1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người mường ở hòa bình hiện nay

83 121 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là một quốc gia đa tộc người, trong đó, 54 tộc người anh em là 54 sắc màu văn hóa tạo nên nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam, được phân bố ở các vùng, miền của Tổ quốc. Do đặc điểm về điều kiện địa lý, kinh tế xã hội và nhiều nhân tố ảnh hưởng khác nhau, đã hình thành nên các vùng văn hóa khác nhau, từ đó, văn hóa của các dân tộc cũng có những điểm khác biệt và mang tính đặc thù. Trong đó vùng Tây Bắc là một vùng rộng lớn, có địa chính trị, kinh tế văn hóa độc đáo, có vị trí rất quan trọng đối với sự phát triển của đất nước cả về an ninh quốc phòng, kinh tế, văn hóa, xã hội. Vùng Tây Bắc nước ta gồm 6 tỉnh: Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái bao gồm rất nhiều dân tộc thiểu số sinh sống. Mỗi dân tộc với những đặc điểm riêng, đều sớm hình thành những nét văn hóa riêng có, độc đáo của mình. Dân tộc Mường là dân tộc có số dân đông thứ hai trong 53 dân tộc thiểu số ở nước ta. Cũng như mọi dân tộc khác, người Mường ở Tây Bắc đã sớm hình thành một nền văn hóa mang màu sắc riêng và hết sức đặc sắc. Nền văn hóa ấy ảnh hưởng sâu xa đến từng cá nhân trong cộng đồng người Mường, góp phần làm phong phú thêm những giá trị cho nền văn hóa Việt Nam. Thờ cúng tổ tiên là một loại hình tín ngưỡng khá phổ biến của người Mường ở Hòa Bình. Với bề dày lịch sử hình thành và phát triển tín ngưỡng này luôn luôn nhắc con cháu rằng phải nhớ lấy nguồn khi uống nước, nhớ công người trồng cây khi ăn quả, phải biết kính trọng và phụng dưỡng ông bà, bố mẹ lúc sinh thời và thờ phụng khi mất. Tín ngưỡng này không chỉ thanh cao, tinh khiết khi coi đó là một cái nét văn hoá truyền thống của người Mường mà còn là sức mạnh niềm tin đối với toàn thể nhân dân trong đời sống văn hóa tinh thần. Song nó sẽ trở thành phiền toái khi mang mầu sắc mê tín dị đoan, ảnh hưởng của nó rất lớn đối với đời sống kinh tế của con người nói chung và người Mường nói riêng. Trong giai đoạn hiện nay, nước ta đang phát triển theo nền kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế, từng bước dân chủ hoá đời sống xã hội. Mặt khác còn có sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội, môi trường bị ô nhiễm, xuất hiện các mặt trái của khoa học công nghệ, trình độ dân trí thấp v.v… đó là những nguyên nhân xã hội, tâm lý và nhận thức dẫn đến việc tín ngưỡng, tôn giáo ngày một gia tăng. Hoạt động thờ cúng tổ tiên được diễn ra một cách rất phổ biến trong các gia đình người Mường. Điều đó đã góp phần gìn giữ giá trị tốt đẹp của Văn hoá truyền thống, nhưng mặt khác cũng có tác động tiêu cực là thúc đẩy kích thích mê tín dị đoan phát triển, cản trở sự nghiệp xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Nhận thức về ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề, để đóng góp phần công sức nhỏ bé vào mục tiêu của cả nước nói chung, và tỉnh Hòa Bình nói riêng, người viết lựa chọn đề tài Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Mường ở Hòa Bình hiện nay làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp.

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 7

1.1 Một số khái niệm cơ bản 7

1.2 Khái quát về văn hóa dân tộc Mường ở Hòa Bình 18

Chương 2: HOẠT ĐỘNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN CỦA DÂN TỘC MƯỜNG Ở HÒA BÌNH HIỆN NAY 33

2.1 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên truyền thống của người Mường ở Hòa Bình 33

2.2 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Mường hiện nay 48

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN DÂN TỘC MƯỜNG Ở HÒA BÌNH HIỆN NAY 60

3.1 Một số giải pháp chung 60

3.2 Một số giải pháp cụ thể 61

KẾT LUẬN 70

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

PHỤ LỤC 74

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một quốc gia đa tộc người, trong đó, 54 tộc người anh em

là 54 sắc màu văn hóa tạo nên nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam,được phân bố ở các vùng, miền của Tổ quốc Do đặc điểm về điều kiện địa lý,kinh tế - xã hội và nhiều nhân tố ảnh hưởng khác nhau, đã hình thành nên cácvùng văn hóa khác nhau, từ đó, văn hóa của các dân tộc cũng có những điểmkhác biệt và mang tính đặc thù Trong đó vùng Tây Bắc là một vùng rộng lớn,

có địa chính trị, kinh tế - văn hóa độc đáo, có vị trí rất quan trọng đối với sựphát triển của đất nước cả về an ninh - quốc phòng, kinh tế, văn hóa, xã hội.Vùng Tây Bắc nước ta gồm 6 tỉnh: Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên,Lào Cai, Yên Bái bao gồm rất nhiều dân tộc thiểu số sinh sống Mỗi dân tộcvới những đặc điểm riêng, đều sớm hình thành những nét văn hóa riêng có,độc đáo của mình Dân tộc Mường là dân tộc có số dân đông thứ hai trong 53dân tộc thiểu số ở nước ta Cũng như mọi dân tộc khác, người Mường ở TâyBắc đã sớm hình thành một nền văn hóa mang màu sắc riêng và hết sức đặcsắc Nền văn hóa ấy ảnh hưởng sâu xa đến từng cá nhân trong cộng đồngngười Mường, góp phần làm phong phú thêm những giá trị cho nền văn hóaViệt Nam

Thờ cúng tổ tiên là một loại hình tín ngưỡng khá phổ biến của ngườiMường ở Hòa Bình Với bề dày lịch sử hình thành và phát triển tín ngưỡngnày luôn luôn nhắc con cháu rằng phải nhớ lấy nguồn khi uống nước, nhớcông người trồng cây khi ăn quả, phải biết kính trọng và phụng dưỡng ông bà,

bố mẹ lúc sinh thời và thờ phụng khi mất Tín ngưỡng này không chỉ thanhcao, tinh khiết khi coi đó là một cái nét văn hoá truyền thống của ngườiMường mà còn là sức mạnh niềm tin đối với toàn thể nhân dân trong đời sốngvăn hóa tinh thần Song nó sẽ trở thành phiền toái khi mang mầu sắc mê tín dị

Trang 3

đoan, ảnh hưởng của nó rất lớn đối với đời sống kinh tế của con người nóichung và người Mường nói riêng.

Trong giai đoạn hiện nay, nước ta đang phát triển theo nền kinh tế thịtrường, mở cửa, hội nhập quốc tế, từng bước dân chủ hoá đời sống xã hội.Mặt khác còn có sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội, môi trường bị ô nhiễm,xuất hiện các mặt trái của khoa học công nghệ, trình độ dân trí thấp v.v… đó

là những nguyên nhân xã hội, tâm lý và nhận thức dẫn đến việc tín ngưỡng,tôn giáo ngày một gia tăng Hoạt động thờ cúng tổ tiên được diễn ra một cáchrất phổ biến trong các gia đình người Mường Điều đó đã góp phần gìn giữgiá trị tốt đẹp của Văn hoá truyền thống, nhưng mặt khác cũng có tác độngtiêu cực là thúc đẩy kích thích mê tín dị đoan phát triển, cản trở sự nghiệp xâydựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc do Đảng cộng sản ViệtNam lãnh đạo

Nhận thức về ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề, để đóng góp phầncông sức nhỏ bé vào mục tiêu của cả nước nói chung, và tỉnh Hòa Bình nóiriêng, người viết lựa chọn đề tài Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của ngườiMường ở Hòa Bình hiện nay làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp

Trang 4

- Việt Nam phong tục (Phan Kế Bính, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh1999) đã liệt kê ra các phong tục tập quán truyền thống của dân tộc ta, trong

đó có tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và tác giả khẳng định vị trí, vai trò của tínngưỡng thờ cúng trong đời sống văn hóa tinh thần

- Tín ngưỡng dân gian Việt Nam (Lê Như Hoa, Nxb Văn hoá thông tin2000) tác giả đã đưa ra các hình thái tín ngưỡng dân gian bản địa; tín ngưỡngthờ cúng tổ tiên; tín ngưỡng thành hoàng, tín ngưỡng vong hồn; các hình tháitín ngưỡng dân gian của một số dân tộc ít người ở Việt Nam

- Văn hoá tâm linh (Nguyễn Đăng Duy, Nxb Hà Nội, 1996) cuốn sáchnày đề cập đến nhận thức lý luận về văn hóa tâm linh, tâm linh thể hiện trongmọi mặt đời sống và tâm linh thể hiện trong tín ngưỡng tôn giáo ở người Việt(Kinh) miền Bắc trong quá trình lịch sử cho đến nay

- Về tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam hiện nay (Đặng Nghiên Vạn, NxbKHXH, Hà Nội, 1996) tác giả đã đưa ra khái niệm về tôn giáo và tín ngưỡng, vàchỉ ra những mối quan hệ tôn giáo và tín ngưỡng, so sánh sự khác và giốngnhau

Nói chung là các công trình nghiên cứu của các tác giả nói trên rất đadạng có thể tóm lại thành 3 loại cơ bản sau :

Loại thứ nhất: Xem thờ cúng tổ tiên như một tập tục văn hoá và truyềnthống đạo đức

Loại thứ hai: Xem tín ngưỡng vừa là tập tục văn hoá vừa là truyềnthống đạo đức

Loại thứ ba: Xem tín ngưỡng như là một loại hình tín ngưỡng, tôn giáo

Về tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên của người Mường ở Hòa Bình có một

số công trình nghiên cứu

Tác giả Trần Từ trong cuốn “Người Mường ở Hòa Bình” (Hội vănnghệ dân gian, Nxb Thời đại, năm 2008) đã đề cập đến các phong tục tập

Trang 5

quán và tín ngưỡng trong đó có tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của dân tộcMường ở Hòa Bình.

Tiếp đến là đề tài nghiên cứu khoa học về Nghi lễ tín ngưỡng củangười Mường (Tác giả Lan Anh, Sở Văn hóa tỉnh Hòa Bình) đã bàn về vai tròcủa thầy mo trong tín ngưỡng thờ cúng của người Mường ở Hòa Bình

Như vậy, về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của dân tộc Mường ở HòaBình hiện nay có rất ít các công trình nghiên cứu, đây cũng chính là lý do tácgiả chọn đề tài này để nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Bước đầu trình bày một cách tương đối có hệ thống về nguồn gốc, bảnchất và tín ngưỡng biểu hiện của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của ngườiMường ở Hòa Bình- cái nôi của dân tộc Mường nói chung (nếu xét về thờigian hình thành) Khẳng định giá trị của tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên củangười Mường ở Hòa Bình nói riêng và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của dântộc Mường nói chung

3.2 Nhiệm vụ

- Trình bày khái quát văn hóa của người Mường ở Hòa Bình Trong đóphân tích kỹ tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên trên các khía cạnh: nguồn gốc, đặcđiểm, ý nghĩa

- Khẳng định những nét riêng, đặc trưng của tín ngưỡng thờ cúng Tổtiên của người Mường ở Hòa Bình

- Chỉ ra một số vấn đề đặt ra với tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên của ngườiMường ở Hòa Bình hiện nay

Trang 6

- Từ đó đề ra những giải pháp nhằm định hướng đúng đắn hoạt độngnày trong đời sống của nhân dân nói chung- riêng dân tộc Mường ở Hòa Bìnhtrong giai đoạn hiện nay.

Trang 7

4 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Tìm hiểu về tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên của người Mường ở Hòa Bìnhhiện nay, chỉ ra những biến đổi trên cơ sở so sánh với tín ngưỡng thờ cúng Tổtiên của người Mường truyền thống

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, khóa luận đã sử dụng một số phương pháp cơ bản:

- Phương pháp điền dã văn hóa học: là phương pháp mà người nghiêncứu cần phải đi thực tế tìm hiểu về vấn đề cần nghiên cứu Với đề tài này,phạm vi nghiên cứu là tín ngưỡng của người Mường ở Hòa Bình nên sử dụngphương pháp điền dã là một ưu thế và là một việc làm cần thiết để đi đến mộtcái nhìn tổng quát về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên xưa và nay

- Phương pháp tổng hợp tài liệu: Có khá nhiều tài liệu về người Mườngnhưng để tìm kiếm tài liệu tài liệu liên quan đến đề tài thì cần có sự chọn lọc

và tổng hợp các nguồn tài liệu có liên quan

- Phương pháp điều tra: Qua phương pháp này sẽ làm cho đề tài cónhững số liệu cụ thể và rõ ràng hơn

- Phương pháp phân tích và so sánh: Phân tích những nguồn tài liệu cóliên quan và triển khai những vấn đề mới và cần được khám phá sẽ làm cho

đề tài này trở nên ý nghĩa hơn

6 Đóng góp của đề tài

* Khóa luận góp phần làm rõ tín ngưỡng của người Mường - đặc biệt làchỉ ra nét riêng, đặc sắc trong tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên của người Mường

ở Hòa Bình

Trang 8

* Chỉ ra thực trạng, xu hướng vận động, biến đổi của tín ngưỡng thờcúng tổ tiên của người Mường ở Hòa Bình trong giai đoạn hiện nay.

* Bước đầu đề xuất một số giải pháp nhằm từng bước phát huy mặt tíchcực và hạn chế mặt tiêu cức của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên cho phù hợp vớiyêu cầu sự nghiệp xây dựng nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc

7 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo vàphần phụ lục, đề tài được triển khai thành ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Hoạt động thờ cúng Tổ tiên của dân tộc Mường ở Hòa Bình hiện nay

Chương 3: Một số giải pháp bảo tồn và phát huy tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của dân tộc Mường ở Hòa Bình hiện nay

Trang 9

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Tín ngưỡng

1.1.1.1 Một số quan điểm trên thế giới

Tín ngưỡng là một hiện tượng lịch sử xã hội trên thế giới, trên thế giới

có hàng ngàn các loại tín ngưỡng khác nhau, rất phong phú, đa dạng Từ cáccách tiếp cận, mục đích nghiên cứu khác nhau dẫn đến các quan niệm khônggiống nhau Để đưa ra một nét đặc trưng nhất về tín ngưỡng thì cần điểm quamột số quan điểm khác nhau về tín ngưỡng trong giới nghiên cứu

Các nhà thần học như Tomalđa canh, Pnôntilích K.lê machơ, U.oat,Etơrôtcho v.v xem tín ngưỡng tôn giáo là tin vào cái thiêng liêng, cái huyền

bí, ở đó nó chứa ẩn sức mạnh siêu nhiên có thể cứu giúp con người khỏi khổđau và có được hạnh phúc Niềm tin vào thiêng liêng, cái siêu nhân ở đâychính là niềm tin vào thượng đế, tin vào cái “tối thượng” là tiêu chí quyếtđịnh của tín tín ngưỡng tôn giáo Một số nhà tôn giáo đương đại cho rằng :

“Tín ngưỡng không phải là một thứ thế giới quan tự biện, cũng không chỉ làtin vào niềm tin, nó là một thứ thái độ sinh tồn, một thứ tự lý giải”

Spenset, Durkheim, M.Wber từ góc độ xã hội học đã có cái nhìn mới

về tôn giáo Spenser, Duikheim coi xã hội như một hiện thực siêu hình, nuôidưỡng bằng một ý thức tập thể, ý thức đó lại được tạo bởi niềm tin, nhữngtình cảm của mỗi thành viên Niềm tin tín ngưỡng tôn giáo chính là xạ ảnhcủa đời sống xã hội Durkheim cho rằng : “tín ngưỡng” là trạng thái tư tưởng,nằm ở các biểu tượng và được thể hiện thông qua các lễ nghi thờ cúng Theoông tín ngưỡng “tô tem” của người nguyên thuỷ là biểu tượng thần linh (cáithiêng) vừa là biểu tượng của cộng đồng xã hội (cái thế tục) là phổ biến trong

xã hội nguyên thuỷ

Trang 10

Tylor, từ góc độ nhân loại học, xem tín ngưỡng tôn giáo là “lòng tinvào những vật linh”, các vật ấy là mama hay Wakan mang tính diêu nhân vàđều có linh hồn (animé) Ông cho rằng : “Mặt trời và các vì tinh tú, cây cối,sông ngòi, gió và mây trở nên những tạo vật sống động và cũng có cuộc sốngnhư người và sinh vật”.

Phoi-ơ-bắc: “ Xuất phát từ sự thực là sự tha hoá về mặt tôn giáo, từ sựphân hoá thế giới thành thế giới tôn giáo, thế giới tưởng tượng và thế giớihiện thực” đã hoà tan thế giới tôn giáo và cơ sở trần tục của nó không thấyrằng “tình cảm tôn giáo” cũng là sản phẩm xã hội Từ đó ông có chủ trươngthay tín ngưỡng cơ đốc bằng một tôn giáo khác đó là tình yêu thương giữangười với người trên trần gian

1.1.1.2 Các quan điểm tín ngưỡng ở Việt Nam

Việt Nam là một nước đa tín ngưỡng Trong quá trình dựng nước vàgiữ nước, các dân tộc đã kề vai, đoàn kết bên nhau đấu tranh giành độc lậpdân tộc, tích cực tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Cónhiều quan điểm khác nhau về tôn giáo, tín ngưỡng ở nước ta

GS Đặng Nghiêm Vạn trên tọa đàm bàn về tín ngưỡng và tôn giáo củatrường Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh- Đại học khoa học xã hội và nhân vănxem “tín ngưỡng là một yếu tố chính của tôn giáo, quy định sức mạnh của tôngiáo đó với đời sống của cộng đồng”

Nguyễn Chính cho rằng tín ngưỡng là tín ngưỡng tâm linh, vì tínngưỡng tâm linh là hạt nhân của tín ngưỡng, tôn giáo Đó là niềm tin sự trôngcậy và yêu mến một thế giới siêu nhiên mà con người với kinh nghiệm và trithức đã chưa lý giải được Tô Ngọc Tham cho rằng tín ngưỡng là niềm tin củacon người, những điều, nhứng sự vật, nhân vật nào đó Niềm tin này khônggiải thích được vì nó đối lập với tư duy khoa học

Trang 11

Ngoài ra còn Nguyễn Chí Bền nhìn dưới góc độ “tôn giáo học và vănhoá học xem tín ngưỡng, tôn giáo là một hiện tượng thuộc ý thức xã hội vàxem tín ngưỡng là một bộ phận cấu thành nên văn hoá được thể hiện qua nghi

lễ thờ cúng, là lòng ngưỡng mộ, thành kính với những thế lực có ảnh hưởngtrong quan hệ với con người” [2,15]

Từ những quan điểm trên ta kết luận lại:

Tín ngưỡng là hệ thống những niềm tin và cách thức biểu lộ đức tin của con người đối với những hiện tượng tự nhiên hay xã hội; nhân vật lịch sử hay huyền thoại có liên quan đến cuộc sống của họ nhằm cầu mong sự che chở, giúp đỡ từ những đối tượng siêu hình mà người ta thờ phụng.

1.1.1.3 Phân biệt tôn giáo và tín ngưỡng

Tôn giáo bao gồm hệ thống hoàn chỉnh các quan niệm, ý thức tínngưỡng, thể hiện tập trung ở lòng tin, tình cảm tôn giáo, hành vi và hoạt độngtôn giáo Tôn giáo là hình thức tín ngưỡng có giáo lý, giáo luật, lễ nghi vàgiáo hội, được tổ chức chặt chẽ

Tín ngưỡng, tôn giáo theo cách hiểu thong thường là phản ánh thực tạicủa xã hội Thực ra về nội dung phản ánh và hình thức thì tín ngưỡng và tôngiáo, tuy có sự tương đồng song cũng có sự khác biệt nhất định, được thể hiện

ở chỗ :

Thứ nhất, tín ngưỡng và tôn giáo đều là sự phản ánh hư ảo vào ý thức

xã hội và chịu sự quy định của chính tồn tại xã hội đã sinh ra chúng Đồngthời, là sự phản ánh chân thực, là cách lý giải của con người về các hiệntượng xung quanh cuộc sống của chính con người Tín ngưỡng, tôn giáo đều

có nguồn gốc xã hội, nhận thức, tâm lý trong quá trình hình thành và tồn tại,đều có chức nông nghiệp đền bù hư ảo và xoa dịu nỗi đau hiện thực và hướngtới sự giải thoát về tinh thần

Trang 12

Thứ hai, tín ngưỡng, tôn giáo đều là sự thể hiện niềm tin, sự ngưỡng

mộ của con người đối với một thực thể siêu việt nào đấy như thượng đế, thần,phật, tổ tiên Niềm tin trong tín ngưỡng, tôn giáo là một niềm tin đặc biệtcủa chủ thể nhận thức, chủ thể có thể là cá nhân, có thể là nhóm người, cộngđồng người… Niềm tin nó được hình thành trên cơ sở những nhận định thiếuhụt về khách thể và do giai đoạn lịch sử, nên nó hình thành nên các ý niệm,biểu tượng tôn giáo

Thứ ba, tín ngưỡng, tôn giáo đều có hệ thống nghi lễ, bao gồm nhữngbiểu tượng mang tính thần thánh, những điều răn dạy, kiêng kỵ, hệ thống nghi

lễ, hình thức, phương tiện để chuyển tải ý thức Niềm tin tôn giáo, nó giữ vaitrò quan trọng cho sự hoà nhập cộng đồng, nâng sức mạnh của con người lêntrên bản thân mình và giúp họ cảm nhận về thế giới của thần linh

Bên cạnh những điểm giống nhau thì tín ngưỡng, tôn giáo cũng cónhững điểm khác nhau cơ bản sau :

1- Về thời điểm ra đời, có thể thấy tín ngưỡng ra đời sớm hơn tôn giáo2- Về nguồn gốc sáng tạo ra tín ngưỡng là từ lịch sử dân tộc do kinhnghiệm do quần chúng nhân dân, tầng lớp bình dân thì tôn giáo ra đời donhững nhà trí thức từ một niềm tin đi giải thích các hiện tượng xã hội bằngkinh, sách

3- Tín ngưỡng được hình thành ngay từ trong cuộc sống rất phong phú

và đa dạng, chủ yếu là do xúc cảm và kinh nghiệm mang lại Nó phản ánhthiếu sự tính chất sàng lọc, khái quát, thiếu cơ sở lý luận chặt chẽ Thườngmang tính dân gian đời thường Còn tôn giáo được hình thành trên cơ sở lýluận chặt chẽ, có cơ sở thế giới quan là chủ nghĩa duy tâm Mặt khác tôn giáo

đi giải thích thế giới từ những thực tế tinh thần khách quan có trước, sáng tạo

và chi phối thế giới hiện thực và hàng loạt các kinh, sách ra đời để chứngminh cho sự đúng đắn của đức tin tôn giáo Nó được diễn ra như : linh hồn,thượng đế, thiên đàng, địa ngục, niết bàn…

Trang 13

Tín ngưỡng có kết cấu rất đơn giản, nó được hình thành và tồn tại dựavào cơ sở của các phép lạ, đấng siêu nhiên, vào thế giới vô hình như : thầnlinh, tổ tiên, thần sông, núi, âm ty, địa ngục, ma, quỉ… niềm tin ấy nó mangtính huyền bí hoặc mờ ảo, không rõ ràng, chưa đạt đến chính xác và khái quátcao, mang tính giản đơn và dựa vào cảm tính là chính Còn tôn giáo thì có cấutrúc khá phức tạp có mối quan hệ qua lại với thế giới quan, nhân sinh quan, ýthức, tâm lý, tình cảm, niềm tin, đức tin…

Ở Tôn giáo, thì đức tin được đề cao, song cũng đòi hỏi sự lý giải mangtính hệ thống, lôgic xây dựng và củng cố trên cơ sở của thế giới quan tôn giáocác chức sắc trong tổ chức tôn giáo thường tuyên truyền, củng cố và khẳng định,niềm tin tôn giáo thông qua các hoạt động tôn giáo được tiến hành định kỳ

Trong tín ngưỡng, tôn giáo thì nghi lễ và các giáo chủ, kinh sách đóngvai trò hết sức quan trọng vì thế mà tín ngưỡng, tôn giáo có tác động to lớnđối với đời sống xã hội

1.1.2 Hệ thống tín ngưỡng dân gian của Việt Nam

Nước ta là một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng Người dân Việt Nam

có truyền thống sinh hoạt, hoạt động tín ngưỡng từ lâu đời Các dân tộc trongcộng đồng các dân tộc Việt Nam đều có những tín ngưỡng riêng gắn liền vớiđời sống kinh tế và tâm linh của mình

Do nhiều đặc điểm về lịch sử phát triển, trên một dải đất không rộngnhư đất nước ta mà có 54 tộc người cộng cư, phong tục tập quán, trình độphát triển xã hội, trình độ dân trí và bản sắc văn hoá của các tộc người này lạirất khác nhau, những đặc điểm đó không chỉ tạo ra sự đa dạng văn hoá màcòn tạo ra sự đa dạng tín ngưỡng - cũng có thể nói sự đa dạng văn hoá tínngưỡng Chừng mực nào đó, văn hoá tín ngưỡng không chỉ làm nên nhữnggiá trị tinh thần, tình cảm, tâm thức và tâm linh của văn hoá mà còn góp phầntạo nên bản sắc và sức sống lâu bền của văn hoá các dân tộc Mỗi tín ngưỡng

Trang 14

đều có nhiều biến thể, trong quá trình biến đổi và giao thoa Căn cứ những nét

chung chủ yếu và giáo trình Cơ sở văn hóa Việt Nam của khoa Văn hóa và

phát triển, Học viện báo chí- tuyên truyền tập hợp thành sáu nhóm tínngưỡng:

a) Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên: Thờ cúng tổ tiên gia tộc, dòng họ làmột tín ngưỡng cơ bản và phổ biến của người Việt ở mọi vùng văn hoá.Không phải dân tộc nào cũng có tín ngưỡng thờ tổ tiên Mỗi dân tộc lại có sắcthái khác nhau trong tín ngưỡng này

b) Tín ngưỡng thờ cúng các hiện tượng tự nhiên: Liên quan đến mây, mưa,sấm, chớp… các hiện tượng này ảnh hưởng đến phát triển kinh tế nông nghiệp

c) Tín ngưỡng thờ Mẫu: Được nhân dân hình tượng hóa thành Mẫuquyền năng vô lượng mang tính tâm linh cao, có thể cứu hộ độ trì cho muônvạn chúng sinh với những nỗi niềm và ước vọng khác nhau

d) Tín ngưỡng vòng đời người: Tín ngưỡng và nghi lễ liên quan tới sựsinh nở, thờ cúng ông tơ bà nguyệt, thờ bản mệnh, lễ tang ma và thờ cúngngười chết

e) Tín ngưỡng nghề nghiệp: Tín ngưỡng nông nghiệp, tín ngưỡng thờ

cổ truyền đều có phần liên quan mật thiết với tín ngưỡng, biểu hiện mối quan

hệ sinh động và cụ thể giữa lễ hội và tín ngưỡng Lễ hội là một hiện tượngvăn hoá sinh động, tín ngưỡng có khả năng lan toả và tạo nên linh hồn của lễhội Đó là lễ hội tín ngưỡng nông nghiệp và một số lễ hội tín ngưỡng phồn

Trang 15

thực; lễ hội tín ngưỡng thờ Chủ Đồng Tử; lễ hội tín ngưỡng thờ Mẫu; lễ hộitín ngưỡng thờ Thành hoàng; lễ hội tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc Một số

lễ hội tín ngưỡng dân gian của một số dân tộc thiểu số còn lưu giữ những dấu

ấn của sự phát sinh và hình thành tín ngưỡng Chẳng hạn, với tín ngưỡng đathần thể hiện khát vọng của con người thuở ban sơ - chủ yếu là khát vọngchinh phục thiên nhiên và những lực lượng siêu nhiên, Yang và vạn vật hữulinh, các nghi lễ hiến sinh đã thể hiện những quan niệm về vũ trụ còn nhiềunét thần bí

1.1.3 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên

1.1.3.1 Khái niệm

Tổ tiên là khái niệm dùng để chỉ những người có cùng huyết thốngnhưng đã mất như cụ, kỵ, ông, bà…những người đã có công sinh thành vànuôi dưỡng có ảnh hưởng đến đời sống tinh thần và vật chất đến thế hệ đangsống

Thờ cúng Tổ tiên là một hoạt động có ý thức của con người, là tình cảmbiết ơn, tưởng nhớ, hướng về cội nguồn quá khứ của những người đang sống.thờ cúng tổ tiên thể hiện sự thành kính và lòng biết ơn đồng thời thể hiệnniềm tự hào và niềm tin, che trở của tổ tiên

Thờ cúng tổ tiên là một tín ngưỡng, được hình thành trực tiếp từ trongđời sống phong phú và đa dạng, có kết cấu đơn giản và mang tính dân gianđời thường Thờ cúng tổ tiên thiếu những tiêu chí cơ bản: người sáng lập, hệthống tổ chức, giáo lý, giáo luật

Như vậy ta có thể đưa ra một khái niệm: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên làmột bộ phận của ý thức xã hội, là một loại hình tín ngưỡng dân gian đượchình thành từ thời nguyên thủy với niềm tin thiêng liêng rằng tổ tiên đã chết

sẽ che trở, phù giúp cho con cháu thể hiện qua việc thờ phụng Nó là sự phảnánh hoang đường quyền hành của người đứng đầu thị tộc phụ hệ gia đình

Trang 16

được duy trì và phát triển trong xã hội có giai cấp, sau này là sự biết ơn, tưởngnhớ và tôn thờ những người có công sinh thành, tạo dựng bảo vệ cuộc sốngnhư cụ kỵ, ông bà, cha mẹ, tổ sư nghề, thành hoàng làng

1.1.3.2 Nguồn gốc

Nguồn gốc xã hội: Sự phân hóa giai cấp dẫn đến con người đề cao vaitrò người đứng đầu trong gia đình và thị tộc Mặt khác, xã hội ngày càng phânhóa phức tạp, những khó khan gặp phải ở đời thường dẫn con người tìm đếnvới tổ tiên để tâm sự Từ đó hình thành mối quan hệ tâm linh giữa người sống

và người chết trong ý thức niệm

Nguồn gốc nhận thức: xuất phát từ quan niệm tâm linh của con người

về thế giới Cũng như nhiều dân tộc khác, người Việt xuất phát từ nhận thức

“vạn vật hữu linh” - mọi vật đều có linh hồn, và bắt đầu từ giới tự nhiên xungquanh mình Vì thế, loại thần cổ sơ nhất được người ta sùng là các nhiên thần,đặc biệt là thần cây, thần núi, thần sông Bằng cách huyền thoại hóa, các vịnhiên thần đã được mang khuôn mặt của con người (hiền hậu hay dữ tợn),tâm lý của con người (vui mừng hay giận giữ) Có thể nói việc nhân hóa cácthần tự nhiên đã tạo ra một bước chuyển cho việc hình thành hệ thống nhânhóa Đến một thời điểm nào đó, mối quan hệ giữa cái hữu hình và cái vô hình,nhất là cái sống và cái chết đã làm con người bận tâm Vẫn với quan niệm vậtlinh kể trên, họ tin rằng trong mỗi con người đều có phần “hồn” và “vía”

Nguồn gốc tâm lý: Xuất phát từ ước muốn bản năng của con người,ước muốn được sống mãi Mặt khác niềm tin vào thế giới siêu nhiên có tổ tiênche trở và phù hộ cho những người còn sống trong gia đình được may mắn vàmạnh khỏe Tổ tiên khi còn sống thì “khôn”, đến lúc chết thì “thiêng”, vẫnngự trên bàn thờ, vừa gần gũi vừa xa lạ, linh thiêng Con cháu thành kính, tônthờ tổ tiên là tỏ lòng biết ơn tổ tiên Ý thức về tổ tiên là ý thức về cội nguồn.Thờ cúng tổ tiên là sự phản ánh liên tục của thời gian, là cầu nối giữa quá

Trang 17

khứ, hiện tại và tương lai Sự sống là bất diệt, chết không phải là hết Các thế

hệ tiếp nối nhau, chết chỉ là sự bắt đấu của chu kỳ sinh mới

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên còn được bắt nguồn từ lòng hiếu thảo củacon cháu Quan hệ giữa bố mẹ đang sống với con cái là hiện thân của mốiquan hệ giữa tổ tiên với con cháu sau này Sự kính hiếu cha mẹ được tiếp nốibằng sự tôn thờ, sùng bái tổ tiên Bổn phận kính trọng, báo hiếu, đền ơn côngsinh thành dưỡng… dục của bố mẹ cũng là bổn phận báo hiếu, ơn đền tổ tiên.Thờ phụng tổ tiên thể hiện lòng hiếu thảo, sự thành kính biết ơn các bậc đãsinh thành, nuôi nấng và tác thành cho mình Tuy nhiên, con cháu chỉ được tổtiên bao dung, che chở khi sống xứng đáng với ước nguyện của tổ tiên Mặtkhác, con cháu chỉ tôn kính, qui thuận và thờ phụng tổ tiên khi tổ tiên xứngđáng là tấm gương sáng cho con cháu noi theo Nếu ai, trong quá khứ có hànhđộng đi ngược lại lợi ích của cộng đồng họ tộc và gia đình, chẳng nhữngkhông được kính trọng, tôn thờ mà còn bị nguyền rủa, trừng phạt

Đặc trưng của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là ở chỗ, nó là một hình thái

ý thức xã hội đặc biệt, một hiện tượng lịch sử - xã hội và văn hoá thuộc lĩnh

Trang 18

vực đời sống tinh thần, là sự phản ảnh tồn tại xã hội, chịu sự qui định của tồntại xã hội, có tính độc lập tương đối, được hình thành rất sớm và còn tồn tạilâu dài trong xã hội Nguồn gốc và bản chất của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiêngắn quyện vào nhau, tạo thành nét đặc thù của loại hình tín ngưỡng này.

Xét về mặt xã hội tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là sản phẩm tất yếu củaquá trình phân hóa xã hội, từ xã hội chưa có giai cấp đến xã hội có giai cấp

Sự phân biệt tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên với các loại tín ngưỡng, tôngiáo khác, không chỉ căn cứ vào yếu tố hình thức, lễ nghi mà còn căn cứ vàonội dung tư tưởng, vào đối tượng thờ cúng, nguồn gốc, bản chất tức những nétđặc trưng của nó

1.1.3.4 Cơ sở hình thành

Ở Việt Nam, mặc dù tất cả các tộc người đều có quan niệm tổ tiên vàmột số tộc người có những hình thức tôn thờ ở những mức độ khác nhau, theonhiều nhà nghiên cứu, các hình thức này, hoặc tục cúng người chết trong tang

lễ, cung cấp vật dụng khi chôn người chết, thờ một vài năm, hay lễ bỏ mả không đồng nhất với hình thức thờ cúng tổ tiên truyền thống của người Việt(thờ cúng nối tiếp, lâu dài) Vì vậy, những nét tương đồng của hình thức tínngưỡng này chỉ nhận thấy rõ nhất ở một vài nước Đông Nam Á, đặc biệt làTrung Quốc

Xã hội cổ truyền của người Việt cũng có những cơ sở kinh tế nhất địnhcho việc hình thành và duy trì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Trước hết đó là nềnkinh tế tiểu nông tự cung tự cấp Đây chính là môi trường thuận lợi cho sự xuấthiện tín ngưỡng đa thần Xét về phương diện kinh tế, làng xã Việt Nam đã gầnnhư một đơn vị độc lập và tương tự như thế, là tế bào của nó - hộ gia đình nhỏ.Đây là nhân tố quan trọng gắn bó các thành viên của gia đình cùng một thế hệ

và giữa các thế hệ Mở rộng ra, các gia đình cư trú quần tụ theo họ, và nhiều họ

Trang 19

tập hợp thành làng Trước làng, con người không tồn tại với tư cách cá nhân

mà dưới danh nghĩa gia đình dòng họ - những đơn vị huyết thống Có thể nóinền kinh tế tiểu nông ấy là mảnh đất thuận lợi cho việc củng cố và phát triển ýthức dân tộc cũng như tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở làng xã

Trong khía cạnh kinh tế có một điểm quan trọng tạo nên nét khác biệttrong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam và Trung Hoa Do đặc trưng khíhậu nhiệt đới nóng ẩm, gió mùa nên Việt Nam sản xuất lúa nước theo truyềnthống tiểu canh kết hợp với nuôi gia súc Vì vậy sản xuất không đòi hỏi tậptrung nhân công theo quy mô lớn như ở nơi sản xuất lúa mỳ khô, công cụ sảnxuất cũng nhỏ, gọn, nhẹ, mọi thành viên trong gia đình từ phụ nữ, trẻ em đều

sử dụng dễ dàng Kết hợp tất yếu của quy trình này khiến người Việt gắn bóvới gia đình, thường là gia đình hạt nhân chặt hơn với dòng họ Hầu như giađình nào cũng có bàn thờ tổ tiên (dù thờ chính hay thờ vọng) nhưng khôngphải dòng họ nào cũng có từ đường

Hình thức tổ chức xã hội cũng là một yếu tố quan trọng cho việc hìnhthành tín ngưỡng Ở giai đoạn thị tộc phụ quyền, người đàn ông bắt đầu nắmgiữ quyền hành quản lý gia đình do họ đã có vai trò quan trọng trong hoạtđộng kinh tế, vợ và con cái họ tuyệt đối phục tùng và tôn trọng cái uy quyền

đã được xác lập ấy, không chỉ khi họ còn sống mà cả khi họ đã qua đời.Những đứa con mang họ cha đã kế tiếp ý thức về uy quyền, và phải chăng cácnghi thức ma chay, cúng tế tổ tiên cũng chính là “hình thức phản ánh hoangđường quyền hành gia trưởng trong một gia đình”

Như vậy, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ra đời và duy trì trong những điềukiện lịch sử - xã hội nhất định Từ hình thức liên minh cộng đồng nguyên thủyđến hình thức liên kết gia đình sơ khai theo trục huyết thống nam đã là mộtchặng đường lịch sử khá dài Theo con đường “ chung tộc danh về phía bố”,các gia đình nhỏ liên kết lại với nhau thành họ

Trang 20

1.2 Khái quát về văn hóa dân tộc Mường ở Hòa Bình

1.2.1 Văn hóa, bản sắc văn hóa, văn hóa tộc người

- Văn hóa

Văn hóa là một hiện tượng phức tạp, bao gồm rất nhiều nội dung thuộccác lĩnh vực khác nhau; vật thể và phi vật thể, sản xuất và sinh hoạt, kỹ thuật

và nghệ thuật, xã hội và tâm linh

Văn hoá cũng là một hiện tượng đặc trưng của con người và xã hội loàingười , là cách ứng sử của con người với tự nhiên Chính vì vậy, để cắt mộtđịnh nghĩa Văn hoá đơn thuần là không thể,là do sự tồn tại,phát triển và vậnđộng của nó

Hiện nay có hàng trăm các định nghĩa khác nhau về Văn hoá bởi tuỳtheo hướng tiếp cận khác nhau của mỗi ngành khoa học, thậm chí mỗi nhàkhoa học có thể đưa ra định nghĩa về Văn hoá riêng cho mình

Như vậy, sự tồn tại hàng trăm các định nghĩa là lẽ đương nhiên Một sốkhái niệm tiêu biểu như:

Theo nghĩa hẹp hơn thì văn hóa là toàn bộ các hình thức cảu đời sốngtinh thần xã hội; những hình thức đó phát sinh và phát triển trên cơ sở của cácphương thức sản xuất của cải vật chất Đó là sự phát triển của học vấn, khoahọc, văn học nghệ thuật, triết học, đạo đức

Theo chủ tịch Hồ Chí Minh: Tháng 8 năm 1943, khi còn trong nhà tùcủa Tưởng Giới Thạch, lần đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra khái niệm

về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống loài người mớisáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôngiáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn,

ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó túc

là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng vớibiểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng nhu cầu của đờisống và đòi hỏi sự sinh tồn”.[8,13]

Trang 21

Theo tổ chức UNESCO: Trong tuyên bố những chính sách văn hóa tạihội nghị quốc tế do UNESCO chủ trì tháng 8-1982 tại Mêhicô có đưa ra kháiniệm về văn hóa như sau: “Trên ý nghĩa rộng nhất văn hóa có thể coi là phứcthể, tổng thể các đặc trưng diện mạo, những nét riêng biệt về tinh thần, vậtchất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội Văn hóa baogồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của conngười, những hệ thống giá trị, những tập tục truyền thống, tín ngưỡng Vănhóa mang lại cho con người khả năng suy xét bản thân, giúp cho con người tựhoàn thiện, khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng, gia đình, xóm làng,vùng miền, quốc gia, xã hội Văn hóa bao gồm cách ứng xử và sự giao tiếpcủa cá nhân hay cộng đồng làm cho dân tộc này khác dân tộc khác”[24, 22]

Tóm lại văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần mà loài người đãsáng tạo ra trong quá trình lịch sử của mình Văn hóa là một hiện tượng xã hộitiêu biểu cho trình độ mà xã hội đạt được trong những giai đoạn lịch sử nhấtđịnh: những tiến bộ kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất và lao động, học vấn, giáodục, khoa học, văn học, nghệ thuật và những tổ chức thích ứng với những cái đó

đi mà cùng với thời gian, nó còn tiếp nhận những cái hay, cái đẹp, cái phù

Trang 22

hợp của văn hóa các dân tộc khác làm phong phú, đặc sắc hơn cho văn hóadân tộc mình, làm cho nó là nó chứ không phải là cái khác Khi nói đến mộttrong những nét đặc trưng văn hóa ấy, người ta có thể dễ dàng nhận ra đó làdân tộc nào mà không cần phải gọi tên.

Bản sắc văn hóa là một sức mạnh, là sức mạnh nội tại của dân tộc Nó

là hạt nhân năng động nhất trong toàn bộ tinh thần sáng tạo truyền từ đời nàyqua đời khác Bản sắc văn hóa làm cho một dân tộc luôn là chính mình

Khi nói tới bản sắc văn hóa thì không thể không nhắc tơi bản sắc vănhóa dân tộc: “Bản sắc văn hóa dân tộc là tổng hòa những khuynh hướng cơ bảntrong sáng tạo văn hóa của một dân tộc, vốn được hình thành trong mối liên hệthường xuyên với điều kiện kinh tế, môi trường tự nhiên, các thế hệ, các hệ tưtưởng trong quá trình vận đọng không ngừng của dân tộc đó”[12, 17]

Theo nghị quyết hội nghị Ban chấp hành TW 5 khóa VIII của Đảngcũng chỉ rõ:

Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa củacộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngànnăm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí

tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân- giađình- làng xã- tổ quốc Bản sắc văn hóa dân tộc còn đậm nét trong cả hìnhthức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo

Như vậy có thể hiểu bản sắc văn hóa dân tộc là các giá trị tiêu biểu, bềnvững, phản ánh sức sống của từng dân tộc, nó thể hiện tập trung ở truyềnthống văn hóa

Truyền thống văn hóa là các giá trị do lịch sử để lại được thế hệ sautiếp nối, khai thác và phát huy trong thời đại của họ để tạo nên dòng chảy liêntục của lịch sử văn hóa các dân tộc Khi đã được hình thành, truyền thốngmang tính bền vững và có chức năng định hướng, đánh giá, điều chỉnh hành

vi của cá nhân và cộng đồng

Trang 23

-Văn hóa tộc người

Trước tiên, ta cần hiểu tộc người là hình thức đặc biệt của một tập đoàn

xã hội xuất hiện không phải do ý nguyện của con người mà là trong kết quảcủa quá trình tự nhiên - lịch sử Điểm đặc trưng của các tộc người là ở chỗ nõ

có tính bền vững và giống như là những quy tắc các tộc người tồn tại hàngnghìn, hàng nghìn năm Mỗi tộc người có sự thống nhất bên trong xác định,

cả những nét đặc trưng để phân định nó với các tộc người khác Ý thức tựgiác của những con người hợp thành tộc người riêng biệt đóng vai trò quantrọng cả trong sự thống nhất hỗ tương, cả trong sự dị biệt với các cộng đồngtương tự khác trong hình thái phản đế của sự phân định “chúng ta” và “nó”

Văn hóa tộc người là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần, cũngnhư những quan hệ xã hội được sáng tạo trong điều kiện môi trường sinh tụcủa một tộc người, phản ánh những nhận thức, tâm lý, tình cảm, tập quánriêng biệt được hình thành trong lịch sử của tộc người đó Ở các quốc gia đadân tộc, văn hóa của các tộc người đan xen, có sự giao thoa và hấp thụ lẫnnhau tạo nên nét chung của văn hóa quốc gia, của cả cộng đồng dân tộc vàmỗi nền văn hóa đều có những giá trị riêng của

1.2.2 Vài nét về tỉnh Hòa Bình

Chính từ cội nguồn là một vùng đất cổ- nơi tổ tiên tiền sử người Việt đãtồn tại và phát triển "Văn hóa Hòa Bình cổ đại" cách đây hàng chục nghìnnăm, trải qua quá trình phát triển, đến nay người Hòa Bình đã xây dựng nênmột nền văn hóa đặc sắc - niềm tự hào của nhân dân các dân tộc tỉnh HòaBình Hoà Bình là cái nôi của nền văn hoá với nhiều bộ sử thi huyền thoạinhư "Mo Mường", "Ẳm Ệt", truyền thuyết về ông Đùng bà Đoàng, Tản viênSơn Thánh

Hòa Bình là một tỉnh miền núi phía Tây Bắc Việt Nam, nằm ở tọa độ200°19' - 210°08' vĩ độ Bắc, 104°48' - 105°40' kinh độ Đông, thủ phủ là thành

Trang 24

phố Hòa Bình cách thủ đô Hà Nội 73km Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là4.662.5 km², chiếm 1,41% tổng diện tích tự nhiên của Việt Nam.

Theo kết quả chính thức điều tra dân số ngày 01/04/2009 dân số tỉnhHòa Bình chỉ có 786.964 người Người Việt Kinh chiếm 27,73%; người Tháichiếm 3,9%; người Dao chiếm 1,7%; người Tày chiếm 2,7%; người Môngchiếm 0,52%; ngoài ra còn có người Hoa sống rải rác ở các địa phương trongtỉnh Người Hoa trước đây sống tập trung ở Ngọc Lương, Yên Thủy; nhưngsau năm 1979 còn lại một số gia đình và hiện nay sống phân tán ở các xã YênTrị, Ngọc Lương và Phú Lai huyện Yên Thủy Ngoài ra, còn có một số ngườithuộc các dân tộc khác chủ yếu do kết hôn với người Hòa Bình công tác ở cáctỉnh miền núi khác.[21, 57]

Hòa Bình là một trong bốn tỉnh của Việt Nam mà trong đó người Việt(Kinh) không chiếm đa số, đồng thời tỉnh này cũng được coi là thủ phủ củangười Mường, vì phần lớn người dân tộc Mường sống tập trung chủ yếu ởđây Người Mường xét về phương diện văn hóa - xã hội là dân tộc gần gũi vớingười Kinh nhất Địa bàn cư trú của người Mường ở khắp các địa phươngtrong tỉnh, sống xen kẽ với người Kinh và các dân tộc khác

Điều kiện thiên nhiên, lịch sử văn hoá và con người Hoà Bình đã tạonên tiềm năng du lịch phong phú, hấp dẫn, gây được những ấn tượng sâu sắcvới bạn bè trong nước và quốc tế Bà Hoàng Thị Chiển, Giám đốc Sở Vănhoá, Thể thao và Du lịch khẳng định: Hoà Bình có quần thể 177 di tích lịch

sử, danh lam thắng cảnh cùng với sự độc đáo của bản sắc văn hoá thể hiệnqua phong tục, tập quán, lối sống của các dân tộc Mường, Thái, Mông, Dao,Tày còn giữ khá nguyên vẹn với trên 30 lễ hội cộng đồng dân tộc như: hộiCồng Chiêng, Lễ hội Khai Hạ, Lễ hội Chùa Tiên, Lễ hội Đền Bờ

Văn hoá Hoà Bình là một nền văn hoá đa dân tộc, trong đó dân tộcMường chiếm một tỉ lệ khá lớn tới hơn 60% dân số Văn hoá Mường và

Trang 25

những nền văn hoá khác đã tập hợp lại và làm nên những nét riêng của vănhoá Hoà Bình Bản sắc văn hoá Hoà Bình bao gồm: Văn hoá Trống Đồng,văn hoá Cồng Chiêng, các truờng ca, văn hoá ăn, ở, mặc cùng các loại hìnhvăn hoá khác.

1.2.3 Lịch sử người Mường ở Hòa Bình

Nhiều nhà nghiên cứu căn cứ vào các tài liệu khác đã cho rằng ngườiMường ở Hòa Bình có cùng nguồn gốc với người Việt Cũng như các dân tộckhác đề lí giải về dân tộc mình, người Mường Hòa Bình còn lưu giữ và truyền

kể những huyền thoại về sự xuất hiện của dân tộc mình chủ yếu dưới dạng cácbản mo hát với độ dài ngắn khác nhau, nhưng tiêu biểu nhất làTruyền thuyếtchim cây-cái ứa

Thưở xưa, khi con người chưa xuất hiện, trời làm hạn, cây cối khô màchết, rồi lại mưa Một trận mưa to chưa từng thấy nước chảy thành suối, sông,đất lở, bồi thành đồng bằng, đá lăn chất đầy thành gò, thành đống, thành đồi,thành núi Từ dưới đất mọc lên một cây Si, cây Si lớn như thổi trở thành to lớn,cành lá che kín cả bầu trời, cây Si bị sâu đục ăn làm cho gãy cành, rụng lá Từgốc cây Si đẻ ra một đôi chim: chim ấy là đực, cái ứa là cái, đôi chim rủ nhaulên cành cây Si làm tổ, cành cây Si gãy, chim bay lên cây Đa làm tổ, cây đa đổ.Đôi chim lại rủ nhau bay lên núi đá lấy cỏ làm thành tổ Hang Hao Cái ứa đẻ ramột trăm quả trứng thì nở ra con người (người Mường và người Kinh)

Người Mường quan niệm mình và người Kinh vốn cùng một cha mẹsinh ra,cùng máu mủ, dòng giống Người Mường có câu: “ta với mình tuy hai

mà một, mình với ta tuy một thành hai”

Cũng theo các nhà ngôn ngữ học, ngôn ngữ của người Mường cũng cónhiều điểm tương quan với ngôn ngữ người Việt, nhiều những nét văn hóaMường cũng tương đồng với văn hóa dân tộc Kinh Nói vậy, để thấy được việcgìn giữ giá trị văn hóa Mường là nhiệm vụ rất lớn trong việc bảo tồn văn hóatruyền thống của dân tộc Mường nhỏ, các Mường nhỏ hợp thành Châu Mường

Trang 26

1.2.4.Văn hóa của dân tộc Mường

* Văn hóa vật chất

- Các ngành nghề chính

+ Canh tác ruộng nước và nương rẫy

Người Mường ở Hòa Bình là cư dân nông nghiệp trồng trọt Trong đócác xã vùng thấp canh tác ruộng nước là chính, nương rẫy chỉ phổ biến ở một

số bộ phận dân cư trú ở vùng núi cao Với bộ nông cụ làm ruộng như cày,mai, xẻng; các biện pháp kỹ thuật liên hoàn (làm đất, làm mạ và gieo cấy,chăm sóc và thu hoạch); đặc biệt là hệ thống thủy lợi “dẫn thủy nhập điền

"mương, phai, lái, lĩn” và cọn nước, cùng với các nghi lễ tín ngưỡng liênquan, qua nhiều thế hệ, họ đã đúc kết và tích lũy được nhiều kinh nghiệmtrong sản xuất Hiện nay, người Mường đã chuyển sang làm 2 vụ lúa Việcthu hoạch được làm gọn và nhanh hơn gồm: gặt - đập - quạt - nhập kho

+ Chăn nuôi

Trước đây người Mường có tập quán nuôi trâu, bò thả rông trongnhững “púng” rào giậu kín, tự chúng sống, sinh đẻ, đến mùa mới bắt trâu vềkéo cày Nay thì họ đã nuôi trâu theo gia đình, có chuồng trại riêng Còn chănnuôi lợn, gà, vịt, ngan, ngỗng thì rất phát triển Vật nuôi vừa trở thành sảnphẩm hàng hóa, vừa sử dụng trong lễ tết

+ Săn bắt, hái lượm

Từ xưa nhờ ruộng đất, đời sống của người Mường có phần sung túchơn các cư dân quanh vùng Nhưng họ vẫn chưa thoát được cảnh tháng ba,ngày tám, những năm đói kém do lũ lụt, hạn hán gây ra Họ không bị chết đói

là nhờ có rừng bao quanh có khả năng cung cấp cho họ các thứ củ quả haythân cây có chất bột Lại thêm, từng mùa rừng cung cấp các loại rau quả, hạtdại, nấm, mộc nhĩ, măng, rêu đá, các loại côn trùng

Trang 27

Rừng còn cung cấp cho đồng bào nguyên vật liệu để làm nhà, đan látnhững gia cụ, cung cấp củi đun, dầu thắp sáng, những cây thuốc và những lâmthổ sản quý Trong rừng các loại chim, thú là đối tượng để đồng bào săn bắt

+ Ngành nghề thủ công

Nghề thủ công của người Mường ở Hòa Bình rất phong phú, phát triểnđạt trình độ cao Có thể nói phụ nữ Mường là những thợ dệt chăm chỉ, lànhnghề, sản xuất không những đủ chăn, màn, quần áo cho gia đình mà còn đemtrao đổi Sản phẩm nổi tiếng của người Mường là vải thổ cẩm, với những hoavăn đặc sắc, màu sắc tươi hài hoà, bền đẹp Đó là những cạp váy Mường lấplánh, đây cũng chính là tiêu chí để cô một cô gái ở bản Mường được cácchàng trai trong Mường để ý Cũng như ở nhiều nơi, các cô gái Mường ởThành phố Hòa Bình khá nổi tiếng về thêu thùa, nổi bật nhất là những chiếcchăn, chiếc khảm, chiếc ví và đặc biệt hơn cả là cạp váy Mường Nghề đan lát

là công việc của đàn ông Họ thường đan những vật dụng hàng ngày (bung,lếp, nong, nia, dần, sàng ) Ngoài ra còn có những nghề thủ công mang tínhchuyên nghiệp như nghề rèn nông cụ xẻng, cuốc, lưỡi cày, dao, kéo… Họ cònbiết dùng bàn xoay, độ nung cao trong nghề làm gốm tạo thành những chum,

vò, nồi, chõ đất, bát đĩa đạt trình độ kĩ thuật và mĩ thuật

+ Trao đổi, mua bán

Từ xa xưa, khi chợ búa chưa phát triển, việc trao đổi hàng hóa thườngchỉ hạn chế vào một số nhu yếu phẩm và chủ yếu vẫn là hình thức hàng đổihàng với những cư dân khác tộc ở rẻo giữa và rẻo cao Đó là những buổi chợPhiên tùy từng vùng, từng Mường sẽ là nơi trao đổi và buôn bán Nhưng từvài trăm năm nay, các trung tâm, khu chợ mới mở rộng hơn thì chợ xuất hiệnrộng khắp và buôn bán hang ngày Ngày nay, Thành phố Hòa Bình đã trởthành trung tâm kinh tế, văn hóa và thương mại phát triển của tỉnh và vùng

Trang 28

- Văn hóa kiến trúc

Người Mường đều ở nhà sàn làm bằng gỗ, rất đẹp, chắc, dựng theonhững quy định được đặt ra từ đời này qua đời khác Nhà của người Mường ởHòa Bình thường tạo dáng mái nhà hình mai rùa, trang trí trên hai đầu nócnhà bằng những khau cút theo phong tục từ xưa truyền lại

Nhà sàn truyền thống của người Mường với kiểu liên kết khớp bằngmộng và buộc các hệ thống kết cấu chịu lực: hệ thống dầm, sàn, bao che…bằng dây, lạt trong rừng mà không cần dùng đến kim loại (đinh, ốc, dâythép…) Mái nhà được lợp bằng cỏ gianh đan thành phên với nhiều cách đankhác nhau như: Đan xỏ, đan lá, đan cột dây thừng

Hiện nay, hình ảnh nhà sàn bằng bê tong đang trở nên mới mẻ và rộngkhắp các bản Mường ở Tỉnh Hòa Bình Đây là sự kết hợp giữa truyền thống

và hiện đại Cần nhân rộng hơn nữa các công trình này, nhưng cũng quản lý

và tuyên truyền tránh làm lu mờ bản sắc văn hóa dân tộc

- Văn hóa trang phục

So với một số dân tộc khác, trang phục của người Mường không cómàu sắc rực rỡ mà đơn giản hơn nhiều, song cũng có những nét rất đặc trưng.Nam giới thường mặc áo ngắn hoặc áo dài, màu chàm, cài khuy, quần dài,rộng, thắt lưng quấn quanh cạp, đầu búi, quấn khăn dài, đầu khăn giắt sanghai bên, sau này cũng có dùng khăn xếp quấn như của người Kinh dưới xuôi

Nam mặc áo cánh xẻ ngực, cổ tròn, cúc sừng vai, hai túi dưới hoặcthêm túi trên ngực trái Đây là loại áo cánh ngắn phủ kín mông Đầu cắt tócngắn hoặc quấn khăn trắng Quần lá tọa ống rộng dùng khăn thắt giữa bụngcòn gọi là khăn quần Xưa có tục để tóc dài búi tóc Trong lễ hội dùng áo lụatím hoặc tơ vàng, khăn màu tím than, ngoài khoác đôi áo chúng đen dài tớigối, cái cúc nách và sườn phải

Trang 29

Bộ y phục nữ đa dạng hơn nam giới và còn giữ được nét độc đáo Khănđội đầu là một mảnh vải trắng hình chữ nhật không thêu thùa, yếm, áo cánh(phổ biến là màu trắng) thân rất ngắn thường xẻ ở ngực và váy dài đến mắt cáchân gồm hai phần chính là thân váy và cạp váy Cạp váy nổi tiếng bởi cáchoa văn được dệt kỳ công Trang sức gồm vòng tay, chuỗi hạt và bộ xà tích 2hoặc 4 giây bạc có treo hộp quả đào và móng vuốt hổ, gấu bịt bạc.

Áo mặc thường ngày có tên là áo pắn (áo ngắn) Đây là loại áo cánhngắn, xẻ ngực, thân ngắn hơn so với áo cánh người Kinh, ống tay dài, áo màunâu hoặc trắng (về sau có thêm các màu khác không phải loại vải cổ truyền).Bên trong là loại áo báng, cùng với đầu váy nổi lên giữa hai vạt áo ngắn Đầuthường đội khăn trắng, xanh với phong cách không cầu kỳ như một số tộcngười khác Váy là loại váy kín màu đen Toàn bộ phận được trang trí là đầuváy và cạp váy, khi mặc mảng hoa văn nổi lên giữa trung tâm cơ thể Đây làmột phong cách trang trí và thể hiện ít gặp ở các tộc khác trong nhóm ngônngữ và khu vực láng giềng (trừ nhóm Thái Mai Châu, Hòa Bình do ảnh hưởngvăn hóa Mường mà mặc thường ngày tương tự như họ)

- Văn hóa ẩm thực

Người Mường thích ăn các món đồ như xôi đồ, cơm tẻ đồ, rau, cá đồ.Cơm, rau đồ chín được dỡ ra rá trải đều cho khỏi nát trước khi ăn Lương thựcphổ biến là cơm nếp Người Mường có cách nấu xôi (đồ xôi) rất ngon Trướckhi nấu, gạo nếp được đem ngâm qua một thời gian nhất định (thường là quamột đêm) Sau đó gạo được đem ra đãi sạch và cho vào “chõ” để đồ xôi Tớikhi mùi cơm nếp tỏa ra khắp nhà thì lúc đó là xôi đã chín “Chõ” đồ xôi củangười Mường được làm bằng gỗ đặc biệt rất tốt cho việc đồ xôi Cơm nếpthơm ngon ăn cùng với các món ăn được chế biến từ thịt thú rừng, hay cácmón cá và các loại rau rừng là bữa ăn ngon và thú vị của người Mường ở đây.[21, 28]

Trang 30

Các món ăn Mường được chế biến rất phong phú và đa dạng Họthường thích ăn đồ nướng, đồ, luộc, ăn sống hoặc tái chín cùng các loại gia vịnhiều chất chua, cay, chát Từ thịt của một số động vật nuôi như lợn, gà, bòhay các loại thịt thú rừng họ săn bắt được có thể chế biến ra nhiều món đặcsản Đặc biệt từ các loại cá tươi, người Mường có những món cá đặc sản nhưmón cá gỏi, món cá hấp, cá pỉnh tộp Trong ăn uống người Mường thíchuống rượu Rượu là đồ uống phổ biến của người Mường.

Người Mường cũng có câu rằng:

Cơm nếp, cơm chăm trên nương, trên nà

Cá nhỏ, cá to trong ao, dưới suối

Đi đuổi trong rừng được thú, được chim

Đi hái, đi tìm được rau, được quả

*Văn hóa tinh thần

- Ngôn ngữ và chữ viết

Nhiều nhà nghiên cứu và các tài liệu khoa học khác nhau đã đi đếnnhận định: người Việt và người Mường vốn có chung nguồn gốc Về mặtngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Mường vốn có nguồn gốc chung Nếu so sánh,đối chiếu các mặt ngữ pháp, ngữ âm và từ vựng cơ bản, Gữa hai ngôn ngữ cóquan hệ khá gần gũi

Ngôn ngữ này có mối liên hệ gần gũi với tiếng Việt và được xem nhưthuộc nhánh Việt - Mường trong hệ ngôn ngữ Nam Á thuộc chủng tộcmôngloit phương nam Đây là ngôn ngữ thanh điệu với 5 thanh Tiếng Mường

là tiếng Việt cổ bị khu vực hoá, có đến 80% từ vựng tiếng Mường trùng vớitiếng Việt trước thế kỷ XX, hiện còn bảo lưu khá bền vững trong cộng đồngngười Kinh vùng Hà Tĩnh Tiếng Mường có thể nói một cách khái quát giốngtương tự tiếng Việt ( nhưng không tuyệt đối, khoảng 75%)

Trang 31

Ngôn ngữ và chữ viết của dân tộc Mường tạo nên những bản tình cađằm thắm và những áng sử thi thắm đượm tính dân tộc Chính vì vậy, khotàng văn nghệ dân gian của người Mường khá phong phú, có các thể loại thơdài, bài mo, truyện cổ, dân ca, ví đúm, tục ngữ Người Mường còn có hát ru

em, đồng dao, hát đập hoa, hát đố, hát trẻ con chơi

- Tín ngưỡng, tôn giáo

Trước cách mạng tháng tám một số người vì muốn thoát khỏi ảnhhưởng của lang đạo nên đã dựa vào thế lực của cha cố Tuy theo tôn giáo,song long tin của họ chưa sau sắc lắm, vẫn mời thấy mo về cúng ma., vẫn thờcúng tổ tiên Sau cách mạng ảnh hưởng của công giáo nhạt dần Vùng Mườngtrước kia cũng có chùa thờ phật (còn gọi là thờ bụt) nhưng không có sư sãi,không có cầu kinh niệm phật, việc cúng bái đều do ông sãi đảm nhiệm Cónơi cũng gọi là chùa, song lại thờ bà chúa rừng

Trong các gia đình Mường đều có thờ cúng tổ tiên, họ tin rằng ngườichết sang thế giới bên kia vẫn có cuộc sống tương tự như ở trần gian

Các làng xóm chủ yếu có đình, thờ thành hoàng Thành hoàng langthường được coi là những người có công khai phá ruộng nương, lập làngxóm Một số nơi thành hoàng lại là tổ tiên nhà lang

Trong dân gian người ta tin rằng một số người có ma chai, ma ếm, cóthể dùng phương thuật hoặc thần chú để hãm hại người khác Đây là biểu hịêncủa loại ma thuật làm hại

Ngoài ra trước đây đồng bào tin rằng có rất nhiều loại ma như : marừng, ma núi, ma sông, ma suối…những thứ này đều có tác động, ảnh hưởngđến con người nên mỗi khi trong nhà không yên ổn phải cầu cúng chúng.Đôi khi người ta còn thờ những cây to như cây đa, cây si…Người mường cónhiều nghi lễ liên quan đến nông nghiệp như lễ hạ điền, thượng điền, cúngcơm mới…

Trang 32

Trước cách mạng do đời sống kinh tế, văn hoá thấp kém, con ngườiphụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên, mê tin dị đoan khá nặng nề.

- Một số phong phục khác

+ Cưới xin

Trai gái tự do yêu đương tìm hiểu, ưng ý nhau thì báo để gia đìnhchuẩn bị lễ cưới Ðể dẫn đến đám cưới phải qua các bước: ướm hỏi (kháothếng), lễ bỏ trầu (ti nòm bánh), lễ xin cưới (nòm khảu), lễ cưới lần thứ nhất(ti cháu), lễ đón dâu (ti du) Trong ngày cưới, ông mối dẫn đầu đoàn nhà traikhoảng ba, bốn chục người gồm đủ nội, ngoại, bạn bè mang lễ vật sang nhàgái tổ chức cưới Chú rể mặc quần áo đẹp chít khăn trắng, gùi một chón (gùi)cơm đồ chín (bằng khoảng 10 đấu gạo), trên miệng chón để 2 con gà sốngthiến luộc chín Trong lễ đón dâu, cô dâu đội nón, mặc váy áo đẹp ngoài cùng

là chiếc áo dài màu đen thắt 2 vạt ở phía trước Cô dâu mang về nhà chồngthường là 2 chăn, 2 cái đệm, 2 quả gối tựa để biếu bố mẹ chồng và hàng chụcgối con để nhà trai biếu cô dì, chú bác

Tục cưới xin của người Mường gần giống như người Kinh (chạm ngõ,

ăn hỏi, xin cưới và đón dâu) Khi trong nhà có người sinh nở, người Mường ràocầu thang chính bằng phên nứa Khi trẻ em lớn khoảng một tuổi mới đặt tên

Tang lễ do thầy mo chủ trì Hình thức chịu tang của con cái trong nhàkhông khác so với người Kinh, tuy nhiên con dâu, cháu dâu chịu tang ông bà,cha mẹ còn có bộ trang phục riêng gọi là bộ quạt ma

Trang 33

Khi người con trai trong gia đình ấy chống gậy tre thì gia đình ấy có bốmất, nếu chống gậy gỗ thì gia đình có mẹ mất Tế quạt ma là một nghi lễ độcđáo trong đám ma người Mường

+ Lễ hội

Trong năm có hàng chục các lễ hội các mùa xuân, hạ, thu đồng Một số

lễ hội chính tổ chức đầu năm: Đâm đuống là hình thức giã gạo trong hội lễ cótính nghệ thuật và có tổ chức Đồng bào Mường giã gạo bằng cối gỗ hìnhchiếc thuyền dài đến vài sải tay, chiếc chày giã cũng dài như đòn gánh, giữathon thon nhỏ vừa tay cầm; Múa mỡi không phải là một tiết mục, một điệu vũ

mà là một hội múa, gồm một chương trình biểu diễn gồm nhiều điệu múa,.Nhiều tiết mục nghệ thuật Mỗi địa phương có hình thức múa mỡi khác nhau,ngoài một số vũ điệu nhất định còn thêm một số mục cải biên, tạo nên sự đadạng của mỡi; Hát đối đáplà vui nhất trong hội xuân là những đám hát đối đáp

"thường rang, bộ mẹng" trên bãi đất rộng hoặc trong sân nhà, trên đỉnh dốchay bên gốc cây, bến sông, bờ suối

Ngoài ra còn một số lễ hội trong năm; Lễ Cầu mát, Lễ hội Cầu phúcbản Mường; Lễ Cơm mới; Lễ Khẩn Chiêm; Lễ hội Khai…

*Văn hóa dân gian

- Văn học dân gian

Trong kho tàng dân gian cần kể đến loại lễ ca Đó là những bài mo, bàikhấn do ông mo Ông trượng đọc và hát trong tang ma, khi cung ma, cầu vía.Bài mo “đẻ đất đẻ nước” là một tài liệu văn học dân gian có giá trị Gạt bỏnhững yếu tố hoang tưởng và những cái do tầng lớp thống trị đưa vào đểnhằm nâng cao uy thế của mình, nó không chỉ có giá trị về mặt văn học màcòn có giá trị nhiều mặt khác nửa Ngoài ra còn có Cuốn "Mo-Sử thi dân tộcMường" dày hơn 2000 trang, là di sản vô giá không phải chỉ của dân tộcMường mà của cả nền văn hoá Việt Nam

Trang 34

Kho tàng văn nghệ dân gian của người Mường khà phong phú, có cácthể loại thơ dài, bài mo, truyện cổ, dân ca, ví đúm, tục ngữ Các truyện thơ: ÚtLót Hồ Liêu, Nàng Nga Hai Mối, Con Côi…Nói về tình yêu nam nữ, lên ánnạn ép duyên của chế độ cũ.Ca dao tục ngữ Mườn lên án cuộc đấu tranh bấtkhuất của con người với thiên nhiên, của nhân dân lao động với bọn thống trị,mặt khác ca ngợi lao động, tình yêu…người Mường hát trong khi lao độngsản xuất, trong ngày hội, ngày lễ, lúc gặp bạn bè, lúc tỏ tình, thậm chí cả khithờ cúng, ma chay.

- Âm nhạc dân gian:

Nhạc cụ: Nhạc cụ dân gian của người Mường gồm có: sáo ngang, tiêunhỏ, kèn, đàn nhị, chuông, trống đồng, trống mặt da và chiêng Người Mườngcòn tạo âm thanh bằng máng gỗ vò lúa (đánh đuống) hay những đoạn tre (gõsạp) Đặc biệt có ba hình thức tổ chức dàn nhạc: dàn nhị - sáo ngang gồm sáongang, tiêu nhỏ, kèn, nhị, sử dụng trong lễ tết và các dịp vui; đàn nhị - sáongang - trống đồng chỉ sử dụng trong tang lễ; dàn chiêng xéc bùa

Nhạc cụ nổi bật và quan trọng nhất của người Mường phải kể đến là hệthống cồng chiêng gắn liền với nhiều hoạt động tín ngưỡng cũng như ma chay

lễ hội Người Mường sử dụng những loại chiêng với số lượng lớn, nhất làchiêng dàn để hoà âm gọi thần, trời trong dịp

Hát xéc bùa: Tục hát Xéc Bùa của người Mường phần lớn được háttrong không khí hội hè vui chơi, nhất là dịp lễ, tết Xéc bùa được ví như sợidây liên lạc với thánh thần với con người

Trang 35

Chương 2 HOẠT ĐỘNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN CỦA DÂN TỘC MƯỜNG

Ở HÒA BÌNH HIỆN NAY 2.1 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên truyền thống của người Mường ở Hòa Bình

2.1.1 Quan niệm của người Mường về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên

Giống như người Việt, người Mường ở Hòa Bình có tín ngưỡng thờcúng tổ tiên Họ lập bàn thờ và đặt lên đó các bát hương cho đến bốn đời Tùytheo hoàn cảnh kinh tế của mỗi gia đình mà người ta làm bàn thờ to, nhỏ, đẹp,hay đơn giản khác nhau Đồ thờ ở bên bàn thờ cũng vậy, nhà giàu thì tranghoàng như các nhà giàu của người Kinh ở dưới xuôi Bàn thờ dù to hay nhỏnhưng cũng luôn được dành cho những vị trí trang trọng Ngoài bàn thờ chínhthờ tổ tiên, bên trái bàn thờ chính này có thể có những bàn thờ phụ khác thờnhững người chết mà không có con cái, hay các vị khác Người Mường kiêng

kỵ không được nằm hướng chân về phái bàn thờ từ tất cả các phía trongnhà…Ngày giỗ là ngày chôn cất, không phải là ngày chết Ngày giỗ đượcchọn là ngày giỗ của người chết cuối cùng trong dòng họ ( trừ khi một contrai chết trước bố mình, những người chết của ba đời trước đó trong mồ mảđều tập họp trong này và người chủ của gia đình nhắc nhở đến tất cả dòng họ

tổ tiên).[3 tr.40]

Đối với người Mường cư trú tại Hòa Bình, tín ngưỡng giữ vai trò quantrọng trong đời sống tinh thần Theo quan niệm truyền thống Mường, vũ trụchia làm ba tầng, ba khu vực, phân bố trên một trục dọc Ở giữa là MườngPưa (mường bằng phẳng), thế giới của người sống

Mường K’Lơi (mường trời), ở bên trên Mường Pưa, là nơi ngự trị củaBua K’lơi (vua trời) có các kem phò tá Xã hội Mường cổ truyền không cóvua, nhưng vì nhiều lý do lịch sử nên khái niệm vua rất quen thuộc với người

Trang 36

Mường Vua trời và các kem không thể chết, thời gian ở mường trời là vô tận.Nhưng không gian ở đây lại hữu hạn Đấy là tận cùng của mường trời, nơi caonhất trong hệ thống trục dọc của vũ trụ Còn nơi thấp nhất của mường trờigiáp với Mường Pưa là ở đâu, không ai xác định được, chỉ biết rằng đâu đóngoài mường trời, trên đường xuống Mường Pưa có một con sông, khi lêntrời, người chết phải vượt qua Như vậy, giữa mường trời - thế giới siêu nhiên

và Mường Pưa thế giới tự nhiên, có sẵn lối dành cho hồn người chết

Như vậy, quan niệm về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là thờ cúng một thếgiới khác ở đó có tổ tiên; ông, bà, cụ, kỵ…của những người đang sống.Mường Pưa ở đây chính là thế giới siêu nhiên củng cố niềm tin, tình yêuthương đoàn kết của dân tộc Mường ở Hòa Bình giữa người sống với ngườisống trong cùng huyết thống, giữa người sống nhớ ơn người đã khuất

Với quan niệm “trần sao âm vậy” việc thờ cúng tổ tiên trở nên thiêngliêng nhưng lại rất bình dị với người Mường ở Hòa Bình Với quan niệm chorằng thế giới Mường Pưa của tổ tiên cũng giống với người sống thì sự cốgắng trong cuộc sống ngày thường đã tạo nên tín ngưỡng thờ cúng trở nênthân thuộc hơn

Người Mường ở Hòa Bình quan niệm người chết đi là sang thế giới khác.Nhưng tổ tiên vẫn luôn theo dõi và bảo vệ con cháu được an lành, mạnh khỏe

Xuất phát từ nhu cầu và ý thức xã hội đã tạo nên quan niệm thờ cúng tổtiên rất bình dị nhưng sâu sắc

2.1.2 Bản chất của việc thờ cúng

Tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên của dân tộc Mường cũng vậy Mục đíchcuối cùng của việc thờ cúng Tổ tiên là thể hiện một sự tin kính, thương yêucủa người đang sống đối với người đã chết và hy vọng người chết đi sẽ phù

hộ, ban phước lành cho người trong gia đình, dòng họ Nó mang ý nghĩa tìm

về cội nguồn Thờ cúng những người trong cùng dòng họ, máu mủ đã khuất,

Trang 37

theo từng đơn vị gia đình, gia tộc… Nó mang tính chất là một hình thái tínngưỡng, thờ tự, cúng lễ, cầu mong linh hồn ông bà tổ tiên “phù hộ” cho hiệnthực cuộc sống của con cháu từ thế giới Mường Pưa.

Bản chất tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên dân tộc Mường ở Hòa Bình là

“liều thuốc phiện của nhân dân”, không chỉ là một bộ phận của ý thức xã hộimỗi bản Mường mà còn chịu sự tồn tại của xã hội Bản chất của tín ngưỡngthờ cúng tổ tiên là sự khẳng định tình yêu thương, hiếu thảo của mỗi ngườicon người Mường ở Hòa Bình

2.1.3 Nguồn gốc của tín ngưỡng thờ cúng dân tộc Mường ở Hòa Bình

Từ những năm đầu của thế kỷ XVIII, các nhà khảo cổ học đã phát hiện racác vết tích của bàn thờ tổ tiên ở trên những nền đất cũ Như vậy, tín ngưỡng thờcúng tổ tiên đã hình thành từ rất lâu đời và được cư dân thờ phụng lâu dần trởthành tín ngưỡng sâu sắc chi phối đời sống mỗi bản Mường

Nguồn gốc xã hội: Sự phân hóa giai cấp thành các Lang, các ậu, các nóc ởcác bản Mường Trong đó có các tộc, các họ Đinh, Quách, Bạch, Bùi là các họchính trong mỗi bản Mường ở Hòa Bình Từ đó mỗi họ, mỗi nóc sẽ có vị trí củangười đứng đầu dòng họ Thời gian quan đi, mỗi dòng họ gây dựng cho mìnhsức mạnh về cả bề dày lịch sử cũng như kinh nghiệp sống, văn hóa cho từngdòng họ mình Tổ tiên mỗi dòng họ sẽ là tấm giương cho con cháu noi theo

Nguồn gốc nhận thức: xuất phát từ quan niệm tâm linh của con người

về thế giới siêu nhiên, thần thánh Từ đầu bản Mường đến cuối bản Mườngcùng tin tưởng vào thế giới Mường Pưa, tin vào tổ tiên mà niềm tin và tổ tiênông bà mình soi đường cho mỗi thành viên còn sống Nhận thức thấy vai tròcủa tổ tiên trong việc giáo dục con cháu, hạnh phúc gia đình, sự đoàn kết giatộc tạo nên nguồn gốc thờ cúng tổ tiên

Nguồn gốc tâm lý: Ai nấy trong mình ở mỗi cánh rừng người Mường,bên suối người Mường đều mong mình có sự may mắn cũng như niềm tin tâm

Trang 38

lý muốn được sống lâu đã tạo nên ý thức niệm cho nguồn gốc thờ cúng đượcthể hiện ro nét trên đời sống cư dân mỗi bản Việc thờ cúng người chết là tônkính ký ức về họ, cơ sở trên đức hiếu đễ và tình cảm về sự vĩnh hằng của giađình và nòi giống

Những nơi bản Mường đầu tiên thờ cúng tổ tiên trên địa bàn tỉnh HòaBình là khu vực quanh chùa Tiên huyện Lạc Thủy có hang thờ cha mẹ, khuvực đình Cổi xã Bình Cảng- huyện Lạc Sơn thờ thành hoàng tổ họ Bùi Tínngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Mường ở Hòa Bình gây dựng cho mìnhnhững kinh nghiệm sống, kinh nghiệm truyền miệng từ bao đời cho con cháucách thờ cúng tổ tiên cũng như các hình thức thờ cúng

Đối với văn hóa Việt nói chung và văn hóa của dân tộc Mường truyềnthống thì việc thể hiện sự hiếu lễ của con cháu đối với ông bà là một phầnkhông thể thiếu trong cuộc sống hằng ngày, người Mường luôn tôn thờ nhữngngười được cho là tổ tiên của gia đình (Pố, Mế), dòng họ, đặc biệt là trongvăn hóa gia đình thì tổ tiên luôn giữ vai trò quang trọng, luôn là tấm gươngphản chiếu của quá khứ để cho con cháu noi theo trong thực tại để hướng tớimột thế hệ mai sau tốt đẹp nhất

2.1.4 Hoạt động thờ cúng tổ tiên của người Mường ở Hòa Bình

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên người Mường có những nét đặc sắc khácvới các dân tộc anh em khác tạo nên một màu sắc riêng biệt Tuy vậy, dân tộcMường ở Hòa Bình thờ cúng Tổ tiên có vài nét tương đồng với người Việt

Cổ Tập tục thờ cúng biểu hiện mong ước về một cuộc sống tươi đẹp hơn, sựnhớ ơn tổ tiên và các đấng sinh thành ngự trị trong tâm hồn người Mường từbao đời nay

*Hình thức thờ cúng

- Bàn Thờ Tổ tiên

Bàn thờ Tổ tiên của người dân tộc Mường được để vị trí cao nhất, sạch

sẽ nhất của ngôi nhà sàn Một số huyện Lạc Sơn, Tân Lạc, Kim Bôi thì để ở

Trang 39

gian giữa ngôi nhà, bên trên cửa sổ chính Nhưng ở 1 số huyện Yên Thủy,Lạc Thủy, Đà Bắc lại quan niệm để gần cửa vóng (cửa sổ) nên để gian đầutiên phía tay trái ngôi nhà sàn Bàn thờ tổ tiên là nơi linh thiêng và sạch sẽ,không phải ai cũng có quyền sửa sang hay thay đổi vị trí bàn thờ Người đànông trong gia đình ( Eng cả) là người có trách nhiệm lớn nhất trước bàn thờgia tiên.

Ông Bùi Văn Quản sống tại huyện Lạc Sơn: Nhà nào cũng phải có mộtbàn thờ tổ tiên chứ dù là một tấm ván buộc cao ở giữa nhà cũng được tùy vàođiều kiện, không có là không được đâu, phải tội đấy Bàn thờ là nơi các Pố(ông), Mế (bà) ở, họ ở ngay cạnh chúng ta đấy Dù là nhà nghèo hay khổ, giàusang hay có thừa của cũng không hơn nhau cái lòng thành chứ có quan trọngvàng bạc, các cụ có dung được đâu

Những gia đình nghèo khó, thì những đồ đạc trong nhà cũng đơn sơ,bàn thờ có khi chỉ là vạt phên tre giữa hai cột trong của gian giữa, bên trong

có bát hương nhỏ Còn ở những gia đình thuộc loại “thường thường bậctrung” trở lên, thì bàn thờ được đóng đàng hoàng Có gia chủ còn dùng mặt tủlàm bàn thờ hoặc đóng cái giá gác làm lên tường Cho dù bàn thờ có đượcthiết kế ra sao thì điều quan trọng nó luôn phải ở vị trí trang trọng, có độ caothích hợp để khi cúng mọi người tỏ được sự ngưỡng vọng thành kính củamình với Tổ tiên

Trên bàn thờ của người dân tộc Mường rất mộc mạc và giản dị Có lẽ vìđiều kiện từ xa xưa đã thế, lâu dần thành tục, thành lệ Trên bàn thờ thườngchỉ có một bát hương to và một bát hương nhỏ Có một bộ ấm chén và luônluôn có hai chai rượu ở hai bên Bài vị hay di ảnh được xếp ngay ngắn trênbàn thờ

Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, kiến trúc nhà ở nông thôn ít biếnđổi, nên kiểu bàn thờ cổ truyền vẫn phát huy tác dụng, tuy nhiên những ngôi

Trang 40

nhà có kiến trúc hiện đại, nội thất hiện đại ở thành phố thì cách bố trí và các

đồ thờ cũng có nhiều biến đổi sao cho phù hợp với toàn cảnh ngôi nhà (chiếchương án cầu kỳ, những bức hoành phi, câu đối không còn phù hợp với nộithất nhiều gia đình)

Bàn thờ là nơi thiêng liêng nên người ta không để các thứ lặt vặt, cácvật dụng thường ngày trong sinh hoạt lên bàn thờ mà lúc nào cùng phải giữbàn thờ, đồ thờ được sạch sẽ, uy nghiêm và bất cứ trong hoàn cảnh nào, dùtúng thiếu đến mấy người ta cũng không đem cầm cố hay bán đồ thờ

Trước mỗi biến cố xảy ra trong gia đình (chẳng hạn như: dựng vợ gảchồng cho con cháu, con cháu chuẩn bị đi thi, làm nhà mới, làm ăn, vợ sinhcon, lập được công danh, trong nhà có người đau ốm, có người chuẩn bị đi xa,làm việc lớn ), gia chủ đều khấn vái trước bàn thờ gia tiên, trước hết là đểtrình bày sự kiện, sau là để xin sự phù hộ

Theo tài liệu mà Lê Thanh Hoa trong cuốn “Tín ngưỡng dân gian ViệtNam” cho rằng: Trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Mường ở HòaBình thì người Mường Bi ( nay là Mường Khến- Tân Lạc) nhiều hộ gia đình ởvùng này có 2 bàn thờ gia tiên thờ bên nội và bên ngoại Một bàn thờ đặtngoài gần cửa Vóng (của sổ chính của nhà sàn) là bàn thờ bên nội, còn bànthờ thấp hơn và bên trong cửa Vóng là bàn thờ bên ngoại Người Mường Bikhông duy trì tục cúng tổ tiên theo ngày mất mà lấy ngày lễ, ngày tết, ngàyhội để cúng tổ tiên Việc cùng tồn tại hai bàn thờ như thế chứng tỏ trong xãhội phụ quyền của người Mường ở Hòa Bình trước đây chưa đủ mạnh để gạt

bỏ mọi dấu tích ghi nhận vai trò của xã hội mẫu quyền trong đời sống văn hóadân tộc Người Mường ở Hòa Bình đã chọn cho họ một lối ứng xử mềm dẻo

để dung hòa hai thể đối lập này, tạo ra thế lưỡng hợp ngay trong vị trí ngôinhà có vai trò do nam giới cai quản

Ngày đăng: 22/04/2020, 00:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh ( Tái bản 1992) Việt Nam văn hóa sử cương, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Nhà XB: NXBThành phố Hồ Chí Minh
2. Nguyễn Chí Bền (chủ biên, 2010), Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam trong bối cảnhhội nhập kinh tế quốc tế
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
3. Trần Văn Bính (chủ biên) (2004), Văn hóa các dân tộc Tây Bắc, thực trạng và những vấn đề đặt ra, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc Tây Bắc, thựctrạng và những vấn đề đặt ra
Tác giả: Trần Văn Bính (chủ biên)
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
Năm: 2004
4. Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (1999), NXB khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
Tác giả: Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
Nhà XB: NXB khoa học xã hội
Năm: 1999
6. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), văn kiện hội nghị Ban chấp hành trung ương lần thứ 5, khóa VIII, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: văn kiện hội nghị Ban chấp hànhtrung ương lần thứ 5, khóa VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
Năm: 2001
7. Nguyễn Khoa Điềm (2002), Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bả sắc dân tộc, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và phát triển nền văn hóa ViệtNam tiên tiến đậm đà bả sắc dân tộc
Tác giả: Nguyễn Khoa Điềm
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
Năm: 2002
8. Học viện Báo chí- tuyên truyền, Khoa văn hóa- phát triển (2009), Giáo trình Cơ sở văn hóa Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học viện Báo chí- tuyên truyền, Khoa văn hóa- phát triển (2009)
Tác giả: Học viện Báo chí- tuyên truyền, Khoa văn hóa- phát triển
Năm: 2009
9. Đỗ Thị Hòa (2003), Trang phục các dân tộc thiểu số nhóm ngôn ngữ Việt-Mường và Tày-Thái, NXB văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang phục các dân tộc thiểu số nhóm ngôn ngữViệt-Mường và Tày-Thái
Tác giả: Đỗ Thị Hòa
Nhà XB: NXB văn hóa dân tộc
Năm: 2003
10.Nguyễn Đình Khoa (1976), Các dân tộc ở miền Bắc Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc ở miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đình Khoa
Nhà XB: NxbKhoa học xã hội
Năm: 1976
11.Vi Hồng Nhân (2004), Văn hóa các dân tộc thiểu số từ 1 góc nhìn, NXB văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc thiểu số từ 1 góc nhìn
Tác giả: Vi Hồng Nhân
Nhà XB: NXB văn hóa dân tộc
Năm: 2004
12.Phan Ngọc (2002), Bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hóa Việt Nam
Tác giả: Phan Ngọc
Nhà XB: NXB văn học
Năm: 2002
13.Nhiều tác giả (2008), Hôn nhân và gia đình các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hôn nhân và gia đình các dân tộc thiểu số ởViệt Nam
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2008
14.Lò Giàng Páo (1997), Tìm hiểu văn hóa vùng các dân tộc thiểu số, NXB văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu văn hóa vùng các dân tộc thiểu số
Tác giả: Lò Giàng Páo
Nhà XB: NXB văn hóa dân tộc
Năm: 1997
15.Lương Hồng Quang (chủ biên, 2009), Văn hóa của nhóm người nghèo ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp,Nxb Văn hóa –Thông tin & Viện văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa của nhóm ngườinghèo ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp
Nhà XB: Nxb Văn hóa –Thông tin & Việnvăn hóa
17.Trần Ngọc Thêm (2001),Tìm hiểu về bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB thánh phố Hồ CHí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về bản sắc văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: NXB thánh phố Hồ CHí Minh
Năm: 2001
18.Trương Thìn (2007) 101 điều cần biết về tín ngưỡng và phong tục Việt Nam, NXB Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 101 điều cần biết về tín ngưỡng và phong tụcViệt Nam
Nhà XB: NXB Hà Nội
19.Ngô Bá Thịnh (2003), Tìm hiểu luật tục các tộc người Việt Nam, NXB khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu luật tục các tộc người Việt Nam
Tác giả: Ngô Bá Thịnh
Nhà XB: NXB khoa học xã hội
Năm: 2003
20. Phạm Ngọc Trung (Chủ biên, 2003 ) Cơ sở văn hóa Việt nam, NXB chính trị- hành chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt nam
Nhà XB: NXBchính trị- hành chính
21. Trần Từ (2003), Người Mường ở Hòa Bình, NXB thời đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Mường ở Hòa Bình
Tác giả: Trần Từ
Nhà XB: NXB thời đại
Năm: 2003
22. Ủy ban quốc gia về thập kỷ quốc tế phát triển văn hóa (1992): Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa, Bộ văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thậpkỷ thế giới phát triển văn hóa, Bộ văn hóa thông tin
Tác giả: Ủy ban quốc gia về thập kỷ quốc tế phát triển văn hóa
Năm: 1992

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w