Các kiểu quan sát trong đánh giá kết quả học tập: Quan sát là một phương tiện đánh giá HS theo hướng định tính, cung cấp thông tin có tác dụng hỗ trợ cho phương pháp đánh giá định lượng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc -BÀI THU HOẠCH
BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN GIÁO VIÊN Module TH25: Các kĩ thuật bổ trợ trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập ở tiểu
học
Năm học:
Họ và tên: Đơn vị:
1 Kỹ thuật quan sát, phân loại các kiểu quan sát trong đánh giá giáo dục và thực hành sử dụng cách thức quan sát và công cụ ghi nhận các quan sát:
1.1 Các kiểu quan sát trong đánh giá kết quả học tập: Quan sát là một phương tiện đánh giá HS theo hướng định tính, cung cấp thông tin có tác dụng hỗ trợ cho phương pháp đánh giá định lượng bằng các bài kiểm tra Có 2 loại quan sát:
a) Quan sát quá trình: là theo dõi hoặc lắng nghe HS đang thực hiện các hoạt động học tập Quan sát quá trình sẽ cho GV biết cách HS cư xử như thế nào cách các em học cá nhân hay nhóm, biết các em đang làm gì, gặp những khó khăn nào trong học tập
b) Quan sát sản phẩm: là xem xét sản phẩm của HS sau một hoạt động Sau khi quan sát,
GV cho nhận xét, đánh giá
Một số mục tiêu có thể đánh giá bằng phương pháp quan sát trong dạy học như:
Lĩnh vực mục
tiêu
Các hành vi điển hình
Kỹ năng Nói, viết, làm thí nghiệm, vẽ, hát, chơi nhạc cụ, thể dục…
Thói quen học tập Sắp xếp thời gian học tập, sử dụng phương tiện học tập, kiên trì, óc
sáng tạo…
Thái độ xã hội Quan tâm đến người khác, tôn trọng của công, pháp luật; có mong
muốn làm việc có tập thể, nhạy cảm với vấn đề xã hội, tôn trọng quyền sở hữu…
Thái độ học tập Sẵn sàng tiếp thu cái mới, có óc hoài nghi khoa học (hỏi, tự đặt câu
hỏi, tìm cách trả lời…)…
Trang 2Thái độ thẩm mỹ Yêu thích thiên nhiên, nghệ thuật, yêu thích môn học, có óc thẩm
mỹ…
1.2 Các công cụ ghi nhận kết quả quan sát:
a) Sổ theo dõi kết quả kiểm tra, đánh giá HS
b) Sổ Chủ nhiệm
c) Sổ nhật ký GV: Chẳng hạn: Ngày 14/3/2010 Toán bài 20 Nhận biết các số từ 1_20 Bạn A nhận biết số rất nhanh trong trò chơi
Bạn B hơi chậm khi ghép hình 15 con cá
d) Bảng kiểm: là bảng liệt kê những hành vi, tính chất…kèm với yêu cầu xác định và được dùng như bảng hướng dẫn theo dõi, xem xét, ghi nhận các quan sát
Ví dụ: Khoanh tròn C (CÓ) hoặc K (KHÔNG)
Phát âm chuẩn C K
Nói trôi chảy C K
Liên quan đến bài học C K
Thời gian không quá 3 phút C K
đ) Thang mức độ: là phương cách tiện lợi để ghi nhận và báo cáo các vấn đề đã quan sát trên một nội dung kiểm tra rộng lớn hay phức tạp Thang mức độ thường được xác lập với những mức độ có tính chất định tính hay miêu tả như “Xuất sắc, Trung bình, thường xuyên, hiếm khí…” và nó có chức năng tương tự như thang số
Ví dụ: Khoanh tròn một trong các số dưới đây để chỉ mức độ HS đóng góp vào buổi thảo luận Điểm 5 Xuất sắc; 4 Khá; 3 Trung bình; 2 Yếu; 1 Kém
i HS tham gia vào buổi thảo luận ở mức độ nào? 1 2 3 4 5
ii Các ý kiến trao đổi liên quan đến chủ đề thảo luận ở mức độ nào? 1 2 3 4 5
1.3 Tiến trình và cách thức ghi nhận các quan sát để cho nhận xét
a) Trước khi quan sát: Câu hỏi gợi ý giúp GV lập kế hoạch quan sát
- Sẽ tìm hiểu điều gì khi quan sát?
- HS nào sẽ được quan sát?
- Khi nào sẽ quan sát?
Trang 3- Những thông tin nào cần được ghi nhận?
- Ghi nhận những thông tin đó như thế nào?
- Có điều gì ảnh hưởng đến việc quan sát không?
b) Trong khi quan sát:
- Sử dụng công cụ quan sát để theo dõi hoạt động học tập của HS
- Thu thập đầy đủ các dữ liệu, tránh định kiến
- Đối chiếu với những kết quả trước đây mà HS đạt được để có thể nhận ra sự tiến bộ của các em
c) Sau khi quan sát: Căn cứ trên các ghi nhận GV đưa ra nhận xét nhằm phân tích và đánh giá những kết quả mà HS đạt được cũng như cho HS hướng phát huy hay điều chỉnh hoạt động học tập
2 Kiểm tra miệng
– Khái niệm, tính chất và nguyên tắc kiểm tra miệng ở tiểu học:
2.1 Khái niệm Kiểm tra miệng (KTM): KTM là thuật ngữ chỉ hoạt động đánh giá thường xuyên và trực tiếp đối mặt giữa GV và HS nhằm đo lường một số hành vi thể hiện sự hiểu biết và khả năng ứng dụng những điều mà các em đã học
Lợi ích của KTM: theo dõi sự lĩnh hội và phát triển của HS một cách liên tục trong học tập, nhờ vậy có những biện pháp điều chỉnh kịp thời quá trình dạy học của mình Bên cạnh đó GV có thể có những hình ảnh rõ nét về trình độ của HS và từ đó động viên, khuyến khích hoặc giúp đỡ HS trong học tập
2.2 Hình thức KTM ở tiểu học:
- Hỏi-đáp với những câu hỏi đóng hoặc mở (kiểu tự luận hạn chế)
- Hỏi-đáp với những câu hỏi trắc nghiệm khách quan
- Trò chơi/tình huống/thảo luận/trình bày
- Bài tập thực hành
2.3 Tính chất của KTM:
- Ghi nhớ - tái hiện đơn giản
- Ghi nhớ - tái hiện sáng tạo
- Ghi nhớ - vận dụng – giải quyết vấn đề
Trang 42.4 Nguyên tắc thực hiện:
- Nắm rõ nội dung cần kiểm tra (Kiến thức/kỹ năng/thái độ)
- Dựa vào nội dung kiểm tra đã xác lập GV thiết kế hay lựa chọn một vài hoạt động để đánh giá HS
- Nên sử dụng nhiều hình thức, kỹ thuật kiểm tra nhằm tránh sự đơn điệu, tránh lặp lại nguyên văn những câu hỏi, những bài tập đã được dùng trong lúc giảng dạy ở bài cũ
- Ngoài kiểm tra ghi nhớ-tái hiện đơn giản, KTM cần tạo cơ hội cho các em áp dụng những kiến thức, kỹ năng đã học vào đời sống hằng ngày và giải quyết vấn đề, tạo cho các em có cơ hội được thể hiện, được diễn đạt, được trình bày
3 Kiểm ta thực hành:
- Khái niệm thực hành và những kết quả học tập được đánh giá qua kiểm tra thực hành
- Vận dụng các biện pháp kiểm tra thực hành
3.1 Khái niệm và những kết quả học tập được đánh giá qua bài thực hành
a) Bài thực hành là gì? Là một kỹ thuật đánh giá mà trong đó các hành vi của HS sẽ được xem xét trong những tình huống cụ thể, nó đòi hỏi HS phải thể hiện các kỹ năng bằng hành động thực tế Bài thực hành liên quan đến LÀM hơn là đến BIẾT GV vừa đánh giá được phương pháp / tiến trình hoạt động mà HS thực hiện vừa đánh giá được sản phẩm
do HS tạo ra từ việc thực hiện ấy
b) Những loại khả năng được kiểm tra trong bài thực hành:
- Khả năng ứng dụng
- Khả năng nhận diện vấn đề, thu thập dữ liệu, tổ chức, tích hợp và đánh giá thông tin và sáng tạo được nhấn mạnh
- Vẽ tranh, hát, động tác thể dụng hay trình bày miệng, sử dụng dụng cụ khoa học… 3.2 Các loại bài thực hành:
a) Bài tập thực hành hạn chế: thường bắt đầu bằng những chỉ dẫn hạy động lệnh trong đó nội dung và yêu cầu thực hiện được giới hạn trong một vài bài hoặc trong nội dung chuyên biệt Ví dụ Viết tên các nước vào những chỗ trống thích hợp lên bản đồ Châu Mỹ; Ghép 4 hình tam giác (cho trước) để được một hình vuông…
b) Bài tập thực hành mở rộng: đòi hỏi HS phải tìm kiếm thông tin từ nhiều nguồn khác nhau vượt ra ngoài phạm vi những thông tin đã được cung cấp trong chính bài tập đó hay vượt ra ngoài nội dung của một vài bài học Ví dụ: Thực hiện một cuộc khảo sát; Trình
Trang 5bày miệng kết hợp với minh họa bằng hình ảnh; Cách sử dụng thư viện; Ghi nhận và phân tích các quan sát, thu thập và phân tích dữ kiện trong thí nghiệm…
Cụ thể Môn TNXH lớp 2
I Giúp HS vận dụng về kiến thức của những loại thân cây đã học để nhận biết, miêu tả và nhận xét thân cây trong thực tế
II Đóng vai nhà nghiên cứu khoa học, HS khảo sát, mô tả và phân loại các thân cây có trong trường học hoặc nơi em đang sống
III Yêu cầu HS nêu đặc điểm tương tự với những thân cây em đã học và chỉ ra những loại thân cây chưa học
IV Hướng dẫn HS cách sử dụng sách báo có ở thư viện để tìm tư liệu
v.Chia tổ nhóm và nêu nhiệm vụ thực hiện cho các thành viên trong nhóm
vi.Nêu yêu cầu đánh giá kết quả thực hành
3.3 Hạn chế của bài thực hành:
- Việc cho điểm cũng như nhận xét đánh giá có thể không tin cậy
- Mất nhiều thời gian tiến hành, đặc biệt là bài thực hành mở rộng
- Tính khái quát của việc đánh quá trình hoạt động trong các bài tập thực hành thấp 3.4 Cách xây dựng một bài thực hành:
Bước 1: Tập trung vào những thành quả học tập đòi hỏi các kỹ năng nhận thức và thực hành phức tạp Từ đó, xác định các thành quả quan trọng cần đánh giá bằng thực hành Bước 2: Chọn và phát triên bài tập thể hiện đầy đủ cả nội dung kiến thức và kỹ năng liên quan trực tiếp đến các thành quả học tập trọng tâm đã xác định ở B1
Bước 3: Luôn tập trung vào ý định đánh giá
Bước 4: Cung cấp hay gợi ý cho HS những hiểu biết cần thiết
Bước 5: Xây dựng phương hướng và tiến trình thực hiện bài tập một cách rõ ràng
Bước 6: Cho HS biết các tiêu chí đánh giá các hoạt động trong khi làm và sản phẩm sau khi làm
3.5 Cách đánh giá các kỹ năng thực hành: Quan sát và ghi chép điều đã quan sát được;
Sử dụng bảng kiểm; thang mức độ…
4 Học sinh tự đánh giá:
Trang 6Thực hành các biện pháp rèn kỹ năng tự đánh giá cho học sinh và đánh giá lẫn nhau
VI HỌC SINH TỰ ĐÁNH GIÁ
1 Tại sao cần rèn cho HS tiểu học kỹ năng tự đánh giá?
Tự đánh giá là hoạt động của HS đánh giá bản thân và đánh giá các bạn học cùng lớp, thông qua đó hình thành rõ ràng hơn yêu cầu học tập, cách ứng xử với người khác và từ
đó các em điều chỉnh hay phát triển hành vi thái độ của bản thân Mặt khác nếu các em biết cách tự kiểm tra việc học, nhận thức được những gì mà gia đình, nhà trường mong đợi ở mình, tự tin để đánh giá bản thân và qua đó các em có thể kiểm soát được việc học của bản thân, lên kế hoạch để cải thiện việc học của mình, cảm thấy thoải mái về những
gì các em làm được và dần dần lĩnh hội được cách tự học
2 Các biện pháp giúp HS đạt được kỹ năng tự đánh giá
a) GV cần đặt câu hỏi giúp HS suy nghĩ về việc học của mình Ví dụ: Em đã đọc lại bản nháp và kiểm tra lỗi chính tả chưa? Em nghĩ em giỏi phần nào trong bộ môn toán… b) Hướng dẫn cho HS viết nhật ký học tập theo gợi ý của GV.Ví dụ: Những khó khăn em thường gặp phải, những điểm mạnh mà em cảm thấy, ý kiến về chất lượng làm bài của em…
c) Tổ chức hoạt động trao đổi về việc học tập và rèn luyện theo nhóm trong các tiết sinh hoạt hay ngoại khóa
d) Đưa ra những giới hạn với những yêu cầu cụ thể làm căn cứ cho HS tự đánh giá và đánh giá bạn trong các tiết học Tránh đánh giá theo dạng chung chung “đúng, rõ ràng, hay, tốt…”
e) Phối hợp với gia đình tạo cơ hội cho HS kể lại, nhận xét quá trình và kết quả học tập của mình với cha mẹ; tạo cơ hội cho HS báo cáo với cha mẹ mình trong các buổi họp đối mặt (cha, mẹ, GV chủ nhiệm và HS) Từ đó các em có trách nhiệm hơn đối với việc học của mình, các em tự hào về bản thân mình hơn, tạo mối quan hệ tích cực hơn đối với GV
và xây dựng được một ý thức cộng đồng trong lớp học đồng thời phát triển kỹ năng điều hành cho HS và mối liên hệ giữa nhà trường với gia đình được phát triển chặt chẽ hơn f) Lập những phiếu để giúp HS dễ dàng thể hiện các nhận xét tự đánh giá Ví dụ:
+ Tên HS: lớp ngày
+ Ở trường em giỏi về + Em nghĩ em cần giúp đỡ về
Trang 7+ Môn học em thích là bởi vì + Những điều em thấy khó khăn khi học là +…
, ngày tháng năm
Người viết
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc -BÀI THU HOẠCH
BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN GIÁO VIÊN Module TH26: Hình thức tự luận và trắc nghiệm trong đánh giá kết quả học tập ở
tiểu học
Năm học:
Họ và tên: Đơn vị:
I BÀI TỰ LUẬN
1 Các kết quả học tập mà tự luận có thể kiểm tra được:
- Trình bày kiến thức sự kiện; nêu khái niệm, định nghĩa; giải thích nguyên tắc; mô tả phương pháp/tiến trình
- Kỹ năng vận dụng kiến thức, phân tích, tổng hợp, suy luận và đánh giá những thông tin mới nhờ sự hiểu biết
- Kỹ năng suy nghĩ và giải quyết vấn đề
- Kỹ năng chọn lựa, tổ chức, phối hợp, liên kết và đánh giá những ý tưởng
- Kỹ năng diễn đạt ngôn ngữ
Thực tế, ngoài những bài tự luận dùng để đo lường những kết quả học tập phức hợp như giải quyết vấn đề, những kỹ năng trí tuệ cao vẫn có những bài chỉ đòi hỏi HS tái hiện đơn thuần những điều đã học (những bài như thế hiện nay được sử dụng như công cụ chính)
2 Các hình thức bài tự luận: được phân theo 2 hướng:
Trang 8a) Dựa vào độ dài và giới hạn của câu trả lời:
- Dạng trả lời hạn chế: Về nội dung: phạm vi đề tài cần giải quyết hạn chế Về hình thức:
độ dài hay số lượng dòng, từ của câu trả lời được hạn chế Dạng này có ích cho việc đo lường kết quả học tập, đòi hỏi sự lí giải và ứng dụng dữ kiện vào một lĩnh vực chuyên biệt
- Dạng trả lời mở rộng: cho phép HS chọn lựa những dữ kiện thích hợp để tổ chức câu trả lời phù hợp với phán đoán tốt nhất của họ Dạng này làm cho HS thể hiện khả năng chọn lựa, tổ chức, phối hợp, tuy nhiên làm nảy sinh khó khăn trong quá trình chấm điểm Có nhiều ý kiến cho rằng chỉ sử dụng dạng này trong lúc giảng dạy để đánh giá sự phát triển năng lực của HS mà thôi
b) Dựa vào các mức độ nhận thức: Có 4 loại:
- Bài tự luận đo lường khả năng ứng dụng;
- Bài tự luận đo lường khả năng phân tích;
- Bài tự luận đo lường khả năng tổng hợp;
- Bài tự luận đo lường khả năng đánh giá
Ở tiểu học, bài tự luận chủ yếu đo lường khả năng ứng dụng
3 Cách biên soạn đề bài tự luận:
- Xem xét lại những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng cần đánh giá
- Nội dung đòi hỏi HS dùng kiến thức đã học để giải quyết một tình huống cụ thể
- Nội dung câu hỏi phải có yếu tố mới đối với HS
- Mối quan hệ giữa kiến thức được học với giải pháp cần sử dụng cho vấn đề đặt ra có thể gần nhưng không dễ dàng nhận ra được
- Bài tự luận được trình bày đầy đủ với 2 phần chính: Phần phát biểu về tình huống và Phần phát biểu về sự lựa chọn sao cho mỗi HS có thể làm việc trong một ngữ cảnh bình thường và dễ hiểu
- Phần hướng dẫn trả lời: trình bày những mức độ cụ thể của câu trả lời: độ dài của bài, những điểm chuyên biệt, những hành vi cần thể hiện như giải thích, miêu tả, chứng minh…
- Hình thức của bài tự luận có thể là câu hỏi hay lời đề nghị, yêu cầu
4 Cách chấm điểm bài tự luận:
Trang 9GV xây dựng thang điểm chấm Tùy theo đặc điểm thang điểm chấm mà việc chấm bài tự luận chia thành 2 hướng:
a) Hướng dẫn chấm cảm tính: Khi thang điểm chấm được nêu một cách vắn tắt với những yêu cầu tổng quát thì khi chấm thường có xu hướng chấm theo cảm tính
b) Hướng dẫn chấm phân tích: Khi thang điểm chấm với những yêu cầu chi tiết cho từng mức điểm đến mức có thể lượng hóa được thì việc chấm thường có xu hướng phân tích
II BÀI TRẮC NGHIỆM
1 Quy trình soạn thảo bài trắc nghiệm:
1) Nắm đề cương môn học/ phần học/chương học
2) Xác định phạm vi nội dung và mục đích của bài kiểm tra
3) Xây dựng kế hoạch trắc nghiệm: Nội dung, mục tiêu, kỹ thuật đánh giá và số lượng câu cho mỗi mục tiêu
4) Chọn lựa hình thức kiểm tra và viết câu trắc nghiệm
5) Tự kiểm tra lại các câu trắc nghiệm: đối chiều nội dung với mục tiêu tương ứng, ngôn ngữ diễn đạt…
6) Tổ chức kiểm tra và thu thập thông tin
7) Đánh giá chất lượng bài kiểm tra
8) Cải tiến quá trình dạy và học
2 Các dạng bài trắc nghiệm
a CÂU TRẮC NGHIỆM TRẢ LỜI NGẮN:
Câu hỏi với giải đáp ngắn hay một phát biểu chưa hoàn chỉnh với một chỗ hoặc nhiều chỗ
để trống (kiểu điền khuyết)
1) Yêu cầu: Viết câu trả lời cho câu hỏi hoặc điền thêm vào chỗ còn trống
2) Ưu điểm: Dễ xây dựng; HS không thể đoán mò vì phải cho câu trả lời của mình khi làm bài
3) Nhược điểm: Chỉ kiểm tra mức độ BIẾT và HIỂU ĐƠN GIẢN; Đôi khi khó đánh giá nội dung của câu trả lời vì HS viết sai chính tả hoặc khi câu trắc nghiệm gợi ra nhiều phương án trả lời
4) Những đề nghị khi biên soạn:
Trang 10- Câu hỏi phải nêu bật được ý muốn hỏi, tránh dài dòng.
- Không dùng những thuật ngữ không rõ ràng
- Từ/cụm từ ở chỗ cần điền phải nằm trong sự liên kết với văn cảnh, có tiêu chí ngữ nghĩa
rõ ràng, tạo điều kiện liên tưởng tường minh, tránh bỏ trống tùy tiện
- Đáp án cho mỗi câu trắc nghiệm trả lời cần ngắn gọn
- Diễn tả câu hỏi trắc nghiệm sao cho HS có thể đưa ra câu trả lời vừa ngắn gọn vừa cụ thể, riêng biệt
- Nếu câu hỏi trắc nghiệm có phần dữ kiện thì cần tách biệt rõ ràng phần dữ kiện và phần câu hỏi
- Những chỗ trống cho câu trả lời phải có chiều dài bằng nhau và đặt bên phải của câu hỏi Ví dụ: Bác Hồ tên thật là gì? ( Nguyễn Sinh Cung)
- Tránh hoặc hạn chế lấy những câu nói trực tiếp từ sách giáo khoa làm thành câu trắc nghiệm trả lời ngắn
b CÂU TRẮC NGHIỆM ĐÚNG SAI:
Gồm 2 phần Phần I (Phần đề): Một câu hỏi hoặc một phát biểu Phần II: là hai phương
án lựa chọn: Đúng-Sai; Phải-Không phải; Đồng ý-Không đồng ý
1) Yêu cầu: Chọn một trong hai phương án trả lời
2) Ưu điểm: Dễ xây dựng; Có thể ra nhiều câu một lúc ít tốn thời gian cho mỗi câu, nhờ vậy mà khả năng bao quát chương trình lớn hơn
3) Nhược điểm: Chỉ kiểm tra mức độ BIẾT và HIỂU ĐƠN GIẢN; Tỷ lệ đoán mò 50% 4) Những đề nghị khi biên soạn:
- Tránh đưa ra những câu hỏi chung chung, không quan trọng
- Tránh sử dụng những câu hỏi phủ định, đặc biệt là phủ định kép
- Tránh các câu hỏi dài, phức tạp
- Đáp án cho mỗi câu trắc nghiệm trả lời cần ngắn gọn
- Tránh bao gồm hai ý tưởng trong một câu hỏi, trừ khi đo lường khả năng nhận ra mối quan hệ nhân quả
- Lưu ý tính logic khi sử dụng câu gồm hai mệnh đề có quan hệ nhân quả
- Nếu câu hỏi muốn thể hiện một ý kiến hay thái độ nào thì nên đưa thêm vào câu hỏi ấy