1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

T�i lieu tap huan mo hinh ICM ti�u lan 2

13 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 119 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc không chấp hành nghiêm ngặt quy trình trồng và chăm sóc cây hồ tiêu bài bản ngay từ khâu chọn đất trồng, chọn giống tiêu thích hợp, kỹ thuật làm đất, thoát nước trong mùa mưa, bón p

Trang 1

TÀI LIỆU TẬP HUẤN

MÔ HÌNH QUẢN LÝ DINH DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỪ TỔNG HỢP SÂU BỆNH HẠI TRÊN CÂY TIÊU.

A NỘI DUNG TẬP HUẤN LẦN THỨ NHẤT:

I GIỚI THIÊU CHUNG :

1 Sự cần thiết cần phải xây dựng mô hình quản lý dinh dưỡng và phòng trừ tổng hợp sâu bệnh trên cây hồ tiêu:

Trong xu thế phát triển chung của xã hội hiện nay hầu hết khách hàng trên thế giới đã và đang chú trọng tới chất lượng và phẩm chất của mặt hàng tiêu dùng Chính vì vậy, việc xây dựng chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững mang tính chất lâu dài, đặc biệt hiện nay ưu tiên sử dụng các chương trình IPM, ICM, GAP, …để ứng dụng vào trong sản xuất nông nghiệp với mục đích bảo vệ sức khỏe cho người sản xuất, người tiêu dùng, bảo vệ môi trường và mang lại hiệu quả kinh tế lâu dài

Ở Gia Lai cây tiêu được trồng vào khoảng năm 1980, đã đứng vững trên vùng đất này và

có tầm quan trọng rất lớn trong việc phát triển kinh tế và xã hội Hiện tại Gia Lai có 9/17 huyện thị, TP có trồng tiêu với diện tích cây hồ tiêu trong toàn tỉnh khoảng trên 5.500 ha, sản lượng ước khoảng 22.000 tấn /năm Tuy nhiên thực tế cho thấy trong sản xuất tiêu của tỉnh Gia Lai còn bộc

lộ nhiều hạn chế, khiếm khuyết Qua nắm bắt tình hình và đạo sản xuất, chúng tôi thấy rằng điểm yếu nhất của người trồng tiêu hiện nay là còn chủ quan, trồng tiêu theo phong trào, chạy theo lợi nhuận trước mắt (khi tiêu được giá) trong khi tiêu là cây công nghiệp dài ngày có thời gian cho thu hoạch dài Việc không chấp hành nghiêm ngặt quy trình trồng và chăm sóc cây hồ tiêu bài bản ngay từ khâu chọn đất trồng, chọn giống tiêu thích hợp, kỹ thuật làm đất, thoát nước trong mùa mưa, bón phân đầy đủ cân đối các thành phần dinh dưỡng, quản lý dịch hại và cỏ dại hợp lý thì những thiệt hại do tiêu chết hàng loạt có thể xảy ra bất cứ lúc nào Những hạn chế chủ yếu của người trồng tiêu hiện nay là không quan tâm biện pháp phòng bệnh mà chỉ khi cây tiêu

bị bệnh bộc lộ ra bên ngoài mới lo chạy chữa thì đã quá muộn, vừa tốn kém chi phí vật tư, công sức mà không mang lại hiệu quả Hiện nay nông dân trồng tiêu đang sử dụng quá nhiều phân bón hóa học và các loại hóa chất BVTV nôn nóng việc khai thác về năng suất, tăng lợi nhuận đã dẫn đến những hậu quả như: Tồn dư hóa chất trong thương phẩm, đất trở nên chai cứng và cạn kiệt

về dinh dưỡng, nhiều loại dịch hại đã kháng thuốc gây khó khăn cho công tác phòng trừ, chi phí sản xuất gia tăng Đầu tư phân hóa học quá mức kèm theo công tác phòng trừ sâu bệnh hại chưa tuân thủ 4 đúng, năng suất hồ tiêu cao tức thời nhưng không ốn định, cây bị suy thoái nhanh, tình hình sâu bệnh gây hại ngày càng nghiêm trọng, môi trường bị ô nhiễm, … có thể khảng định rằng phát triển cây hồ tiêu ở tỉnh ta trong những năm vừa qua là không đảm bảo tính ổn định và bền vững

Như vậy ở tỉnh ta việc sản xuất cây tiêu theo hướng bền vững, hạn chế thiệt hại do sâu bệnh gây ra, ổn định năng suất, nâng cao chất lượng, bảo vệ môi trường sinh thái là hết sức cần

thiết Chính vì vậy chúng tôi tiến hành xây dựng mô hình “ Quản lý dinh dưỡng và phòng trừ

sâu bệnh tổng hợp trên cây tiêu ”

2 Mục đích:

+ Nâng cao trình độ sản xuất cho các hộ sản xuất tiêu, đặc biệt là công tác phòng trừ sâu bệnh hại theo hướng tổng hợp Bón phân đầy đủ cân đối, hợp lý khoa học

+ Hỗ trợ nông dân sản xuất ra sản phẩm có chất lượng cao, giảm giá thành để tăng sức cạnh tranh với các nước trồng tiêu trên Thế Giới

Trang 2

+ Làm cho nông dân thay đổi tập quán và phương thức sản xuất theo hướng hướng hiệu quả, bền vững

3 Cơ sở áp dụng mô hình quản lý dinh dưỡng và phòng trừ tổng hợp sâu bệnh trên cây hồ tiêu

* Cơ sở về quản lý dịch hại tổng hợp: Dựa trên sự cân bằng về sinh thái, cụ thể là:

+ Dựa vào khả năng đền bù của cây: Một khi chúng ta nắm chắc được các yêu cầu về sinh lý của cây hồ tiêu, tác động đúng và đầy đủ các biện pháp kỹ thuật cho cây hồ tiêu trong từng giai đoạn sinh trưởng-phát triển sẽ làm cho cây tiêu sinh trưởng-phát triển tốt có khả năng đền bù những phần đã mất do dịch hại gây ra

+ Dựa vào khả năng khống chế sâu hại của thiên địch: Trên vườn tiêu thường xuyên có các loài thiên địch (Bọ rùa đỏ 02 chấm, Nhện lycosa, chuồn chuồn kim, kiến vàng ) Ở tùng giai đoạn sinh trưởng khác nhau của cây tiêu, ứng với mỗi loài dịch hại sẽ có một hoặc nhiều loài thiên địch khống chế, kìm hãm sự phát triển về mật số của dịch hại, từ đó giảm tối đa những thiệt hại do sâu hại gây ra Do vậy chúng ta cần phải biết:

- Không cần phun thuốc khi biết rằng ở trên vườn tiêu chưa có dịch hại hoặc dịch hại đang còn ít không có khả năng làm ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây tiêu

- Không cần phun thuốc phòng trừ sâu bệnh gây hại cho cây tiêu nếu chúng ta biết tại thời điểm đó có sự hiện diện của các loại thiên địch với mật số đông, đủ để khống chế dịch hại,

+ Dựa trên kết quả về nghiên cứu và đã thực hiện thành công ở một số cây trồng khác như cây lúa, cây rau, chè

* Cơ sở về quản lý dinh dưỡng:

+ Dựa trên cơ sở khoa học về nhu cầu dinh dưỡng của cây hồ tiêu để bón phân đầy đủ, cân đối các thành phần dinh dưỡng, đảm bảo không thiếu mà cũng không thừa theo từng giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây hồ tiêu

+ Dựa trên độ phì nhiêu màu mỡ của đất đai thông qua phân tích thổ nhưỡng và khí hậu thời tiết của các vùng trồng hồ tiêu trong tỉnh để đưa ra quy trình định mức phân bón, thời gian bón, số lần bón cho hợp lý

+ Thăm đồng thường xuyên, quan sát hình dáng màu sắc thân, lá… để chuẩn đoán việc thiếu hay thừa dinh dưỡng để quyết định chủng loại, liều lượng bón cho mỗi lần bón hợp lý

* Cơ sở áp dụng: Dựa trên 4 nguyên tắc của IPM làm nền tảng:

+ Trồng cây khoẻ: Do cây tiêu đang ở giai đoạn kinh doanh cho nên ta cần tác động các biện pháp kỹ thuật như: cắt tỉa cành tăm, cành già, cành vô hiệu tạo bộ khung tán hợp lý, tưới nước, bón phân cân đối, quản lý tốt cỏ dại, sâu bệnh hại… để cho cây tiêu sinh trưởng khỏe mạnh tăng khả năng chống chịu, sinh trưởng và phát triển tốt

+ Bảo vệ các loài thiên địch, bao gồm: Thiên địch ăn mồi, thiên địch ký sinh để chúng có điều kiện nhân nhanh về số lượng, đủ để khống chế sâu hại, tạo ra sự cân bằng về sinh thái

+ Thăm đồng thường xuyên để đưa ra biện pháp xử lý về dịch hại, tác động các biện pháp

kỹ thuật khác phù hợp, hiệu quả

+ Nông dân trở thành chuyên gia do nắm chắc được các biện pháp kỹ thuật, diễn biến tình phát sinh, phát triển của dịch hại và thiên địch chủ động đưa ra các quyết định xử lý đúng đắn, thích hợp, đồng thời sẽ là tuyên truyền viên tích cực tuyên truyền hướng dẫn trong cộng đồng cùng tham gia thực hiện

4 Lợi ích của việc áp dụng biện pháp quản lý dinh dưỡng và dịch hại tổng hợp trên cây hồ tiêu:

a Giảm chi phí đầu tư:

Trang 3

Nông dân có lối quen sản xuất theo truyền thống, thường là để đạt được năng suất cao thì nông dân phải đầu tư thâm canh cao (chi phí đầu vào cao) điều này rất dễ dẫn đến việc phá vỡ cân bằng sinh thái Hiện nay để đạt được hiệu quả kinh tế cao mang tính bền vững người ta lại đi theo một hướng khác là giảm chi phí đầu vào do sử dụng phân bón tiết kiệm, bón theo nhu cầu của cây theo từng giai đoạn, hạn chế tối đa những lãng phí vô ích, lợi dụng những thiên địch có sẵn trong tự nhiên để khống chế sâu bệnh gia tăng về mật số, hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc hóa học BVTV Do vậy sẽ giảm đáng kể về chi phí vật tư phân bón và thuốc BVTV hóa học trong sản xuất

b Giảm chi phí công lao động:

- Áp dụng tốt các biện pháp quản lý dinh dưỡng và dịch hại tổng hợp sẽ giúp cho cây hồ tiêu sinh trưởng-phát triển tốt, hạn chế dịch hại, cỏ dại phát triển điều đó sẽ góp phần giảm được chi phí công phòng trừ sâu bệnh, bón phân hóa học, làm cỏ

c Giảm sự ô nhiễm môi trường:

- Áp dụng tốt các biện pháp quản lý dinh dưỡng và dịch hại tổng hợp sẽ giúp cho cây hồ tiêu sinh trưởng-phát triển tốt, hạn chế việc phun thuốc phòng trừ dịch hại, cỏ dại, bón phân hóa học góp phần làm cho môi trường sinh thái trong lành hơn;

d.Tăng chất lượng, tăng hiệu quả kinh tế:

- Áp dụng tốt các biện pháp quản lý dinh dưỡng và dịch hại tổng hợp sẽ không có tồn đọng dư lượng hóa chất thuốc BVTV trong sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng giá trị hàng hóa, góp phần xây dựng thương hiệu hồ tiêu Gia Lai đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và trên thế giới

II: SƠ LƯỢC MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT, SINH HỌC VÀ SINH THÁI HỌC CÂY

HỒ TIÊU.

Người sản xuất muốn áp dụng thành công biện pháp quản lý dinh dưỡng và dịch hại tổng hợp hiệu quả thì cần phải nắm một số đặc điểm thực vật học và yêu cầu sinh lý của cây tiêu như sau:

1- Đặc điểm thực vật học.

1.1 Thân, cành, lá:

- Thân cây hồ tiêu là loại thân thảo, leo bám nhờ các rễ bám trên các đốt thân, cành và có thể phát triển dài tới 10 mét

- Cành có 3 loại cành:

+ Cành tược, thường phát sinh ở nách các lá cây hồ tiêu mới trồng hoặc các mầm nách lá trên thân chính của cây Cành tược thường to mập, vươn lên song song với thân chính, nếu không

bị cắt bỏ chúng sẽ tạo thành một thân phụ

+ Cành lươn, là cành hình thành từ các mầm phía sát gốc của thân chính, cành này thường

bỏ sát đất và lóng vươn dài hơn lóng các loại cành khác Loại cành này sinh trưởng nhanh và tiêu hao nhiều dinh dưỡng của cây

+ Cành cho quả (cành ngang), thường hình thành từ các mầm nách trên thân chính của cây

hồ tiêu (cành cấp 1), góc độ phân cành lớn nên cành mọc ngang, độ dài của cành ngắn, cành khúc khuỷu, lóng ngắn Từ cành cấp 1 sẽ phát triển cành cấp 2, từ cành cấp 2 sẽ phát triển cành cấp 3 Cây hồ tiêu thường ra hoa, kết quả trên cành cấp 2 và cấp 3

Trang 4

- Lá hồ tiêu là loại lá đơn, có cuống, bản lá khá rộng, hình trái tim, mọc cách mặt trên của

lá láng nhẵn bóng, màu xanh nhạt đến xanh thẫm, mặt sau không bóng, màu xanh lục

1.2 Hệ thống rễ:

Bộ rễ cây gồm các loại : Rề cái, rễ phụ, rễ bám

+ Rễ cái: Rễ cái thường to và ăn sâu xuống đất, chức năng chính của rễ cái là hút nước cho cây, cây hồ tiêu sau khi trồng 1 năm trở lên bộ rễ cái có thể ăn sâu tới 2 mét

+ Rễ phụ: mọc thành chùm, phát triển theo chiều ngang, phân bố chủ yếu ở độ sâu 15-40

cm, có nhiệm vụ hút nước và chất dinh dưỡng cho cây Khi bị đứt hay tổn thương khả năng hồi phục và tái sinh của bộ rễ cây hồ tiêu chậm

Rễ hồ tiêu thuộc loại háo khí, không chịu được ngập úng, do đó để tạo cho rễ cái ăn sâu, cây chịu hạn tốt và rễ phụ phát triển tốt hút được nhiều chất dinh dưỡng thì phải thường xuyên có biện pháp cải tạo đất, làm cho đất tơi xốp, tăng hàm lượng mùn Chỉ cần úng thủy 12-24 giờ thì

bộ rễ cây hồ tiêu đã bị tổn thương đáng kể và có thể dẫn tới việc hư thối và dây tiêu có thể bị chết dần

+ Rễ bám, mọc từ các đốt thân, cành để bám vào cây choái hoặc vách đá, khả năng hút nước và dinh dưỡng của loại rễ này hạn chế, không đáng kể

1.3 Hoa, quả:

- Hoa, hàng năm cây hồ tiêu thường ra hoa kết quả 1 lần, hoa dạng hoa tự hình gié treo lủng lẳng, dài 7-12 cm, trên chùm hoa bình quân có từ 20-60 hoa sắp xếp thành hình xoắn ốc, mỗi hoa có một lá bắc, lá bắc này rụng sớm

- Quả, dạng quả hạch, hình cầu, đường kính khoảng 4-8 mm, mỗi quả có một cuống rất ngắn Quả lúc đầu có màu xanh, sau chuyển màu vàng và khi chín có màu đỏ

Cây hồ tiêu từ khi trồng đến khi ra hoa dài hay ngắn tuỳ thuộc vào giống tiêu, cây giống trồng được nhân bằng phương pháp nào, hữu tính hay vô tính, loại dây thân, cành lấy để nhân giống Nếu cây giống nhân bằng giâm cành tược, cành lươn cây sẽ chậm ra hoa so với cành quả

3 –4 năm, tuy nhiên tuổi thọ cây hồ tiêu kéo dài và năng suất cao

2- Yêu cầu sinh thái:

Hồ tiêu là một loại cây đặc trưng của vùng nhiệt đới ẩm, nên cây hồ tiêu đòi hỏi lượng mưa cao, nhiệt độ khá đồng đều và ẩm độ không khí cao

2.1 Nhiệt độ:

Phạm vi nhiệt độ từ 15-40 o C đều có thể trồng được hồ tiêu, nhưng nhiệt độ thích hợp với cây hồ tiêu là 22-28 o C

Khi nhiệt độ cao hơn 40 o C và thấp hơn 10 o C đều ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng của cây, nhiệt độ 6-10 o C trong thời gian ngắn làm nám lá non, sau đó lá trên cây bắt đầu rụng

2.2.Ánh sáng:

Cây hồ tiêu có nguồn gốc từ dưới tán rừng thưa do vậy ưa ánh sáng tán xạ, ánh sáng tán xạ nhẹ phù hợp với yêu cầu sinh lý, sinh trưởng, phát dục, ra hoa, đậu quả của cây và kéo dài tuổi thọ cho cây Vào giai đoạn ra hoa và nuôi quả cây cần nhiều ánh sáng hơn nên trong thời gian này người ta thường cắt bớt lá cành của cây choái để tăng cường ánh sáng cho cây

2.3 Lượng mưa và ẩm độ:

Trang 5

Lượng mưa trong năm trung bình từ 1.800-3.000 mm, tốt nhất là 2.000-2.500 mm, nhưng lượng mưa này cần phân bố đều trong năm tuy nhiên cây hồ tiêu lại cần có một giai đoạn khô hạn ngắn sau vụ thu hoạch để cây có thời gian phân hoá mầm hoa tốt và ra hoa đồng loạt

Cây hồ tiêu cần ẩm độ không khí cao từ 70-90%, nhất là vào thời kỳ ra hoa Độ ẩm không khí cao làm hạt phấn dễ dính vào nuốm nhụy và làm cho thời gian thụ phấn kéo dài do nuốm nhụy trương to khi có ẩm độ

2.4 Gió:

Cây hồ tiêu ưa thích môi trường lặng gió, hoặc gió nhẹ Gió nóng, gió lạnh, bão đều không hợp với cây hồ tiêu Do vậy khi trồng tiêu tại những vùng có gió lớn, việc thiết lập các hệ thống đai rừng chắn gió cho cây là điều kiện không thể thiếu được

2.5 Đất đai:

- Đất trồng hồ tiêu: Cây hồ tiêu có thể trồng được trên nhiều loại đất khác nhau, như đất đỏ bazan, đất sa phiến thạch, phù sa cổ, phù sa mới, dốc tụ, granit, gnai

Chọn đất trồng hồ tiêu cần chú ý các điểm sau: đât trồng hồ tiêu phải được thoát nước tốt trong mùa mưa, tầng đất canh tác dày trên 70 cm, mạch nước ngầm sâu trên 2 m Đất giàu mùn, tơi xốp, thành phần cơ giới từ nhẹ đến trung bình, giàu chất dinh dưỡng, Độ pH từ 5,5-7, nếu đất chua phải dùng vôi bột để cải tạo, Cây hồ tiêu có thể trồng được ở độ cao tới 1.500 m so với mặt biển, Nếu đất trồng

hồ tiêu xấu cần chú ý đến biện pháp thâm canh đào hố rộng và sâu, bón nhiều phân hữu cơ Nếu đất có độ dốc cao cần chú ý biện pháp giữ ẩm trong mùa khô, chống sói mòn trong mùa mưa.

III NHỮNG BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TÁC ĐỘNG GIAI ĐOẠN SAU THU HOẠCH ĐẾN TẠO TRÁI NON: (Thời gian từ tháng 4-tháng 7)

1/ Vệ sinh đồng ruộng sau thu hoạch:

1.1 Cắt tỉa cành và tạo tán cho cây tiêu:

* Mục đích của việc cắt cành tạo hình:

+ Tạo cho cây tiêu có hình dáng thích hợp để sử dụng khoảng không gian hợp lý trên trụ tiêu giúp cây quang hợp một cách tốt, sinh trưởng và phát triển tốt cho năng suất cao

+ Loại bỏ cành già yếu, cành sâu bệnh, cành không cho quả, cành lươn

+ Tạo độ thông thoáng cho vườn hạn chế được sâu bệnh gây hại

+ Giúp cây tập trung dinh dưỡng nuôi quả và các cành hữu hiệu cho năm sau

+ Tiết kiệm được chi phí đầu tư

* Kỹ thuật cắt:

- Sau khi thu hoạch tỉa bỏ tất cả các dây thân, dây lươn, cành quả mọc phía dưới gốc tiêu, bảo đảm tán lá cách mặt đất 20 – 25 cm Dây lươn chỉ giữ lại khi có nhu cầu nhân giống Tỉa bỏ các dây thân mọc ngoài bộ tán tiêu, dây thân mọc quá dài ở đỉnh trụ, cành yếu ớt, cành bị sâu bệnh hại nặng

- Hàng năm cắt tỉa cành 2-3 lần, chú ý cắt tỉa vào những ngày khô ráo, Sau khi cắt xong mỗi trụ phải tiến hành khử trùng dụng cụ bằng nước vôi loảng 3-5% để tránh vi rus gây bệnh xâm nhiễm từ cây này sang cây khác

1.2 Vệ sinh đồng ruộng:

Trang 6

- Sau khi cắt tỉa, tạo hình xong cần thu gom dọn sạch tàn dư thực vật gồm những cành lá rụng, những cây đã bị sâu bệnh hại chết và những cành lá cắt tỉa ở trên đem ra khỏi vườn tiêu hủy Đây là một công việc hết sức quan trọng nhằm hạn chế việc lây lan nguồn bệnh từ cây tiêu này sang cây tiêu khác, từ khu vực này sang khu vực khác mà nông dân thường ít quan tâm;

- Rong tỉa cây che bóng và cây trụ sống, đai rừng chắn gió để tiêu có đầy đủ ánh sáng thích hợp

Đầu mùa mưa (tháng 5): Rong mạnh, chỉ để lại một cành nhỏ quang hợp hoặc có thể chặt ngang ngọn đối với các loại cây có khả năng tái sinh mạnh như muồng đen, keo dậu Chú ý không để ngọn dây tiêu leo lên cây trụ sống đã hãm ngọn

- Thường xuyên làm sạch cỏ cho vườn tiêu, nhổ cỏ quanh gốc bằng tay, hạn chế dùng cuốc để làm cỏ, tránh làm tổn thương đến bộ rễ tiêu

2/ Tưới nước , giữ ẩm và thoát nước:

2.1 Tưới nước, giữ ẩm:

* Mục đích của việc tưới nước và giữ ẩm:

- Tạo điều kiện thuận lợi cho cây hút dinh dưỡng tốt, hạn chế đất nứt nẻ ảnh hưởng đến

bộ rễ của cây tiêu

- Tủ ẩm ở gốc hạn chế được cỏ dại, làm mát bộ phận rễ trong mùa khô giúp cây phát triển tốt, hạn chế sự bốc hơi nước từ đó tiết kiệm nước tưới

- Tưới nước đúng kỹ thuật sau khi thu hoạch giúp cây ra hoa nhiều, đồng loạt cho năng suất cao

* Kỹ thuật tưới nước và tủ gốc:

+ Nước tưới:

- Định mức nước tưới: từ 100-120 lít/hố, chu kỳ tưới từ 15-25 ngày tùy thuộc vào độ ẩm của đất

- Tưới vào mùa khô khi cây đang nuôi quả, sau khi thu hoạch xong ngừng tưới nước từ

40 – 45 ngày để cây có đủ thời gian phân hoá mầm hoa của vụ tới

+ Tủ gốc:

Dùng rơm rạ hoặc các loại tàn dư thực vật khác như vỏ ngô, dây đậu, cỏ rác cây phân xanh, đậu đỗ v.v… tủ xung quanh gốc tiêu vào mùa khô để giữ ẩm cho cây Lượng vật liệu từ 5 – 10 kg khô/trụ Các vật liệu tủ cách gốc dây tiêu 10 cm

2.2 Thoát nước:

- Ngay từ đầu mùa mưa, vườn tiêu phải được thiết kế hệ thống thoát nước tốt, không cho nước đọng ở gốc

- Tùy thuộc vào địa hình của vườn tiêu, có thể tiến hành đào các rãnh, mương tiêu nước phù hợp đảm bảo sao cho vườn tiêu không bị ngập úng ứ đọng nước

3/ Bón phân:

3.1 Vai trò của một số loại phân đối với cây tiêu:

+ Phân đạm (N): Giúp tiêu sinh trưởng phát triển tốt, nhiều chồi, ra nhiều hoa, kích

thước trái to Thiếu đạm, lá vàng cây cằn cỗi Thừa đạm, lá nhiều, dễ nhiễm bệnh, ít trái

+ Phân lân (P): Giúp bộ rễ phát riển tốt, hút được nhiều chất dinh dưỡng, chịu hạn tốt.

Thiếu lân, cây cằn cỗi ít đậu trái Lân cần trong giai đoạn cây con và đầu thời kỳ ra hoa

+ Phân kali (K): Giúp cây cứng, chống chịu sâu bệnh và thời tiết bất thường, tăng phẩm

chất hạt Thiếu kali, cây khó hấp thu đạm, rụng hoa, cây cần kali trong giai đoạn cây non, hạt vào chắc và chín

+ Phân hữu cơ: Trong phân có đầy đủ khoáng đa, trung, vi lượng cần thiết cho cây sử

dụng, nếu không có phân hữu cơ, cần bổ sung phân vi lượng Có thể thay thế phân hữu cơ truyền thống (các loại phân chuồng) bằng phân hữu cơ sinh học

Trang 7

+ Can xi (Ca): Can xi là nguyên tố trung lượng đóng vai trò rất quan trọng, đất được bổ

sung can xi, đặc biệt nếu đất bị chua khi bón bổ sung can xin năng suất vượt trội so với vườn không được bón can xi Thiếu ca xi cây cằn cỗi, đốt ngắn, lá non màu xanh nhợt, trên lá già, lá bánh tẻ vết xanh vàng bắt đầu ở rìa lá phát triển về mũi lá, xuất hiện các mô chết dọc theo rìa lá gây hiện tượng cháy mép lá Bệnh nặng lá già rụng chỉ còn lá non trên cành

Phòng trị: Bón vôi từ 700-1000kg/ha, hoặc có thể dùng lân văn điển bón sẽ bổ sung Ca cho cây

+ Kẽm (Zn): Kẽm là nguyên tố vi lượng, cũng giống như các nguyên tố vi lượng khác,

cây tiêu không cần nhiều kẽm nhưng thiếu kẽm cây bị bệnh thân không bám được vào trụ, đốt ngắn, lá nhỏ dày lên, ngọn rụt lại Trên lá bị bệnh có những vệt màu trắng bạc xen kẽ màu xanh đậm Triệu chứng cây thiếu kẽm dễ nhầm với cây bị vi rus gây ra Nếu tiêu bị thiếu nhẹ có thể dùng bón phân qua lá có chứa kẽm, nếu nặng phải dùng trực tiếp phân sun phát kẽm (ZnSO4) phun 2-3 lần cách nhau 10-15 ngày

+ Manhe (Mg): Thiếu Mg rất phổ biến trên cây tiêu, triệu chứng thường xuất hiện trên lá

bánh tẻ, lá già Lá bị bệnh có màu vàng ở gân lá kèm theo mảng mô màu xanh chạy dọc theo chiều dài của gân lá, cây bị nặng dải màu xanh hẹp hơn cây bị nhẹ, nếu để lâu không khắc phục kịp thời cây sẽ bị rụng lá và quả

Phòng trị: Cần bón phân tổng hợp TE (N:P:K:Mg), phun Manhe sun phát MgSO4

3.2 Định mức phân bón:

Tùy thuộc vào năng suất và tính chất thổ nhưỡng của đất mà điều chỉnh định mức phân bón cho vườn tiêu phù hợp

Định mức phân bón bình quân cho 1ha (2000 trụ): Áp dụng theo định mức kinh tế kỹ thuật sản xuất cây hồ tiêu kinh doanh của UBND tỉnh Gia Lai và quy trình đầu tư thực tế tại địa phương, trên cơ sở đó chúng tôi tiến hành điều chỉnh quy trình bón phân áp dụng cho những vườn tiêu có năng suất ở mức trung bình (khoảng 04 tấn/ha) như sau

Phân hữu cơ : 30 tấn/ha thay bằng 6 tấn phân hữu cơ vi sinh

Vôi: 600 kg/ha

Phân Lân: 1000kg

Phân Urê: 800kg

Phân Kali 600 kg

Phân SA 300 phân SA

Lưu ý: Trong trường hợp nông dân chủ động được nguồn phân hữu cơ (phân bò) hoai mục thì

vẫn bón bình thường như quy trình chung, chỉ bổ sung khoảng 02 tấn phân hữu cơ vi sinh, không nhất thiết phải thay toàn bộ phân chuồng bằng phân vi sinh như trên Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại phân hỗn hợp, phân phức hợp đã qua công đoạn chế biến áp dụng riêng cho từng loại cây trồng như NPK đầu trâu 15-10-1ùng cho tiêu v.v , nông dân có thể nhờ cán bộ kỹ thuật

tư vấn để chuyển đổi cho dễ sử dụng

3.3 Thời kỳ bón:

Với lượng phân trên được chia ra 4 lần bón trong 1 năm: Riêng trong giai đoạn này

bón 02 lần cụ thể:

Lần 1 (Tháng 4-5): Sau khi hái quả xong bón toàn bộ phân hữu cơ và phân lân + ¼ Đạm (100g/gốc) + 1/4 Kali (75g/gốc) + 1/3 SA (50g/gốc)

Lần 2 (Tháng 7): Khi hoa đã nở cơ bản: 1/4 Đạm (100g/gốc)+ 1/4 Kali (75g/gốc)

3.3 Cách bón:

- Phân chuồng được ủ với nấm Trichoderma hoai mục bón hàng năm Thời gian bón đầu mùa mưa, đào rãnh quanh hố tiêu, mép rãnh cách mép tán tiêu từ 15 – 20 cm, sâu 5 – 10 cm để bón phân chuồng, bón xong lấp đất lại

Trang 8

- Khi đào rãnh bón phân, hạn chế đến mức thấp nhất làm tổn thương bộ rễ.

- Phân hữu cơ vi sinh nên bón vào mùa mưa khi đất đủ ẩm, cách bón như bón phân chuồng

Lưu ý: Tùy theo thực tế ở mỗi vườn tiêu, nếu bồn tiêu hơi âm so với mặt đất thì không

nhất thiết phải đào rãnh như trên mà rải phân hữu cơ, hữu cơ vi sinh ngay trên mặt hố sau đó dùng bẫn, rác che phủ lại để tránh mất phân đồng thời sẽ hạn chế việc đụng chạm gây tổn thương cho rễ tiêu

- Khi bón vôi cho vườn tiêu bằng cách tung đều trên mặt đất, chiếu theo tán tiêu trở ra hoặc ủ chung với phân chuồng rồi đem bón

- Hằng năm, phun từ 2 – 3 đợt phân bón lá, mỗi lần cách nhau từ 2 – 3 tháng để bổ sung thêm các chất vi lượng cho tiêu Sau khi tiêu ra hoa, kết trái đều nên phun các loại phân bón lá có chứa vi lượng như; Zn (kẽm), B (Bo), Mo (Molip đen)… để ngăn ngừa rụng quả, cách phun theo hướng dẫn trên bao bì của nhà sản xuất

- Bón phân vô cơ: Khi bón phân phải rạch rãnh theo mép ngoài tán tiêu (cần quan sát không đụng vào rễ tiêu ) sâu 5 – 10 cm, rộng 10 – 20 cm, bón phân rồi lấp đất lại Vào mùa khô hoặc trong mùa mưa nhưng bón phân gặp nắng thì khi bón phân xong phải tưới đẫm nước

- Bón phân Urê, kaly cùng một lúc Đối với phân lân nên bón riêng trước hoặc sau bón phân đạm từ 5 – 10 ngày, rải đều trên mặt đất không cần rạch rãnh

Lưu ý: Phân vô cơ cũng có thể áp dụng cách bón rải đều trên mặt bồn kết hợp khi trời

mưa nhỏ để tránh bị nước mưa rửa trôi hoặc bón khi trời không mưa thì tưới ngay để phân tan và thấm sâu xuống đất, không để cho phân bay hơi

4 Phòng trừ sâu bệnh hại:

4.1 Biện pháp phòng ngừa sự nhiễm sâu bệnh:

- Phương pháp phòng ngừa phải được thực hiện nghiêm túc khi tác động trực tiếp vào những cây tiêu đã bị nhiễm bệnh như bệnh xoăn lá, bệnh thối rễ, bệnh thối gốc, bệnh héo chết,

… Các dụng cục đã dùng như kéo cắt, dao, xẻng , cuốc…đều được rửa sạch sẽ và khử trùng bằng cách ngâm vào nước vôi trong 5% ít nhất 15 phút trước khi dùng tiếp cho những cây khác, hoặc dụng cụ dùng để làm ở vườn đang bị nhiễm bệnh không nên dùng cho các vườn khác

- Hạn chế sự di chuyển của người làm vườn từ vườn bị bệnh sang vườn không bị bệnh

4.2 Các biện pháp phòng trừ sâu bệnh tổng hợp:

Các loại sâu bệnh gây hại các bộ phận dưới mặt đất đối với cây tiêu rất khó chữa trị, do tiêu có bộ rễ rất nhạy cảm khi bị sâu bệnh tấn công, vì vậy để quản lý sâu bệnh hại trong vườn tiêu có hiệu quả cần áp dụng tổng hợp các biện pháp, thực hiện phương châm “phòng là chính, trừ phải kịp thời và hiệu quả”

* Biện pháp canh tác bao gồm:

Thực hiện đầy đủ các công việc chăm sóc như bón phân cân đối, hợp lý, đúng thời điểm, đúng cách, đúng hàm lượng Tưới đủ lượng nước cho hồ tiêu vào mùa khô, đặc biệt phải thoát nước tốt cho vườn tiêu trong mùa mưa, quản lý tốt cỏ dại, hạn chế cuốc-xới trong khu vực rễ tiêu làm tổn thương bộ rễ Rong tỉa cây che bóng, cây chắn gió trong mùa mưa,

* Biện pháp cơ lý bao gồm:

Cắt tỉa lá già, cành tăm, cành sâu bệnh, bắt diệt sâu khi thấy mới xuất hiện, thường xuyên

vệ sinh tiêu hủy tàn dư làm cho vườn tiêu thông thoáng, đủ ánh sáng…

(các biện pháp canh tác, cơ lý cụ thể đã nêu ở mục 1; 2; 3)

* Thường xuyên giám sát sâu bệnh và thiên địch để đưa ra quyết định xử lý kịp thời, phù hợp.

Thường xuyên kiểm tra vườn tiêu để nắm bắt diễn biến phát sinh-phát triển của sâu bệnh cũng như thiên địch

Trang 9

* Biện pháp sinh học: Đây là biện pháp được ưu tiên hàng đầu trong việc áp dụng phòng

ngừa sâu bệnh hại tiêu

- Duy trì môi trường thuận lợi tạo điều kiện cho các loài sinh vật có ích phát triển khống chế dịch hại, tăng cường bón phân hữu cơ, bón phân hóa học cân đối hợp lý, hạn chế sử dụng các loại hóa chất nông nghiệp…

- Sử dụng các chế phẩm sinh học để phòng trừ sâu bệnh như Trichoderma,

- Đảm bảo mối cân bằng sinh học trong tự nhiên: Không nên cố gắng tiêu diệt hết các loài dịch hại vì khi dùng thuốc hóa học tiêu diệt dịch hại thì các loài thiên địch, vi sinh vật có ích cũng sẽ bị tiêu diệt, trong khi vòng đời của thiên địch thường dài hơn vòng đời của sâu hại nên

dễ gây sự bùng phát của dịch hại làm phá vỡ sự cân bằng sinh thái trên đồng ruộng

* Biện pháp hóa học:

Biện pháp hóa học chỉ áp dụng khi thật cần thiết trong trường hợp áp dụng các biện pháp khác không khống chế được sâu bệnh hại Nghiêm chỉnh chấp hành sử dụng thuốc theo nguyên tắc 4 đúng , lựa chọn các loại thuốc ít độc hại phân hủy nhanh để sử dụng

4.3 Một số đối tượng sâu bệnh hại chính và biện pháp phòng trừ ở giai đoạn này:

4.3.1 Rệp sáp giả: (Pseudococcus sp; Pseudococcidae- Homoptera):

Đến nay theo tài liệu của Cục BVTV công bố đã phát hiện một số loài rệp sáp giả sau:

- Rệp sáp giả 1 cặp đuôi ngắn - Pseudococcus sp.1

- Rệp sáp giả 1 cặp đuôi dài - Pseudococcus sp.2

- Rệp sáp giả 2 cặp đuôi dài - Pseudococcus sp.3

- Rệp sáp giả 4 cặp đuôi dài - Pseudococcus sp.4

a Triệu chứng và tác hại:

Trên cây hồ tiêu, rệp thường bám vào các gié hoa, gié quả, kẽ cành hoặc mặt dưới lá; bộ phận dưới mặt đất của cây chúng thường bám vào cổ rễ, rễ cây để gây hại Rệp hút nhựa cây làm cho lá, hoa, quả héo khô Nếu rệp phát triển với mật độ cao làm cho cây hồ tiêu cằn cỗi khô héo giống như cây bị hạn hán Các bộ phận dưới mặt đất, rệp chích hút dịch từ cổ rễ, rễ và gốc cây số lượng rệp hại có thể từ vài chục con tới hàng ngàn con Khi rệp phá hại lâu ngày ở rễ chúng còn cộng sinh với nấm Bornetina sp ở trong đất Sợi nấm kết thành lớp dày như một cái ống màu trắng ngà bao quanh rễ, bên trong ống rất nhiều rệp sinh sống Thuốc trừ sâu rất khó đi qua ống sợi nấm này để tiếp súc với rệp Khi rễ bị hại nặng, tán lá cây căn cỗi, ra hoa đậu quả kém, quả nhỏ héo dần vì bộ rễ không có khả năng hút nước và các chất dinh dưỡng cung cấp cho cây những cây hồ tiêu bị rệp gây hại nặng thường có các loại nấm bệnh xâm nhập và gây hại theo

b Đặc điểm hình thái:

- Rệp sáp giả 1 cặp đuôi ngắn (Pseudococcus sp.1) là loại côn trùng có kích thước nhỏ, hình bầu dục, dài từ 2,5-4,5 mm , bề ngang từ 2-3 mm Cơ thể rệp màu hồng nhạt, bên ngoài đ-ược bao phủ lớp bột sáp trắng, phấn lưng nổi dạng hình mui rùa Xung quanh rìa cơ thể có 18 đôi tua sáp trắng dài gần bằng nhau Phần bụng của ngực có 3 đôi chân dài và khá linh hoạt Con cái

đẻ trứng thành bọc, bên ngoài bao phủ lớp sáp trắng, bên trong bọc hàng trăm quả trứng, trứng

có dạng hình cầu hoặc gần hình cầu, trứng trong, màu nâu hay nâu hồng Rệp non mới nở có màu vàng hồng, hình bầu dục, di chuyển nhanh Vài ngày sau trên mình xuất hiện lớp sáp bột trắng và bắt đầu có tua sáp ở đuôi, Rệp càng lớn mức độ di chuyển càng ít dần

- Rệp sáp giả 1 cặp đuôi dài (Pseudococcus sp.2), hình dạng, màu sắc, kích thước giống rệp sáp giả 1 cặp đuôi ngắn nhưng các tua xung quanh cơ thể dài hơn và đặc biệt đôi tua sáp thứ

17 dài gần bằng 1/2 chiều dài cơ thể

- Rệp sáp giả 2 cặp đuôi dài (Pseudococcus sp.3), hình dạng, màu sắc, kích thước giống rệp sáp giả 01cặp đuôi dài nhưng cặp tua sáp thứ 17 dài hơn1/2 chiều dài cơ thể, cặp thứ 18 dài gần bằng 1/2 chiều dài cơ thể

Trang 10

- Rệp sáp giả 4 cặp đuôi dài (Pseudococcus sp.4): Các tua sáp xung quanh cơ thể đều dài, riêng 4 cặp tua sáp cuối bụng dài hơn bình thường

- Rệp sáp giả vằn (Ferrisia virgata CKII): đây là loài rệp sáp giả có kích thước cơ thể lớn hơn các loài rệp sáp giả nêu trên Cơ thể hình ô van dài, xung quanh cơ thể không có các tua sáp, riêng cuối bụng có cặp tua sáp vừa to vừa dài, giữa lưng có một vệt dọc

c Đặc điểm sinh học:

Rệp sáp giả là loài sâu hại đa thực sống thành bày bám chặt vào các bộ phận cây, gây hại nhiều loại cây trồng

Rệp sáp thuộc dạng biến thái không hoàn toàn, Rệp non có 3 tuổi, nhiệt độ phát triển thích hợp từ 27,5-28,5oC , ẩm độ 80% , vòng đời từ 35-40 ngày

Trong quá trình sống rệp thường sống cộng sinh với kiến, rệp tiết ra các chất mật cho kiến ăn, kiến bảo vệ chăm sóc rệp và vận chuyển rệp đến nơi có nhiều chất dinh dưỡng hơn để sinh sống Sau một thời gian rệp hại thường thấy nấm bồ hóng đen phát triển do có chất mật do rệp tiết ra

d Biện pháp phòng trừ:

- Phải thường xuyên điều tra phát hiện, theo dõi diễn biến của rệp trên các khu vực trồng

hồ tiêu (trên cây và dưới gốc, rễ) đặc biệt là mùa khô (có thể qua đường đi của kiến)

- Không được để cỏ dại xâm lấn cây hồ tiêu, không xới xáo đất ở vùng rễ làm đứt rễ cây Cắt bỏ các cành dưới gốc sát mặt đất, tỉa tạo tán cho hồ tiêu không để cành quá dày, đảm bảo thông thoáng gốc và trong tán cây

- Bón phân cho cây hồ tiêu kịp thời, đủ về lượng, cân đối theo quy trình, đặc biệt là phân hữu cơ

- Khi phát hiện thấy các ổ rệp đang phát triển, nhất là trong mùa khô cần phải xử lý thuốc phòng trừ rệp kịp thời

+ Đối với rệp sáp giả gây hại các bộ phận của cây trên mặt đất, sử dụng các thuốc trừ sâu phun ướt đều trên thân, cành, mặt sau lá, chùm quả cây hồ tiêu, hướng pet phun để thuốc tiếp xúc được với rệp thì hiệu quả sẽ đạt cao Có thể sử dụng một trong các loại thuốc trừ sâu như Bemetent WP, DP; Confidor 100 SL pha nồng độ 0,1% + 0,2% dầu khoáng (SK hay DC – Tron plus,…); Suprathion 40ND pha nồng độ 0,1-0,15% hoặc Pegasus 500 SC pha nồng độ 0,1% Sau khi phun thuốc phải đảm bảo thời gian cách ly trước khi thu hoạch

+ Đối với rệp sáp giả gây hại các bộ phận cây hồ tiêu dưới mặt đất (gốc, rễ), sử dụng các thuốc trừ sâu dạng bột như Diaphos 10 H; Oncol 25 WP;…rắc xung quang gốc với lượng 15-20 g/nọc (gốc) và phủ lớp đất mỏng Nếu không có thuốc trừ sâu bột, có thể sử dụng các thuốc như đối với trừ rệp hại các bộ phận trên mặt đất như đã nêu trên và tưới vào vùng gốc, rễ cây với lượng 2-3 lít dung dịch nước thuốc đã pha/nọc

4.3.2 Bọ xít lưới (rầy thánh giá) hại tiêu:

Tên khoa học: Elasmognathus nepalensis

a Triệu chứng và tác hại:

Chúng chích hút lá non, gié bong, quả non làm cho bông rụng hàng loạt, giảm tỷ lệ đậu trái của cây Mức độ rụng hoa quả phụ thuộc vào mật độ của bọ

xít lưới trên cây

b Đặc điểm hình thái:

Con trưởng thành của bọ xít lưới màu đen cơ thể nhỏ kích thước khoảng 7mm x15mm, cánh dài quá bụng mảnh lưng ngực trước kéo dài ra hai bên và phình tròn trông giống như thánh giá Phần cứng và phần mềm của cánh không phân biệt rõ Toàn bộ phần lưng và phần cánh có cấu tạo như lưới Vòi chích hút nằm giữa sát giữa đầu ngực

c Đặc điểm sinh học:

Ngày đăng: 22/04/2020, 02:48

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w