1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động lễ hội đền phù ủng huyện ân thi – hưng yên

76 121 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 10,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẨU 1.Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay quá trình toàn cầu hóa có tác động mạnh mẽ tới đời sống trên tất cả mọi lĩnh vực từ kinh tế, chính trị đến văn hóa xã hội. Đặc biệt lĩnh vực văn hóa chịu sự chi phối mạnh mẽ của xu thế toàn cầu hóa trên hai mặt tích cực và hạn chế. Bên cạnh những thời cơ được đặt ra như việc hội nhập, giao lưu tiếp biến văn hóa, tạo điều kiện trao truyền những nét văn hóa bản địa của từng vùng miền, quốc gia, dân tộc, tăng cường khối đại đoàn kết, thì nền văn hóa cũng gặp phải một số thách thức lớn như sự hội nhập tiếp thu thiếu tính chọn lọc, làm mất đi những giá trị văn hóa truyền thống vốn có. Sự mở rộng của quá trình toàn cầu hóa, song song với việc tiếp thu, chọn lọc, biến đổi và áp dụng.Tuy nhiên, không phải vùng miền nào cũng có chính sách, phương pháp phù hợp, nhiều nơi quá trình giao lưu tiếp biến đi sai lệch với chủ trương, đường lối của Đảng về vấn đề xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Xu thế “hòa nhập hòa tan” là một thực trạng phổ biến hiện nay, đó là việc tiếp thu các yếu tố bên ngoài, thiếu tính chọn lọc, hay việc áp dụng nguyên văn đã làm biến đổi hoặc mất đi các giá trị văn hóa cổ truyền. Đời sống văn hóa của con người có nhiều bước chuyển biến rõ nét dưới tác động của toàn cầu hóa, đặc biệt là đời sống văn hóa tinh thần, trong khi đời sống vật chất được nâng cao thì con người ngày càng có nhiều nhu cầu về các mặt giải trí, thị hiếu hay tâm linh. Tiêu biểu là hệ thống các lễ hội, nơi hàm chứa các giá trị văn hóa tinh thần, ngoài việc lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống thì hiện nay do tiếp thu ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài thì lễ hội mang nhiều màu sắc mới và xuất hiện một số vấn đề không phù hợp với truyền thống về các mặt nội dung, hình thức, tổ chức,… Lễ hội cả nước nói chung và lễ hội ở huyện Ân Thi Hưng Yên nói riêng có nhiều chuyển biến rõ nét, đặc biệt Ân Thi Hưng Yên được coi là vùng có nền văn hóa lâu đời, có sự giao lưu trao đổi giữa các vùng miền diễn ra mạnh mẽ, đây được coi là vùng trung tâm của khu vực đồng bằng Bắc bộ, có sự giao lưu và tích hợp nhiều nét văn hóa đặc sắc. Trong những năm gần đây, lễ hội đền Phù Ủng được nhà nước và chính quyền địa phương chú trọng phát triển trong việc tu sửa, nâng cấp cơ sở hạ tầng cùng việc đưa ra định hướng, chính sách phát triển phù hợp, đáp ứng đầy đủ các tiêu chí của một khu di tích lịch sử dân tộc. Lễ hội đền Phù Ủng là điểm đến của nhiều du khách trong nước với mục đích tới thăm quan, tìm hiểu và nghiên cứu. Mỗi dịp xuân về, lễ hội đền Phù Ủng lại nhộn nhịp trong không khí vui tươi, tưng bừng và cũng không kém phần trang nghiêm. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực thì vẫn tồn tại nhiều mặt hạn chế đã và đang phát sinh cần khắc phục như: các tệ nạn xã hội, vấn đề ô nhiễm môi trường, cơ chế quản lý,… Bên cạnh đó, việc phát triển kinh tế, đẩy mạnh việc bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống được chú trọng đặc biệt. Lễ hội đền Phù Ủng trở thành một trung tâm văn hóa tiêu biểu, thu hút số lượng khách tham quan lớn, đây được coi là một tiềm năng lớn cho ngành du lịch phát triển trong hiện tại và tương lai. Từ những vấn đề trên cho thấy việc nghiên cứu hoạt động lễ hội đền Phù Ủng huyện Ân Thi Hưng Yên là một nội dung cần thiết trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc nói chung và của toàn tỉnh Hưng Yên nói riêng. Nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của văn hóa trong thời kỳ hội nhập hiện nay, đặc biệt là việc phát triển các giá trị văn hóa tinh thần, tiêu biểu là lễ hội nên tác giả chọn đề tài “Hoạt động lễ hội đền Phù Ủng huyện Ân Thi Hưng Yên” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp vì đây là một đề tài sát thực với nơi tác giả sinh sống, có điều kiện khảo sát thực tế, thu thập tài liệu phục vụ cho quá trình hoàn thiện đề tài.

Trang 1

UBND : Ủy ban nhân dân

VHTT : Văn hóa thông tin

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẨU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ LỄ HỘI TRONG VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT 6

1.1 Những khái niệm cơ bản 6

1.2 Nguồn gốc và quá trình hình thành lễ hội ở Việt Nam 9

1.3 Các loại hình lễ hội 12

Chương 2 LỄ HỘI ĐỀN PHÙ ỦNG HUYỆN ÂN THI - HƯNG YÊN 17

2.1 Khái quát chung về huyện Ân Thi - Hưng Yên 17

2.2 Lễ hội đền Phù Ủng 22

2.3 Thực trạng hoạt động lễ hội đền Phù Ủng huyện Ân Thi – Hưng Yên hiện nay 46

Chương 3 GIẢI PHÁP GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA LỄ HỘI ĐỀN PHÙ ỦNG HUYỆN ÂN THI - HƯNG YÊN 54

3.1 Giải pháp trước mắt 54

3.2 Giải pháp lâu dài 55

KẾT LUẬN 63

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

PHỤ LỤC 69

Trang 3

MỞ ĐẨU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay quá trình toàn cầu hóa có tác động mạnh mẽ tới đời sống trêntất cả mọi lĩnh vực từ kinh tế, chính trị đến văn hóa xã hội Đặc biệt lĩnh vựcvăn hóa chịu sự chi phối mạnh mẽ của xu thế toàn cầu hóa trên hai mặt tíchcực và hạn chế Bên cạnh những thời cơ được đặt ra như việc hội nhập, giaolưu tiếp biến văn hóa, tạo điều kiện trao truyền những nét văn hóa bản địa củatừng vùng miền, quốc gia, dân tộc, tăng cường khối đại đoàn kết, thì nền vănhóa cũng gặp phải một số thách thức lớn như sự hội nhập tiếp thu thiếu tínhchọn lọc, làm mất đi những giá trị văn hóa truyền thống vốn có

Sự mở rộng của quá trình toàn cầu hóa, song song với việc tiếp thu,chọn lọc, biến đổi và áp dụng.Tuy nhiên, không phải vùng miền nào cũng cóchính sách, phương pháp phù hợp, nhiều nơi quá trình giao lưu tiếp biến đi sailệch với chủ trương, đường lối của Đảng về vấn đề xây dựng nền văn hóa tiêntiến, đậm đà bản sắc dân tộc Xu thế “hòa nhập hòa tan” là một thực trạng phổbiến hiện nay, đó là việc tiếp thu các yếu tố bên ngoài, thiếu tính chọn lọc,hay việc áp dụng nguyên văn đã làm biến đổi hoặc mất đi các giá trị văn hóa

cổ truyền

Đời sống văn hóa của con người có nhiều bước chuyển biến rõ nétdưới tác động của toàn cầu hóa, đặc biệt là đời sống văn hóa tinh thần, trongkhi đời sống vật chất được nâng cao thì con người ngày càng có nhiều nhucầu về các mặt giải trí, thị hiếu hay tâm linh Tiêu biểu là hệ thống các lễ hội,nơi hàm chứa các giá trị văn hóa tinh thần, ngoài việc lưu giữ những giá trịvăn hóa truyền thống thì hiện nay do tiếp thu ảnh hưởng của các yếu tố bênngoài thì lễ hội mang nhiều màu sắc mới và xuất hiện một số vấn đề khôngphù hợp với truyền thống về các mặt nội dung, hình thức, tổ chức,…

Trang 4

Lễ hội cả nước nói chung và lễ hội ở huyện Ân Thi - Hưng Yên nói riêng

có nhiều chuyển biến rõ nét, đặc biệt Ân Thi - Hưng Yên được coi là vùng cónền văn hóa lâu đời, có sự giao lưu trao đổi giữa các vùng miền diễn ra mạnh

mẽ, đây được coi là vùng trung tâm của khu vực đồng bằng Bắc bộ, có sựgiao lưu và tích hợp nhiều nét văn hóa đặc sắc

Trong những năm gần đây, lễ hội đền Phù Ủng được nhà nước và chínhquyền địa phương chú trọng phát triển trong việc tu sửa, nâng cấp cơ sở hạtầng cùng việc đưa ra định hướng, chính sách phát triển phù hợp, đáp ứng đầy

đủ các tiêu chí của một khu di tích lịch sử dân tộc

Lễ hội đền Phù Ủng là điểm đến của nhiều du khách trong nước vớimục đích tới thăm quan, tìm hiểu và nghiên cứu Mỗi dịp xuân về, lễ hội đềnPhù Ủng lại nhộn nhịp trong không khí vui tươi, tưng bừng và cũng khôngkém phần trang nghiêm

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực thì vẫn tồn tại nhiều mặt hạnchế đã và đang phát sinh cần khắc phục như: các tệ nạn xã hội, vấn đề ônhiễm môi trường, cơ chế quản lý,…

Bên cạnh đó, việc phát triển kinh tế, đẩy mạnh việc bảo tồn các giá trịvăn hóa truyền thống được chú trọng đặc biệt Lễ hội đền Phù Ủng trở thànhmột trung tâm văn hóa tiêu biểu, thu hút số lượng khách tham quan lớn, đâyđược coi là một tiềm năng lớn cho ngành du lịch phát triển trong hiện tại vàtương lai

Từ những vấn đề trên cho thấy việc nghiên cứu hoạt động lễ hội đền PhùỦng huyện Ân Thi - Hưng Yên là một nội dung cần thiết trong việc bảo tồn

và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc nói chung và củatoàn tỉnh Hưng Yên nói riêng

Nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của văn hóa trong thời kỳ hộinhập hiện nay, đặc biệt là việc phát triển các giá trị văn hóa tinh thần, tiêu

biểu là lễ hội nên tác giả chọn đề tài “Hoạt động lễ hội đền Phù Ủng huyện

Trang 5

Ân Thi - Hưng Yên” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp vì đây là một đề tài

sát thực với nơi tác giả sinh sống, có điều kiện khảo sát thực tế, thu thập tàiliệu phục vụ cho quá trình hoàn thiện đề tài

2 Lịch sử vấn đề

Lễ hội ở Việt Nam ra đời gắn liền với tiến trình xây dựng và phát triểnđất nước cùng với các tín ngưỡng dân gian Lễ hội là một hình thái sinh hoạtvăn hóa của con người, khi con người xuất hiện đã phải đối mặt với nhiều thiêntai, địch họa Chính vì vậy mà trước tiên loài người đã hình thành tín ngưỡngsùng bái thiên nhiên, con người tổ chức các lễ cầu cho thiên nhiên mưa thuậngió hòa, mùa màng tốt tươi, trong các lễ cầu đó luôn có phần biểu diễn các hìnhthức ca múa của cộng đồng (có thể hiều là phần hội) - đó chính là nguồn gốccủa lễ hội Khi xã hội phát triển, bên cạnh các lễ cầu cho mưa thuận gió hòa,mùa màng tươi tốt thì con người cũng tổ chức các lễ hội khác liên quan đến xãhội của mình như tưởng nhớ các anh hùng lịch sử có công xây dựng và pháttriển đất nước

Đề tài Hoạt động lễ hội đền Phù Ủng huyện Ân Thi - Hưng Yên được

nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau: góc độ không gian, góc độ thời gian,đối tượng hướng tới

Đề tài được thể hiện trong một số cuốn sách tiêu biểu sau:

Cuốn sách Thống kê lễ hội Việt Nam của Bộ Văn hóa, Thông tin và Du lịch : giới thiệu khái quát hệ thống các lễ hội tiêu biểu của Việt Nam

Cuốn sách Di tích lịch sử văn hóa của Ban quản lý di tích tỉnh Hưng

Yên: giới thiệu các di tích lịch sử - văn hóa trong hệ thống các huyện thuộctỉnh Hưng Yên

Cuốn sách Lễ hội truyền thống các dân tộc Việt Nam các tỉnh phía Bắc

của PGS.TS Hoàng Lương, Nxb Thông tin và Truyền thông: hệ thống hóacác lễ hội truyền thống của các dân tộc thuộc các tỉnh phía Bắc Việt Nam

Ngoài ra, đề tài “Hoạt động lễ hội đền Phù Ủng huyện Ân Thi - Hưng

Yên” còn được thể hiện trong một số tài liệu, giáo trình và tạp trí khác.

Trang 6

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích

Mục đích của đề tài là tìm hiểu hoạt động lễ hội đền Phù Ủng huyện ÂnThi - Hưng Yên, nghiên cứu thực trạng và đề ra giải pháp bảo tồn và phát huynhững giá trị văn hóa truyền thống

3.2 Nhiệm vụ

Nhiệm vụ của đề tài tập trung nghiên cứu:

Thứ nhất, Xác lập cơ sở lý luận về vấn đề lễ hội trong văn hóa người

Việt

Thứ 2, Phân tích thực trạng hoạt động lễ hội đền Phù Ủng huyện Ân

Thi – Hưng Yên hiện nay

Thứ 3, Đề ra giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của lễ hội

đền Phù Ủng huyện Ân Thi - Hưng Yên

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1.Đối tượng

Đối tượng đề tài nghiên cứu là “Hoạt động lễ hội đền Phù Ủng huyện

Ân Thi - Hưng Yên”

Mác- Tiếp cận vấn đề trên đường lối, chính sách của Đảng và sự quản lýcủa Nhà nước về vấn đề xây dựng, phát triển văn hóa trong thời kỳ hiện nay

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện khóa luận, đề tài đã áp dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Trang 7

Phương pháp khảo sát thực tế: Đây được coi là phương pháp trọng

tâm trong quá trình tiếp cận vấn đề nhằm tổng hợp thông tin, đánh giá chínhxác Phương pháp khảo sát thực tế là quá trình điền dã, đi trực tiếp để thu thậptài liệu, thông tin liên quan tới đề tài

Phương pháp quan sát, phân tích, tổng hợp: Phương pháp quan sát là

việc sử dụng thị giác để nhìn nhận và đánh giá vấn đề, phản ánh sự thật kháchquan Phương pháp phân tích, tổng hợp là sử dụng tư duy, kỹ năng, kiến thức,kinh nghiệm để khái quát các tư liệu thu thập được trước đó

Phương pháp so sánh: Đặt trong mối tương quan giữa lễ hội này với

lễ hội khác, so sánh các điểm tương đồng và khác biệt để từ đó có thể rút rakết luận, phương pháp phát triển phù hợp

Phương pháp phỏng vấn: Đây là việc thu thập thông tin trên cơ sở lấy

ý kiến trực tiếp của người khác trên việc bày tỏ ý kiến, quan điểm, mongmuốn, nguyện vọng,

6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

7 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, kếtcấu khóa luận bao gồm 3 chương

Trang 8

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ LỄ HỘI

TRONG VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT

1.1 Những khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm văn hóa

Văn hóa là một khái niệm rộng, được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác

nhau Theo thống kê đến nay có hơn 400 định nghĩa về văn hóa, đó là nhữngđịnh nghĩa của các học giả khác nhau xuất phát từ các cứ liệu riêng, góc độriêng, mục đích riêng nhằm phù hợp với đề tài nghiên cứu của mình

Trong Tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ họcthức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa); theo nghĩa chuyên biệt

để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn Trong khi theo nghĩa rộng thì vănhóa bao gồm từ tín ngưỡng, phong tục, lối sống, lao động,…

Dưới đây là một số khái niệm văn hóa tiêu biểu:

Khái niệm văn hóa của Hồ Chí Minh, từ năm 1943 đã viết: “Vì lẽ sinh

tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh

ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”[16,

tr.431]

Khái niệm văn hóa của UNESCO: Văn hóa được hiểu theo hai nghĩa:nghĩa rộng và nghĩa hẹp

Theo nghĩa rộng: “Văn hóa là một phức hệ - tổng hợp các đặc trưng

diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm… khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cả lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng”[31, tr.16].

Trang 9

Theo nghĩa hẹp: “Văn hóa là tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký

hiệu) chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đồng đó

có đặc thù riêng”[31, tr.16].

Ngoài ra còn rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa của các nhànghiên cứu trong và ngoài nước

1.1.2 Khái niệm lễ hội

Lễ hội là khái niệm được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau:

Trong Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm từ điển học quan niệm rằng lễhội là cuộc chung vui có tổ chức, có các hoạt động lễ nghi mang tính chất vănhóa truyền thống

Tác giả Bùi Thiết cho rằng : Lễ hội chỉ toàn bộ hoạt động tinh thần vàứng xử, phản ánh những tập tục, vật hiến tế, lễ nghi dâng cúng, những hội hèđình đám của một cộng đồng làng xã nhất định

Các tác giả trong Từ điển Bách Khoa Việt Nam cho rằng: Lễ hội là hệthống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đốivới thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trướccuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện Hội là sinh hoạt vănhóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng động xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, từ

sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân, hạnhphúc cho từng gia đình, sự vững mạnh của từng dòng họ, sự sinh sôi nảy nởcủa gia súc, sự bội thu của mùa màng mà từ bao đời nay quy tụ niềm mơước chung Lễ hội là hoạt động của một tập thể người liên quan đến tínngưỡng và tôn giáo

Lễ hội là một hoạt động sinh hoạt văn hóa dân gian mang tính cộng đồngcao của các tầng lớp nhân dân, diễn ra trong những chu kỳ về không gian vàthời gian nhất định để tiến hành những nghi thức mang tính chất biểu trưng về

sự kiện nhân vật được thờ cúng Những hoạt động này nhằm tỏ rõ ước vọngcủa con người, để vui chơi giải trí trong cộng đồng Lễ hội là những hoạtđộng, sinh hoạt văn hóa mà ở đó có sự gắn kết không thể tách rời của cả nội

Trang 10

dung và hình thức, của cả hai thành tố cơ bản là Lễ và Hội Ngoài ra tronghoạt động lễ hội còn bao gồm một số chi tiết khác như: hệ thống các tục hèm,các trò diễn dân gian, hoạt động hội chợ triển lãm, văn hóa ẩm thực.

Có thể đưa ra khái niệm khái quát về lễ hội: Lễ hội là hoạt động sinh

hoạt văn hóa cộng đồng diễn ra trên địa bàn dân cư trong thời gian và không gian xác định; nhằm nhắc lại một sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại; đồng thời là dịp để biểu hiện cách ứng xử văn hóa của con người với thiên nhiên, thần thánh và con người trong xã hội.

Khái niệm trên đã phản ánh rõ bản chất cùng những nội dung của lễ hộitruyền thống Việt Nam Trước hết, lễ hội là sinh hoạt văn hóa cộng đồng, bởi

vì đây là hoạt động văn hóa của tập thể, thuộc về tập thể, do tập thể tổ chức

Dù ở bất cứ đâu, vào bất cứ thời gian nào lễ hội cũng phải do đông đảo quầnchúng nhân dân tiến hành Họ là những người sáng tạo chân chính những giátrị bắt nguồn từ cuộc sống lao động sản xuất và chiến đấu Họ là chủ nhân,đồng thời là người đánh giá, thẩm định và hưởng thụ những thành quả sángtạo văn hóa ấy Không bao giờ lễ hội chỉ thuộc về một nhóm người nào đótrong xã hội, hội là của tập thể, cộng đồng

Lễ hội là một hoạt động tập thể do quần chúng nhân dân tiến hành, bất

cứ lễ hội nào cũng gắn với địa bàn dân cư cụ thể, là một hoạt động văn hóacủa một địa phương đó Về cơ bản, lễ hội truyền thống Việt Nam là những lễhội làng, nhưng cũng có những lễ hội do nội dung và tính chất của nó nênđược diễn ra trong một không gian rộng lớn hơn, có tính liên làng, liên vùng.Những hoạt động lễ hội này diễn ra không thường xuyên mà chỉ ở một vàithời điểm nhất định vào mùa xuân hay mùa thu trong năm Đây là thời điểmchuyển giao thời tiết, cũng là thời điểm chuyển giao mùa vụ trong hoạt độngsản xuất nông nghiệp.Vào thời điểm này, người ta tổ chức lễ hội nhằm cácmục đích khác nhau.Với những hoạt động mang tính nghi lễ nhằm nhắc lại sựkiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại đã diễn ra trong quá khứ Đây chính là

Trang 11

ứng xử văn hóa với thiên nhiên, thần thánh, con người thông qua các hoạt động

có trong lễ hội Điều đó thể hiện mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên,con người với xã hội

1.2 Nguồn gốc và quá trình hình thành lễ hội ở Việt Nam

1.2.1 Nguồn gốc hình thành lễ hội

Trong tiến trình lịch sử dân tộc, lễ hội truyền thống của Việt Nam đượchình thành từ rất sớm, từ khi chưa hình thành nhà nước, chưa có sự phân chiagiai cấp Tuy vậy, có thể thấy rằng, lễ hội xuất hiện khi xã hội loài người đạtđến trình độ phát triển cao trong tổ chức đời sống xã hội Cũng như các mặthoạt động khác của đời sống con người, lễ hội từng bước hình thành, khôngngừng biến đổi và hoàn thiện để phù hợp với sự phát triển xã hội ở từng giaiđoạn khác nhau của lịch sử Từ thực tiễn cuộc sống, có thể thấy rằng lễ hộiđược hình thành từ các nguồn gốc sau:

Phong tục của các địa phương: Những phong tục tập quán được hình

thành từ bao đời, đúc kết qua nhiều thế hệ và được truyền lại cho các thế hệ

kế tiếp, luôn thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, đây được coi là nguyênnhân chủ yếu dẫn tới sự hình thành các lễ hội ở Việt Nam.Trong dân gian cócâu “Trống làng nào, làng đấy đánh”, “ Thánh làng nào, làng đấy thờ” điềunày thể hiện yếu tố bản địa, mang tính địa phương, vừa tạo ra sự phong phú

đa dạng của văn hóa dân tộc Những lễ hội dân gian diễn ra ở các làng xãthường gắn liền với kỷ niệm ngày sinh, ngày mất của các Thần hoàng làng.Cho nên, lệ làng phép nước đã góp phần hình thành các lễ hội truyền thống

Lễ hội được bắt nguồn từ trong cuộc sống lao động sản xuất và chiến đấu củangười nông dân, đồng thời thể hiện sự phong phú đa dạng trong đời sống tôngiáo tín ngưỡng của một bộ phận dân cư trên địa bàn cụ thể

Phong tục tập quán của mỗi vùng miền là yếu tố quyết định sự tồn tại vàphát triển các lễ hội truyền thống ở các địa phương Nó phản ánh và thể hiệnnét đặc sắc của bản sắc văn hóa dân tộc của các địa phương vùng miền trongcùng một lãnh thổ quốc gia thống nhất.Văn hóa Việt Nam “ thống nhất trong

Trang 12

sự đa dạng” của văn hóa 54 dân tộc anh em.Vì vậy, có thể nói lễ hội ra đờitrong lịch sử, tồn tại cùng lịch sử, góp phần hình thành truyền thống, hìnhthành phong tục tập quán ở các địa bàn dân cư.

Quy định của tập thể chính trị - xã hội đương thời: Là một hoạt động

văn hóa, lễ hội ra đời, tồn tại và phát triển trong một môi trường xã hội nhấtđịnh Trong từng thời điểm lịch sử, môi trường xã hội nào cũng gắn liền vớithể chế chính trị cầm quyền của giai đoạn đó Lễ hội là hoạt động văn hóa cótác động và ảnh hưởng sâu rộng tới các tầng lớp nhân dân nên các chính thểcầm quyền đều sử dụng để phục vụ cho hoạt động quản lý, duy trì và điềuhành hoạt động của đất nước, xã hội Vì thế, lễ hội ra đời phục vụ cho mụcđích trên của chính thể cầm quyền Bên cạnh những lễ hội dân gian truyềnthống, nhiều lễ hội được tổ chức nhằm chúc mừng các sự kiện chính trị - quân

sự - văn hóa xã hội nổi bật của từng giai đoạn, như các lễ hội chào mừng sựkiện lịch sử, đón nhận danh hiệu thi đua, đánh dấu thành tựu của cá nhân, tậpthể, đơn vị hoặc cơ quan

Mục tiêu phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội đặt ra: Là một thành tố

văn hóa có chứa đựng các nội dung và yếu tố văn hóa, kinh tế nên lễ hội đượcchính thể cầm quyền sử dụng góp phần thúc đẩy xã hội phát triển theo nhữngmục tiêu, định hướng của từng thời kỳ, giai đoạn khác nhau Căn cứ vào tìnhhình xã hội, đất nước, từ thực trạng các ngành kinh tế, nhu cầu của xã hội đặt

ra để tổ chức các cuộc triển lãm về thành tựu kinh tế, văn hóa, khoa học kỹthuật Ở mỗi giai đoạn đều có các mục tiêu khác nhau, từ đó lễ hội cũng đượckhai thác thông qua các hình thức mang tính chất đặc thù để phát triển thếmạnh vốn có của các loại hình văn hóa xã hội này

Nhu cầu vui chơi, giải trí của các tầng lớp nhân dân trong xã hội:

Nhu cầu vui chơi giải trí luôn đặt ra đối với con người khi có thời gian rảnhrỗi như sau thời kỳ lao động sản xuất có liên quan đến thời vụ, hoặc cácngành nghề sản xuất khác Người dân sau một thời gian lao động sản xuất mệtnhọc, căng thẳng muốn nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí nhằm giải tỏa những áp

Trang 13

lực và tạo nguồn năng lượng mới thông qua việc tham gia các hoạt động cótrong lễ hội Trong các hoạt động lễ hội, đặc biệt là phần hội sẽ có các trò trơi,người dân sẽ được hòa mình vào trong không khí mới mẻ, hấp dẫn khác nhaucủa đời sống văn hóa mà họ chưa có Nhu cầu này là thường xuyên, liên tụcđối với mỗi con người, quá trình này được coi là tích hợp năng lượng để conngười có thể hoàn thiện mình trong những điều kiện mới.

1.2.2 Qúa trình hình thành lễ hội

Đối với những lễ hội thông thường ở Việt Nam có từ trước năm 1945đều được gọi là lễ hội truyền thống hay lễ hội dân gian Mặc dù có những têngọi khác nhau nhưng theo các nhà nghiên cứu văn hóa lễ hội thì có thể chia ralàm lịch sử lễ hội cổ truyền (trước 1945) của người Việt ở Bắc bộ làm bốnthời kỳ:

Lễ hội trong thời kỳ xây dựng nền văn hóa Đông Sơn: Vào thời kỳ

này, lễ hội của cư dân nông nghiệp được tổ chức vào mùa thu, đây là hìnhthức sinh hoạt văn hóa – xã hội tổng hợp, thể hiện một trình độ văn minh khácao, bản sắc văn hóa độc đáo của người Việt cổ, thể hiện tập trung nhất đó làtính nhân văn

Lễ hội trong thời kỳ Bắc thuộc: Thời kỳ này, lễ hội được mở vào cả

hai mùa xuân, thu Trong đó lễ hội mùa xuân được tổ chức nhiều hơn Ngoài

ra, hội chùa xuất hiện, phản ánh tín ngưỡng phồn thực của cư dân nôngnghiệp trồng lúa nước mà còn thể hiện ý nghĩa Phật giáo Mỗi một lần mở hội

là cư dân Việt sùng bái, tưởng niệm, diễn lại các sự tích về các anh hùng dântộc Các vị thần này đã trở thành vị thần thành hoàng của nhiều xóm làng cưdân Việt

Lễ hội được xây dựng trong thời kỳ xây dựng quốc gia Đại Việt độc lập tự chủ (từ thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX): Trong giai đoạn này, bên

cạnh hội chùa còn xuất hiện thêm hội đình Mặt khác trong một lễ hội, thường

có sự pha trộn của nhiều tín ngưỡng: tín ngưỡng nguyên thủy, tín ngưỡng

Trang 14

Phật giáo, tín ngưỡng Đạo giáo…Trong các sinh hoạt văn nghệ của các lễ hội,

đã có sự phân biệt rạch ròi giữa cung đình, bác học với dân gian…

Lễ hội trong thời kỳ đất nước dưới chế độ thực dân nửa phong kiến (từ giữa thế kỷ XIX đến năm 1945): Ở giai đoạn này, lễ hội vẫn được tổ

chức vào hai mùa xuân, thu Địa điểm diễn ra lễ hội là ở đình, đền, chùa Lễhội vẫn mang ý nghĩa là lễ hội nông nghiệp, bên cạnh những tư tưởng mê tín,

dị đoan, hủ tục thì đã xuất hiện tính dân chủ, bình đẳng trong lễ hội

Lễ hội từ năm 1945 đến nay: Ở giai đoạn này, lễ hội Việt Nam có

nhiều chuyển biến rõ nét, lễ hội được tổ chức phong phú và đa dạng hơn, quy

mô được tổ chức rộng rãi, lễ hội vẫn gắn liền với sản xuất nông nghiệp trồnglúa nước Đặc biệt, trong những năm gần đây, quá trình toàn cầu hóa diễn ramạnh mẽ, lễ hội có sự đan xen, kết hợp giữa yếu tố truyền thống và hiện đạinhằm đáp ứng nhu cầu của con người và sự tiến bộ của xã hội

Những lễ hội ra đời sau năm 1945 được gọi là lễ hội hiện đại Lễ hội đã

có sự kết kinh những nét đẹp của truyền thống văn hóa dân tộc, truyền thống

đó được thể hiện một phần trong những tinh hoa ở các hoạt động của lễ hội.Chính ở trong hoạt động văn hóa này, những yếu tố lạc hậu đã dần được loại

bỏ theo thời gian Những lễ hội có từ trước năm 1945 đến nay còn tồn tạitrong đời sống văn hóa ở các địa phương cùng những lễ hội ra đời sau năm

1945 đã và đang trở thành hoạt động văn hóa thường niên ở các cộng đồngdân cư Cả hai loại hình đó đã và đang trở thành truyền thống của dân tộc.Hiện nay trong kho tàng di sản văn hóa dân tộc, hệ thống lễ hội trở thành mộtthành tố văn hóa phi vật thể không thể thiếu trong đời sống văn hóa xã hộicủa đông đảo tầng lớp nhân dân

1.3 Các loại hình lễ hội

Những năm gần đây, các vấn đề liên quan đến lễ hội được quan tâm,nhìn nhận trên nhiều góc độ khác nhau nhằm cố gắng đưa ra cách phân loại lễhội khoa học nhất Trước hết để phân loại lễ hội, người ta căn cứ vào nội dung

Trang 15

phản ánh của lễ hội để phân chia ra các loại hình lễ hội: lễ hội nông nghiệp, lễhội anh hùng lịch sử, lễ hội tôn giáo tín ngưỡng…Căn cứ vào phạm vi đểphân ra lễ hội làng, lễ hội vùng và lễ hội của cả nước Căn cứ vào thời gian

mở lễ hội để chia ra lễ hội mùa xuân, lễ hội mùa thu, Cách phân chia nàocũng có mặt hợp lý nhưng cũng không thể tránh được những mặt hạn chếriêng có

Dựa vào các cách tiếp cận trên, có thể chia lễ hội thành các loại sau đây:

1.3.1 Phân loại lễ hội theo không gian lãnh thổ

Đây là cách phân loại theo quy mô, mức độ và phạm vi ảnh hưởng, chiphối, tác động của các lễ hội Không gian lễ hội là phạm vi không chỉ về mặthành chính mà còn nằm trong không gian chịu tác động và ảnh hưởng của sựkiện văn hóa đó Không gian lễ hội được quyết định bởi nội dung và hìnhthức biểu hiện, thể hiện những nội dung đó trong hoạt động thực tiễn Khônggian sinh tồn của dân cư đồng thời là không gian lịch sử và không gian vănhóa, lễ hội cộng đồng phản ánh lịch sử, lưu giữ và tưởng niệm lịch sử và làbiểu trưng văn hóa tộc người sống trong không gian đó Căn cứ vào khônggian, có thể chia lễ hội theo các hình thức sau đây :

Lễ hội mang tính quốc tế: Là những lễ hội thường được du nhập từ bên

ngoài vào trong đời sống chính trị, văn hóa, xã hội của người Việt Nam, được

cả người Việt Nám và thế giới tổ chức Những lễ hội này trước hết là những

lễ hội của các tôn giáo như những lễ hội của Kitô giáo , Phật giáo, Tin lành…

Lễ hội mang tính quốc gia: Những lễ hội mà nhân vật hoặc sự kiện

được thờ cúng có liên quan ảnh hưởng sâu sắc, rộng lớn tới cả dân tộc trongquốc gia và đất nước như lễ hội Chùa Hương, lễ hội Đền Hùng…

Lễ hội mang tính vùng miền: Đây là những lễ hội mà nhân vật hay sự

kiện lịch sử được thờ cúng nổi tiếng Khi tổ chức lễ hội có sự tham gia củanhân dân trên một địa bàn cư trú của nhiều địa phương ở gần nhau nằm trênmột vùng rộng lớn Điển hình như lễ hội Đền Gióng (Hà Nội), lễ hội Đền PhùỦng (Hưng Yên)…

Trang 16

Lễ hội làng: Làng là đơn vị hành chính thấp nhất được tổ chức tương

đối chặt chẽ nhằm duy trì các hoạt động sản xuất, sinh hoạt, chống thiên taiđịch họa, bảo vệ an ninh thôn xóm…Làng là một cộng đồng kinh tế chung, làđơn vị kinh tế tự cung tự cấp với nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thươngnghiệp tự chủ Làng là một cộng đồng văn hóa khá hoàn chỉnh với các yếu tốvăn hóa vật thể và phi vật thể thuộc về làng xã và phục vụ làng xã Lễ hộilàng là hình thức phổ biến rộng rãi, với số lượng nhiều, có nội dung phongphú Đặc biệt, hội làng truyền thống góp phần xây dựng nên văn hóa Việt Lễhội làng là lễ hội chủ đạo trong văn hóa của các tầng lớp dân cư Lễ hội làngtrở thành hạt nhân, nền tảng cho kho tàng lễ hội của dân tộc tồn tại, phát triểntrong suốt chiều dài lịch sử

1.3.2 Phân loại lễ hội theo thời gian, mùa vụ sản xuất

Cư dân người Việt là cư dân nông nghiệp, đa số dân cư sinh sống ở làng,

vì vậy những lễ hội làng chủ yếu phản ánh cuộc sống nông nghiệp Điều đóthể hiện qua thời gian mở hội thường gắn liền với mùa vụ sản xuất Các lễ hộigắn bó mật thiết, chặt chẽ với cuộc sống lao động sản xuất của người nôngdân Tiến trình phát triển của một cộng đồng dân cư nông nghiệp chính là quátrình gắn với khai hoang, canh tác đất đai Khi bắt đầu khai phá đất đai hayvào mùa vụ mới, nhân dân tổ chức lễ cầu xin để mong gặp được đất tốt, khaiphá an toàn Bước vào mùa gieo cấy thì làm lễ khai canh động thổ, tổ chức lễxuống đồng cho mùa màng bội thu Trong quá trình chăm sóc cây trái thì cầumong mưa thuận gió hòa Đến khi thu hoạch thì tổ chức cúng cơm mới, cúngphần hoa quả đầu tiên Sau đó tổ chức hội ăn mừng thành quả lao động mờithần lúa về kho Sau vụ thu hoạch, vào dịp nông nhàn thì mở hội vui chơi,giải trí, trao đổi kinh nghiệm làm ăn Mùa vụ của người Việt thường bắt đầu

và kết thúc vào dịp mùa Xuân – Thu, do vậy lễ hội cũng diễn ra vào mùaXuân và mùa Thu Mùa xuân là mùa của cây chồi nảy lộc, tạo nguồn nănglượng mới cho con người Mùa thu là mùa của trăng thanh gió mát, tạo cảmgiác an nhàn , thư thái Cả hai dịp ấy người ta mở hội để vui chơi, giải trí

Trang 17

Ngoài ra có một số lễ hội được mở vào thời gian bất kỳ trong năm.Những lễ hội như vậy thường gắn với ngày sinh của các nhân vật có công vớilịch sử dân tộc Đó là các anh hùng, danh nhân như các vị tổ nghề, Thànhhoàng làng.

Ngoài ra, còn các lễ hội được tổ chức nhân dịp kỷ niệm các sự kiệnlịch sử cũng được tổ chức vào thời gian bất kỳ trong năm do tính chất

lễ hội quy định

1.3.3 Phân loại lễ hội theo tín ngưỡng

Tín ngưỡng dân gian không có hệ thống giáo lý, tín điều quy chuẩn,cũng không có bậc giáo chủ chính thống, chưa có hệ thống cơ sở thờ tự thốngnhất mà phụ thuộc chủ yếu vào điều kiện kinh tế văn hóa xã hội của từng địaphương Lễ vật thờ cúng trong tín ngưỡng dân gian thường được cúng đồmặn, trong khi đó tôn giáo thường cúng đồ chay

Tín ngưỡng là một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống của một bộphận quần chúng nhân dân Tín ngưỡng là một trong những yếu tố để lễ hội

ra đời Lễ hội được phân loại theo các loại hình tín ngưỡng cơ bản sau:

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên: Lễ hội thờ cúng tổ sư, tổ nghề Trong hệ

thống các lễ hội về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên thì lễ hội đền Hùng được coi

là lớn nhất, được tổ chức vào ngày 10 tháng 3 âm lịch hàng năm

Tín ngưỡng thờ cúng thần Thành hoàng làng: Các lễ hội này được

phổ biến rộng khắp ở mọi nơi trên đất nước, ở nhiều thời điểm khác nhautrong năm và chiếm số lượng nhiều trong các loại hình lễ hội Đây không chỉ

là sinh hoạt văn hóa mà còn là tài sản văn hóa của các địa phương, góp phầnvào sự phát triển chung của văn hóa vùng miền

Tín ngưỡng thờ Mẫu: Lễ hội thờ Mẫu Liễu Hạnh diễn ra ở các phủ điện

thờ Mẫu như Phủ Tây hồ ở Hà Nội vào ngày mồng 3 tháng 3 âm lịch, PhủGiầy ở Nam Định diễn ra vào những ngày đầu tháng 3 âm lịch hàng năm

Trang 18

Tín ngưỡng phồn thực: Những lễ hội này gắn với các quan niệm về tín

ngưỡng và quan hệ hôn nhân Trong lễ hội, người dân thờ cúng những đồ vậttượng trưng cho tính giao nam nữ

Ngoài ra còn có lễ hội của tín ngưỡng thờ cúng động vật, tín ngưỡng thờnhiên thần,

Có thể nói trong các lễ hội, luôn luôn có sự đan xen giữa những hìnhthức lễ hội nêu trên, không có lễ hội nào diễn ra một cách độc lập, riêng lẻ

1.3.5 Phân loại lễ hội theo tính chất của lễ hội

Phân loại lễ hội theo tính chất có thể kể tới các loại lễ hội tiêu biểu như:

lễ hội nông nghiệp, lễ hội lịch sử - cách mạng,…

Lễ hội nông nghiệp: Đây thường là lễ hội làng, diễn ra ở các vùng dân

cư có lịch sử lâu đời, đây cũng là những lễ hội nông nghiệp rất cổ, gắn liềnvới thời kỳ mới bắt đầu xuất hiện những hoạt động sản xuất nông nghiệp.Thuộc loại hình lễ hội này, các trò diễn nghệ thuật tín ngưỡng nhắc lại nhữnghoạt động sản xuất như cày bừa, gieo hạt, cấy lúa

Lễ hội nông nghiệp có liên quan đến các hoạt động thờ cúng, tế lễ trong

đó có sử dụng các nghi lễ để cầu mùa, cầu mưa, tạ ơn Lễ hội nông nghiệp lànhững lễ hội mà nội dung và hình thức của nó chứa đựng những yếu tố trựctiếp đề cập đến diện mạo đời sống của cư dân nông nghiệp thông qua các hoạtđộng diễn ra trong đời sống xã hội như các hình thức và phương thức canh táctruyền thống, kinh nghiệm làm ăn, xử lý các hiện tượng biến đổi của thời tiết

có tác động ảnh hưởng tới cây trồng, vật nuôi

Lễ hội lịch sử: Lễ hội lịch sử diễn tả lại hoặc biểu dương một hành

động, một sự tích trong cuộc sống lao động và chiến đấu, về sau xoay quanhvấn đề tín ngưỡng thành hoàng về một nhân vật lịch sử có liên quan đến cộngđồng, người dân mở hội, sử dụng các hình thức diễn xướng để nhắc lại cuộcđời, sự tích của nhân vật ấy

Trang 19

Chương 2

LỄ HỘI ĐỀN PHÙ ỦNG HUYỆN ÂN THI - HƯNG YÊN

2.1 Khái quát chung về huyện Ân Thi - Hưng Yên

2.1.1 Đặc điểm lịch sử - địa lý tự nhiên

Tỉnh Hưng Yên thành lập muộn trên cơ sở phủ Khoái Châu (các huyệnĐông Yên, Kim Động, Phù Cừ, Ân Thi, Tiên Lữ) và một phần của phủ TiênHưng (Thần Khê, Diên Hà, Hưng Nhân) của xứ Nam – Sơn Nam Phố Hiến(Hiến Nam) là một cảng thị của xứ Nam.Tháng 3 (1993), có cuộc Hội thảokhoa học về Hưng Yên, Phố Hiến với sự tham gia của nhiều học giả trongngoài nước, vị thế lịch sử, văn hóa, kinh tế, đối ngoại của Hưng Yên, PhốHiến mới được làm sáng tỏ: Hưng Yên là vùng đất cổ nằm ở tả ngạn sôngHồng được hình thành vài ngàn năm trước Thời Hùng Vương dựng nước

đã có bộ lạc Trâu (bộ lạc Câu Lậu sinh sống ổn định lâu dài ở đây cùngvới các tộc khác chung sức xây dựng nhà nước Văn Lang – Âu Lạc).Trảiqua các thời đại, Hưng Yên – vùng đất trung tâm của châu thổ sông Hồng,cái nôi của người Việt cổ (tộc Kinh) có nhiều tên gọi khác nhau Về đờiHán, tỉnh Hưng Yên thuộc huyện Chu Diên quận Giao Chỉ Thế kỷ XIIIđời Trần có tên Khoái Lộ là căn cứ hậu phương quan trọng: kho lươngthảo, vũ khí, quân trang,

Năm 1741, cải là Sơn Nam thượng, lại đổi là Sơn Nam trấn (năm 1822).Mãi đến năm 1831, đời vua Minh Mệnh, mới gọi là Hưng Yên

Từ khi thành lập tỉnh (10/1831) đến khi quân Pháp hạ thành Hưng Yên(27/3/1883), địa giới Hưng Yên không có gì thay đổi Hưng Yên là một trongnhững tỉnh ở Bắc Kỳ có phong trào kháng chiến chống Pháp mạnh mẽ, tiêubiểu là cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy do Đinh Gia Quế (1825-1885) và NguyễnThiện Thuật (1844- 1926) lãnh đạo

Trang 20

Cách Mạng Tháng 8 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa rađời Từ tháng 8/1945 đến tháng 11/1996, địa giới Hưng Yên được điềuchuyển tới 26 lần Sau đây là một số lần quan trọng:

- Tháng 6/1947 chuyển huyện Văn Giang từ Bắc Ninh về Hưng Yên,chuyển huyện Văn Lâm từ Hưng Yên sang Bắc Ninh

- Tháng 10/1947 chuyển huyện Văn Lâm trả lại cho Hưng Yên HuyệnGia Lâm của Bắc Ninh được sát nhập vào Hưng Yên trong thời gian một năm(28/11/1948 – 7/11/ 1949)

- Ngày 26/1/1968, Uỷ ban thường vụ quốc hội ra nghị quyết số 544/ TVQH hợp nhất hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên thành tỉnh Hải Hưng.Trong thời gian hợp nhất 10 huyện và thị xã của Hưng Yên được hợp nhấtthành 4 huyện và 1 thị xã của tỉnh Hải Hưng

NQ Sau 29 năm hợp nhất, ngày 6/1/1996, Quốc hội khóa IX đã phê chuẩntách tỉnh Hải Hưng thành 2 tỉnh Hưng Yên và Hải Dương

- Ngày 1/1/1997, tỉnh Hưng Yên được tái lập Từ cuối năm 1996 đếntháng 4/1999, các huyện cũ của Hưng Yên được tách ra như khi sát nhậpvới Hải Dương Số liệu năm 2003: Hưng Yên có 1 thị xã và 9 huyện với S=923,1 km2

Là một tỉnh đồng bằng không biển, không rừng, không núi, Hưng Yênnằm ở vị trí trung tâm châu thổ sông Hồng, đất đai là đất phù sa màu mỡtrong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa Vì thế, Hưng Yên có những điềukiện tự nhiên thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, góp phần xây dựng nền vănminh lúa nước sông Hồng trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc

Như vậy Hưng Yên ngày nay được cấu thành từ ba vùng đất: trấn SơnNam thượng (vùng giữa và phía Nam) trấn Hải Dương (vùng đông bắc),trấn Kinh Bắc (vùng tây bắc); tiếp giáp với Thăng Long – Hà Nội; cóthương cảng Phố Hiến

Trang 21

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - văn hóa xã hội

Cư dân Hưng Yên chủ yếu là cư dân nông nghiệp lúa nước, với bốn bềsông nước bao quanh đặc biệt là sông Hồng và sông Luộc Vì thế hình thànhnên truyền thống từ ngàn xưa của người Hưng Yên là: truyền thống trị thủy vàtruyền thống đánh giặc Điều đó được thể hiện ở các lễ hội truyền thống ởHưng Yên

Trong số 362 lễ hội của Hưng Yên có trên 90% lễ hội thờ nhân thần vàgần 10% lễ hội thờ nhiên thần Chứng tỏ rằng lễ hội dân gian xưa rất gắn kếtvới môi trường xã hội Môi trường xã hội chính là sự sống được tín ngưỡnghóa, phong tục hóa thành những biểu tượng trong lễ hội để nhắc nhở ngườisau nên giữ gìn những gì tốt đẹp nhất Sở dĩ có lễ hội nhiên thần (chiếm sốlượng 33 gồm Phật, Mẫu, Tứ Pháp…) là vì: với môi trường tự nhiên là nhiệt

ẩm, gió mùa theo chu kỳ bình thường hay bất thường, mà con người lại cần

mưa thuận gió hòa cho hòa cốc phong đăng: “Lạy trời mưa xuống - Lấy nước

tôi uống - Lấy ruộng tôi cày - Lấy đầy bát cơm - Lấy rơm đun bếp”…

Hơn 90% lễ hội Hưng Yên là lễ hội tôn vinh nhân thần (329/362 lễ hội).Điều đó chứng tỏ Hưng Yên là nơi tụ nghĩa, hợp linh, tích thiện Nhân dânnhớ ơn và phụng thờ những vị đến khai phá vùng đất Hưng Yên, dạy dân cáchchung sống với nước, sinh cơ, lập nghiệp, chiến đấu chống giặc ngoại xâm,đem lại cuộc sống ấm no cho nhân dân Đó là lễ hội tôn vinh anh hùng dântộc, anh hùng văn hóa, những vị tổ nghề kể cả một số lễ hội mới hình thànhtrên đất Hưng Yên là những di sản văn hóa vô giá Tiêu biểu là lễ hội ChửĐồng Tử và Nhị vị phu nhân ở Đa Hòa - Dạ Trạch - Khoái Châu; lễ hội đềnPhù Ủng thờ tướng quân Phạm Ngũ Lão; lễ hội đền Tống Trân thờ danh nhânvăn hoá,…

Di tích lịch sử văn hoá Hưng Yên không có những công trình to lớn,hoành tráng như một số tỉnh lân cận như: Hà Tây, Hà Nội, Bắc Ninh songlại có mật độ khá dày Theo kết quả kiểm kê di tích năm 2005, toàn tỉnh có

Trang 22

1210 di tích trong đó 151 di tích được Nhà nước công nhận, đứng thứ tưtrên cả nước Điểm nổi bật nhất của di tích Hưng Yên là kết cấu bằng gỗ vàtrải dài theo dọc các triền sông với: đình, lăng, chùa làng, đền, văn miếu,văn chỉ, văn từ, quán, đình, tháp,…

Hưng Yên là một mảnh đất có truyền thống hiếu học, khoa bảng, tôn sưtrọng đạo, luôn vượt khó vươn lên trở thành những người có ích cho quêhương đất nước Các huyện Văn Giang, Ân Thi, Yên Mỹ, Văn Lâm là nhữnghuyện có số người đỗ đạt nhiều nhất

Nhiều người đỗ đạt trở thành những lương thần, danh tướng làmrạng danh đất nước quê hương như: Nguyễn Trung Ngạn (1289-1370)làm đến Kinh sư đại doãn; Lễ bộ thượng thư Đào Công Soạn (1376-1456), Thượng thư Lê Như Hổ (1511-1581); Hải Thượng Lãn Ông - LêHữu Trác (1720-1791); tiến sĩ Trần Công Xán (1731-1787); tiến sĩ ChuMạnh Trinh (1862-1905),…

Do vị trí địa lí cận kề Hà Nội, khi Tây học thịnh hành thì Hưng Yêncũng là nơi có phong trào tân học khởi sắc Nơi đây đào tạo được nhiều nhàkhoa học, nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ và tướng lĩnh cho đất nước Đó là nhànông học cử nhân Nguyễn Công Tiễu (1892-1976), người huyện Phù Cừ vớicông trình nghiên cứu về bèo hoa dâu gây tiếng vang trên Hội nghị khoa họcThái Bình Dương Dương Quảng Hàm (1898-1946), Tô Ngọc Vân (1908-1954); các nhà văn tiêu biểu cho dòng văn học Việt Nam hiện đại nhưNguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Lê Lựu, Chu Lai, Học Phi; ông tổnghề chèo Nguyễn Đình Nghị (1884-1954); các nhạc sĩ nổi danh: Cao ViệtBách, Phó Đức Phương,…; 44 tướng lĩnh tài ba trong Quân đội nhân dân ViệtNam: trung tướng Nguyễn Bình (1908-1951), đại tướng Nguyễn Quyết,thượng tướng Hoàng Minh Thảo,…

Những người con của mảnh đất Hưng Yên trên là sản phẩm văn hóa của vùngquê giàu truyền thống yêu quê hương, yêu đất nước, vừa là sự tự vươn lên chiếm

Trang 23

lĩnh đỉnh cao và sáng tạo nên văn hóa của họ Đồng thời, họ cũng làm cho truyềnthống văn hóa (truyền thống hiếu học) của quê hương đất nước thêm giàu có.

Hưng Yên là vùng đất văn hiến lâu đời Trong Đại Nam nhất thống chí

đã ghi: “Kẻ sĩ gắng học, nhà nông chăm cày, ưa tiết kiệm, tránh xa xỉ…” Các

sử gia triều Nguyễn đã ghi nhận và khẳng định về truyền thống lao động cần

cù, nếp sống tiết kiệm, truyền thống hiếu học là những giá trị văn hóa đặc thùcủa Hưng Yên

Văn học dân gian Hưng Yên đa dạng, phong phú gồm nhiều thể loại đặcsắc về nội dung và nghệ thuật Theo thạc sĩ Vũ Tiến Kì : “Qua các truyềnthuyết, cổ tích, truyện cười, truyện thơ, ca dao, tục ngữ sưu tầm được ở HưngYên, chúng ta còn thấy được vẻ đẹp đa dạng về đời sống tinh thần con ngườinơi đây thể hiện trong quan hệ giữa con người với con người, con người vớilao động sản xuất, con người trong tình yêu, hôn nhân, đấu tranh với thiênnhiên, trong đấu tranh xã hội, đánh giặc ngoại xâm để xây dựng và bảo vệmảnh đất quê hương”

Tục ngữ, ca dao Hưng Yên (theo sưu tầm) khoảng trên 200 câu chủ yếu

là những câu nêu địa danh, sản vật, làng nghề truyền thống của mỗi vùng quêtrong tỉnh và ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn thủy chung, giàu lòng yêu nước, nặngtình nặng nghĩa của người dân Hưng Yên

Truyện cười Hưng Yên không phong phú bằng các địa phương quêhương của Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, Ba Giai, Tú Xuất nhưng truyện cườiHưng Yên cũng thể hiện những cung bậc cười khác nhau

Nếu như cổ tích, truyện cười và một phần ca dao Hưng Yên được hòatan trong dòng chảy văn học dân gian người Việt bởi sự giao thoa văn hóa cácvùng miền thì truyền thuyết Hưng Yên chiếm một số lượng lớn (46 truyềnthuyết thời Hùng Vương) ghi rõ dấu ấn bản địa của vùng quê này bởi tính cốđịnh và dấu tích lịch sử khá đậm trong đó với chủ đề chính là chống giặcngoại xâm

Trang 24

Tóm lại, văn học dân gian Hưng Yên phong phú về nội dung và sinhđộng về thi pháp Đây là vốn quý cho văn học nước nhà cần được bảo lưu,sưu tầm, tập hợp và phát triển rộng rãi.

2.2 Lễ hội đền Phù Ủng

2.2.1 Vài nét chung về quê hương Phù Ủng

2.2.1.1 Địa lý, lịch sử, văn hóa vùng quê Phù Ủng.

Phù Ủng – quê hương của tướng quân Phạm Ngũ Lão, du khách có thể

đi theo 3 đường là: Từ Hà Nội đi phố Nối 14 km qua thị trấn Ân Thi rẽ trái đithêm 12 km Hướng thứ hai từ trung tâm thị xã Hưng Yên ngược đường 39

về Trương Xá (Kim Động) rẽ phải đi 4 km qua thị trấn Ân Thi đi thêm 12

km Hoặc theo quốc lộ 5A đến Quán Gỏi, đi tiếp 3 km Cả 3 tuyến đườngđều rộng thoáng, rất thuận tiện cho các phương tiện giao thông Phù Ủng làngã ba đường về Hưng Yên, Hải Dương và đường 5A, quê hương củathượng tướng quân Phạm Ngũ Lão, một anh hùng dân tộc văn võ song toànnổi tiếng thời Trần

Phù Ủng là vùng đất có lịch sử lâu đời Theo một tài liệu khảo cổ, người

ta đã khai quật được ở đây đỉnh đồng thời Đông Hán (Trung Quốc) cách ngàynay hơn 2000 năm Xưa hơn nữa, vùng đất này đã được xác lập với việc thờHoàng Công Dực làm thành hoàng Truyền thuyết trong vùng kể rằng: HoàngCông Dực là người làng Phù Ủng có công đánh giặc giúp vua Hùng thứ 18được phong thần ở quê hương Trong Đại Nam nhất thống chí, nguyên đờivua Tự Đức năm thứ 18 (1856) truyền cho quốc sử quán soạn thảo thì: “ PhùỦng thời Trần là một xã của huyện Đường Hào, lộ Hồng Sang thời Nguyễn,Phù Ủng thuộc tổng Chiêu Lai, phủ Bình Giang, trấn Sơn Nam”

Từ sau Cách mạng tháng 8 đến nay, để phù hợp với sự quản lí hànhchính địa phương, địa danh này đã 4 lần thay đổi: năm 1945, đổi thành xãThành Thái; năm 1947, đổi thành xã Hoàng Hữu Nam; năm 1954, đổi thành

xã Đô Lương huyện Ân Thi; năm 1968, sau khi hợp nhất hai tỉnh Hải Dương

Trang 25

và Hưng Yên thành Hải Hưng Năm 1979, sáp nhập huyện Ân Thi với huyệnKim Động thành huyện Kim Thi thì xã Đô Lương đổi thành xã Phù Ủng.

Vì thế, đền Phù Ủng được gọi theo tên làng nơi di tích tọa lạc.Theonghĩa Hán Việt, “Phù” là giúp; “Ủng” là ủng hộ, giúp đỡ “Phù Ủng” nghĩa là:giúp nước hộ dân Đền Phù Ủng thuộc làng Phù Ủng, xã Phù Ủng, huyện ÂnThi, tỉnh Hưng Yên

Ngày nay, Phù Ủng gồm 7 thôn; có vị trí địa lí như sau: phía Đông Namlàng Phù Ủng dựa mình vào bờ sông Cửu Yên (sông này phân nhánh từ sôngKinh Thày chảy qua hai tỉnh Hưng Yên và Hải Dương, hòa vào sông Luộc vàsông Thái Bình) Phía Đông giáp với xã Huỳnh Thúc Kháng, huyện BìnhGiang, tỉnh Hải Dương Phía Tây Giáp xã Bắc Sơn, huyện Ân Thi Phía Namgiáp xã Bãi Sậy, huyện Ân Thi Phía Bắc giáp xã Ngọc Lâm, huyện Mĩ Hào.Phù Ủng là một làng quê ở nông thôn Người dân sống bằng nông nghiệp

là chủ yếu Tương truyền trước đây làng có nghề phụ là đan sọt, vận thừng,đan chổi, trạm bạc,… là kinh tế phụ giữa kỳ nông nhàn Với đặc sản nổi tiếng:

“Gạo đồng Đỗ - Nước giếng Đình – Cá rô đầm Sét – Nước mắm Vạn Vân”;truyền thống hiếu học (trong làng có 4 văn bia tiến sĩ từ thời Lê đến thờiNguyễn; vùng quê của Nguyễn Trung Ngạn: 16 tuổi đỗ hoàng giáp, lập kholương thảo cứu giúp dân; Hoàng Công Chí: đậu tiến sĩ đời Lê Cảnh Trị (1663-1671) được phong làm Thượng thư bộ Công…)

Truyền thống đấu tranh, truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm ở PhùỦng được khơi dậy mạnh mẽ trong tất cả các triều đại và nhất là từ khi Đảnglãnh đạo nhân dân ta làm cách mạng Đồng thời Phù Ủng còn là một vùng quênghèo nhưng nặng nghĩa tình: “Yêu nhau từ thưở bện thừng – Trăm chắpngàn mối xin đừng quên nhau”

2.2.1.2 Di tích đền Phù Ủng

Tưởng nhớ người con tài ba, đức độ của quê hương, dân làng Phù Ủnglập đền thờ Phạm Ngũ Lão ngay trên nền nhà cũ của ông Hiện nay ngoài đền

Trang 26

thờ chính còn nhiều di tích có liên quan tới tướng quân Phạm Ngũ Lão Cụm

di tích được chia làm hai khu Khu ngoài gồm đền, lăng, nhà bia, huê văn, văn

từ và các gò đống; khu trong bao gồm đền chùa có liên quan đến Tĩnh Huệcông chúa – con gái Phạm Ngũ Lão

Đền thờ Phạm Ngũ Lão có tên gọi “Phù Ủng trạch từ” Tương truyềnngôi đền nằm ở vị trí: “Thất tinh ứng hậu, hình nhân bái tướng, voi quỳ, ngựaphục, bên bút bên nghiên, bên cờ bên kiếm Ở giữa có mô Hòn Ngọc, nằmcạnh dòng sông Cửu An uốn lượn như một con rồng uốn khúc, mà đầu rồng làkhu đất dựng đền” Trước đây, đền có kiến trúc kiểu chữ nhất gồm 7 gian.Trong kháng chiến chống Pháp, đền bị phá hủy Năm 1986 - 1989, đền đượcphục dựng lại bằng bê tông theo kiểu kiến trúc cổ, gồm 5 gian tiền tế và tòahậu cung Kiến trúc kiểu chồng diêm 2 tầng 8 mái Hậu cung đặt tượng PhạmNgũ Lão, đúc bằng đồng Tượng nặng 300kg, tạo tác trong tư thế ngồi trênngai, mặc áo cẩm bào, đầu đội mũ cánh chuồn, tay cầm ngọc quý, gương mặtcương nghị, đôn hậu Cùng thờ trong đền còn có tượng quận chúa AnhNguyên vợ Phạm Ngũ Lão (con gái đức Trần Hưng Đạo), cùng các hiện vậtquý hiếm, nổi bật là 3 bức đại tự: “Phù Ủng linh từ”, “Đông A điện súy”,

“Vạn tuế phúc thần”…Trong đền còn lưu giữ được một số hoành phi, câu đối,đại tự, sắc phong của các triều đại

Trước cổng đền, phía bên phải có đền thờ Nhũ mẫu (mẹ nuôi của PhạmNgũ Lão), đền được kiến trúc thời Nguyễn, gồm 3 gian tiền tế, 2 gian hậucung Sau đền là giếng Ngọc, nước trong xanh, chỉ dùng cho việc tế lễ lễ hội.Trong đền có tượng nhũ mẫu bằng gỗ và 4 pho tượng người hầu bằng đá thờiTrần Chếch sang bên phải đền có Khuê Văn (Khuê Văn Các) là nơi các quantrong triều đến tế lễ, bình thơ văn

Bên trái đền thờ Phạm Ngũ Lão có lăng đức Tiên công, thân sinh raPhạm Ngũ Lão Phía trước lăng có 6 cột trụ đá, tượng trưng cho cổng làng.Phần chính lăng xây hình chóp long đình, phần mộ hình lục lăng, có thềm đáxung quanh Cạnh lăng có ao tầm sét, tục truyền đó là mắt rồng

Trang 27

Văn từ nằm phía trước, cách lăng Tiên công khoảng 100m, có 4 tấmbia đá lớn ghi tên tuổi và sự nghiệp các bậc đỗ đại khoa trong làng từ thời

Lê đến thời Nguyễn

Cách đền Ủng không xa là chùa Bảo Sơn Năm 1948, chùa bị phá chỉcòn lại tam quan hai tầng tám mái Năm 1999, dân làng xây dựng lại theo kiểudáng kiến trúc xưa Trên tam quan có bức đại tự “Cảm Ân tự” hai bên treokhánh đá, chuông đồng

Khi công chúa Tĩnh Huệ mất, nhân dân lập đền thờ trên nền nhà cũ.Khoảng năm 1930, đền được trùng tu lại quy mô như ngày nay gồm tam quankiến trúc kiểu chồng diêm cổ các gồm 2 tầng 8 mái lợp ngói ta với 8 góc đaocong lên thanh thoát nhẹ nhàng Tòa trung từ đặt hương án, đồ thờ nổi bật bứcđại tự “Hiếu kính toàn đức” Hậu cung đặt ban thờ Phạm Ngũ Lão, phu nhânAnh Nguyên quận chúa và công chúa Tĩnh Huệ

Trong cụm di tích đền Phù Ủng còn có lăng Vũ Hồng Lượng, làm quandưới triều Hậu Lê Sinh thời ông có công tu sửa đền Phạm Ngũ Lão và đặt ra

sự lệ cho làng thờ cúng Ông được tôn làm thành hoàng làng Phù Ủng Lăngchạm khắc đá tinh xảo, nổi tiếng thời Hậu Lê với hình người, con giống vàhoa lá với chất liệu hoàn toàn bằng đá xanh…

Khu di tích là một quần thể kiến trúc đồ sộ có quy mô lớn, khá hoànchỉnh Là công trình kiến trúc cổ được khởi dựng vào thời Trần, trùng tu thờiHậu Lê và được tu bổ nhiều lần vào thời Nguyễn.Vì thế, cụm di tích lịch sửđền Phù Ủng đã được Nhà nước xếp hạng theo Quyết định số 1288 VH/QĐngày 16/11/1988 là di tích lịch sử lưu niệm danh tướng Phạm Ngũ Lão

Những đặc điểm địa lý, lịch sử, kinh tế, văn hóa trên đã góp phần tạo nênnhững sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo phong phú ở Phù Ủng Những truyềnthống lịch sử, những tục lệ được truyền lại đều để lại dấu ấn riêng của nótrong làng xã Lễ hội làng Phù Ủng cũng được hình thành từ những sắc tháivăn hóa đó

Trang 28

2.2.2 Hoạt động lễ hội đền Phù Ủng

2.2.2.1 Thời gian tổ chức lễ hội

Cũng giống như bao lễ hội ở đồng bằng Bắc Bộ xưa kia, lễ hội Đền PhùỦng diễn ra vào mùa xuân – khoảng thời gian rỗi rãi, nông nhàn của ngườinông dân Đó là thời điểm thuận lợi để nhân dân giao lưu, du xuân ngoạncảnh và tổ chức hội hè, vui chơi

Mùa xuân, hội xuân cũng là ngày hội của chiến đấu và chiến thắng.Vìthế, nhiều lễ hội thường diễn ra vào mùa xuân Tuy nhiên, ở các lễ hội tưởngniệm những người anh hùng có công với đất nước khác, nhân dân thường lấyngày các ngài “hóa về trời” làm ngày lễ chính (hội đền Hùng 10/3- gỗ tổHùng Vương, hội đền Đức Thánh Trần Hưng Đạo 20/8…), thì hội làng PhùỦng lại chọn ngày 11 tháng Giêng – tương truyền là ngày tướng quân PhạmNgũ Lão xuất quân đánh giặc cứu nước (chứ không lấy ngày 10/11 là ngàygiỗ ngài) Lễ hội Phù Ủng diễn ra từ ngày mồng 10 tháng Giêng đến ngày 25tháng Giêng Lễ hội đền Phù Ủng là sự tưởng niệm và đề cao công lao, sựnghiệp của Điện súy thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão – người anh hùng dântộc có công dẹp giặc cứu nước, đem lại cuộc sống thanh bình, no ấm cho dânlàng.Vì thế, lễ hội đền Phù Ủng là sự đan xen, tích hợp lễ hội của cư dân nôngnghiệp lúa nước và lễ hội tưởng niệm người anh hùng dân tộc

2.2.2.2 Không gian diễn ra lễ hội.

Ở mỗi làng quê, không gian tổ chức lễ hội thường diễn ra khác nhau.Nhưng nhìn chung, không gian đó thường trầm lặng và tôn nghiêm của ngôiđình mái cong, ngôi chùa rêu phong hay ngôi đền cổ kính dưới những tán cổthụ Đó là không gian thiêng, khơi dậy trong con người vẻ đẹp của Chân –Thiện – Mĩ, các con cháu về dự trong không gian đó cảm thấy mình đượchướng về cội nguồn, sống có lý tưởng cao đẹp và ý nghĩa hơn

Không gian tổ chức lễ hội Phù Ủng là đền Phù Ủng – không gian chínhcủa lễ hội – nơi thờ Điện súy thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão Thế nhưng,

Trang 29

tiến trình toàn bộ lễ hội Phù Ủng lại diễn ra ở cả quần thể di tích rộng khoảng

4 ha bao gồm: đền, chùa, phủ, lăng tẩm, ao chạ, ao tầm sét, giếng ngọc…Không gian này có thế “quần tinh ứng hậu” (các mô đất như các vì sao quâyquần, hài hòa với nhau) hay dân gian cho rằng toàn thể cụm di tích này nhưmột lá cờ đang tung bay trước gió, mà đường vào đền là đường Cán Cờ

2.2.2.3 Mô tả hoạt động lễ hội

Trong lễ hội truyền thống thường có hai phần: phần lễ và phần hội Lễ lànhững cách thức mang tính chất thiêng đối với một lễ kỉ niệm hoặc đánh dấumột sự kiện quan trọng của cộng đồng Hội là những trò chơi, giúp cho mọingười vui chơi trên tinh thần cộng cảm Lễ và hội là một thể thống nhất khôngthể chia tách Lễ là phần tín ngưỡng, là phần thế giới tâm linh sâu lắng nhấtcủa con người, là phần đạo; còn hội là phần tập hợp vui chơi giải trí, là đờisống văn hóa tinh thần thường nhật, phần đời của mỗi con người, của cộngđồng Hội gắn liền với lễ và chịu sự quy định nhất định của lễ, có lễ mới cóhội Giữa lễ và hội có mối quan hệ gắn bó với nhau một cách hài hòa, chặtchẽ trong một thể thống nhất Trong đó tín ngưỡng luôn tồn tại, tiềm ẩn trong

lễ hội như một bộ phận của văn hóa Lễ hội dân gian là nơi chứa đựng, nơigiải tỏa những ước muốn tâm linh của con người

Trong lễ hội Phù Ủng huyện Ân Thi – Hưng Yên, tưởng niệm Điện súythượng tướng quân Phạm Ngũ Lão là sự tích hợp của lễ hội với các lớp tínngưỡng dân gian dấu mình trong đó Từ việc nghiên cứu, thấy được công lao,

sự nghiệp và đức độ của ngài cùng sự bày tỏ tình cảm, lòng yêu mến ngưỡng

mộ của nhân dân đối với tướng quân Phạm Ngũ Lão

Phần tế lễ

Lễ trong lễ hội là một hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiệnlòng tôn kính của dân làng đối với các thần linh, lực lượng siêu nhiên nóichung, với người anh hùng có công dẹp giặc nói riêng Đồng thời, lễ cũngphản ánh những nguyện vọng ước mơ, chính đáng của con người trước cuộc

Trang 30

sống đầy rẫy khó khăn mà bản thân họ chưa có khả năng cải tạo Lễ trong hộiPhù Ủng không đơn lẻ, nó là một hệ thống liên kết, có trật tự, cùng hỗ trợ nhau,gồm 6 nghi lễ chính sau:

- Lễ mộc dục: (tắm tượng và lau rửa đồ tế khí) vào ngày 25 thángChạp âm lịch

- Tế gia quan cũng diễn ra vào ngày 25 tháng Chạp

- Lễ chúc thánh diễn ra vào đêm Giao thừa 30 Tết

- Tế mở cửa đền vào ngày lễ khai xuân mồng 1 Tết

- Lễ rước ngày 11 tháng Giêng, bao gồm:

+ Lễ dâng hương: đại lễ

+ Lễ rước kiệu công chúa Tĩnh Huệ (con gái đức Phạm Ngũ Lão)

- Tế tạ thánh (tạ hội) vào ngày 25 tháng Giêng

Lễ mộc dục

Tục tắm tượng ban đầu cũng có nguồn gốc từ tín ngưỡng cầu nước,tôn sùng nước của người Việt cổ; nhưng sau đó, do sự du nhập của đạoPhật vào nước ta, tín ngưỡng ấy đã trở thành lễ mộc dục trong các hội làngtruyền thống Như vậy, lễ mộc dục là sự kết hợp giữa tín ngưỡng bản địa vàtín ngưỡng ngoại lai

Vào sáng ngày 25 tháng Chạp (tức sau tết ông Công , ông Táo hai ngày),dân làng Phù Ủng tổ chức lễ mộc dục (lễ tắm tượng và lau rửa đồ tế khí) Côngviệc này thường giao cho ba người có tín nhiệm (do làng chọn là cụ từ giữ đền,một vị sư trong chùa và một người trong ban quản lí di tích tuổi từ 60 trởlên) Họ thắp hương, dâng lễ rồi tiến hành công việc một cách thận trọng.Thần được tắm hai lần nước: lần thứ nhất bằng nước thanh khiết ở giếngNgọc; lần thứ hai là nước ngũ vị hương từ lá bưởi, lá tre, lá hương nhu, láxả…được đun sôi bằng rơm nếp đã được phơi khô và tuốt sạch sẽ gác trêngác bếp từ vụ trước Các cụ lấy một tấm vải đỏ nhúng vào hai chậu nước

đó rồi lau chùi nhẹ nhàng, thận trọng

Trang 31

Sau khi tượng đã được tắm, chậu nước ngũ vị vẫn được giữ lại để mọingười dân dùng khăn mặt sạch nhúng vào hoặc xoa mặt lên tượng để “hưởng

ơn Thánh”, đem về cho trẻ nhỏ rửa mặt để khỏe mạnh, khỏi đau ốm…Theocác cụ cho biết: “Nghi lễ mộc dục nhằm đảm bảo cho tượng sạch sẽ, tăngthêm sự linh thiêng, điều này còn chứng tỏ sự quan tâm chăm lo của sư sãi vànhân dân đối với những người đã có công dựng nước và giữ nước”

Lễ gia quan (phong quần áo mới cho tượng)

Tế gia quan cũng diễn ra ngay sau lễ mộc dục ( chiều 25 tháng Chạp).Dân làng đặt làm quần áo mới (theo sắc phong), thờ ở nơi đức Phạm Ngũ Lãongự Họ thắp hương, cung kính làm lễ rồi cụ từ lau khô tượng khoác áo, mũcho tượng Thần, bài vị, khi hành sự cụ từ phải che miệng bằng một mảnh vảiđiều để giữ được sự thanh khiết nơi cung thánh chí tôn Xong xuôi đưa tượng

về lại vị trí cũ, làm lễ an vị tượng

Quần áo của ngài đã thay ra được cắt nhỏ đem chia cho trẻ con và ngườigià để lấy khước, cầu may, mạnh khỏe, tránh được ma quỷ bệnh tật Đó làniềm mong mỏi của người dân Phù Ủng để hưởng lộc của đức thánh

Lễ chúc thánh

Đêm giao thừa 30 Tết có lễ chúc thánh Cụ từ thắp một tuần hương cùng

ba vái lạy nhằm thể hiện ước mong của dân làng Phù Ủng nơi đây:

- Đệ nhất chúc thánh cung vạn tuế

- Đệ nhị chúc nhân khang vật thịnh

- Đệ tam chúc phong đăng hỏa cốc

Nhân dân xung quanh vào đền, chùa thắp hương, xin một cành lộc nhỏ

để cầu mong làm ăn buôn bán quanh năm phát đạt, mạnh khỏe, gia đình hạnhphúc Nhờ vậy cảnh quan của đền, chùa luôn được giữ gìn đảm bảo tính linhthiêng vốn có của quần thể di tích

Tế mở cửa đền

Sáng mồng một Tết có tế mở cửa đền gắn liền với lễ khai xuân Cụ từthắp hương Sau đó, các cụ ông từ 60 tuổi trở lên được giao nhiệm vụ mặc

Trang 32

quần áo, đội mũ xanh đi rước bằng sắc của tướng quân Phạm Ngũ Lão từtrong thôn ra đình Việc rước bằng sắc này được tổ chức trang nghiêm trướcban quản lí di tích và dân làng Phù Ủng.

Lễ rước ngày 11 tháng Giêng âm lịch

Chính hội Phù Ủng diễn ra từ ngày 11 đến ngày 25 tháng Chạp, đây làthời gian quan trọng nhất của lễ hội Phù Ủng với hai nghi lễ:

Đại lễ (hay còn gọi là lễ dâng hương)

Với ý thức hướng về nguồn cội, tưởng niệm người anh hùng dân tộcPhạm Ngũ Lão, gần đây, tại lễ này người đứng đầu buổi lễ là chủ tịch UBNDhuyện, đại diện Tỉnh ủy, ủy ban mặt trận tổ quốc, lãnh đạo các ban, ngành củahuyện, các địa phương Người đứng đầu buổi lễ trịnh trọng đọc một bài văndài ca ngợi công lao của Điện súy thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão với dânvới nước, sau đó dâng hương cầu mong sự an bình cho nhân dân Tiếp đến,các ban, ngành, đoàn thể, nhân dân và khách thập phương thắp hương tưởngniệm tướng quân Phạm Ngũ Lão Không khí lễ dâng hương này diễn ra đầytrang trọng trong không gian linh thiêng là đền Phạm Ngũ Lão vào ngày 11tháng Giêng – tương truyền ngày tướng quân Phạm Ngũ Lão xuất quân đánhgiặc cứu nước

Lễ rước kiệu công chúa Tĩnh Huệ (con gái tướng quân Phạm Ngũ Lão)

Không rõ Phạm Ngũ Lão có bao nhiêu người con, nhưng theo tươngtruyền biết chắc rằng: ông có một người con gái lấy vua, đó là công chúa TĩnhHuệ Có truyền thuyết trong vùng kể về mối tình của công chúa Tĩnh Huệ vớivua Trần Anh Tông

Sáng ngày 11 mở đầu lễ hội bằng ba hồi chín tiếng trống ở ngoài đền Dânlàng và khách thập phương nô nức đổ về xem hội Trong đám rước có cờ quạt,kiệu, bát bửu, lộ bộ Dẫn đầu đám rước, những chàng trai khỏe mạnh, gọn gàng,trang bị giáo gươm, chấp kích (mặc quần áo binh phục đời Trần, đội nón dấu) là

Trang 33

những thanh đồng đạo quan làm nhiệm vụ bảo vệ, dọn đường cùng các đội cờ lễgồm 10 thanh niên lễ phục chỉnh tề vác cờ Tiếp đó là đội múa lân, rồng được tậpluyện và chuẩn bị rất công phu kĩ càng trình diễn, sau đội múa lân là đội múa sinhtiền và đội trống do 3 người đảm nhiệm Đội “ngọc nữ” gồm 10 cô gái mặc áo tứthân nhiều màu, thắt lưng hoa lí, khăn nhiễu bóng láng, yếm đỏ, quần chùng, xếphàng đôi, đầu đội lễ vật gồm hương hoa, xôi chè, gạo nếp, gạo tẻ, trầu cau, gấmvóc, đĩa muối và mấy củ gừng…về dâng thân phụ (đức Phạm Ngũ Lão).

Kế sau là đội khiêng bài vị, đội khiêng kiệu hoa, các đội này đều có 4thanh niên đảm nhiệm, sau cùng là đội kiệu công chúa do 8 thanh nữ trẻ trungđảm nhiệm “Trai thanh tân chân quỳ vai kiệu – Gái yểu điệu phù giá nữquan”- đây là những thanh nữ được dân làng Phù Ủng lựa chọn kĩ càng:gương mặt xinh xắn, tầm vóc cao ráo, có sức khỏe tài đức, gia đình không cótang ma…, sau kiệu là con ngựa hồng Nhân dân đứng sau hai bên đường và

đi sau cùng.Điều đặc biệt ở lễ rước kiệu công chúa Tĩnh Huệ là dân làng vàkhách thập phương cùng rước, chen nhau chui qua gầm kiệu mong được bannhững điều tốt lành, may mắn trong năm Họ tin rằng làm như vậy mọi ướcmuốn sẽ thành hiện thực, trẻ nhỏ thì khỏe mạnh, người già không hay đauyếu, người buôn bán thì phát tài…Đám rước sẽ đi qua lăng Phạm tiên công,đền Mẫu, ao chạ, ao tầm sét… và dừng lại trước cửa đền chính thờ Phạm NgũLão, kiệu hạ lên hạ xuống ba lần với ý nghĩa vái lạy cha ba lạy Các lễ vậtđược dâng lên bàn thờ để cúng cha và tổ tiên Tế ba tuần hương, dâng ba tuầnrượu trước tiền đường Sau đó tượng công chúa Tĩnh Huệ cùng các đồ lễ mớiđược đưa vào hậu cung theo cửa nách Tượng đặt ở hậu cung và thờ vọng ở

đó cho đến ngày 25 tháng Giêng mới rước về chùa Trong những ngày diễn ra

lễ hội, những đội tế các vùng đến tế lễ và cung văn hát chầu suốt ngày đêm

Lễ rước ngày 11 tháng Giêng ở Phù Ủng có nét đặc sắc riêng khác vớicác đám rước khác Thứ nhất là lễ hội đã gắn kết các nhân vật trong truyềnthuyết với nhau (từ chùa Cảm Ân – phủ chúa về lăng Phạm tiên công để trình

Trang 34

ông, qua đền Mẫu kiệu hạ ba lần – vái lạy bà, sau đó rước về đền Phạm Ngũ Lão

để hầu cha trong mười năm ngày) Điều đó chứng tỏ sự gắn bó với quê hương,với tổ tiên và lòng hiếu kính với ông bà cha mẹ hết sức sâu nặng của quý phiTĩnh Huệ

Thứ hai, hầu hết các lễ hội khác đều bắt đầu đám rước nhân vật được thờphụng đó từ đền chính đi đến nơi có dấu tích xưa để diễn lại sự tích oai hùng(lễ hội Thánh Gióng, Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Quang Trung…).Nhưng ở Phù Ủng, lễ rước bắt đầu từ chùa Cảm Ân với tượng công chúa TĩnhHuệ và đích đến là đền thờ tướng quân Phạm Ngũ Lão Đây là sự sáng tạođộc đáo của dân gian lấy nhân vật phụ (công chúa Tĩnh Huệ - dù trong đámrước là nhân vật chính) để làm nổi bật nhân vật chính (Phạm Ngũ Lão) nhằmthể hiện sự gần gũi gắn bó giữa quý tộc với dân thường (đời Trần) đồng thời

đề cao phẩm chất, đức độ của tướng quân Phạm Ngũ Lão với người con gáiyêu và đạo lí sâu sắc của dân làng Phù Ủng uống nước nhớ nguồn, tưởng nhớ

tổ tiên, tưởng nhớ người anh hùng dân tộc Phạm Ngũ Lão có công lao vớinhân dân đất nước

Lễ tạ thánh

Lễ tạ thánh (tạ hội) của làng Phù Ủng diễn ra vào ngày 25 tháng Giêng.Đây là một nghi lễ linh thiêng do dân làng Phù Ủng và khách thập phươngtham dự Trong tế có tế nội tán và ngoại tán (trong đền và ngoài sân đền) Ban

tế có 8 cụ trong ban tư tế và các ông lềnh thực hiện, dâng rượu, nước, đồ thờcúng cùng nhạc bát âm và hát văn tại 3 gian trung từ và hậu cung

Những vai dự tế gồm một cụ tế chủ và 2 cụ bồi tế, 2 cụ đông xướng vàtây xướng, 1 cụ điểm văn (đọc văn tế), 1 cụ chuyển chúc và 8 cụ dẫn rượu Cụ

tế chủ mang trọng trách tế thần còn các bồi tế (dưới chủ tế giúp chủ tế cácviệc rót rượu, chuyển chúc và lễ theo chủ tế)

Cụ chủ tế là cụ từ giữ đền cùng các nhân vật khác được chọn đều làngười dân của làng Phù Ủng Những người này phải hiểu rõ nghi lễ, sống có

Trang 35

đức độ, gia đình không có tang ma… khi được làng cử làm nhiệm vụ tế lễ họphải tập luyện kĩ lưỡng trước khi diễn ra lễ hội Trong quan niệm dân gian,những người này phải như thế thì tiếng nói, mong ước của dân làng mới đếnđược thánh thần và thánh thần sẽ phù trợ cho họ.

Trước lễ tế thánh, cụ tế chủ đứng giữa với trang phục áo đỏ quần trắng,

mũ giày đỏ, 2 cụ bồi tế đứng hai bên mặc áo xanh, quần trắng, mũ giày xanh.Hai cụ bên đông tây xướng trang phục cũng như hai cụ bồi tế và khởi xướng(khởi trung cổ, nhạc xanh cử nhạc, chấp kỳ gia tư, các ky kỳ sự, nghệ ty tônquán tẩy sở, củ soát lễ vật, nghệ đại vương vị tiền, bồi tế viên tựu vị…) tức thì

3 hồi 9 tiếng trống và các dàn nhạc nổi lên Các cụ trong ban lễ chuẩn bị vào

tế Một cụ giúp việc bê thau nước, khăn mặt để cụ tế chủ rửa mặt, rửa taytrước khi vào tế Hai cụ bồi tế đi trước và đi sau dẫn tế chủ vào nơi tế Cụ tếchủ bước lên chiếu trước, hai cụ bồi tế đứng sau

Chờ cho mọi người yên vị, cụ bên đông xướng: “Tế chủ bình thân cúccung bái” lúc này cụ tế chủ quỳ, 2 cụ bồi tế dâng hương với ba lễ vái Cụđứng bên tây đoài xướng: “Hưng”- đứng dậy Đông xướng vái 4 lễ

Khi cụ tế chủ vào chiếu trong, cụ bồi tế xướng:

“Tế chủ bình thân, sơ hiến lễ quỵ

Tế chủ bình thân, trung hiến lễ quỵ

Tế chủ bình thân, á hiến lễ quỵ”

Hai cụ bồi tế cũng vào chiếu trong đứng yên thắp hương vái 3 lễ Sau đócác cụ “nghệ tửu tôn gia cử mịch” và “trước tửu – tả hữu tiến tước” mở mâm,rót rượu làm lễ Sau hai tuần rượu thì chuyển chúc

Tuần ba thì đọc chúc (văn tế), đọc xong thì các cụ vái và đi ra, kết thúc

lễ Trong lúc tế và rót rượu, luôn phải cử nhạc Các hành động thực hiện theotiếng trống lớn và tiếng chiêng Tế xong dân làng theo thứ tự vào tế thần,chiếng trống nổi lên gọi là trống lễ

Nhìn chung, trong lễ tạ thánh ở làng Phù Ủng toàn thể ban tế thực hiệnlần lượt tiến trình tế lễ theo các tuần: củ soái lễ vật, tuần hương, tuần rượu,tuần đọc văn, tuần hóa văn, tuần lễ tất và lễ đăng hương

Trang 36

Buổi chiều 25 tháng Giêng, có nghi thức rước cung phi hồi loan (trở vềđền của bà) Cuối hội, có tế của những người trên 50 tuổi gọi là hội Kỳ Anh,thể hiện sự trọng lão, kính già của dân làng Phù Ủng.

Trong nghi thức tế, đáng chú ý nhất là phần đọc chúc văn (văn tế) và lễcúng Sau khi vái xong, vị chuyển chúc đọc văn tế ca ngợi công lao, chiếncông, đức độ của tướng quân Phạm Ngũ Lão với dân với nước, được triềuđình gia phong Điện súy thượng tướng quân, tước Quan nội hầu và Thượngđẳng phúc thần Bài văn tế thể hiện lòng thành kính, biết ơn của nhân dân vớinhân vật này

Trong lễ hội Phù Ủng, lễ vật dâng cúng cũng tiến hành rất nhiều nghithức thiêng liêng Vật phẩm dâng cúng là đồ chay và đồ mặn – những sản vật

mà người dân ở đây làm ra Lễ vật trên mâm cúng, không chỉ phản ánh nhucầu của đối tượng được suy tôn, mà còn phản ánh tài năng của người lao độngtrong quá trình sáng tạo ra sản phẩm rồi chế biến sản phẩm ấy, để đời sốngkhông ngừng được nâng cao Đáng chú ý nhất trong lễ hội Phù Ủng này, vậtphẩm dâng cúng có trầu cau và đĩa muối củ gừng thể hiện lòng hiếu thảo củacon gái đối với cha (công chúa Tĩnh Huệ dâng lên tướng quân Phạm NgũLão) và nghĩa tình mặn nồng, thủy chung sâu nặng như trầu cau, cũng nhưtình cảm của dân làng Phù Ủng với tướng quân Phạm Ngũ Lão

Phần hội

Hội làng là một cấu trúc tương đối hoàn chỉnh Đó là sự kết hợp uyểnchuyển hài hòa giữa lễ và hội, giữa đóng và mở, giữa tĩnh và động để thảomãn nhu cầu tâm linh của con người

Hội là vui chơi với một hệ thống trò chơi, trò diễn phong phú và đadạng Nó không bị ràng buộc bởi lễ nghi, tôn giáo, đẳng cấp, tuổi tác Saunhững tháng ngày làm ăn vất vả, dân làng chờ đón ngày hội như chờ đón mộtniềm vui cộng đồng Họ đến với hội trong tinh thần cộng cảm, hồ hởi, sảngkhoái và hoàn toàn tự nguyện Hội là sự vận động hối hả, liên tục từ các tròchơi, trò diễn đến cả màu sắc, trạng thái, âm thanh…

Trang 37

Ở lễ hội Phù Ủng, phần hội có những trò chơi tiêu biểu sau:

- Trò thượng võ như: đấu vật cù, bóng chuyền, bóng đá…

- Trò chơi giải trí như: hát trống quân, hát chèo, hát quan họ…

- Trò chơi đấu trí như: cờ người

Đấu vật cù

Trong lễ hội Phù Ủng, có nhiều trò chơi được tổ chức ở khu vực ngoàiđền như múa rối nước, hát trống quân, thi đấu vật…Đặc biệt vui nhộn và tiêubiểu nhất là trò chơi vật cù Tương truyền, sinh thời Phạm Ngũ Lão rất thíchtrò chơi này và thường dùng cho quân sĩ rèn luyện sức khỏe và vui chơi Cùhình tròn, làm bằng gỗ sơn đỏ Sân chơi là bãi đất rộng, chia làm bên đông vàbên tây Giữa sân là một vạch ngang, chính giữa đào một lỗ đặt quả cầu Haiđầu sân mỗi bên đào một lỗ Mỗi đội có tám quân và một tổng, đầu chít khăn,đóng khố Bắt đầu cuộc chơi, ông giáo trò cầm quả cù đứng ra giữa sân hô lớn:

- “Bớ trai giáp Đông! Bớ trai giáp Đoài!

Hai phe (dạ) ran.

Ông giáo trò tiếp Thiên hạ thái bình Dân tình hoan hỷ Trai gái tráng dũng Chuẩn bị quốc phòng Cho xứng Lạc Hồng Nghìn năm rạng rỡ.

Ta đây: Phạm Ngũ Lão Nhân kỳ nguyên đán Muốn chọn cuộc vui Trước để thử tài Sau xem sức kháng địch Nếu nước lâm nguy

Ra quân mà chống chế

Bớ Đông giáp! Bớ Đoài giáp Hãy tỏ lực người trai đất Việt”.

Trang 38

Dứt lời, chiêng trống nổi lên, hai bên giằng nhau cướp quả cù ở giữa sânthả vào lỗ của đối phương Bên nào cho được cù nhiều lần vào lỗ của đốiphương thì thắng cuộc.

Cờ người

Trong lễ hội dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ, cờ người là một trongnhững cuộc thi đấu kén khán giả nhưng thu hút nhiều người xem và cổ vũ vì

nó là trò chơi trí tuệ Sân (đình), đền Phù Ủng là nơi diễn ra cuộc chơi

Trước khi bước vào trận đấu, đoàn cờ người, đứng đầu tiên là Tướng Bàdáng vẻ oai phong đạo mạo Sau đó là một quân tốt, tiếp theo là hai quân sỹ…Quân cờ là những nam thanh nữ tú được làng kén chọn, vừa phải đẹpngười vừa phải đẹp nết (tuổi từ 16-20, chưa xây dựng gia đình, gia đình giagiáo nề nếp…) Tướng được phục trang như sau: đội mũ tướng soái, mặc triềuphục bá quan văn võ, chân đi hài thêu, lọng che Sĩ đội mũ cánh chuồn có tuavàng Mỗi người trong đội cờ cầm một chiếc trượng phía trên có gắn biểutượng quân cờ được trạm trổ tinh xảo, sơn son thếp vàng lộng lẫy như: tướng,

sĩ, tượng, xe, pháo, mã, tốt Đội nam mặc áo đỏ, đội nữ mặc áo vàng với thắtlưng theo lối xưa

Trước khi vào vị trí của mỗi người trên sân cờ, cả đội múa theo tiếngtrống, đàn phách, áo dài, khăn xếp xuất hiện để được giới thiệu danh tính, mỗingười cầm một cây cờ đuôi nheo ngũ sắc nhỏ để chỉ huy trận đánh Quanhsân, hàng trong thì khán giả ngồi, hàng ngoài đứng, chăm chú thưởng thứcván cờ và bàn tán râm ran Khi cờ đến hồi gay cấn, cả sân xôn xao; một nướcxuất thần, cả sân đều ồ lên khoái trá Nếu quân cờ nào đó đi hơi chậm là cótiếng trống bỏi lanh canh vui tai nhắc nhở Bên lề sân có một cái trống tothỉnh thoảng được gióng lên một hồi điểm cho những nước đi Khi Tướng bịchiếu, tiếng trống dồn dập, đám đông lại càng đông hơn, đã náo nhiệt lại càngnáo nhiệt thêm

Ngày đăng: 22/04/2020, 00:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (xuất bản lần đầu năm 1938 ), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Tp.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào Duy Anh (xuất bản lần đầu năm 1938 ), "Việt Nam văn hóa sửcương
Nhà XB: Nxb Tp.Hồ Chí Minh
2. Toan Ánh (1991), Phong tục Việt Nam, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toan Ánh (1991), "Phong tục Việt Nam
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: Nxb khoa học xã hội
Năm: 1991
3. Nguyễn Đức Ái (chủ biên, 2010), Giáo trình Xây dựng Đảng đại cương, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đức Ái (chủ biên, 2010), Giáo trình" Xây dựng Đảng đạicương
Nhà XB: Nxb Chính trị - Hành chính
5. Nguyễn Chí Bền (chủ biên, 2010), Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Chí Bền (chủ biên, 2010), "Văn hóa Việt Nam trong bối cảnhhội nhập kinh tế quốc tế
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
6. Phan Kế Bính (1990), Việt Nam phong tục, tái bản, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Kế Bính (1990)", Việt Nam phong tục, tái bản
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb Thành phốHồ Chí Minh
Năm: 1990
7. Bộ Văn hóa – Thông tin (1993), Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa, Nxb Trường Đại học Văn hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Văn hóa – Thông tin (1993), "Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa
Tác giả: Bộ Văn hóa – Thông tin
Nhà XB: NxbTrường Đại học Văn hóa Hà Nội
Năm: 1993
8. Chuyên trang văn hóa dân tộc, Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch (http://dantocviet.vn/default.aspx) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên trang văn hóa dân tộc, Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch
9. Trang Cổng Thông tin Điện tử huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên (http://anthi.org/) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang Cổng Thông tin Điện tử huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên
10. Chuyên mục văn hóa, Báo Hưng Yên (http://baohungyen.vn/van- hoa/) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên mục văn hóa, Báo Hưng Yên ("http://baohungyen.vn/van-hoa/
11. Nguyễn Mạnh Cường (2008), Văn hóa tĩn ngưỡng của một số dân tộc trên đất Việt Nam, Nxb Văn hóa – Thông tin & Viện văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa tĩn ngưỡng của một số dântộc trên đất Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Mạnh Cường
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin & Viện văn hóa
Năm: 2008
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốclần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốclần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
14. Hà Tiến Hùng (1997), Lễ hội và danh nhân lịch sử Việt Nam, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội và danh nhân lịch sử Việt Nam
Tác giả: Hà Tiến Hùng
Nhà XB: NxbVăn hóa – Thông tin
Năm: 1997
15. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2011), Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh toàntập, tập 3
Tác giả: Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật
Năm: 2011
16. Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
17. Hội sử học phiên dịch 1956-1960 (1998), Việt sử thông giám cương mục – Quốc sử quán triều Nguyễn, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt sử thông giám cươngmục – Quốc sử quán triều Nguyễn
Tác giả: Hội sử học phiên dịch 1956-1960
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
18. Khoa Văn hóa và Phát triển, Học viện Báo chí và Tuyên truyền (2009), Giáo trình Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Khoa Văn hóa và Phát triển, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
19. Lê Văn Kỳ (1996), Mối quan hệ giữa truyền thuyết người Việt và các lễ hội về các anh hùng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa truyền thuyết người Việt và cáclễ hội về các anh hùng
Tác giả: Lê Văn Kỳ
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1996
20. Phan Kim Khuê (2000), Lễ tục Việt Nam xưa và nay, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ tục Việt Nam xưa và nay
Tác giả: Phan Kim Khuê
Nhà XB: Nxb Thanhniên
Năm: 2000
21. Phan Ngọc (1998), Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hóa Việt Nam
Tác giả: Phan Ngọc
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thôngtin
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w