1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Những xu hướng của nho học việt nam nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX và sự tác động của nó tới văn học

173 149 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 173
Dung lượng 33,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam có nhiều đặc điểm văn hóa và học thuật tương đồng với các nước khu vực Đồng Á Vậv, sự phát triển đột khởi của Nho học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX có quan h

Trang 1

■ tộ G I Á O IIỊIC V À « À O T Ạ O

ĐẠI HỌC QUỐC (Ỉ1A HẢ NỘI

TR/NG f)ẠI HOC KHOA HỌC XẢ HỘI VÀ NHẢN VÃN

NGUYỄN KI M SON

HÚNG XU HƯỚNG CỦA NHO HỌC VIỆT NAM CUỐI THÊ KỶ XVIII NÚA ĐÀU THẾ KỶ XIX

VÀ Sự TÁC ĐỘNG CỦA Ntì TỚI VĂN HỌC

Chuyên ngành : VĂN HỤC VIỆT NAM

IAIẬN ẢN PHÓ TIKN Sĩ KHOA HỌC NGỮ VÃN

-' -'• 1 :.v

No Ì L L A / 1 Người hướng dẫn khtìa học :

1 PGS TRẦN DÌ Nil ĨỈƯỌU

2 P GS l ì Ù ì D U Y T Á N

Trang 2

MỤC LỤC

A MỞ ĐÂU

B NỘI DUNG CHÍNH

Chương một: Bối cảnh học thuật cuối thê kỷ XVII, thê kỷ XVIII

và những yếu tô tác động trực tiếp đến Nho học nửa cuối

I Một vài văn đề nổi bật của Nho học các nước khu vực Đông Á

II Bối cảnh chung của Nho học Việt Nam đầu thế kỷ XVIII

III Tình hình tư liệu thư tịch cuối thế kỷ XVII, thế kỷ XVIII

Chương hai. Những xu hướng của Nho họcViệt Nam nửa cuối thê kỷ XVIĨI

Chương ba : Sự tác động của Nho học đối với văn học u i 27

II Sự phát triển của các lĩnh vực Nho học đưa khối hỗn nhập

Trang 3

III Xu hướng tổng kết sưu tầm chỉnh lý, chuẩn hóa cổ văn hiến

dân tộc trong Nho học và sự ra đời cùa các tuyển tập thơ văn trl34

IV Sự phát triển cùa Nho học theo hướng Thực học và tác động

cùa nó tới quan niệm văn học, tư tường thẩm mỹ irl 37

V Sự tác động của Nho học tới việc xây dựng hệ thống

VI Sự tác động của Nho học tới hệ thống chủ đè, đề tài của văn học tr 149

E DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN cứ u CỦA NGHIÊN cứ u SINH

ĐÃ CỎNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐÊ TÀI LUẬN ÁN.

Trang 4

A MỞ ĐÂU

I LÝ DO LựA CHỌN ĐÊ TÀI

Nhiều nhà nghiên cứu Nho giáo Việt Nam xưa nay thường cho rằng Tống Nho có ảnh hưởng lớn và lâu dài ở Việt Nam, kể từ thời điểm nó được đưa lên vị trí quốc giáo (đầu thế kỷ XV) cho tới khi vương triều Nguyễn bị lậl

đổ đầu thế kỷ XX Trong Nho giáo Việt Nam, Tống Nho được nhận diện một cách rõ ràng qua hệ các quan điểm chính thống, trước tác của các nho sỹ, qua

hệ thống kinh điển được lựa chọn để giảng dạy, học tập và khoa cử

Suốt nhiều thế kỷ, các quan điểm cùa Tống Nho luôn là “đất nghĩa trời kinh’*, khuôn vàng thước ngọc cho việc tổ chức nhà nước, xã hội luân lý đạo đức và học thuật Tuy tiếp thu Tống nho nhung các nho sỹ Việt Nam lại không chú ý nhiều đến mặt vũ trụ luận-một cống hiến lớn cùa Tổng Nho cho Nho giáo, mà đậc biệt nhấn mạnh mặt chính trị, luân lý đạo đức cùa nó.

Các nhà nho Việt Nam, trong một thời gian lịch sử dài, đặc biệt hứng thú với cống việc sáng tác thơ văn, để lại vãn tập thi tập mà íl chú ý lới khảo cứu, lới học thuậl Trong thời gian đi học, họ rèn giũa thơ vãn cốt đẻ thi đồ, khó có điều kiện theo đuổi cồng việc học thuật đã đành, khi đỗ làm quan rồi cũng khỏng mấy người đẻ ý tới cồng việc dó, việc học tập tri thức ít có sự thăng tiến tiếp theo Tình hình ấy dem lại sự phát triển cao v'ê mặt văn chương,

mà íl tạo ra được những thành lựu học Ihuật lớn Từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVII, việc biện luận tư tưởng, khảo cứu đúng sai cùa sử khảo cứu thảo luận v'c kinh điển, khảo chứng cổ vãn hiến nói chung ốêu rất íl thành lựu.

Trang 5

Nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX , Nho học Việt Nam có

những biểu hiện khồng hoàn loàn giống với tình hình chung ờ các giai đọan irước Đáy là Ihời kỳ Nho học nở rộ nhiều Ihành lựu là lũ ai đoạn có những biếu hiện imri trong cả hứng thú học thuật lẫn nội dung các trước túc của nho sỹ Thời kỳ này các nho sỹ bên cạnh việc vẫn tiếp tục “dùi mài kinh sử”

để cố công đoạt được bảng vàng bia đá, nhiều người còn chý V mở rộng kiến văn, theo đuổi việc học nhiêu biết rộng Qua việc kêu gọi chấn chỉnh học phong, sửa đổi sỹ khí cải cách thể vãn, đ'ê xướng văn chương, học thuật “cứu

chữa thời thế" cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, người ta đã nhận thấy giói nho VV đã có những nhận thức và đòi hỏi mói Chưa bao ai ờ có nhiều tác íĩiả

có số lựợng tác phẩm lớn như thời kỳ này Có người coi lập ngôn trước tác là lẽ sống của mình Họ không chỉ viết vãn làm thơ như các thế hệ cha anh, mà còn khảo cứu lịch sử, Ihảo luận về kinh điển Nho gia, bàn bạc triết học khảo chứng điển chương, chế độ, viết địa chí, biên soạn nhiêu công Irình mang lính chất bách khoa thư

Đỏ là những dấu hiệu khác dáng lun ý của Nho học nửa cuối thố kỷ

XVIII nửa đầu thế kỷ XIX Vậy cái khác, cái mới của Nho học giai cỉoạn nàV

cụ í hể là như thế nào? Xél trong lịch trình Nho học Việl Nam nó có ý nghĩa gì? (ỉiữa hiếu hiện b'ê nổi pho nạ phú, da dạn<ị các Irước lác của các nhà nho nửa cuối thể kỹ ỵ v iỉỉ nửa dan lìĩế kỷ XIX, có dòng mạch ngầm tư tưởng nào

trầm sáu trong nó, chi phối, liên kết xáu chuồi các trước íác lại thành các mãng học thuật tương đói biệt lập hav kháng? Có tư tưởng học thnậì nào chi phổi loàn bộ Nho học ihời kỳ này hay không? Điêu kiện nào, nỵuỵên nhãn nào (lãn đến sụ phái iriển dộĩ khói của Nho học thời kỳ' này? Nghiên cứu dể làm sáng tó diện mạo và dặc diếm nội dung của Nho học nửa cuối thế kỷ XVỈỈI nửa dầu ỉhếkỷ XIX vì thếirở íhành việc làm cần thiết, có ý nghĩa học thuật.

Trang 6

Từ cuối thế kỷ XVII tới đầu Ihế kỷ XIX, ở các nước có Nho giáo như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, đều xuất hiện mội trào lưu Nho học mới Trào lưu Nho học này là sự phát triển ở trình độ cao cùa Nho học iruyên Ihống kếl hợp với những xu hướng mới mè do những điêu kiện mới làm nảy sinh, tạo ra những ảnh hưởng lớn cả trong học thuật lẫn đời sống xã hội Đỏ là

trào lưu Thực học Irong Nho học Thực học ở các quốc gia kể trên vừa có nét

chung phổ biến, vừa có tính chất, trình độ khác nhau, khoảng thời gian xuất hiện và ảnh hưởng khác nhau Sự khác nhau đó có tác động lớn tới sự phát triển học thuật mỏi nước ở các giai doạn liếp theo.

Việt Nam có nhiều đặc điểm văn hóa và học thuật tương đồng với các nước khu vực Đồng Á Vậv, sự phát triển đột khởi của Nho học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX có quan hệ gi với trào lưu Thực học ở các quốc gia trong khu vực? Những đặc điểm cùa Thực học trong Nho học Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản có xuất hiện Irong Nho học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX ? Đặt vấn đề như vậy, việc chúng tỏi chọn Nho học Việt Nam khoảng thời gian nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế

kỷ XIX đổ nghiên cứu sẽ thích hợp cho việc so sánh đối chiếu mane lính dồng đại và tạo ra những khả năng để làm sáng tỏ nhiêu vấn đồ của Nho học Việt Nam thời kỳ này.

Mốc Ihời gian khởi đầu chúng lỏi chọn để nghien cứu là vào khoảng đầu thế kỷ XVIII khi có nhữnú dấu hiệu cùa những đòi hỏi mới phái sinh irong nội bộ Nho học Việl Nam biểu hiện cụ thể của nỏ là cuộc vận động sứa đổi Irong giáo dục và khoa củ' diổn ra khá rầm rộ là xu hướng phô phán học phong

hư rỗng, tầm trích do Bùi Sỹ Tiem, Ngô Thì Sĩ, Vũ Thạnh, Nguyễn Túng Quai đồ xưởng Khoảng Ihời gian nửa cuối thế kỷ XVIII nở rộ nhiéu nhất các irước tác Irẽn hầu kháp các lĩnh vực của Nho học Đáy cũng là khoảng thời

Trang 7

gian mà chúng tỏi tập Irung chú ý nhát trong quá trình tìm hiểu các xu hướng Nho học khác nhau.

Các tác gia lớn cùa Ihế kỷ XVIII như Nguyễn Nghiễm, Lê Quý Đốn, Ngỏ Thì Sụ Phan Huy ĩch, Ngô Thì Nhậm hầu hết đêu để lại các tác phẩm quan Irọng có niên đại cuối thế kỷ XVIII Họ là những lác giả tiêu bỉểu cho

có mật độ lớn các sự kiện văn hóa tinh thần theo xu hướng khác rõ rệt nhất

mà chưa phải là một sự phán kỳ Nho học.

Nhĩêu nhà nghiên cứu đi trước thống nhấi cho ràng: Nho học nửa cuối thế kv XVIII nửa đầu Ihế kỷ XIX phát triển trên nhiêu lĩnh vực nhi cu mặt khác nhau và ờ hầu hêì các linh vực đều cỏ nhi'ẽu thành lựu Chủng tỏi gọi sự phát triển ở từng lĩnh vực , theo những ngả đường khác nhau đó là những

xu hướng của Nho học Việc khảo sát Nho học nửa cuối thế k \ XVĨIỈ nửa đáu thế kỷ XIX dựa theo những xu hướng như vậy là một thao tác , một phương pháp theo chứng tối là hữu hiệu để làm sáng tỏ nhiẻu vấn đê của

Nho học giai đoạn này .

Khi nghiên cứu vãn học Việl Nam nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu Ihế kỷ XIX, các nhà nghiên cứu cũng thống nhất đánh giá đây là thời kỳ văn học cỏ

Trang 8

bước phát triển rực rỡ với nhiồu biểu hiện mới trong sáng tác văn học Vấn đề được đặt ra là sự vận động và phát triển của Nho học thời kỳ này có tác động

gì tới vãn học? Những tư tưởng chi phối Nho học có chi phối cả văn học hay khổng? Giữa sự phát iriển cúa Nho học và văn học có yếu lố chung nào không? Tìm lời đáp cho những câu hỏi đó cũng là một Irong những lý do khiến chúng tôi lựa chọn đề tài này.

1- ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN cửu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là Nho hoc chứ chưa phải là toàn bỏ Nho giáo (Nho học là một khái niệm chỉ bộ phận các trước tác mang tính

học thuật của nhà nho Nó chỉ những ho at đỏng dể hiếu, lĩnh hôi, tiếp thu và da\ dỗ, truyền ảaĩ Nho giáo Nói cách khác nó là viêc hoe Nho và dào tao nhà nho, khoa cử và trước tác Nho giáo là chỉ mặt nội dung học thuyết ,

quan điểm và hệ tư tưởng, còn Nho học thuộc vẻ những lĩnh vực học thuật chịu sự chi phối của hệ tư tưởng và chứa dựng tư tưởng ). Nhu vạy đối tượng nghiên cứu cúa luận án với phạm vi rộng nhất là giáo dục khoa cử và các

trước tác cùa các nhà nho nửa cuối Ihế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX

Hoạt động học thuậí cùa các nhà nho nửa cuối thế kv XVIII nửa đầu thế kỷ XIX đụng, chạm đốn khá nhĩêu lĩnh vực hao íiồm ca việc bàn luận triết học, khảo cún kinh điển Nho giáo, khảo chúng sử học, khảo chứng điển chương chế độ, biên khảo địa phương chí,viết loại ihư Tuy nhiên chúng lôi chỉ chọn ra ha xu hưởng theo chúng lôi là nổi bại liêu bicu, đỏ là:

* Xu hướng tiếp cặn triết học -bàn vê “Lv-Khí”

* Xu hướng nghiên cứu kinh điển Nho giáo (Kinh học).

* Xu hướng khảo cứu lịch sứ ( Bỉnh khảo cố sử).

Trang 9

Coi ba xu hướng trên là nổi bật, chúng tôi căn cứ vào các liêu chí:số lượng tác giả tham gia, số lượng tác phẩm; khả năng thể hiện tư tưởng và những đặc điểm học thuậl liêu biểu Những lĩnh vực khác như khao chứng điển chương chế độ, viêì loại thư, kinh thế học, địa phưang chí nói lỏm lại là các nhánh íl nổi bật khác chúng tỏi sẽ đề cập chuns irước khi đi vào các xu hướng chính yếu.

Vào khoảng nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX, cùng với sự phát triển của Nho học Đàng Ngoài, ở vùng Gia Định và Hà Tiên, Nho hoc cũng đã bám rẻ và phái triển, hình thành nén một vùng Nho học mới ở Nam Bộ Khi nghiên cứ lịch sử Nho học Việt Nam, nahiên cứu Nho học Nam Bộ là việc làm cân thiết Tạm thời, do sự khác biệt và độc lập tương đối giữa các vùng, do điêu kiện và thời gian làm luận án hạn hẹp, chúng tôi chưa có điêu kiện triển khai nghiên cứu Nho học ở khu vực này Đối tượng nghiên cứu của chúng tòi chỉ giói hạn trong Nho học xứ Đàng Ngoài.

Những tác gia Nho học lớn nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX đồn2 thời cũng là những lác gia vãn học quan trọng của giai đoạn nàv Cho nén lìm xem khả năng có sự lác động của tư iưởng học thuậi, cúa Nho học đến vãn học cũng là đối lượng nghiên cứu của luận án Giữa Nho học và ván học

có những điểm giao thoa : Irong giáo dục và khoa cử vãn chương chiếm mội mảng lớn, kỳ thi tiến sỹ [à sự kết hợp giữa vãn học và Nho học Nhũng dấu hiệu biến đổi thể hiện đòi hỏi mới của nho sỹ bál dầu lừ trào lưu phê phán văn chương khoa cử Đâv là mộl Irong những ^điểm núi" quan irọng đổ chúng lôi lìm hiểu tác động qua lại giữa Nho học và văn học.

2 1’IIAM vi TƯ LIỆU NGHIÊN ell'll

Tư liệu phục vụ cho công việc nghiên cứu của chúng lối gôm ba mảng chính Thứ nhất, các lác phẩm Hán Nôm của các tác gia thế kỷ XVIII nửa đầu

Trang 10

chương xướng họa của các nho sỹ Thứ hai, những công Irình nghiên cứu cua các tác gia hiện đại nghiên cứu về Nho học thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX viết bằng Quốc ngữ những tác phẩm cùa các nho sỹ đã được dịch ra Quổc ngữ Mảng tư liệu Ihứ ba là các irước lác của các tác gia Thực học Ihời Minh Thanh Trung Quốc, những cổng trình nghiên cứu bằng liếng Trung Quốc vê Thực học Minh Thanh của người Trung Quốc và các học giả nước ngoài; Những công trình nghiên cứu vê Thực học ở Nhật Bản và Triều Tiên Chúng tỏi cũng

có tham khảo thêm một số cỏng trình nghiên cứu về Nho học Việt Nam thế kỷ XVIII đầu XIX của các học giả phương Tây.

* Để làm sáng rõ những vấn đề cùa Nho học Việt Nam nửa cuối thế kỷ

XVIII nửa đầu thế kỷ XIX chúng tôi mô tả diện mạo cùa Nho học giai đoạn

này, bao ẹôm việc mô tả một số lác phẩm cụ thể, các hiện tượng Nho học đáng chú ý của các xu hướng Nho học rieng biệt.

* Phương pháp được chúng tối áp dụng quán xuyến suốt luận án là so sánh đỏi chiếu, gồm cả so sánh đồng đại và so sánh lịch đại.

Khi mồ lả và phản tích các xu hướnu của Nho học Việt Nam nửa cuối thế kv XVIII nửa đầu Ihố kỷ XIX chúng lôi liến hành so sánh với Nho học các thế kỷ trước ở Việt Nam nhàm tim ra cái khác, cái mới, cái phát triển của Nho học giai đoạn này.

Nho học Viẹt Nam nửa cuối Ihế kỷ XVIII nứa đầu Ihố kỷ XIX cần được đặt trong bối cảnh chung của Nho học các nước chịu ảnh hưởníi cua Nho giáo

ở khu vực Đổng Á Do đỏ việc so sánh giữa Nho học giai đoạn này ờ Việt Nam

với Nho học đương đại ở Trung Quốc (cu thể là Thực học Minh Thanh), Nhậl Bản, Triầu Tiên là mội cổng việc lự nhiên phải làm, đặc biệt là việc so sánh với Nho học Trung Quốc

Trang 11

* Các phương pháp thông ké, phản loại và mó hinh hóa cũng được áp

dụng irong quá trình làm luận án Việc thống kê được chúng tôi sử dụng Irong

những trường hợp cần minh chứng cho mức đô phổ biến cùa vấn đ'ẽ cũng như

kiểm ira độ lin cậy của các phán đoán, kổì luận .

IV LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN c ứ u

Đã có khá nhiều công trinh nghiên cúu của nhiêu người, nhiêu khoảng

thời ui an và Iheo nhiêu quan điểm khác nhau về Nho học Việt Nam nửa cuối

thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX Các cỏng trình nghiên cứu từ Inrớc rới nay

có thể là những cồng trình chuyên vê thế kỷ XVIII đầu thế kv XIX, hoặc một phần Irong các còng trình khái quát lớn Các công trình nghiên cứu đó đi Iheo

các xu hướng:Nghiên cứu vè các mảng, các lĩnh vực của Nho học như triết

h ọ c , k h ả o c h ứ n g , k h ả o s ử , k in h h ọ c , g i á o d ụ c k h o a c ử v ờ v à x u h ư ớ n g n g h iê n

cứu man (ỉ íính chuyên luận về các tác g ia , lác p h ẩ m riêng.

Những công irình lớn đáng chú ý phải kể tới: Trần Văn Giàu - “ Sụ phái triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng Tháng Tám ” - Hà Nội ( HN)1973 “ Lịch sử tư tưởng Việt Nam" TI - Nhiêu tác giả - HN 1993 Neuvẽn Đăng Thục - “ Lịch sử tư tưởng Việí Nam" - TP HCM 1992 ‘4 Nho giáo tại Việt Nơm” - Nhiều lác giả - HN 1994 uNho giáo xưa và nay” - Nhiều tác giả - HN 1991 Trần Đình Hượu - “Đến hiện dại lừ ĩvityéỉì thống" -

HN 1994 Quang Đạm - “'Nho iịìúo xưa và nay" - HN 1994 Trần Văn Giáp -

“Lược khảo khoa cử Việt Nam” - HN 1960 Nguyẽn Đăng Thục - “Quốc học Việĩ Nam” - Sài Gòn 1974 "Các nhà khoa báng Việt Nam” - Nhiêu lác giả -

HN 1993 “Lê Quí Đôn nhà bác học Việt Nam ĩ hể ky XVIII" ~ Thái Bình

Trang 12

Bãng Thanh - "Ngô Thì s r - HN 1978 Bùi Hạnh cẩn- *Lê Quý Đôn -HN

1984 Trần Ngọc Vương- “Nhà nho tài lử và văn học Việt Nam'* -HN 1995 Lê Trọng Hoàn-^Lớ Sơn Phu Tử"- HN 1993 Đinh Công Vỹ - “Phương pháp làm sứ của Lê Quí Don” - HN 1995.Nguyẻn Thị Huê: “Lưỡng quốc irạng nguyên Nguyễn ĐanịỊ Đạo"-Hà Bác 1994 và nhiêu chuyên luận khác Ngoài

ra còn khá nhiều công irình đãng trên các lạp chí chuyên ngành trong mấy chục nãm qua, những lời giới thiệu cho bản dịch Quốc ngữ các tác phẩm viết nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX

Trong lĩnh vực nghiên cứu triết học Nho học, tuy chưa cố mộĩ cóng trình nào nghiên cứu chuyên vẻ íriếl học Nho học nửa cuối thế kỷ ỵvỉỉỉ nửa dầu thế kỷ XỈX, nhưng các cóng trình nghiên cứu về lịch sử lư tưởng Việt Nam

đều ít nhiều có đề cập Các cổng trinh nghiên cứu chuyên luận về các lác giả

Lê Quý Đôn, Ngô Thi Sĩ, Ngô Thì Nhậm, Bùi Dương Lịch và các tác phẩm của họ cũng đều đã có động chạm đến một số vấn đề triết học Điểm qua các công trình nghiên cứu chúng ta thấy các ý kiến với mức độ đậm nhạt khác

nhau, đêu đánh giá nửa cuối thế kỷ XVIỈI nửa đàu thế kỷ XIX là một thời kỳ phái ĩriển của ưiếỉ học ,củu iưduy /v lính.

Mội số học giả Irong khi nghiên cứu đã so sánh lư tưởng triết học của các tác gia nứa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX với tư iưởng triết học Nho học Trung Quốc, chú yếu và Irước hết là các đại biổu đời Tống (chủ yếu

là Chu Hy) thường dưa ra kết luận: Triết học Nho học Vịệỉ Nam nửa cuối ỉhê

kỷ XVỈỈỈ nửa dầu thế kỷ XIX dã ró khác với Tổng nho và phái ỉ liến cao hơn, biện chứng hơn, duy vậi hơn Những kết luận dó có giá irị gợi ý cho nhũng

người nghiên cứu liếp theo I-Tâu như vản chưa cỏ ai làm cóng việc so sánh mang lính đồng dại giữa các lác gia Nho học nửa cuối the kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX ở Việt Nam, với các lác gia Nho học cuối Minh đầu Thanh ở Trung Quốc Việc so sánh này là rất cần thiếu vì Nho học cuối Minh dầu

Trang 13

Thanh đã khác nhiều so với Nho học đời Tống và các giai đoạn khác Vi vậy tìm hiểu Iriết học Nho học nửa cuối thế kỷ XVIIĨ nửa đầu thế kỷ XIX vừa trong dòng phát iriển lịch sử nội tại cùa học thuật Việt Nam.vừa đặt nó irong bối cảnh các nước chịu ảnh hường cùa Nho giáo là việc khỏng thể lảng Iránh.

Khảo cứu binh luận kinh điển Nho giáo là một mảng quan trọng cùa Nho học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX So với nghiên cứu tư tưởng, nghiên cứu Iriết học, kinh học còn ít được chú ý Mội vài Ý kiến

đánh giá cùa những công trinh nghiên cứu từ trước tới nay thống nhất cho kỉnh học giai đoạn này cố bước phát triển lớn, nhiêu thành tựu Giáo su Phan Đại

Doãn viết : đặc biệí là các lĩoạí dộng trên lĩnh vực kỉnh học và đạo học.

Có thể nói không có thời kỳ nào ỉronỵ lịch sử lại có hoại dộng kinh học và dạo học nhộn nhịp như thời kỳ nảy Hàng loại các lài liệu chú thích, giáng giải và lược thuật các lác phẩm kinh diển của Nho giáo ra đời Các tác phấm irên cho thấy nhận thức của người đương ĩ hời v'ê các ĩài liệu kinh điển phương Đông đã sâu hơn, tòan diện hơn í rước, đòng thời những nét riêng trong tư duy của họ cũng rõ ràng hơn các thời kỳ trước” [70; Tr415] Đây là một đoạn

nghiên cứu, đánh giá hiếm hoi về kinh học Việt Nam nửa cuối Ihế kỷ XVIII

nữa đầu thế kv XIX một lĩnh vực “xương sống" của Nho học còn quá ít các

công irình nghiên cứu Điêu dó một phần do quan niệm Đà cỏ mội số người irong một thời gian dài cho Nho học là hảo thủ, lạc hậu Nho giáo là phản động, độc hại khồng những chỉ cổ lìm mặt liêu cực của Nho giáo, mà còn bỏ qua, hoặc ít chú ý tới các tác phẩm kinh học, cho đỏ là loại sách khổng cỏ giá irị ỈIÌ mấy Họ thường nhại nhạnh trong các tác phẩm kinh học mội đổi đoạn

để phục vụ cho việc bàn luận vồ tư lường cua những người viết các lác phẩm kinh học dó Cũng vì vạy, hàng loạt các tác phẩm kinh học quan irọng như:

“Dịch kỉnh phu thuyết" của Lê Quý Đôn; “Xuân thu quản kiến' của Ngổ Thi Nhậm; “Luận ngữ ngu ủrí' cùa Phạm Nguyễn Du; “Chu dịch quốc ảm giải

Trang 14

nghĩa ” của Đặng Thái Phương đều chưa được dịch và cồng bố (gần đây mới chỉ có “Thư kinh diễn nghĩa ”, “Quăn thư khảo biện ' của Lê Quý Đôn được dịch và công bố) Nghiên cứu các tác phẩm kinh học cùa các nhà nho thế kỷ XVIII đầu XIX là một con dường đe hiếu Nho học thời kỳ nàv, hiểu cách hiếu, cách tiếp nhận các quan điểm Nho giáo từ góc độ kinh điển của nhà nho Việt

Nam Rất đáng tiếc lĩnh vực này còn trống vắng những công trình khai phá .

Nghiên cứu nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX với tư cách ỉà một giai đoạn của lịch sử dân tộc và nghiên cứu xã hội Việi Nam thời kỳ đó là cồng việc đã được các nhà sử học làm khá nhiêu Nhưng nghiên cún các tác phẩm khảo chứng và bình luận cổ sử cùa các nhà nho viết ra trong giai đoạn lịch sử đó, với tư cách là một bộ phận cùa Nho học, thì vẫn còn là lĩnh vực chưa được chú ý một cách thỏa đáng Từ những năm 50; 60 đến nay đã có một

số cồng trình cùa một số tác giả công bố trôn các tạp chí Nghiên cứu lịch sử;

Thông báo triết học; Nghiẻn cứu văn hóa nghệ thuật Những bài viết này mới chỉ đề cập đến những khía cạnh nhỏ hoặc khái quát một cách sơ lược lĩnh vực khảo sử cùa các nhà nho.

Giáo dục và khoa cử cũng là một mảng quan trọng cùa Nho học nói chung và Nho học nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX nói riêng Đã có một số cồng irình nghiên cún ve lĩnh vực này như các cồng trinh của Trần Vãn Giáp, Nguyễn Đãng Thục, Nguyễn Văn Thịnh, Nguyẻn Quyết Tháng, Vũ Ngọc Khánh Đàm Vãn Chí Các tác giả nêu irên irong cổriii Irình của mình

dù ở mức đồ phổ cập hay nghiên cún sáu hầu hếl đêu viếi về giáo dục và khoa

cử coi nó như mội bộ phận của lịch sử văn hỏa hay lịch sử nói chung mà còn ít nhấn mạnh tới nó với tư cách là mội bộ phận của Nho học Nhìn chung Nho học nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu Ihế kỷ XIX đã dược một số người để ý nghiẽn cứu và đầ có những Ihành lựu bước đầu Tuy nhiên van chưa cỏ một cóng trinh nghiên cứu riéng vê Nho học nửa cuối thế kỷ X V I I I nửa đàu thế

Trang 15

kỷ XIX xét trong lịch trinh Nho học Việt Nam. Chưa nói một số lĩnh vực nhỏ quan irọng của Nho học, các vấn đề cùa Nho học thời kỳ này van chưa được nghiên cứu một cách thích đáng Luận án này đi vào mốt hướng mới trên

cơ sờ kế thừa những thành tựu cùa các học gia di irưởc.

Như vậy, xét irong lịch sử vấn đê nghiên cứu Nho học Việl Nam nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX , chúng tôi chọn giải quyết vấn đê

Những xu hướng của Nho học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVĨỈĨ nửa đầu thế kỷ XỈX và sự tác động của nó tới vàn học” là việc iàm cần thiết, có ý nehĩa khoa học và ý nghĩa cập nhật.

V- CÁI MỚI VÀ Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA LUẬN ÁN

1 Luận án phân tích những yếu tố điều kiện, nguyên nhân đưa đến diện mạo và đặc điểm của Nho học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kv XIX, đồng thời lý giải những nhân tổ nội sinh cùa Nho học thời kỳ này quy định đường hướng vận động và phát triển của nó.

2 Luận án góp phần làm sáng rõ một giai đoạn học thuật sôi động nhiêu thành tựu irong lịch sử Nho học nước nhà lừ diện mạo đến đặc điểm nội dung, chỉ ra đâu là cái phát triển, cái khác so với Nho học các thế kỷ trước, bàng một cách tiếp cận mới- nhìn nhận Nho học lừ các mảng nội dung tương đổi chuvẽn biệl (các xu hướng), lạo khả năng vừa hiểu các bộ phặn vừa thấy dược tổng thể Nho học thời kv này.

3 Giai đoạn từ cuối thế kỷ XVII đốn dâu thế kỷ XIX là giai đoạn cỏ xuâì hiện irào lun Thực học Irong Nho học nhiêu nước Đổng Á Bàng việc so sánh dối chiếu Nho học Việi Nam nửa cuối thế kỷ XVIII nưa dầu thế kỷ XIX với Nho học các nước khu vực luận án bước dầu giải đáp vấn đồ Nho học Việt Nam cỏ xuâì hiện trào lun Thực học lương lự như các quốc gia khác hay khổng ? Nếu có diện mạo nó ra sao ? Nó có đặc điểm gì giống và khác các

Trang 16

nước khu vực? Giải đáp các ván đ'ê đó cũng có nghĩa giải đáp ván đê có sự hội nhập của Nho học Việt Nam vào những trào lưu Nho học lớn ở các nước có Nho học hay không, giúp cho việc làm sáng rõ nhiều vấn đồ của Nho học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII nửa dầu the kv XIX nói riủng và Nho học Việt Nam nói chung.

4 Việc nghiên cứu các xu hướng cùa Nho học Việt Nam nửa cuối thế

kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX bát đầu bàng việc phán lích các lác phẩm, lác gia Nho học cụ thể Với hướng liếp cận mới như trình bầy ở irên, ỉuận án có thể đỏng góp ít nhiều vào việc làm sáng rõ một số tác phẩm Hán Nôm riéne lò và một số gương mặt danh nho đương thời.

5 Trên cơ sở một số vấn đ'ê cùa Nho học đã được iàm sáng tỏ, luận án phân tích sự lác động cùa Nho học đối với văn học cùng thời Hướng đi của luận án lạo được những khả năng, những điêu kiện mới để làm sáng rõ thêm nhiều vấn đề của văn học nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX.

V KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN

Luận án gồm16 0trang chính văn, cùng phần mục lục thư mục tài liệu Iham khảo, danh mục các công irình đã cổng bố của nghiên cún sinh Luận án chia ỉàm các phần:

A MỞ ĐAU: ( Từ Iranu 1 đốn Irang 14) Trong phân này chúng lói irmh bày lv do lựa chọn đề tài, đối tượng nghiên cứu, phạm vi tư liệu, phương pháp nghiên cứu lịch sử vấn đề nghiên cứu đóng uóp mới của luận án và kết cáu

của luận án.

B NÔI DUNG CIIÍNH

Chương một: ( lừlrang 15 đốn Irang 56 ) Bổi canh học Ihuạt cuối Ihế

kỷ XVII, thế kỷ XVIII và những yếu lổ lác động trực tiếp lới Nho học nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX.

Trang 17

Chương hai :(từ irang 57 đến trang 126 ) Những xu hướng của Nho học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX Trong chương này chúng tối Irình bày ba xu hướng Nho học chính yếu; Xu hướng liếp cận triết học bàn

v‘ê “ L v -K h r xu hướng Kinh học, xu hướng khao cứu lịch sử.

Chương ba: (từ trang 127 đến trang 156) Sự Lác động cùa Nho học đối với vãn học.

c KÉT LIJẬN:( từ trang 157 - đến trang 16Ớ)

D TIIƯ MỤC TÀI LIỆU TIIAM KHẢO: gồm; 71 tài liệu tham khảo Quốc ngữ, 29 tài liệu tham khảo Hán -Nôm và 26 tài liệu tham khảo Trung vãn.

Trang 18

B N Ộ I D U N G C H Í N H

Chương một

BỐI CẢNH HỌC T H U Ậ T c u ố i T H Ế KỶ XVII,

T H Ế KỶ XVIII VÀ NHỮNG YẾU T ố TÁC Đ Ộ N G

T R Ụ C T IẾ P ĐẾN NHO HỌC NỬA c u ố i T H Ế K Ỷ XVIII

NỬA ĐÂU TH Ế KỶ XIX

I M Ộ T V À I V Ấ N Đ Ê N Ổ I B Ậ T C Ủ A N H O H Ọ C C Á C N Ư Ớ C

1 THỰC HỌC- THÀNH Tựu N ổi BẬT CỦA NHO HỌC

MINH THANH TRUNG QUỐC

a - Sụ ra đời của Thực học Minh -Thanh

Người Mãn Thanh vốn xuất Ihán là một dán tộc mà người Hán uọi một cách khinh miệl Di Địch " lại chiến Iháng và lhay thế nhà Minh - một Iriều dại rất liêu biểu cho vãn minh Hoa Hạ Sự kiện lịch sử này ỉàm xáo dộng suy iư của các sĩ phu người Hán, là mội sự kiện có lác động rấi lởn đến dời sống linh Ihần và học Ihuậl Trung Quốc Các sĩ phu người Hán di tìm hiổu nguyên nhân của sự "phi lý" đó Họ đã tìm Ihấy một trong những nguyên nhân nàm ngay trong lình vực học thuậl tư tưởng^ụ thể là Nho học Những danh nho như: Cố Viém Võ( 1613-1682) Hoàng Tồng Hy( 1610-1695) thấy ràng

Trang 19

Tống nho thống trị nhiêu thế kỷ rút cục chỉ là huyên hư trống rỗng, khổng làm cho nước giàu binh mạnh, không ngăn cản được ngoại tộc vào thong Irị Một irào lưu phê phán Tống học đã nổ ra Họ phê phán Tone học mọt cách loàn

diện, cả Tâm học (mội phái của 'ỉống học do Lục Cứu Uvén (1139-1193) dè xướng và Vương Dương Minh (1472-ỉ528) (còn gọi là Vương Thủ Nhản) phái iriển) và Lý học {một phái của Tống học có các triết gia nổi tiếng như Trình Hạo, Trình Di,Clm Hy làm lãnh ỉ ụ Phái Lý học coi Lý, Khí iù những yếu tố bủn nguyên của vũ trụi từ ưiết học, kinh học sử học cùng các quan điểm xã

hội đạo đức đề xướne ra tinh Ihần học thuộl chuộng Ihực chấí bỏ hu ròng, hướng học thuật về đối lượng thực tiền Trào lưu Nho học hưng khởi lên từ sự phê phán Tống nho, lấy sùng thực Iruất hư làm tiêu chí, có ảnh hưởng xã hội rộng lớn đó, người ta gọi là Thực học hay Thực học Minh- Thanh.

Những neười cfê xướng ra Thực học phê phán toàn diện Lý học và Tám

học Cố Viêm Võ nói: "Kẻ quán lử ílĩời nay lụ íập khách khứa mây mươi irăm người, cùng nhau bùn về Tâm, Tính, bỏ cách hoc nhiều mà biếĩ dê cảu láy một phương nhải quán Không nói chuyên tứ hái khốn cùng mà chỉ nói vê “nguy VI tinh nhất” .”(Kim chi quân tử, tụ tập lân khách môn nhân sổ thập bách

nhân, dữ chi ngôn tâm lính, xá đa học nhi thức dĩ cầu nhất quán chi phương, irí

tứ hái khốn cùng bất ntiôn, nhi tiiủng nguy vi tinh nhá)) 1126:Tr 52]

{nguyên văn ở thiên “Đ ại V ũ m ô” Iron Ị* K inh Thư : “ Nhan Jam duy nguy, dạo lâm duy vi, duy linh duy nhủ! doãìì chấp qu\'éí ìru n ịị” , nghĩa lù: “ Nhân

lâm là nguy, dạo tám là vi, phải tinh phải nhất mới nắm dược dạo trung) Đói

với tất ca các lĩnh vực cùa Nho hoc, các lác gia Thực học đòi hòi phái hướng

vê phục vụ cho mục đích kinh bang lổ thế Đ'ỏ xướng ra tinh thân ' Kinh thê trí dụng" (sứa irị việc đời cho cỏ ích nhẩụ cùa học thuậl Họ cho ràng, kinh học, Iriết học sử học thảy đku phủi phục vụ cho “Kinh thế trí dụng" Chương Học Thành(1738-1801) nói: "Sư học là mộl lĩnh vực phục vụ kinh thế, cho nên

Trang 20

không được trước thuật kiểu nói suông' (Sử học sở dĩ kinh thế, cố phi không ngôn trứ thuật đã) [110;Tr360] Hoàng Tông Hy đ'ê ra: “Kinh học phải phục

vụ kinh íhe' ( Kinh thuậl sở dĩ kinh thế )Ị113: Tr474| Cố Viêm Võ nói :

“Phàm văn chương mà không liên qua/ì đến tôn chỉ của Lục Kinh, k h á n g phải cái cẩn cho dời ĩ hì nhai ihiêí không làm” (Phàm văn chi bấl quan vu Lục kinh

chi chỉ, đương thế chi vụ giả, nhất thiết bất vi'’[113; Tr473] Với tinh thần phê phán học phong cũ, đê xướng học thuậl phải phục vụ kinh thế như vậy, những

người nghiên cứu đời sau còn gọi Thực học là trào lưu '‘Kinh thế trí dụng" hav " Tảo kỳ khải móng tư trào” (irào [ưu lư lưỡng khai sáng buổi đầu).

b- M ột số thành tựu quan trọng của Thực học

Trong lĩnh vực triết học, Lý học từ Chu Đôn Di (1017-1073), Trương

Tái( 1020-1077), đến Trinh Hạo (1032-1085) Trình Di (1033-1077), rồi đến

Chu Hi( 1130-1200) đêu bàn luận rất nhiêu đến các phạm trù bản the luận Lý

và Khí, Lý và Khí do Thái cực hav Vô cực phán cál mà thành : “ Trong khoảng trời dđí có Lý có Khí Lý lờ cái thể Hình nhi thượng ('vô hình hay vật chất ở dạng liêm ẩn chưa hình thành vật thể), Khí ìà cái bề nựoai Hình nhi

hạ (vại chấl biểu hiện ra ở dạng hình thể Kinh Dịch -Hệ lừ ihượng viết: ■■ Cái gọi là Hình nhi thượng chính là Đạo, cái gọi là Hỉnh nhi hạ chính lù Khí Hình nhi thượng sản sinh ra Hình nhi hạ”) là cái CÓỈ1ÍỊ cụ lạo nén vạn vạl Cho nén khi người và vật sinh ra thì phải có củi Lý ấy mói có Tính và có Khí ấy mới ró ỉỉình ’’\\]Q: Tr312Ị Lý học dời Tống dã nhận thức đôn Lý, Khí là những

phạm Irù chỉ lính quy luậi và lính vậi chấl Giữa chúng cỏ quan hộ khăng khít

Nhưng qua cách nói irên cũng có nghĩa Khí là cái lạo ra vạt còn Lý là cái lạo

ra Tính của vạt , như Ihc Lý và Khí vàn ià hai Ihực Ihổ khác nhau và được

quan niệm chưa rành mạch, cỏ lúc nó được coi như quan hệ giữa vận động và lồn lại, có lúc dược coi như quan hệ giữa đặc lính xã hội và đặc lính tự nhiên

Coi Lý là phạm irù chí lính quy luậi, Khí là phạm trù chi lính vật cháu quan

Trang 21

hệ giữa chúng là quan hộ giữa vật chái và quy luật Thế nhung Chu Hy lại xem quy luật và vậi chất là hai thực thể khác nhau, cái có trước cái có sau, cái nọ

sản sinh ra cái kia Chu Hv nói : " Cái có Ị rước trời âá) cũnự chỉ là Lý có Lý

dó mới có ười dấi dỏ, không có Lý dó thì cũng khống có trời dấĩ dỏ, kháng có người và vạ! gì cá”[ 110;Tr312] Lý tại Khí tiên”{ Lý có trước Khí) là luận

điểm quan Ixọng của Chu Hy, nói như vậy cũng có nghĩa quy luật là cái cỏ

irước vậl chất Quan niệm của Chu Hy v'ê các phạm Irù bản Ihể luụn Lý, Khí như vậy, người đời sau gọí là “Nhị nguvén luận”.

Vê mặt chính trị và xã hội Chu Hy đê ra khái niệm 'Thiên //'{đạo ười) Cho Thiên lý là nguyên tắc tối cao cúa tự nhiên và cả xã hội loài người Tam cương ngũ thường chính là biểu hiện của Thiên lý Chế độ đằng cấp và luán ]ý cương thường chính là Thiên lý, ai làm trái cương thường là trái đạo

trời.

Vê mặt nhận thức, Lý học đề cao tinh thần “ Đạo vấn học", lức phải

bằng con đường học tập để nhận thức thế giới, nhưng ở đâv tìm kiếm iri Ihúc là

tìm kiếm tri Ihức trong Thánh kinh của Nho gia Lý do phải học kỹ kinh điển lheo Trình -Chu là vì Thiên ỉý là cái có sẵn trong lời đạv của Ihánh nhân, dựa Iheo V của thánh nhân để xcm Lý của tự nhiên, việc chi đe cao lìm kiếm tri

Ihức Irong kinh dicn? irons sách vơ dã làm cho học thuâi cua Nhí) gia ngày càng xa rời Ihực liẽn học Ihuậl íhành một thứ bàn suỏng Lý học còn cho ràng

nhân dục ỉà cái cản Irở con người đến với Thiên /ý, cho nên phải diộl due do hao vệ Thiên lý Quan diem “ Ton Thiên lý, diệt nhản dục" như vậv lạo ra lối sống khắc kỹ, chí lổn sùng đạo đức mà xcm nhẹ Iri thúc Đỏ chính là lý do

mà Cổ Viêm Võ cho rang: “Cái gọi là Lý học thời nay chính là 'ỉ hiên học

ị ]()9;Tr326J

Tám học, mốt phái đối lập và đấu tranh gay gát lâu dài với Lý học Trình - Chu do Lục Cửu Uyên đê xướng và Vương Dương Minh phái iriổn.

Trang 22

Tám học cho rang có một yếu tố mang tính bản nguyên cùa thế giới và cùa cả

con người, yếu tố ấy tồn tại ngay trong con người, đó là Tâm Họ cho Tâm với

Lý (hoặc Đạo) chỉ là mộl "Tâm tức Lý" hoặc "Tám ĩ ức Đạo" Tâm học đặc biệl nhấn mạnh tính chủ quan cua Tám Lý ở irong vật và cũng ở irong Tám Tâm học thừa nhận sự lồn tại của Lý, nhưng Lý theo Lý học là lính quy luậl còn Tám theo Tâm học là tôn tại phụ thuộc vào ý chủ quan cùa con người Không có Lv ở ngòai Tảm và ngòai Tâm thì khồng có vật gi cả “Tâm ngoại vỏ vật” , “Tâm ngoại vô Lý”.

Vê mặt nhận thức luận phái Tâm học cho rằng nhận thức Tủm là nhận thức thế giới Quá trình nhận thức thế giới là quá irình làm ' Minh bản tám", tức là làm cho Tâm không bị lòng dục che lấp và làm cho u tối Tâm không bị lòng dục che lấp thì dạt đến “Lươìig tri" Có Lương trì là gần vói Thiên lý Như vậy con đường nhạn thức Thiên lý chỉ có thể bằng cách làm sáng bản lâm

Lý học đề cao “Đạo vấn học" còn Tám học đề cao ‘Tớ/Ỉ đức tính" Sự mâu

thuẫn chống đối nhau láu dài giữa Lý học và Tám học chủ yếu là sự đối lập

giữa “Đạo vấn học' với “7o« đức tính’\ giữa “Cách vật trí tri” với “Minh bản tâm ' Tám học đã đi xa hơn Lý học về mặl hư vô và duy tâm trong nhạn

thức luân Tâm học đã phủ nhận cả kinh nghiệm thực tiẽn lẫn iri thức sách vở

Cố Viẽm Võ cho rằng ' Trí lương tri" cùa Vuxmg Dương Minh chính là

nguyên nhản trực liếp dẫn đến canh lượng SV nhán bỏ sách du dàm bàn suông

ĩ âm tính Tron ụ sự phẽ phán Tổng học huvền hư các dại biểu Thực học đặc

biệl nhấn mạnh lính xa aời Ihực liên cùa Tâm học Tác phẩm 'kNhậĩ tri lục”

cùa Cố Vicm Võ là cổng trình phổ phán Tám học khá sáu sác và toàn diện.

Những đại biểu của Thực học Minh -Thanh Irên cơ sở kế thừa và phổ

phán các quan điểm của Lý học vồ Lý, Khí đã dạl lới irình độ cao hơn irong

nhận Ihức Ịý tính, nhìn thấy lính biên chứng irong quan hệ giữa vậi chất và quỵ luật Vương Phu Chi( 1619-1692) là nhà Iriết học lớn nhái giai đoạn Minh-

Trang 23

Thanh Ông là người có cổng tổng kết và phát triển toàn bộ hệ Ihống triết học

cổ đại Trung Hoa Vương Phu Chi cho “Lý không phải là một vật thể cùng vói Khí lảm thành hai vậi í hè’ dược" (Lý bấl thị nhất vạt dữ Khí vi 1 ưỡn ill |]03: Tr400) Ổng lại nói: "Lý ở trong Khí, kháng có cái Khí nào khóng có L ý“ (Lý

lại Khí irung Khí vồ phi Lý) Ị]()3;Tr400] Quan điểm này của Vương Phu Chi

đã khác rất nhiêu so với Chu Hv Ona nhân thấy quan hệ Ihống nhất mang lính biện chứng giữa vật chất và quy luật, quv luật nàm ngav Irong vật chất, thông qua vật chất mà biểu hiện ra (Lý tại Khí trung), đồng thời vật chất bao giờ cũng vận động theo những quy luậl nhấl định (khóng cỏ Khí nào kháng có Lý)

Nhận thức đó đã đưa tư duy lý tính của Trung Quốc cổ trung đại bước vào một Irình độ phái iriển mới Quan niệm Iriết học về sự thống nhất chặt chẽ của Lý với Khí cũng được nhiêu học giả Minh Thanh khác lán đồng và biện luận ủng

hộ, thành một irào lưu chung Cố Viêm Võ cho khí là yếu tố vật chất chiếm chỗ trong toàn vũ trụ: “Cái choán dày trời dăĩ chính lờ Ấ7if'(Doanh thién địa chi gian giả khí dãJ[109;Tr327] Còn ve quan hệ giữa Khí ông quan

niệm: ''Đạo hoặc lý đỏ báì lại khí chi thượng, khí chi ngoại, nhi íại khí chi

iruiiị>"\ 109; TY327Ị Quan niệm vê sụ Ihổng nhát biện chứnỉĩ giữa Khí

dược cả Đới Chấn, Hoàng Tổng Hy hàn bạc tới Người ta uọi quan niệm cùa những nho sỹ Thực học Minh Thanh v'ê các vấn đồ bản the luận là "Nhất nguyên luậìC[ 128; T r l5 1 ].

mặl nhận thức luận, các nhàthực học kế Ihua linh ihán "Đạo ván học” “Cách vật trí tri” của Lý học đời Tổníì, dê ra “Tức sự nhi CÙỈIỊỈ L f ’ lức là lim hicu quv luậl chung thông qua lìm hicu những sự vật riêng lc.

Các nho sỹ Thưc học Minh- Thanh đặc biệi dề cao kinh học Kinh học được họ xác định vừa là công cụ đổ chống Tống Nho vừa lá phương liện dể chấn hưng học thuật Nghiên cứu kinh điển đổ tìm những lời giải đáp cho Ihực

Trang 24

liễn, phục vụ kinh thế “Tháng kinh trí dụng" ụhông qua kinh học mà phục

vụ kinh thế n i dụng).

Trong lịch sừ Nho học Trunti Quốc, mồi khi có mội trào lưu hoc Ihuậi mới ra đời bao giờ nó cũnc, bál đầu bàng việc chú giải, bình giảng lại kinh điển, đặt vấn đè về cách hiểu mới đối với nghĩa lý của kinh Chu Hy đời Tống được coi là người có đóns góp lớn irong việc chú giải kinh Suôi nhiều thế kỷ, các nhà nho ở Trung Quốc và Việt Nam học tập kinh điển Nho giáo phần quan trọng đêu là những tác phẩm đã qua sụ chú giai của Chu Hy Nhung các lác giaThực học Minh-Thanh cho ràng Chu Hy đã ‘'xuyên tạc” kinh điển, đã theo

chủ ý riêng của mình mà chú giải, làm mất đi “nghĩa hàm nguyên thủy’’ của

tư tưởng Nho giáo Khổng Mạnh Irong kinh điển Do đó cần phải chú lại kinh, phải phục hưng lại Nho giáo nguyén thủy Cố Viém Vồ cho rằng kinh học là nhiệm vụ trung tâm của nhũng người theo Lý học dương thời Ong cho rằng Lv học cũng tức là kinh học vậy Cân phủi chú giải lại kinh, cần khát) lại kinh cả góc độ vãn bản lẫn nghĩa lý, khôi phục lại cho đúng ý nghĩa lời dạy của thánh nhân trong kinh, tức chấn chỉnh cái mà Tống nho đã “làm sai lạc” là nhiệm

vụ hàng đầu của kinh học.

Việc hung khởi của kháo chúng kinh điển kéo theo sự phát triển của nhiều bộ mồn khoa học Khi kháo kinh, các lác gia phái dưa ra nhiêu tài liệu

cổ dể làm chúng cứ Muon đọc hiỏu dược các tài liệu cổ, người dọc phái am

tường cớ âm, do đó ảm vận học đa cỏ cơ hói phái Iricn mạnh Chú giải kinh

tùng cáu từng chữ làm cho môn huấn hổ hục vốn đã phát iriển lừ dời Hán nay lại được phục hưng mạnh mẽ Trong khảo chứng, nguồn tư liệu, bia đá, chuông đông vó cùng cần Ihiêi đáv cũng là lv do khiến cho kim thạch học phứt triển Ngoài ra, dc phục vụ cho cóng việc khảo cứu sách cóng cụ như từ điổn, sách tra cứu trở Ihành nhu cầu bức bách Một số bộ lừ điển lớn đã dược biên soạn,

irong đó lớn nhấl là '"Khang Hy lừ diên” Các nhà khảo kinh đã dùng nhiêu

Trang 25

phương pháp nghiên cứu tiên tiến nhất mà Trung Quốc cổ đại cớ thể đạt lới được lúc bấy giờ để khảo kinh như bản bản học, huấn hỗ, hiệu khám văn tự, so sánh dị ban quy nạp, lổng hợp Trorm quá irình khảo chứne các hoc eiủ đã phát hiện ra nhiều chồ chú giải sai hoặc chưa sál của các nhà chú kinh tiên bối, lìm được những sai nhầm cùa cả chính kinh lản truyện chú Đặc biệụ nhiều người còn đưa ra những kết luận fctkinh thiôn động địa” Diêm Nhược Cù' bàng những phương pháp khảo cứu khoa học, đưa ra những chứng cứ có

sức thuyếl phục chứng minh rang “ Thượng Thư cổ văn”(bản Kinh Thư viếl

bans cổ vãn) vẫn được lun tru yên nhiều thế kỷ là mộl vãn bản gia chứ không phải là bản của Khổng An Quốc tìm thấy Irên vách nhà Khổng Tử Người ta

cho ràn£ Diêm Nhược Cừ đã “xử tử” “Cố văn Thượng Thu” [104; Tr27Ị Nhiêu học giả cũng chỉ ra vãn bản Tả Truyện tương iruyen viết thời Xuân Thu

nhưng kỳ thực là một vãn bản mới chỉ được làm vào thời Hán mà thỏi Ban dầu khảo kinh là một xu hướng được đề xướng phục vụ kinh thế, nhưng sau dần ý tưởng ban đầu ấy dầrì mờ nhạt,nhĩêu người vẫn vùi đầu vào cóng việc khảo chúng với mục đích tự thán, khảo chúng dể khảo chúng Không khí sổi động của kinh học đă thúc đẩy cuộc đấu tranh học phái vốn đã cỏ lù' láu irong kinh học vào giai đoạn gay gál hơn bao giờ hết Đỏ là cuộc đấu tranh giữa hai phái 'LK im văn h ọ c” (học p h ái ủng hộ lính chân thục của cú c lác phẩm kinh (liền N ho via viết hàng kim vân- chữ í hỏng dụng dời H án, Ị hường g ọi lủ C h ữ Lệ) và "CỔ vân học" ị học phái ủng hộ lính chán ĩ hực rủa cúc tác phẩm vi é)

hảng rổ vân- vân lự í hóng dụng thời Tiên Tàn (Thường gọi lủ chữ Khoa đáu)

Đây là cuộc đấu Iranh mang ý nghĩa khoa hoc irong nghiên cứu kinh dicn Nho giáo.

Càng vê sau, cồng việc khảo chứng ngoài khảo kinh còn dược mở rộng

ra rất nhiều lĩnh vực khác như khảo chứng sử học, khảo chứng điển chương

Trang 26

ch ế độ, viết những bổ loại Ihư lứn, khảo chứng địa phương chí, địa lý thiên văn, y học, tóan học, ngồn ngữ học, quán sự, canh nông .

Nhàm cứu vãn những nguy cơ xã hội đầu đời Thanh và chấn hưng đất nước, các nhàlhực học theo lý urởng kinh thế của mình khống những chỉ phơi bàv ra nhữne mối tệ irong các mặt chính trị, quân sự, khoa cừ mà còn đê ra phương án cải tạo xã hội Nhiêu người còn tham gia vào những hoạt động thực

tế nhàm biến ý đồ cải cách thành hiện thực Vê mặt chính lộ - xã hội, những

ne ười theo khuynh hướng kinh thế học đã nhận thức được một vấn đê hết sức

mới mẻ và quan Irọng : Nhìn tlĩấv cái dộc hại của chế độ chuyền chế, của xã hội dẳng cấp tôn tộc Hoàng Tổng Hy đề xướng: “Thiên hạ là chủ, vua là khách"(thiên hạ vi chủ quân vi khách) và cho rằng: “kẻ làm hại lớn nhất cho thiên hạ chính là vua” (Thiên hạ chi dại hại giả quản nhi dĩ hĩ)Ị105: Tr367]

Nhíẽu người đã nghĩ đến hình thức một Tể tướng độc lập đuợc phán chia quyền lực cùng Hoàng đế lương tự như chế độ Thủ tướng ở cháu Âu cận đại

Họ cũng nghĩ đến mộl chế độ “//ọc hiệu” mà nội dung tương lự như “Nghị viện’’ của châu Âu hiện đại (học hiệu ở đãy không phải chỉ irường học) hên

cạnh Hoàng đế (chế độ quân chủ lập hiến) Những ý tưởng của các nhà Thực học trong lĩnh vực chính trị xã hội thời kỳ này có ý nghĩa liến bộ V nghĩa cận

dụi lo lớn Nó không còn là “Vá Irời” ịbố ỉhiên) nữa mà là "Nhổ tọel vào trồi^bỉnh íhỉê)ì)\ 105; Tr48Ị.

Vê quan điểm xã hội, trái với quan điểm trọng nỏng ức thươnỉi iruyên

thòng, môt sổ người đòi thương nhân và thọ thủ công phải đuọc tòn trọng ngang vói nông dân, coi trọng công - nông - thương như nhau "Côns -

thươnỉỉ Ịỉiai hấn” 1105: Tr372] Đáy cũng là môl Ihay đổi lớn Irong V ihức xã

hội, phan ánh những nhận Ihức bước đâu vẽ bình đẳng xã hội Nhận thức ấy và đòi hỏi ấy mang nhiêu tính chấl cận đại.

Trang 27

Trong lĩnh vực kinh tế, Cùng Tự Trán (1792-1841) còn đ'ê cập đến việc dùng thuế thu nhập thay cho các thứ thuế cũ, chù trương ruộng đất chỉ có thể thuộc sở hữu của nống dán

Những quan diểm cùa các tác giả Thực học trong linh vực kinh tế - xã hội - luân lý irình bày ở trên phản ánh nhũng đổi thay trong kết cấu các giai cấp và tầng lớp nhân dân Sự phát triển cùa thương nhân, thợ thủ công, kinh tế hànạ hóa và đổ Ihị đã tạo ra những xáo đọne trong nhận thức xã hội và làm xuất hiện những đòi hỏi mới khác lạ với truvền thống.

c Những nguyên nhàn ra đời và hạn ch ế của

Thực học MinhThanh

Như phần trước đã đề cập, sự kiện vương triều Thanh thay thế vương triều Minh làm cho các nho sỹ tìm kiếm nguvên nhân của sự “vô /ý” đố và sự tìm kiếm đã được hướng vào học thuật Từ trước tới nay khi bàn về các nguyên nhán đưa đến sự ra đời của Thực học các học giả thường nhác đến nguvên nhân đó, coi nó là một tác động quan trọng cùa điêu kiện chính trị xã hội đổi với học thuật Sự bấl bình, bấl hợp tác của nhiều SV phu với vương tríêu Thanh

đã đẩy nhiều người tới chỗ né tránh chính trị, bất hợp lác với iriêu đình vùi đầu vào khảo cứu Học phong khảo chứng do đó được đẩy mạnh.

Vương Irieu Thanh irong thời kỳ đầu thống trị Trunụ Nttuvôn để dồ

phòng sự chống đối của các nho sỹ đã thi hành chính sách "vân ỉự nạục" hết

sức tàn khốc Trong suổì thời gian cuối thế kỷ XVlI-thế kỷ XVI11, những Ihảm

án văn lự quy mô lớn thường xuyên xảy ra Người ta cho ràng, chính sách

"vãn íự ngục' làn khốc của vương Irieu Thanh dã dẩy số rất đổrm các nho sỹ

vào công việc khảo kinh, biện sử, chỉnh lý cổ Ihư lịch, một cổng việc ít bị coi

ỉà chống đới hav dính ìíu đen chính trị Đáv cũng là mổl nguyên nhấn làm phát triển học phong khảo chứng.

Trang 28

Song song với việc đàn áp các nho sỹ có biểu hiện chống đối, Thanh triều đã tập hợp một lực lượng rất lớn các nho sỹ uyên bắc khác để làm công việc Iháu thập, chỉnh lý tư liệu cổ văn hóa với quy mó lớn Việc làm này

nham tạo ra những công trình văn hóa lớn mang dáu án Đại Thanh có thê sánh với các công trình của các triều đại trưóc, khá dĩ xóa đi mặc cảm vé nguôn gôc “1>Ỉ Địch” của mình Thứ hai, việc tập hợp một sô lượng nho

sỹ có trình độ học vấn cao, cả đời vùi đầu vào cõng việc chỉnh lý cổ thư tịch, có thể làm tiêu tan đi ý chí bài Thanh phục Minh trong họ Dù sao đi

nữa, kết quả khách quan của việc làm này đã tạo ra được mội số bộ '‘bách khoa loàn thừ' đồ sộ nhất trong lịch sử cổ irung đại Trung Quốc Trong sô đó

cỏ thể kể: ' l ’ứ khố í oàn thu*'; ‘ẼUvén giám loại hàm”; “Cổ kim đò thư tập thành” Việc ra đời những bộ sách hàng trăm, hàng ngàn cuốn như vậy có tác

dụng tiếp tục kích Ihích húng thú khảo cứu trong giới nho sỹ.

Sự truyền bá Tây học vào Trung Quốc của các giáo sỹ Gia Tô cũng là một nguyên nhân quan trọng làm dấy lên trào lưu Thực học Khoảng thời gian

tù cuối thể kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVII nhiêu giáo SV dã có mặt ở Trung Quốc Để có chỗ dứng, cỏ uy lín đủ để iruyên đạo, họ đã aiành lấy sụ tín nhiệm của triều đình bàng các tri thức khoa học mà họ mang lừ phương Tây lới Họ dược triều đình giao cho một số công việc như ;soạn lịch, xem thiên vãn, vẽ địa đồ Trường Ihành và các lỉnh của Trung Quốc Các giáo sỹ mặc Nho phục giao du với các nhà nho và mời một số người giúp dữ, cộng tác Irong việc chuyển dịch một số sách khoa học phương Táy sang chữ Hán Nhũng sách họ lổ chức dịch bao gôm: địa lý học cận đại cháu Âu, thiên vãn học, loán học triết học, Ihủy lợi, nông học, ngổn ngữ học Việc dịch thuật này đem lại những ưi thức mới me cho giới irí Ihức Trung Quốc lúc bấy giờ Khá nhiẽu nho sỹ đã liếp thu những tư tưởng và phương pháp nghiên cứu khoa học Tây phương, áp dụng nó vào các tác phẩm viêì vồ Trung Quốc sử dụng nhũng

Trang 29

tri Ihức và phương pháp đó vào việc đánh giá, chỉnh lý lại kho văn hiến Trung

Hoa -Các lác phẩm “Nó/ỉg chính loàn thứ' cùa Từ Quang Khải, " Vậl ìý liêu thức"; “Đóng Tây quàn" của Phương DT Trí là nhữníi thí du liêu biểu Nhữntì

kiến thức v'ê ám tự mẫu do các giáo sỹ chuyển dịch cũng rất được các Nho sỹ Trung Quốc liếp thu để nghiên cứu âm vận học Trung Quốc Người ta Ihấy những dấu ấn tác động của kiến thức văn tự mẫu của Lợi Mã Đậu (Matteo

Ricci 1552-1610) mội cách rõ nét irons các lác phẩm ãm vận học "Cổ ủm tùng mục’’, “CỔ ảm dì/' của Dương Thán: “Mao thi cổ ám kháo” của Trán Đệ; “Ảm học ngũ thư” của Cố Viêm Võ Những quan điểm iriết học, xã hội,

chính trị của Tây phương truyền bá vào cũng góp phần tạo ra những nhận thức mới của nho sỹ Trung Quốc về xã hội.

Khoảng thời gian cuối Minh đầu Thanh, kinh tế hàng hóa và đô thị cố những bước phát triển ỉ ớn Hàng loạt các trấn ven biển, ven sónụ có lính chái

đổ Ihị sản xuấl và Lrao đổi hàng hoá hình Ihành Tư liệu cho biết giai đoạn đó

đã có những xưởng sản xuất, khai khoáng với số nhân công lên lới hàng vạn người, số lượng hàng hóa sản xuất ra rất lớn Hàng hỏa của những xưởng sản xuấl này không chỉ liêu thụ trong thị trường nội địa mà còn bún ra nhi'cu nước khác Do san xuất thủ cóng nghiệp phái trĩ ổn, số Ihương nhãn cũng lăng theo

và hoạt độne mạnh Thợ và Ihưưnụ nhán hợp Ihành tang lớp thị dân đóng

đảo <’)■ các trán, là mộl lực lưựng quan ư ọng đòi hỏi dân chủ, đối đầu với chuyến chế và đấu tranh đòi dược bình đẳng với nòng dán Sự phát iriển của đô thị như vậy là môi ưừơng cho các ý tưởng dãn chú phucmg Tây có cơ sở thám nhập vào Kinh tế phát iriérL thị dản đổng lên, giao lưu mở rộng là nguyên nhân quan ưọng đổ Thực học Minh Thanh xuất hiện.

Khi phán lích nhũng nguyổn nhán dcm lại sụ ra dời cua Thực học,nhiêu người cũng nhăn mạnh nguyén nhân mang lính nội lại của Nho học Trung Quốc Người la thấy rằng cuộc đẩu Iranh học phái lâu dài giữa Lý học và Tám

Trang 30

học, giữa Kim vãn và c ổ vãn đến môt độ nhát định gặp được những iri Ihức mới lừ phương Tây truyền bá làm nảy sinh một trào lưu học thuật mới Nghiên cún lừ góc độ này, ntỉừưi la thấy dẫu có sự phổ phán Tống học mót cách say gắl đé bứi ra irở thành chính mình, Thực học van kê Ihừa và phát ưién nhiêu Ihành tựu quan trọng của Tống học nhát là Lý học Giữa Lý học và Thực học vãn có tính liên lục khỏng gián cách Những nhận thức mang tính bản Ihể luận

và nhận thức luận của các tác giả Thực học đều đã có nguồn, đã được đặt nền móng từ Lý học.

Thưc học ra đời lừ thế kỷ XVII và đã có những thành lựu lo lớn vào thế

kỷ XVIII, nhưng tại sao nó không lự vận động phái trién thành khoa học cận hiện đại? Nhũng nguyên nhân nàm ngay trong chính bản thân Thực học và đo thiếu những điều kiện kinh tế, xã hội khoa học cần và đủ.

Người ta nhận thấy rằng Thực học đã lác đổng tới sự phát triển cùa học thuật Trung Quốc, nhưng Thực học dù sao vẫn còn khác rất xa với khoa học Ihực nghiệm phương Tây cận đại Mậc dù kêu gọi hướng học Ihuật ve đối lượng thực liỗn nhưng khi nghiên cứu, khảo cứu các nhà Thực học vẫn lìm kiếm tri thức trong sách vò, tronỉí kinh điển Nho giáo là chính, để giải đáp các ván đố thực liẻn để minh chứng cho các phán đoán của mình chứ không phải bàng kháo sát thực tiễn Các nhà Thực học luy đưa ra kháu hiệu “ Thực sự câu th ị” , chuộng thực lien, nhung hâu như lại không hỏ làm cổng việc phân tích các sụ vật cùng các quan hệ của chúng để đua ra các két luận nhu cách nghiên cứu của Francis Bacon (1561 - 1626) dùng Ihực nghiệm và suy lý

lý lính để giải thích ihể giới tụ nhiên làm ra dời khoa học lự nhiên cận hiện dại Thực học đê cao linh Ihân nghĩ thục, làm thực, viết thực, đồ cao sụ ném Irái kinh tịch của các cá nhân, nhưng những linh Ihản đó cũng chỉ dàn lới chủ

nghĩa kình nghiệm và xa hơn nữa là lối uvên bác kinh viện irong các irước lác

Thành Lựu cao nhấl mà nỏ có thể lạo ra dược là nhũng bộ bách khoa sưu lập

Trang 31

văn hiến cổ, những sách thiên vãn, địa lý m à rất íl khi đưa ra dược các phát minh Rõ ràng ngay Irong lòng Thực học đã chứa những nhược điểm, vì thế nỏ khồng thể tự vận động đi tới cận hiện đại được Phải thav đổi nhiều hơn nữa, phải cổ những tiếp xúc với phươnti Tây sâu rộn<2 hơn nữa phai tự phũ định mạnh mẽ hơn nữa, mới làm ra đời được khoa học cận hiện đại như trường hợp Nhật Bản Thế nhưng iriều đình phong kiến trước de dọa ngoại xâm lại phản ứng bàng cách đóng cửa, cắt đứt giao lưu với bên ngoài, khổi phục Lý học iruyền thống một chính sách ngược dòng như Ihế làm cho những mầm mống khoa học cận đại đầu tiên bị thui chột nhanh chóng.

2 THỰC HỌC Ở NHẬT BẲN

ơ Nhật Bản Lý học Trình- Chu cũng có ảnh hưưng sâu sác và lâu dài Cho tới thế kỷ XVIII, khi Nho học đã có những biến đổi mạnh mẽ về chất, nhiều khuynh hướng Nho học khác đã ra đời và phát triển, Chu Hy vẫn có địa

vị độc tồn và được nhà nước coi là chính thống.

Nhưng đồng thời với việc tiếp thu Lý học Chu Hy, người Nhạt còn liếp thu Tâm học của Vương Dương Minh (1472 -1528) Tám học phát triển khá mạnh ở Nhại Bản và cũng giống như lình hình ở Trunụ Quốc, hai phái Lý học

và Tâm học cỏng kích nhau khá mạnh, ở điếm này của Nho học, Nhại Bản giống Trung Quốc và khác Việt Nam, nơi Tâm học hầu như khỏng có ảnh

hưởng gì đáng kể Cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, phái c ổ học ra đời cồng kích cả Lý học và Tâm học Những đại biểu quan Irọng của c ổ học là Sơn Lộc

Tố Hành( Yamaga Soko), Y Đàng Nhán Trai và Địch Sinh Tỏ Lai ( Ogyu

Sorai) Phái c ổ học muổn đi lun bản chấì lời dạy Ihánh nhản irong kinh đien

Nho giáo mộl cách Irực liếp, phủ nhận Tống Nho vồ mặt kinh đien.

Những người đề xướng phục c ổ học nhàm mục tiốu cồng kích Tống

Nho và lìm lời giải đáp cho thực tế xã hồi Nhậl lúc bấy giờ Đây cũng là mội đặc điểm íỊÌống sự ra đời của Thực học ở Trung Quốc Nhân Trai lán Ihành

Trang 32

quan điểm "Khí nhất nguyên luận" của các nhà Thực học Minh-Thanh kịch liệt phản đối Ihuvết "Tòn thiên lý, diệt nhãn dục" của Chu Hy Tác phẩm

"N ^ ữ mạnh lự nghĩa" của Nhân Trai và 'lManh Tử lự nghĩa sớ ch ứ n g ' của

Đới Chấn (Trung Quốc ) giống nhau vô cả lư iưởng và phương pháp Trong lĩnh vực chính Irị, Địch Sinh Tỏ Lai đã tách giữa chính trị và đạo đức tự nhiên, xã hội và con người, cái mà Chu Hy đã cố gáng gán chúng lại với nhau Không những thế, ông còn quan niệm mội cách rành mạch vé các lĩnh vực chung muníi lính quốc gia xã hội và lĩnh vực riêng mang lính cá nhãn Ong đặt lĩnh vực chung lén Irẽn và thừa nhận con nsuừi với thế giới nội lám riéng

có tính cá nhân Tư tưởng chính trị và xã hội của Tỏ Lai đã mang tính chất cận đại.

Vào khoảng niên hiệu Hưởng Bảo (1716-1735)tầng lớp thương nhán ở Nhậi phái iriển rấi mạnh và có uy Ihế kinh tế, xã hội lớn Thương nhân ra sức

ép buộc Mạc Phủ phải thực hiện cải cách Hưởng Bảo, dòi hỏi phải vứt bò những quan niệm cũ v'ê địa vị của họ Irong xã hội Thương nhân đòi hỏi phải dược bênh vực và thừa nhận từ góc độ luân lý, coi việc chạy theo lợi của họ cũng đáng lổn Irọng Thạch Điên Mai Nham (Ishi da Baigan) sáng lập ra phái

Tám học thạch mởn, phái ngốn những nguyện vọng và đòi hòi đó cùa thương

nhán Ôn» áp dụng nhũng khái niệm, nhũng phạm Irù cũ của Nho học cái lạo chúng Ihành mối hệ thống các quan diểm luân lv dạt) đức cho Ihucmg nhân

Tâm học thạch mởn ủng hộ việc chạy Iheo lợi và đòi hỏi 'Cóng thương Ịĩiai bấn' dông thời cũng đòi Ihưcmg nhán phải có đức mục: "chính trực”, "kiệm ước" Tám học Thạch mùn là sự thay đổi về chấl của Nho học irên thực lé

Cùng Ihời kỳ với SU' ra đời của Tám hục Thạch môn lại Osaka các dại

thu'(m<Ị nhán đã lập ra mổl cơ quan giáo dục dành cho con cm của giới mình

Iĩiang lên Hoài Đức đường Hoài Đức đường vồ mặl iư iưởng phủ nhạn Ihuyci

Ảm dương ngũ hành, giải thích lại quan niệm “ cách vật cùng lý" theo quan điểm

Trang 33

khả Iri luận Ngũ Tỉnh Lan Châu (Goi Ransyu 1697-1762) cho ràng “ Hiện tượng

lự nhiên có quy lưậl và nhờ đó con người nhận thức được giới lự nhiên".

Trong khoảng thời gian nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thố kỷ XIX, từ sự

ra đời của Cô học, Khảo chứng học,Tám học Thạch món và phái Hoài Đức đường đã chứng tỏ Nho học Nhật Bản có sự thay đổi v'ê chất Đó là một irào lưu Thực học Nho học mang nhiêu đạc điểm cận đại Sự ra đời của trào lưu này chứng tỏ Nhật Bản tiếp thu tư tưởng phương Tây đã khá sâu sắc, tạo tiên

đề cho việc tiếp xúc với Tây học ở giai đoạn tiếp theo Trong việc làm chuyển biến Nho học đó vai trò của thương nhân hết sức to lớn.

Nãm 1720, Đức Xuyên Cát Tôn (Tokygaoa Yoshimune) vị tướng quán thứ 8 đã nới lỏng quy chế du nhập sách phương Táy Tiếp theo ông ta lại cừ người đi Hà Lan học tập Những chính sách trên đây tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho văn minh phương Táy truyền bá vào Nhật Bản Lối nghiên cún khoa học Tây phương qua người Hà Lan, bàng liếng Hà Lan được gọi là Lan học Lan học đã đưa vào Nhật Bản những iri thức mới của Âu cháu như thiên vãn học, địa lý học, toán học, y học Lan học ngày càng có ảnh hưởng lớn làm thay đổi cách nghĩ của nhà nho về vãn minh phương Táy Chính những người Nhật tiếp thu Lan học vê sau đã phê phán Nho học cũ mội cách mạnh

mẽ, nhất là mật vũ trụ luận, thuyết Âm dương ngũ hành.

Sau việc đề đốc Mỹ Peưy buộc Mạc Phủ phải khai cảng mội cách ồ ạt, khống những Lan học mà cả các tri thức khoa học, lư tưởng của các nước Anh, Pháp, Đức được iruvCn vào Nhật Những kiến íhức mới dó người Nhạt gọi là

Dương học Dương học tham nhập làm cho các học giả Nho học buộc phải thừa nhận sự ưu việt của văn minh phương Tây khổng những chỉ ở mặl khoa

kỹ mà còn ở ca mặt chính trị xã hội Tiếp Ihu Dương hục, một lân nữa các nhà nho trên cơ sở những nhận thức mới đã úến hành giải thích lại các khái niệm của Nho học Bàng cách đó, Tây học dung hợp với Nho học và càng làm thay

Trang 34

đổi Nho học Đến dây sự chuyến biến từ Nho học truy én thống sang khoa học cận hiện đại đã được thực hiện một bước quan trọng.

Trong quá trình liếp thu Tây học thông qua nhữne khái niệm cùa Nho

học, nhiều học giả Nhật Bản vẫn giữ lại nhĩêu yếu tố của Nho giáo, nhấl là đời sống tinh thần, luân lý đạo đức Những yếu tố này vẫn còn được lưu giữ cho lới tận ngày nay mặc dù khoa học lự nhiên hiện đại đã rất phát Iriển Người ta thấy ràng, việc áp dụng các quan điểm luân lý cúa Nhơ giáo cho thương nhản,

tạo ra m ột thứ luân lý thương nhân là điểm khởi đầu quan trọng, vê lâu dài đã

biến Nho giáo trở thành một írong các yếu tố làm cho Nhật Bản phát triển.

3 THỰC HỌC Ở TRIỀU TIÊN

Các công Irình nghiên cứu v'ê học thuật của Triều Tiên thế kỷ XVII, XVIII đều thống nhất đánh giá đây là thời kỳ Triều Tiên có xuất hiện trào lưu Thực học N.I.Niculin trong bài viết so sánh Chunhan cùa Triều Tiên với Truyện Kiêu cùa Việt Nam cho ràng, khoảng thời gian thế kỷ XVII, XVIII

Triều Tiên có một trào lưu kêu gọi “học vấn thực tế’\ “kiến thức thực tê\ gọi theo tiếng Triều Tiên là “ S i r h a k Đây là một trào lưu có tư tưởng khai sáng, ủng hộ các khoa học hiện thực, nghiên cứu thực tiễn.

Các lác giả cuổn sách "Hùn Quốc dăĩ nước con người" hàng tiếng Việt xuất bản 1993 tại Seoul, cũng đánh giá một cách khái quái ràng: Từ đầu thế kỷ XVII, phong trằo nghiẽn cứu thực tiễn đã có sự ảnh hưởng lớn irong giới học giả-công chức có đầu óc tự do, mở đường cho việc xây dựng một nhà nước hiện đại Họ đưa ra những cái cách mạnh mẽ về cồngnghiệp và nống nghiệp và những cải cách ve phan chia dẩl đai Tuy nhien chính phủ của giới quý lộc báo Ihủ không đồng tình chấp nhận ỷ tường mới này.

Một sổ tài liệu khác cũng phân tích rằng thời gian thế kỷ XVII đầu

XVIII ở Triều Tien là thời kỳ hưng thịnh của rất nhiều ngành khoa học Người

Trang 35

la thường nhác tới bố sách “Văn hiến bị khảo” với tính chấl là môl bộ sách

khảo chứng thuyết minh VÈ hầu hết các Irước tác của các học giả Triều Tiên iron lấi cả các lĩnh vực: thiên vãn địa lý lịch sử Nhiêu học giả tập hợp thành

một phái dược gọi là “Phái Thực học", gôm Lý Dực(1682 - 1764), Phác Chỉ Nguyên (1737 -1805) Những người theo phái Thực học phản đối Nho học

mang tính kinh viện đang thịnh hành ở Triều Tiên lúc bấy giờ Đồng thời họ cũng phê phán quan điểm tự cao tự đại không thèm học hỏi bên ngoài của những người cầm quyền Một số học giả sau khi đi kháp Trung Quốc v'ê nước

đã viết sách kôu gọi học tập Trung Quốc Phác Chi Nguyên sau khi chu du kháp Trung Quốc trong nhiêu nãm, thấy sự phát triển rực rỡ của học thuật đầu

đời Thanh về nước đã viết tác phẩm với nhan đề: “Nhiệí hà nhật ký”, irong đó

so sánh tình hình ở Trung Quốc với Triều Tiên, kêu gọi học tập Trung Quốc, phải bỏ thái độ tự cao tự đại để học tập lấy những thành tựu học thuật mới ở Trung Quốc Phác Chỉ Nguvên kêu gọi Triều Tiên cần phải cải cách ngay, cải

cách khống chậm irễ ‘‘Nhiệt hà nhật ký”còn kêu gọi những thế tộc đại phiệt

ở Triều Tiên cần phải làm những công việc có ích, thiết thực, trong đó có việc làm cho bản thân quý tộc và quốc gia giàu có lên, nghĩa là phải theo đuổi công việc kinh doanh buôn bán Các thế kỷ trước chưa ai dưa việc này thành vấn dê cổng khai bức xúc như vậy.

Lv Dực phô phán xã hội đương thời ỏ' Triêu Tién mộl cách khá sáu sãc

và toàn diện Ong viết lới gần 100 cuốn sách, trong dó cỏ mội số cuốn bàn bạc

ve Iriết học cỏ ít nhiều biểu hiện của tư tưởng duy vật, cho ràng giới tự nhiên không phải là sản phẩm của Trời, hay của con người, mà là mội Ihế giới vật chất vận động khồng Iheo ý muôn của Trời và người Trong lĩnh vực chính irị

xã hỏi, ông chỉ ra sáu nguy cư trong xã hội, gọi sáu nguv cơ dó là sáu con moi

(lục đố) gặm nhấm, phá húy xã hội Sáu con mọí dó là: Tàn du của xã hội nò

lộ còn chi phối đất nước Triều Tiên lúc bấy giờ; Chế đổ khoa cử hủ bại: Ché' độ

Trang 36

mồn phiệt; Thói xa xỉ; Tâng lữ ãn bám; Thói lười biếng Theo ổng có khác phục sáu lệ nạn đó mới có thể xây dựng xã hội Triều Tiên thành một xã hội nông dân lý tưởng.

Những biểu hiện đó cho tháy thế ky XVIII ở Triêu Tiên có xuát hiện trào lưu Thực học cũng khá sâu sắc và loàn diện, luy phát triển không cao bàng Trung Quốc và ảnh hưởng Tây học khỏng lớn bàng Nhậi Bản.

II B Ố I C Ả N H C H U N G C Ủ A N H O H Ọ C V IỆ T N A M Đ Â U T H Ế

K Ỷ X V III V À M Ộ T SỐ V Ấ N Đ Ê Đ Ậ T RA T R O N G N H O H Ọ C

Nho học Việt Nam đã qua quá Irình vận động nhiêu thế kỷ để đi tới thời điểm đầu thế kỷ XVIII Diện mạo, đặc điểm, cùng những vấn đ'ê đặt ra trong nội bộ Nho học đầu thế kỷ XVIII đã dược chuẩn bị, quy định bởi cách thức và đường hướng vận động của nhiêu thế kỷ irước đó Sự chuẩn bị của quá khứ kết hợp với những điều kiện đặc Ihù của kinh tế, xã hội, chính trị và vãn hóa đương thời, lạo ra những nét riêng của Nho học thế XVIIL cả những đòi hỏi cần giải quyết và cách thức giải quyết.

1- QUÁ TRÌNH VẰN ĐỘNG CỦA NHO HỌC VIỆT NAM TÓI

THỜI ĐIỂM ĐÂU THẾ KỶ XVIII

Cuối thế kỷ XVII dầu thế kỷ XVIII, Nho học đã Irủi qua mộl thời kỳ vận động láu dài ở Việi Nam, nhiồu vấn dồ đặi ra cần giải quyối trong nội bộ Nho học Ihê' kỷ XVIII đã có nguồn lù nhiêu thế kỷ irước Củch Ihức vận động

di tới thời điểm đầu thế kỷ XVTI1, qui định diện mạo, lính chái, sự phái triển của Nho học thố kỷ XVIII, đầu Ihê kỷ XIX.

Sau nhiêu thế kỷ giành giâl chỏ đứng, bál rẽ ngày càng sàu rộng, lạo anh hương và gây dưng uy lín, đầu thố ký XV sự kếi hợp Nho giáo với chế đổ

Trang 37

quân chủ chuyên chế đã hoàn thành Trong thòi điểm "đãng quang” của Nho giáo ở Ihế kỷ XV đó, nhiêu biểu hiện huy hoàng của Nho học đã được tạo dựng Thời điểm này nhiêu yếu tố của Nho học đã đạt đến độ mà các nhà nho thời sau cho là điển phạm Đăy là thời kỳ, mỏ hình tổ chức xã hội theo Nho giáo được xác lập hoàn chỉnh, từ chế độ giáo dục khoa cử, tuyển bổ quan lại, sáp đặt hành chính cho đến vãn chương, học thuật Thời Hồng Đức, nho sỹ dầy trong iriều đình với học vị cao qúy- Tiến sỹ Cũng chưa bao giờ nho sỹ có ảnh hưởng và được lôn vinh đến như thế Đáy là thời kỳ sung sức của Nho học Khi được chính trị sử dụng, nâng đỡ, Nho «iáo đã phát huv sức mạnh, lạo ra một thời kỳ Ổn định thịnh trị có tính mảu mực của chế độ chuyên chế Nho giáo Việt Nam Thời kỳ này những hạn chế khó tránh khói trong giáo dục và khoa

cử chưa bộc lộ nhiều, những điểm yếu của mồ hình quản ỉý đất nước theo Nho giáo chưa “thành vấn đtT.

Thời kỳ “yên ổn Irên ngai vàng” của Nho không được bao láu Sau khi

Lê Thánh Tông mất, cục diện chính trị chuyển vận không ngừng Chế độ chuyên chế theo Nho giáo mới vừa “đãng quang”, dã bước ngay vào thời kv Ihứ thách Các Iriồu vua thay nhau liên lục vào giai đoạn cuối thế kỷ XV, đầu Ihể kỷ XVI Nho giáo không còn sức mạnh bảo vệ sụ ổn định của ngai vàng như thời Hồng Đức Sau đó cục diện chính trị còn biến đổi mạnh mẽ hơn Mạc cướp ngòi Lê lu' tương nho sỹ bál dầu phân hóa Dưới thời vương Irieu Mạc Nho giáo bước vào môt Ihời kv tạo ảnh hưởng mới Mạc đã kế thùa dược nhiêu mậl do thời Hong Đức xác lập, nhất là ở phương diện học thuậl, quan lý

xã hội Iheo Nho giáo dục khoa cử mặc dù diêu dó khổng được thùa nhận mộl cách chính thức Bung sự náng đỡ của các vua Mạc Nho học vẫn có sự phái Irién: việc lổ chức dều dặn các kỳ thi, hệ thong giáo dục ổn dịnh tứ irung ương đến địa phương, nhiêu nho sỹ lõi lạc xuất hiện Những điển chế thiếl lạp dưới

Trang 38

hội nói chung của thời Mạc, các nho sỹ thời sau buộc phải thừa nhận đáy là một thời kỳ thái bình thịnh trị Tuy nhiên sự thừa nhận những đóng góp của Iriêu Mạc đối với Nho học đêu không công khai, chính thức Những điển chế

mà iriêu Mạc thiết lập, đời sau kế thừa chi nói ràng "theo lệ cũ" Điêu đó có

lý do Triều Mạc lật đổ ngôi vua Lê là một sự tiếm nghịch, là vi phạm nguyên lác tối thượng của Nho giáo Sự tồn tại của vương triÊu Mạc trên nửa thế kỷ luôn luổn là không thể biện hộ được xél từ góc độ lý luận Nho giáo Tuv Nho học Ihời Mạc có sụ phái triển không thể phù nhận, nhưng sự khủng hoảng của

lư tưởng chính thống Nho giáo xét trong phạm vi dạo thống dã bál dâu Từ dây vấn đê chính thống hay không chính thống sẽ luôn là vấn đ'ê ám ảnh đối với nho sỹ.

Nhiều nho sỹ lỗi lạc của thế kỷ XVI phụng sự vương ưiều Mạc, nhung

không tránh khỏi tâm lý cho đó chỉ là sự ứng xử mang tính “thòi biển", mà

không có sụ giải tỏa hoàn toàn v'ê tinh thần Sự trung thành tuyệt đối được hệ

lý luận bảo hộ cũng khó có trên thực tế Nho sỹ lỗi lạc của thế kỷ XVI, một bầy tôi của Mạc như Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn không khỏi không quan hệ với các lập đoàn phong kiến khác, và ngói vua của nhà Lé luôn luôn ám ảnh ỏng

dẫu chỉ là “lượng Phật thờ dể ăn oản' mà thôi Mạc Ihâì bại irước Trịnh,

trong muôn vàn lý do cớ lý do Ihiếu chính thông Trịnh, Ironíỉ số nhũng lợi

thể có lợi the Jem là danh nghĩa "pho Lê" Nhà Lê trung hunu nhung quyên

lực của vua Lê lại khống được Irung hưng theo.

'Cùng sự sang irang của lịch sử, Nho học bước vào một giai đoạn mới Mượn danh nghĩa của vua Lủ chúa Trịnh sử dụne nho sỹ, liếp lục dùng Nho giáo với tư cách là mổl quốc giáo, phát triển Nho học Suổì thố ký XVIỈ chúa Trịnh đã ra sức lập hợp đội ngũ nho SV phụng sụ cho m inh, m ang «n m ình Tuy nhiên sự lổn tại của ngôi Chúa bên cạnh ngôi vua vản luOn luỏn là ván đê khổng thể biện hồ được theo quan điểm chính thống Nho giáo Dưới triều

Trang 39

Mạc, sự khủng hoảng của đạo Ihống Nho giáo đã bát đầu Mạc thất bại, sự khủng hoảng ấy không mất đi Sang thời lộng quyền cùa chúa Trịnh, cát cứ của chúa Nguyền, sự khủng hoảng ấv càna năng nề Nhung nó chưa có điêu kiện gây ra những ảnh hưởng xã hội lớn Thế kỷ XVI XVII văn có những giai đoạn thái bình thịnh irị mang lính chất cục bô Đến cuối thế kỷ XVII, đầu thế

kỷ XVIII tình hình khác hẳn.

Cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII song song tồn tại hai Chúa cùng lỡn thờ một vua Lê trên danh nghĩa Sự tồn lại này đã tạo ra một chỏ dựa lư tưởng cho nhiều kẻ anh hùng hảo hán kháp nơi tự thấy mình tài nàng chẳng kém ai Họ tự đặt câu hỏi: Nguyẽrụ Trịnh lộng quyền, cái cứ được la cũng chia sơn hà được! Thế là thêm một nguyên nhân quan trọng thúc đẩy hàng loạt kẻ nổi lên xưng hùng xưng bá kháp từ Bấc chí Nam: Nguyễn Hữu Câu, Nguvển Tuyển, Nguyễn Cừ, Hoàng Cóng Chấl, Lê Duy Mật, Nguvễn Nhạc, Nguyễn Huệ Họ được những người nông dân đang trong tinh trạng có quá nhiêu lý

do để nổi dậy( không có ruộng cày do cống điồn biến thành lư điền, thiên tai, Irọm cướp, cường hào ác bá .) ủng hộ Đáv là một thời kỳ nông dân nổi dậy rầm rộ nhất trong lịch sử, khiến các sử gia ngày nay gọi thố kỷ XVIII là "thế

kỷ nóng dán nổi dậy”. Tuy nhiên, tất cả họ đêu thát bại chi một Nguyễn Huệ thành công Trong con mál của các nhà nho, sự nổi dậy ồ ạt cùa nóng dân như vậy là ' thòi loạn”. Bối cảnh ' thòi loạn” cùng với sự xuái hiện cua những

VCU lố kinh lế - xã hội íl nhiều có thổ gọi là phi cổ iruyởn, như sự phái triổn

của kinh lế hàng hóa đổ thị cuối thố kỷ XVII của ihưcme nghiệp và thương nhân, sụ thám nhạp của vãn hóa và học thuật Minh -Thanh mang nhiêu đặc điểm mới qua sự Ihâm nhập của thư tịch, qua sự liếp xúc trực tiếp cùa các nhà nho (chúng tôi sẽ phân tích tỷ mỷ vấn đê này à phần Tình hình thư tịch tiếp sau) đã đặl các nhà nho của thời kv này Irước sự Ihử thách Nho giáo sau

m ấy th ế kỷ xác lạp, rúl cục đã khổng làm cho xã hội dược thái bình thịnh trị.

Trang 40

khống chống được loạn, không bảo vệ được ngỏi vua, không ngãn chặn được

các hành động tiếm nghịch, không làm cho danh được chính, phân vị được rõ ràng Nguy cơ đe dọa khủng hoảng tư iưởng chính Ihống Nho giáo có nguồn từ các giai doạn irước, irong bối cảnh dặc thù này mới có cơ bùng nổ, đẩy Nho giáo vào lình trạng suy yếu, bất lực Thời loạn tác dộng mạnh lới lư tưởng của giới nho sỹ, làm nảy sinh mộng chấn hưng dại định Irong họ Hàng loạt vấn đ'ê đặt ra trong nội bô Nho học cân cấp bách giải quyết Sự nhận diện các nguy

cơ, các ván đ'ê đật ra và sự chọn hướng giải quyết của các nhà nho như thế nào, sẽ tác động lớn tới Nho học giai đoạn tiếp theo.

2 NHỮNG VẤN ĐÊ ĐẶT RA VÀ HƯỚNG GIẢI QUYẾT

Vấn đ'ê lớn nhất đặt ra cho giới nho sỹ đầu thế kỷ XVIII là phải chấn hưng Nho học, tái thiết lập uy quyền của đạo thống bằng mọi cách, ngàn chạn

sự khủng hoảng tư tưởng chính thống Nho giáo Đứng trước sự bất lực của Nho, để tãng cường khả nãng “chiến đấu” chống bạo loạn của Nho giáo, Iheo suy luận thông thường, đánh giá lại Nho giáo là tất yếu, phán xét lại Nho là không thể né tránh, tương tự như các nho sỹ Thực học cuối Minh đầu Thanh ở Trung Quốc đã làm Nhưng các nhà nho Việt Nam lại khona làm nhu vậy và không thể làm như vậy Để giải quyết những vấn đê đặl ra các nhà nho Việt Nam thế kỷ XVIII nhìn nhận lại hệ ihống lý luận của Nho ít nhiêu có phổ phán, nhưng lù sự phê phán để khẳng định Họ cho ràng, sò dĩ có tình irạng Nho không giải quyếl được những vấn đồ của thời cuộc như vạy không phai Nho giáo là sai, là độc hại, là cái cần loại bỏ mà chi là do hệ lý luận của Nho hàm chứa tron" các kinh điển khÓHỊỉ được tim hiểu, nhận thức đến noi dến chớn. Do người đi học xem '‘Thánh kinh lủ dấu xưa cũ kỹ, cồ sử là cáu

chuyện nhàn dám". Họ còn Ihấy nguyên nhãn nằm trong những lệ doan của giáo dục và khoa cừ đương thời Việc dạy và học kinh điển không được liến hành tốt cũng là nguyên nhân dẫn đến hệ lý luận Nho khồng được giới nho sỹ

Ngày đăng: 22/04/2020, 15:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w