những tác động vô cùng nghiêm trọng đối với môi trường, cụ thể là ảnh hưởng đến nước ngầm, nước mặt, đất và không khí
Đặc điểm địa lý của Việt Nam với phần lớn diện tích đồi, núi, phần còn lại là đồng bằng với mạng lưới sông ngòi dày đặc Đây được xem như một ưu đãi của
Trang 14thiên nhiên đối với con người Việt Nam, bởi chúng ta có thể sử dụng mạng lưới sông ngòi này vào sinh hoạt và sản xuất Tuy nhiên, mạng lưới sông ngòi này đang
bị đe dọa trầm trọng bởi chúng đang được sử dụng như nguồn chứa nước thải từ chính hoạt động sản xuất và sinh hoạt của người dân, đặc biệt ở những khu đô thị và khu công nghiệp Tại những thành phố lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố
Hồ Chí Minh… chưa có hệ thống xử lý chất thải công nghiệp và sinh hoạt Do đó, mạng lưới kênh rạch trong thành phố được coi là nơi chứa chất thải chính, giải quyết vấn đề nhức nhối do chất thải một cách tạm thời Tốc độ tăng trưởng kinh tế càng cao thì vấn đề ô nhiễm nguồn nước càng ở mức báo động Hầu hết các bệnh viện lớn đều không có hệ thống xử lý nước thải, hoặc có nhưng không hoạt động đã thải lượng nước này trực tiếp vào sông ngòi lân cận mà không qua xử lý, hoặc xử lý không đảm bảo vệ sinh Hàng loạt những con sông ở các thành phố đang trở thành những con sông chết khi nguồn nước ở đây có màu đen sẫm và bốc mùi hôi nồng nặc vào không khí Ngoài ra, nhiều sự cố tràn dầu xảy ra trong thời gian gần đây cũng cảnh báo khả năng gây ô nhiễm đến nguồn nước mặt và cần có những biện pháp phòng ngừa kịp thời
Ở nông thôn, tình trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tràn lan và những vỏ bao thuốc này không được đưa vào đúng nơi quy định để xử lý cũng gây nên những ảnh hưởng không nhỏ đối với môi trường Đa số người dân sau khi sử dụng đã vứt
vỏ bao thuốc bảo vệ thực vật (trong đó vẫn còn một lượng nhỏ thuốc tồn lại) lên mặt ruộng, mặt sông, hồ, làm nguồn nước ở những nơi này bị ô nhiễm nặng nề Ví
dụ, ở Hòa Bình, trong tổng số 1.700 hộ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật thì có đến
120 hộ (chiếm khoảng 7%) vứt vỏ bao thuốc trừ sâu bừa bãi ở ven đường, gần ao, hồ…
Chất thải nguy hại được chôn lấp vào lòng đất hoặc chôn lấp tại những bãi rác kém chất lượng đã dẫn đến hiện tượng nước rác ngấm trực tiếp vào nguồn nước xung quanh Nhiều trường hợp, chất thải nguy hại được lưu giữ lâu dài hoặc chôn lấp ngay tại chỗ mà không qua một khâu xử lý nào, hoặc xử lý không đúng quy trình kỹ thuật Việc rò rỉ kim loại nặng từ các xỉ kim loại hay hiện tượng khuyếch
Trang 15tán sợi amiăng trong quá trình lưu giữ chất thải nguy hại đã gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đối với nguồn nước ngầm
Ngoài những ảnh hưởng đến nguồn nước, chất thải nguy hại từ các cơ sở sản xuất kinh doanh, cơ sở y tế, từ sinh hoạt thường ngày của người dân đã là một sức
ép thực sự nặng nề lên tài nguyên đất do dư lượng độc tố của chất thải nguy hại để lại trong đất quá cao Không chỉ phá vỡ lớp màu mỡ của đất, chất thải nguy hại còn
có khả năng gây nhiễm độc cho đất, đem lại khó khăn cho quá trình sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp Đặc biệt, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở các vùng nông thôn (bao gồm cả trường hợp sử dụng thuốc bảo vệ thực vật mà thế giới đã hạn chế hoặc cấm do tỷ lệ độc tố cao) cũng là nguyên nhân chính gây thoái hóa và ô nhiễm đất, mặn hóa hoặc chua phèn, phá hủy cấu trúc đất… Mặt khác, nguồn ô nhiễm đất còn có thể được tạo ra bởi các chất thải phóng xạ của các trung tâm khai thác phóng
xạ, các nhà máy điện nguyên tử… Các chất thải phóng xạ này gây ra ảnh hưởng lớn đến hệ vi sinh vật trong đất, phân giải chất hữu cơ, làm mất dinh dưỡng đất
Chất thải nguy hại phát sinh từ hoạt động giao thông vận tải, sinh hoạt, tiêu dùng và đặc biệt là hoạt động công nghiệp đã làm cho mức độ ô nhiễm không khí ngày càng gia tăng Kết quả đo lường thực hiện trên thực tế cho thấy khoảng 70% lượng bụi trong không khí đô thị do giao thông vận tải và xây dựng Tình trạng thiếu thiết bị xử lý khí thải độc hại ở phần lớn cơ sở công nghiệp (gần 100% doanh nghiệp phát thải khí không có thiết bị xử lý chất thải nguy hại), tình trạng gia tăng
số lượng phương tiện giao thông đường bộ, việc đun nấu bằng than, dầu hỏa trong sinh hoạt thường ngày của người dân là nguyên nhân đáng kể làm ảnh hưởng đến bầu khí quyển Nhiều loại chất thải nguy hại được thải bỏ bằng cách cho bay hơi chính là nguyên nhân làm cho nhiều độc tố lan tỏa vào không khí
Ảnh hưởng của chất thải nguy hại đối với sức khỏe con người
Tồn tại dưới các dạng chủ yếu như: rắn, lỏng, khí… nên chất thải nguy hại dễ dàng xâm nhập vào cơ thể con người bằng nhiều cách thức khác nhau Đặc biệt khi
ở dạng lỏng, sự xâm nhập và phá hủy của nó càng nhanh chóng và khó kiểm soát Tính chảy dòng của chất lỏng làm chúng dễ dàng di chuyển nên khó có thể khoanh
Trang 16vùng lại Hơn nữa, các chất lỏng dễ dàng hòa tan các chất khác và có thể chuyển thành dạng hơi và khí Khi con người tiếp xúc với chất thải nguy hại ở nồng độ nhỏ
sẽ có khả năng ảnh hưởng đến sức khỏe như: viêm da, viêm đường hô hấp, viêm đường tiêu hóa… Nếu tiếp xúc ở nồng độ lớn, con người sẽ có khả năng mắc các bệnh hiểm nghèo, có thể gây tử vong như: nhuyễn xương, đột biến gen, bệnh Itai do nhiễm độc Cadimi…
Hiện nay, cùng với sự gia tăng cả về quy mô và số lượng các bệnh viện, lượng chất thải y tế được thải ra ngày càng nhiều Theo WHO, trong các loại chất thải y tế, có khoảng hơn 85% chất thải y tế không lây nhiễm, 10% lây nhiễm và 5% rất độc hại Bao gồm: Kim tiêm, chai thuốc, hoá chất, bộ phận cơ thể người bị cắt bỏ… có khả năng truyền bệnh rất cao Đặc biệt các loại chất thải này khi kết hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa ở nước ta Nước thải bệnh viện chứa rất nhiều loại vi trùng, virus và các mầm bệnh sinh học khác trong máu mủ, dịch… của người bệnh Theo kết quả phân tích của cơ quan chức năng, loại nước này ô nhiễm nặng về mặt hữu cơ và vi sinh Hàm lượng vi sinh cao gấp 100 – 1.000 tiêu chuẩn cho phép, với những loại vi khuẩn Salmonella, tụ cầu, virus đường tiêu hóa, các loại
ký sinh trùng, amip… hàm lượng chất rắn lơ lửng cao gấp 2 – 3 lần tiêu chuẩn cho phép Dù chứa đựng nhiều độc tố như vậy, nhưng hầu hết tại các bệnh viện lớn ở Trung ương nước thải chỉ qua bể phốt rồi đổ thẳng ra cống Ở bệnh viện tuyến huyện thì ngay cả bể phốt cũng không có, mà được thải luôn ra ngoài Những mầm bệnh trong nước thải khi được thải ra ngoài đã xâm nhập vào cơ thể các loại thủy sản, vật nuôi, cây trồng và dễ dàng trở lại với con người Đây chính là một trong những nguyên nhân cơ bản làm gia tăng các bệnh hiểm nghèo cho người dân
Thuốc bảo vệ thực vật là nguồn gây ô nhiễm nặng nề không chỉ đối với môi trường mà còn đối với sức khỏe con người Trên thực tế, đã có nhiều sự cố không nhỏ do thuốc bảo vệ thực vật gây ra Một mặt, do ý thức bảo quản thuốc của người dân không cao nên một phần dư lượng thuốc đã phát tán vào môi trường Mặt khác,
do người dân ở nhiều nơi lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật đối với rau quả đã khiến
dư lượng thuốc quá cao trong sản phẩm, ngay cả khi chúng đến tay người tiêu dùng
Trang 17Như vậy, bằng nhiều con đường khác nhau, một lượng lớn thuốc bảo vệ thực vật đã quay trở lại cơ thể con người, gây nên những tai nạn đáng tiếc
1.1.3 Nguồn gốc phát sinh chất thải nguy hại
Do tính đa dạng của các loại hình công nghiệp, các hoạt động thương mại tiêu dùng trong cuộc sống hay các hoạt động công nghiệp mà CTNH có thể phát sinh từ nhiều nguồn thải khác nhau Việc phát thải có thể do bản chất của công nghệ, hay do trình độ dân trí mà dẫn đến việc thải chất thải có thể là vô tình hay cố
ý Chất thải nguy hại được phát sinh ở bất kì nơi nào và tại bất kì thời điểm nào có thể
Chất thải nguy hại sinh ra từ hoạt động sinh hoạt
Các loại CTNH phát sinh từ hoạt động sinh hoạt động sinh hoạt của con người thường là những đồ vật đã qua sử dụng mà thường ngày chúng ta không để ý Theo thống kê trên thế giới, đặc biệt là ở những nước phát triển, khi nhu cầu của cuộc sống càng cao thì số lượng và chủng loại của các thành phần nguy hại càng nhiều
Các thành phần nilon, bao bì bằng chất dẻo: Tỷ lệ nylon, đồ nhựa trong rác thải sinh hoạt chiếm từ 2,7% - 8,8% Các thành phần pin (có chứa thành phần chì và thủy ngân bên trong) hay keo diệt chuột (có chứa thành phần hóa chất độc hại) Những thành phần này chiếm khối lượng không đáng kể nhưng có nguy cơ gây hại không nhỏ.Các chi tiết điện và điện tử thải chứa những bộ phận như pin, ác qui thải
%; vỏ hộp hoá chất chiếm 0,8 %) Các lõi mực in của máy photocopy, biến thế hỏng được các chủ phát sinh thu gom và bán lại cho người thu mua phế liệu
Chất thải nguy hại sinh ra từ hoạt động công nghiệp
Trang 18Trong các nguồn chất thải thì hoạt động công nghiệp là nguồn phát sinh CTNH lớn nhất và phụ thuộc rất nhiều vào loại ngành công nghiệp So với các nguồn chất thải khác, đây cũng là nguồn phát thải mang tính thường xuyên và ổn định nhất Các nguồn phát thải từ dân dụng hay từ thương mại chủ yếu không nhiều, lượng chất thải tương đối nhỏ, mang tính sự cố hoặc do trình độ nhận thức và dân trí của người dân Các nguồn thải từ các hoạt động nông nghiệp mang tính chất phát tán dạng rộng, đây là nguồn rất khó kiểm soát và thu gom, lượng thải này phụ thuộc rất nhiều vào khả năng nhận thức và trình độ dân trí của người dân trong khu vực
Số lượng chất thải nguy hại chiếm tỉ trọng lớn thuộc về các ngành công nghiệp chính như sau:
- Sản xuất hóa chất và dược phẩm
- Tinh chế kim loại
- Các sản phẩm xăng và than đá
- Sản xuất và chế biến kim loại
- Sản xuất cao su và chất dẻo
Tùy theo từng loại hình công nghiệp và cách thức quản lí ngăn ngừa ngay từ ban đầu mà quá trình sinh ra chất thải nguy hại từ hoạt động công nghiệp sẽ khác nhau
Các ngành sản xuất thiết bị và máy móc, các sản phẩm điện, điện tử và các sản phẩm kim loại khác cũng đạt mức tăng trưởng khá mạnh nhưng đồng thời chúng cũng là những nguồn phát sinh CTNHđáng kể Một đặc điểm quan trọng của ngành sản xuất đồ điện và điện tử là các hoạt động công nghiệp, đặc biệt đối với các sản phẩm điện tử, chủ yếu là lắp ráp Điều này có nghĩa là các hoạt động sinh ra khối lượng lớn các chất thải nguy hại và là những chất thải nguy hại nhất, ví dụ như chế tạo mạch in…
Các ngành công nghiệp sản xuất và lắp ráp ô tô là những nguồn phát sinh CTNH tiềm tàng đáng kể
- Các loại chất dễ cháy như dung môi thường phát sinh từ công nghiệp sản xuất hóa chất, chất tẩy rửa, mạ kim loại, thuộc da, in…
Trang 19- Các loại chất ăn mòn thí dụ như axit hoặc kiềm được phát sinh từ công nghiệp sản xuất hóa chất, từ quá trình làm sạch và bảo trì,sửa chữa các thiết bị xe máy
- Các chất dễ phản ứng như chất tẩy rửa,chất oxy hóa thường được phát sinh
từ công nghiệp hóa chất, phòng thí nghiệm, phòng xét nghiệm…
- Các chất độc tính như kim loại nặng thường được phát sinh từ quá trình gia công kim loại, in tráng ảnh…
Chất thải nguy hại sinh ra từ hoạt động y tế
Theo số liệu thu thập từ các cơ quan bảo vệ môi trường, chất thải y tế chủ yếu phát sinh từ những bệnh viện, phòng y tế, nhà điều dưỡng, phòng xét nghiệm, ngân hàng máu Trong đó những loại chất thải nguy hại điển hình bao gồm: các chất thải trong quá trình phẫu thuật người, động vật, bao gồm các bộ phận cơ thể và các
tổ chức nội tạng; các vật nhọn sắc và dễ gãy có tiếp xúc với máu, mủ trong quá trình
mổ xẻ; các chất lỏng sinh học hoặc giấy thấm đãđược sử dụng trong y tế, nha khoa; các gạc bông băng có máu, mủ của bệnh nhân; các loại ống nghiệm nuôi cấy vi trùng trong các phòng xét nghiệm; các chất thải ra trong quá trình xét nghiệm; các loại thuốc quá hạn sử dụng
Hầu hết các chất thải bệnh viện là các chất thải sinh học độc hại và mang tính đặc thù khác với các loại khác, nếu không được phân loại cẩn thận trước khi xả chung với chất thải sinh hoạt sẽ gây ra những nguy hại đáng kể Các nguồn xả chất lây lan độc hại chủ yếu là các khu vực xét nghiệm, khu phẫu thuật, bào chế dược
Chất thải nguy hại sinh ra từ hoạt động nông nghiệp
Hiện nay, tình trạng lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc kích thích tăng trưởng, các loại phân bón hóa học, cộng với việc trình độ khoa học kỹ thuật trong canh tác, chăn nuôi còn thấp là những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường
Theo Bộ NN & PTNT, đồng ruộng Việt Nam đang sử dụng trung bình 15.000 - 25.000 tấn thuốc bảo vệ thực vật hàng năm Tuy nhiên, việc sử dụng không hợp lý, không tuân thủ theo đúng những quy định nghiêm ngặt về quy trình sử dụng nên thuốc bảo vệ thực vật gây nhiều tác hại cho chính người sử dụng và người tiêu
Trang 20dùng nông sản Mỗi năm hoạt động nông nghiệp phát sinh khoảng 9.000 tấn chất thải nông nghiệp nguy hại, chủ yếu là thuốc bảo vệ thực vật, trong đó không ít loại thuốc có độ độc cao đã bị cấm sử dụng Ngoài ra, cả nước còn khoảng 50 tấn thuốc bảo vệ thực vật tồn lưu tại hàng chục kho bãi; 37.000 tấn hóa chất dùng trong nông nghiệp bị tịch thu đang được lưu giữ chờ xử lý Có đến 60-65% lượng phân đạm không được cây trồng hấp thụ; hàng chục triệu tấn chất thải chăn nuôi, 90% khối lượng chất thải rắn chưa được xử lý chủ yếu đổ ra ven đường làng, bờ kênh, mương mỗi năm gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Thực trạng này khiến cho môi trường nông thôn đang phải gánh chịu những bất lợi từ hoạt động sản xuất nông nghiệp
Ngoài ra, chất thải chăn nuôi là một trong những nguồn gây ô nhiễm lớn nhất trong sản xuất nông nghiệp Theo đó, tổng khối lượng chất thải chăn nuôi khoảng
73 triệu tấn/năm Trong khi đó, phương thức chăn nuôi nông hộ vẫn chiếm tỷ lệ lớn,
vì vậy việc xử lý và quản lý chất thải chăn nuôi ngày càng khó khăn Cả nước có 8,5 triệu hộ chăn nuôi quy mô gia đình, 18.000 trang trại chăn nuôi tập trung, nhưng mới chỉ có 8,7% số hộ xây dựng công trình khí sinh học (hầm biogas) Tỷ lệ hộ gia đình có chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh cũng chỉ chiếm 10% và chỉ 0,6% số hộ
có cam kết bảo vệ môi trường Vẫn còn khoảng 23% số hộ chăn nuôi không xử lý chất thải bằng bất kỳ phương pháp nào mà xả thẳng ra môi trường bên ngoài
Trong lĩnh vực trồng trọt, có tới 80% khối lượng rơm rạ, thân các loài cây lương thực bị đốt hoặc vứt bỏ ngoài đồng ruộng Bên cạnh chất thải hữu cơ, nguồn chất thải rắn phát sinh từ hoạt động sản xuất cũng khá lớn và ngày càng đáng báo động Lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, tình trạng ô nhiễm môi trường cũng rất đáng lo ngại Vấn đề nổi cộm trong môi trường nuôi trồng thủy sản hiện nay chính là ở các vùng nuôi tôm và cá da trơn tập trung Chất thải trong nuôi trồng thủy sản là bùn thải chứa phân của các loài thủy sản, nguồn thức ăn dư thừa thối rữa bị phân hủy, các chất tồn dư của vật tư sử dụng như hóa chất Vấn đề mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường ngày càng lớn Tình trạng tự phát trong sản xuất thể hiện rõ ở nhiều lĩnh vực hoạt động của ngành, đặc biệt là vấn đề chuyển đổi cơ cấu
Trang 21cây trồng thiếu quy hoạch, chuyển đổi đất giữa trồng lúa và nuôi tôm, phá rừng ngập mặn để nuôi tôm, khai thác hải sản quá mức dẫn đến dịch bệnh lây lan và phát tán nhanh, hiệu quả kinh tế giảm
Công tác quy hoạch khó cân đối việc sử dụng đất đai, tài nguyên thiên nhiên, thường ưu tiên cho khai thác tài nguyên và canh tác cao độ, ít cân nhắc đến bảo vệ môi trường và phát triển bền vững Do vậy, các nguồn tài nguyên bị chia cắt cục bộ, phá vỡ tính thống nhất của hệ sinh thái, dễ phát sinh sự cố môi trường Quá trình phát triển kinh tế không hợp lý sẽ dẫn đến môi trường ngày càng bị ô nhiễm, làm thu hẹp dần các vùng sản xuất
Chất thải nguy hại sinh ra từ các hoạt động khác
Ngoài các nguồn phát sinh chính nhưđã nêu ở trên, còn có một lượng không nhiều bùn cặn chứa kim loại nặng từ các trạm xử lý nước thải công nghiệp, tro thải
từ quá trình thiêu đốt CTNH; cặn từ các bồn chứa dầu, các loại bao bì đựng hóa chất bảo vệ thực vật cũng như dư lượng của thuốc bảo vệ thực vật…
1.1.4 Khái niệm quản lý chất thải nguy hại
Quản lý chất thải là quá trình bao gồm thu gom, vận chuyển, xử lý, tái chế hoặc tiêu hủy và quan trắc các loại chất thải Mục đích của quản lý chất thải là nhằm giảm các nguy cơ, tác động của chất thải tới môi trường và sức khỏe con người
Theo Luật Bảo vệ môi trường 2014, quản lý chất thải là quá trình phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và
xử lý chất thải [22] Cụ thể hơn, đối với chất thải rắn, theo Nghị định số 59/2007/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý chất thải rắn, hoạt động quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động quy hoạch quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế
và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khỏe con người [10]
Mặc dù Luật Bảo vệ môi trường 2014 không đưa ra khái niệm chính xác về quản lý chất thải nguy hại nhưng chúng ta có thể hiểu quản lý chất thải nguy hại bao gồm những nội dung sau: Lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép, xử lý CTNH; phân loại, thu
Trang 22gom, lưu trữ trước khi xử lý; điều kiện của cơ sở xử lý và cuối cùng là nội dung quản lý CTNH trong quy hoạch bảo vệ môi trường
1.2 Lý luận pháp luật về quản lý chất thải nguy hại
1.2.1.Khái niệm pháp luật quản lý chất thải nguy hại
Cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới, hệ thống pháp luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam hiện nay điều chỉnh 2 vấn đề cơ bản: Thứ nhất, bảo tồn và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên Thứ hai, kiểm soát, ngăn ngừa ô nhiễm môi trường Trong đó, các quy định về quản lý CTNH nằm trong mảng thứ hai Kinh nghiệm của nhiều nước đã chứng minh rằng, muốn quản lý chất thải tốt thì trước tiên phải có hệ thống quản lý chất thải rõ ràng và hoạt động có hiệu quả; thứ hai là phải có cơ sở pháp lý để quản lý; thứ ba là phải có phương tiện và điều kiện để quản lý như thiết bị đo lường, kiểm tra, kiểm soát nguồn thải; thứ tư là có công nghệ xử lý chất thải thích hợp Như vậy, hệ thống pháp lý quy định về quản lý chất thải nguy hại chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống các công cụ được
sử dụng để quản lý chất thải nguy hại mà các quốc gia trên thế giới cũng như Việt Nam đang sử dụng
Pháp luật quản lý chất thải nguy hại là một bộ phận của pháp luật môi trường, bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ phát sinh trong quy trình quản lý chất thải nguy hại nhằm bảo vệ môi trường và sức khoẻ cộng đồng
Từ khái niệm trên, có thể hiểu về pháp luật quản lý chất thải nguy hại một cách cụ thể như sau:
Thứ nhất: Pháp luật quản lý chất thải nguy hại là một bộ phận của pháp luật
môi trường
Như đã trình bày ở trên, pháp luật bảo vệ môi trường điều chỉnh 2 vấn đề chính, trong đó có vấn đề kiểm soát, ngăn ngừa ô nhiễm môi trường Đây là tổng hợp các quy định pháp luật điều chỉnh vấn đề: Đánh giá tác động môi trường, quản
lý chất thải, bảo vệ môi trường trong các hoạt động xây dựng, sản xuất, kinh doanh
Trang 23dịch vụ… Trong nhóm quy phạm pháp luật về quản lý chất thải bao hàm cả nội dung quản lý chất thải nguy hại Do đó, pháp luật quản lý chất thải nguy hại là một
bộ phận của pháp luật bảo vệ môi trường
Thứ hai: Pháp luật quản lý chất thải nguy hại điều chỉnh mối quan hệ giữa
các chủ thể tiến hành hoạt động có liên quan đến chất thải nguy hại với cơ quan quản lý Nhà nước về môi trường và mối quan hệ giữa các chủ thể tiến hành hoạt động có liên quan đến chất thải nguy hại với nhau: Các quan hệ phát sinh giữa cơ quan quản lý Nhà nước về môi trường với các tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động liên quan đến chất thải nguy hại, bao gồm quan hệ giữa chủ nguồn thải, chủ thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải nguy hại với các cơ quan quản lý Nhà nước về môi trường Các quan hệ này chính là những quan hệ phát sinh trong quá trình tiến hành các quan hệ quản lý Nhà nước về chất thải nguy hại (quan hệ phát sinh từ hoạt động quy hoạch quản lý CTNH, hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm hoạt động
xử lý CTNH…) Mối quan hệ giữa các chủ thể tiến hành hoạt động liên quan đến CTNH với nhau, bao gồm các quan hệ phát sinh trong quá trình thu gom, vận chuyển, tiêu hủy chất thải nguy hại, bồi thường thiệt hại do chất thải nguy hại gây ra…
Thứ ba: Mục đích của pháp luật quản lý chất thải nguy hại là bảo vệ môi
trường và sức khỏe cộng đồng thông qua vấn đề đặt ra các khung pháp luật quy định
về trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước về môi trường, quyền, nghĩa vụ của các
tổ chức, cá nhân liên quan đến chất thải nguy hại Pháp luật quản lý chất thải nguy hại đã phân định rõ ràng quyền hạn cho các cơ quan quản lý Nhà nước sẽ giúp hoạt động quản lý Nhà nước đối với vấn đề này đạt được hiệu quả cao hơn; định hướng
xử sự và hành vi của các chủ thể liên quan đến quản lý chất thải nguy hại nhằm mục đích ngăn ngừa, hạn chế số lượng CTNH phát sinh vào môi trường và giảm thiểu những ảnh hưởng bất lợi của nó đối với môi trường và sức khỏe con người
1.2.2 Nội dung điều chỉnh của pháp luật quản lý chất thải nguy hại
Các quy định về chủ nguồn thải chất thải nguy hại
Trang 24Sổ chủ nguồn thải chất thải nguy hại là hồ sơ môi trường mà các cá nhân, tổ
chức sở hữu hoặc điều hành các tổ chức kinh doanh, dịch vụ có phát sinh chất thải nguy hại phải đăng ký để được cấp phép kinh doanh, thực hiện vận chuyện và xử lý chất thải nguy hại
Việc đăng ký sổ chủ nguồn thải chất thải nguy hại giúp cho các nhà quản lý môi trường có thể nắm bắt toàn bộ quy trình xử lý rác thải của các doanh nghiệp, đơn vị hoạt động sản xuất thông qua việc lập hồ sơ, báo cáo lên các cơ quan có thẩm quyền
Các quy định về chủ thu gom, vận chuyển chất thải nguy hại
Các tổ chức, cá nhân đăng ký cấp giấy phép xử lý chất thải nguy hại phải đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 9 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu [8]
Thực tế đã chứng minh, nguy cơ rò rỉ, rơi vãi CTNH trong quá trình vận chuyển đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường và sức khỏe con người Chính
vì vậy pháp luật có những quy định chi tiết cụ thể về quy trình khi thu gom, phân loại cho đúng quy cách, đảm bảo tránh rơi vãi chất thải ra ngoài Vận chuyển bằng
xe chuyên dùng, tránh những lúc tập trung đông người Việc xử lý CTNH nhìn chung là một quy trình phức tạp và tốn kém, không phải đơn vị nào cũng có khả năng tự xử lý được Thông thường việc xử lý áp dụng theo mô hình tập trung Mô hình này đều giúp tiết kiệm chi phí hơn so với việc xử lý kiểu tự phát, nhỏ lẻ Quan trọng hơn, việc sử dụng mô hình này còn giảm thiểu nguy cơ gây ô nhiễm môi trường và việc kiểm soát khả năng gây ô nhiễm thứ cấp cũng có thể thực hiện một cách dễ dàng hơn Nhân viên vận chuyển phải được trang bị thiết bị bảo hộ lao động, xe chuyên chở phải được vệ sinh lại theo đúng quy định sau mỗi lần vận chuyển
Tại Mỹ, các cơ sở vận chuyển CTNH phải có giấy phép của Cục bảo vệ môi trường Mỹ Để đảm bảo vận chuyển an toàn CTNH từ nguồn thải đến nơi xử lý, các bên tham gia bao gồm chủ nguồn thải, chủ vận chuyển và chủ xử lý phải có biên bản xác nhận khối lượng vận chuyển Ưu điểm của phương pháp vận chuyển CTNH
Trang 25thông qua các bên cung cấp dịch vụ tại Mỹ có một số ưu điểm như: Đảm bảo các CTNH nguy hại được tiêu hủy hoàn toàn, các nhân viên xử lý đều được đào tạo kỹ
và thực sự quen thuộc với việc xử lý CTNH; giảm nguy cơ đối với sức khỏe và an toàn vì việc vận chuyển được xử lý một cách chủ động, đúng kỹ thuật; các xe chuyên dùng có thể được làm sạch và khử trùng đầy đủ
Ở Việt Nam, việc vận chuyển CTNH được quy định tại Nghị định 38/2015/NĐ-CP, các tổ chức, cá nhân chỉ được phép vận chuyển CTNH khi thỏa mãn các điều kiện quy định về phương tiện vận chuyển, về phương án phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường… và phải có giấy phép hành nghề vận chuyển CTNH do Tổng cục môi trường, UBND cấp tỉnh hoặc Sở TN&MT cấp Việc vận chuyển CTNH sẽ được thực hiện theo những tuyến đường và thời gian nhất định theo sự hướng dẫn của cơ quan quản lý nhà nước về môi trường ở địa phương
để chất thải và giảm tối đa thể tích chất thải sau xử lý Tuy nhiên nếu lò đốt không đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường hoặc quá trình vận hành không tuân thủ theo quy định sẽ có nguy cơ phát thải dioxin/furan Mặt khác, chi phí giám sát môi trường (giám sát phát thải dioxin/furan) rất cao.Tuy nhiên trước những yêu cầu ngày càng cao trong việc kiểm soát ô nhiễm môi trường, việc xử lý các CTNH đều ưu tiên sử dụng các biện pháp không đốt, thân thiện với môi trường và đảm bảo xử lý đạt quy
Trang 26chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định
Các quy định về nội dung quản lý chất thải nguy hại trong quy hoạch bảo vệ môi trường
Quản lý chất thải nguy hại là một nội dung của quy hoạch bảo vệ môi trường
và thực hiện theo quy định của pháp luật về quy hoạch, pháp luật về bảo vệ môi trường và điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
Nội dung quản lý chất thải nguy hại trong quy hoạch bảo vệ môi trường được quy định tại Điều 94 Luật bảo vệ môi trường 2014 như sau:
1 Đánh giá, dự báo nguồn phát thải nguy hại và lượng phát thải
2 Khả năng thu gom, phân loại tại nguồn
3 Khả năng tái sử dụng, tái chế và thu hồi năng lượng
4 Vị trí, quy mô điểm thu gom, tái chế và xử lý
5 Công nghệ xử lý chất thải nguy hại
6 Nguồn lực thực hiện
7 Tiến độ thực hiện
8 Phân công trách nhiệm
Các quy định về kiểm tra giám sát việc thực hiện pháp luật và xử lý vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại
Đây là những nội dung không thể thiếu trong việc xây dựng pháp luật về quản lý CTNH Việc giám sát được phân định theo đúng nguyên tắc từ cấp cao đến cấp thấp Quá trình kiểm tra, giám sát được thực hiện thường niên theo quy định thông qua chế độ báo cáo cũng như kiểm tra trực tiếp tại các cơ sở phát sinh CTNH
Vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ngày càng nhiều Đối với các trường hợp vi phạm pháp luật về quản lý CTNH thì chịu trách nhiệm hành chính – dân sự - hình sự tùy theo mức độ của hành vi vi phạm
Trang 27TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Bảo vệ môi trường để phát triển bền vững hiện đang là vấn đề cấp bách cho mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ trên toàn thế giới, đặc biệt đối với quốc gia đang phát triển như Việt Nam Cùng với sự phát triển của đất nước, các đô thị không ngừng gia tăng dân số, bộ mặt đất nước được đổi mới Cho nên lượng chất thải phát sinh ngày càng nhiều, khó quản lý, nhất là đối với CTNH CTNH gây ảnh hưởng rất lớn đến môi trường, hệ sinh thái, hủy hoại các nguồn tài nguyên, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người và góp phần không nhỏ vào biến đổi khí hậu toàn cầu
Quản lý CTNH là toàn bộ hoạt động của Nhà nước, các tổ chức và cá nhân trong xã hội nhằm kiểm tra, xem xét để ngăn ngừa những sai phạm, từ đó loại trừ, hạn chế những tác động xấu đối với môi trường, đồng thời khắc phục, xử lý hậu quả
ô nhiễm môi trường do CTNH gây ra, góp phần duy trì và cải thiện vấn đề môi trường ở nước ta Quản lý CTNH là yêu cầu cấp thiết đối với tất cả các quốc gia Việc kiểm soát có thể được thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau Một trong số những biện pháp hữu hiệu được nhiều quốc gia trên thế giới sử dụng và nó cũng phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị cũng như ý thức người dân Việt Nam là kiểm soát bằng pháp luật
Trang 28CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI TẠI VIỆT NAM VÀ THỰC
TIỄN THỰC HIỆN
2.1.Thực trạng pháp luật quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam
2.1.1 Các quy định về trách nhiệm của chủ nguồn thải chất thải nguy hại
Theo Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT, chủ nguồn thải CTNH là tổ chức, cá nhân sở hữu hoặc điều hành cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có phát sinh CTNH.Là người được hưởng lợi từ quá trình sản xuất, kinh doanh, chủ nguồn thải cũng chính là người phải chịu trách nhiệm đối với những vấn đề môi trường phát sinh
và Môi trường bằng văn bản riêng hoặc kết hợp trong báo cáo quản lý CTNH định
kỳ khi chưa chuyển giao được nếu như chưa có phương án vận chuyển khả thi hoặc chưa tìm được chủ xử lý CTNH phù hợp Ngoài ra, khi chấm dứt hoạt động phát sinh CTNH phải thông báo băng văn bản cho Sở Tài nguyên và Môi trường nơi có
cơ sở phát sinh CTNH trong thời gian không quá 06 tháng [8]
Đối với việc quản lý chất thải y tế, chủ nguồn chính là các cơ sở khám, chữa bệnh, nhà hộ sinh, trạm y tế… Chủ nguồn chất thải y tế phải thực hiện trách nhiệm của
Trang 29chủ nguồn thải theo đúng quy định của pháp luật Biện pháp tốt nhất để hạn chế sự ảnh hưởng của chất thải y tế là giảm thiểu ngay tại nguồn Giảm thiểu chất thải y tế là các hoạt động làm hạn chế sự phát thải tối đa của chất thải y tế, bao gồm: Giảm lượng chất thải y tế ngay tại nguồn, sử dụng các sản phẩm có tái chế, tái sử dụng, quản lý tốt, kiểm soát chặt chẽ quá trình thực hành và phân loại chất thải chính xác (khoản 4 Điều
3 Quy chế quản lý chất thải y tế 2015) [4]
Đối với việc quản lý chất thải rắn nguy hại, chủ nguồn thải là các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc hộ gia đình Chủ nguồn chất thải rắn phải thực hiện trách nhiệm của mình theo quy định của pháp luật, bao gồm các hoạt động sau: Thực hiện đăng ký với cơ quan Nhà nước về bảo vệ môi trường của địa phương; phân loại, đóng gói, bảo quản và lưu giữ theo quy định về quản lý chất thải rắn nguy hại tại cơ
sở cho đến khi vận chuyển đến nơi xử lý theo quy định, các chất thải rắn nguy hại phải được dán nhãn, ghi các thông tin cần thiết theo quy định (khoản 1 Điều 23 Nghị định 59/2007/NĐ-CP) [10]
Những quy định của pháp luật đối với chủ nguồn thải là những quy định đối với người sản sinh chất thải phải chịu trách nhiệm về việc quản lý chất thải do hành vi
“thải bỏ” chất thải của mình Chủ nguồn thải thực hiện tốt trách nhiệm của mình sẽ tạo điều kiện cho các chủ thể khác thực hiện nghĩa vụ, đồng thời bảo vệ môi trường và sức khỏe của con người
Như vậy, bằng những quy định cụ thể và nghiêm ngặt, pháp luật đã buộc chủ nguồn thải CTNH phải có trách nhiệm đối với phần chất thải phát sinh tại cơ sở của mình Những quy định này vừa tạo điều kiện cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện chức năng quản lý CTNH, vừa góp phần làm tăng độ tin cậy cho những đối tác ký hợp đồng liên quan đến quản lý CTNH với chủ nguồn thải
Các quy định này tạo nên cơ chế quản lý theo chiều sâu giúp cho các cơ quan quản lý trực tiếp nắm bắt được kịp thời những diễn biến trong địa phương, khu vực quản lý Nó giúp cho các cơ quan hữu quan nhanh chóng xác minh, khoanh vùng khi
có vấn đề phát sinh, đột biến, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường như dịch bệnh, bệnh tật, vùng nguồn ô nhiễm… để từ đó nhanh chóng có biện pháp, giải pháp xử lý
Trang 30kịp thời và chính xác Ngoài ra nhằm để chủ thể có trách nhiệm trong việc phát sinh CTNH do mình tạo ra Khi có trách nhiệm gắn liền thì ý thức con người sẽ được nâng cao hơn Ngoài ra đó cũng là biện pháp giảm nhẹ áp lực công việc lên cơ quan quản lý Nhà nước Đồng thời nó cũng khẳng định một điều là ai làm phát sinh thì phải xử lý,
có quyền lợi thì phải có trách nhiệm đi kèm
2.1.2 Các quy định về trách nhiệm của chủ vận chuyển chất thải nguy hại
Chủ vận chuyển CTNH là những chủ thể phát sinh sau chủ nguồn thải, ký hợp đồng vận chuyển với chủ nguồn thải Luật BVMT 2014 không định nghĩa thế nào là chủ vận chuyển CTNH nhưng căn cứ vào Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT có thể hiểu chủ vận chuyển CTNH là các tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép hành nghề vận chuyển CTNH
Việc vận chuyển CTNH được pháp luật quy định cụ thể tại Quy chế quản lý CTNH 1999 Hiện nay, trách nhiệm của chủ vận chuyển CTNH được quy định tại Điều 8 Nghị định 38/2015/NĐ-CP như sau: Việc thu gom, vận chuyển CTNH chỉ được phép thực hiện bởi các tổ chức hoặc cá nhân có giấy phép xử lý CTNH Khi vận chuyển, các phương tiện và thiết bị thu gom CTNH phải đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và quy trình quản lý theo quy định, đồng thời phải được ghi trong giấy phép
xử lý CTNH Khi sử dụng các phương tiện vận chuyển đặc biệt như công-ten-nơ, đường sắt, đường thủy nội địa, đường biển hoặc các phương tiện vận chuyển không được ghi trong giấy phép xử lý CTNH thì phải đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật, quy trình quản lý theo quy định và phải được sự chấp thuận của Bộ Tài nguyên và Môi trường Vận chuyển CTNH phải theo lộ trình tối ưu về tuyến đường, quãng đường, thời gian, bảo đảm an toàn giao thông và phòng ngừa, ứng phó sự cố, phù hợp với quy định của cơ quan có thẩm quyền về phân luồng giao thông [8]
Như vậy, việc vận chuyển CTNH được thực hiện bởi các tổ chức có năng lực phù hợp và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp phép quản lý CTNH
Đối với chủ thu gom, vận chuyển chất thải rắn nguy hại thì phải thực hiện đúng đầy đủ trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 27 Nghị định 59/2007/NĐ-CP.Chủ thu gom phải bảo đảm số lượng trang thiết bị thu gom, phương tiện vận
Trang 31chuyển và các trang thiết bị an toàn nhằm chuyển toàn bộ chất thải rắn nguy hại đến nơi quy định theo hợp đồng dịch vụ đã ký kết với các chủ nguồn thải Các trang thiết bị thu gom và phương tiện vận chuyển chất thải rắn phải được sửa chữa, bảo trình và vệ sinh, bảo đảm yêu cầu kỹ thuật khi vận hành, được đăng ký và cấp phép lưu thông trên các tuyến đường bộ hoặc đường thủy theo quy định của pháp luật về giao thông Trong quá trình thu gom, vận chuyển chất thải rắn, nhân lực quản lý và hoạt động trực tiếp phải đáp ứng yêu cầu năng lực, được đào tạo về quản lý và vận hành nhăm bảo đảm an toàn và vệ sinh môi trường trong quá trình hoạt động, được trang bị bảo hộ lao động và khám bệnh định kỳ Ngoài ra, chủ thu gom cũng phải chịu trách nhiệm về việc làm rơi vãi, rò rỉ, phát tán CTNH ra môi trường [10]
Chất thải y tế là loại chất thải được thu gom và vận chuyển theo Quy chế riêng, đặc thù của loại rác thải này Chất thải y tế sau khi được thu gom sẽ được vận chuyển
về nơi lưu giữ của cơ sở y tế Việc vận chuyển chất thải y tế phải tuân theo các quy định tại Điều 11 và Điều 12 Quy chế quản lý chất thải y tế 2015 [4]
Việt Nam là thành viên của Công ước Basel 1989 do đó theo quy định tại
khoản 2, Điều 22 Thông tư 36/2015/TT-BTNMT thì: “Trong thời hạn 10 (mười) ngày
làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, Tổng cục Môi trường gửi văn bản thông báo kèm theo 01 (một) thông báo vận chuyển bằng tiếng Anh cho cơ quan thẩm quyền Công ước Basel tại quốc gia nhập khẩu và quá cảnh (nếu có) theo quy định của Công ước Basel”[25] Tại khoản 9, Điều 7 Luật BVMT 2014 quy định “Cấm nhập khẩu, quá cảnh chất thải từ nước ngoài dưới mọi hình thức”[22] Như vậy pháp luật
Việt Nam có những quy định nghiêm ngặt hơn trong việc nhập khẩu, quá cảnh chất thải, điều này thể hiện quan điểm của Nhà nước ta trong việc bảo vệ môi trường, đảm bảo môi trường luôn được ưu tiên
Các quy định này quy định một cách rõ ràng và chi tiết về việc vận chuyển CTNH Nhằm để giới hạn đối tượng có đầy đủ phương tiện, kỹ thuật kiến thức để thực hiện cho việc vận chuyển CTNH, không phải bất kỳ một cá nhân, đơn vị nào cũng có thể vận chuyển được Nó khẳng định tính chất quan trọng của việc vận chuyển CTNH, không phải là một việc tùy tiện được Tất cả các việc liên quan phải thông qua cơ quan
Trang 32có thẩm quyền, chuyên môn để đánh giá cấp phép nhằm để tránh gây ảnh hưởng đến môi trường, đời sống con người
2.1.3 Các quy định về trách nhiệm của chủ xử lý chất thải nguy hại
Đây là hoạt động cuối cùng của quá trình quản lý CTNH Hoạt động xử lý CTNH nhằm mục đích giảm về số lượng, khối lượng, trọng lượng và độ độc hại của CTNH Luật BVMT hiện hành không đưa ra khái niệm về xử lý CTNH nhưng ta có thể tham khảo định nghĩa về xử lý chất thải tại khoản 16 Điều 3 Nghị định
38/2015/NĐ-CP như sau: “Xử lý chất thải là quá trình sử dụng các giải pháp công
nghệ, kỹ thuật (khác với sơ chế) để làm giảm, loại bỏ, cô lập, cách ly, thiêu đốt, tiêu hủy, chôn lấp chất thải và các yếu tố có hại trong chất thải”[8], cụ thể gồm các
bước:
- Tách các chất thải nguy hại;
- Biến đổi hóa tính, sinh học nhằm phá huỷ các chất thải nguy hại hoặc biến thành các chất ít nguy hại hơn hoặc không gây nguy hại;
- Thải bỏ các chất thải nguy hại theo đúng kỹ thuật để không gây tác hại tới môi trường và sức khoẻ cộng đồng Xử lý theo phương pháp cơ học: Xử lý cơ học thông thường được dùng để chuẩn bị chất thải trong quá trình xử lý sơ bộ của phương pháp xử lý hoá lý hay xử lý nhiệt
Vì đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình quản lý CTNH trước khi đưa vào môi trường nên pháp luật có những quy định chặt chẽ nhằm kiểm soát chất thải Chủ
xử lý tiêu hủy phải lập báo cáo trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt Đối với chủ xử lý CTNH có trách nhiệm quy định tại Điều 12 Nghị định 38/2015/NĐ-CP, bao gồm:
Chủ xử lý CTNH phải ký hợp đồng thu gom, vận chuyển, xử lý CTNH với các chủ nguồn thải CTNH trên địa bàn hoạt động được ghi trong giấy phép xử lý CTNH; tiếp nhận, vận chuyển, xử lý số lượng CTNH bằng các phương tiện, thiết bị được phép theo đúng nội dung hợp đồng, chứng từ CTNH và giấy phép xử lý CTNH Chủ xử lý cũng phải thực hiện trách nhiệm của chủ nguồn thải đối với CTNH phát sinh từ quá trình hoạt động mà không có khả năng xử lý, nếu như xử lý
Trang 33được hoàn toàn, chủ xử lý không phải thực hiện trách nhiệm của chủ nguồn thải Trong trường hợp có lý do phải lưu giữ tạm thời CTNH mà chưa vào xử lý sau 06 tháng kể từ ngày thực hiện chuyển giao ghi trên chứng từ CTNH, chủ xử lý phải thông báo bằng văn bản cho chủ nguồn thải và báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường bằng văn bản riêng hoặc tích hợp trong báo cáo quản lý CTNH định kỳ Chủ
xử lý cần thực hiện đầy đủ các nội dung của hồ sơ đăng ký cấp phép xử lý CTNH được Bộ Tài nguyên và Môi trường xác nhận kèm theo giấy phép, hồ sơ này là căn
cứ cụ thể cho hoạt động quản lý, giám sát môi trường đối với chủ xử lý
Bên cạnh đó, chủ xử lý cũng cần phải đăng ký với Bộ Tài nguyên và Môi trường khi có nhu cầu liên kết để vận chuyển các CTNH không có trong giấy phép của mình cho chủ xử lý CTNH khác có chức năng phù hợp để xử lý; áp dụng Tiêu chuyển quốc gia về Hệ thống quản lý môi trường (TCVN ISO 14001) trong thời hạn
24 tháng kể từ ngày được cấp giấy phép xử lý CTNH; hoặc 24 tháng kể từ ngày Nghị định 38/2015/NĐ-CP có hiệu lực đối với cơ sở xử lý CTNH đang hoạt động; lập và lưu trữ chứng từ CTNH, báo cáo quản lý CTNH định kỳ và đột xuất Trường hợp chủ xử lý CTNH đồng thời là chủ xử lý chất thải rắn công nghiệp thông thường hoặc chủ xử lý chất thải rắn sinh hoạt thì được tích hợp các báo cáo, hồ sơ, tài liệu , nhật ký cho cả việc quản lý CTNH và chất thải rắn sinh hoạt hoặc chất thải rắn công nghiệp thông thường; thực hiện kế hoạch kiểm soát ô nhiễm và phục hồi môi trường khi chấm dứt hoạt động, nộp lại giấy phép xử lý CTNH cho Bộ Tài nguyên và Môi trường trong thời gian không quá 06 tháng kể từ khi chấm dứt hoạt động [8]
Đối với chủ xử lý chất thải rắn sinh hoạt thì trách nhiệm được quy định tại Điều
Trang 34Đối với chất thải y tế, hiện nay công nghệ xử lý chất thải y tế nguy hại bao gồm công nghệ thiêu đốt trong lò đạt tiêu chuẩn môi trường, khử bằng hơi nóng ẩm, công nghệ vi sóng và công nghệ xử lý khác
Ngoài ra, còn những phương pháp xử lý sau:
- Phương pháp hoá lý: Tách chất thải nguy hại từ pha này sang pha khác, hoặc
để tách pha nhằm giảm thể tích dòng thải chứa chất thải nguy hại Xử lý hóa lý là phương pháp thông dụng nhất để xử lý các chất thải vô cơ nguy hại
- Phương pháp sinh học: Phân huỷ sinh học các chất thải hữu cơ độc hại Tóm lại, có thể thấy những quy định của pháp luật môi trường hiện hành đã quy định rõ ràng và cụ thể trách nhiệm của từng chủ thể trong việc quản lý CTNH, luật định, thông tư quy định rất chặt chẽ từ việc phát sinh CTNH đến công tác vận chuyển, bảo quản, xử lý,… nhằm để đảm bảo cho việc kiểm soát CTNH Đặt trách nhiệm của mỗi cá nhân, tổ chức, đơn vị có liên quan đến việc phát sinh, vận chuyển,
xử lý CTNH lên hàng đầu, điều đó cho thấy tầm quan trọng của việc kiểm soát CTNH
ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu sau:
Thứ nhất, xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về
quản lý chất thải nguy hại
Tính đến thời điểm hiện tại, chúng ta đã có một số lượng văn bản pháp lý không nhỏ quy định về vấn đề này như: Luật Bảo vệ môi trường (2014),Thông tư
Trang 3536/2015/TT-BTNMT về việc ban hành danh mục chất thải nguy hại và hướng dẫn điều kiện hành nghề, thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số quản lý chất thải nguy hại…
Không chỉ dừng lại ở đó, thời gian qua đã có khá nhiều văn bản pháp luật của các Bộ (ngoài Bộ Tài nguyên và Môi trường) quy định về những vấn đề liên quan đến quản lý chất thải nguy hại được ban hành như: Ngày 06/02/2018, Bộ trưởng Bộ Xây dựng đã ký Thông tư số 02/2018/TT-BXD quy định về bảo vệ môi trường trong thi công xây dựng công trình và chế độ báo cáo công tác bảo vệ môi trường ngành xây dựng; ngày 31/12/2015, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư liên tịch
số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT về quản lý chất thải y tế…
Tuy nhiên, những chế tài hình sự về vi phạm pháp luật môi trường dù đã được Bộ Luật Hình sự quy định tại chương XIX với những tội danh: tội gây ô nhiễm không khí, tội gây ô nhiễm nguồn nước, tội gây ô nhiễm đất… nhưng những chế tài trong từng khung chưa thực sự nghiêm khắc Hậu quả của những hành vi vi phạm pháp luật môi trường để lại là rất nghiêm trọng, nó là nguyên nhân khiến môi trường bị tàn phá và có thể cướp đi tính mạng con người một cách từ từ, nhưng hình phạt cho những tội danh này quá nhẹ so với những chế tài hình sự áp dụng cho tội phạm có hành vi cố ý hoặc vô ý giết người Đây chính là kẽ hở của pháp luật khiến tội phạm môi trường ngày càng gia tăng
Ngoài ra, Việt Nam cũng đã tham gia vào một số Công ước quốc tế về quản
lý chất thải nguy hại như: Công ước Marpol (Việt Nam ký ngày 29/08/1991); Công ước Basel (Việt Nam phê chuẩn ngày 13/05/1995); đặc biệt, trong năm 2007, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 47/2007/QĐ–TTg về việc phê duyệt kế hoạch
tổ chức thực hiện Nghị định thư Kyoto thuộc công ước khung của Liên Hợp Quốc
về biến đổi khí hậu giai đoạn 2007 – 2010
Thứ hai, thực hiện tốt việc phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương trong
việc kiểm tra, đôn đốc và giám sát việc thực hiện pháp luật quản lý chất thải nguy hại ở các cơ sở; tiến hành thanh tra, phát hiện và xử lý kịp thời nhiều hành vi vi
Trang 36phạm lĩnh vực này, trước khi hành vi đó để lại hậu quả cho môi trường và sức khỏe con người
Thứ ba, tranh thủ được nhiều nguồn vốn trong và ngoài nước để đầu tư xây
dựng cơ sở vật chất cho công tác quản lý chất thải nguy hại Do hoạt động quản lý chất thải nguy hại cần rất nhiều vốn nên chúng ta không thể không cần có sự hỗ trợ vốn từ nước ngoài Trong thời gian qua, nước ta đã thu được nguồn vốn đầu tư đáng
kể từ nước ngoài Chẳng hạn như: Nhật Bản đã quyết định viện trợ hơn 18 triệu USD cung cấp nước sạch cho 3 tỉnh Tây Nguyên; ngày 24/04/2007, Chính phủ Thụy Điển đã cam kết viện trợ 6,4 triệu USD cho các chương trình hoạt động của
ủy hội sông Mê Kông (MRC) trong 3 năm, tính từ năm 2007
Thứ tư, tổ chức được các cuộc hội thảo về quản lý chất thải nguy hại để đúc
rút kinh nghiệm cho các địa phương, doanh nghiệp liên quan đến vấn đề này Chẳng hạn: Cuộc hội thảo khoa học quản lý và xử lý chất thải rắn nguy hại ngày 09/06/2004 diễn ra tại Hà Nội, Hội thảo giới thiệu công nghệ tiên tiến xử lý chất thải rắn và quản lý chất thải nguy hại ngày 17/01/2016 tại Thanh Hóa, Hội thảo tăng cường công tác quản lý CTNH tại Việt Nam ngày 10/09/2014 diễn ra tại TP Hồ Chí Minh Đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến kiến thức về chất thải nguy hại cho quần chúng để họ hiểu một cách đúng đắn và đầy đủ nhất về tác hại của chất thải nguy hại, qua đó sẽ có ý thức hơn trong việc quản lý chất thải nguy hại
Thứ năm, cơ sở vật chất cho công tác quản lý chất thải nguy hại ngày càng
được chú trọng đầu tư Tại nhiều tỉnh, thành trên cả nước đã bắt tay vào xây dựng các nhà máy xử lý chất thải nguy hại hoặc tổ chức phân loại chất thải ngay tại nguồn Ví dụ như: Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định mở rộng việc thí điểm phân loại rác từ nguồn ra 5 quận, huyện bao gồm: Quận 1, 4 ,5, 10, Củ Chi, thay vì chỉ thí điểm tại Quận 6 như trước; Công ty cổ phần Long Hậu đã đầu tư 30 tỷ đồng xây dựng nhà máy xử lý nước thải phục vụ cho khu công nghiệp Long Hậu, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An với công suất 5000m3/ngày
Trang 37Tại nhiều địa phương đã bắt đầu chú ý đến việc quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện tuyến huyện Điển hình là Hải Dương với hầu hết các bệnh viện tuyến huyện đều có hệ thống xử lý nước thải y tế Trong những năm qua, Hải Dương đã nghiệm thu và đưa vào sử dụng hệ thống nước thải của 05 bệnh viện tuyến huyện bao gồm: Chí Linh, Kinh Môn, Thanh Hà, Bình Giang và thành phố Hải Dương Đây là kết quả của dự án “Áp dụng kỹ thuật tiến bộ xây dựng hệ thống xử lý nước thải tại bệnh viện tuyến huyện trong tỉnh” Qua đó, Hải Dương nâng tổng số lên 10 bệnh viện tuyến huyện đều có hệ thống xử lý nước thải Nguồn nước thải của bệnh viện đã được thu gom và xử lý bằng công nghệ sinh học Chất bẩn trong nước thải được các vi khuẩn yếm khí hoạt động phân hủy và được lọc qua lớp vật liệu lọc tạo thành nước trong Nước thải trước khi đổ ra ngoài môi trường vào hệ thống tiêu thoát chung của bệnh viện đều được khử bằng Cloramin B
Thứ sáu, công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ quản lý chất
thải nguy hại cho đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý chất thải nguy hại tại các Bộ, ngành, địa phương cũng như tại các cơ sở có chức năng thu gom, vận chuyển, tồn trữ, xử lý, tiêu hủy chất thải nguy hại được chú trọng thực hiện Chúng ta đã tổ chức hướng dẫn việc cấp sổ đăng ký chủ nguồn thải và giấy phép quản lý chất thải nguy hại theo thẩm quyền; thực hiện tốt cơ chế “một cửa” để đẩy nhanh tiến trình quản lý chất thải nguy hại, tiết kiệm được khá nhiều chi phí và thời gian cho các chủ thể có liên quan
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, quá trình triển khai thực hiện quản lý chất thải nguy hại đã phát sinh ra khá nhiều vấn đề bất cập cần phải khắc phục kịp thời
2.2.2.Những vấn đề còn tồn tại
Quá trình triển khai áp dụng quy định pháp luật về quản lý CTNH trên thực
tế đã bộc lộ không ít hạn chế mà chúng ta không thể không nhìn nhận
Thứ nhất, hệ thống pháp luật quản lý CTNH tuy đã có một số lượng không
nhỏ nhưng chưa đáp ứng được hết nhu cầu thực tiễn do chưa thực sự hoàn thiện và thiếu đồng bộ
Trang 38Hệ thống pháp luật quản lý CTNH hiện nay còn rất nhiều vướng mắc Nội dung của Quy chế quản lý CTNH chưa điều chỉnh hết được tất cả các loại chất thải nguy hại (chỉ tập trung vào chất thải nguy hại ở dạng hóa chất)… Hơn nữa, Quy chế quản lý CTNH đã được ban hành từ khá lâu, nhưng có rất ít văn bản hướng dẫn thi hành Trong khi xã hội thay đổi từng ngày, từng giờ kéo theo nhu cầu thực tế về quản lý chất thải nguy hại cũng biến đổi theo nhưng Quy chế vẫn giữ nguyên hiệu lực nên tính khả thi của nó không cao Chỉ đến khi Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT thì vấn đề quản lý chất thải nguy hại mới được cải thiện phần nào Hiện nay cả 2 văn bản pháp luật trên đều có hiệu lực đồng thời trong khi giữa chúng có rất nhiều nội dung mâu thuẫn nhau như quy định
về thẩm quyền, thời hạn cấp phép… Trên thực tế, những quy định tại Thông tư 36 phù hợp với tình hình thực tế và mang tính khả thi hơn, nhưng Quy chế quản lý CTNH lại có hiệu lực cao hơn nên các chủ thể liên quan gặp không ít khó khăn trong quá trình áp dụng
Thứ hai, năng lực của bộ phận quản lý chất thải nguy hại còn yếu và sự phân
công, phân nhiệm của các ngành trong lĩnh vực này chưa rõ ràng, không nhất quán, chưa quy về một mối
Ở Trung ương chưa có sự phân công nhiệm vụ rõ ràng giữa các bộ, ngành Ở thành phố và thị xã thì mỗi nơi có một hệ thống quản lý khác nhau, cấp huyện thì hầu như không có hệ thống quản lý vệ sinh hoặc chất thải Dù Thông tư 36 đã dành hẳn một phần để quy định về quản lý Nhà nước đối với chất thải nguy hại, nhưng trên thực tế, tình trạng chồng chéo về thẩm quyền đã khiến vai trò của các cấp, các ngành chưa được ghi nhận nhiều Ngoài ra, công tác đào tạo, bồi dưỡng năng lực cho cán bộ quản lý chất thải nguy hại chưa triệt để nên những chủ thể này chưa phát huy được vai trò của mình
Thứ ba, các chế tài xử phạt vi phạm trong quản lý chất thải nguy hại
So với những chế tài trong Nghị định số 81/2006/NĐ–CP về xử phạt vi phạm hành chính trong bảo vệ môi trường thì những quy định về sau này trong các Nghị định 179/2013/NĐ-CP (tính đến trước ngày 01/02/2017) và Nghị định
Trang 39155/2016/NĐ-CP về vấn đề này đã trở nên rất nghiêm khắc Cụ thể, mức tiền phạt trong từng khung đã tăng lên so với quy định cũ Mức tiền phạt cao nhất đã tăng từ
70 triệu đồng lên 1 tỷ đồng Mức phạt này đủ sức răn đe đối với các chủ thể phải bỏ
ra để xử lý chất thải nguy hại cũng như so với những hậu quả do hành vi đó gây ra Tuy nhiên đâu đó vẫn tồn tại những hành vi vi phạm, tình trạng vi phạm pháp luật vẫn tiếp tục gia tăng Ví dụ: các chế tài hành chính áp dụng trong vụ mua bán trái phép chất thải y tế của bệnh viện Việt Đức trong thời gian vừa qua Hành vi này đã diễn ra từ khá lâu và hậu quả để lại vô cùng nghiêm trọng Dựa trên quy định của pháp luật, thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường xử phạt hành chính 20 triệu đồng; Cục Cảnh sát môi trường tiếp tục xác minh những dấu hiệu vi phạm pháp luật, nếu
đủ cơ sở thì sẽ truy cứu trách nhiệm hình sự Đây là mức phạt dành cho hành vi quản lý chất thải nguy hại, còn hành vi kinh doanh chất thải nguy hại trong trường hợp này không hề bị xử lý, do không có chế tài pháp luật đối với hành vi này Đây chính là một lỗ hổng của pháp luật, cần được khắc phục kịp thời Số tiền trên quá nhỏ so với khoản lợi nhuận mà những người vi phạm đã thu được, và nó càng không thuyết phục khi so sánh với hậu quả đối với môi trường và sức khỏe con người do hành vi đó gây ra [32]
Vừa qua, các cán bộ, chiến sĩ Cục Cảnh sát Phòng chống tội phạm về môi trường (C05, Bộ Công an) bắt quả tang Công ty CP Giấy Hoàng Văn Thụ, ở phường Quán Triều (TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên) xả trộm nước thải không qua xử lý ra sông Cầu Qua kiểm tra, các cán bộ công an Cục C05 đã phát hiện công
ty này lắp đặt một đường ống nhựa có đường kính 10 cm, dài 100 m với mục đích bơm nước thải từ bể gom nước thải (bể thứ hai trong hệ thống xử lý) ra hố ga cuối trước khi thải ra sông Cầu, với lưu lượng khoảng 700 m3/ ngày đêm Ông Khuất Duy Hà, quản lý bộ phận bốc xếp và môi trường của Công ty thừa nhận đã chỉ đạo công nhân thực hiện việc bơm nước thải không qua xử lý ra sông Cầu Sau khi phát hiện vụ việc, các cán bộ Cục C05 phối hợp các cơ quan liên quan của tỉnh Thái Nguyên kiểm tra toàn diện và xử lý theo quy định [32]
Trang 40Trước đó, tại xã Lưu Kiếm (huyện Thủy Nguyên, TP Hải Phòng), cán bộ, chiến sĩ PC05 (Công an TP Hải Phòng) phối hợp Chi cục Chăn nuôi và Thú y thành phố phát hiện xe ô-tô BKS 98C-11207, do ông Dương Văn Toàn, ở huyện Lục Nam (Bắc Giang) điều khiển chở 16 con lợn sống nhưng không thu gom, xử lý chất thải trên xe Chủ số lợn này là bà Nguyễn Thị Điều (cùng quê với lái xe Toàn) đã thừa nhận hành vi vi phạm này và bị các lực lượng chức năng xử lý theo quy định Còn tại Khu công nghiệp Mỹ Xuân A (thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu), cán bộ, chiến sĩ Cục C05 đã phối hợp các cơ quan chức năng của tỉnh tiến hành kiểm tra Công ty CP Giấy Sài Gòn Bằng các biện pháp nghiệp vụ, cán bộ Cục C05 đã phối hợp lực lượng chức năng của tỉnh phát hiện công ty này đã xả nước thải vượt quy chuẩn ra môi trường Căn cứ Luật Xử lý vi phạm hành chính và các văn bản liên quan, tài liệu thu thập; kết quả xác minh, kiểm tra và kết quả kiểm định Căn cứ Nghị định 155/2016/NĐ-CP, tại Điều 13, khoản 6, điểm y “Xả nước thải có chứa các thông số môi trường thông thường vượt quy chuẩn kỹ thuật về chất thải từ 10 lần trở lên vào môi trường, trong trường hợp thải lượng nước thải từ 5.000m3/ngày (24 giờ trở lên)”… lãnh đạo Cục C05 đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với công ty này với số tiền hai tỷ đồng; hình thức xử phạt bổ sung là đình chỉ hoạt động hệ thống xử lý nước thải chín tháng… [32]
Đây là ba trong nhiều vụ việc liên quan đến hành vi xả nước thải vượt quy chuẩn, chất thải nguy hại ra môi trường đã bị lực lượng cảnh sát môi trường phát hiện, xử lý
Thứ tư, tình trạng thiếu vốn đầu tư cho hệ thống quản lý chất thải nguy hại
vẫn đang là bài toán khó giải quyết
Phần lớn chi phí cho hoạt động quản lý chất thải nguy hại có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước Tuy nhiên, hiện nay ngân sách Nhà nước chi cho việc quản lý chất thải nguy hại còn khá hạn chế, trong khi cơ sở vật chất (phương tiện, thiết bị…) cho quản lý chất thải nguy hại đòi hỏi lượng vốn rất lớn Trên phạm vi toàn quốc đến nay vẫn chưa có một cơ sở xử lý tập trung đối với các chất thải công nghiệp nguy hại Ngay cả những trung tâm kinh tế lớn của cả nước như vùng kinh tế