1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Văn học dân gian hà tây và việc chấn hưng văn hóa địa phương

238 71 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 238
Dung lượng 33,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

131 CHƯƠNG BỐN ĐÓNG GÓP CỦA VẢN HỌC DÂN GIAN HÀ TÀY VÀO VIỆC CHẤN HƯNG VÀN HÓA ĐỊA PHƯƠNG I- Bối cảnh văn hóa Hà Tây sau ngày đ ất nước th ố n g nhâ't... C h ín h vì lẽ đó, tìm hiểu một

Trang 1

B ộ ( ỉ I A O D Ụ C VA Đ Ả O T Ạ O

Đ Ạ I HỌ C Q U Ố C GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XẢ HỘI VÀ N H Â N VÃN

NGUYỄN HỮU THỨC

VĂN HỌC DÂN GIAN HÀ TÂY

Chuyên ngành : Văn học dân gian

LUẬN ÁN P H Ó TIẾN Sĩ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng d ẫ n khoa học: PGS, PTS LÊ CHÍ QUẾ

IIẢ NỒI - 19%

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

Trang

I- Lý do chọn đê tài 1II- Đối tượng, phạm vi đề tài và phương p h á p n g h iê n cứu 5III- T ìn h h ìn h sưu tầm, nghiên cứu văn học d ân gian Hà T ây .7IV- Ý n g h ĩa thực tiễn, đóng góp mới của luận á n .21V- Cơ cấu luận á n 22

CHƯƠNG MỘT ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ, LỊCH s ử , VÀN HÓA TỈNH HÀ TÂY

I- Hà Tây vùng đất cổ .24II- Hà Tây đất trăm nghề tro ng mối quan hệ vớỉ k in h đô

T h ă n g Long - Hà N ộ i 31III- Hà T ây vùng đất có nhiều di tích lịch sử văn hóa và

danh t h ắ n g 37IV- Hà T ây vùng đâ't có nhiều lễ hội cổ tru yền .43V- Hà Tây vùng đất có truyền thống khoa b ả n g 47VI- Hà Tây vùng văn hóa đồng bằng Bắc Bộ với ba d ạ n g

h ìn h văn h ó a 51

CHƯƠNG HAI

DIỆN MẠO VẢN HỌC DÂN GIAN HÀ TÂY

I- Các phương thức lưu truyền văn học dân gian Hà T â y 60II- Các thể loại văn học dân g i a n 67III- Các tiểu vùng thể loại truyền thuyết dân gian Iĩà T A v 94

Trang 3

CHƯƠNG BA GIÁ TRỊ VẢN HỌC DÂN GIAN HÀ TÂY I- V ăn học d ân gian phản ánh quá t r ìn h d ự n g nước, giữ

nước của dân tộc trê n lãnh địa Hà T â y 101

II- Văn học dân gian phản ánh cốt cách con người Hà Tây 118

III- Văn học dân gian phản ánh văn vật, phong hóa Hà T ây 131

CHƯƠNG BỐN ĐÓNG GÓP CỦA VẢN HỌC DÂN GIAN HÀ TÀY VÀO VIỆC CHẤN HƯNG VÀN HÓA ĐỊA PHƯƠNG I- Bối cảnh văn hóa Hà Tây sau ngày đ ất nước th ố n g nhâ't 144 II- Đóng góp của văn học dân gian Hà Tây vào việc chấn h ư n g văn hóa địa phương 152

III- M ột vài giải ph áp để văn học dân gian góp p h ầ n trở t h à n h dộng lực chân hưng văn hóa địa p h ư ơ n g 170

KẾT LUẬN 176 PHỤ LỤC I- Bản đồ địa b àn h à n h chính Hà T â y 182

II- Bản đô các điểm diễn xướng dân ca 183

III- Bản đô p h â n tiểu vùng truyền thuyết dân g i a n 184

IV- Một số ảnh minh h ọ a 185

V- D anh mục tru y ền thuyết Sơn T i n h 189

VI- D anh mục tru y ện cổ có xuất xứ địa danh và con người ở Hà Tây 191

VII- D anh mục các truyện thư có xuất xứ địa d a n h và con người ở Hà T ây 194

VIII- Danh mục n h ữ n g di tích thừ Tản Viên 195

Trang 4

IX - Danh mục những di tích thờ thần Trung Thành đại

vương 201X- D a n h mục n h ữ n g vị thần, th à n h hoàng liên quan đến

cuộc khởi nghĩa Hai Bà T r ư n g 203XI- D a n h mục n h ữ n g vị thần, th à n h hoàng liên qu an đến

cuộc khởi nghĩa Lý Nam Đ ế 208XII- D a n h mục n h ữ n g vị thần, th à n h hoàng liên quan đến

Đ in h T iê n Hoàng Đ ế 7 212XIII- D a n h mục n h ữ n g di tích thờ Từ Đạo H ạ n h .214

X IV - Công v ă n số: 69-CV/UB của ủ y ban n h â n dân tỉn h Hà

T ây về việc tổ chức Liên hoan h á t ru toàn t ỉ n h 215XV- D anh mục tổng kiểm kê di tích ở tỉn h Hà Tây

năm 1995 217

- DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌN H VÀ BÀI V IẾ T

CỦA TÁC GIẢ ĐÁ CÔNG B ố c ó LIÊN QUAN Đ Ế N

LUẬN Á N 218

- THƯ MỤC THAM K HẢO 220

Trang 5

MỞ ĐẦU

I- LÝ DO CHỌN ĐÈ TÀI

- L ý d o 1: Nguyễn T rãi (1380 - 1442), người an h h ù n g dân tộc sin h

trrởng ở vùng đâ't nay thuộc Hà Tây, trong một bài biểu d â n g Lê T hái Tông nỀm 1437 có đoạn viết: "K ể ra, đời loạn dù n g võ, thời b ìn h chuộng văn N ay

đ m g là lúc ta n ê n làm lễ nhạc Song không có gốc th ì k h ố n g t h ể đứ ng,

k ỉô n g có văn th ì k h ỗ n g th ể hành Hòa bình là gốc của nhạc, th a n h ầ m là VỜI của nhạc T h ầ n vâ n g chiếu soạn nhạc kh ô n g dám k h ô n g dốc h ế t tâm sifc N h ư n g vì học th u ậ t nòng cạn, sợ rằng trong kho ả n g th a n h luật, kh ó ỉvợc hài hòa X in bệ h ạ y êu nuôi muôn dân, đ ể chốn xóm thôn k h ô n g còn hiín g oản h ậ n bùôn than, n h ư th ế mới kh ô ng m ấ t cái gốc của nhạc" [132,

tr3 3 9 ] Hoài bão văn trị th ái bình sau thời kỳ Bình Ngô phục quốc t h ậ t cao iẹo T ừ ngày đ ấ t nước ta th ố ng nhât, tình h ình chính trị ổn đ ịn h , công cuộc

lổ mới d ấ t nước đ ạ t được n h ữ n g th à n h tựu to lớn, thì vận hội phục hưng /à p h á t triể n văn hóa tr ê n mọi phương diện cũng được đặt ra T ro n g đó, xu Ìiớng tìm về cội nguồn văn hóa dân tộc Việt trở th àn h phong trào quần c h ú n g hực mọi tầ n g lớp xã hội hưởng ứng, khưi dậy nh ữ n g th u ầ n phong mĩ tục,

ìh ĩn g truyền th ố n g văn hóa quí báu của dân tộc Văn hóa vật thể (đình, ihìa, đên, quán ) được n h â n dân giữ gìn, tôn tạo; văn hóa phi vật th ể được

ứ â n dàn khôi phục, tham gia tái tạo, n h ất là sinh hoạt ca hát, lễ hội cổ riy ề n và nhiều sin h hoạt văn hóa văn nghệ khác được chăm lo, gây dự ng

ại Một số hục giả cho rằn g th ập kỷ 90 của thê kv này là thời kỳ chấn hưng

Trang 6

ăn hóa dân tộc Đã có hẳn một cuốn sách vứi đàu đê: C hấn h ư n g các vù n g

à tiểu vùng văn hóa ở nước ta h iện nay của hai tác giả H u ỳ n h Khái Vinh

à Nguyễn T h a n h T uấn [116, sách dầy 284tr.J Chấn hưng văn hóa dân tộc

rở t h à n h vấn đê quan tâm cùa các nhà quản lý và nghiên cứu văn học C hấn

l ư n g t h ế n à o , r a s a o đ ể g ạ n d ụ c , k h ơ i t r o n g t ạ o r a đ ộ n g l ự c p h á t h u y n h ữ n g

jiá t r ị t ố t đ ẹ p của v ă n hóa d â n tộc?

Văn học d ân gian bao giờ cũng là một bộ phận nên tả n g cấu t h à n h của lăn hóa dân tộc T ro n g trào lưu chấn hưng văn hóa dân tộc, văn học dân gan cần được xem xét, đ án h giá còn bởi đó chẳng Iihững là di sản r ấ t quan

tọ n g của quá k h ứ mà còn là tài sản đương đại được quần c h ú n g lao động

a n g tạo r ấ t kịp thời tác d ụng n h ư một phong vũ biểu nhậy cảm p h ả n á n h nọi diển biến của xâ hội

C h ín h vì lẽ đó, tìm hiểu một cách nghiêm túc, cặn kẽ, có hệ th ố n g văn h>c dân gian của từ n g địa phương là vấn de ưu tiên đặt ra đối với các n h à rghiên cứu và hoạt động văn hóa, đáp ứng nhu cầu tìm về văn hóa cội nguồn đmg diễn ra tr o n g đời sống xã hội

- L ý d o 2: Hiện nay, theo cơ cấu quàn lý hành chính, nước ta có 53

th h , t h à n h phố tro n g một quốc gia Việt Nam thống nhất T h ố n g n h ấ t một rìtn văn hóa n h ư n g đa d ạn g về sắc thái biểu hiện Do vậy, n h ữ n g năm gần đay, việc n g hiên cứu văn hóa, văn học truýên thống trong phạm vi từ n g tỉn h

đi đưực giới n g h iên cứu quan tâm Dẫu rằng văn hóa về phương diện giao tiíp là không có biên giới n h ư n g việc chia địa giới hành c h ín h cấp tỉn h , t h à n h pỉố d ẫn tới mỗi tỉn h , th à n h lại có một cơ quan đâu não t r iể n khai đường

16 ch ín h sách của Đảng và Nhà nước ử tru n g ương đồng thời đê ra n h ữ n g cHnh sách kinh tế - xã hội cụ thể phù hựp với hoàn cảnh của từ n g địa phương.Quá tr ìn h xây dựng kế hoạch, đè ra chủ trương chính sách, chỉ đạo và

Trang 7

đẾu h à n h đòi hỏi các cơ quan th am mưu phải nắm b ắ t đưực m ộ t cách hệ tíố n g v ấn đê n g à n h q u a n tâm

M ột chức n ă n g q u a n tr ọ n g của n g à n h V ăn hóa th ô n g t i n t ỉ n h H à T ây

là bảo tồ n và p h á t h u y di s ả n văn hóa v ật c h ấ t, văn hóa t i n h t h ầ n của các

d ín tộc t r o n g t ỉn h M uốn đê ra c h ín h sách văn hóa p h ù h ợ p đ á p ứ n g k ịp tỉời xu t h ế p h á t t r i ể n của văn hóa th ô n g tin Hà T ây đòi hỏi p h ả i xử lý r ấ t

n líề u d ữ k iệ n t h ô n g t i n văn hóa để r ú t ra n h ữ n g k ế t luận m ộ t cách k h á c h

q ian , khoa học t r o n g đó có n h ữ n g th ô n g t i n về văn học d â n gian và tác đ ộ n g cCa nó t r o n g đời s ố n g xá hội h iệ n nay T h ê m nứa, từ k h i có N g h ị q u y ế t hội

n^hị lần t h ứ 4 B an C h ấ p h à n h T r u n g ương Đ ản g khóa VII Về m ộ t s ố n h iệ m

VỊ văn hóa, v ă n n g h ệ n h ữ n g n ă m trước m ắ t th ì công tác sư u t ầ m , n g h i ê n

CÚI văn học d â n g ian ở H à T ây được đẩy m ạ n h , cuốn h ú t n iề m say mê của

n liề u t r í th ứ c ở địa ph ư ơ n g ; p h o n g trà o quần c h ú n g h ư ở n g ứ n g các là n diệu

hâ, ru, h á t giao d u y ên được các đoàn th ể p h á t đ ông sôi nổi ở các h u y ệ n ,

t h , xã, th ô n T ừ th ự c tiễ n s in h dộng ấy đ ặ t ra cần có n h ữ n g tà i liệu m a n g

t í i h k h á i q u á t, t ổ n g hợp và hệ th ố n g hóa nó m ột cách k h o a học

- L ý d o 3: F e d e ric o M ayor Zaragoza tác giả bài: T h ậ p k ỳ t h ế g iớ i p h á t

tr ể n vă n h ó a đ ă n g t r o n g tạ p chí T h ô n g tin UNESCO, t h á n g 11-1988 đã dưa

ra lời k h u y ế n cáo: "K in h n g h iệ m của h a i th ậ p k ỷ vừa q ua ch o th ấ y r à n g tro n g

m á x ã h ộ i n g à V nay, b ấ t lu ậ n ở tr ìn h dộ p h á t tr iể n k in h tê n à o hoặc th eo

x u hư ớ n g c h ín h tr ị và k i n h tê' nào, văn hóa và p h á t tr iể n là h a i m ặ t g ắ n liin với nha u

Vãn hóa là m ộ t bộ p h ậ n k h ô n g th ể tá ch rời của cuộc số n g v à n h ậ n th ứ c - m>t cách h ữ u th ứ c c ũ n g n h ư vô thức - cùa các cá n h â n và các cộ n g đ ô n g Vơi hó a là tổ n g t h ể số n g đ ộ n g các hoạt d ụ n g sá n g tạo tro n g q u á k h ứ và

t n n ẻ h iệ n tạ i Q ua các t h ế k ỷ , hoỊit đ ộ n g sả n g tạo ày d ã h ìn li th à n h n ê n

Trang 8

tr í ‘ru n g tâ m , m ột vai trò diêu tiết xã hội".

Cho đến nay, vẫn còn tồn tại n h ững Iihận thức chưa đầy đủ về vai trò của quần c h ú n g lao động trong sáng tạo nghệ th u ật cũng n h ư chưa đ án h giá đúnỊ vai trò của văn học dân gian trong cuộc sống xã hôi h iện đại và sự

n g h ệ p chấn hưng văn hóa Do vậy, việc chỉ ra cái hay cái đẹp, các mối quan

hệ ịiữa vãn học dân gian với các dối tượng cụ thể ở địa phương Hà Tây n h ư mối quan hộ văn hục dân gian với sáng tác thơ văn hiện đại, với việc khơi

d ậ y sin h hoạt văn hóa cộng đồng, phục hưng các làng nghề th ủ công mĩ nghệ

là c;ch tiếp cận để mọi người trâ n trọng những sản phẩm sá n g tạo của n h â n dân từ đó nêu cao ý thức giữ gìn, sử dụng vốn liếng quí báu này tro n g sự

n g h ệ p đổi mới đất nước

L ý d o 4: Hà Tây là đ ấ t Việt cổ nên nghiên cứu văn học d â n gian Hồ Tây là m ột hướng tiếp cận mở ra lâu đài văn hóa Việt cổ trầ m tích vào ký

ức ihân dân, góp p h ần làm sáng tỏ chân dung, diện mạo văn hóa Việt Nam

cổ tu y ề n từ đó tiếp tục tìm kiếm và xác định bản sắc văn hóa dân tộc

L ý d o 5: Vốn là người Hà Tây, lại dã có mười lăm năm làm công tác SƯU âm, nghiên cứu văn hóa dân gian Hà Tây, tôi có kỳ vọng thể hiện tình cảm và suy nghĩ của mình đối với quê hương trong trào lưu phục h ư n g văn hóa hiện nay.

4

Trang 9

5

-Đề tài: Văn học dân gian Hà Tây và việc chấn hưng văn hóa dịa phưưng

ch ín h là x u ất p h á t từ n h ữ n g lý do vừa có tín h ch ất khoa học, vừa có ý nghla thực tiễ n n h ư đã tr ìn h bày trên

II- ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI ĐÊ TÀI VẢ PHƯƠNG P H Á P N G H IÊ N c ử u

1 Đ ố i tư ợ n g

Luận á n xác đ ịn h đối tượng nghiên cứu là văn học dân gian Hà Tây

Hà T ây là địa bàn cư trú chủ yếu của dân tộc Việt Ngoài ra là dân tộc Mường và dân tộc Dao sống ở vùng chân núi Ba Vì Luận á n này tập tru n g khảo sát, n g hiên cứu văn học dân gian của người Việt, chiếm tói 95% dân 3ố tro n g tỉn h

th o a học ở inột địa phương th ì địa danh h à n h chính lại là vãn đê r ấ t dáng

ju an tâm Bởi tín h thời sự, bức th iế t của cóng việc đ ặ t ra n h ằm giải quyết

ìh ữ n g v ấn đê nảy sin h ở trong tỉn h nên dịa giới h à n h c h ín h coi n h ư một

iự khu b iệ t phạm vi nghiên cứu đối tượng của cĩê tài Và, c h ú n g tôi cho rằ n g lếu công tác khảo sát nghiên cứu càng kĩ tư liệu văn học dân gian ỡ một lịa bần hẹp thì cũng có thể cho phép nhà khoa học phát hiện rút ra những

Trang 10

a) Phương pháp d ịa lý lịch sử văn hóa

ử chương một, quá t r ìn h p h ân tích chúng tôi chú ý tới đặc trư n g vùng

đ á , quá t r ì n h lao tác, tru y ền th ố n g lịch sử, nếp sống văn hóa, n h ữ n g biến độig xã hội dã ả n h hưởng tới các sáng tác văn học dân gian Hà Tây làm tiầ i đề để các chương sau p h á t hiện ra n h ữ n g đặc điểm m an g tín h qui luật vậi động và p h á t tr iể n của dối tượng văn học dân gian

b) Phuơng pháp thống kê, phân loại

C h ú n g tôi sử d ụ n g phương pháp th ố n g kê p h ân loại ở chương hai đối với tụi ngữ, ca dao, tru y ề n th u y ết và các vị th ầ n thờ xoay quanh một chủ đê

n lất đ ị n h từ đó r ú t ra các kết luận tă n g thêm sức th u y ế t phục cho n h ữ n g su; đoán khoa học Đơn vị tín h là bài, câu chuyên, hoặc th ố n g kê theo đơn

vị thờ phụng

c) PlỉuutíỊỊ pháp so sánh

Bất cứ một đối tượng nghiên cứu khoa học nào tro n g quá t r ì n h phân tích nếi sử dụng có hiệu quả phương pháp so sá n h th ì sẽ giúp cho việc n h ậ n thrc đối tượng th ê m p h ầ n sâu sắc

Trang 11

7

-nrong luận án này ở chương hai, chương ba chúng tôi sử d ụ n g tr iệ t để

phưmg p h á p này để làm nổi b ậ t nhữ ng suy đoán từ việc so sá n h chủ đê thể

h iệ r ở từ n g thể loại nh ư truyền thuyết, dân ca đến việc so s á n h m ậ t độ ph ân

bố, inh c h ất của từ n g m ảng đê tài Điều quan trọng là n h ờ phương pháp

so stnh ch ú n g tôi sẽ dễ dàng tìm ra sắc thái riêng của Lừng loại hình văn học dến gian cũng nh ư đặc trư n g của từng vùng đất ở Hà Tây

ỉ) PhươtiỊỊ pháp tổng fụrjì

''íhận thức tín h nguyên hợp của văn học dân gian, quá t r ìn h tiếp cận dối ương đòi hỏi người nghiên cứu phải tái hiện, tái d ự n g một số th ể loại văn hoc dân gian mà đến nay chỉ còn xuất hiện mờ n h ạ t tro n g tâm tr í một

SỐ Ìghệ n h â n và ghi chép ở một vài tài liệu như các thể loại th ầ n thoại, cổ tíc h v v Ngoài việc miêu th u ậ t chúng tôi phải sử dụng phương pháp tổng

h ợ p c ìn cứ vào các yếu tố, các th à n h tố, các mảnh vỡ từ đó suy đoán xây dựnỊ ạ i m ột chỉnh th ể nhằm mục đích tìm hiểu và giải th íc h quá t r ì n h sin h

th à ih p h á t triến của các thể loại văn học dân gian

Niờ n h ữ n g phương pháp nêu trên , luận án sẽ tái d ự n g diện mạo của cả một hệ th ố n g các th ể loại văn học dân gian Hà Tây và r ú t ra n h ữ n g n ét riêrg cùng n h ữ n g giá trị của nền văn học ấy đối với công cuộc chấn hưng văn lúa ở địa phương Hà Tây hiện nay

II- rÌNH HÌNH SƯU TẦM, NGHIÊN c ứ u VĂN HỌC DÂN GIAN HÀ TÀY

T n h Hà Tây bao gôm một p h ầ n đất của xứ Đoài xưa (tỉn h Sơn Tây cũ)

và nít p h ầ n đ ất của tr ấ n Sơn Nam Thượng (tỉnh Hà Dông cũ) Đó là vùng

đ ấ t c» có tru y ền thống văn hóa lâu dời nên vốn văn học d â n gian còn tích

tụ ih ề u tro n g nhân dân C hính vì lẽ dó công tác sưu tầm , nghiên cứu vãn

Trang 12

8

-hóa, văn học dân gian Hà Tây đã thu h ú t sự quan tâm của n hiều tác giả

ở địí phương và các học giả có tên tuổi từ thời phòng kiến đến nay

Tình hình sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian Ilà Tây (lưới thời phong kiến trư ớ c Cách niạng tháng Tám 1945

Trong số th ư tịch cổ còn lưu giữ đến nay mà chúng tôi b iết th ì T h iê n uyển tập a n h (Anh tú vườn Thiền) là cuốn sách cổ sớm n h ấ t ghi chép về

văn học dân gian trê n đất Hà Tây Đây là tác phẩm tru y ện ký có giá trị

về m iề u m ặ t trong đó có văn học dân gian Tác phẩm khởi th ảo từ cuối đời

Lý loàn c h ỉn h vào đâu thời T rầ n đến nay vẫn chưa xác đ ịn h rõ soạn giả Nội lu n g cuốn sách ghi lại các tông phái T hiền học và sự tíc h các vị T h iề n

sư n>i tiếng T h iền sư T ừ Đạo H ạnh (? - 1117) trụ trì ở chùa T h ày Hà Tây

có clép tro n g sách trên Có diều truyện viết về T hiền sư T ừ Đạo H ạ n h khồng

th à n i bản tóm tắ t tiểu sử mà là một câu chuyên nhuộm màu tru y ề n th u y ết với ìhiều chi tiết th ầ n kỳ Cho tới nay, dân chúng ở vùng chùa T h ày vần truỳin kể về T ừ Đạo H ạ n h như cốt truyện dã ghi tro n g sách

Cũng ở thời T rầ n có cuốn V iệt đ iện u lin h (việc u linh ở cõi Việt) do

Lý "ế Xuyên biên soạn, lời tựa viết vào năm 1329, chép lại n h ữ n g chuyên

về c:c vị th ầ n linh lưu h à n h trong dân chúng ở nước ta T ro n g số 27 truyện

về CIC vị th ầ n linh mà sách này ghi chép có 4 truyện (P h ù n g Hưng, Hai

Bà Trưng, Lý Phục Man, th ần T ản Viên) kể về các vị th ần tr ê n đ ất Hà Tây

Cuối t h ế kỷ 15, hai ông Vũ Quỳnh và Kiều Phú (sống cùng thời) đã sửa

ch ữ sh o à n c h ỉn h cuốn L ĩn h N a m chích quái (Nhứng chuyện lạ th u gom được

ở cõ L ĩnh Nam), một tập sách ghi chép những truyền th u y ế t và tru y ện cổ tích củ a nước ta Vũ Q uỳnh viết lời tựa năm 1492 còn Kiêu P h ú quê ở Quốc Oai ià Tây viết hậu tựa năm 1493 Giáo sư Dinh Gia K h á n h p h ỏ n g đoán

Trang 13

- 9

-tx p h ẩm "x u ấ t h iệ n rất sớm có lẽ từ thời Trân" [134, tr.5] Giáo sư dã phân

lẹ xác đ ịn h 23 tru y ệ n là của Vũ Q uỳnh - Kiêu P h ú tro n g đó c h ú n g tôi th ố n g

k có 3 tru y ệ n (Hai Bà Trưng, T ừ Đạo Iỉạ n h , th ần núi T ản Viên) ở tỉn h

B Tây

T h ế kỷ 16 có tác phẩm T ruyền kỳ m ạ n lục (ghi chép tả n m ạn n h ữ n g

c.uyện ly kỳ được tru y ền tụng) của Nguyễn Dữ N h à H án học, Phó b ảng

B i Kỷ đ á n h giá "Trong 20 truyện, gác h ết cà n h ữ n g th u yết hoaìig dường,

th y ế t báo ứ n g , T ru yền k ỳ m ạ n lục là m ột bộ truyện cổ tíc h có n h iề u ý nghĩa" [27, tr.2 3 5 ] Phó Giáo sư Bùi Duy T ân đ án h giá: "T ruyền kỳ m ạ n lục là nẫu m ự c của th ể truyền kỳ, là "thiên cổ kỳ bút" là ''áng văn hay của bậc

d i g ia ", tiê u biểu cho n h ữ n g th à nh tựu của văn học h ìn h tượng viết bằng

c ữ H án dưới ả n h hưởng của sá n g tác d â n gian'' [127, tr.238] Cuốn sách

tền ghi chép 20 tru y ệ n có tru y ện Tướng Dạ Xoa dựa vào tru y ề n th u y ế t về Nio sin h Vãn Dĩ T h à n h , một kẻ sĩ có tài trị ôn dịch lưu tru y ền ở h ạ t Quốc

Gi và được người d ân tổng Gối huyện Đan Phưựng Hà Tây thờ làm th à n h hàng, nơi có diễn xướng Hội h át chèo tầu nổi tiế n g của tỉnh

T h ế kỷ 17, sách Còng d ư tiệp ký (ghi chép n h â n khi rỗi việc quan) của

tc giả Vũ Phư ơng Đề B ài p h ả ký của B ạch Vân ani cư s ĩ N g u y ễ n V ăn Đạt

đ chép lại n h ữ n g giai thoại trong dân về tr ạ n g Bùng P h ù n g Khắc Khoan ỞPhùng Xá huyện T hạch T h ất Các giai thoại cho rằn g t r ạ n g B ùng P h ù n g Fiắc Khoan và t r ạ n g T r ìn h Nguyễn Bỉnh Khiêm là hai a n h em cùng cha

k ác mẹ C ông d ư tiệp ký còn chép sự tích ứ n g th iê n đ ạ i th á n h th iê n vương

ởđên Bộ Dầu xã T h ố n g N h ấ t huyện Thường T ín hiện nay [143, A44j

T h ế kỷ 17, th ể thơ lục b át và song t h ấ t lục bát được các nho sĩ sử d ụng

pổ biến dể sá n g tác các loại truyện lưu truyền tro n g dân Các tru y ện Nỏm

k u y ết d a n h x u ất hiện ở thời kỳ này khá phong phú và da dạng C h ú n g tôi

Trang 14

c h ú ý tới hai tác phẩm T h iê n Naỉn m in h g iá m (gưưng sá n g trời Nam) và

T h iê n N a m n g ữ lục (những truyện kể ở cỗi trời Nam) T h iê n Narn m in h

g iá m là tác p hẩm Nôm gôm 938 câu thơ s o n g th ấ t lục b á t lược chép lịch

s ử nước ta từ thời Hồng Bàng đến đời Lê T ru n g Mưng R ất n h iều các n h ân

v ậ t lịch sử ở tỉn h Hà Tây đưực nêu gưưng tốt xấu, khen chê n h ư Hai Bà

T rư n g , Nguyễn T rãi, Nguyễn Thị Lộ v.v Nội dung tác p h ẩ m chia làm 2

p h ầ n : ngoại kỷ và bản kỷ N hà nghiên cứu Hán Nôm H oàng T h ị Ngọ đã

n h ậ n đ ịn h "Ở p h ả n ngoại kỷ, tín h huyên thoại, truyền th u yế t rất đ ậ m n é t"

[131, tr.2 1 ] Các truyền th u y ết lưu truyền phổ biến ở Hà T ây n h ư th ầ n núi

T ả n Viên, C h ử Đồng Tử đã được miêu th u ật trong sách T h iê n Nam ngữ iục là m ột tác p h ẩm bằng thơ lục bát đô sộ dài 8.136 câu Học giả Cao Huy

Đ ỉn h đ á n h giá T h iê n Ncun n gữ lục "là m ột trong n h ữ n g sử ca th à n h văn

b ằ n g th ơ N ô m đ ậ m đ à tín h chất d â n gian hơn cả" [20, tr.1 2 4 ] Có th ể nói

tác p hẩm là sử ca mà c h ất liệu khai thác từ nguồn tru y ền th u y ế t th ể hiện

t h ế giới q u an của n h â n dân Nhiều nhân vật huyền thoại ở thời H ù n g Vương

c ũ n g n h ư n h â n vật lịch sử của Hà Tây đã được phản á n h sin h động tro n g tác p h ẩ m n h ư T ả n Viên, Chử Đồng Tử, Hai Bà Trưng, P h ù n g Hưng, Ngô

Q uyền v.v

T h ế kỷ 18 có tác p hẩm T ruyền kỳ tân p h ả của nữ sĩ Đoàn T hị Điểm

T ro n g tác p h ẩ m này, tru y ện N ữ thân ở Vân Cát kể về công chúa Liễu H ạ n h

m ộ t vị tiê n g iáng th ế từ n g ứng dối với trạn g Bùng P h ù n g Khắc Khoan trê n cửa khẩu L ạng Sưn và sau này tr ạ n g Bùng còn cùng với cử n h â n họ Ngô,

tú tài họ Lý xướng họa thơ với bà chúa Liễu ở Tây ỈỈỒ vào đêm tr ă n g th a n h gió mát, góp th ê m tư liệu hiểu biết vê giai thoại tr ạ n g B ùng P h ù n g Khắc Khoan

10

-Quyển X L in h tích (dấu tích linh thiêng) ở th ế kỷ 18, tro n g K iế n văn

Trang 15

tiêu lục của Lê Quí Đôn (1726 - 1776) có chép một tru y ện ly kỳ ở đ ất Hà

Táy n h ư tru y ệ n miếu thờ th ủ y th ầ n ở xã Hữu Vĩnh huyện Hoài An Quyển

XII T ù n g đ à m (tru y ện góp) chép giai thoại T r ịn h T h iế t T rường và t r ạ n g nguyên

Nguyễn T rực cùng đi sứ dự thi ở T ru n g Quốc; giai thoại về T râ u C anh thời nhà T r ầ n ở xã Long Châu huyện Chương Đức nổi tiế n g về tài làm thuốc chữa khỏi bện h cho vua T rầ n Dụ Tông

Đầu t h ế kỷ 19, xuất hiện bộ sách L ịch triêu h iế n chương loại c h í của

nhà bác học P h a n Huy Chú, người làng Thày, phủ Quốc Oai Hà Tây Bộ sách

là m ột còng t r ì n h biên khảo còng phu, phong phú tư liệu được p h â n loại,

hệ th ố n g hóa khá rà n h mạch L ịch triều h iến chương loại c h í chia ra làm

10 bộ Ở bộ D ư đ ịa chí, tác giả đã ghi chép nhiều tru y ề n th u y ế t dân gian

tiêu biểu lưu tru y ền ở tro n g vùng như sự tích vị th ầ n ở đên Bộ Đầu huyện Thường Tín, sự tích Từ Đạo H ạnh ở chùa Thày, 8ự tích N hã lang ở xã Hạ

Mỗ, Lý P h ụ c Man ở xã Yên Sở, th ầ n T ản Viên tr ê n núi Ba Vì Bộ N h â n vật ch í, P h a n Huy C hú miêu th u ật ngắn gọn, súc tích chân d u n g các n h â n

vật lịch sử từ Kinh Dương Vương đến h ết thời Lê Điều đán g lưu ý là P h an Huy C h ú khi miêu th u ậ t dã không bỏ qua các chi tiế t đặc sắc của các n h â n vật lịch sử lưu tru y ền tro n g dân gian n h ư nỏ th ầ n của An Dương Vương, móng rồ n g ở m ũ đẳu mâu của Triệu Việt Vương, Ngô Quyền khi s in h có á n h sáng lạ kh ắp nhà, hai con rồng phù trợ Đinh Tiên Hoàng, Lê Lợi khi sinh

có mùi thơm lạ bay khắp làng Khi viết về danh n h â n N guyễn T rãi của đất

Hà Tây, P h a n Huy Chú chép cả câu chuyện rắn báo oán lưu tru y ền trơng

dàn g ia n k h é p tội g iế t vua c h o N g u y ề n T h ị Lộ

T h ế kỷ 19 các sử quan triều Nguyễn cũng dã biên soạn cuốn Đ ại N(un

nh ấ t th ố n g c h í Bấy giờ cuốn sách đê cập tới địa chí hai tỉn h : tỉn h Hà Nội

(Hà Dòng thuộc tỉn h Hà Nội) và tỉn h Sơn Tây P h ầ n đôn, miếu, chùa, quán

Trang 16

c h é p một sô' sự tích ly kỳ n h ư vị th ầ n Q uảng Xung ở đền Hữu Vĩnh, tru y ện

T r ư n g Vương m ất ở sống N hị Hà sau hóa th à n h hai pho tượng đá, truyện

vị t h ầ n đền Bộ Đầu, th ầ n T ru n g T h à n h ở xã Đa C hất Mục tỉn h Sơn Tây các sử quan chép ngắn gọn truyền thuyết về Hai Bà T rư ng, th ầ n núi T ản

V iên , Ph ụ c Man tướng quân, Lân Hổ đô th ố n g đ án h giặc Nguyên Mông ở

xả Dông B ảng (T ùng T hiện), sự tích T ừ Đạo H ạnh, sự tích Nguyễn Bình

A n chân n h â n ở chùa Q uảng Nghiêm xã Tiên Lử, giai thoại về tiến sĩ Nguyễn

S ư M ạnh, tiến sĩ P h ù n g Khắc Khoan, th ám hoa G iang Văn M inh v.v

C ù n g thời gian này, ở vùng Hà Đông xuất hiện m ột tru y ện Nôm k huyết

d a n h tên là N a m H ả i Quán T h ế Ấ m dài 1.440 câu lục b á t kể về cuộc đời

t u h à n h của công chúa Diệu T h iện con vua Diệu T r a n g Vương nước Hưng

L âm Dân gian quen gọi công chúa Diệu T h iện là Bà Chúa Ba Bà đã lưu

d ấ u tu h à n h 9 năm ở động Hương Tích đắc dạo trở th à n h Đức Quán T h ế

 m bò tát, sau trở về diệt t r ừ cái ác, báo hiếu cha mẹ, phổ độ c h ú n g sinh

Có th ể nói sự tích Bà Chúa Ba là câu chuyện của n h à P h ậ t đã dược d ân gian hóa

Dưới thời P h á p thuộc, sự p h á t triể n của khoa học ki th u ậ t đã tạo điều

k iện in ấ n phổ biến các tác phẩm văn học dân gian được n h a n h hơn Ngoài các bài sưu tầm lẻ đăng tr ê n tạp chí, tuần báo, đáng chú ý thời kỳ này có

cuốn sách S ơ n Tây tin h đ ịa c h í của P h ạm Xuân Độ xuất bản năm 1941 Công

t r ì n h hệ th ố n g các tư liệu trước đó k ết hợp tư liệu điền dã của tác giả đã giúp bạn đọc n h ậ n diện ra vùng dất Sơn Tây tr ê n các m ặt k in h tế - lịch

sử và vãn hóa Ở p h ần tục ngữ phong dao cuốn sách dẫn khá n hiều các câu tục ngữ, ca dao giải thích phong tục tập quán, n h ữ n g n ét riêng ở một vài địa phương P h ầ n d anh n h ân liệt nữ, tác giả sưu tập chép tóm tắ t truyền

th u y ế t về Lử Gia, T rư n g Nữ vương, P h ù n g Tú - P h ù n g Huyền, Iloàng Cát,

Trang 17

Ngoài các cuốn sách tiêu biểu nội dung có đê cập tói văn học d ân gian

Hà T ây n h ư c h ú n g tôi đã điểm ở trên cũng phải kể đến m ột k ê n h thông tin khác râ't phong p h ú tư liệu nằm ở các làng quê Đó là n h ữ n g th ầ n phả còn gụi là ngọc phả chép về sự tích các vị th à n h hoàng, th ầ n thờ ở làng Trước n ăm 1945, làng nào có thờ th ần linh thường là có th ầ n tích Tiếc rằng, qua hai cuộc chiến t r a n h ác liệt, lâu dài nhiêu thần tích, ngọc phả đã bị hư

n á t, t h ấ t truyền Hà Tây gân 1.300 làng, nguồn tư liệu ấy phải kể tới h àn g tră m bản

N h ữ n g bản th ầ n tích tr ê n đã được các nhà nho, n h ữ n g t r í th ứ c phong kiến ở làng, dựa vào nguồn truyền thuyết dân gian lưu tru y ền tro n g d ân biên chép và gửi lên Bộ Lễ của triều đình để biên soạn lại cho phù hợp với quan điểm dưưng thời N h ữ n g bản th ầ n tích ấy xuất hiện ở n hiêu thời điểm khác nhau và có một hiện tượng là phần lớn th ầ n tích ghi niên hiệu biên soạn vào thời H ồng Phúc nguyên niên (1572) do Đông các đại học sĩ Nguyễn Bính

Trang 18

xuôi hoặc truyện thư hay các đưn vị ca dao, phương ngữ, tục ngử Một số tác giả đã có ý thức phân loại nguồn tư liệu song gặp khó k h ă n dơ quan niệm văn sử b ất phân dẫn tới không trá n h khỏi sự lẩn lộn chất c h ín h sử và n h ữ n g

s á n g tác th êm vào của dân gian Khiếm khuyết này phản á n h rõ tro n g h àng

loạt tác p h ẩm từ T h iê n N a m n gữ lục đến Sơn T ây tỉn h đ ịa c h í k hiến cho

các n h â n vật huyền thoại với các n h â n vật lịch sử chưa có sự tách bóc rõ ràn g Chỉ tới khi văn học dân gian được xác định là một đối tượng ng h iên cứu của m ột n g ành khoa học cụ thể là ngành nghiên cứu văn học d ân gian

th ì n h ữ n g h ạn chế m ang tín h lịch sử của các thời đại trước đó mới đần được

th áo gỡ và giải quyết m ột cách t r iệ t để

2 Tinh hình sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian Hà Tây sau Cách mạng

Cuốn T ruyền th u yết Sơn T ỉn h , ty Văn hóa th ô n g tin Hà T ây xuất bản

n ăm 1973 do hai tác giả Hà Kỉnh và Đoàn Công Hoạt sưu tầm , sau đó tái bản fân 2 năm 1975 có bổ sung, giáo sư Đinh Gia K hánh viết lời bạt Đây

là cuốn sách chuyên về các truyện Sơn T in h - T hủy T in h lưu tru y ề n tr ê n đất Hà Tây Hai tác giả đã công phu sưu tầm 44 truyện chia ra t h à n h 5 p h ầ n theo chủ đê dể bạn đọc dễ theo dõi

14

-Cuốn Tục ngữ, ca dao, d â n ca Hả Tây do nhiêu Lác giả th ự c hiện ty Văn

Trang 19

hóa th ô n g tin Hà Tây xuất bản năm 1975, Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc P h an

v i ế t lời giới thiệu Năm 1993, cuốn sách được tái bản bổ sung, phải nói đồy

là cuốn sách phong phú vê tư liệu, trìn h bày một cách hệ th ố n g p h ân theo

3 t h ể loại: Tục ngữ, ca dao, dân ca Cuốn sách giới thiệu n h ử n g loại hìn h

d â n ca tiêu biểu còn tòn lưu trê n đất Hà Tây như vè, h á t ví H àm Rồng, hát

dô, hò cửa đình, h á t chèo tầu, h á t trố n g quân Các soạn giả chia tư liệu p h ầ n

ca dao t h à n h 3 nhóm chủ đê: Con người, cảnh vật và đời sống; T ìn h yêu,

h ô n n h â n và gia đình; Chống phong kiến và đế quốc Rõ r à n g với cách làm

n h ư trê n , cuốn sách đã mang một hình thức khơa học xác đ ịn h

Cuốn T ru yện cổ H à Sơ n B ìn h , ty Văn hóa thông tin Hà Sơn B ình xuất

b ả n n ă m 1977 (thời gian này tỉn h Hà Tây hợp n h ấ t với tỉn h Hòa B ình th à n h

t ỉ n h Hà Sưn Bình) Cuốn sách giới thiệu 32 truyện cổ của các d â n tộc tro n g

t ỉ n h tro n g đó có 12 tru y ện của người Kinh ở Hà Tây

N ăm 1979, ty Văn hóa thông tin Hà Sơn Bình xuất bản cuốn: M ột số tru y ề n th u yế t về tướng lĩn h H ai B à Trưng chép lại 27 tru y ề n th u y ết liên

q u a n đến cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng

Thời gian này một số tác giả đã lưu tâm SƯU chọn n h ữ n g tru y ệ n lưu tru y ền

tr o n g dân đã và xuất bản th à n h sách Năm 1991, tác giả N guyễn Hữu Máo

ra tcuốn T â m hôn H ương Sơn T ập sách chia làm 2 phần; p h ầ n I: Phương

n g ô n tục ngữ - ca dao - dân ca - truyện thơ; phần II: Chuyện kể gồm 18

t r u y ệ n Đó là vốn tư liệu lưu truyền ở một xã, xã Hương Sơn huyện Mĩ Đức nơi có d an h lam th ắ n g cảnh nổi tiếng cả nước là Hương Sơn và Chùa Hương với Nam T h iê n đệ n h ấ t động Năm 1992, tác giả Phan Huy Đông ra m ắt

bạn đục cuốn T ru yền thuyết bia Bà Cuốn sách ghi chép 35 tru y ề n thuyết,

tr u y ệ n cổ của hai dân tộc Kinh - Mưởng, có 25 dâu truyện liên quan đến đất Hà Tây

- 1 5

Trang 20

-N gùòn tư liệu văn học dân gian Hà Tây còn tìm th ấ y khá phong phú trong các cuốn sách viết về văn hóa Hà Tây.

Bộ sách Danh nhân quê hương 3 tập do ty Văn hóa th ô n g tin Hà Tây sau là ty Văn hóa thông tin Hà Sưn Bình xuất bản vào các năm 1973, 1974,

1976 V iế t vê các danh n h â n lịch sử Hà Tây, các tác giả đã ý thức khai thác các n g u ồ n truyền thuyết, giai thoại để bạn đọc Iihận biết ả n h hưởng của danh

n h â n lịch sử đối với quê hương n h ư th ế nào Một số n h â n v ật lịch sử được tái h iệ n lại chủ yếu dựa vào nguồn tru y ền th u y ết ở địa phương n h ư Bà Man

T h iệ n m ẹ Hai Bà Trưng, Hoàng Đôn Hòa một th ầy thuốc lớn đời Lê, Lý Phục

M an người con quang vinh của làng Giá, Giang Văn M inh vị sứ th ầ n làm

vẻ v a n g cho đất nước, vài mẩu chuyện về Tự So v.v

Bộ s á c h H à Tây làng nghề là n g văn, 2 tập, Sở Văn hóa th ô n g tin Hà

T ây x u ấ t bản năm 1992 - 1994 Tập I của bộ sách khảo cứu 19 làng nghề tiê u biểu của tỉnh Hầu h ế t các tác giả đê cập tới các vị tổ nghề và lượm lặt các tru y ề n thuyết về các tổ nghề n h ư tổ nghề tằm tơ d ệ t lụa, tổ nghề

th êu , tổ n g h ề khảm trai, tổ nghề tiện v.v Tập II của bộ sách chuyên khảo

về 19 là n g văn hiến tiêu biểu của tỉn h Hà Tây Khi viết về các làng trê n các tác giả đêu chú ý tới nguồn văn học dân gian ở làng

Cuốn L ễ hội cổ truyền H à Tây, Sở Vãn hóa th ô n g tin xu ất b ả n n ăm 1994

giới th iệ u 28 lễ hội đặc sắc diễn ra trê n đất Mà Tây Người viết đã lưu tâm ghi chép các vị th à n h hoồng ở làng có lễ hội Đây cũng là nguồn tư liệu quí

về văn học dân gian Hà Tây

T ro n g - số các cuốn sách thôn chí, xã chí, chúng tôi chú ý tới 3 cuốn Văn hóa là n g Đa S ĩ, Hoa tay lùng C hàng và L àng L iên B ạt xưa và nay Văn hóa là n g Đa S ĩ của tác giả Lê Ngọc Canh xuất bản năm 1992 giới th iệu tỉ

mỉ nhiêu hoạt động văn hóa của đ ất Da Sĩ Chương năm: T h à n h hoàng làng

- 1 6

Trang 21

cung cấp tư liệu vê hát ca trù, lời ca trống quân, giai thoại về t h à n h hoàng

làng Hoàng Đôn Hòa và Phương Dung cồng chúa Hoa tay là n g C h à n g của

tác giả Nguyễn Hữu Mão chuyên khảo vê các nghê khéo tay hay m ắt như đan lát, ỉàm quạt, mộc, sơn, rèn của người dân xâ C hàng Sơn, huyện T h ạch Thất Phần đầu cuốn sách này (phác thảo vùng văn hóa Kẻ Nủa, đến văn hóa làng Chàng) cung cấp nhiều câu phương ngôn, tục ngữ, ca dao, tru y ện

kể và tru y ền thống múa rối nước của một vùng đất [60, tr.5-41] L à n g L iê n

B ạt xưa và nay in năm 1994, nhiều tác giả, là cuốn sách khảo cứu văn hóa

của một làng có nhiều tư liệu về văn học dân gian

N h ữ n g năm gân đây sách ở tru n g ưưng xuất bản nhiều Ngoài việc sưu tập lại n h ữ n g tư liệu của người viết trước các tác giả đã n g h iê n cứu sắp xếp theo một hệ thống chủ đê n h ấ t đ ịn h giúp ích rấ t nhiều cho việc tra cứu ngùôn văn học dân gian ở Hà Tây C h ú n g tôi điểm qua các cuốn chủ yếu n h ư sau:

- Cuốn K ho tàng truyện cổ tích Việt Ncun 5 tập của tác giả Nguyễn Đổng

C hi giới th iệu 200 truyện cổ tích tiêu biểu của người Kinh Đặc b iệt sau mỗi truyện tác giả có phần khảo dị tóm tắt những truyện có m ô típ tương dòng

và kê cứu rõ xuất xứ của từ n g truyện Ngoài n h ữ n g tru y ện cổ tích có tín h điển h ìn h lưu truyền ở các vùng người Việt sinh sống th ì có 16 tru y ệ n liên quan đến địa danh và n h â n vật ở tỉn h Hà Tây, Tác giả d à n h p h ầ n th ứ ba

ở tập V đưa ra nhiều ý kiến n h ậ n định tổng quát về kho tà n g tru y ện cổ tích Việt Nam

- Cuốn: Các nữ thân Việt N a m , hai tác giả Đỗ T h ị Hảo - Mai T h ị Ngọc

Chúc đả biên soạn 75 sự tích các nữ thần thì trong đó có 9 nữ th ầ n liên quan đến Hà Tây

- Cuốn: L à n g xã ngoại th ả n h H à Nội của Bùi T h iế t đã kê cứu các xã thuộc 6 huyện, thị xã của tỉn h Hà Tây cắt vè Hà Nôi năm 1978 đến năm

Trang 22

1991 mới lại trả về Hà Tây Đó là các huyện Ba Vì, Dan Phượng, Hoài Đức,

P h ú c Thọ, T hạch T h ấ t và thị xã Sơn Tây Khi kê cứu các xã tác giả đã lược ghi dã sử ở địa phương

- Cuốn: T ứ bất tử của Vũ Ngọc Khánh - Ngô Đức T h ịn h có h ẳ n một p hần

nói đến Đức T h á n h T ản và sưu tập tư liệu về vị T h á n h đệ n h ấ t phúc th ầ n

T ả n Viên

- Cuốn: Di tíc h lịc h sử văn hóa Việt Ncưn, nhóm tác giả do Ngô Đức

T h ọ chủ biên trê n cơ sở nguồn th ư tịch Hán Nòm sắp xếp theo t h ứ tự chữ cái về nơi thờ vồ các vị th ần thờ ở Việt Nam trong số đó có khá n h iều vị

t h ầ n ở Hà Tây Và, r ấ t nhiều các vị th ần đưực thờ là n h â n v ậ t tru y ề n thuyết

T heo th ố n g kê của ch úng tồi cuốn sách có 46 nơi thờ, 31 n h â n v ật th ờ liên

q uan đến đất Hà Tây

Ngoài ra có hai chuyên khảo về danh nhân P h ù n g Khắc Khoan Cuốn

T r ạ n g B ù n g P h ù n g K hắc Khoan của tác giả Bùi Duy T â n - Ngọc Liễn và cuốn P h ù n g K hắc K hoan cuộc đời ưà thơ văn của tác giả T r ầ n Lê Sáng Hai

cuốn sách này đêu giành phần cuối sách ghi chép n h ữ n g tru y ề n th u y ế t và giai thoại về cụ T rạ n g Bùng

N h ìn chung, các cuốn sách chúng tôi vừa nêu trên ngoài một số cuốn sách

có tín h c h ấ t là một chuyên luận đặt ra theo yêu cầu của người làm sách còn lại các cuốn khác chủ yếu chú trọng việc sưu tầm, hệ th ố n g tư liệu văn học dân gian phân theo từ n g loại hình văn học dân gian hoặc theo chủ đê hay loại h ìn h văn hóa nào đó Điều ấy ghi nhận là ở thời kỳ này, văn học dân gian Hà Tây đâ được xác định ỉà đôi tượng để sưu tầm, n g h iê n cứu tương đối chuyên biệt do vậy trong quá trìn h biên soạn sách một số tác giả đã chú

ý tới việc sắp đặt tư liệu đạt đến tín h khoa học giúp người đọc n hộn thức

có hiệu quả vấn đê nêu ra

Trang 23

Công tác nghiên cứu khua học vê văn học dân gian Hà Tây thời kỳ này

đã đưực đ ặt ra

Cuốn sách m an g tín h khoa học, phản á n h cấp độ n g h iên cứu sâu là cuốn

H á t dô h á t chèo tâu của hai tác giả T rần Bảo Hưng và N guyễn Đ ăng Hòe

Hai tác giả của cuốn sách dã sử dụng phưưng pháp nghiên cứu liên n g à n h

để tiếp cận hai loại h ìn h dân ca h át dô và h át chèo tầu N g h iê n cứu văn

b ản học, âm nhạc, phong tục tập quán, nghi lễ diễn xướng Đây là cuốn sách

n g h iê n cứu nghiêm túc, đảm bảo tín h chính xác vê tư liệu điền dã, xử lý văn bản, ghi chép b ằn g ngôn ngữ âm nhạc giúp ích r ấ t n h iều cho b ạn đọc tiế p cận m ột cách hệ thống đối tượng h á t dô, h á t chèo tầu

Cuốn Đ ịa c h í văn hóa dân gian T hăng Long - Đ ông Đô - H à N ộ i thực

h iệ n tro n g thời gian 6 huyện, thị xã Hà Tây tách n h ập về Hà Nội Các tác già biên soạn đều đã khai thác nguồn tài liệu ở vùng t ỉn h Sơn Tây cũ để

th ự c h iện các chương viết trong địa chí N hìn chung, công t r ì n h đá điểm, giới th iệ u n h ữ n g n é t chung, tiêu biểu cho vùng văn hóa xứ Đoài Do bị giới

h ạ n ở số tr a n g và chương mục, cuốn sách dành 2 chương (ca dao, tục ngữ; tru y ệ n d â n gian) khảo cứu văn học dân gian đê cập tới m ột số vấn đê n h ậ n

th ứ c về văn học dân gian vùng đất Hà Tây

Cuốn Cuộc kh ở i n g h ĩa Hai Bà Trưng ở Hà N ội, tác giả Nguyễn Vinh

P h ú c th ò n g qua nguồn tư liệu Hán Nôm và truyền thuyết ở các địa phương

để p h ân tích dựng lại th â n th ế sự nghiệp cứu nước của Hai Bà Công tr ìn h giúp người đọc n h ậ n thức vai trò của truyền thuyết đối với lịch sử dân tộc

Năm 1994, xuất hiện còng trìn h N g h ệ thuật biểu d i ễ n tr u y ề n t h ố n g người

V iệt H à T â y của nhóm tác giả Lê Ngọc Canh, Tô Đông Hải, Lưu D anh Doanh

ở Viện N ghiên cứu văn hóa dân gian Các tác giả đã dành n hiều tr a n g trong

19

Trang 24

-chương II: N g h ệ th u ậ t âm nhạc để p hân tích và nêu n h ữ n g giá tr ị của các

loại d ân ca ở Hà Tây [3, tr.31-87]

SỐ bài n g h i ê n cứu về v ăn học d ân gia n Hà T â y đ ă n g t r o n g s á c h c h u y ê n

đê, tạp chí chuyên n g à n h trong n h ữ n g năm qua cũng không quá hiếm hoi

T hông th ư ờ n g các học giả Cao Huy Đỉnh, 1104, t r 65-99], Đ inh Gia K h án h [44, t r 93-102], Kiều T h u Hoạch [104, t r 172-232], Phan Ngọc - P h a n Đ ăng

N h ậ t [66, t r 21-31] trong bài viết của m ình đã đặt văn học d ân gian Hà Tây tro n g m ột cái n h ìn tổng th ể văn học dân gian của người Việt vùng châu

thổ sông Hòng Nguyễn T ấn Đẩc có bài Đọc lại truyện Sơn T in h - T h ủ y T in h

[14, t r 51-56], nêu ra cách n h ìn mới đối với Sơn T inh T h ủ y T in h Nguyễn

Xuân Diện có bài T h ử tìm h iểu dấu ấn huyền thoại Sơn T in h - T ả n V iên Sơn T h á n h trong n h ữ n g bản th ân tích [12, t r 41-44].

Một số tác giả ng h iên cứu văn học dân gian Hà Tây th ô n g qua văn hóa dân gian hiểu văn học dân gian với khái niệm th u ậ t ngữ folklore, m ột loại

h ìn h n ghệ th u ậ t nguyên hợp Ở cách tiếp cận này, Phư ợng Vũ có bài Văn hóa d â n g ia n trong sự n g h iệp văn hóa Hà Sơn B ìn h [121, tr.7-10], Đặng

Tu với bài M ột s ố tư liệu văn hóa d â n gian ở xã P hú Lương [105, t r 24-29], Nguyễn T h ị Hương Liên với b à ỉD t tích lịc h sử và hội làng H ạ T h á i [51, tr 21-23], Chu Huy với bài H ội rước th à n h hoàng tổng Hà Hôi và lai lịc h Cao Sơn dại vương [32, t r 40-46]

Ngoài ra, một số nhà sử học khi thực hiện chuyên đê đ ặt ra tro n g luận

\ ă n đã khai th ác t r iệ t dể nguồn tư liệu văn học dân gian ở địa phương Tác

£Ĩả Đ inh Văn N h ậ t với các bài viết: Đất Căm Khê, căn cứ cuối cùng của

H ai B à T r ư n g tr o n g cuộc k h ở i n g h ĩ a M ê L in h n ă m 4 0 -4 3 [6 9 , t r 2 6 -3 4 ], [69,

tr.31-40], H uyện Mê L in h vê thời H ai B à Trưng [71, t r 24-43], Đ ất Mê L in h -

T r u n g t â m c h ín h tr ị , quân s ự vù k i n h t ế cùa h u yện M ê L i n h vẽ th ờ i H ai

20

Trang 25

B à T rư n g [70, t r 35-51] dã chứng minh suy đoán khoa học cho r ằ n g đ ất Mê

Linh thuộc vùng Hạ Lôi (Thạch Thất) tỉn h Hà Tây Nhà d â n tộc học T rầ n

Từ bài: Góp p h â n t ì m h iể u là n g Việt c ổ tru y ền - L à n g x ã H ư ơ n g S ơ n [109,

t r 34-48] đã khai thác nguồn truyền thuyết ở địa phương để n g h iê n cứu n h ữ n g

vấn đê về làng Việt cổ truyền Tác giả Minh Tú có bài: Vê L ý Narn Đ ế [107,

t r 62-68] cho rằn g vùng Hoài Đức là nơi tụ binh khởi nghĩa của Lý Nam Đế dựa vào một số nơi thờ và th ầ n phả vê tướng lĩnh của Lý Nam Đế ở tro n g vùng

Tóm lại, công tác nghiên cứu khoa học về văn học d â n gian Hà T ây đã đượ: n h iều tác giả quan tâm và đạt được những kết quả n h ấ t định Có điều các bài ng h iên cứu mới đê cập chuyên sâu ở từng thể loại, từ n g vấn đề nhỏ,

t ừ n í vùng, còn hiếm n h ữ n g công trìn h mang tín h bao quát có tín h hệ th ố n g của m ột chuyên luận chuyên ngành văn học dân gian

IV- Ý NGHĨA THựC TIẾN, ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

1 Đ ó n g góp m ứ i c ủ a đề tài

- Luận án Văn học dân gicui Hà Tày và việc chấn hưng văn hóa đ ịa phư ơ ng với Ỷ muốn tiếp th u một cách khoa học th à n h quà sưu tầm , n g h iên cứu văn

h óavăn học dân gian Hà Tây của các tác giả di trước để n â n g cao, sắp đặt

t h à i h m ột công t r ì n h nghiên cứu có tín h hệ thống, n h ấ t là về diện mạo th ể loại phương thức lưu truyền, giá trị phản án h hiện thực th ể h iện sin h động đặc điểm, tín h ch ất của một vùng văn hóa cổ xưa của người Việt

- Luận án k h ẳ n g định vai trò quan trọng của văn học dân gian đối với

việc chấn hưng văn hóa ở địa phương và vứi cuộc sống xã hội hiện đại Công

t r i m c h ứ n g m i n h sức s ố n g m ã n h liệt của văn hoc dân gian mà c h ú n g ta

Trang 26

- Luận á n là tài liệu có tính thời sự giúp các nhà lãnh đạo, các n h à quản

lý văn hóa ở t ỉ n h Hà Tây trong công tác chỉ đạo hoạt động văn hóa tr ê n địa bàn; giúp các n h à soạn thảo chính sách có cơ sở khoa học về vốn văn hóa tr u y ề n th ố n g ở địa phương để định hướng chiến lược p h á t tr iể n văn hóa

th ô n g t i n Hà T ây n h ữ n g năm tới đến năm 2000

- Luận án cung cấp tư liệu và đê xuất nhiều ý kiến đ á n g lưu ý để bạnđọc n h ấ t là các tác giả nghiên cứu và các cán bộ hoạt động n g h iệp vụ vănhóa th ô n g tin ở Hà Tây tiếp tục đâu tư công sức, trí tuệ giải quyết n h ữ n g vấn đê lý th ú về mối quan hệ giữa văn học dân gian Hà Tây' với đời sống

xã hôi h iện đại

- Luận á n đóng góp một tiếng nói chứng m inh sự đa dạng, sắc th á i riên g

vê phương diện văn hóa của vùng đất Hà Tây trong một c h ỉn h th ể th ố n g Iih ất của n ề n văn hóa Việt Nam, từ đó tạo ra niềm tự hào vê quê hương xứ

sở, n iềm yêu m ến quí trọng của bạn bè du khách gần xa về đ ấ t Hà Tây văn hiến

V- C ơ CẤU CỦA LUẬN ÁN

Luận án dày 1 8 \ trang, ngoài phần Mở dầu và Kết luận bao gôm 4 chương:

Trang 27

- Chương Một: Đặc điểm địa lý, lịch sử, văn hóa tỉn h Hà Tây

- C hương Hai: Diện mạo văn học dân gian Hà Tây

- Chương Ba: Giá trị văn họe dân gian Hà Tây

- Chương Bốn: Đóng góp của văn học dân gian Hà Tây vào việc chấn hưngvăn hóa địa phương,

m inh họa và th ư mục có 143 tài liệu tham khảo

Trang 28

CHƯƠNG MỘT

Đ Ặ C Đ I Ế M Đ ỊA LÝ, L ỊC H s ử , VĂN HÓA T Ỉ N H HÀ TÂY

V ăn học dân gian phản á n h muôn m ặt cuộc sống đời th ư ờ n g của cư dân

ở một v ù n g đất Các yếu tố về địa lý, lịch sử, văn hóa chi phối thư ờ ng n h ậ t đến s in h hoạt của cư dân, ả n h hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá t r ìn h

sá n g tác văn học của họ Cho nên, trước khi bước vào t h ế giới phong phú,

da d ạ n g để nhận ra diện mạo, giá trị của văn học dân gian Hà Tây, chúng tôi điểm n h ữ n g n é t đặc trư n g về địa lý, lịch sử, văn hóa của vùng đ ấ t đó

nói n h ư Nguyễn T rãi trong sách Dư đ ịa ch í "là d ứ ng đầu p h ê n g iậ u p h ía tây d ứ n g đầii p h ê n g iậ u p h ía nam'' [36, t r 220 + 221] của k in h đô.

Hà Tây có vùng núi cao Ba Vì, dãy núi dô sộ, chót vót ba ngọn, ngọn cac n h ấ t hơi th ắ t cổ bồng gọi là Tản Viên, cao 1281m, n ằm ở phía tây đông

Trang 29

- 25

b ằ n g Bắc Bộ Nưi đây thường p h á t ra những cơn dông lớn gây mưa cho vùng

c h â u thổ Dân gian đã đúc kết kinh nghiệm khi quan sá t núi Ba Vì: Đội m ũ

sớ m n a i, th ắ t dai chiêu tối (nếu thấy núi Ba VI mây phủ tr ê n đỉn h th ì sớm

m ai fẽ có mưa Khi xuất hiện mây ngang lưng núi thì sẽ mưa vào buổi tối).Phía nam tỉn h có dãy núi đá vôi ở huyện Mĩ Đức Nưi ấy có n h iều hang

đ ộ n g tro n g đó nổi tiến g có động Hương Tích

Rẻo đ ấ t ven chân núi phía tây của tỉn h gồm các huyện Ba Vì, Phúc Thọ,

T h ạc a T h ất, Quốc Oai, Chương Mĩ phần lớn là vùng đôi gò b á t úp N h ữ n g

t ầ n g đất bị nung nóng dưới n ắ n g m ặt trời nh iệt đới, b ấ t chợt gặp n h ữ n g cơn nưa, tạo phản ứng làm đá ong hóa tần g đất

Còn lại là đông bằng tương đối bằng phẳng chạy t h ấ p dần xuống phía

n am , chiếm phần lớn diện tích toàn tỉn h nằm ở phía tây n a m bao quanh th ủ

dô H i Nôi, trong đó "có 1 2 1 9 7 4 h a đ ấ t canh tác, d ứ n g h à n g th ứ 7 v à c h i ế m

tỷ lệ 6,2% trong tổng sô đ ấ t dai canh tác của các tỉn h m iê n B ắ c" [50, tr.9]

r ấ t t lu ậ n lợi ph át tr iể n nông nghiệp trồng lúa nước

Hà Tây có 6 con sông cổ (sông Đà, sông Hồng, sông T ích, sông Đáy, sông

N huệ sông Bùi) chảy qua với tổng chiều dài 436km tạo n ê n n h ữ n g bãi bồi

p h ù a màu mỡ th ích hựp p h á t triể n nghê trồng dâu nuôi tằm và trồ n g các cây cóng nghiệp, N hững con sông ấy xưa kia là huyết mạch giao th ô n g đường

th ủ y để giao lưu kinh tế văn hóa giữa các vùng và hội n h ậ p với đ ất kinh

kỳ Nhiều đô thị, thương cảng lớn đã hình th àn h bên các tuyến đường sông

đó Ở th ế kỷ th ứ 6, thời Lý Nam Đế lập nước Vạn Xuân ra đời một đô thị

mới gọi là Ô Diên ở vùng Hạ Mỗ, Đan Phượng bên bờ sông Đáy "chỗ ở của

T riệ u Việt Vương" [129, tr.289] Ở th ế kỷ thứ 10, thời loạn 12 sứ quân, Đỗ

C ảnh Thạc từng cát cứ củng cố T h à n h Quèn, một th à n h cổ ở xã T uyết Nghĩa, Liệp Tuyết tả ngạn sông Tích (Quốc Oai) và xây dựng th à n h cổ ở địa phận

Trang 30

26

-t h ô n B ìn h Dà (T h an h Oai) bên bờ sông Đỗ Động phân lưu của sông Đáy Hai

t h à n h này đêu là tr u n g tâm kin h tế tro n g vùng "P hủ ứ n g T h iê n (ứ n g Hòa)

b ê n bờ sô n g Đáy, n h à Lý từ ng chọn làm N a m K in h " [136, tr.222] Câu tục

ngữ: T h ứ n h ấ t k i n h k ỳ, th ứ n h ì Bợ, B ạ t p h ản á n h xã T òng Bạt (Ba Vì) bên

bờ sông Đà m ột thời nổi tiếng là nơi đô hội Cửa sông H á t mà sau này là

b ế n Đại P h ù n g thời Lê từ n g buôn bán sầm uất, nh à bác học Lê Quý Đôn

v iế t sách K iế n văn tiểu lụ c, cuối th ế kỷ 18, có đoạn viết: ''Xã Đ ại P h ù n g

h u y ệ n Đ an P h ư ợ n g ở vào chỗ xu n g yếu, vừa thủy vừa lục, là nơi tụ họp đông

đ ú c cùa người buôn bán" [129, tr.289].

Ngay từ t h ế kỷ th ứ 10, th ứ 11, Hà Tây có con đường thượng k in h chạy qua nối cố đô Hoa Lư với th à n h Long Biên lịch sử; có con đường T h iê n Lý nối k in h đô T h ă n g Long với các miền đ ất mở rộng dần về phía nam, nay

là đường số 1 N h iều t h ế kỷ trước Hà Tây đã có n h ữ n g con đường huyết th ố n g (đường số 6, đường 11A ngày nay) nối k in h đô với các v ù n g thượng du Tây Bắc, V iệt Bắc giữ vị t r í quan trọ n g về k in h tế và quốc phòng

Đặc điểm địa lý Hà Tây tuy có n h ữ n g m ặt th u ậ n lợi n h ư n g cũng gây cho địa phương không ít khó khăn Nằm tro n g vùng khí hậu n h iệt đới gió mùa, h à n g năm vào mùa mưa, tr u n g bìn h có khoảng 2,5 cơn bão từ biển Đông

đổ bộ vào m iền Bắc và h àn g năm, Hà Tây "trung b ìn h có ch ừ n g 100 ngày

có dòng" [16, tr.72], gây ra mưa lớn dẫn đến lũ sông và ngập lụt các cánh

đông Đã vậy lượng mưa lại ph ân bố không đêu, có thời kỳ kéo dài nhiều

tu ầ n lễ k h ô n g mưa tro n g điều kiện n h iệ t độ cao của mùa hạ dẫn tới có nguy

cơ h ạ n tr ầ m trọng Ấy vậy, tro n g mùa hạ lại xuất hiện n h ữ n g đợt gió tây

khô n ó n g lạ thường, dân gian gọi là "gió chảng" hay "n ắ n g chảng" Vùng đôi

núi phía tây gặp n h ữ n g ngày gió chảng mức độ khô nóng càng tăn g nhiều loại cây trồ n g kém chịu hạn bị khô héo rồi chết Vùng đôi trọc rộng lớn nửa

Trang 31

ph ía tây của tỉn h mà thổ nhưỡng chủ yếu là feralitic (đá ong) nên "m ặt đ á ong trơ trụ i lạnh di nhanh chóng ban đ êm và nóng lê n d ữ dội ban ngày

có tác d ụ n g lùm cho k h í hậu đ ịa phương trở nên p h â n new kh ắ c n g h iệ t hơn"

[16, tr.4J Xưa kia mùa màng bị th ấ t bát do thiên tai xảy ra thường xuyên dối với cư dân nông nghiệp Hà Tây Do vậy để thích ứ n g với môi trường địa lý người dân Hà Tây phải đắp đê phòng lũ, đào giến g tr ữ nước Vùng

Ba Vì là nơi khởi thủy đắp đê trị lũ sông Đà, sông Hồng Khí hậu có ph ần khắc nghiệt, năng suất cây trồng thấp nên bao đời nay đã h ln h th à n h nếp

sống căn cơ hà tiện ăn bữa nay lo bửa mai, "Được m ù a ch ớ p h ụ ngô khoai,

đ ế n k h i thất bát lấy ai bạn cùng" của người Hà Tây T ro n g nếp ở, cư dân

Hồ T ây chú ý tới một chỗ đất cao ráo, một ngôi nhà to vững chãi vừa để

ch ố n g bão gió vừa duy trì dài lâu tuổi thọ của ngôi n h à coi đó n h ư là của cải để lại cho con cháu

Cư dân có m ặt rấ t sớm ở vùng đất này N hữ ng t ầ n g văn hóa (ốc, đá, xương th ú ) của người nguyên thủy phát hiện ở hang S ữ n g Sàm (tuyến Long Vân, khu th ắ n g cảnh Hương Sơn) có niên đại trê n một vạn năm [114, tr.214]

m an g tru y ền thống đá cuội gạch nối văn hóa Hòa Bình và văn hóa Bắc Sơn [123, tr.96-103] Như vậy, cách nay trên vạn năm người nguyên thủy đã sống

ở các h a n g động vùng núi đá huyện Mĩ Đức

Vùng chân núi Ba Vì mở rông ra các khu vực đôi só t hai bên bờ sông Tích là vùng đ ất cổ Các nh à khảo cổ phát hiện một di chỉ tại núi Phượng Hoàng xã Sài Sơn (Quốc Oai), qua gần 100 hiện vật (m ảnh gốm, rìu đá, xương

động vật) xác định di chỉ "thuộc văn hóa P hùng N guyên, có n iê n đ ạ i 3500 -

40 0 0 năm trước" [2, tr.3] Như vậy, 4000 năm trước đây, người Việt cổ đá

có m ặt ở vùng đôi Phủ Quốc Điều này phù hựp với k ết luận khoa học của

các tác giả công trình: Văn hóa và cư dân đồng bằng sô n g ỉĩỗ n g cho rằng

27

Trang 32

-c:ách đây 7000 - 4000 năm "vào lúc cực d ạ i bờ b iể n t i ế n s â u và o đ ấ t liề n ,

Ịnhủ k í n đ ô n g bằng sông H ông từ Chương Mỹ, vòng lên Đ an P h ư ợ n g " [46,

t t r l l ] , cách đây 2700 năm, bờ biển nằm ờ Mỹ Đức, Thường Tín cách đây Ì2.000 năm thì biển đã lui xuống Ninh Binh, Nam Định Các dòng sông nội ttỉnh, sông T ích hình th à n h sớm hơn cả, sau dó đốn sông Đáy, sông Nhuệ

wồ sông Tô Lịch Vê cơ bản cảnh quan Hà Tây là kiểu đông b ằ n g bóc mòn - ttích tụ xen đôi sót và kiểu đông bằng tích tụ phù sa (phù sa cao và phù sa imâi th ấp )

T ro n g thời kỳ biển lui, các cư dân từ vùng chân núi Ba Vì lấn xuống (chiếm lĩn h khai phá dong bằng Cho tới thời kỳ nhà nước Âu Lạc ra đời đóng (dó ừ Co Loa th ì Hà Tây đả là vùng dàt dông đúc cư dân n ằ m tro n g quốc Igia Âu Lạc

H à n g loạt các di chỉ khảo cổ về nền văn hóa Đông Sơn đã được khai quật 'VÌ tìm thấy ở vùng đông bằng Hà Tây Gồm các loại hình sau:

- Loại h ìn h di tích di chỉ cư trú: Di chỉ Hoàng Ngô (Quốc Oai), di chỉ

V n h Q u an g (Hoài Đức), di chỉ Phú Lưưng (T hanh Oai)

- Loại h ìn h di tích di chỉ cư trú - mộ táng: Di tích V in h Q uang (Hoài Đíc), di tích Đường Cô (Phú Xuyên)

- Loại h ìn h di tích mộ tống: Di tích Châu Can, di tíc h Xuân La (Phú Xiyên), di tích M inh Đức ( ứ n g Hòa)

- Loai hìn h di tích di vật p h á t hiện lẻ: Di chỉ Giếng Sãi (xã Hạ Bằng,

Trang 33

t i ế hệ này kế tiếp th ế hệ kia kiên n h ấn và thủy chung với đôi đ ất quê hương,

lê n tục lao tác, liên tục biến đổi góp phần làm nên nền văn hóa P h ù n g Nguyên,

Cò M un và đặc biệt là nền văn hóa Đông Sơn rực rỡ ở v ù n g tam giác châu tiổ sông Hông trong quốc gia của các vua Hùng

Q uá t r ìn h dựng nước và giữ nước công xã nông thôn ở H à Tây ngày một cing cố, tín h cộng đông thôn, xã ngày một bền chặt

Rõ ràng, ngay từ buổi bình m in h của lịch sử dân tộc, ra đời nh à nước

sế khai, Hà Tây đã là vùng đất một trong 15 bộ của quốc gia Văn Lang thống

m ấ t (Bộ Giao Chỉ)

T ìm tro n g các th ư tịch cổ b iết rằ n g thời Hùng Vương, Hà Tây thuộc đất Fhong Châu; thời thuộc H án là quận Giao Chỉ

Sau đó tỉn h Sơn Tây cũ thời Bắc thuộc là quận Tân Hưng, quận T ân Xương,

Châu Hưng, Châu Phong hay đạo Lĩnh Nam "Trong buổi đ ề u đ ấ t nước độc

lậ> tự chủ, đ â y là châu (P h o n g Châu v à Quốc Oai dưới t r i ề u Đ i n h , T i ê n Lê,

Ụ ), lộ (thời Trần) Thờ i Lê, dây là Tây Đạo N ăm Q uang T h u ậ n th ứ 7 gọi

l i Q u ốc Oai th ừ a tu yên và n ă m th ứ 10 gọi là Sưn T â y th ừ a tu yên T ê n S ơ n

T ìy b ắ t đ â u từ đó N ă m I f ô n g Dức th ứ 21 d ổ i th à n h xứ S ơ n T â y rôi tr ấ n

S m T â y b(U) g ô m t ỉn h Sơn T â y, tin h Vinh Phú và cả liu ỵện T ừ L i ê m , m ộ t

p ià n H à Đông, Hòa B ìn h N ă m M in h M ệnh th ứ 12, tin h Sơn Tây c h ín h tlứ c dược th à n h lập" [64, tr.62] Từ năm 1892 đến khi hợp n h ấ t với tỉn h

Trang 34

30

-Hà Đông cũ thành tỉnh -Hà Tây (1-7-1965), Sơn Tây gôm 2 phủ: Quảng Oai, Quốc Oai và 4 huyện: Bất Bạt, Tùng Thiện, Thạch T h ất, P h ú c Thọ Ngày nay tương đương với 4 huyện Ba Vì, Pluìc Thụ, Thạch T h ất, Quốc Oai, 1 thị

Đô Thời Nguyễn, Hà Đông thuộc Sơn Nam thượng trấn N ă m M inh M ệnh

t h ứ 12 (1831) lập tỉn h Hà Nội gồm 4 phủ, 15 huyện (phủ Hoài Đức, phủ

T h ư ờ n g T ín, p h ủ ứ n g Hòa, phủ Lý Nhân) Năm 1888, triề u đ ìn h n h à Nguyễn cắt hai huyện T h ọ Xương và Vĩnh Thuận cho Pháp làm n h ư ợ n g địa (Hà Nội)

N ăm 1890, p h ầ n đất còn lại của tỉn h Hà Nội gọí iầ tỉn h ơ â u Đơ Năm 1904

c h ín h thứ c đổi t h à n h tỉn h Hà Đông gôm 10 phủ, huyện: T h ư ờ n g T ín, ứ n g Hòa, Mĩ Đức, Hoài Đức, T h an h Trì, Phú Xuyên, T h an h Oai, Chương Mỹ, Đan Phượng, Hoàn Long

Sau ngày hòa b ìn h lập lại tỉnh Hà Đông gồm 8 huyện: P h ú Xuyên, Thường

T ín , ứ n g Hòa, Mĩ Đức, Hoài Đức, T hanh Oai, Chương Mĩ, Đan Phượng và

m ột th ị xã Hà Đông

Ngày 1-7-1965, tỉn h Hà Đông và Sơn Tây hợp n h ấ t t h à n h tỉn h Hà Tây gôm 2 th ị xã và 12 huyện Năm 1975, Hà Tây hợp n h ấ t với tỉn h Hòa Bình

t h à n h tỉn h Hà Sơn Bình Năm 1979, tách 6 huyện, thị xâ (Sơn Tây, Đan

P hư ợng, Hoài Đức, T h ạc h Thất, Phúc Thọ, Ba Vì) của tỉn h H à Sơn B ình nh ập vào Hà Nội N ăm 1991, Quốc hội điều chinh dịa giới cấp tỉn h , tỉn h Hà Tây

t á i lập lại gôm 2 thị xã (Hà Đông, Sơn Tây) và 12 huyện (P h ú Xuyên, Thường

Trang 35

T ín , ứ n g Hòa, Mĩ Đức, Hoài Đức, T hanh Oai, Chương Mĩ, Đan Phượng, Quốc Oai, T h ạc h T h ấ t, Phúc Thọ, Ba Vì) [Phụ lục I],

II- HÀ TÂY ĐẤT TRẢM NGHÈ TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI

KINH ĐỐ THẢNG LONG - HÀ NỘI

Hà Tây là số ít trong những tỉn h ở Việt Nam rấ t t h ị n h đ ạ t các nghề

t h ủ công T ừ lâu, du khách đã coi Hà Tây là đất trăm nghề nơi hội tụ n h ữ n g bàn tay vàng ngọc

Nghề ở đây được hiểu là nghề phụ ngoài nghề chính làm ruộng Nghề

p h ụ th ì có h à n g tră m nghề song để đạt tới làng nghề, xã nghề th ì t h ậ t là hiếm hoi

Theo ch ú n g tôi gọi là làng nghề phải đạt được tiêu chí sau:

3 L à n g đ ó có g i a i đ o ạ n d à i p h á t tr iể n ngtìê, tr ả i q u a n h iê u b i ế n c ố th ă n g

trả m vẫn g iữ dược nghê Ở làng đ ã h ìn h thành n h ữ n g tru ỳ ê n thống, nếp

số n g n h ư tục th ờ cúng tổ nghề, phường hội, sin h hoạt văn hóa

N h ắc đến Hà Tây người ta nghĩ ngay tới tầm tang canh cửi N h ữ n g thềm

đ ấ t p h ù sa mỡ m àu bên các con sông cổ như sông Đà, sông Hồng, sông Đáy,

sô n g Nhuệ r ấ t th íc h hợp cho việc trồng dâu nuôi tằm H uyện Mĩ Đức bên

d ả i sông Đáy có hàng chục làng mà nghề sống chính là chăn tằm ươm tơ

Trang 36

n h ư Đốc T ín, T r in h T iết, Phù Lưu Tế Nhờ dó Mĩ Đức tr ở th à n h t h ủ phủ tằm tơ của tỉn h

Trước đây cũng n h ư bây giờ, Hà Tây vẫn nổi tiến g vê nghề dệt N hữ ng làng dệt chạy suốt theo các triền sông như làng Hòa Xá ở ứng Hòa, làng

P h ù n g Xá ở Mĩ Đức, T ân Lập ở Đan Phượng, La Khê, Vạn Phúc ở thị xâ

Hà Đông Sản phẩm cao cấp của nghề dệt là lụa là, gấm, vóc Lụa Hà Đông

kh ô n g chỉ nổi tiế n g tro n g nước mà tiếng tăm còn vang xa tới n h iều nước

tr ê n t h ế giới

Vạn P h ú c là một làng dệt lụa điển hình ph át triể n ng h ề cổ tru y ền của quê hương Dẫu m ặ t h à n g tơ lụa đòi hỏi kỹ th u ật tin h xảo song với bàn tay khéo léo, tài hoa, n h ữ n g người thợ th ủ công Vạn Phúc đã làm cho sản phẩm lụa đ ạ t đến hoàn mĩ cả về chất lượng lẫn hình thức N hiều loại lụa từ làng Vạn P h ú c xu ất k h ẩu đi các nước trên thê giới rất đưực khách h à n g m ến chuộng 70% d â n làng sống dựa vào nghề dệt, đảm bảo th u n h ậ p cao so với người trồ n g lúa

Đ án g lưu ý lồ, ở Hà Tây, tỷ lệ các làng nghê nổi dan h cả nước với sản

p h ẩ m được tiêu th ụ rộng, chiếm khá cao

Hà T ây có 300 xã, 10 phường, 14 thị trấn, theo số liệu khảo s á t của Sở Công n g h iệp th ì 174 xã có nghề th ủ công nghiệp - dịch vụ tro n g đó có 52

xã nghề tiêu biểu và 36 làng Iighề nổi tiếng Ở n h ữ n g làn g này số hộ làm nghề t h ủ công nghiệp chiếm tỷ lệ trên 60%

L àn g Chuyên Mĩ (P h ú Xuyên) là quê gốc đạt tr ìn h độ điêu luyện v'ê nghề

k h ả m trai Thợ Chuyên Mĩ có mặt ở khắp nước thực hiện công đoạn khảm trai ốc lóng lánh á n h xà cừ lên mĩ nghệ sơn mài và các đô gỗ quí phục vụ xuất khẩu

Trang 37

Làng N hân H iền (Thường Tín) từ lâu đời đâ giỏi nghề điêu khắc gỗ Đôi

b à ĩìta y ngọc ngà kiên n h ẫ n từng ngày tỉa tót các n ét chạm biến n h ữ n g khúc

gỗ (Uý th à n h n h ữ n g h ìn h tưựng nghệ th u ậ t độc đáo, giàu sức tru y ền cảm.Làng Kim H oàng (Hoài Dức) chuyên khắc ván in t r a n h dân gian trê n

liền giấy đỏ, một tro n g 3 dòng tran h nổi tiếng ở vùng châu th ổ (Kim Hoàng,

Đôrg Hồ, H àn g Trống)

N h ữ n g người thợ pháo Bình Đà lại chuyên tâm tìm tòi để khai th ác h ết

vẻ cẹp kỳ th ú của c h ất cháy sáng sáng tạo ra nhữ ng cây pháo bông với nghệ

th u it chơi pháo hấp dẫn người xem Pháo bông Bình Đà từ n g có m ặ t ở mọi

m iề i đ ấ t nước Các đại sứ quán của nhiều nước ở Hà Nội r ấ t yêu th íc h loại phát này

vòn phải kể tới n h ữ n g đôi bàn tay vàng của nh ữ n g người thợ th êu Quất Độn; (T hường Tín) Chỉ bằng cây kim và nhửng sợi chỉ m àu vậy mà n h ữ n g

m ô u m ã và các tác p h ẩ m nghệ th u ật được họ tái tạo lại làm cho bức tr a n h

t h ê i s in h động, mới lạ thêm

jà n g tiện N hị Khê cho ra đời hàng loạt sản phẩm t h iế t k ế m ẫu tra n g

sứ c S ả n p h ẩm sơn mài làng Duyên T hái nước sơn bóng sâu, lung linh, huyền

ảo íón làng Chuông nhẹ bay, duyên dáng, đậm đà tâm hồn dân tộc Đồ mây

P h ú Hoa n é t đan mềm mại, n ét th ắ t dịu dàng, màu sắc tr a n g nhã Mối làng mỗi Ìghề, mỗi nghề mỗi vẻ làm phong phú truyền th ố n g nghề th ủ công của

Trang 38

của tỉn h R ất nhiều sản phổm thủ công Hà Tây tham gia các hội chợ quốc

tê đã g iật giải cao

Điều cần nói là sản phẩm tiểu thủ công ở Hà Tây mang đậm dấu ấn truỳên thống T ru y ền thống là sức m ạnh bên trong của mỗi người thợ ở làng nghề,

là k ết tụ tin h hoa của một vùng đất không dễ gì nơi khác học được Thực tiễn cho th ấ y ở thời bao cấp rấ t nhiều nghệ nhân các làng nghề tru y ền th ố n g

Hà Tây được mời đi truyền nghề ở các tỉn h bạn, nhiều nơi học được nghề, song cơ c h ế thay đổi th ì n h ữ n g nơi ấy bị m ất nghề, chỉ ở nơi gốc còn giữ

và tru y ề n được nghề Sản phẩm truyền thống thể hiện p h o n g cách của một làng n g h ề tạo ra sắc th ái văn hóa ở địa phương

C ũ ng cần kh ẳn g địn h yếu tố con người làm ra các sả n p h ẩ m t h ủ côngtru y ền thống ít tỉn h nào có vốn thợ đôi dào tiềm lực n h ư ở Hà Tây Họ đông

về số lượng, lại tin h th ô n g nghề nghiệp và chiếm lĩnh ở n h iề u n g à n h nghề độc đáo Các nghệ n h â n đóng vai trò đột phá trong việc cải tiế n kỹ thuật, tăn g n ă n g su ất lao động, tạo ra những sản phẩm hoàn hảo

Các n g h ệ n h â n và các lớp thợ giỏi là vốn rấ t quý của t ỉ n h Hà Tây C h ín h

họ là n h ữ n g người th ày dạy nghề, say mê truyền lại nghề cho con cháu m ìn hbằng n h ữ n g kin h nghiêm sống, kinh nghiệm nghề nghiệp Các nghệ n h â n

đã sáng tạo ra phong phú các sản phẩm mĩ nghệ trong tiêu d ù n g h à n g ngày

và (láp ứ n g kịp thời n h u cầu tiêu dùng có tính "thời thượng" của các khách hàng tro n g ngoài nước Họ kế thừa nhuần nhuyễn hình d án g của các sản phẩm truyền th ố n g tạo dựng lại cho đẹp, mới, lạ Nghê làng có giử gìn p h á t huy đượ; hay k hông sở cậy vào họ

P hải nói rằn g kinh đô T h ăn g Long - Đông Đô - Hà Nội có ả n h hưởng

r ấ t quan trọ n g đến sự p h á t triển các nghề thủ công ử Hà Tây Kinh dô là

th ị trư ờ n g lớn tiêu thụ các sản phẩm thủ công Nói như ngôn ngữ bây giờ

34

Trang 39

-là đâu ra N h ữ n g -làng nghề nổi tiếng của Hà Tây đêu có các cửa h à n g bày bán ở th ủ đô Hà Nội Đã xuất hiện ngõ nghề, phố nghề xnà gốc gác ià các

hộ thợ th ủ công Hà Tây Có thể kể ra rất nhiều ví dụ m in h chứ ng cho điều này Làng Liên Bạt (ứ n g Hòa) th ịn h đạt nghề làm bún, có 96% số hộ của làng làm nghề Bún Bặt nổi tiếng trắng, sóng sợi, ăn mềm và thơm Hà Nội

có hẳn một xóm b ú n Bặt ở ngõ Thổ Quan Làng T rạch Xá xã Hòa Lâm ( ứ n g Hòa) khéo tay, từ xưa người làng chuyên đi may áo dài tru y ề n thống P h ố Lương Văn Can (tên một danh nh ân quê ở Nhị Khê Hà Tây) nổi tiến g may

áo dài của Hà Nội, th ì làng Trạch Xá có gần 20 hiệu may, người làng T rạc h

Xá ra làm ă n sinh sống ở Hà Nội nhớ về quê hương qua việc biển hiệu may

có kèm chứ "Trạch" n h ư "Đông Trạch", "Đức Trạch", "Tân Trạch", "Mỹ Trạch", 'H ư n g Trạch" T h ủ đô Hà Nội vào nhữ ng năm cuối th ế kỷ 16 ở phường Nam Ngư (phố Cửa Nam hiện nay) có nhiều cửa hàng chuyên làm và bán các đồ sơn Các thợ ở đó p h ầ n đông là người làng Chuòn Tre, Bối Khê (Phú Xuyên)

và làng Hạ T hái (Thường Tín), nh ữ n g làng sơn thếp, sơn k h ả m th à n h danh của Hà Tây Rồi p h ố Tố Tịch hàng xóm của hàng Đàn, h à n g Q uạt chuyên nghề tiệ n gỗ mà gốc gác có quan hệ với làng tiện Nhị Khê (Thường Tín) [88, tr.6 ] Ô Chợ Dừa tương truýền là nơi kẻ Dừa Yên Sở (Hoài Đức) m ang dừa ra bán [95, tr.318] Thợ mộc làng Chiếc đã th am gia làm n h ữ n g công trìn h nổi tiế n g ở k in h đô từ thời Lý nh ư Văn Miếu Thợ k h ả m Chuyên Mĩ

ra T h ă n g Long làm ăn và mở ra phố hàng Khay Nghề t h ủ công Hà Tây ầội nhập vào đất kin h kỳ góp phần làm phong phú các nghề th ủ công tru y ền ihốr.g ở Hà Nội Và còn điều này nữa những người thợ thủ công Hà Tây ra dất kinh kỳ đã mang theo nếp sống, những thuần phong mĩ tục của quê hương,

thể hiện ở tín h kiên nhẫn, cần cù trong lao động, đức thương người, yêu quê

ầưưng, ngưỡng kính tổ tiên, thể hiện ở sự khéo tay, hay m ắt, ở tâm hồn nghệ

íĩ tài hoa của người thợ, hẳn làm đa dạng sắc thái văn hóa của đất kinh kỳ

Trang 40

Ngược lại, văn hóa kinh đô nghìn năm văn hiến tạo ra nếp sống hào hoa

t h a i h lịch, trọ n g sự sang luôn luôn vươn tới sự đẹp th ô n g qua n h ữ n g người

th ợ th ủ công ả n h hưởng m ạnh mẽ tới các làng nghề ở Hà Tây Biết ăn, biết chơ, b iết giá trị của cái đẹp, người kinh đô đòi hỏi sản p h ẩ m của các làng nghê không ngừng cải đổi dể dạt tới sự hoàn mĩ

Một điều kỳ th ú là ở Hà Tây so với các tỉn h phụ cận k in h đô th ì tỷ lệ các làng nghề th ủ công mĩ Iighệ cao hơn hẳn Dường n h ư đã th à n h quy luật càn í xa k in h th à n h hay các đô thị lớn thì càng thưa vắng hơn các làng th ủ cônỉ mĩ nghệ và dường như cũng đâ th à n h quy luật ở nơi nào nhiều nghề

th ủ công mĩ nghệ p h á t triển ở nơi đó con người trở nên văn n h ã hơn, cái chấ ph ác tự nh iên được nâng lên theo quy luật của cái đẹp, tạo ra p h ép ứng

xử ,heo chuẩn mực của văn hóa đương thời

Qua khảo sá t 36 làng nghề được coi là nổi danh ở Hà T ây ch ú n g tôi rú t

ra n ộ t k ế t luận nhiều làng nghề th ủ công mĩ nghệ và làn g nghề ch ế biến nônỊ sả n th à n h sản phẩm tin h và ngon có đại lý tiêu th ụ ở k in h đô th ì n h ữ n g lànf ấy thường có các nhà thờ tổ, hay ngày giỗ các vị tổ nghề Vào ngày

ky 'iỗ Đức tiên sư này các chủ hộ sống bằng nghề làng lập n g h iệp ở kinh

đô iều h ằ n g niệm trở về quê hương bày tỏ lòng th à n h k ín h tổ nghề Kỵ giỗ

t h á i h sư nghề bún làng Liên Bạt (tục gọi làng Bặt) h à n g năm vào ngày 20

t h á i g 8 âm lịch Làng An Cốc có nghề làm giấy dó giỗ tổ vào ngày 10 th á n g giêig Xưa vào ngày này, người An Cốc di làm giấy ở các làng An Thái, An Hòa ven Hồ Tâv (Hà Nội) đêu về quê ăn giỗ tổ Làng tiệ n Nhị Khê giỗ tổ nghỉ vào ngày hai mưưi lăm th áng mười âm lịch Làng lưực sừng T h ụ y ứ n g giỗ tổ vào ngày rằm th á n g hai và rằm th án g tám Làng Q uất Động giỗ tổ nghi th èu là ông Lê Công Hành vào ngày 12 th á n g 6 â m lịch

36

-Rõ r à n g n h ữ n g ngày giỗ tổ nghề không chỉ dừng ở ý nghĩa "uống nước

Ngày đăng: 22/04/2020, 15:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w