1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Module TH 9, 10 giáo dục hòa nhập cho trẻ em có khó khăn về nghe, nhìn, nói

9 128 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 65,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng đời sống tâm lý học sinh tiểu học: Do ảnh hưởng của sự phát triển kinh tế-xã hội ngày càng sâu sắc, đa dạng và phức tạp, đời sống tâm lý học sinh nói chung, học sinh tiểu học

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc -BÀI THU HOẠCH

BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN GIÁO VIÊN Module TH9: Hướng dẫn, tư vấn cho học sinh tiểu học

Năm học:

Họ và tên: Đơn vị:

1 Các nội dung cần hướng dẫn, tư vấn cho học sinh tiểu học:

A Thực trạng đời sống tâm lý học sinh tiểu học:

Do ảnh hưởng của sự phát triển kinh tế-xã hội ngày càng sâu sắc, đa dạng và phức tạp, đời sống tâm lý học sinh nói chung, học sinh tiểu học nối riêng đang có những biến động

to lớn với nhiều biểu hiện đáng lo ngại Các em thường gặp những khúc mắc trong học tập, tâm sinh lí, trong mối quan hệ với thầy cô, gia đình, bạn bè…nếu không được điều chỉnh, giải tỏa kịp thời, thì rất dễ dẫn đến hậu quả đáng tiếc : nhẹ thì chán học, bỏ học; nặng thì trầm cảm, bạo lực học đường, thậm chí tự tử, gây án mạng

* Khái niệm học sinh tiểu học và những đặc điểm tâm lý cơ bản của lứa tuổi:

Học sinh tiểu học là trẻ ở độ tuổi từ 6 – 11 tuổi, đang theo học chương trình tiểu học từ lớp 1 – lớp 5 tại các trường tiểu học trong hệ thống giáo dục Việt Nam Trẻ tiểu học có những đặc điểm đặc trưng về mặt tâm lý như sau:

Ở lứa tuổi này, trẻ bắt đầu mở rộng mối quan hệ giao tiếp ra bên ngoài, thích làm quen với bạn bè cùng lứa và nhiều người lớn khác

Trong giai đoạn lứa tuổi này, các em rất giàu trí tưởng tượng, nhiều khi quá tin vào những điều huyền hoặc

Trẻ tiểu học có tâm hồn đa cảm, rất dễ xúc động, do đó, bất cứ hành động thô bạo nào đối với chính bản thân các em sẽ để lại trong tâm trí các em những ấn tượng sấu rất khó xóa

mờ Mặt khác, bên cạnh sự đa cảm, các em vẫn còn thiên nhiều về giác quan, rất vui thích khi được thưởng cụ thể bằng vật chất hơn là khen ngợi tuyên dương suông

Năng lượng ở độ tuổi đang tăng trưởng nơi các em luôn dồi dào, khiến các em hoạt động không ngời Trong khi người lớn đang bận việc, rất ghét sự ồn ào náo động, lại cho rằng các em đang chơi những trò quá hiếu động, có hại về sức khỏe và tâm lý, nên thường

Trang 2

ngăn cấm các em mà không biết rằng điều này đã đẩy các em sớm rơi vào tình trạng dồn nén, có thể tạo ra những tình cảm rối loạn, có thể dẫn đến stress

Về sinh hoạt học tập, các em cũng rất dễ hào hứng để cho cuốn theo các ý tưởng, các kiến thức lý thú mới lạ, để không ngừng đặt ra các câu hỏi tò mò thắc mắc Ở điểm này, đôi khi cha mẹ và thầy cô giáo không đủ bình tĩnh và kiên nhẫn trả lời đầy đủ các câu hỏi của các em, thậm chí bực mình và khó chịu Điều này có thể dẫn các em đến sự thu mình, sợ hãi khi đối mặt với người lớn trong những tình huống khó khăn

** Những nhân tố liên quan đến việc ảnh hưởng tâm lý cho học sinh tiểu học

- Áp lực trong học tập ở học sinh

- Phương pháp sư phạm của giáo viên

- Môi trường sư phạm nhà trường

- Phương pháp giáo dục và môi trường gia đình

B Thực trạng hoạt động tư vấn tâm lý học đường tại các trường học:

Hiện nay, Tâm lý học đường trên thế giới đã có một quá trình phát triển lâu dài Tuy nhiên, ở nước ta, Tâm lý học đường vẫn còn là một lĩnh vực khá mới mẻ Các hoạt động tham vấn, trợ giúp tâm lý học đường cho học sinh, sinh viên còn chưa được đầu tư và quan tâm đúng mức

- Trong vài năm gần đây, các cấp quản lý giáo dục đã bước đầu quan tâm đến hoạt động

tư vấn tâm lý học đường giáo viên làm công tác tư vấn cho học sinh có nhiệm vụ tư vấn cho cha mẹ học sinh và học sinh để giúp các em vượt qua những khó khăn trong quá trình học tập, giao tiếp… Hoạt động trợ giúp tâm lý học đường không chỉ đóng vai trò quan trọng đối với học sinh (HS) nói chung và học sinh tiểu học nói riêng mà nó còn rất cần thiết cho giáo viên, phụ huynh HS – những người có liên quan đến sự nghiệp “trồng người”

- Sự phát triển với tốc độ nhanh và đầy biến động của nền kinh tế - xã hội, các yêu cầu ngày càng cao của nhà trường và cả những điều bất cập trong thực tiễn giáo dục; thêm vào đó là sự kỳ vọng quá cao của cha mẹ, thầy cô đang tạo ra những áp lực rất lớn và gây căng thẳng cho HS trong cuộc sống, trong học tập và trong quá trình phát triển Mặt khác,

sự hiểu biết của HS về bản thân mình cũng như kỹ năng sống của các em vẫn còn hạn chế trước những sức ép nói trên Thực tế cho thấy HS tiểu học có thể có những rối loạn về phát triển tâm lý, rối loạn phát triển các kỹ năng nhà trường (như đọc, viết, tính toán…), những rối loạn về cảm xúc như lo âu, trầm cảm hay những rối loạn về hành vi (như vô kỷ luật, bỏ học, trốn học, trộm cắp, hung bạo…) Hậu quả là ngày càng có nhiều HS tiểu học

Trang 3

gặp không ít khó khăn trong học tập, tu dưỡng đạo đức, xây dựng lý tưởng sống cho mình cũng như xác định cách thức ứng xử cho phù hợp trong các mối quan hệ xung quanh Vì vậy, những HS này rất cần được sự trợ giúp của các nhà chuyên môn, của thầy cô giáo và cha mẹ

- Đứng trước thực trạng trên cho thấy rất cần có những hoạt động trợ giúp tâm lý học đường cho HS Việc xây dựng các hoạt động trợ giúp tâm lý cho HS trong nhà trường sẽ giúp cho giáo viên và HS hiểu biết rõ hơn về những vấn đề liên quan tới sự hình thành và phát triển nhân cách của các em để giúp đỡ và hướng cho các em phát triển một cách đúng đắn, lành mạnh, hiểu về bản thân và người khác tốt hơn Tuy nhiên, hiện nay ở nước

ta, các hoạt động trợ giúp tâm lý trong trường học còn chưa được thực hiện một cách phổ biến;

2 Phương pháp kỹ thuật tư vấn cho học sinh tiểu học:

Khi đời sống kinh tế được nâng cao đã làm cho học sinh nói chung và học sinh tiểu học nói riêng có điều kiện phát triển về thể lực, trí lực về kỹ năng sống Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi quan trọng do sự phát triển kinh tế - xã hội mang lại thì nó cũng có những thách thức Những áp lực này đã tạo nên những khó khăn tâm lý rất nhiều và các

em cần tới sự trợ giúp.Học sinh ở bất kì cấp học nào cũng đều có nguy cơ mắc phải những rối nhiễu này Điều này chứng tỏ rằng, hoạt động trợ giúp tâm lý học đường là rất cần thiết

- Tuy nhiên, để cho việc tư vấn học đường trở thành một hoạt động phổ biến trong trường học thì đòi hỏi phải có thời gian và sự nỗ lực lớn của không chỉ các giáo viên làm nhiệm

vụ tư vấn mà còn của toàn xã hội, việc đánh giá (phòng ngừa) nhằm phát hiện những học sinh có thể có khó khăn về nhận thức, cảm xúc, xã hội, hay hành vi; phát triển và thực hiện các chương trình can thiệp tâm lý học cho học sinh thì có thể thực hiện các phương pháp sau:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp phỏng vấn sâu

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

- phương pháp thu thập thông tin

- Phương pháp xử lý thông tin: Phương pháp thống kê toán học

*** Các giải pháp thực hiện:

Trang 4

1 Tổ chức hoạt động tham vấn tâm lý, nhằm lắng nghe, khơi dậy nội lực, giúp học sinh tiểu học tự phát triển thể chất tinh thần, tránh những sự phát triển lệch lạc không đáng có

2 Cung cấp một số kiến thức cũng như tổ chức các lớp rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh

3.Tăng cường tổ chức các hoạt động sinh hoạt tập thể, hoạt động vì cộng đồng, hoạt động văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao cho các em

4 Cần rèn cho học sinh khả năng thích ứng học tập và rèn luyện bản lĩnh học tập

5 Cần rèn kỹ năng giao tiếp, hợp tác, lắng nghe, biết trình bày… cho học sinh

6 Cung cấp các kiến thức, kỹ năng bảo vệ sức khỏe, ……, cho học sinh

7 Cần có hoạt động bảo vệ, tạo điều kiện hòa nhập cho những trẻ có hoàn cảnh khó khăn, hoàn cảnh đặc biệt

8 Không chỉ tư vấn cho học sinh mà còn tư vấn các vấn đề phát triển của trẻ em với những lực lượng giáo dục, lực lượng xã hội có liên quan trong vấn đề giáo dục, bảo vệ trẻ em

- Đối với học sinh: những học sinh đang có khó khăn tâm lý, đặc biệt là những học sinh

“thường xuyên lo lắng và bất an” nên nỗ lực tìm cách vượt qua hoặc tìm kiếm dịch vụtrợ giúp phù hợp để tránh những tác động tiêu cực do khó khăn tâm lý gây ra Ý thức được

sự cần thiết của việc trau dồi các kiến thức tâm lý học và các kiến thức xã hội khác để hiểu được tâm lý của bản thân và tự nhận ra vấn đề/ khó khăn của mình Học sinh nên chuẩn bị tâm thế trước mọi hoàn cảnh, sẵn sàng đón nhận thử thách, khó khăn trong cuộc sống, học tập và nỗ lực tìm cách khắc phục chúng

- Về phía giáo viên: nên quan tâm, tìm cách trợ giúp cho nhóm học sinh đang “thường xuyên lo lắng và bất an” , đồng thời cũng nên tìm giải pháp hỗ trợ cho những học sinh

“thỉnh thoảng” Tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý học sinh mình đang giảng dạy, trên cơ sở

đó lựa chọn phương pháp, hình thức dạy học phù hợp Gần gũi học sinh hơn nữa, không chỉ thông qua giao lưu trong tiết học mà nên chủ động trò chuyện, quan tâm tới học sinh

để xóa đi khoảng cách giữa người học và người dạy; để thấu hiểu học sinh; biết được nhu cầu và nguyện vọng của học sinh; tránh gây áp lực không cần thiết lên học sinh Tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của học sinh; để hỗ trợ học sinh phòng ngừa, phát hiện sớm những khó khăn tâm lý và trợ giúp kịp thời

- Về phía nhà trường: tạo điều kiện hỗ trợ các học sinh đang có khó khăn tâm lý hiện nay Thành lập phòng tư vấn tâm lý học đường trong trường học Quan tâm đầu tư cả nguồn nhân lực (chất xám) và tài chính cho việc đào tạo chuyên sâu đội ngũ giáo viên tư vấn

Trang 5

tâm lý học đường không chỉ giúp học sinh giải quyết những khó khăn tâm lý gặp phải mà

họ còn giúp phòng ngừa những khó khăn có thể xảy ra; đặc biệt là phát hiện và can thiệp sớm những khó khăn tâm lý mới xuất hiện Nhà trường và cả phụ huynh học sinh trong việc chăm sóc cho các em có đời sống tâm trí khỏe

, ngày tháng năm

Người viết

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc -BÀI THU HOẠCH

BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN GIÁO VIÊN Module TH10: Giáo dục hòa nhập cho trẻ em có khó khăn về nghe, nhìn, nói

Năm học:

Họ và tên: Đơn vị:

I Khái niệm về trẻ khuyết tật theo phân loại tật

a Trẻ có khó khăn về nghe (khiếm thính): Là những trẻ mắc vấn đề về thính giác

- Nặng (điếc): Không nghe được tiếng động to như tiếng sấm, tiếng trống (cách tai khoảng 30-50cm), không nghe được tiếng thét ngay gần sát tai, không nói được (câm)

- Nhẹ (nghễnh ngãng): Điếc 1 tai, nặng (lãng) tai, không nghe được tiếng nói bình thường Nếu gọi to có thể nghe được trong khoảng cách 30cm

b Trẻ có khó khăn về nhìn (khiếm thị): Là những trẻ mắc vấn đề về thị lực

- Nặng: Mù cả 2 mắt, không phân biệt được sáng tối, màu sắc, không nhận được hình dạng các vật, không nhìn và đếm được các ngón tay ở khoảng cách 3m; đi lại dò dẫm, phải dùng tay quơ phía trước, không đọc được chữ viết thông thường

- Nhẹ: Mắt lác, lé, có vết mờ phía trước, mi mắt sụp, phải nghiêng đầu, cúi sát mặt chữ mới đọc, viết được; quáng gà, không nhìn rõ dòng kẻ, mắt lờ đờ; nhầm lẫn màu (mù màu); một mắt mù hoàn toàn, mắt còn lại còn nhìn thấy được các vật, còn đọc được

* Ghi chú: Cận, viễn thị có sự hỗ trợ của kính vẫn đọc, viết được xem như không bị tật

Trang 6

thị giác.

c Trẻ có khó khăn về nói (tật ngôn ngữ):

- Nặng: Không nói được (câm nhưng không điếc), nói khó, mất ngôn ngữ (có thể mất hoàn toàn hoặc mất một phần)

- Nhẹ: Nói ngọng, nói lắp, nói giọng mũi, nói nghe không rõ

II Nội dung và phương pháp giáo dục cho các nhóm trẻ khuyết tật

a Giáo dục hoà nhập cho trẻ có khó khăn về nghe:

- Luyện tập với các âm thanh ngoài tiếng nói: Luyện tập với âm thanh ngoài tiếng nói là

cơ sở để luyện tập với âm thanh tiếng nói Nội dung luyện tập này cần được thực hiện ngay cả trong điều kiện trẻ chưa đeo máy trợ thính

- Phát hiện âm thanh: Mặc dù trẻ khiếm thính còn sức nghe nhưng trẻ chưa thể “nghe” được Do đó, nội dung đầu tiên và đơn giản là huấn luyện cho trẻ khiếm thính nhận thấy trẻ còn có khả năng nghe được, còn phát hiện được âm thanh Đây là cơ sở để hình thành những âm thanh

- Đếm số lượng âm thanh: Sau khi đã có phản ứng với âm thanh, trẻ khiếm thính cần phân biệt số lượng âm thanh Nội dung luyện tập này nhằm tạo cho trẻ khả năng phân biệt âm thanh tinh tế hơn

- Phân biệt tính chất âm thanh: Trẻ khiếm thính cần được luyện tập để phân biệt được các tính chất của âm thanh (cường độ: to nhỏ, trường độ: dài ngắn và tính chất: liên tục -ngắt quãng)

- Phân biệt khu trú nguồn âm thanh: Đây là nội dung khó, đòi hỏi trẻ phải phân biệt được các hướng của nguồn âm: bên phải - bên trái; phía trước - phía sau

- Phân biệt âm sắc: Là một nội dung khó đối với trẻ khiếm thính, đặc biệt là trẻ điếc ở mức độ nặng và sâu Khả năng này phụ thuộc vào độ mất thính lực, khả năng phân tích, tổng hợp âm thanh khi tiếp nhận chất lượng và độ khuyếch đại của máy trợ thính mà trẻ đang đeo Trong chương trình luyện nghe, GV giúp trẻ khiếm thính luyện tập để phân biệt

âm sắc của 4 loại âm thanh sau:

+ Âm thanh do vật phát ra: còi tàu hoả, còi ô tô, còi cảnh sát, tiếng trống,…

+ Âm thanh thiên nhiên: tiếng sấm, tiếng sóng biển, tiếng gió gào thét,…

+ Tiếng kêu của động vật: tiếng chó sủa, gà gáy, chim hót, bò kêu,…

Trang 7

+ Âm nhạc: hợp xướng, đơn ca, nhịp điệu,…

- Luyện tập với âm thanh tiếng nói: Luyện tập với tiếng nói bao gồm những bài tập nhằm trang bị kiến thức cho trẻ khiếm thính biết cách sử dụng máy trợ thính như một phương tiện cùng đọc hình miệng để tiếp nhận tiếng nói, hình thành và sửa tật phát âm

Ngoài việc thường xuyên sử dụng máy trong học tập và sinh hoạt, trẻ còn được luyện tập các nội dung sau:

- Xác định tính chất tiếng nói: tiếng nói to - nhỏ, nhanh - chậm, liên tục - ngắt quãng, dài

- ngắn,…

- Xác định số lượng tiếng trong câu, số lượng câu trong đoạn, bài,…

- Phân biệt ngữ điệu và tốc độ nói…

b Giáo dục hoà nhập cho trẻ có khó khăn về nhìn:

- Luôn luôn chia sẻ trong các hoạt động với trẻ Dạy cho trẻ biết những gì ta đang làm và

để cho trẻ làm theo vì điều đó sẽ trở thành những hoạt động gây hứng thú cho trẻ Hãy luôn nhớ rằng đôi tay của trẻ mù thay thế cho đôi mắt của chúng Nếu chúng ta giữ chặt đôi tay của trẻ, điều đó có nghĩa là chúng ta đang không cho trẻ “nhìn” thế giới xung quanh

- Cho phép trẻ đưa ra những lựa chọn Cho phép trẻ đưa ra chọn lựa là điều rất quan trọng trong sự phát triển về lòng tự trọng và sự giao tiếp của trẻ Điều này sẽ hình thành ý thức

cá nhân của trẻ, cũng như giúp trẻ mong nuốn bắt chuyện và có những giao tiếp với người khác

- Dành nhiều thời gian trò chuyện với trẻ Hầu hết mọi người thích nói chuyện với các thành viên trong gia đình và bạn bè về những đề tài mà họ thấy thú vị Tương tự, chúng ta cũng cho phép trẻ khiếm thị tham gia vào các cuộc đàm thoại với người khác về những đề tài làm trẻ thích thú Cuộc nói chuyện đó có thể không dùng từ ngữ nhưng trẻ được luân phiên tham gia vào cuộc trao đổi thú vị với người khác Có thể đơn giản như chơi gõ nhịp

- lặp lại nhịp điệu về tiếng gõ của trẻ trên bàn hay nhìn gần vào một vật đang chiếu sáng

mà trẻ thích thú

- Hãy cùng chơi và vui vẻ với trẻ Luôn luôn dành thời gian vui chơi cùng với trẻ dưới bất

kì hình thức nào

c Giáo dục hoà nhập cho trẻ có khó khăn nói:

* Phương pháp phục hồi và phát triển khả năng phát âm theo thành phần âm tiết

- Phát triển khả năng phát âm phụ âm đầu âm tiết, bằng cách:

Trang 8

+ Tách phụ âm đầu ra khỏi âm tiết để luyện VD: lanh lợi, ta tách phụ âm đầu “l”.

+ Luyện phát âm đó theo vị trí cấu âm và phương thức phát âm chuẩn, sử dụng phương pháp nghe - nhìn - bắt chước, phát âm chuẩn

- Phương pháp phát triển khả năng phát âm đệm:

+ Sử dụng phương pháp âm tiết trung gian theo quy trình: Xác định âm vị - Lập quy trình phát âm - Luyện phát âm

- Phát triển khả năng phát âm âm chính:

+ Luyện phát âm đúng, riêng biệt các nguyên âm đôi

+ Ghép nguyên âm đó với nguyên âm cuối, luyện tập mở rộng dần trường ngôn ngữ từ

âm tiết đến từ, câu…

- Phát triển khả năng phát âm âm cuối:

+ Sử dụng phương pháp sử dụng âm tiết trung gian theo quy trình: Xác định âm vị - Lập quy trình phát âm - Luyện phát âm

- Phát triển khả năng phát âm chuẩn thanh điệu

+ Sử dụng phương pháp âm tiết trung gian theo quy trình: Xác định âm vị - Lập quy trình phát âm - Luyện phát âm

* Phát triển vốn từ và khả năng ngữ pháp

- Phương pháp phát triển vốn từ của trẻ

- Phương pháp phát triển khả năng ngữ pháp cho trẻ

* Rèn luyện và phát triển khả năng ngôn ngữ trong và ngoài giờ học các môn

- Phương pháp dạy học trong lớp có HS khuyết tật ngôn ngữ

+ Căn cứ vào nội dung của từng bài học cụ thể, sáng tạo 4 phương pháp rèn luyện câu,

âm thành các trò chơi rèn luyện trong và ngoài giờ học

+ Trong mỗi bài học (chủ yếu là bài tập đọc), tập trung luyện phục hồi khả năng phát âm

từ 2 đến 3 từ cho HS

+ Tổ chức hoạt động giờ học

+ Điều chỉnh về luyện đọc cho phù hợp với HS khuyết tật ngôn ngữ

+ Lập quy trình phục hồi hay chuẩn bị phần rèn luyện trong và ngoài giờ học

- Xác định mục tiêu cho một bài học cụ thể Mục tiêu hành vi căn cứ vào thực trạng ngôn

Trang 9

ngữ và kiến thức cần cung cấp của bài dạy (những tiếng, từ, cụm từ cần rèn luyện, phục hồi về ngôn ngữ của trẻ)

- Lập kế hoạch bài dạy cụ thể cho lớp học hoà nhập trẻ khuyết tật ngôn ngữ Trong đó cần lưu ý đến phương tiện dạy học

III KẾT LUẬN

Trên đây là những vấn đề cơ bản mà tôi đã tìm hiểu về tổ chức giáo dục hoà nhập cho trẻ

có khó khăn về nghe, nhìn, nói Để các nội dung và phương pháp giáo dục trên đạt hiệu quả thì phải nói đến đội ngũ GV vì GV là người trực tiếp giảng dạy, trực tiếp theo dõi, nắm bắt các thông tin về trẻ khuyết tật, có vai trò quyết định hiệu quả của giáo dục hoà nhập GV phải biết xây dựng mục tiêu phù hợp với từng trẻ khuyết tật, có biện pháp phối hợp các tổ chức xã hội, gia đình, nhà trường và xã hội, trong giáo dục trẻ khuyết tật

, ngày tháng năm

Người viết

Ngày đăng: 22/04/2020, 10:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w