Trong khảo sát tỷ lệ hiện mắc HAI năm 2014, có 49,900 trường hợp viêm phổi liên quan đến máy thở, 35,600 trường hợp nhiễm khuẩn đường tiết niệu có liên quan đến catheter, và 15,600 trườn
Trang 1Chương 4
Christian A Engell
Nhiễm khuẩn bệnh viện (HAI) được định nghĩa là nhiễm khuẩn có triệu chứng xảy
ra sau khi nhập viện mà không có bằng chứng cho thấy nhiễm khuẩn xuất hiện hoặc
ủ bệnh tại thời điểm nhập viện [1] Năm 1992, ước tính có khoảng hai triệu bệnh nhân mắc HAI mỗi năm và khoảng 90,000 bệnh nhân này tử vong [2] Năm 2014, một cuộc khảo sát về tỷ lệ hiện mắc của HAI đã ước tính rằng có 722,000 HAI trong các bệnh viện của Hoa Kỳ Ngoài ra, khoảng 75,000 bệnh nhân bị HAI đã tử vong trong thời gian nằm viện Khoảng 35% các trường hợp nhiễm khuẩn này xảy ra trong môi trường ICU [3] Những con số này cho thấy tỷ lệ HAI gần đây đã giảm Thật không may, việc giảm HAI gần đây dường như không dẫn đến việc giảm tỷ lệ
tử vong theo tỷ lệ mắc
Trong khảo sát tỷ lệ hiện mắc HAI năm 2014, có 49,900 trường hợp viêm phổi liên quan đến máy thở, 35,600 trường hợp nhiễm khuẩn đường tiết niệu có liên quan đến catheter, và 15,600 trường hợp nhiễm khuẩn dòng máu nguyên phát liên quan đến catheter trung tâm ở các ICU của Hoa Kỳ mỗi năm Cuộc khảo sát này đã không phân tách 157,500 trường hợp nhiễm khuẩn vết mổ, 80,400 nhiễm Clostridium difficile và 9700 vi khuẩn MRSA được phát triển trong ICU, nhưng rõ ràng là một
tỷ lệ đáng kể trong số các nhiễm khuẩn này có nguồn gốc ICU [3]
Với số lượng lớn các HAI mắc phải tại ICU, làm thế nào để một bác sĩ ICU xác định liệu họ có đang làm phát tán nhiễm khuẩn bệnh viện tiềm ẩn hay không và làm thế nào để tránh được điều này một cách tốt nhất? Mục đích của phần còn lại trong chương này sẽ là đưa ra một tổng quan về các tiêu chí của Mạng lưới An toàn Chăm sóc Sức khỏe Quốc gia (NHSN) gần đây nhất để xác định nhiễm khuẩn mắc phải tại bệnh viện thường gặp nhất Một trường hợp lâm sàng sẽ được trình bày cho từng bối cảnh nhiễm khuẩn thường gặp, và các định nghĩa về nhiễm khuẩn bệnh viện sẽ được xem xét và áp dụng cho trường hợp lâm sàng, sau đó đánh giá các gói phòng ngừa, bao gồm thảo luận về những phát triển gần đây trong việc dự phòng Với số lượng tập trung vào các bệnh nhiễm khuẩn này trong những năm gần đây, mục tiêu không phải là sự nhận thức mà là đưa ra một cái nhìn tổng quan về các HAI này Các HAI sau đây sẽ được đánh giá trong chương này:
1 Các biến cố liên quan đến máy thở - VAE (Ventilator-Associated Events)
2 Nhiễm khuẩn tiết niệu liên quan catheter niệu đạo - CAUTI (Catheter-Associated Urinary Tract Infections)
Trang 23 Nhiễm khuẩn dòng máu liên quan catheter trung tâm mắc phải tại bệnh viện
- CLABSI (Hospital-Acquired Central-Line Bloodstream Infections)
4 Nhiễm C difficile
Trường hợp 1
Một bệnh nhân nữ 65 tuổi có tiền sử đái tháo đường type II và COPD bậc D cần O2
tại nhà, nhập viện vì đợt cấp COPD Tại khoa cấp cứu, bệnh nhân được đặt nội khí
quản sau khi các phương pháp thông khí không xâm lấn thất bại Bệnh nhân không
sốt và không tăng tiết đàm Trong 3 ngày đầu ở ICU sau đặt nội khí quản, FiO2 tối thiểu của bà là 0.40 và PEEP tối thiểu là 7 Vào ngày 5 và 6 sau nhập ICU, bệnh nhân bị sốt 39 độ C và FiO2tăng lên 0.6 với PEEP 10 Bệnh nhân được bắt đầu dùng kháng sinh phổ rộng Nuôi cấy dịch hút khí quản có mủ sau đó đã phát triển
Staphylococcus aureus nhạy methicillin
Báo cáo v ề các biến cố liên quan đến máy thở (VAE)
Nhóm bác sĩ điều trị chẩn đoán bệnh nhân trên mắc bệnh viêm phổi liên quan đến máy thở (VAP) Tuy nhiên, kể từ năm 2013, định nghĩa giám sát VAP đã được thay thế bởi VAE Định nghĩa VAE được phát triển đầu tiên bởi CDC bao gồm các thành viên của một số tổ chức có liên quan để giải quyết các hạn chế của định nghĩa viêm phổi liên quan đến máy thở khi đó [4] Định nghĩa VAP được sử dụng tại thời điểm
đó không nhạy và cũng không đặc hiệu gây khó khăn cho việc giám sát và do đó cũng gây khó khăn trong phòng ngừa [5, 6] Các biện pháp giám sát không chính xác khiến việc đánh giá các chiến lược phòng ngừa trở nên khó khăn Một trong
những thách thức với định nghĩa VAP là sự phụ thuộc vào việc giải thích và đọc phim X-quang ngực có phần chủ quan Lưu đồ định nghĩa giám sát VAE được triển khai trong NHSN vào tháng 1 năm 2013 được thiết kế dựa trên các tiêu chí khách quan, sắp xếp hợp lý, và có khả năng tự động hóa để xác định rất nhiều bệnh cảnh
và biến chứng xảy ra ở bệnh nhân người lớn thở máy [7] Phân loại đầy đủ VAE
được trình bày trong Hình 4.1 [8] VAE được định nghĩa phát triển dần từ bệnh cảnh
liên quan đến máy thở (VAC) dựa trên những thay đổi về giá trị PEEP và FiO2, tiến triển qua bệnh cảnh liên quan đến máy thở do nhiễm khuẩn (iVAC), đến có thể viêm phổi liên quan đến máy thở dựa trên sự gia tăng các dấu hiệu toàn thân và vi khuẩn học gợi ý nhiễm khuẩn [8] Ở bệnh nhân trên, FiO2 nền tăng 0.2 hoặc nhu cầu PEEP tăng so với mức nền đều đủ điều kiện xác định bệnh cảnh liên quan đến máy thở Sốt sẽ đủ điều kiện cho bệnh nhân trong bệnh cảnh liên quan đến máy thở do nhiễm khuẩn Kết quả nuôi cấy dịch tiết mủ, cho thấy bệnh nhân có thể bị một đợt VAP
VAE
Tỷ lệ mới mắc các biến cố liên quan đến máy thở đã thay đổi khi chuyển đổi từ định nghĩa VAP sang định nghĩa VAE Năm 2012, tại Hoa Kỳ, tỷ lệ VAP là 3.3 trên 1000 ngày thở máy [9] Vào năm 2014, NHSN đã báo cáo tỷ lệ mới mắc VAE là từ 2% đến 12% trong các loại ICU khác nhau với VAE đáp ứng tối thiểu định nghĩa iVAC
Trang 3bao gồm 30-40% VAE, gần bằng tỷ lệ mới mắc VAP vào năm 2012 [10]
Hình 4.1 Lưu đồ giám sát các biến cố liên quan đến máy thở (VAE)
Tình tr ạng liên quan máy thở (VAC)
Sau ≥2 ngày ổn định hoặc cải thiện khi thở máy, bệnh nhân xuất hiện ít nhất một trong các
v ấn đề sau cho thấy sự oxy hóa máu xấu đi:
1 Mỗi ngày tăng tối thiểu FiO 2 ≥20% trong ít nhất 2 ngày
2 Mỗi ngày tăng tối thiểu PEEP ≥3 cm H 2 O trong ít nhất 2 ngày
Bi ến chứng liên quan máy thở do nhiễm trùng (IVAC)
Sau ít nh ất 3 ngày thở máy và trong vòng 2 ngày trước hoặc sau khi sự oxy hóa máu xấu đi, bệnh nhân có:
1 Thân nhiệt ≥38 0 C hoặc <36 0 C HOẶC Số lượng bạch cầu ≥12,000/mm 3 hoặc ≤4,000/mm 3
VÀ
2 Kháng sinh m ới được bắt đầu và tiếp tục trong ≥4 ngày
Có kh ả năng viêm phổi lên quan máy thở (PVAP)
Sau ít nhất 3 ngày thở máy và trong vòng 2 ngày trước hoặc khi khởi phát sự oxy hóa máu
x ấu đi, bệnh nhân có MỘT trong các tiêu chí sau:
Tiêu chí 1: Nuôi cấy dương tính với một trong các mẫu bệnh phẩm sau, đáp ứng các ngưỡng định lượng hoặc bán định lượng như được nêu trong quy trình, không có yêu cầu dịch tiết đường hô hấp phải có mủ:
a C ấy dịch hút nội khí quản ≥10 5 CFU/mL ho ặc kết quả bán định lượng tương đương
b Cấy dịch rửa phế quản-phế nang ≥10 4 CFU/mL hoặc kết quả bán định lượng tương đương
c Cấy mô phổi, ≥10 4 CFU/g hoặc kết quả bán định lượng tương đương
d C ấy chải mẫu có bảo vệ ≥10 3 CFU/mL ho ặc kết quả bán định lượng tương đương
Tiêu chí 2: Dịch tiết đường hô hấp có mủ (được định nghĩa là dịch tiết từ phổi, phế quản hoặc khí quản có chứa ≥25 bạch cầu trung tính và ≤10 tế bào biểu mô vảy trên đĩa cấy năng lượng
thấp (Ipf, x100])* C ỘNG với sinh vật được xác định từ một trong các mẫu thử sau (bao gồm
c ấy định tính, hoặc cấy định lượng/bán định lượng mà không có sự tăng trưởng đủ để đáp ứng tiêu chí #1): (a) đàm mủ, (b) dịch hút nội khí quản, (c) dịch rửa phế quản-phế nang, (d) mô phổi, (e) ch ải mẫu có bảo vệ
* N ếu xét nghiệm báo cáo kết quả bán định lượng, những kết quả đó phải tương đương với các ngưỡng định lượng ở trên Xem hướng dẫn bổ sung cho việc sử dụng tiêu chí dịch tiết
hô hấp có mủ trong Quy trình VAE
Tiêu chí 3: Một trong các xét nghiệm sau dương tính
a Sinh v ật được xác định từ dịch màng phổi (khi lấy mẫu thử trong quá trình chọc dò lồng ngực hoặc đặt ống dẫn lưu lồng ngực ban đầu và KHÔNG từ ống dẫn lưu ngực đang được duy trì)
b Mô b ệnh học phổi, được định nghĩa là: 1) hình thành áp xe hoặc cụm đông đặc với sự tích tụ bạch cầu trung tính mạnh trong phế quản và phế nang; 2) bằng chứng về nấm xâm
l ấn nhu mô phổi (dạng sợi nấm, giả sợi, nấm men); 3) bằng chứng nhiễm các mầm bệnh virus được liệt kê dưới đây dựa trên kết quả xét nghiệm hóa mô miễn dịch, tế bào học hoặc kính hiển vi được thực hiện trên mô phổi
c Xét nghiệm chẩn đoán Legionella species
d Xét nghi ệm chẩn đoán về dịch tiết đường hô hấp đối với virus cúm, virus hợp bào hô hấp, adenovirus, parainfluenza virus, rhinovirus, metapneumovirus ở người, coronavirus
Trang 4Mặc dù VAE hiện là cách giám sát được CDC khuyến cáo nhưng chỉ số đo cho bệnh nhân thở máy trong các ICU người lớn và y văn hiện có về phòng ngừa VAP
chủ yếu dựa trên các định nghĩa VAP trước đây thay vì định nghĩa VAE Một hướng
dẫn được bảo trợ bởi Ủy ban hỗn hợp (Joint Commission) và Hiệp hội bệnh viện Hoa Kỳ đã được công bố bởi Hiệp hội dịch tễ học chăm sóc sức khỏe Hoa Kỳ vào năm 2014 [11] Sáu yếu tố chính của phòng ngừa VAP đã được nêu trong tài liệu và được tóm tắt dưới đây:
Tránh đặt nội khí quản nếu có thể
Sử dụng thông khí áp lực dương không xâm lấn bất cứ khi nào khả thi đã được
chứng minh là làm giảm khả năng đặt nội khí quản và do đó giảm nguy cơ VAE [12] Cần thận trọng khi xem xét NIPPV để quản lý bệnh nhân giảm ý thức, tổn thương phổi cấp, ARDS, thiếu oxy nặng và toan máu nặng [13]
Giảm thiểu an thần
Khuyến cáo quản lý bệnh nhân thở máy mà không cần dùng thuốc an thần bất cứ khi nào có thể Quản lý kích động bằng cách giải quyết nguyên nhân gây kích động và tránh các thuốc benzodiazepine có thể làm giảm thời gian mang ống nội khí quản [14] Các nghiệm pháp cho bệnh nhân thức tỉnh tự nhiên hàng ngày khi không có chống chỉ định đã được nghiên cứu trong hai thử nghiệm ngẫu nhiên
có đối chứng cho thấy giảm sử dụng thuốc an thần và thời gian thở máy giảm
2-4 ngày [15, 16] Cuối cùng, nghiệm pháp thở tự nhiên có liên quan đến thời gian mang ống nội khí quản ngắn hơn, đặc biệt khi kết hợp với các nghiệm pháp thức
tỉnh [17]
Duy trì và c ải thiện tình trạng thể chất
Cho tập vận động và cử động sớm có liên quan đến rút nội khí quản nhanh hơn,
giảm thời gian nằm viện và tăng tỷ lệ hồi phục chức năng độc lập trong nhiều nghiên cứu [11] Các chương trình cử động sớm có thể tiết kiệm chi phí [18]
Gi ảm thiểu tích tụ dịch tiết trên bóng chèn ống nội khí quản
Sử dụng ống nội khí quản có cổng dẫn lưu dịch tiết dưới thanh môn cho bệnh nhân có khả năng cần mang ống nội khí quản hơn 48-72 giờ Một phân tích gộp cho thấy việc sử dụng ống nội khí quản có dẫn lưu dưới thanh môn làm giảm tỷ
lệ VAP xuống 55% đồng thời giảm thời gian nằm ICU trung bình 1.5 ngày [19] Tuy nhiên, việc giảm thời gian thở máy với dẫn lưu dịch tiết dưới thanh môn dường như chỉ giới hạn ở những bệnh nhân thở máy trong hơn 48-72 giờ [20] Việc xác định phân nhóm bệnh nhân cần ống dẫn lưu dịch tiết dưới thanh môn
có thể đặc biệt khó khăn vì không có khuyến cáo rút ống nội khí quản thông thường để đặt ống nội khí quản có dẫn lưu dịch tiết dưới thanh môn [11]
Nâng cao đầu giường
Nâng cao đầu giường 30-45° đã được đánh giá trong ba thử nghiệm ngẫu nhiên
Trang 5có đối chứng với tổng số chỉ 387 bệnh nhân [21-23] Chỉ có một thử nghiệm báo cáo tỷ lệ VAP giảm đáng kể là 76% [21] Tuy nhiên, một phân tích gộp ba nghiên
cứu đã tìm thấy ảnh hưởng đáng kể đến VAP [24] Hơn nữa, dinh dưỡng đường
ruột ở tư thế nằm ngửa làm tăng đáng kể nguy cơ phát triển VAP [21] Các hướng
dẫn lưu ý rằng không có đủ dữ liệu để xác định ảnh hưởng của nâng cao đầu giường lên thời gian thở máy hoặc tử vong, nhưng do tính đơn giản, phổ biến, nguy cơ tối thiểu, không tốn kém và lợi ích tiềm năng của can thiệp này nên nó được phân loại là một thực hành cơ bản trong khi chờ dữ liệu thêm [11]
Gi ữ bộ dây máy thở
Thay đổi bộ dây máy thở khi cần thiết thay vì theo lịch cố định không ảnh hưởng đến tỷ lệ VAP hoặc kết cục của bệnh nhân nhưng làm giảm chi phí Bộ dây máy thở chỉ nên được thay đổi nếu nhìn thấy dơ bẩn hoặc hỏng hóc [11]
Tóm t ắt về VAE
Giống như tất cả các định nghĩa giám sát mới, định nghĩa giám sát VAE giúp làm giảm tỷ lệ mới mắc VAP Dường như định nghĩa mới đã thành công trong việc làm giảm thời gian cần thiết để thu thập dữ liệu đồng thời làm tăng tính khách quan của
dữ liệu [25] Vì có thể bị nghi ngờ từ các hướng dẫn tập trung vào những biện pháp can thiệp để giảm số ngày thở máy, có ý kiến cho rằng nên tập trung trực tiếp vào việc làm giảm số ngày thở máy thay vì VAE [26]
Trường hợp 2
Một bệnh nhân nam 53 tuổi có tiền sử đái tháo đường nhập CCU sau khi trải qua cơn đau ngực sau xương ức đột ngột Sau khi bị bí tiểu, ông được đặt ống thông niệu đạo Bệnh nhân được chẩn đoán NSTEMI Vào ngày thứ 2 nằm viện, việc thông tim cho thấy bệnh nhân là một ứng viên cho phẫu thuật bắt cầu động mạch vành, điều này được hoàn thành vào ngày thứ 4 nằm viện Vào ngày thứ 5 nằm viện, ống thông đường tiểu được rút bỏ và bệnh nhân đã tự tiểu được Cũng vào ngày thứ 5 nằm viện, bệnh nhân bắt đầu phàn nàn về việc tiểu khó và tức trên khớp mu Phân tích nước tiểu dương tính và nuôi cấy nước tiểu mọc E coli 100,000 đơn vị hình thành khuẩn lạc (CFU)
Báo cáo v ề nhiễm trùng đường niệu liên quan đến catheter
Bệnh nhân trên được chẩn đoán nhiễm khuẩn đường niệu có triệu chứng Trường hợp này là một bệnh nhiễm khuẩn bệnh viện Yêu cầu báo cáo của CMS (Centers for Medicare & Medicaid Services) bao gồm hai loại CAUTI mắc phải tại bệnh viện khác nhau là CAUTI có triệu chứng và CAUTI không triệu chứng Đối với các định nghĩa dưới đây, tất cả các yếu tố phải được thỏa mãn trong khoảng thời gian cửa sổ nhiễm khuẩn 7 ngày bao gồm ngày chẩn đoán biến cố và 3 ngày trước và sau biến
cố [27]
Trang 6CAUTI có tri ệu chứng [27]
Tất cả ba tiêu chí phải được đáp ứng:
1 Bệnh nhân có ống thông trong lòng niệu đạo đã đặt trong >2 ngày so với ngày
xảy ra biến cố (ngày đặt thiết bị = ngày 1) VÀ vẫn còn lưu lại trong bất kỳ thời gian nào trong ngày xảy ra biến cố hoặc được rút bỏ ngày trước ngày diễn ra biến
cố
2 Bệnh nhân có ít nhất một trong các dấu hiệu hoặc triệu chứng sau: (a) sốt (> 38.0°C), (b) tức trên khớp mu, (c) đau hoặc tức góc sườn-đốt sống, (d) bí tiểu, (e) tiểu nhiều lần, và (f) khó tiểu
3 Bệnh nhân được nuôi cấy nước tiểu với không quá hai loài sinh vật, ít nhất một trong số đó là vi khuẩn có số lượng ≥100,000 CFU/mL
CAUTI không tri ệu chứng [27]
Tất cả ba tiêu chí phải được đáp ứng:
1 Bệnh nhân có hoặc không có ống thông trong lòng niệu đạo, không có dấu hiệu hoặc triệu chứng của nhiễm trùng niệu có triệu chứng
2 Bệnh nhân được nuôi cấy nước tiểu với không quá hai loài sinh vật, ít nhất một trong số đó là vi khuẩn có số lượng ≥100,000 CFU/mL
3 Bệnh nhân được cấy máu dương tính với ít nhất một loại vi khuẩn phù hợp với nuôi cấy nước tiểu Tất cả các yếu tố của tiêu chí CAUTI không triệu chứng phải
xảy ra trong giai đoạn cửa sổ nhiễm khuẩn
CAUTI
Khoảng 12-16% bệnh nhân nội trú người lớn sẽ có ống thông tiểu ở một thời điểm nào đó trong quá trình nằm viện [3] Mỗi ngày vẫn còn một ống thông tiểu, bệnh nhân có nguy cơ tăng 3-7% mắc CAUTI [28] Người ta ước tính rằng hàng năm có khoảng 35,000 đợt CAUTI trong ICU ở Hoa Kỳ [3] Tỷ lệ tử vong chung liên quan đến CAUTI đã được tính toán rơi vào khoảng 3% [29]
Vào tháng 4 năm 2013, Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Bệnh tật (CDC) đã công bố báo cáo tóm tắt dữ liệu của NHSN cho năm 2011 CAUTI trung bình gộp đối với các ICU dao động từ 1.2 trên 1000 ngày ống thông tiểu trong ICU nội ngoại khoa đến 4.1 trong ICU bỏng Tỷ lệ mắc không trong ICU dao động từ 1.3 đến 1.5 trên 1000 ngày ống thông tiểu trong các đơn vị nội khoa, ngoại khoa, hoặc hỗn hợp [29] Mặc dù đã có sự cải thiện nhẹ về tỷ lệ CAUTI, nhưng tiến độ chậm hơn nhiều
so với các bệnh nhiễm khuẩn khác liên quan đến thiết bị, chẳng hạn như nhiễm khuẩn dòng máu liên quan đến catheter trung tâm (CLABSI), đã cải thiện đáng kể Ước tính có 17-69% CAUTI có thể phòng ngừa được bằng cách thực hiện các thực hành dựa trên bằng chứng, tức là có thể phòng ngừa 380,000 nhiễm khuẩn và 9000
tử vong liên quan đến CAUTI mỗi năm [27]
Trang 7Phòng ng ừa CAUTI
Phòng ngừa CAUTI là nền tảng của việc giảm chi phí, tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong liên quan đến nó Nhiều việc đáng kể đã được thực hiện để xác định rõ ràng
yếu tố nào là quan trọng nhất để giảm CAUTI và kết quả vẫn chưa hoàn toàn rõ ràng Những việc hữu ích bao gồm giảm thiểu sử dụng và rút bỏ sớm ống thông tiểu, đây là công cụ hiệu quả nhất để giảm tỷ lệ CAUTI
Mặc dù có những chỉ định rõ ràng về việc sử dụng ống thông trong niệu đạo, nhưng việc tuân thủ các hướng dẫn này thường thấp hơn mức cần thiết [30] Có một
số lý do cho sự khác biệt này Trong đó, thói quen của bác sĩ và điều dưỡng là quan
trọng nhất Một nghiên cứu ở Scandinavi năm 2012 cho thấy việc rút bỏ sớm ống thông tiểu sau phẫu thuật lồng ngực không làm tăng nhu cầu đặt lại thông tiểu [31] Một nghiên cứu năm 2011 đã cho thấy không chỉ ống thông tiểu không cần thiết cho bệnh nhân sinh mổ mà còn không làm tăng nguy cơ bị bí tiểu hoặc không gây thêm khó khăn trong phẫu thuật nếu không sử dụng thông tiểu [32] Như có thể dự đoán, các nhà nghiên cứu đã trích dẫn tỷ lệ nhiễm khuẩn đường niệu cao hơn khi sử dụng thông tiểu [32] Mặc cho các nghiên cứu này, một nghiên cứu năm 2013 vẫn chỉ ra 26.1% bệnh nhân không có chỉ định thích hợp cho ống thông tiểu của họ [33] Tóm lại, ống thông tiểu chỉ đơn giản là sử dụng quá mức và nhiều khi được sử dụng vì lý
do không được chỉ định cho nó
Chiến lược phòng ngừa CAUTI phải tập trung vào các chỉ định rõ ràng cho việc đặt ống thông tiểu, duy trì hợp lý khi sử dụng và rút bỏ thông tiểu sớm Tuy nhiên,
việc tuân thủ các chiến lược này dường như là khác nhau Một cuộc khảo sát năm
2009 trên 25 bệnh viện cho thấy không có một chiến lược cụ thể nào đang được tất
cả các bệnh viện sử dụng Trong số các bệnh viện được khảo sát, 9% đã sử dụng
việc nhắc nhở để không đặt hoặc rút thông tiểu, 14% đã cố gắng sử dụng ống thông bao cao su, và 30% sử dụng việc đánh giá bàng quang để tránh đặt lại [34] Vào năm
2012, một nghiên cứu khác cho thấy những phát hiện tương tự - 9.5 đến 12.4% ICU
đã sử dụng các quy trình rút ống thông do điều dưỡng quyết định hoặc nhắc nhở ngừng sử dụng, 20% ống thông bao cao su được sử dụng, và 25.9% sử dụng việc đánh giá bàng quang [35] Nhiều hướng dẫn đã cố gắng chuẩn hóa các chiến lược
để phòng ngừa CAUTI Một cập nhật năm 2014 về các chiến lược ngăn ngừa CAUTI được công bố bởi Hiệp hội Dịch tễ học Chăm sóc sức khỏe Hoa Kỳ với sự bảo trợ của Ủy ban Hỗn hợp và Hiệp hội Bệnh viện Hoa Kỳ Các khuyến cáo được tóm tắt dưới đây [36]:
Cung c ấp nguồn lực phù hợp để phòng ngừa CAUTI
Khuyến cáo rộng này là một lời nhắc nhở rằng các nguồn lực thích hợp cần được dành riêng để phòng ngừa CAUTI Nguồn lực cần thiết bao gồm, nhưng không
giới hạn, việc cung cấp Hướng dẫn của bệnh viện về việc đặt, chỉ định và loại bỏ ống thông tiểu [37], sự sẵn có của nhân viên tuyến đầu được đào tạo theo Hướng
dẫn nói trên, cung cấp nguồn lực đầy đủ cho việc đặt ống thông, và hệ thống tài
Trang 8liệu hồ sơ y tế có khả năng tăng cường việc tuân thủ các Hướng dẫn [38]
Th ực hiện giám sát CAUTI
Sử dụng cơ chế báo cáo của NHSN cho CAUTI là cách tiếp cận thường được sử
dụng nhất để giám sát CAUTI Các bệnh viện có thể dễ dàng tính toán tỷ lệ nhiễm khuẩn của họ được tiêu chuẩn hóa cho các dân số mục tiêu khác nhau để đánh giá lãnh vực nào cần cải thiện
Cung c ấp giáo dục và đào tạo
Giáo dục nhân viên y tế bao gồm việc quản lý ống thông tiểu và đánh giá năng
lực của họ một cách liên tục Một nghiên cứu năm 2012 cho thấy thông qua giáo
dục và giám sát nâng cao, việc đặt ống thông tiểu có thể giảm đáng kể từ 18.5% xuống còn 9.2% [39]
Sử dụng kỹ thuật thích hợp để đặt ống thông tiểu
Nên sử dụng các kỹ thuật cơ bản sau: (1) Chỉ đặt ống thông tiểu khi cần thiết (2) Xem xét các phương pháp thay thế để quản lý bàng quang, chẳng hạn như đặt ống thông ngắt quãng hoặc các thiết bị thu thập nước tiểu bên ngoài (3) Thực hành vệ sinh tay khi quản lý ống thông tiểu (4) Sử dụng kỹ thuật đặt ống thông
vô khuẩn (5) Sử dụng găng tay vô khuẩn, khăn trải, xốp, dung dịch sát khuẩn,
và gói chất bôi trơn sử dụng một lần để đặt (6) Sử dụng ống thông nhỏ nhất có thể [36]
Đảm bảo quản lý thích hợp khi lưu ống thông trong niệu đạo
Nên sử dung các kỹ thuật lưu ống thông cơ bản sau đây: (1) Cố định ống thông đúng cách để ngăn ngừa chấn thương niệu đạo (2) Duy trì hệ thống thoát nước
tiểu khép kín, vô khuẩn (3) Thay thế ống thông và hệ thống lấy nước tiểu bằng
kỹ thuật vô khuẩn khi bị vỡ, mất liên tục, hoặc rò rỉ (4) Lấy mẫu nước tiểu khi
cần thiết từ cổng lấy mẫu có bộ chuyển đổi vô khuẩn sau khi làm sạch cổng bằng
chất khử khuẩn (5) Lấy lượng nước tiểu lớn hơn cho phân tích đặc biệt vô khuẩn
từ túi thu thập (6) Duy trì dòng thoát nước tiểu không bị tắc nghẽn (7) Vệ sinh tay một cách thường quy [36]
Mỗi bệnh viện cần có một nhóm đi đầu trong việc thực hiện các khuyến cáo là rất quan trọng để giảm tỷ lệ CAUTI Một nghiên cứu năm 2013 đã báo cáo giảm 50% việc sử dụng ống thông tiểu và giảm 70% tỷ lệ CAUTI bằng cách thực hiện một quy trình do điều dưỡng quyết định [40] Tương tự, một nghiên cứu khác báo cáo rằng việc sử dụng nhóm liên chuyên khoa hàng ngày để thực hiện các khuyến cáo trong ICU hỗn hợp có thể làm giảm đáng kể cả số ngày lưu thông tiểu (5304 so với 4541) và tỷ lệ CAUTI (4.71 so với 1.98 nhiễm khuẩn trên 1000 ngày ICU) [41]
Tóm tắt về CAUTI
CAUTI vẫn là một nhiễm khuẩn bệnh viện đầy thách thức Các định nghĩa giám sát
có tính đến việc một số bệnh nhân có thể bị nhiễm khuẩn không triệu chứng lâm
Trang 9sàng cũng như nhiễm khuẩn có triệu chứng Không có yếu tố đơn độc chịu trách nhiệm cho CAUTI, nhưng chắc chắn chúng không xảy ra khi không có ống thông Thông qua việc sử dụng, đặt, và quản lý ống thông theo thực hành dựa trên Hướng
dẫn hợp lý có thể làm giảm tỷ lệ CAUTI, giảm sử dụng ống thông có lẽ là biện pháp phòng ngừa CAUTI hiệu quả nhất
Trường hợp 3
Một phụ nữ 63 tuổi nhập CCU vào ngày 4 tháng 7 sau khi bị đau tim Một catheter trung tâm ở đùi được đặt trong phòng thông tim vào ngày nhập viện Vào ngày 7 tháng 7, đường trung tâm này được rút bỏ Vào ngày 8 tháng 7, một mẫu cấy máu
được thu thập vì bà bắt đầu lú lẫn, ớn lạnh và sốt 39 độ C Kết quả cấy máu là E faecalis Không có nguồn nhiễm khuẩn khác được xác định
Báo cáo v ề nhiễm khuẩn dòng máu liên quan đường trung tâm (CLABSI) mắc
ph ải tại bệnh viện
Bệnh nhân trên được chẩn đoán CLABSI mắc phải tại bệnh viện NHSN định nghĩa CLABSI cần có hai yếu tố chính: (1) Xét nghiệm xác nhận nhiễm khuẩn dòng máu với điều kiện đường trung tâm được đặt hơn hai ngày trước khi nuôi cấy dương tính
VÀ (2) điều kiện đường trung tâm phải còn vào ngày nuôi cấy hoặc ngày trước khi mẫu nuôi cấy được thu thập Ở bệnh nhân trên, đường trung tâm đã hiện diện trong
3 ngày Mặc dù mẫu nuôi cấy được thu thập vào ngày sau khi loại bỏ đường trung tâm, nhưng nó vẫn đủ điều kiện là một CLABSI tiềm năng Vì nhiễm khuẩn không
thể được quy cho một nguồn khác, nên nguồn nhiễm khuẩn này đã được báo cáo là CLABSI [42]
CLABSI
CLABSI là nguyên nhân chính của bệnh suất và chi phí trong các bệnh viện hiện đại Trong ICU Hoa Kỳ, phần lớn bệnh nhân có ít nhất một catheter tĩnh mạch trung tâm (CVC), với tổng số 15 triệu ngày CVC mỗi năm Có đến 80,000 nhiễm khuẩn dòng máu liên quan CVC (CRBSI) xảy ra trong các ICU Hoa Kỳ mỗi năm Các đợt nhiễm khuẩn này có liên quan độc lập với tăng chi phí và thời gian nằm viện, nhưng nhìn chung chúng không được chứng minh là làm tăng tỷ lệ tử vong một cách độc lập [43]
Phòng ng ừa CLABSI
Phòng ngừa CLABSI đòi hỏi một nỗ lực liên chuyên khoa Giáo dục, đào tạo, và nhân sự là rất quan trọng Các yếu tố có liên quan đến tăng tỷ lệ CLABSI bao gồm nhân lực không đảm bảo và thiếu chương trình giáo dục hiệu quả về việc đặt và lưu catheter [44] Nhân viên thực hiện đặt và lưu CVC phải được huấn luyện và đào tạo
Một nghiên cứu năm 2014 cho thấy các hệ thống y tế điện tử, tiêu chuẩn hóa bộ
dụng cụ đặt và đào tạo mô phỏng, tất cả đều làm giảm tỷ lệ CRBSI [45]
Trang 10Lựa chọn catheter và vị trí là rất quan trọng trong việc giảm tỷ lệ CLABSI Giảm
tỷ lệ nhiễm khuẩn do đặt catheter dưới đòn ngắn hạn nên được cân nhắc với nguy
cơ tràn khí màng phổi, thủng động mạch dưới đòn, rách tĩnh mạch dưới đòn, hẹp tĩnh mạch dưới đòn, tràn máu màng phổi, huyết khối và thuyên tắc khí [46] Mặc dù
một phân tích gộp năm 2012 cho thấy rằng không có sự khác biệt về tỷ lệ CLABSI
giữa các vị trí đặt catheter ở bệnh nhân ICU, nhưng nên tránh tĩnh mạch đùi ở bệnh nhân người lớn [47] Nên tránh tĩnh mạch dưới đòn ở bệnh nhân mắc bệnh thận tiến triển và bệnh nhân được lọc máu để tránh hẹp tĩnh mạch dưới đòn Khi đặt catheter, nên sử dụng hướng dẫn siêu âm nhưng chỉ được thực hiện bởi những người được đào tạo đầy đủ về kỹ thuật này [48] Nếu đặt catheter trong trường hợp khẩn cấp mà không tuân thủ nghiêm ngặt kỹ thuật vô khuẩn, catheter nên được thay thế càng sớm càng tốt, tối đa là trong vòng 48 giờ Lựa chọn loại catheter cũng quan trọng vì nguy
cơ nhiễm khuẩn tăng theo số lượng cổng hoặc nòng, bác sĩ lâm sàng nên sử dụng loại catheter với số lượng nòng cần thiết tối thiểu Khi một catheter không còn cần thiết, nó cần được rút bỏ Cách tốt nhất để tránh CLABSI là tránh các CVC không cần thiết, có thể bao gồm việc tạo đường thông nối (fistula) hoặc đặt mảnh ghép động tĩnh mạch ở bệnh nhân suy thận mạn Việc thay thế thường quy catheter không được khuyến cáo theo Hướng dẫn của IDSA để phòng ngừa nhiễm khuẩn catheter [46]
Vệ sinh tay và kỹ thuật vô khuẩn là rất quan trọng trong việc đặt và lưu catheter Khuyến cáo sử dụng các biện pháp phòng ngừa hàng rào vô khuẩn tối đa, bao gồm
mũ, khẩu trang, áo choàng vô khuẩn, găng tay vô khuẩn, và khăn trải toàn thân vô khuẩn để đặt catheter [49] Vị trí đặt phải được chuẩn bị bằng chế phẩm chlorhexidine 0.5% với cồn trước khi đặt catheter và khi thay băng [46]
Các vị trí lưu catheter là một phần của nỗ lực liên tục để ngăn ngừa CLABSI Sau khi sự rỉ dịch đã được kiểm soát với gạc thì băng trong suốt có thể được sử
dụng Băng trong suốt nên được thay đổi 7 ngày một lần Nếu băng trở nên ẩm ướt, lỏng lẻo hoặc nhìn thấy bẩn thì nó cần được thay thế Các vị trí catheter nên được theo dõi hàng ngày để tìm bằng chứng nhiễm khuẩn, điều này được thực hiện dễ dàng hơn bằng cách băng trong suốt [46]
Trong trường hợp tỷ lệ CLABSI vẫn còn là một vấn đề, băng keo xốp tẩm chlorhexidine có thể được sử dụng cho catheter ngắn hạn tạm thời Tương tự như vậy, có thể có một vai trò cho catheter và vòng bít (cuff) được tẩm thuốc kháng khuẩn hoặc khử khuẩn nếu các biện pháp phòng ngừa tiêu chuẩn bị thất bại Thuốc
mỡ kháng sinh hoặc thuốc kháng khuẩn, khóa và nắp đậy có thể đóng một vai trò trong các tình huống được chọn lọc [46]
Tóm tắt về CLABSI
Cách tốt nhất để tránh CLABSI là tránh sử dụng catheter không cần thiết Hướng
dẫn IDSA mở rộng về phòng ngừa nhiễm khuẩn catheter cung cấp các khuyến cáo như được tóm tắt ở trên để làm giảm gánh nặng chung của nhiễm khuẩn Kể từ khi