1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất trồng lúa từ thực tiễn huyện khoái châu, tỉnh hưng yên

110 122 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp duy vật lịch sử được sử dụng để nghiên cứu các lịch sử của các quy định của pháp luật về đất đai nói chung và bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa qua thực tiễn th

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TRỒNG LÚA TỪ THỰC TIỄN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN

LÊ THỊ CHUNG

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan mọi kết quả trong đề tài này là công trình nghiên cứu của

riêng tôi và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho

tới thời điểm này

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Em xin được chân thành cảm ơn Khoa Đào tạo sau Đại học cùng toàn bộ các

cán bô ̣, giảng viên đã giảng da ̣y, hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình ho ̣c tâ ̣p, nghiên cứ u và hoàn thành bản luâ ̣n văn thạc sĩ này

Đă ̣c biê ̣t, em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô Nguyễn Thị Dung

là giáo viên trực tiếp hướng dẫn đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn

Em xin chân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiê ̣t tình của các cơ quan chuyên môn đã tạo điều kiện cho em thu thâ ̣p số liê ̣u, những thông tin cần thiết để hoàn thành luận văn

Dù đã hết sức cố gắng, song chắc chắn luâ ̣n văn không tránh khỏi những sai

sót, em rất mong nhâ ̣n được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô để em chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện luận văn đạt chất lượng tốt hơn!

Em xin chân tha ̀ nh cảm ơn!

Ta ́ c giả luâ ̣n văn

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii

MỞ ĐẦU 9

Chương 1 LÝ LUẬN VỀ ĐẤT TRỒNG LÚA VÀ PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TRỒNG LÚA 16

1.1 Lý luận về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa 16

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của đất trồng lúa 16

1.1.2 Vai trò của đất trồng lúa trong hoạt động sản xuất nông nghiệp 21

1.1.3 Khái niệm, đặc điểm về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa 22 1.1.4 Sự cần thiết của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa 25

1.1.5 Cơ sở lý luận của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa 26

1.2 Lý luận pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa 29

1.2.1 Khái niệm pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa 29 1.2.2 Vai trò của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa30 1.2.3 Cơ cấu của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa 32

1.2.4 Những yếu tố chi phối pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa 35

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TRỒNG LÚA VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN 39

2.1 Nội dung pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa 39

2.1.1 Các quy định về nguyên tắc và điều kiện bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa 39

2.1.2 Các quy định về phạm vi bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa 44

Trang 6

2.1.3 Các quy định của pháp luật về trình tự và thủ tục bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa 502.1.4 Các quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo khi Nhà nước thực hiện bồi thường do thu hồi đất trồng lúa 622.2 Thực tiễn thi hành pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa tại huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên 672.2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên 672.2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật về bồi thường đất trồng lúa khi Nhà nước thu hồi đất tại huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên 732.2.3 Đánh giá việc thực hiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa ở Khoái Châu tỉnh Hưng Yên 85Chương 3.GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TRỒNG LÚA TỪ THỰC TIỄN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN 933.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về bồi thương khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa 933.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa 943.2.1 Hoàn thiện quy định về tính giá bồi thường 943.2.2 Thay đổi mức bồi thường 963.2.3 Thay đổi cách thức thu hồi đất trồng lúa để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng 973.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa từ thực tiễn huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên 993.3.1 Giải quyết hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người sử dụng đất và chủ đầu

tư khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa 993.3.2 Tăng cường công khai, minh bạch hơn trong công tác thu hồi và bồi thường đất trồng lúa 102

Trang 7

3.3.3 Giải quyết khiếu nại, tố cáo phát sinh từ bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa kịp thời 102KẾT LUẬN 105TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined.

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam với xuất phát điểm là một quốc gia có nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, do vậy đất đai là một trong những tư liệu sản xuất rất quan trọng đối với con người Với chủ trương của Đảng, xây dựng đất nước ta trở thành nước công nghiệp vào năm 2025 nên quá trình đô thị hóa diễn ra rất nhanh ở các địa phương trên cả nước ta Các dự án đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng cơ sở hạ tầng… khiến Nhà nước phải tiến hành thu hồi một diện tích đất lớn trong đó có đất nông nghiệp trồng lúa để giải phóng mặt bằng phục vụ các dự án đầu tư

Việc thu hồi đất đã đem lại những kết quả tích cực trong yêu cầu phát triển

cơ sở hạ tầng, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao động từ ngành nghề nông, lâm nghiệp sang ngành công nghiệp, dịch vụ; các dự án thu hồi đất để xây dựng các công trình an sinh xã hội cũng góp phần đảm bảo hơn nữa đời sống của nhân dân Nhà nước, người sử dụng đất và các nhà đầu tư cũng tìm được

“tiếng nói” đồng thuận Bởi lẽ, người bị thu hồi đất chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ việc thu hồi đất nông nghiệp, họ là người bị mất đất sản xuất nông nghiệp, mất tư liệu sản xuất, trở thành người thất nghiệp và đời sống gia đình rơi vào hoàn cảnh khó khăn Hơn nữa, thu hồi đất nông nghiệp còn đặt ra thách thức mà xã hội phải giải quyết; đó là việc giảm sút diện tích đất nông nghiệp sẽ ảnh hưởng lớn đến an ninh lương thực quốc gia, làm giảm sản lượng gạo xuất khẩu hàng năm… Mặc dù các ngành, các cấp đã có nhiều cố gắng tuy nhiên cả chính sách và tổ chức thực hiện việc đền bù thiệt hại vẫn còn nhiều tồn tại: hiện tượng khiếu kiện kéo dài, một số nơi chậm triển khai hoặc triển khai chưa phù hợp với chính sách, hồ sơ quản lý đất đai chưa đầy đủ, nhiều địa phương phải điều chỉnh lại quy hoạch, sửa đổi thiết kế dự án, chờ đợi do không giải phóng được mặt bằng hoặc do cơ sở hạ tầng không đảm bảo Hậu quả là làm ảnh hưởng tiến độ, gây thiệt hại lớn về kinh tế của các doanh nghiệp, các nhà đầu tư có nhu cầu sử dụng đất và Nhà nước, làm mất ổn định tình hình chính trị - xã hội ở các địa phương

Trang 10

Huyện Khoái Châu nằm phía Tây của tỉnh Hưng Yên, toàn huyện có 25 đơn

vị hành chính (gồm 24 xã và 01 thị trấn) với tổng dân số tính đến năm 2017 của huyện là 208.376 người tăng 2.993 người so với năm 2016 và tổng diện tích đất tự nhiên của toàn huyện tính đến năm 2017 là 13.097,59 ha Đồng đất Khoái Châu thích hợp trồng cây lúa, trồng rau màu, cây công nghiệp, cây ăn quả Theo Quyết định số 3276/QĐ-UBND của UBND tỉnh Hưng Yên về Phê duyệt kế hoạch sử dụng đất năm 2018 của huyện Khoái Châu thì huyện có diện tích đất đất nông nghiệp là 8.508,08 ha; trong đó diện tích đất trồng lúa là 2.126,49 ha (chiếm trên 24% diện tích đất nông nghiệp) Cũng theo Quyết định này thì diện tích đất trồng lúa thu hồi năm 2018 là 308,71 ha để tiến hành các quy hoạch phát triển kinh tế của huyện Trong quá trình triển khai thu hồi đất trồng lúa của người dân cũng xảy ra khá nhiều tranh chấp như vụ việc Dự án Chợ và hạ tầng kỹ thuật khu nhà ở thương mại ở Dân Tiến… Khi bồi thường giải phóng mặt bằng không thỏa đáng khiến người dân khiếu kiện kéo dài, vượt cấp…

Từ những cơ sở lí luận và thực tiễn như vậy nên tác giả chọn đề tài “Pháp

luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa từ thực tiễn huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên” làm đề tài nghiên cứu của mình

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Trong nhiều chuyên đề nghiên cứu, bài báo khoa học, công trình nghiên cứu khoa học khác đã có nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến các nội dung liên quan đến vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất hoặc giải phóng mặt bằng PGS TS

Doãn Hồng Nhung (chủ biên) (2013), với sách chuyên khảo “Pháp luật về định giá

đất trong bồi thường, giải phóng mặt bằng ở Việt Nam”; Cuốn sách “Cơ chế Nhà nước thu hồi đất và chuyển dịch đất đai tự nguyện ở Việt Nam; Cuốn “Đổi mới chính sách về chuyển đổi mục đích sử dụng đất đai trong quá trình công nghiệp hóa,

đô thị hóa ở Việt Nam” của Nguyễn Quốc Hùng - Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia

năm 2006 “Phương pháp tiếp cận, định giá và giải quyết khiếu nại của người dân”

của Ngân hàng Thế giới, Hà Nội, 2011 Những công trình nghiên cứu của các tác

Trang 11

giả này chủ yếu tập trung vào vấn đề pháp luật định giá đất khi bồi thường giải phóng mặt bằng hoặc cơ chế thu hồi đất hoặc yêu cầu về đổi mới chính sách chuyển đổi mục đích sử dụng đất đai ở Việt Nam

Đỗ Xuân Cảnh (2016), “Pháp luật bồi thường về đất khi nhà nước thu hồi

đất từ thực tiễn thực hiện tại Huyện Mường La, Tỉnh Sơn La”, Luận văn Thạc sĩ

Luật học, Viện Đại học Mở Hà Nội Luận văn tìm hiểu và đánh giá việc thực hiện

chính sách bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi để phục vụ cho mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế, xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng Qua đó, luận văn rút ra những ưu điểm và những vấn đề còn tồn, vướng mắc trong việc thực hiện chính sách bồi thường về đất tại một số dự án trên địa bàn huyện Mường La, tỉnh Sơn La và đề xuất ý kiến, góp phần hoàn thiện pháp luật và đẩy mạnh công tác bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

Đinh Thiết Dũng (2017), “Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

từ thực tiễn huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Viện Đại học Mở Hà Nội Luận văn có mục đích đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật

về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất cũng như giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

Trong báo cáo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (2011) về Phương pháp

tiếp cận, định giá và giải quyết khiếu nại của người dân, các nhà khoa học đã xác

định được các phương pháp tiếp cận, định giá cũng như giải quyết khiếu nại tố cáo của người dân trên cơ sở đó đề xuất một số khuyến nghị về chính sách cho Chính phủ Việt Nam

Hay Nguyễn Quang Tuyến và Nguyễn Ngọc Minh (2010), “Pháp luật về bồi thường, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của Singapore và Trung Quốc – Những gợi mở cho Việt Nam trong hoàn thiện pháp luật về bồi thường, tái định cư

khi Nhà nước thu hồi đất”, Tạp chí Luật học số 10/2010 Trong bài báo này, hai tác

giả đã có những nghiên cứu về pháp luật bồi thường, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở hai quốc gia Singapore và Trung Quốc Đó là những quốc gia Châu Á có

Trang 12

những nét tương đồng nhất định với Việt Nam, từ đó gọi mở một số giải pháp để hoàn thiện pháp luật về bồi thường và tái định cư khi Nhà nước tiến hành thu hồi đất ở nước ta

Tiến sĩ Phạm Thị Thu Thủy (2014) với luận án Pháp luật về bồi thường đất

nông nghiệp ở Việt Nam đã nghiên cứu khá tổng quát về pháp luật bồi thường đất

nông nghiệp ở Việt Nam về lý luận và thực trạng pháp luật Trên cơ sở đó, tác giả đã có những phân tích sâu sắc về thực trạng pháp luật bồi thường đất nông nghiệp ở Việt Nam và đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này để hạn chế được những bất cập, khó khăn khi tiến hành thực hiện pháp luật về bồi thường đất nông nghiệp

Đất nông nghiệp nói chung và đất trồng lúa nói riêng là tài sản vô cùng quý báu của người nông dân Việt Nam với truyền thống lâu đời trồng lúa nước Không còn đất có nghĩa là kế sinh nhai cũng mất, chính vì vậy, nghiên cứu về đất nông nghiệp nói chung và pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp cũng đã có khá nhiều tác giả nghiên cứu Tuy vậy, đề tài của tác giả tập trung vào nghiên cứu vấn đề pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa từ thực tiễn tại huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên là không trùng lặp với các công trình nghiên cứu đã công bố

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Luận văn tập trung vào các mục tiêu cụ thể:

- Tìm hiểu và hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản có liên quan đến bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa

- Trình bày, phân tích và đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa qua thực tiễn áp dụng tại huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên

- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa và nâng cao hiệu quả thực hiện tại huyện Khoái Châu về vấn đề này trong thời gian tới

Trang 13

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa từ thực tiễn tại huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu các quy định của pháp luật về quy định của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa từ thực tiễn tại huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên

Phạm vi về không gian: Huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên

Phạm vi về thời gian: Từ năm 2013 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận chung

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa Mác –Lênin

để thực hiện mục tiêu nghiên cứu Phương pháp duy vật biện chứng giúp

cho tác giả có góc nhìn các sự vật hiện tượng được phản ánh một cách lôgic, khoa học và trong những mối liên hệ của sự vật, hiện tượng đó với các sự vật hiện tượng khác để từ đó có thể rút ra những kết luận mang tính khoa học

Phương pháp duy vật lịch sử được sử dụng để nghiên cứu các lịch sử của các quy định của pháp luật về đất đai nói chung và bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa qua thực tiễn thi hành tại huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên

5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Sử dụng số liệu thống kê của các cơ quan có liên quan (cơ quan thống kê, phòng Tài nguyên môi trường, Sở Tài nguyên môi trường, TAND, UBND huyện Khoái Châu…) công bố về việc thực hiện pháp luật

về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa ở huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng

Trang 14

Yên để từ đó rút ra những đánh giá về vấn đề thực hiện pháp luật nhằm hoàn thiện quy định pháp luật trong công tác bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa

- Phương pháp chuyên gia: Nghiên cứu sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp các chuyên gia các nhà khoa học, các nhà quản lý để tham khảo các ý kiến chuyên môn về pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa ở huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên

- Phương pháp thống kê: Xử lý số liệu thu thập được bằng phương pháp này, đồng thời để tài tổng hợp được những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân

- Phương pháp phân tích: Phân tích số liệu thu được từ đó đánh giá được pháp luật về thực hiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa ở huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên

- Phương pháp so sánh: Luận văn sử dụng phương pháp so sánh số liệu thực tiễn qua các mốc thời gian đồng thời so sánh quy định pháp luật về thực hiện pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa qua các thời kỳ và rút ra các kết luận, nhận định phù hợp

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Đề tài tập trung làm rõ những quy định của pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa theo quy định của pháp luật hiện hành Đồng thời, phản ánh, phân tích và đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa ở huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên từ khi thực hiện Luật đất đai năm 2013 đến nay Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về vấn đề này ở huyện Khoái Châu trong thời gian tới

Về khoa học, đề tài giúp các nhà nghiên cứu, doanh nghiệp, những người khác có quan tâm đến pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất đặc biệt là

Trang 15

đất trồng lúa Đề tài tìm hiểu, hệ thống hóa và phân tích các quy định pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa

Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu của đề tài có thể mang tính chất tham khảo cho các nhà lập pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, là cơ sở cho các nhà quản lý, những người bị thu hồi đất trồng lúa của huyện Khoái Châu nói riêng và tỉnh Hưng Yên nói chung áp dụng pháp luật một cách hiệu quả

Đồng thời, kết quả nghiên cứu cũng là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên nghiên cứu về lĩnh vực này

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, bố cục của luận văn gồm ba chương sau:

Chương 1 Lý luận về đất trồng lúa và pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất trồng lúa

Chương 2 Thực trạng pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất trồng lúa và thực tiễn áp dụng tại huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên

Chương 3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất trồng lúa và nâng cao hiệu quả thực thi tại huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên

Trang 16

Chương 1

LÝ LUẬN VỀ ĐẤT TRỒNG LÚA VÀ PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT

TRỒNG LÚA

1 Lý luận về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của đất trồng lúa

1.1.1.1 Khái niệm đất trồng lúa

Việt Nam đến nay cơ bản vẫn là một nước nông nghiệp Nông nghiệp, nông thôn và nông dân Việt Nam hiện vẫn đang giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh

tế đất nước Từ một nước có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu đến nay nước ta đã chuyển đổi cơ chế kinh tế với những thành tựu về kinh tế đáng kể như tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình quân đầu người… Nhưng đồng nghĩa với vấn đề kinh

tế phát triển thì Việt Nam cũng đang phải đối mặt với nhiều vấn đề phát sinh, sức ép của quá trình đô thị hóa và sự gia tăng dân số khiến đất nông nghiệp nước ta bị suy giảm đáng kể Con người đang khai thác quá mức mà chưa có biện pháp bồi đắp nguồn tài nguyên quý giá này Đối với người nông dân thì đất đai là tài sản vô cùng quý báu, nhất là với một quốc gia nông nghiệp như nước ta thì hiểu về đất nông nghiệp nói chung và đất trồng lúa nói riêng chính là góp phần phát triển nền nông nghiệp và toàn bộ nền kinh tế nước ta phát triển bền vững

Đất trồng lúa là ruộng, nương, rẫy trồng lúa từ một vụ trở lên hoặc trồng lúa kết hợp với sử sụng vào các mục đích khác được pháp luật cho phép nhưng trồng lúa là chính; bao gồm đất chuyên trồng lúa nước, đất trồng lúa nước còn lại, đất trồng lúa nương [1]

Đất chuyên trồng lúa nước là ruộng lúa nước cấy trồng từ hai vụ lúa mỗi năm trở lên kể cả trường hợp luân canh với cây hàng năm khác, có khó khăn đột xuất mà chỉ trồng cấy được một vụ hoặc phải bỏ hóa không quá một năm Đất trồng lúa

Trang 17

nước còn lại là ruộng lúa nước không phải chuyên trồng lúa nước Đất trồng lúa nương là đất nương, rẫy để trồng từ một vụ lúa trở lên

Theo quy định của Nghị định 35/2014/NĐ-CP về quản lý sử dụng đất trồng lúa thì: “Đất trồng lúa là đất có các điều kiện phù hợp để trồng lúa, bao gồm đất chuyên trồng lúa nước và đất trồng lúa khác Đất chuyên trồng lúa nước là đất trồng được hai vụ lúa nước trở lên trong năm Đất trồng lúa khác bao gồm đất trồng lúa nước còn lại và đất trồng lúa nương Đất trồng lúa nước còn lại là đất chỉ phù hợp trồng được một vụ lúa nước trong năm” (Khoản 1,2,3,4 Điều 3) Theo đó, đất trồng lúa ở đây là đất dùng để trồng lúa, bao gồm: Đất chuyên trồng lúa nước và đất trồng lúa khác Các loại đất trồng lúa này được phân biệt dựa vào số vụ lúa một năm được canh tác trên đó Quan điểm xác định đất trồng lúa này cho thấy, Luật xác định đất trồng lúa trên cơ sở mục đích sử dụng đất Diện tích lúa cả năm 2017 ước tính đạt 7,72 triệu ha, giảm 26,1 nghìn ha so với năm 2016 Diện tích lúa cả năm 2018 ước tính đạt 7,57 triệu ha, giảm 134,8 nghìn ha so với năm trước; năng suất lúa ước tính đạt 58,1 tạ/ha, tăng 2,6 tạ/ha Mặc dù diện tích lúa giảm nhưng năng suất tăng cao nên sản lượng lúa cả năm 2018 ước tính đạt 43,98 triệu tấn, tăng 1,24 triệu tấn so với năm 2017[29] Như vậy, ở nước ta đang có quá trình chuyển dịch mục đích sử dụng đất cho một số diện tích đất nông nghiệp phục vụ cho quá trình đô thị hóa, dự

án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế và thay đổi do nhu cầu của người

sử dụng đất

1.1.1.2 Đặc điểm của đất trồng lúa

Ngoài những đặc điểm chung của đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng, như đó là tài sản không do con người tạo ra, có tính cố định và không thể di dời,… Đất nông nghiệp là loại đất mà giá trị sử dụng phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng đất đai, độ màu mỡ phì nhiêu của đất Giá trị của đất đô thị, đất ở hay một số loại đất chuyên dùng khác phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố như vị trí địa lý của khu đất đó, khả năng sinh lợi, mức độ hoàn thiện của hệ thống cơ sở hạ tầng, hướng, hình thể, kích thước, diện tích v.v Đối với đất nông nghiệp, do sử dụng làm tư liệu

Trang 18

sản xuất, nên giá trị của loại đất này lại phụ thuộc vào các yếu tố nông, hóa, thổ nhưỡng như độ phì nhiêu, tầng dày của lớp đất mặt, độ dốc, độ PH (độ chua) v.v

Độ phì hay độ màu mỡ là một thuộc tính tự nhiên của đất nông nghiệp và là yếu tố quyết định chất lượng của đất Đây là một đặc trưng của đất nông nghiệp, thể hiện khả năng cung cấp thức ăn, nước cho cây trồng trong quá trình phát triển Đặc điểm này của đất nông nghiệp đã minh chứng rõ vì sao trong các quy định của pháp luật hiện hành về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, về các trường hợp thu hồi đất, về chuyển mục đích sử dụng đất v.v thì đối với loại đất nông nghiệp có giá trị cao, đặc biệt là đất trồng lúa nước - loại đất mà nguồn sống và thu nhập của gần 70% dân số trông chờ vào đó, được Nhà nước quy định hết sức nghiêm ngặt, với chủ trương hạn chế thu hồi để đảm bảo đời sống cho họ và cao hơn là vì sự an toàn lương thực của quốc gia

Đất trồng lúa có những đặc điểm chính sau:

Thứ nhất, đất trồng lúa là tư liệu sản xuất trực tiếp và không thể thay thế

trong hoạt động nông nghiệp trồng lúa của nước ta Đất trồng lúa có những yêu cầu riêng về độ phì, về tính chất lý hóa của đất phù hợp với cây lúa Do vậy, đất trồng lúa được chia thành đất chuyên trồng lúa nước, đất trồng lúa nước còn lại và đất trồng lúa nương Đất trồng lúa thường canh tác tác lúa một năm hai vụ lúa trở lên theo vụ lúa ở từng vùng, như ở Đồng bằng sông Cửu Long có ba vụ lúa chính gồm

vụ mùa thường gieo trồng vào đầu mùa mưa (tháng 5, tháng 6) và thu hoạch vào cuối mùa mưa (tháng 11); Vụ đông xuân, thời điểm gieo trồng vụ đông xuân là sau khi vụ mùa kết thúc, thường vào cuối mùa mưa (tháng 11, tháng 12) và thu hoạch vào đầu tháng 4; Vụ hè thu bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 8

Đây là điểm khác biệt với các loại đất khác như đất trồng cây hàng năm khác, đất trồng các cây hàng năm không phải là trồng lúa, như các loại cây rau, màu; kể

cả cây dược liệu, mía, đay, gai, cói, sả, dâu tằm và đất trồng cỏ hoặc cỏ tự nhiên có cải tạo để chăn nuôi gia súc.Đất trồng cây hàng năm khác bao gồm đất bằng trồng cây hàng năm khác và đất nương rẫy trồng cây hàng năm khác Đất trồng các loại

Trang 19

cây hàng năm thường không chia vụ như đất trồng lúa mà vào thời điểm trồng loại cây hàng năm thì người dân tiến hành trồng và kết thúc thời gian sinh trưởng của loại cây đó thì người nông dân thu hoạch Hơn nữa, các loại đất nông nghiệp khác khá phong phú về mục đích sử dụng có loại đất được sử dụng cho mục đích sản xuất, kinh doanh nông nghiệp, có loại đất được sử dụng không vì mục đích kinh doanh nhưng nó là địa bàn, nền tảng để tạo ra các sản phẩm nông nghiệp; có loại đất được sử dụng cho mục đích ngắn hạn hoặc trồng các loại cây hàng năm, có loại đất được sử dụng cho mục đích dài hạn và trồng các loại cây lâu năm Tuy nhiên, trong thực tế khai thác và sử dụng đất của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, có những loại đất mà khởi nguồn chúng được sử dụng cho mục đích chính là sản xuất nông nghiệp như: trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng các loại cây ăn quả hay các loại cây lâu năm, song do nhu cầu tự thân của mỗi chủ thể muốn thay đổi mục đích

sử dụng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, hoặc trong nhiều trường hợp vì lợi ích của những loại đất sử dụng cho mục đích khác có giá trị cao hơn so với đất nông nghiệp mà họ đang sử dụng nên các chủ thể đã tự ý thay đổi mục đích so với ban đầu - và chúng trở thành đất phi nông nghiệp Sự thay đổi mục đích này có thể Nhà nước kiểm soát được và cho phép, song cũng có trường hợp Nhà nước không kiểm soát được Trong trường hợp này, mục đích sử dụng đất trong hồ sơ, giấy tờ là đất nông nghiệp, song trên thực tế họ lại sử dụng cho mục đích phi nông nghiệp như: sử dụng đất vườn ao để làm nhà ở, sử dụng đất nông nghiệp tiếp giáp với trục giao thông để làm địa điểm kinh doanh phi nông nghiệp, chuyển từ loại đất trồng cây hàng năm sang loại đất trồng cây lâu năm

Thứ hai, diện tích đất trồng lúa có hạn và đang bị thu hẹp bởi quá trình đô thị

hóa, công nghiệp hóa hiện đại hóa của quốc gia Theo Niên giám thống kê năm

2018 của Việt Nam thì diện tích lúa cả năm 2017 ước tính đạt 7,72 triệu ha, giảm 26,1 nghìn ha so với năm 2016 Diện tích lúa cả năm 2018 ước tính đạt 7,57 triệu ha, giảm 134,8 nghìn ha so với năm trước; năng suất lúa ước tính đạt 58,1 tạ/ha, tăng 2,6 tạ/ha Như vậy, vấn đề đặt ra đối với diện tích đất trồng lúa ở nước ta đang bị thu hẹp thì cần có biện pháp cải thiện năng suất lúa bởi đây là loại nông sản xuất

Trang 20

khẩu chủ lực của nước ta cũng như nếu sản lượng giảm theo diện tích thì sẽ đe dọa đến an ninh lương thực của quốc gia

Thứ ba, điều kiện nhận chuyển nhượng, nhận góp vốn, thuê quyền sử dụng

đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp của đất trồng lúa được quy định tại khoản 3 Điều 193 Luật Đất đai năm 2013 Cụ thể, người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp từ đất chuyên trồng lúa nước phải nộp một khoản tiền để thực hiện việc khai hoang, cải tạo đất; đầu tư cơ sở hạ tầng của địa phương (Điều 45 Nghị định số 45/2013/QH13) Tùy theo điều kiện cụ thể tại địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định mức nộp cụ thể nhưng không thấp hơn 50% số tiền được xác định theo diện tích đất chuyên trồng lúa nước phải chuyển sang đất phi nông nghiệp nhân với giá của loại đất trồng lúa tính theo Bảng giá đất tại thời điểm chuyển mục đích

sử dụng đất Người được nhà nước giao đất, cho thuê đất lập bản kê khai số tiền phải nộp, tương ứng với diện tích đất chuyên trồng lúa nước được nhà nước giao, cho thuê và nộp vào ngân sách cấp tỉnh theo quy định

Với những trường hợp này, việc nghiên cứu đặc điểm của đất nông nghiệp là

loại đất được sử dụng cho mục đích "chủ yếu" là sản xuất nông nghiệp sẽ có ý nghĩa

vô cùng quan trọng trong việc xác định loại đất được bồi thường và mức bồi thường,

hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất Điều này cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc ngăn ngừa các sai phạm của người có đất bị thu hồi, cố tình kê khai gian dối loại đất

có giá trị cao hơn, để được bồi thường nhiều hơn khi Nhà nước thu hồi đất Để làm tốt điều này, bên cạnh việc quản lí và theo dõi sát sao tình hình biến động đất đai tại địa phương mình, các cơ quan quản lí đất đai cần phải nắm rõ mục đích sử dụng đất chủ yếu, là đất được sử dụng cho một mục đích chính có thời hạn dài nhất, trong quá trình kể từ khi sử dụng cho đến thời điểm Nhà nước có thông báo thu hồi đất Có như vậy, việc xác định bồi thường và mức bồi thường mới được chính xác Với những phân tích trên đây, có thể thấy đất nông nghiệp là loại đất khá đặc thù trong vốn đất quốc gia, đặc biệt đối với một đất nước đi lên từ nền kinh tế nông nghiệp như ở Việt Nam Chính những đặc điểm riêng có của đất nông nghiệp đã chi phối,

Trang 21

ảnh hưởng không nhỏ đến chính sách, pháp luật của Nhà nước về bồi thường khi thu hồi đất Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việc thu hồi đất nông nghiệp chuyển sang mục đích phi nông nghiệp là cần thiết nhưng không có nghĩa là phát triển công nghiệp bằng mọi giá mà không tính đến sự phát triển bền vững của đất nước

Vì vậy, pháp luật đất đai cần có sự kiểm soát chặt chẽ việc chuyển đất nông nghiệp, nhất là đất trồng lúa, đất có rừng sang sử dụng vào mục đích khác, nhằm đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia, bảo vệ môi trường sinh thái và đặc biệt là quyền lợi chính đáng của người dân Chính vì vậy, khi thu hồi đất nông nghiệp, việc bồi thường không đơn giản là việc trả lại giá trị quyền sử dụng đất bị thu hồi mà cần phải tính đến những tác động sâu sắc của việc thu hồi đất gây ra cho người nông dân như mất việc làm, mất kế sinh nhai, bất ổn định đời sống và sản xuất Từ đó đặt ra vấn đề, song song với bồi thường khi thu hồi đất nông nghiệp, Nhà nước cần phải có kế sách an dân, chú trọng thực hiện chính sách hỗ trợ để ổn định đời sống, ổn định

1.1.2 Vai trò của đất trồng lúa trong hoạt động sản xuất nông nghiệp

Trong nền kinh tế quốc dân vai trò của ngành nông nghiệp vô cùng quan trong Ngành nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp

Nó không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học – kỹ thuật, bởi vì một mặt cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm năng sinh học – cây trồng, vật nuôi Theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 2018, Việt Nam xuất khẩu 6,1 triệu tấn lúa gạo, trị giá 3,06 tỷ USD, tăng 5,1%

về lượng và 16,3% về giá trị so với năm 2017 Song song đó, Việt Nam cũng đứng thứ 2 thế giới về xuất khẩu gạo Đất trồng lúa đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của ngành nông nghiệp

Đất trồng lúa là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế được đối với hoạt động nông nghiệp Đất trồng lúa đóng vai trò quyết định cho sự tồn tại

và phát triển của nông nghiệp trồng lúa nước Với sinh vật, đất đai không chỉ là môi

Trang 22

trường sống mà còn là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng Năng suất cây trồng, vật nuôi phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng đất đai Trên phương diện này, đất trồng lúa sẽ phát huy tác dụng như một công cụ lao động Việc quản lý và sử dụng tốt đất trồng lúa sẽ góp phần làm tăng thu nhập cho người nông dân, tạo ra sản lượng lúa lớn góp phần cho hoạt động xuất khẩu lúa gạo mà Việt Nam đang có lợi thế so sánh, ổn định kinh tế, chính trị và xã hội Chính sách và quy hoạch về đất trồng lúa đúng đắn có tác dụng quyết định đến sự thành công của các chính sách kinh tế khác Từ đó, người sử dụng đất trồng lúa cần phải bảo vệ đất đai và quản lý đất đai theo đúng luật, còn Nhà nước thì xây dựng quy hoạch, kế hoạch và chiến lược sử dụng, quản lý đất trồng lúa chính xác, khoa học

1.1.3 Khái niệm, đặc điểm về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa

1.1.3.1 Khái niệm về bồi thường của Nhà nước khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa

Trong đời sống hàng ngày, “bồi thường” là thuật ngữ được sử dụng trong

trường hợp một người có hành vi gây thiệt hại cho người khác và họ phải có trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại do hành vi của mình gây ra Theo Từ điển

tiếng Việt thông dụng, “Bồi thường” là “Đền bù những tổn hại gây ra” [32] Trong

lĩnh vực pháp luật, trách nhiệm bồi thường được đặt ra khi một chủ thể có hành vi

vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho chủ thể khác trong xã hội Trách nhiệm này xuất hiện trong nhiều ngành luật như: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong lĩnh vực dân sự; trách nhiệm bồi thường oan, sai do hành vi của các cơ quan

tố tụng gây ra trong lĩnh vực pháp luật hình sự; trách nhiệm vật chất do hành vi của người lao động gây ra trong lĩnh vực pháp luật lao động… Đối với lĩnh vực Luật đất

đai nói riêng, thuật ngữ “bồi thường” khi Nhà nước thu hồi đất được đặt ra từ rất

sớm

Khi đề cập đến thuật ngữ “đền bù” thiệt hại người ta hay nghĩ đến việc đền

bù 100% giá trị của mảnh đất bị thu hồi Trong khi đó, thuật ngữ “bồi thường”

lại cho thấy rằng Nhà nước chỉ bồi thường những giá trị, thiệt hại hợp lý về đất và tài sản trên đất cho người sử dụng đất khi bị Nhà nước thu hồi đất Mặt khác, nội

Trang 23

hàm của thuật ngữ “đền bù” chỉ là việc Nhà nước đền bù thiệt hại do hành vi thu hồi đất gây ra cho người sử dụng đất mà không đi liền sau đó việc thực hiện các chính sách hỗ trợ, tái định cư Do đó, khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 2001 được Quốc hội ban hành, thuật ngữ “bồi thường” được sử dụng trở lại

và tiếp tục xuất hiện trong Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản đi kèm Tiếp tục

kế thừa Luật Đất đai 2003, thuật ngữ “bồi thường” cũng được sử dụng tại các văn bản luật đất đai hiện hành: Luật Đất đai năm 2013, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai; Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 quy định về giá đất, Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30/06/2014 Quy định chi tiết về bồi thường,

hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất…

Theo quy định tại Khoản 12 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 có giải thích về

thuật ngữ “bồi thường” như sau: “Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị

quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất” Như

vậy, song song với việc thu hồi đất, Nhà nước tiến hành bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người sử dụng đất bị thu hồi Việc bồi thường được nhà nước tiến hành trên cơ sở trả lại giá trị quyền sử dụng đất được tính bằng tiền đối với diện tích đất thực tế bị thu hồi Trong luật không quy định cụ thể về bồi thường khi Nhà nước thu

hồi đất trồng lúa nhưng ta có thể hiểu rằng, Bồi thường về đất trồng lúa là việc Nhà

nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất trồng lúa đối với diện tích đất đã thu hồi cho người sử dụng đất trồng lúa

Từ khái niệm trên, có thể chỉ ra một số đặc điểm cơ bản của bồi thường khi nhà nước thu hồi đất trồng lúa như sau:

- Vấn đề bồi thường đất trồng lúa là trách nhiệm nhà nước Loại trách nhiệm này chỉ đặt ra khi nhà nước có hành vi thu hồi đất trồng lúa Nói cách khác, bồi thường về đất này là hậu quả pháp lý của hành vi thu hồi đất trồng lúa

Trang 24

- Bồi thường nhằm bù đắp tổn thất xảy ra đối với quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất trồng lúa khi họ bị thu hồi đất Trách nhiệm bồi thường được quy định trong Luật đất đai và văn bản hướng dẫn thi hành

- Căn cứ xác định bồi thường là diện tích đất trồng lúa thực tế bị thu hồi, thiệt hại thực tế về cây lúa hoặc cây trồng đang được trồng trên diện tích đất trồng lúa bị thu hồi và khung giá đất do nhà nước quy định tại thời điểm thu hồi đất trồng lúa

- Vấn đề bồi thường chỉ phát sinh trực tiếp sau khi có hành vi thu hồi đất trồng lúa của nhà nước, nên phải có quyết định hành chính về thu hồi đất trồng lúa của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì nhà nước mới tiến hành các biện pháp bồi thường Người sử dụng đất trồng lúa ngoài được bồi thường các giá trị quyền sử dụng đất trồng lúa, thiệt hại về cây trồng còn được hỗ trợ các biện pháp khác như hỗ trợ ổn định đời sống, sản xuất; hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm…

- Người sử dụng đất trồng lúa khi bị nhà nước thu hồi đất trồng lúa muốn được bồi thường phải thỏa mãn các điều kiện do pháp luật quy định

Tóm lại, bồi thường đất trồng lúa có những điểm khác biệt so với bồi thường các loại đất khác bởi khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa thì Nhà nước phải có quy hoạch rõ ràng và hạn chế việc thu hồi đất trồng lúa bởi đất trồng lúa là một loại đất

vô cùng quan trọng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và hoạt động sống của người dân cũng như có vai trò quan trọng đối với an ninh lương thực của một quốc gia ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của đất nước Khi có quy hoạch được ban hành theo quy định của pháp luật thì Nhà nước phải bồi thường cho người sử dụng đất trồng lúa bị thu hồi đất những khoản: bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại Diện tích đất nông nghiệp được bồi thường bao gồm diện tích trong hạn mức theo quy định tại Điều 129, Điều 130 của Luật Đất đai năm 2013 và diện tích đất do được nhận thừa kế; Đối với diện tích đất nông nghiệp vượt hạn mức quy định tại Điều 129 của Luật Đất đai năm 2013 thì không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại; Đối với diện tích đất nông nghiệp do

Trang 25

nhận chuyển quyền sử dụng đất vượt hạn mức trước ngày Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành thì việc bồi thường, hỗ trợ được thực hiện theo quy định của Chính phủ

1.1.4 Sự cần thiết của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa

Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là nguồn gốc của mọi ngành sản xuất và mọi sự tồn tại, kết tinh trong đó là sức lao động của con người Từ xưa, nhân dân ta đã có câu “Tấc đất, tấc vàng” Nhất là đất trồng lúa vì nước ta là nước nông nghiệp lúa nước Vì vậy, việc quản lý, bảo vệ tốt tài nguyên đất đai nói chung

và đất trồng lúa nói riêng là mục tiêu hàng đầu của mọi quốc gia, mọi thời đại nhằm bảo vệ quyền sở hữu về đất đai của quốc gia

Đất trồng lúa có tầm quan trọng như vậy nên Nhà nước phải quản lý đất để đảm bảo sử dụng đất trồng lúa có hiệu quả nhất, phát huy vai trò của đất đối với sự phát triển kinh tế, đáp ứng các nhu cầu về vật chất và tinh thần của con người cũng như toàn thể xã hội Thông qua việc xác lập cơ chế thu hồi đất trồng lúa, các chính sách bồi thường, hỗ trợ, Nhà nước thực hiện việc quản lý đất đai để điều chỉnh các quan hệ đất đai thông qua việc tác động, điều tiết lợi ích kinh tế của các bên

Khi Nhà nước tiến hành thu hồi đất theo mục đích an ninh – quốc phòng, phát triển kinh tế - xã hội, vì lợi ích quốc gia, công cộng, điều này sẽ có sự thay đổi lớn trong quyền sử dụng đất giữa chủ sở hữu cũ – mới, những lợi ích được hưởng trên đất của động kinh doanh, sản xuất của họ bị xáo trộn Chính vì tính “nhạy cảm” trong vấn đề thu hồi đất có thể thấy rằng, nếu không có cơ chế pháp luật hợp lý, giải quyết hài hòa mối quan hệ về lợi ích giữa Nhà nước và người dân thì sẽ gây ra sự bất bình, bức xúc cho người dân, đồng thời cũng khiến cho những dự án của nhà nước sẽ không thể tiến hành được Việc bồi thường, hỗ trợ sẽ không tuân theo trình tự nào cả, thiếu tính công bằng, công khai và minh bạch Do đó dẫn đến việc xảy ra mâu thuẫn giữa đại bộ phận dân chúng với các cơ quan chính quyền là điều không thể tránh khỏi

Trang 26

Dưới góc độ quản lý Nhà nước về đất đai, việc pháp luật quy định các chính sách về bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất giúp tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho Nhà nước trong quá trình triển khai việc thực hiện công tác này Việc giải quyết tốt vấn đề về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất sẽ tạo ra sự nhất trí, đồng thuận của người dân có đất bị thu hồi với Nhà nước, qua đó thúc đẩy việc thực hiện các chính sách phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của Đảng và Nhà nước ta Nhờ đó sẽ tạo lập được một quỹ đất sạch để xây dựng các công trình phục vụ mục tiêu an ninh, quốc phòng, phục vụ lợi ích công cộng, phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Bên cạnh đó, việc thực hiện tốt các quy định của pháp luật sẽ giúp đảm bảo hơn nữa việc giải quyết mối quan hệ hài hòa lợi ích của các chủ thể: Nhà nước – người bị thu hồi đất – chủ đầu tư, nhằm hạn chế các tranh chấp, khiếu kiện kéo dài, góp phần ổn định trật tự xã hội và thu hút đầu tư trong và ngoài nước vào Việt Nam

1.1.5 Cơ sở lý luận của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa

Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa được xây dựng căn cứ vào những nền tảng lý luận cơ bản sau:

Thứ nhất, căn cứ vào chế độ sở hữu toàn dân về đất đai mà Nhà nước là

người đại diện Với tư cách đại diện chủ sở hữu đất đai, Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho các chủ thể có nhu cầu sử dụng, đồng thời họ có quyền được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất được giao Như vậy, quyền sử dụng đất đã được đại diện chủ sở hữu đất đai chuyển giao cho người sử dụng đất, nó trở thành một loại quyền về tài sản thuộc sở hữu của người sử dụng đất Khẳng định như vậy bởi lẽ, người sử dụng đất được pháp luật trao cho các quyền năng mở rộng trong quá trình thực hiện quyền sử dụng đất của mình như chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thừa kế quyền sử dụng đất, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất Với những quyền năng được ghi nhận

và bảo hộ như vậy, dường như người sử dụng đất ở Việt Nam đã là người được “sở hữu” một loại quyền về tài sản đó là “quyền sử dụng đất” Mặt khác, quyền sở hữu

Trang 27

tài sản của công dân là một quyền năng được pháp luật ghi nhận và bảo hộ, điều này đã được khẳng định tại đạo luật gốc đó là Hiến pháp Thật vậy, điều 12 Hiến pháp

1946 quy định: “Quyền sở hữu về tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm” Tiếp đó, tại Hiến pháp 1992, điều 58 cũng ghi nhận: “Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất…Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân”; Hiến pháp sửa đổi năm 2013 cũng đã quy định: “Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sản xuất,…Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ” (Khoản 1,2 - Điều 32 Hiến pháp 2013)

Như vậy, quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của mọi cá nhân và tổ chức được Hiến pháp ghi nhận và bảo hộ Vì vậy, khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng hay vì mục tiêu phát triển kinh tế thì giá trị quyền sử dụng đất bị thu hồi và toàn bộ tài sản hợp pháp gắn liền với đất bị thu hồi của người đang sử dụng đất sẽ được bồi thường theo thời giá thị trường

Thứ hai, căn cứ vào bản chất ưu việt của nhà nước ta Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là Nhà nước do nhân dân lao động thiết lập nên, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân Điều này đã được ghi nhận trong Hiến pháp, các đạo luật về tổ chức bộ máy nhà nước và các văn kiện của Đảng Nhà nước theo đuổi sứ mạng cao cả và mang đầy tính nhân văn đó là phục vụ và chăm

lo cho lợi ích, sự phồn vinh của nhân dân, của xã hội Về cơ bản, lợi ích của Nhà nước là đồng nhất với lợi ích của nhân dân Vì vậy, Nhà nước phải có trách nhiệm

và nghĩa vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân Mặt khác, để phát huy nội lực, tinh thần đoàn kết dân tộc và khơi dậy lòng yêu nước, sự tin tưởng đồng thuận của người dân vào Đảng, vào Nhà nước, đóng góp hiệu quả vào sự nghiệp chấn hưng đất nước, thì điều quan trọng là Nhà nước phải biết tôn trọng và bảo hộ những quyền lợi chính đáng của người dân Khi quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất bị thiệt hại do việc thu hồi đất của Nhà nước gây ra thì Nhà nước phải có nghĩa vụ bồi thường Việc làm này xuất phát từ lợi ích của người dân và

Trang 28

cũng chính là xuất phát từ nhu cầu tồn tại, sự phát triển kinh tế, xã hội của bản thân Nhà nước Hơn nữa, chủ thể được hưởng lợi từ việc Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế là toàn thể mọi thành viên trong xã hội Vì vậy, các thành viên này phải có nghĩa vụ bù đắp thiệt hại cho người bị thu hồi đất thông qua Nhà nước - tổ chức đại diện cho xã hội

Thứ ba, căn cứ vào thiệt hại về lợi ích của người sử dụng đất chính là hậu

quả phát sinh trực tiếp từ hành vi thu hồi đất của Nhà nước gây ra Trong một nhà nước pháp quyền, mọi chủ thể sống trong xã hội bao gồm Nhà nước, công dân, các

tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị - xã hội,… đều bình đẳng trước pháp luật Hơn nữa, chúng ta đang từng bước xây dựng một xã hội dân sự văn minh và hiện đại, nơi

mà ở đó quyền và lợi ích hợp pháp của mọi thành viên sống trong xã hội phải được pháp luật tôn trọng và bảo vệ Rõ ràng, khi Nhà nước thu hồi đất mà làm phương hại đến lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất thì Nhà nước phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho họ; Mặt khác việc thu hồi đất nông nghiệp gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống và việc làm của người nông dân, hậu quả để lại cho người nông dân là rất nặng nề, bởi mất đất nông nghiệp là mất đi tư liệu sản xuất chính trong lao động sản xuất, mất đi nguồn sống, nguồn việc làm Đối với đất ở khi thu hồi, Nhà nước có thể bồi thường bằng tiền (tiền bồi thường đối với đất ở cao hơn gấp nhiều lần tiền bồi thường đối với đất nông nghiệp), hoặc bồi thường bằng một mảnh đất ở khác hoặc nhà ở tại khu tái định cư Nhưng đối với đất trồng lúa việc bồi thường không đơn giản, phương thức bồi thường bằng đất đã không phát huy tác dụng, bởi chúng ta đâu còn đất trồng lúa để bồi thường; việc bồi thường bằng tiền cũng không được người dân đồng thuận trong nhiều trường hợp bởi sự chênh lệch quá lớn giữa đất trồng lúa và đất phi nông nghiệp Hơn thế nữa, vấn đề đặt ra không đơn giản là tiền bồi thường nhiều hay ít, mà là nhu cầu sống còn của người nông dân cần có đất trồng lúa để sản xuất, để duy trì cuộc sống đã không thể là hiện thực Đây là vấn đề lớn của xã hội trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cần phải giải quyết nó một cách hài hòa để đảm bảo ổn định xã hội Chính vì vậy,

Trang 29

Nhà nước cần phải quan tâm đến việc xây dựng chính sách pháp luật về bồi thường,

hỗ trợ khi thu hồi đất trồng lúa nói riêng

1.2 Lý luận pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa

1.2.1 Khái niệm pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa

Bất cứ một lĩnh vực nào, một quan hệ xã hội nào phát sinh trong đời sống xã hội cũng rất cần đến sự điều chỉnh của pháp luật, nhằm định hướng các quan hệ này

đi theo một trật tự chung thống nhất, phù hợp với lợi ích của Nhà nước, của các bên tham gia quan hệ và vì lợi ích chung của toàn xã hội Pháp luật được xem là một trong những phương thức hiệu quả để thực hiện chức năng quản lý nhà nước

Hệ thống pháp luật được chia thành những bộ phận cấu thành khác nhau để điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội riêng biệt, nhưng có sự tác động qua lại với nhau, đảm bảo cho các quan hệ này tồn tại, phát triển hợp quy luật Trong lĩnh vực đất đai, cùng với quá trình thu hồi đất nói chung và thu hồi đất nông nghiệp nói riêng là hàng loạt các quy phạm pháp luật được ban hành quy định về nguyên tắc, điều kiện, nội dung và phương thức bồi thường, trình tự, thủ tục cũng như việc giải quyết các khiếu nại, tố cáo về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp nói chung và đất trồng lúa nói riêng

Nghiên cứu, tìm hiểu nội dung các quy định này, có thể thấy pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp là một chế định quan trọng của pháp luật đất đai Việt Nam và được hiểu về mặt lý luận như sau: Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp, nhằm giải quyết hài hòa lợi ích của Nhà nước, lợi ích của chủ đầu tư và của người bị thu hồi” [30]

Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa, nhằm giải quyết haì hoà lợi ích của Nhà nước, chủ đầu tư và người có đất bị thu hồi

Trang 30

Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa là một lĩnh vực pháp luật khá nha ̣y cảm Bên ca ̣nh việc chịu sự chi phối bởi hình thức sở hữu toàn dân về đất đai pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa còn có những đặc trưng riêng như: cơ sở để bồi thường trong pháp luật về thu hồi đất trồng lúa không chỉ dựa trên những thiệt hại thực tế mà người nông dân phải gánh chịu ngay tại thời điểm thu hồi mà còn tính đến các thiệt ha ̣i trong tương lai bởi vai trò không gì thay thế được của đất trồng lúa với người nông dân, khác với chủ thể khác,

các loa ̣i đất khác, đất trồng lúa là tư liệu sản xuất chính trong nghề trồng lúa nước của người nông dân Ngoài ra, pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa áp dụng chủ yếu đối với cá nhân, hộ nông dân ở nông thôn là sự kết hợp đan xen hài hòa giữa nhiều biện pháp khác nhau: biện pháp hành chính, biện pháp kinh tế, thuyết phục và cưỡng chế Đặc biệt, ở mỗi địa phương khác nhau khi thực hiện việc bồi thường đối với người nông dân bị thu hồi đất thì bên cạnh việc tuân thủ các quy định chung của pháp luật cần chú trọng đặc điểm vùng miền, đặc điểm của các loa ̣i đất để có thể có các biện pháp xử lý linh hoạt và hợp lý

1.2.2 Vai trò của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa

Với điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường, tồn tại nhiều thành phần khác nhau trên thị trường như hiện nay, các thành phần kinh tế đó có lợi ích khác nhau, các lợi ích này đan xen, khác biệt thậm chí là mâu thuẫn, xung đột với nhau Để xác lập một trật tự ổn định trong sự thống nhất cùng tồn tại, với sự dung hòa giữa các nhóm lợi ích thì pháp luật được sử dụng như một “đại lượng công bằng” điều chỉnh những yếu tố không “công bằng” trong xã hội

Có thể nói, sự điều chỉnh của pháp luật nhằm định hướng các quan hệ xã hội

đi theo một trật tự chung thống nhất, phù hợp với lợi ích của Nhà nước, của các bên tham gia quan hệ và vì lợi ích chung của toàn xã hội Lĩnh vực bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp cũng không là ngoại lệ Pháp luật điều chỉnh quan hệ bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất có vai trò rất quan trọng ổn định những mối

Trang 31

quan hệ phức tạp tồn tại trong xã hội và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho các chủ thể bị thu hồi đất trồng lúa

Pháp luật phải được sử dụng để điều chỉnh quan hệ về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa Nhóm quan hệ này khá phức tạp, nhạy cảm, trực tiếp đụng chạm đến lợi ích thiết thực của các bên liên quan và tiềm ẩn nguy cơ phát sinh khiếu kiện, tranh chấp về đất đai Thông qua cơ chế điều chỉnh của pháp luật giúp Nhà nước giải quyết hài hòa mối quan hệ về lợi ích giữa các bên liên quan trong quan hệ bồi thường: Lợi ích của Nhà nước, của cộng đồng; lợi ích của người bị thu hồi đất; lợi ích của doanh nghiệp, chủ đầu tư Xét trong lĩnh vực bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa, nhân dân tin tưởng và giao trọng trách cho Nhà nước thay mặt mình, trong trường hợp cần thiết thu hồi đất trồng lúa sử dụng vào các mục đích chung của xã hội; song việc thu hồi này không được hành xử tùy tiện mà phải tuân thủ pháp luật nhằm đảm bảo thực hiện lợi ích của Nhà nước, của xã hội không làm phương hại đến lợi ích hợp pháp của người bị thu hồi đất

Nhà nước thay mặt cho nhân dân thực hiện quyền của chủ sở hữu Trên cơ sở đó Nhà nước thực hiện việc giao đất, cho thuê đất hay thu hồi đất,…Quyền sử dụng đất được trao đến tay người sử dụng, được coi là quyền tài sản và phải được Nhà nước bảo hộ bằng pháp luật Mặt khác, khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa vào mục đích chung, làm chấm dứt quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, hơn thế nữa, việc thu hồi đất này đã ảnh hưởng mạnh mẽ và làm xáo trộn đến đời sống, tâm

lý của người nông dân Vì vậy, Nhà nước phải ban hành pháp luật để điều chỉnh có hiệu quả vấn đề này Sự điều chỉnh của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp sẽ mang lại những hiệu quả to lớn có thể nhận thấy rõ về mặt kinh tế, chính trị, xã hội, đó là: chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chuyển đổi nghề nghiệp cho những người bị thu hồi đất, thực hiện tốt công nghiệp hóa - hiện đại hóa mang lại diện mạo mới cho đất nước; bên cạnh đó, việc đảm bảo lợi ích, ổn định đời sống

và sản xuất cho người bị thu hồi đất nông nghiệp sẽ không làm phát sinh các tranh chấp, khiếu kiện, từ đó góp phần duy trì trật tự an toàn xã hội, ổn định chính trị; hơn thế nữa, việc giải quyết hài hòa các lợi ích trong việc bồi thường khi thu hồi đất, sẽ

Trang 32

tạo nên sự nhất trí, đồng thuận cao của người nông dân và rộng hơn là của toàn xã hội đối với các chính sách phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng của Đảng và Nhà nước

Pháp luật quy định cụ thể các trường hợp thu hồi đất, mục đích thu hồi đất nông nghiệp, thẩm quyền, trình tự, thủ tục thu hồi và phương thức giải quyết hậu quả do việc thu hồi đất trồng lúa gây ra Thông qua việc tuân thủ các quy định này các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, cân nhắc đưa ra hành vi ứng xử của mình cho phù hợp, nhằm bảo đảm hạn chế đến mức thấp nhất việc thu hồi đất trồng lúa, cũng như việc thu hồi đất nông nghiệp sử dụng vào các mục đích chung phải đem lại hiệu quả cho toàn xã hội (trong đó có người bị thu hồi đất trồng lúa), chống lại việc thu hồi đất vì lợi ích nhóm hoặc không đem lại hiệu quả chung cho xã hội Có như vậy mới tạo được sự đồng thuận của người dân đối với quyết định thu hồi đất Ở một khía cạnh khác, thông qua các quy định cụ thể và tường minh của pháp luật, người dân và dư luận xã hội theo dõi, giám sát các hành vi ứng xử của công chức nhà nước, của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc thực thi pháp luật

về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để lên án, đấu tranh với các hiện tượng nhũng nhiễu, tham nhũng, tiêu cực hoặc các hành vi vi phạm pháp luật,… nhằm đảm bảo duy trì kỷ cương chung cho xã hội

1.2.3 Cơ cấu của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa

Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh những vấn đề liên quan đến bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa Nó có lịch sử hình thành và phát triển qua các giai đoạn khác nhau của đất nước, tương ứng với mỗi giai đoạn thì định hướng điều chỉnh cũng có sự khác nhau, sự khác nhau này phụ thuộc vào nhiệm vụ kinh tế, chính trị,

xã hội và điều kiện phát triển kinh tế của đất nước trong từng thời kỳ Cho dù sự biểu hiện của pháp luật ở mỗi giai đoạn có khác nhau, nhưng tựu chung lại, pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp bao gồm các nhóm quy phạm pháp luật cơ bản sau:

Trang 33

* Các quy định về nguyên tắc và điều kiện bồi thường bồi thường khi nhà nước thu hồi đất trồng lúa

Nguyên tắc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa được cấu thành trên cơ sở những quy định về nguyên tắc khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp nói chung Đó là những quy định chung mang tính nền tảng, làm định hướng và tạo cơ

sở cho việc thực hiện và áp dụng các quy định chi tiết về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa

Đây là những vấn đề cần thiết đặt ra và không thể thiếu khi xem xét để tiến hành bồi thường, bởi trên thực tế, đất bị thu hồi thường có nguồn gốc sử dụng khá phong phú, đặc biệt là đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân sử dụng, có nguồn gốc khá đa dạng so với các loại đất khác, do đây là loại đất phổ biến ở nông thôn và

là tư liệ của người nông dân nên nó được khai thác, sử dụng từ nhiều nguồn và từ nhiều thời điểm khác nhau Vì vậy, với những cơ sở, nguồn gốc sử dụng đất khác nhau thì khi thu hồi Nhà nước cần có những yêu cầu, điều kiện khác nhau đối với người sử dụng đất bị thu hồi, nếu họ đáp ứng được những điều kiện do pháp luật quy định thì mới được thu hồi Thông qua những quy định về điều kiện để được bồi thường, Nhà nước cũng đảm bảo sự công bằng và bình đẳng giữa các chủ thể sử dụng đất thuộc diện Nhà nước thu hồi

* Các quy định về pha ̣m vi bồi thường và hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa

Khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa thì tùy trường hợp mà người có đất bị thu hồi có thể bị các thiệt hại về vật chất, tinh thần sau: (i) mất đi quyền khai thác mảnh đất, thiệt hại về công sức bỏ ra để làm tăng giá trị quyền sử dụng đất; (ii) thiệt hại

về tài sản là thành quả lao động hình thành trong quá trình sử dụng đất; (iii) thiệt hại

về các chi phí đầu tư vào đất mà chưa thu hồi được như tiền san lấp mặt bằng, tiền thuê đất còn lại…; (iv) thiệt hại do ngừng việc; (v) và các thiệt hại về mặt tinh thần khác Như vậy, Nhà nước hoặc nhà đầu tư có trách nhiệm, nghĩa vụ phải bồi thường,

hỗ trợ cho người nông dân những thiệt hại nói trên bằng việc giao đất mới, trả tiền

Trang 34

hoặc được hưởng các chính sách hỗ trợ di chuyển, đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp, tìm kiếm việc làm… nhằm đảm bảo ổn định duy trì cuộc sống

* Các quy định về trình tự, thủ tục bồi thường đối với người bị thu hồi đất trồng lúa

Luật Đất đai quy định những vấn đề tổng quát, mang tính nguyên tắc về trình tự, thủ tục bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp trong đó có đất trồng lúa Trên cơ sở đó, các văn bản hướng dẫn thi hành có những quy định cụ thể

về từng bước lập, bổ sung, thẩm định, thực hiện phương án bồi thường, cũng như trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa của người nông dân Tuy nhiên, trên thực tế việc thực thi các quy định trên phụ thuộc rất nhiều vào chính sách của từng địa phương cũng như trình độ, năng lực, trách nhiệm của các cơ quan và cán bộ thực thi

* Về giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa

Người bị thu hồi đất trồng lúa nếu không đồng ý với quyết định về bồi thường, hỗ trợ thì được quyền khiếu nại, tố cáo đến các cơ quan có thẩm quyền Khiếu nại, tố cáo về thu hồi đất, bồi thường và giải phóng mặt bằng là một dạng của khiếu nại, tố cáo nói chung Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thu hồi đất, bồi thường và giải phóng mặt bằng có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với cả Nhà nước

và công dân Đối với Nhà nước, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo nhằm phát hiện, ngăn ngừa và khắc phục những hành vi sai trái trong thu hồi đất, bồi thường và giải phóng mặt bằng Điều này đảm bảo cho việc thu hồi đất đúng mục đích, bồi thường đúng đối tượng, đúng giá trị Giải quyết một cách nghiêm minh, đúng pháp luật khiếu nại, tố cáo là phương thứ góp phần củng cố lòng tin của nhân dân đối với Nhà nước Đối với công dân, khiếu nại, tố cáo là phương thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Trên thực tế, công tác bồi thường được thực hiện thông qua những cán bộ, công chức nhà nước Nếu họ giải quyết không công tâm, thiếu dân chủ thì

sẽ gây ra những phản ứng bất bình từ phía người bị thu hồi đất Hậu quả là người dân không đồng thuận với việc thu hồi đất Vì vậy, pháp luật quy định cho người bị

Trang 35

thu hồi đất được quyền khiếu nại, tố cáo không chỉ giúp họ tự bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình mà thông qua đó, Nhà nước có thể xem xét, đánh giá năng lực, trình

độ, phẩm chất đạo đức và ý thức tuân thủ pháp luật của đội ngũ công chức nhà nước

1.2.4 Những yếu tố chi phối pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa

Thứ nhất, quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật đất đai nói chung và chính sách, pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng Xét về phương diện lý luận, pháp luật là sự thể chế hoá, quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng Hay nói cách khác, quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng là sự định hướng về mặt chính trị cho hoạt động lập pháp, lập quy ở nước ta Hoạt động xây dựng pháp luật đất đai nói chung và pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng không thể không xuất phát từ các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước Ở nước ta, trong điều kiện một Đảng cầm quyền, một trong những phương thức lãnh đạo của Đảng là ban hành các quan điểm, đường lối, chủ trương về phát triển đất nước Trên cơ sở đó, Nhà nước thể chế hoá các quan điểm, đường lối của Đảng bằng các quy định của pháp luật để quản lý xã hội Vì vậy, pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất thể chế hoá quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng về vấn đề này Như vậy, quan điểm, đường lối của Đảng có tác động trực tiếp đến quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật đất đai nói chung và pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa nói riêng

Thứ hai, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai Ở nước ta, do tính đặc thù của chế độ sở hữu đất đai: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai tác động đến nội dung các quy định của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa thể hiện trên một số khía cạnh cơ bản sau đây: Một là, ở nước ta, trong trường hợp thật cần thiết khi Nhà nước có nhu cầu sử dụng đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; lợi ích quốc gia,…

Trang 36

thì Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất có bồi thường cho người sử dụng đất chứ Nhà nước không mua đất của chủ đất như các nước có chế độ sở hữu tư nhân về đất đai; Hai là, việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người bị thu hồi đất căn cứ vào khung giá đất do Nhà nước xác định tại thời điểm thu hồi đất chứ không căn cứ vào giá đất trên thị trường; Ba là, không phải bất cứ người bị thu hồi đất nào cũng được Nhà nước bồi thường mà chỉ những người sử dụng đất đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định mới được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; Bốn là, không phải bất cứ cơ quan nhà nước nào cũng có thẩm quyền thu hồi đất mà chỉ những

cơ quan được pháp luật quy định có thẩm quyền thu hồi đất thì mới được thu hồi…

Thứ ba, cơ chế quản lý kinh tế Cơ chế quản lý kinh tế cũng có những tác động nhất định đến pháp luật bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Trước đây, trong cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp, kế hoạch hoá cao độ, đất đai không được thừa nhận là tài sản và không được phép trao đổi trên thị trường… pháp luật nghiêm cấm việc mua bán, chuyển nhượng đất đai Do đó, đất đai có giá trị thấp Vấn đề thu hồi đất dường như ít gặp phải những khó khăn, phức tạp Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trong thời kỳ này chưa phát triển Tuy nhiên, kể từ khi nền kinh tế nước ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, Nhà nước chủ trương xây dựng và phát triển nhiều thành phần kinh tế; các thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật; quyền tự do kinh doanh của công dân được pháp luật công nhận và bảo hộ… Trong điều kiện kinh tế thị trường cơ chế quản lý đất đai có sự thay đổi: Nhà nước thừa nhận quyền

sử dụng đất là loại hàng hoá đặc biệt (là một loại quyền về tài sản) và được trao đổi trên thị trường; thừa nhận khung giá đất… đất đai ngày càng trở nên có giá Việc thu hồi đất gặp nhiều khó khăn do người bị thu hồi đất không đồng thuận với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, phát sinh các tranh chấp, khiếu kiện vượt cấp, phức tạp, kéo dài, tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định chính trị Để duy trì sự ổn định tình hình kinh tế - xã hội và phát triển đất nước Nhà nước ban hành các quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nhằm giải quyết vấn

đề này Đây là vấn đề mang tính thời sự và phức tạp, vì vậy, pháp luật về bồi

Trang 37

thường khi Nhà nước thu hồi đất thường xuyên được rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu của quản lý đất đai trong điều kiện kinh tế thị trường

Thứ tư, quá trình hội nhập quốc tế Quá trình hội nhập quốc tế cũng có những tác động không nhỏ tới pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp nói chung và đất trồng lúa nói riêng Để gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới, nước ta cam kết tuân thủ và thực thi nghiêm chỉnh các quy định, luật lệ của

Tổ chức này Những nguyên tắc cơ bản mà Tổ chức Thương mại thế giới đặt ra và yêu cầu các quốc gia thành viên phải cam kết; đó là: Nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử trong kinh doanh; nguyên tắc công khai, minh bạch; cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một đầu mối và thống nhất quy trình chung áp dụng cho cả nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài trong việc giải phóng mặt bằng để thực hiện các dự án đầu tư, cơ chế một giá trong quá trình áp giá bồi thường là những nội dung liên tục được sửa đổi, bổ sung và điều chỉnh trong pháp luật hiện hành thời gian qua, chúng đã, đang đến gần và hòa nhập với pháp luật thế giới

Trang 38

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương 1, tác giả tập trung vào tìm hiểu và nghiên cứu các vấn đề lý luận về đất trồng lúa, bồi thường đất trồng lúa và pháp luật về bồi thường đất trồng lúa Đất trồng lúa là một tài sản vô cùng đặc biệt trong các loại đất đai nói chung, đặc biệt là đối với một quốc gia có nền kinh tế truyền thống “nông nghiệp lúa nước” như Việt Nam Chính vì tầm quan trọng của đất trồng lúa nên Nhà nước – với tư cách là đại diện để quản lý đất đai trong phạm vi toàn quốc phải chú trọng đến quản

lý đất đai nhất là đất trồng lúa

Chương 1 đã hệ thống cơ cấu của pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa cũng như nghiên cứu những yếu tố chi phối đến pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa Đây là những cơ sở lý luận quan trọng cho luận

văn tiếp tục triển khai tại các chương tiếp theo

Trang 39

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TRỒNG LÚA VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH

HƯNG YÊN

2.1 Nội dung pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa

2.1.1 Các quy định về nguyên tắc và điều kiện bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa

* Quy định về nguyên tắc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trồng lúa

Việc quản lý đất đai nói chung luôn phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định, đối với vấn đề nha ̣y cảm, dễ phát sinh khiếu kiện như bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp thì các quy định của pháp luật càng phải bảo đảm tuân thủ các nguyên tắc cơ bản Luật Đất đai năm 2013 đã Luật hóa các nguyên tắc này đồng thời tách nguyên tắc bồi thường về đất và nguyên tắc bồi thường thiệt hại

về tài sản, ngừ ng sản xuất kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất thành 02 điều riêng biệt (Điều 74 và Điều 88 Luật Đất đai năm 2013) và có một điều luật riêng quy định

về nguyên tắc hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất (Điều 83 Luật Đất đai năm 2013)

Người bị thu hồi đất trồng lúa có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật thì được bồi thường, hỗ trợ Việc bồi thường được đặt ra khi Nhà nước thu hồi đất

trồng lúa sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và vào mục tiêu phát triển kinh tế

Tuy nhiên, để được bồi thường, hỗ trợ, người bị thu hồi đất trồng lúa còn phải thỏa mãn những điều kiện do pháp luật quy định: Khoản 1 Điều 74 Luật Đất đai xác định khẳng định nguyên tắc: “Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất

Trang 40

nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường” Ngoài ra, với các trường hợp không được bồi thường về đất luật cũng xác định vấn đề bồi thường về chi phí đầu tư vào đất còn la ̣i (Khoản 1 Điều 76 Luật Đất đai năm 2013) Việc bồi thường về tài sản sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu

hồi đất trồng lúa cũng chỉ được đặt ra khi “chủ sở hư ̃u tài sản hợp pháp gắn liền với đất bị thiệt hại về tài sản được bồi thường” và “Khi Nhà nước thu hồi đất mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đâ ̀u tư nước ngoài phải ngừng sản xuất, kinh doanh mà có thiệt hại thì được bồi thường thiệt hại” Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được xem như là

sự bồi hoàn những thiệt hại trực tiếp mà người sử dụng đất phải gánh chịu do việc thu hồi đất gây ra

Bên cạnh việc bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất, người sử dụng đất

có đất bị thu hồi còn được xem xét hỗ trợ: “Người sử dụng đất khi Nhà nước thu

hồi đất ngoài việc được bồi thường theo quy định của Luật này co ̀ n được Nhà nước xem xét hỗ trợ” (Điểm a Khoản 1 Điều 83 Luật Đất đai năm 2013) Đối với trường

hợp người trực tiếp sản xuất bị thu hồi đất trồng lúa mà không có đất trồng lúa khác

để bồi thường cho việc tiếp tục sản xuất, thì ngoài việc được bồi thường, còn được Nhà nước hỗ trợ để ổn định cuộc sống, được hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề, bố trí việc làm mới Điều này là hành động cần thiết bởi vì, đất trồng lúa không chỉ là tư liệu sản xuất đặc biệt mà còn là điều kiện bảo đảm việc làm cho người nông dân Khi đất trồng lúa của họ đã bị thu hồi do nhu cầu của Nhà nước thì Nhà nước phải bồi thường, hỗ trợ không chỉ về mặt vất chất mà còn trong việc đào tạo chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm mới Đây không chỉ là nghĩa vụ pháp lý mà còn là trách nhiệm xã hội, chính trị, thể hiện rõ tính nhân đạo của Nhà nước

Thứ hai, việc bồi thường bảo đảm đâ ̀y đủ các thiệt hại Khi Nhà nước thu hồi

đất trồng lúa, người dân không chỉ thiệt ha ̣i về đất mà còn có những thiệt ha ̣i về tài sản trên đất, các hoa lợi, lợi tức thu được do việc sử dụng đất Để bảo đảm bồi thường đầy đủ các thiệt ha ̣i, pha ̣m vi bồi thường không chỉ dừng la ̣i ở đất bị thu hồi

mà còn có bồi thường cả những thiệt hại về tài sản, sản xuất kinh doanh Luật Đất

Ngày đăng: 22/04/2020, 17:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Nữ Hoàng Anh (2013), Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp tại Yên Bái giai đoạn 2012-2020, Luận văn Tiến sĩ nông nghiệp, Trường Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp tại Yên Bái giai đoạn 2012-2020
Tác giả: Bùi Nữ Hoàng Anh
Năm: 2013
2. Bộ Tài Nguyên và Môi trường (2012), Báo cáo tổng kết thi hành Luật Đất đai năm 2003 và định hướng sửa đổi Luật Đất đai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết thi hành Luật Đất đai năm 2003 và định hướng sửa đổi Luật Đất đai
Tác giả: Bộ Tài Nguyên và Môi trường
Năm: 2012
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2014), Quyết định số 1467/QĐ -BTNMT ngày 21/7/2014 về phê duyệt và công bố kết quả thống kê diện tích đất đai năm 2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1467/QĐ -BTNMT ngày 21/7/2014 về phê duyệt và công bố kết quả thống kê diện tích đất đai năm 2013
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2014
4. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2014), Thông tư sô ́ 37/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trơ ̣ và tái định cư khi Nhà nước thu hô ̀i đất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2014
5. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2014), Thông tư 30/2014/TT-BTNMT Quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 30/2014/TT-BTNMT Quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2014
6. Bộ Tài chính (2015), Thông tư 74/2015/TT-BTC Hướng dẫn việc lập dự toán, sử dụng và thanh quyết toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 74/2015/TT-BTC Hướng dẫn việc lập dự toán, sử dụng và thanh quyết toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2015
7. Chính phủ (2015), Nghị định số 35/2015/NĐ-CP về quản lý, sử dụng đất trồng lúa, ban hành ngày 13/04/2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 35/2015/NĐ-CP về quản lý, sử dụng đất trồng lúa
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
8. Chính phủ (2014), Nghị định số 44/2014/NĐ-CP nga ̀ y 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về giá đất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngà y 15 tháng 5 năm 2014của Chính phủ quy định về giá đất
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
9. Chính phủ (2014), Nghị định số 43/2014/NĐ-CP về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 43/2014/NĐ-CP về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
10. Chính phủ (2017), Nghị định số 01/2017/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 01/2017/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2017
11. Chính phủ (2014), Nghị định 47/2014/NĐ-CP Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 47/2014/NĐ-CP Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
12. Chính phủ (2017), Nghị định 01/2017/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 47/2014/NĐ-CP quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 01/2017/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 47/2014/NĐ-CP quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2017
13. Chính phủ (2015), Nghị định 35/2015/NĐ-CP Về quản lý, sử dụng đất trồng lúa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 35/2015/NĐ-CP Về quản lý, sử dụng đất trồng lúa
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
14. Đỗ Xuân Cảnh (2016), Pháp luật bồi thường về đất khi nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn thực hiện tại Huyện Mường La, Tỉnh Sơn La, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Mở Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật bồi thường về đất khi nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn thực hiện tại Huyện Mường La, Tỉnh Sơn La
Tác giả: Đỗ Xuân Cảnh
Năm: 2016
15. Đinh Thiết Dũng (2017), Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Mở Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình
Tác giả: Đinh Thiết Dũng
Năm: 2017
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2011
17. Nguyễn Hà, Kiểm toán Nhà nước: Dự án BT chiếm dụng vốn ngân sách, https://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/vi-mo/kiem-toan-nha-nuoc-du-an-bt-chiem-dung-von-ngan-sach-3752479.html, truy cập ngày 21/07/2019 Link
37. UBND tỉnh Hưng Yên, Cổng thông tin điện tử, http://hungyen.gov.vn/portal/Pages/default.aspx, truy cập ngày 15/09/2019 Link
38. Đặng Hùng Võ, Luật Đất đai đang vênh với Hiến pháp, vênh với mọi luật ban hành sau năm 2013”, https://baomoi.com/gs-dang-hung-vo-luat-dat-dai-dang-venh-voi-hien-phap-venh-voi-moi-luat-ban-hanh-sau-nam- Link
40. Mục đích thu hồi đất cần được minh bạch để tránh gây bức xúc”, Báo Nhân dân, http://nhandan.org.vn/chinhtri/item/21583802-%C2%A0khoi-dong-du-an-%C3%B0oi-moi-sang-tao-huong-toi-nguoi-thu-nhap-thap.html, truy cập ngày 2/8/2019 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm