1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát đặc điểm của các biểu thức có ý nghĩa không gian trong tiếng việt

128 74 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và gần đây có một số công trình đáng chú ý nh- “Nghiên cứu giới từ định vị theo hướng ngữ dụng“ của Trần Quang Hải, “Ngôn ngữ học tri nhận, từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việ

Trang 1

Lời cảm ơn

Luận văn này đ-ợc hoàn thành d-ới sự giúp đỡ nhiệt tình của Tiễn sĩ Nguyễn Hồng Cổn Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy, ng-ời đã trực tiếp chỉ bảo, h-ớng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành luận văn này Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tập thể các thầy cô Khoa Ngôn ngữ học, tr-ờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,

Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo những điều kiện thuận lợi cho việc học tập và nghiên cứu của em trong thời gian em học tập tại Khoa

Tôi xin cảm ơn tất cả các đồng nghiệp và bạn bè, những ng-ời đã nhiệt tình giúp tôi s-u tầm tài liệu và đã có những đóng góp quý báu cho luận văn này Cuối cùng, tôi xin cảm ơn những ng-ời thân trong gia đình đặc biệt là bố mẹ và chồng tôi đã ủng hộ cả về tinh thần cũng nh- vật chất để tôi hoàn thành luận văn này

Thanh Hoá, tháng 8 năm 2005

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Thanh Bình

Trang 2

lêi cam ®oan

T«i xin cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu cña riªng t«i C¸c kÕt qu¶ ®-îc ®-a ra trong luËn v¨n nµy lµ trung thùc vµ ch-a ®-îc c«ng bè trong bÊt kú c«ng tr×nh nghiªn cøu nµo kh¸c

Thanh Ho¸, th¸ng 8 n¨m 2005

T¸c gi¶ luËn v¨n

Hoµng ThÞ Thanh B×nh

Trang 3

mục lục

mở đầu

1 Lý do chọn đề tài……… … 1

2 Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu……… 2

3 Mục đích và ý nghĩa của đề tài ……… 3

4 Ph-ơng pháp nghiên cứu và t- liệu nghiên cứu……….… 3

5 Bố cục của luận văn……… 3

Ch-ơng I: Cơ sở lý thuyết và tình hình nghiên cứu 1 Cơ sở lý thuyết……….… 5

1.1 Khái niệm không gian và không gian trong ngôn ngữ……… 5

1.2 Khái niệm BTKG và tiêu chí nhận diện ……….… 7

1.3 Phân loại BTKG……… 12

2 Tình hình nghiên cứu về các BTKG 15

2.1 BTKG trong ngữ pháp truyền thống……… 15

2.2 BTKG trong ngữ pháp cấu trúc……… 21

2.3 BTKG trong ngữ pháp chức năng……… 26

ch-ơng II: khảo sát các biểu thức định vị không gian 1 Đặc điểm ngữ nghĩa của các BTĐVKG……… 30

1.1 Định vị và các đặc điểm định vị không gian……… ……… 31

1.2 Vai nghĩa của các BTĐVKG trong cấu trúc câu……… 33

2 Đặc điểm hình thức của các BTĐVKG……… 38

2.1 Các BTĐVKG là đại từ……… 38

2.2 Các BTĐVKG là danh từ, danh ngữ……… 40

2.3 Các BTĐVKG là giới ngữ……… 41

Trang 4

3 Đặc điểm chức năng của các BTĐVKG……… 48

3.1 Các BTĐVKG làm trạng ngữ……… 48

3.2 Các BTĐVKG làm bổ ngữ……… 50

3.3 Các BTĐVKG làm chủ ngữ……… 52

* Tiểu kết……… 53

ch-ơng III: Khảo sát các bểu thức định h-ớng không gian 1 Đặc điểm ngữ nghĩa của các BTĐHKG 54

1.1 Khái niệm định h-ớng không gian……… 54

1.2 Phân biệt h-ớng đích và h-ớng nguồn……… 54

1.3 Những động từ có mối quan hệ với các BTĐHKG………56

1.4 Vai nghĩa của các BTĐHKG trong cấu trúc câu………60

2 Đặc điểm hình thức của các BTĐHKG……… 64

2.1 Các BTĐHKG là đại từ……… 64

2.2 Các BTĐVKG là danh từ, danh ngữ……… 65

2.3 Các BTĐVKG là giới ngữ……… 66

3 Đặc điểm chức năng của các BTĐHKG……….69

3.1 Các BTĐHKG làm bổ ngữ……….69

3.2 Các BTĐHKG làm vị ngữ phụ……… 72

* Tiểu kết……… 77

Kết luận 78

tài liệu tham khảo……….81

nguồn trích dẫn t- liệu 84

phụ lục………85

Trang 5

Một số ký hiệu và tr-ờng hợp viết tắt

Dấu -> : Biểu thị sự suy luận

BT : Viết tắt của biểu thức

BTKG : Viết tắt của biểu thức không gian

BTĐVKG : Viết tắt của biểu thứcđịnh vị không gian

BTĐHKG : Viết tắt của biểu thứcđịnh h-ớng không gian

ĐTQC : Viết tắt của đối t-ợng quy chiếu

ĐTĐV : Viết tắt của đối t-ợng định vị

Trang 6

bàn, nằm một đứa con trai) của tiếng Anh khi dịch sang tiếng Việt sẽ là:

“Dưới sàn nhà, giữa cái sofa và cái bàn, là một đứa con trai“ Cách quan

niệm của ng-ời Việt thì sàn nhà là ở phía d-ới so với trần nhà là ở phía trên,

và từ góc nhìn của ng-ời quan sát thì sàn nhà cũng thấp hơn so với anh ta vì

vậy là ở D-ới Hay nh- ngay trong tiếng Việt giữa hai câu (a) “Cá dưới sông“ và (b) “Cá ở sông này to lắm“ cũng rất khác nhau trong cách định vị

ở câu (a), vị trí của ng-ời quan sát cao hơn vị trí của vật đ-ợc định vị mà cụ

thể ở đây là “sông“.Còn ở câu (b) thì ng-ời quan sát có thể là đang bơi lặn ở

d-ới dòng sông ấy và phát ngôn ra câu nói trên Và cũng có thể đ-ợc hiểu là ng-ời quan sát đang ở vị trí cao hơn sông, nói câu nói đó với một ng-ời đối thoại

Tiếng Việt là một ngôn ngữ phong phú về cách biểu thị quan hệ không gian

nên cũng trong một phát ngôn “Cầu thủ A ra sân“ nó có thể đ-ợc hiểu theo

hai cách: - Cầu thủ A ra sân thay cho cầu thủ B (h-ớng đích)

- Cầu thủ A ra sân để cầu thủ B vào (h-ớng nguồn)

Nh- vậy, để nắm rõ đ-ợc cách định vị hoặc định h-ớng không gian của ng-ời Việt là rất khó

Từ tr-ớc đến nay lĩnh vực nghiên cứu các từ, ngữ chỉ không gian ch-a

đ-ợc các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều, và phần lớn mới chỉ tập trung sự chú

ý vào ph-ơng diện cấu trúc với t- cách là trạng ngữ trong câu (Bùi Đức Tịnh

trong “Văn phạm Việt Nam“, Nguyễn Lân trong “Ngữ pháp Việt Nam“,

Trang 7

Hoàng Trọng Phiến trong “Ngữ pháp tiếng Việt“, Nguyễn Kim Thản trong

“Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt“…) Và gần đây có một số công trình đáng chú ý nh- “Nghiên cứu giới từ định vị theo hướng ngữ dụng“ của Trần Quang Hải, “Ngôn ngữ học tri nhận, từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt“ của Lý Toàn Thắng… Về đại thể, có thể nói rằng những tìm tòi

của Lý Toàn Thắng h-ớng ng-ời ta đi đến một nhận thức chung là rất có thể những cách thức định vị không gian của tiếng Việt đã bộc lộ một “cách nhìn khác” về thế giới của người Việt Còn những tìm tòi của Trần Quang Hải chủ yếu nhằm đ-a ra một số cách thức định vị có tính khác biệt giữa giới từ định

vị không gian tiếng Anh trong t-ơng quan so sánh với tiếng Việt Xét trong mối t-ơng quan đó, việc có một công trình nghiên cứu về đặc điểm của các biểu thức không gian trong tiếng Việt là rất cần thiết Nghiên cứu các biểu

thức không gian ở tất cả các đặc điểm ngữ nghĩa, hình thức, chức năng có

thể góp phần giải quyết một số vấn đề đang tranh cãi giữa các nhà nghiên cứu

từ tr-ớc đến nay và cũng khắc phục đ-ợc những hạn chế khi nghiên cứu chúng

ở từng đặc điểm riêng lẻ

Để góp phần làm sáng tỏ những vấn đề trên, trong luận văn của mình

chúng tôi mạnh dạn đi vào “Khảo sát đặc điểm của các biểu thức có ý nghĩa không gian trong tiếng Việt“ nhằm phát hiện ra những đặc tr-ng của loại

biểu thức này trong tiếng Việt

2 Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu

Đối t-ợng nghiên cứu của luận văn là các từ, ngữ có ý nghĩa không gian trong tiếng Việt Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là chúng tôi chỉ xem xét các từ, ngữ chỉ không gian một cách cô lập mà luôn đặt chúng vào ngữ cảnh

sử dụng là câu, bởi vì chỉ ở câu, các biểu thức không gian mới bộc lộ rõ nhất

đặc điểm của chúng

Trong khi nghiên cứu các biểu thức không gian chúng tôi chỉ giới hạn

sự phân tích ở hai bình diện cú pháp và ngữ nghĩa Bình diện dụng học, trong một số tr-ờng hợp cần thiết cũng đ-ợc phân tích để làm sáng tỏ thêm các bình

Trang 8

diện cấu trúc và ngữ nghĩa nh-ng đó không phải là mối quan tâm chính của luận văn

3 Mục đích và ý nghĩa nghiên cứu

Luận văn của chúng tôi đi vào khảo sát đặc điểm của các biểu thức có ý nghĩa không gian trong tiếng Việt Đề tài của luận văn h-ớng đến những mục

đích cụ thể sau:

- Tổng kết các quan niệm khác nhau của các tác giả có đề cập đến các

từ chỉ không gian trong tiếng Việt, từ đó xây dựng một cơ sở lý thuyết có hiệu lực để xem xét các biểu thức không gian trong tiếng Việt

- Trên cơ sở lý thuyết đó, tiến hành nhận diện và đi sâu miêu tả một cách có hệ thống đặc điểm của các biểu thức không gian trong tiếng Việt trên bình diện cú pháp và ngữ nghĩa

- Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần giải quyết những tranh cãi giữa các tác giả về các từ, ngữ chỉ không gian trong tiếng Việt và có những

đóng góp nhất định cho việc nghiên cứu và giảng dạy về các biểu thức không gian tiếng Việt

4 Ph-ơng pháp nghiên cứu và t- liệu nghiên cứu

Trong luận văn này, ngoài hai ph-ơng pháp nghiên cứu chung là ph-ơng pháp quy nạp và diễn dịch chúng tôi còn sử dụng nhiều ph-ơng pháp nghiên cứu nh-: miêu tả, thống kê, phân tích cấu trúc, phân tích chức năng, so sánh đối chiếu…

T- liệu của luận văn bao gồm 656 câu trích dẫn từ các tác phẩm văn học nghệ thuật trong đó có 294 câu chứa các biểu thức định vị không gian và

362 câu chứa các biểu thức định h-ớng không gian Ngoài ra, chúng tôi cũng

sử dụng một số câu t- liệu lấy từ các công trình nghiên cứu của các tác giả khác hoặc từ thực tế Các câu này đều chứa biểu thức định vị không gian hoặc biểu thức định h-ớng không gian và tất cả đều đ-ợc phân tích về mặt định tính hoặc định l-ợng hoặc cả hai để phục vụ cho mục đích nghiên cứu

5 Bố cục của luận văn

Trang 9

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba ch-ơng với nội dung chính nh- sau:

Ch-ơng I: Cơ sở lý thuyết và tình hình nghiên cứu

Trong ch-ơng này chúng tôi trình bày những quan điểm, những khái niệm lý thuyết có liên quan đến các biểu thức không gian trong tiếng Việt, trên cơ sở đó đ-a ra cách tiếp cận và h-ớng phân loại các biểu thức không gian của mình

Ch-ơng II: Khảo sát các biểu thức định vị không gian

Trong ch-ơng này chúng tôi tiến hành phân tích, miêu tả đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của các biểu thức định vị không gian trong tiếng Việt để từ

đó đ-a ra cách nhận diện các biểu thức định vị không gian

Ch-ơng III: Khảo sát các biểu thức định h-ớng không gian

Cũng nh- ch-ơng II, chúng tôi tiến hành phân tích, miêu tả đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của các biểu thức định h-ớng không gian để từ đó đ-a

ra cách nhận diện chúng

Ngoài ra, luận văn còn có mục tài liệu tham khảo, t- liệu trích dẫn, mục lục và phụ lục t- liệu

Trang 10

Ch-ơng I:

cơ sở lý thuyết và Tình hình nghiên cứu

1 Cơ sở lý thuyết

1.1 Khái niệm không gian và không gian trong ngôn ngữ

1.1.1 Không gian là phạm trù đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử nhận

thức Ngay từ rất xa x-a ng-ời ta đã hiểu rằng bất kỳ một khách thể vật chất nào cũng đều chiếm vị trí nhất định, ở vào một khung cảnh nhất định trong t-ơng quan về mặt kích th-ớc so với các khách thể khác…Các hình thức tồn tại nh- vậy của vật thể đ-ợc gọi là không gian

Trong triết học phạm trù không gian đ-ợc định nghĩa là: “Mọi sự vật trong thế giới vật chất đều có vị trí, có hình thức kết cấu, có độ dài ngắn cao thấp Tất cả những cái đó đ-ợc gọi là không gian Không gian là hình thức tồn tại của vật chất biểu hiện những thuộc tính nh- cùng tồn tại và tách biệt, có kết cấu và quảng tính“.(Triết học Mác – Lê nin, Tập 1 – NXB GD)

Không gian theo nghĩa rộng là tất cả những gì của vật chất tồn tại, nó có thuộc tính về hình thể, khối l-ợng, kích th-ớc, có độ sâu, chiều cao, bề dày, không gian bao gồm mọi vật tách biệt cái này với cái kia, các vật thể có một

khoảng rộng nhất định đều liên quan đến không gian

1.1.2 Không gian theo nghĩa hẹp là không gian đ-ợc nghiên cứu trong

từng lĩnh vực cụ thể Và không gian trong ngôn ngữ rất khác với không gian vật lý khách quan trong nhận thức khoa học, cũng nh- không gian chủ quan

tồn tại trong đầu óc con ng-ời với tính cách nh- là một chủ thể nhận thức

“Chúng ta trải nghiệm thế giới bằng những cách thức mà sự tạo thành sinh học của chúng ta đã xác định Chúng ta đ-ợc cho biết rằng có một thế giới bên ngoài với những chi phối của các quy tắc vật lý Nh-ng những gì mà chúng ta trải nghiệm lại không nhất thiết là một thế giới có luật lệ về mọi ph-ơng diện Chúng ta đ-ợc biết rằng có các nguyên tử, nh-ng chúng ta chẳng bao giờ nhìn thấy chúng, chúng ta đ-ợc dạy rằng có trọng lực nh-ng chúng ta

Trang 11

chỉ thấy các quả táo rơi từ trên cây rơi xuống, chúng ta đ-ợc dạy rằng trái đất thì tròn và chuyển động không ngừng, nh-ng hình nh- là nó đứng yên và bằng phẳng d-ới chân ta; chúng ta đ-ợc dạy rằng trái đất chuyển động quanh mặt trời, nh-ng sáng nào ta cũng thấy mặt trời mọc lên từ đằng chân trời và tối nào cũng lặn xuống, chẳng phải là trái đất chuyển động” (Dẫn theo luận án Tiến

sĩ “Ngữ nghĩa của giới từ chỉ không gian tiếng Anh trong sự so sánh đối chiếu với tiếng Việt“ của tác giả Lê Văn Thanh)

Những lời trích dẫn từ công trình The Grammar of Space của Svorow

(1994) của tác giả Lê Văn Thanh đã cho ta thấy sự khác biệt giữa không gian vật lý và không gian nhận thức T-ơng tự nh- vậy, giữa không gian nhận thức

và không gian đ-ợc biểu đạt trong ngôn ngữ cũng có những sự khác biệt nhất

định Có thể nói rằng không gian trong ngôn ngữ không phản ánh toàn bộ không gian nhận thức mà là một sự phản ánh có chọn lọc và chịu sự chi phối của hệ thống ngôn ngữ, đặc biệt là sự chi phối xuất phát từ những khả năng hạn chế của ngôn ngữ

Cấu trúc ngữ nghĩa không gian trong ngôn ngữ đ-ợc diễn đạt một cách tuyến tính Điều này có nghĩa là không gian ngôn ngữ là một sự bố trí, sắp xếp lại theo ngôn ngữ một phần của không gian nhận thức Chính vì vậy, trong bài

viết “Ngôn ngữ và sự tri nhận không gian“ Lý Toàn thắng đã viết: Khi nghiên cứu về không gian, cần phân biệt ba khái niệm khác nhau: (a) Không gian khách quan của thế giới vật lý bên ngoài con ng-ời (b) Không gian chủ quan là kết quả của sự tri nhận không gian khách quan, tồn tại trong đầu óc con người, thường được gọi là “không gian được tri giác“ hoặc “không gian

đ-ợc phản ánh Và (c) không gian đ-ợc biểu đạt trong ngữ nghĩa của các từ chỉ không gian, đ-ợc gọi là không gian trong ngôn ngữ“

Hiện nay ch-a có một công trình nghiên cứu ngôn ngữ nào xác định đủ

rõ cái gọi là "không gian" trên thực tế bao gồm những thuộc tính và quan hệ

gì? Tuy nhiên, dựa vào một số nghiên cứu khá cơ bản về ngữ nghĩa của các từ không gian, ta có thể kể ra các thuộc tính và quan hệ không gian sau:

Trang 12

a Thuộc tính:

- Hình dáng đ-ợc biểu thị trong ngôn ngữ bằng các từ không gian nh-:

tròn, vuông, ngoằn, ngoèo, mẫu, viên, cục

- Kích cỡ đ-ợc biểu thị bằng các từ nh-: nhỏ, to, ngắn, dài, mênh mông, rộng

- T- thế trong không gian đ-ợc biểu thị bằng các từ nh-: ngồi, nghiêng, chênh vênh

- Chiều không gian: sự vật đ-ợc hình dung nh- có một chiều (điểm) hai chiều (đ-ờng thẳng) hoặc ba chiều (khối)

b Quan hệ không gian:

- Khoảng cách đ-ợc biểu thị bằng các từ nh-: xa, gần, sát, đến, từ

- Nơi chốn đ-ợc biểu thị bằng các từ nh-: trên, d-ới, trong, ngoài, bên, kia, chỗ

- Ph-ơng h-ớng đ-ợc biểu thị bằng các từ nh-: ra, sang, về

Trong phạm vi luận văn, chúng tôi sẽ chỉ xét đến các quan hệ không gian mà cụ thể ở đây là quan hệ định vị (địa điểm) và quan hệ định h-ớng (chỉ h-ớng)

1.2 Khái niệm biểu thức không gian và tiêu chí nhận diện

1.2.1 Khái niệm BTKG:

Biểu thức không gian là những từ, ngữ chỉ sự vật tồn tại trong một khoảng không gian nhất định và tham gia vào vai trò làm thành phần ngữ pháp trong câu, ngoài câu chúng không còn là các biểu thức không gian mà chỉ là những từ, ngữ có ý nghĩa từ vựng đơn thuần

1.2.2 Tiêu chí nhận diện

1.2.2.1 Tiêu chí về nội dung

- Biểu thức định vị không gian

Trang 13

Định vị là một khái niệm biểu thị yêu cầu miêu tả đặc điểm không gian của sự vật Đây cũng là nhu cầu nhận thức và nhu cầu biểu đạt thế giới xung quanh của con ng-ời

Cùng với tiêu chí về hình thức và chức năng thì tiêu chí về nội dung là tiêu chí quan trọng nhất để xác định các BTĐVKG Dựa vào mối quan hệ của vật đ-ợc định vị và vật đ-ợc quy chiếu, các BTĐVKG có thể có các quan hệ sau:

+ Quan hệ về vị trí của chủ thể Chẳng hạn:

Trinh ở trên gác có lối đi riêng, Ngạn ở d-ới nhà

(T402 - Nhìn ng-ời ta sung s-ớng - Nam Cao)

+ Quan hệ về vị trí của đối thể Chẳng hạn:

Ông chủ để đĩa cơm ở giữa sân

(T32 - Răng con chó của nhà t- sản - Nguyễn Công Hoan)

+ Quan hệ về địa điểm xảy ra hành động, sự kiện Chẳng hạn:

Đứng ở cổng, trông vào trong nhà, bác thấy gạch tây đánh bóng lộn, sập gụ, tủ chè, g-ơng đứng, gi-ờng tây, thật có vẻ đỉnh chung, sung s-ớng

(T49 - Hai thằng khốn nạn - Nguyễn Công Hoan)

+ Quan hệ về địa điểm, nơi chốn tồn tại sự vật, hiện t-ợng Chẳng hạn:

Trong nhà còn có ng-ời nói chuyện

(T509 - Hai ng-ời ăn tết lạ - Nam Cao)

Nhờ vào các quan hệ mà ta có thể phân biệt đ-ợc đâu là BTKG đâu

không phải là BTKG Chẳng hạn, cũng là từ “nhà“ nh-ng “nhà“ trong hai

câu sau đây là khác nhau:

a Tôi đang ở nhà

b Nhà này của tôi

Trong tr-ờng hợp a “nhà“ là BTKG vì nó chỉ ra vị trí tồn tại của chủ thể “tôi“ ở tr-ờng hợp b “Nhà này“ là vật sở hữu của chủ thể “tôi“

Trang 14

Hoạt động có h-ớng là hoạt động vận động (di chuyển) của một chủ thể

đang h-ớng tới hoặc rời khỏi một địa điểm trong không gian

Quá trình vận động h-ớng tới một địa điểm trong không gian của chủ thể còn gọi là h-ớng đích và ng-ợc lại, quá trình vận động rời khỏi của chủ thể đ-ợc gọi là h-ớng nguồn hay h-ớng xuất phát

+ Biểu thức định h-ớng không gian chỉ đích Chẳng hạn:

Hơi thấy bóng hắn ra đình, là các ông nói móc ngay

(T188 - Đôi móng giò - Nam Cao)

+ Biểu thức định h-ớng không gian chỉ nguồn Chẳng hạn:

Còn bản chính, tôi vẫn giữ để đợi đến ngày tôi rời Việt Nam sẽ bán lại cho cô

(T590 - Chuyện của cô ấy - Nguyễn Công Hoan)

1.2.2.2 Tiêu chí về hình thức

Các BTKG xét về mặt hình thức rất đa dạng, nó có thể đ-ợc cấu tạo từ

đơn giản đến phức tạp, nó có thể là từ hoặc là ngữ

+ Biểu thức không gian là đại từ Ví dụ:

Đây là cái v-ờn mà ông cụ thân sinh ra anh đã cố để lại cho anh trọn

Trang 15

vẹn, cụ thà chết không chịu bán đi một sào

(T207 - Lão Hạc - Nam Cao)

Đó là một khoảng đất con con ở sát t-ờng

(T323 - Ng-ời hàng xóm - Nam Cao) Cũng là “Đây“ nh-ng trong câu sau nó không phải là BTKG mà là từ

tình thái

Tôi đi chợ đây

Hay nh- trong câu:

Anh đến đây

Thì “đây“ sẽ cho chúng ta hai cách hiểu: là từ tình thái hoặc là BTKG

Để xác định “đây“ là BTKG chúng tôi làm một thao tác nhỏ: đặt sau

“đây“ từ tình thái “đi“

Anh đến đây đi!

“Đây“ trong tr-ờng hợp này đã trở thành BTKG chỉ đích

Còn “đây“ là từ tình thái khi ta đặt tr-ớc nó từ chỉ thời gian “bây

giờ“

Anh đến bây giờ đây!

+ Biểu thức không gian là danh từ Ví dụ:

Ông tr-ơng ơi, ông làm ơn mở cổng cho tôi đánh trâu ra đồng

(T479 - Tắt đèn - Ngô Tất Tố) Thôi khuya rồi, cháu phải về nhà

(T73 - Ngựa ng-ời và ng-ời ngựa - Nguyễn Công Hoan) + Biểu thức không gian là danh ngữ Ví dụ:

Chị Dậu về đến cổng đình, vừa thấy tiếng ông lý cựu quát vang trong đình

(T516 - Tắt đèn - Ngô Tất Tố)

Trang 16

+ Biểu thức không gian là giới ngữ Ví dụ:

Thì bỗng một buổi sáng ng-ời ta thấy một mảnh giấy con con dán ở cửa đình

(T371 - Rửa hờn - Nam Cao) Ngoài sân, trời vẫn m-a, vẫn gió và giá nh- cắt

(T622 “ Quà tết bộ đội “ Ngô Tất Tố)

(T402 - Nhìn ng-ời ta sung s-ớng - Nam Cao) Trong nhà còn có ng-ời nói chuyện

(T509 - Hai ng-ời ăn tết lạ - Nguyễn Công Hoan)

- Bổ ngữ:

Chắc là mẹ tôi ra ao

(T319 - Một chuyện Xú - vơ - nia - Nam Cao) D-ới bức chấn song ở phía sau đình, một chiếc mâm cao sơn đỏ chễm chệ kê giữa mảnh chiếu rách cạp

(T465 - Miếng thịt giỗ hậu - Ngô Tất Tố) Tôi trọ học ở tỉnh lỵ cách hàng chừng 15 cây số

(T23 - Những cánh hoa tàn - Nam Cao)

- Chủ ngữ:

Trang 17

Ngoài tr-ờng lại càng rét dữ

(T158 - Lều chõng - Ngô Tất Tố) Trong buồng im lặng

(T426 “ Lang rận “ Nam Cao)

1.3 Phân loại biểu thức không gian

Nh- chúng ta đã thấy việc xác định các BTKG trong tiếng việt ở c-ơng

vị làm thành phần câu là rất khác nhau giữa các nhà nghiên cứu Sự khác nhau

đó không chỉ xuất phát từ bản thân chúng mà còn xuất phát từ các h-ớng tiếp cận khác nhau của các tác giả Chính vì vậy, khi đi vào khảo sát các BTKG trong tiếng việt trên ph-ơng diện cấu trúc và chức năng chúng tôi không khỏi gặp phải những khó khăn nh-ng dù sao chăng nữa, chúng tôi cũng phải đ-a ra cách phân loại và h-ớng giải quyết của mình nh- sau:

1.3.1 Về hình thức:

Chúng tôi cũng nh- đa số các tác giả đều đồng ý rằng các BTKG có thể

là đại từ, danh từ, danh ngữ, giới ngữ

Các BTKG khi là đại từ Ví dụ:

Đấy là cái ao ở đằng sau nhà, đâu có phải là nhà bà phó Sâm

(T143 - Ma đ-a - Nam Cao) Đây là chỗ thả diều

(T388 - Một chuyện xú-vơ-nia - Nam Cao)

Các BTKG là giới ngữ Ví dụ:

Hàn hay đến thổi chim ở sau chùa

(T395 “ Một chuyện Xú - vơ - nia - Nam Cao)

1.3.2 Về chức năng

ở vai trò làm thành tố cấu tạo câu, các BTKG từ tr-ớc đến nay vẫn đ-ợc các tác giả quan niệm và phân loại rất khác nhau Theo quan niệm của mình, sau đây chúng tôi đi vào giải quyết những tr-ờng hợp vẫn gây nhiều tranh cãi giữa các học giả

Trang 18

Đối với nhữmg câu nh-:

- Trong nhà có khách

- Trong túi có tiền

- ở túi áo lấp lánh cây bút máy

Chúng tôi cho rằng đây là những câu có chủ ngữ đứng sau, BTKG ở đầu câu có t- cách là trạng ngữ nh- có thể thấy qua các cải biến sau đây:

- Trong túi có tiền

- Tiền còn trong túi

- Trong túi tiền còn (chứ giấy tờ không còn)

Đối với những câu nh-:

Với những câu:

- Ngoài tr-ờng lại càng rét dữ

(T518 “ Lều chõng “ Ngô Tất Tố) Chúng tôi cũng xếp vào loại có chủ ngữ đứng đầu câu

Có thể xác định BTKG đứng đầu câu là chủ ngữ bởi hai lý do:

Thứ nhất: Không thể l-ợc bỏ mà không ảnh h-ởng đến tính trọn vẹn của câu

Thứ hai: Chúng có khả năng làm bổ ngữ khi đ-a vào khuôn kiến trúc nguyên nhân hoá

Với những câu:

- ở túi áo gài cây bút máy

- Nơi đây sống một ng-ời tóc bạc

Trang 19

BTKG đầu câu là bổ ngữ bắt buộc, còn chủ ngữ đứng cuối câu Ta cũng

có thể cải biến chủ ngữ về phía tr-ớc So sánh:

- ở túi áo gài cây bút máy

BN CN

- Cây bút máy gài ở túi áo

CN BN

Với những câu:

Đến nhà ga, hắn thở hồng hộc nh- một ng-ời vừa đuổi trận

(T408 - Ng-ời hàng xóm - Nam Cao) Đến tr-ớc cổng hiệu thịt quay, Hộ dừng lại

(T89 - Đời thừa - Nam Cao)

Đ-ợc chúng tôi coi là vị ngữ phụ có động từ chuyển động làm trung tâm, chúng có thể l-ợc bỏ mà không ảnh h-ởng đến tính trọn vẹn của câu

1.3.3 Về ý nghĩa

Các biểu thức định vị không gian chiếm tỷ lệ khá cao trong các phiếu t- liệu mà chúng tôi khảo sát đ-ợc Ví dụ:

Câm không thấy Hiền ở trong nhà, lại hớt hơ hớt hải chạy ra

(T331 - Ng-ời hàng xóm - Nam Cao)

Về huyện Thanh Trì, cách tỉnh Hà Nội độ m-ơi cây số, ở giữa làng XX

có một cái nhà cổ

(T5 - Sóng vũ môn - Nguyễn Công Hoan)

Các biểu thức định h-ớng không gian Ví dụ:

ở đây, từ đầu cổng cho đến xó bếp, toàn là những vẻ vui mừng

(T10 - Lều chõng - Ngô Tất Tố) Thôi khuya rồi, cháu phải về nhà

(T73 - Ngựa ng-ời và ng-ời ngựa - Nguyễn Công Hoan) Phải, tôi đã có lần đi ô tô từ Nam Định sang Hải Phòng

(T378 - Chuyến tàu Nam - Nguyễn Công Hoan)

Trang 20

Phải nói rằng, vấn đề nghiên cứu các BTKG của các nhà ngôn ngữ học

từ tr-ớc đến nay còn bó hẹp trong phạm vi trạng ngữ cũng nh- ở ph-ơng diện cấu trúc Để khảo sát một cách toàn diện và bao quát đ-ợc mọi mặt của chúng, chúng tôi sẽ đi theo h-ớng tiếp cận mới - đó là khảo sát trên cả ba ph-ơng diện: ngữ nghĩa, hình thức và chức năng

2 Tình hình nghiên cứu về các BTKG

2.1 BTKG trong ngữ pháp truyền thống

Trong tiếng việt, từ lâu các nhà nghiên cứu đã chú ý đến các BTKG

nh-: đây, kia , trong nhà, ngoài sân, (đi) ra phố Tuy nhiên, trong khuôn

khổ của ngữ pháp truyền thống, các tác giả mới chỉ tập trung nghiên cứu các biểu thức này ở ph-ơng diện cấu trúc với t- cách là các trạng ngữ trong câu

mà ch-a đi sâu tìm hiểu các ph-ơng diện ngữ nghĩa - chức năng của chúng

Chẳng hạn, khi đề cập đến chức năng làm trạng ngữ, các tác giả cuốn

"Việt Nam văn phạm" cho rằng: Trạng từ là những từ chỉ thời gian, nơi chốn, nguyên nhân, mục đích, ph-ơng tiện phụ thuộc vào động từ, tính từ (làm vị ngữ) và có thể đứng sau hay đứng tr-ớc những từ ấy, hoặc đứng đầu câu Ví dụ: Chiều hôm qua, vì trời nóng quá, tôi ăn cơm ở giữa sân, ngon miệng vô cùng (những từ in nghiêng theo quan niệm này, đều là trạng ngữ) Nh- vậy,

những tr-ờng hợp trạng ngữ đi sát với động từ nh-:

Và những tr-ờng hợp trạng ngữ đứng tách biệt ở đầu câu nh-:

- Chiều hôm qua, tôi ăn cơm

- Vì anh, nó phải mắng

đều đ-ợc các tác giả theo quan niệm trên gộp chung vào một loại và gọi bằng trạng từ

Trang 21

Quan niệm về trạng ngữ nh- vậy là không thuần nhất vì nh- các tác giả quan niệm thì nó vừa có quan hệ với động từ lại vừa có quan hệ với cả nòng cốt câu Trong khi đó, trạng ngữ là thành phần phụ của câu, không phụ thuộc vào bất cứ thành phần nào trong câu (kể cả chủ ngữ và vị ngữ), nó có quan hệ với cả nòng cốt câu

Vì thế không thể nào cho rằng, chẳng hạn ở Hà Nội trong hai câu:

- ở Hà Nội, sinh viên các tr-ờng Đại học th-ờng đi làm thêm

- Tôi sống ở Hà Nội

đều có một quan hệ ngữ pháp nh- nhau Vì xét về mặt cấu tạo thì một bên đi sát sau động từ còn một bên tách xa khỏi động từ, đứng đầu câu

Về mặt ý nghĩa thì một bên hạn định cho động từ sống, còn một bên không hạn định cho động từ mà làm tiền đề cho cả nòng cốt câu Vì vậy, ở Hà Nội trong hai câu này không phải là sự thay đổi vị trí của một thành phần

Xét về tính chất của mối quan hệ ngữ pháp thì trạng từ theo quan niệm

của các tác giả cũng không có gì là thuần nhất Vì một bên quan hệ có tính chất chặt chẽ, một bên có tính kết hợp lỏng lẻo và t-ơng đối linh động Ví dụ:

ở ngoài ngõ, mẹ con chị Chuột vừa kêu khóc, vừa van lạy

(T59 - Nghèo - Nam Cao) Chắc là mẹ tôi ra ao

(T319 - Một chuyện Xú - vơ - nia - Nam Cao) Thành phần phụ đứng ở đầu câu ở ngoài ngõ có thể chuyển vào giữa

hoặc sau nòng cốt câu

Mẹ con chị Chuột, ở ngoài ngõ vừa kêu khóc vừa van lạy

Mẹ con chị Chuột, vừa kêu khóc vừa van lạy ở ngoài ngõ

Trái lại, thành phần phụ ao đứng sát động từ thì không thể chuyển chỗ

nh- vậy

Vì nhập làm một hai loại quan hệ ngữ pháp khác nhau, mà quan niệm

về trạng từ của các tác giả chứa đựng nhiều mâu thuẫn không khắc phục đ-ợc

Trang 22

Xét về mặt hình thức, trạng ngữ đ-ợc cấu tạo từ rất nhiều các từ loại khác

nhau Chẳng hạn, các tác giả cho rằng "những tiếng chỉ thị, chỉ định từ nh-:

ấy, kia, này, ni đặt sau những tiếng danh tự: chỗ, nơi, chốn đều là trạng từ chỉ nơi chốn"(124) Ví dụ:

Chỗ này, chỗ kia, nơi ấy

Chỉ thị, chỉ định tự đó, đây cũng có thể biến thành trạng tự chỉ địa điểm

không xác định Ví dụ:

Hắn bỏ làng đi đó, đi đây

(T187 - Đôi móng giò - Nam Cao) Ngoài ra những giới tự chỉ nơi chốn nh-: ở, tại, trên, d-ới, trong, ngoài, giữa, bên, tr-ớc, sau khi đứng tr-ớc danh từ đều có thể trở thành giới ngữ

Ví dụ:

Nó làm nhà gần núi

Anh ấy đứng ngoài v-ờn

(Dẫn theo "Việt Nam văn phạm", trang 132) Theo chúng tôi những từ trên, d-ới, trong, ngoài, tr-ớc, sau ch-a mất

hẳn ý nghĩa thực từ để biến thành h- từ nh- các tác giả quan niệm ở đây, chúng vẫn còn mang nghĩa của các danh từ chỉ vị trí và chỉ ph-ơng h-ớng Hai cách dùng d-ới đây chứng tỏ chúng có t- cách là danh từ:

+ Chúng có thể làm phụ tố chỉ đối t-ợng của động từ Ví dụ:

Trên truyền xuống d-ới

+ Chúng có thể làm từ trung tâm trong ngữ Ví dụ:

Trong này, ngoài kia

Và chúng có thể đứng làm chủ ngữ trong câu Ví dụ:

Trong ấm, ngoài êm

Trên thuận d-ới hoà

Những cách dùng nh- vậy chứng tỏ có lý do ở nghĩa của những từ này Nghĩa vị trí mà những từ đó biểu thị gần gũi với nghĩa sự vật Vậy, theo ý kiến của chúng tôi nên xếp chúng vào từ loại danh từ

Trang 23

Bùi Đức Tịnh trong cuốn "Văn phạm Việt Nam" lại dùng thuật ngữ phó

từ để thay cho trạng từ Tác giả định nghĩa: "Phó từ là tiếng dùng để cho biết ý nghĩa của một tĩnh từ, một động từ hay một phó từ khác đ-ợc hiểu trong những giới hạn nào ta nói rằng phó từ dùng để hạn định ý nghĩa của một tĩnh từ, một động từ hay một phó từ khác Có khi nó hạn định ý nghĩa cho cả một mệnh đề" (357)

Khi xét về phó từ chỉ ví trí, nơi chốn tác giả cũng quan niệm giống các

tác giả trong cuốn "Việt Nam văn phạm" "Phó từ chỉ vị trí hạn định ý nghĩa cho động từ hay mệnh đề bằng cách diễn giải một ý về vị trí" (365) Ví dụ:

ở đây tai vách mạch rừng

ở đây là phó từ chỉ vị trí, hạn định ý nghĩa cho cả mệnh đề

Thế nh-ng ở trang 422, khi nói về bổ túc chỉ hoàn cảnh, tác giả lại viết

"Phó từ th-ờng hạn định động từ bằng một ý nghĩa về hoàn cảnh Nh-ng ngoài ra, các thứ động từ đều có thể đ-ợc danh từ, đại từ hoặc động từ khác

bổ túc cũng bằng cách thêm một ý nghĩa về hoàn cảnh Ta gọi những tiếng ấy

là bổ túc ngữ chỉ hoàn cảnh" Bổ túc ngữ chỉ vị trí là một trong những loại bổ

túc nằm trong bổ túc ngữ chỉ hoàn cảnh, nó th-ờng là một danh từ hay một đại

từ đ-ợc các giới từ chỉ vị trí nối lại với động từ Những giới từ chỉ vị trí là:

bên cạnh, ở, trên, d-ới, gần, kế, khắp, khỏi, ngoài, vào, trong, tại, nơi, từ

a) Trong bài này có ba phần

b) Trong bài này gồm ba phần

Trang 24

ở ví dụ (a) tác giả cho rằng “Trong bài này“ là bổ túc ngữ chỉ vị trí,

động từ “có“ không có chủ ngữ

ở ví dụ (b) thì “Bài này“ là chủ ngữ, còn giới từ “trong“ không có nhiệm vụ văn phạm gì (413 - 414)

Xét về hình thức các BTKG có thể là danh từ, đại từ hay là một ngữ

Đại từ chỉ nơi chốn đ-ợc tác giả gọi là chỉ thị đại từ, làm nhiệm vụ thay

thế cho danh từ bằng một ý chỉ định về vị trí Những đại từ đó là: ấy, kia, kìa,

đó, đấy

Chỉ thị đại từ có nguồn gốc từ các chỉ thị chỉ định từ (đấy, đó, kia, ấy, kìa, nầy, tê ) khi các chỉ thị chỉ định từ không dùng chung với danh từ thì nó

chuyển thành chỉ thị đại từ Ví dụ:

Đó là một khoảng đất con con ở sát t-ờng

(T323 - Ng-ời hàng xóm - Nam Cao)

Đó chỉ thị đại từ, nói về một địa điểm xa nơi ng-ời nói và ng-ời nghe Các đại từ chỉ định (mà tác giả gọi là chỉ thị đại từ ) đây, đấy, đó, kia, kìa, vậy, thế không chỉ thay thế cho danh từ mà có thể thay thế cho động từ,

tính từ, có khi thay cho cả cụm từ hoặc cả một mệnh đề

Những danh từ trống nghĩa nh- chỗ, nơi, chốn khi kết hợp với chỉ thị, chỉ định từ: này, ấy, đó, kia, ni trở thành những từ chỉ nơi chốn Ví dụ:

ở bãi cỏ cạnh đình - chỗ ấy là chỗ mát nhất làng, vì trông ngay ra đồng

- hai ba con trâu mình nứt nẻ l-ợt bùn khô, nhắm mắt, phóm phém hàm d-ới

để nhai lại một cách uể oải

(T562 - Con Ve - Nguyễn Công Hoan) Nguyễn Lân trong cuốn "Ngữ pháp Việt Nam - lớp 5" đã có sự phân biệt giữa trạng từ và trạng gia ngữ ông viết: Trạng từ là một loại tiếng, tức là bản chất của một từ, còn trạng gia ngữ thì chỉ chức vụ của một từ trong câu (45)

Thật ra trạng từ hay trạng gia ngữ mà tác giả gọi ở đây chỉ là hai tên gọi khác nhau cho cùng một thành phần gọi là trạng ngữ, cả trạng từ và trạng gia

Trang 25

ngữ đều đ-ợc ông quan niệm là thứ từ dùng để bổ nghĩa cho một động từ, một

tính từ hay một trạng từ khác (tr71, Ngữ pháp tiếng Việt - lớp 7) Ví dụ:

ở đây tác giả đã nêu rõ lập tr-ờng của mình

Khi xét về hình thức của các BTKG trong tiếng Việt, Nguyễn Lân đã

xếp những từ này, ni, kia, tê, đó, ấy vào từ loại tính từ thuộc tiểu loại tính từ

để trỏ Và khi chúng ghép với danh từ chúng trở thành trạng từ chỉ nơi chốn:

chốn này, chỗ ấy, nơi đây, đằng tê, đằng kia

Cũng những từ này, tác giả lại xếp chúng vào đại từ để trỏ khi nghiên cứu ở phần đại từ Ví dụ:

Kia là nhà tôi

Ông mua cái này bao nhiêu tiền?

ở tiểu loại giới từ chỉ vị trí, bên cạnh những giới từ đ-ợc đa số mọi

ng-ời chấp nhận, Nguyễn Lân còn cho rằng những từ: ở trên, ở d-ới, đằng tr-ớc, đằng sau cũng là giới từ (tr91, Ngữ pháp tiếng Việt - lớp 7)

Chúng tôi không đồng ý với quan điểm này vì nếu đã là một từ hoàn chỉnh thì không thể xen một yếu tố nào vào đ-ợc Thế mà những từ này có thể thêm một hay một vài yếu tố vào đ-ợc Ví dụ:

ở ngay trên đầu

ở mãi tận d-ới đáy

ở tít mãi ngoài cổng

Trang 26

Vậy, phải thừa nhận rằng ở là một từ trên, d-ới là những từ khác, vì từ

là một khối hoàn chỉnh không thể tách rời

Nhìn chung, các nhà ngữ pháp truyền thống mới chỉ dừng lại ở ngữ pháp mà ch-a tách nghĩa học và dụng học thành các bình diện phân tích riêng Các tác giả cũng ch-a có sự phân biệt phạm trù từ loại với chức năng làm thành phần câu của các BTKG tức là khi xét chúng ở bình diện cú pháp Chính hạn chế này đã làm các tác giả không thống nhất với nhau trong cách xác định các BTKG

2.2 Biểu thức không gian trong ngữ pháp cấu trúc

Các tác giả theo quan niệm cấu trúc nhìn nhận BTKG trong tiếng Việt một cách toàn diện hơn khi cho rằng chúng có thể giữ các chức năng: làm trạng ngữ, bổ ngữ và chủ ngữ trong câu

ở chức năng làm thành phần trạng ngữ, BTKG đ-ợc các tác giả gọi bằng những cái tên khác nhau Hoàng Trọng Phiến gọi là trạng ngữ chỉ nơi

chốn và định nghĩa nó trong cuốn "Ngữ pháp tiếng Việt" của mình nh- sau:

"Trạng ngữ chỉ nơi chốn là trạng ngữ chỉ phạm vi không gian, địa điểm cụ thể của sự vật hoạt động đ-ợc nêu ra trong câu Trạng ngữ chỉ nơi chốn trả lời câu hỏi: ở đâu, chỗ nào?" (129 - 130)

Chẳng hạn: Hồi ấy tôi còn ở Sài Gòn

(T44 - Nhỏ nhen - Nam Cao) Tôi trọ học ở tỉnh lị cách hàng chừng 15 cây số

(T23 - Những cánh hoa tàn - Nam Cao) Theo nh- định nghĩa của tác giả thì ở Sài Gòn là chỉ về một địa điểm, còn ở tỉnh lị là chỉ phạm vi không gian

Về vị trí, trạng ngữ có thể đứng ở đầu câu, ở giữa và ở cuối câu nh-ng phổ biến nhất là ở đầu câu Khi ở đầu câu, nó có tác dụng thông báo một chỗ nào đó có cái gì xảy ra, còn khi ở cuối câu, nó có tác dụng nói rõ nơi tiến hành

hoạt động Tác giả cho rằng khi vị ngữ do động từ có biểu thị, thì vị trí của

trạng ngữ chỉ nơi chốn luôn luôn đứng ở đầu câu hầu nh- là tuyệt đối Ví dụ:

Trang 27

ở đấy có lửa

(T266 - Ng-ời hàng xóm - Nam Cao) Nh-ng cạnh chùa lại có một ruộng dâu rất tốt mà cứ bốn năm ngày Tơ lại đến hái

(T395 - Một truyệt Xú - vơ - nia - Nam Cao)

Xét theo khả năng kết hợp, Hoàng Trọng Phiến cho rằng khi trạng ngữ

và bổ ngữ có sự gần nhau về ý nghĩa địa điểm, điểm đến, điểm xuất phát, điểm

v-ợt qua, thì chúng rất khó kết hợp với nhau, ví dụ nh-: Qua cầu chỗ nào

(tr-ờng hợp này rất ít gặp) (140)

BTKG làm bổ ngữ chỉ điểm đến, ví dụ:

Đặt sách lên bàn, xỏ chân vào dép

BTKG làm chủ ngữ chỉ địa điểm là loại chủ ngữ mà tính chất của nó không phải do chủ ngữ đề ra mà do cả tổ hợp cú pháp mang địa điểm bộc lộ Chẳng hạn:

Đằng tr-ớc hiện ra một toà nhà mới

Đằng sau là sông Kiểu chủ ngữ này th-ờng có mặt trong các câu tồn tại nh- "Trong nhà

có khách" (101)

Tác giả đã có sự mâu thuẫn khi tr-ớc đó cho rằng những câu do động từ

có biểu thị thì BTKG đứng tr-ớc động từ là trạng ngữ thì ở đây ông lại xếp

chúng vào kiểu câu có BTKG làm chủ ngữ

Theo quan điểm của chúng tôi, những câu chỉ sự tồn tại nh- "Trong nhà

có khách, Trên bàn có hai lọ hoa, Trong túi còn tiền '' là những câu đơn đặc

biệt có một trung tâm và một phần phụ đi kèm Trạng ngữ đầu câu chỉ hoàn cảnh tồn tại của một sự vật do vị ngữ biểu thị Trạng ngữ ở đây là một bộ phận hữu cơ của câu không có không đ-ợc

Trang 28

Xét về hình thức, BTKG có thể là một danh từ "Muốn lên Hà Nội lắm", một danh ngữ "Ông lật đật đi thẳng về buồng bếp", một đại từ "Kia là nhà tôi", một giới ngữ "Gần chỗ tôi ở, có một cụ nghè đỗ khoa nào tôi không rõ"

Các tác giả trong cuốn "Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt" gọi các BTKG

làm trạng ngữ là phụ ngữ tình huống nơi chốn, có nhiệm vụ bổ sung ý nghĩa tình huống nơi chốn mà hoạt động diễn ra trong câu (185)

Về vị trí, nó th-ờng đứng tr-ớc nòng cốt câu, tách khỏi nòng cốt câu bằng một quãng ngắt, trên văn tự bằng một dấu phẩy Ví dụ:

Góc nhà, thằng Quýt vẫn ngáy khò khò nh- tiếng hàng xóm xay lúa

(T314 - Thằng Quýt - Nguyễn Công Hoan)

Khác với Hoàng Trọng Phiến khi cho rằng không nên chuyển trạng ngữ chỉ nơi chốn vào giữa chủ ngữ và vị ngữ, vì nh- thế sẽ có thể gây ra nhầm lẫn

(130), các tác gải trong cuốn "Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt" cho rằng

chuyển phụ ngữ tình huống nơi chốn xuống cuối câu sẽ gây ra nhầm lẫn với thành tố phụ trong cụm từ Ví dụ:

Rồi anh đến phố Bờ Sông

(T242 - Thằng điên - Nguyễn Công Hoan)

Phụ ngữ chỉ nơi chốn th-ờng do danh từ chỉ không gian kết hợp với danh từ, danh ngữ đảm nhiệm, cũng có thể do một kết cấu cú pháp trong đó có giới từ biểu thị Ví dụ:

Về phía đầu làng, nghe có tiếng còi ô tô toe toe

(T568 - Tắt đèn - Ngô Tất Tố)

Các BTKG khi làm bổ tố để bổ sung ý nghĩa nơi chốn cho động từ làm

vị ngữ th-ờng đứng sau động từ và cùng với động từ tạo thành cụm từ Ví dụ:

Tôi đi chợ đây, có mua gì không?

ở chức năng làm chủ ngữ, các BTKG th-ờng là đại từ, danh từ, giới ngữ

đảm nhiệm

Trang 29

ở những câu nh- "ở đằng tr-ớc, là cánh đồng rộng mênh mông" các

tác giả quan niệm đây là câu không có chủ ngữ, còn ở đằng tr-ớc là thành

phần phụ của câu

Đặc biệt, Nguyễn Kim Thản trong cuốn "Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt" đã có sự phân biệt t-ơng đối rạch ròi giữa các BTKG làm trạng ngữ địa

điểm và bổ ngữ chỉ mục đích điểm Bổ ngữ chỉ mục đích điểm là thành phần phụ thuộc các động từ, đặt sau động từ Nếu danh từ biểu thị bổ ngữ này bị

đảo lên trên S/P thì kết cấu sẽ thay đổi Danh từ sẽ là từ trung tâm, S/P sẽ là

định ngữ cho danh từ đó

So sánh: Tôi vào thành phố

Thành phố tôi vào

Còn trạng ngữ địa điểm, có thể do vị trí của nó ở đầu hoặc ở cuối câu

mà có những sắc thái khác nhau ở đầu câu, nó biểu thị ý nghĩa địa điểm tồn tại của sự việc đ-ợc t-ờng thuật trong câu Trong tr-ờng hợp này nó có thể

đ-ợc biểu thị bằng thể từ, từ tổ EN hay giới ngữ (568) Ví dụ:

Đỉnh đồi, trung tâm của chợ là khu hàng vải, hàng xén

(T630 - Buổi chợ trung du - Ngô Tất Tố)

Đối với những câu do động từ “có“ biểu thị thì vị trí đầu câu gần nh-

là tuyệt đối Ví dụ:

Trên nhà đang có khách

Khi ở cuối câu, trạng ngữ có tác dụng miêu tả hoàn cảnh tiến hành của hành động Những trạng ngữ này th-ờng là giới ngữ hoặc là từ tổ EN, NE Ví dụ:

Cô gửi đằng chị Bích Ngọc, ở phố Hàng Trống

(T141 - Cô Kếu, gái Tân thời - Nguyễn Công Hoan)

Trạng ngữ chỉ xuất phát điểm th-ờng đặt ở sau chủ ngữ và tr-ớc vị ngữ

Trang 30

Ví dụ:

Anh Dậu lử thử từ cổng tiến vào…

(T494 - Tắt đèn - Ngô Tất Tố) Tính từ "xa" th-ờng đ-ợc láy lại để làm trạng ngữ Ví dụ:

Xa xa nẻo trong đình, một hồi mõ cá thật dài

(T481 - Tắt đèn - Ngô Tất Tố)

Chúng tôi cũng đồng ý với quan điểm của tác giả khi cho rằng các BTKG trong tiếng Việt ngoài chức năng làm trạng ngữ - thành phần phụ của câu, chúng có thể làm chủ ngữ trong câu Những ví dụ nh-:

Trên t-ờng là mái ngói Đằng tr-ớc là một xanh vừa gan vừa phổi

thì “Trên t-ờng“, “Đằng tr-ớc“ là chủ ngữ vì nếu coi nó là trạng ngữ nh-

một số tác giả thì những câu này sẽ trở thành câu què, câu cụt

So sánh: Là mái ngói (-)

Là một xanh vừa gan vừa phổi (-)

ở c-ơng vị chủ ngữ, các BTKG có thể là một danh từ, một danh ngữ, một thời vị từ + danh từ, một giới ngữ

Ví dụ: Thời vị từ + danh từ

Những từ này đ-ợc chúng tôi xếp vào từ loại danh từ chỉ vị trí

Các tác giả “Thành phần câu tiếng Việt“ gọi trạng ngữ chỉ không gian, nơi chốn là loại trạng ngữ "biểu thị không gian hiện thực hoặc một không gian t-ởng t-ợng, với t- cách là nơi diễn ra sự tình" Ví dụ:

Trang 31

Khắp ng-ời, nóng ran ran, nóng rừn rợt

(Tô Hoài) Trong lòng hắn, những nỗi niềm không rõ rệt cũng rối bời

(Nam Cao) [318 - 319]

Trạng ngữ có thể đứng tr-ớc, đứng sau nòng cốt hoặc chen vào giữa chủ ngữ và vị ngữ Sự thay đổi vị trí của trạng ngữ liên quan đến vai trò của nó trong cấu trúc phân đoạn thực tại câu Khi đứng sau nòng cốt hoặc chen vào giữa chủ ngữ và vị ngữ, trạng ngữ có khả năng tham gia vào phần thuật đề hoặc tự mình làm phần thuật đề

Những gì trình bày trên đây cho thấy các tác giả theo quan niệm cấu trúc đã tập trung xem xét các BTKG ở chức năng làm thành phần câu, các tác giả cũng đã có nói đến nghĩa của các BTKG này, đã tách biệt đ-ợc phạm trù

từ loại khỏi chức năng Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của các tác giả này là ch-a nói đến vai nghĩa và chức năng dụng học của các BTKG Mãi đến các nhà ngữ pháp chức năng vấn đề mới này đ-ợc làm sáng tỏ Sau đây, chúng tôi

sẽ trình bày một số quan điểm của các nhà nghiên cứu theo quan niệm ngữ pháp chức năng

2.3 Biểu thức không gian trong ngữ pháp chức năng

Ngữ pháp chức năng coi ngôn ngữ nh- một ph-ơng tiện thực hiện sự giao tiếp giữa ng-ời với ng-ời Nh-ng nó khác ngữ pháp cổ điển, ngữ pháp cấu trúc và ngữ pháp sản sinh ở chỗ, ngoài việc khảo sát cái công cụ giao tiếp

ấy "đ-ợc thiết bị nh- thế nào", nó còn chú ý tìm hiểu "cách hoạt động" của nó

trong khi thực hiện cái chức năng ấy

Và khi xét c-ơng vị của trạng ngữ trong câu, Cao Xuân Hạo - tác giả

cuốn "tiếng việt - sơ thảo ngữ pháp chức năng" đã có một cách nhìn nhận

hoàn toàn khác biệt so với tr-ớc đây Tác giả cho rằng tổ chức cú pháp hình thức của tiếng việt chỉ có một mô hình duy nhất là Đề - Thuyết với những

biến thể của nó Đề có 2 loại là chủ đề và khung đề: "khung đề là phần câu

Trang 32

nêu rõ những điều kiện làm thành cái khung về cảnh huống thời gian, không gian, trong đó điều đ-ợc nói ở phần thuyết có hiệu lực, còn chủ đề là phần câu chỉ cái đối t-ợng đ-ợc nói đến trong phần thuyết, cái chủ thể của sự nhận

định" Đ-ợc dùng làm khung đề "th-ờng là những chủ ngữ" gồm có những

danh từ (kể cả đại từ nhân x-ng và hồi chỉ) có chuyển tố đi tr-ớc (giới từ)

những ngữ đoạn có trung tâm là danh từ, chỉ thời gian nh-: mai, chiều, khi, lúc, thuở, dạo chỉ nơi chốn nh-: nơi, chỗ, chốn , những vị ngữ hay những

tiểu cú có chuyển tố (liên từ phụ thuộc) hay không, những ngữ đoạn có yếu tố

trực chỉ hay hồi chỉ nh-: đây, thế, vậy " theo tác giả mặc dùng "khung đề không phải là trạng ngữ của vị từ hay của câu " và "khung đề là phần mở đầu câu, trạng ngữ th-ờng đặt ở cuối câu" nh-ng "xét về chức năng ngữ nghĩa, hiểu theo nghĩa hẹp (chỉ xét nghĩa "biểu thị" tức "diễn đạt sự tình khách quan", không xét nghĩa lôgic thì khung đề cũng có khi giống nh- chủ ngữ

(hay bổ ngữ chu cảnh ) Và xét về hình thức, khung đề có thể là một chủ ngữ hay giới ngữ, tức một ngữ đoạn có một giới từ làm trung tâm kèm theo một danh ngữ hay một động ngữ làm bổ ngữ cho nó, không khác gì trạng ngữ" Thực chất Cao Xuân Hạo đã xem một bộ phận của trạng ngữ truyền thống có c-ơng vị là thành tố cơ bản của tổ chức câu, tác giả dẫn ra một số ví dụ về các khung đề nh- sau:

Mai tôi đi

Tám giờ tôi mới làm việc

V-ờn nhà tôi lá rụng nhiều

Cao Xuân Hạo cũng đ-a ra những yếu tố trong tiếng việt có thể làm khung đề nh-:

- Từ trực chỉ có ý nghĩa nơi chốn

- Từ trực chỉ có ý nghĩa thời gian

- Đồng ngữ ( có hoặc không có chuyển tố)

- Tiểu cú (có hoặc không có chuyển tố)

- Danh ngữ có ý nghĩa thời gian hay nơi chốn xác định

Trang 33

- Giới ngữ (danh ngữ chuyển tố)

Nh- vậy, theo quan niệm của Cao Xuân Hạo, chỉ một bộ phận của trạng

ngữ mới có khả năng làm khung đề, còn "có những trạng ngữ dù đ-a ra phía tr-ớc cũng không thể coi là khung đề đ-ợc (trạng ngữ ph-ơng thức, mức độ, so sánh, nguyên nhân, thời hạn, không gian xác định, mục đích, nh-ợng bộ) Nguyên nhân là do nội dung của các trạng ngữ này không t-ơng ứng với định nghĩa của khung đề Nó không phải là "cái khung cảnh huống, thời gian, không gian trong đó đều đ-ợc nói tới ở phần tiếp theo của hiệu lực" (86 - 87)

Đào Thanh Lan trong cuốn " phân tích câu đơn tiếng việt theo cấu trúc

Đề - Thuyết" chủ tr-ơng xếp đề - thuyết vào bậc cấu trúc cú pháp của câu

(tức ở bình diện kết học) thay cho thuật ngữ chủ - vị (57)

Tác giả cho rằng trạng ngữ th-ờng trỏ ý nghĩa tình huống cho vị từ,

th-ờng trả lời cho từ hỏi "ở đâu, bao giờ, nh- thế nào"sau vị từ Từ đấy, tác

giả xếp trạng ngữ cũng nh- bổ ngữ là thuộc về thuyết ngữ, chúng nằm trong tổ

chức của ngữ vị từ (vị ngữ) là phụ ngữ của vị từ Chẳng hạn trong câu "nó ăn

ở quán cơm bình dân" thì “ở quán cơm bình dân“ là trạng ngữ

Khi xác định các thành phần phụ cho nòng cốt câu, tác giả đã dùng

thuật ngữ chu ngữ thay cho trạng ngữ trong quan niệm truyền thống "Chu ngữ

là những từ, ngữ biểu thị ý nghĩa chu cảnh (thời gian, không gian, cảnh huống ) đứng tr-ớc nòng cốt Đề - Thuyết, làm thành phần phụ cho nòng cốt

và nêu ra phạm vi mà sự nhận định ở nòng cốt có hiệu lực Chu ngữ có tác dụng mở rộng và cụ thể hoá tính hiện thực của phát ngôn do đó mà làm tăng hiệu quả giao tiếp cho câu" (156) Ví dụ:

Trong phòng khách mọi ng-ời đã bày xong cỗ cúng

Trên chiếc ghế thứ t-, con chó nhảy tót lên ngồi chồm chỗm

Theo tác giả, chu ngữ chỉ có một vị trí duy nhất là đứng tr-ớc nòng cốt

Đề - Thuyết Nếu đảo vị trí của nó xuống cuối hoặc tr-ớc thuyết thì nó không còn là chu ngữ nữa mà là trạng ngữ Tác giả đ-a ra ví dụ sau:

Trang 34

a Hôm qua, Nam ốm

b Nam ốm hôm qua (hoặc Nam hôm qua ốm)

Hôm qua ở (a) là chu ngữ vì nó chỉ ra thời điểm hôm qua mà sự nhận

định Nam ốm chứ không phải Minh ốm hay Nam bận

Hôm qua ở (b) biểu thị ý nghĩa chu cảnh thời gian phụ cho vị từ, làm rõ nghĩa cho vị từ "ốm": ốm hôm qua Giữa danh từ sự vật "Nam" và danh từ thời gian "hôm qua" không lập thành mối quan hệ trực tiếp nào đ-ợc (156-158)

Các BTKG ngoài chức năng làm thành phần trạng ngữ, bổ ngữ, chu ngữ còn có thể giữ vai trò là Đề trong cấu trúc Đề - Thuyết Ví dụ:

Cạnh bếp là cái nền phần nhà đã cháy

Phía tr-ớc là ngôi nhà 3 tầng đồ sộ

Thông th-ờng, khi làm phần đề, các BTKG th-ờng nằm trong cấu trúc

có hệ từ là

Có thể nói, tác giả cuốn "phân tích câu đơn tiếng việt theo cấu trúc Đề

- Thuyết" đã hoàn toàn dựa vào khả năng cải biến vị trí để nhận diện và phân biệt trạng ngữ với chu ngữ Theo tác giả thì "sự khác nhau về vị trí chính là dấu hiệu hình thức để thể hiện sự khác nhau về nghĩa khái quát (nghĩa chức năng) về phạm vi đối t-ợng mà chúng có quan hệ" Thế nh-ng, chỉ dựa vào vị

trí để phân biệt trạng ngữ và chu ngữ ch-a thể cho là có sức thuyết phục đ-ợc Theo chúng tôi cách nhận diện nh- thế còn phiến diện vì nó không phản ánh hết đ-ợc cái phức tạp của hai thành phần này - nhất là trạng ngữ, thành phần vẫn gây nhiều tranh cãi trong giới ngôn ngữ học từ tr-ớc đến nay

Ưu điểm lớn nhất của các nhà nghiên cứu theo quan niệm ngữ pháp

chức năng là đã phân tích đ-ợc ba bình diện của ngữ pháp, đó là kết học, nghĩa học và dụng học Chính sự phân tích rạch ròi này đã đ-a đến sự nhận

diện một cách toàn diện khi xác định các BTKG nói riêng và các thành phần khác trong câu nói chung Sau đây, chúng tôi sẽ đi vào phần nội dung chính của luận văn

Trang 35

Ch-ơng II:

Khảo sát các Biểu Thức định vị không gian

1 Đặc điểm ngữ nghĩa của các BTĐVKG:

1.1 Định vị và các đặc điểm định vị không gian

Nh- chúng ta đã biết, trong các phát ngôn (câu), ng-ời ta không chỉ mô tả các sự tình cùng với các yếu tố cấu thành và các đặc tr-ng của chúng mà còn định vị chúng trong không gian Mỗi một sự tình đ-ợc định vị theo nhiều cách khác nhau và có mức độ t-ờng minh khác nhau Tính t-ờng minh tham gia vào các sự tình với những yếu tố đ-ợc hình dung khác nhau trong mối

quan hệ với ý định của ng-ời nói Chẳng hạn, chúng ta có thể nói: “ở đây“,

“ở đó“, “ở sau cánh cửa“… Trong những cách nói nh- vậy thì “ở đây“ có mức t-ờng minh thấp nhất bởi lẽ nó phụ thuộc hoàn toàn vào vị trí của ng-ời nói Trong khi đó, cách diễn đạt “ở sau cánh cửa“ có mức t-ờng minh cao

hơn, nó gắn với các yếu tố cố định và bị quy định Sự định vị không gian còn biểu thị những mức độ xác định Mức độ (quy chiếu) xác định th-ờng phụ thuộc vào khối l-ợng các thông tin liên quan đến sự định vị không gian Theo

đó, “ở trên cánh cửa“ có sự tham chiếu đến toàn bộ bề mặt của cánh cửa, còn đối với “ở góc trái phía trên cánh cửa“ chỉ có sự tham chiếu đến một

phần ấn định của bề mặt cánh cửa (góc trên, bên trái) và nh- vậy, sự xác định

vị trí của nó trở nên chính xác hơn

Mức độ t-ờng minh cũng phụ thuộc vào ý định giao tiếp của ng-ời nói, vào ng-ời nghe và vào ngữ cảnh giao tiếp mà họ đang tham dự Nếu ng-ời nói

và ng-ời nghe cùng biết mốc trực chỉ “tại đây“ và “trong lúc này“ và đang

nói về các thực thể trong phạm vi ngữ cảnh ấy, họ có thể sử dụng những cách

diễn đạt có độ t-ờng minh thấp nh-: “ở đây“, “ở đó“, “ở kia“… Những

cách diễn đạt có độ t-ờng minh cao th-ờng xảy ra và đ-ợc đòi hỏi khi ng-ời nói và ng-ời nghe có hiểu biết khác biệt ít nhiều về mốc trực chỉ

Trang 36

Có thể dễ dàng nhận thấy rằng, một sự định vị không gian có độ t-ờng minh thấp thì mức độ xác định của nó cũng thấp Tuy nhiên, trong những hoàn cảnh nhất định, một sự định vị có độ t-ờng minh thấp cũng có thể đảm bảo

đ-ợc mức độ xác định cao Ngoài ra, tính t-ờng minh còn phụ thuộc vào những kiểu dạng t-ơng tác ngôn ngữ mà ng-ời ta đang thực hiện Chẳng hạn,

có sự khác biệt nhất định khi ng-ời ta định vị một thực thể để trả lời cho câu

hỏi (ở đâu?), để mô tả, để kể chuyện…hay khi ng-ời ta nói “cửa trước“ trong

sự đối lập phân biệt với “cửa sau“; “người đàn ông ở bên cửa sổ“ trong sự

đối lập với những ng-ời đàn ông ở những chỗ khác

Về mặt lý thuyết cũng nh- thực tiễn thì tính t-ờng minh trong sự định

vị không gian của ngôn ngữ có thể là thế nào? Liệu chúng ta có thể nói, chẳng

hạn: “Quyển sách ở trên bàn, trong phòng 222, trong khu tập thể Ba Đình, trong TP Thanh Hoá“ Dù rằng trên thực tế thì trong không gian, mọi thực

thể đều luôn đ-ợc bao hàm trong một cái gì đó lớn hơn, nên về mặt nguyên tắc, không có gì ngăn cản việc định vị không gian theo kiểu địa chỉ Thế nh-ng, th-ờng thì, trên thực tế luôn có một mức độ ngôn ngữ thích ứng cho việc đ-a ra những mối quan hệ không gian sao cho vừa đủ, không quá dài và cũng không quá thiếu hụt cho việc xác định vị trí

ở trên, chúng ta đã chỉ ra bản chất của việc định vị các đối t-ợng luôn mang tính quan hệ (không gian) với các đối t-ợng khác Và nó đ-ợc xử lý một cách tâm – vật lý học, đ-ợc mô tả một cách ngôn ngữ học, mà tr-ớc hết là quy chiếu đến vùng phụ cận của các vật thể, hay nói đúng hơn là đến các đối t-ợng khác ở trong vùng phụ cận của thực thể đ-ợc định vị Đó chính là năng lực của con ng-ời trong quá trình định vị thực thể, và nó lập thành nền tảng cơ bản cho lý thuyết về các mối quan hệ không gian Và cái cách thức mà ng-ời

ta định vị một thực thể này trong mối t-ơng quan với một thực thể khác luôn phản ánh một kiểu phi cân xứng nào đó Tính phi cân xứng trong quan hệ này

có thể là về kích cỡ, sự bao chứa, sự nâng đỡ, sự định h-ớng, trật tự, khoảng cách hay là một sự kết hợp phức tạp giữa những cái đó Theo đó, mối quan hệ

không gian có thể giữa một cái bàn và một quyển sách th-ờng là “Quyển

Trang 37

sách ở trên bàn“ vì “bàn“ lớn hơn “sách“ và việc sử dụng cái bàn làm đối

t-ợng quy chiếu (ĐTQC) cho quyển sách thoả mãn điều kiện phi cân xứng (cho việc định vị quyển sách) Nó thoả mãn cho mối quan hệ nâng đỡ, cái lớn hơn nâng đỡ cái bé hơn

Trong những tr-ờng hợp không có sự phi cân xứng thích hợp giữa thực thể muốn định vị và thực thể quy chiếu, ng-ời ta luôn có xu h-ớng áp đặt cho

nó một kiểu loại phi cân xứng nào đó, và theo quan sát của nhiều tác giả, thì phần lớn là dựa vào sự định vị của một ng-ời quan sát nào đó Chẳng hạn, nh-

cách định vị “Bên trái theo hướng tấn công của đội X“ thì sự phi cân xứng

trái/ phải ở đây đ-ợc áp đặt vào phần sân theo h-ớng di chuyển khi tấn công của đội X

Sự sắp xếp về mặt không gian giữa hai thực thể trong mối quan hệ định

vị có thể có nhiều cách thức khác nhau, và một trong số chúng sẽ đ-ợc ng-ời nói sử dụng, kèm theo một vài hàm ý nào đó và là một sự t-ờng thuật về sự sắp xếp không gian cụ thể đ-ợc xác định qua khung ngôn ngữ mà trong đó chúng xuất hiện Ví dụ sau đây dẫn theo S Svorow (1993), chẳng hạn, trong

tiếng Anh, ng-ời ta d-ờng nh- không nói “The house near the bicycle“(Ngôi nhà ở cạnh chiếc xe đạp) mà th-ờng là “The bicycle near the house“ (Chiếc

xe đạp ở cạnh ngôi nhà), và đấy chính là một sự sắp xếp không gian về kích

cỡ trong đời sống hàng ngày Dù rằng về mặt logic thì chẳng có gì ngăn cản

cách sắp xếp định vị “The house near the bicycle“(Ngôi nhà ở cạnh chiếc xe

đạp) Nói một cách khái quát thì luôn có một khuynh h-ớng có tính khuôn

th-ớc chi phối việc t-ờng thuật những sự định vị không gian mà nh- Talmy (1983) đã l-u ý rằng có những vật thể vật lý nhất định th-ờng đ-ợc lựa chọn nh- là những ĐTQC hơn những vật thể khác Đó là các vật thể lớn, cố định Theo đó, có thể đoán tr-ớc đ-ợc rằng ng-ời nói sẽ có khuynh h-ớng định vị vật thể nhỏ hơn trong mối t-ơng quan với vật thể lớn hơn, vật thể chuyển động với vật thể đứng yên Tuy nhiên, kích cỡ lớn không phải bao giờ cũng là nhân

tố quyết định trong việc lựa chọn làm ĐTQC, mà có thể có những vật thể nhỏ lại đ-ợc chọn làm ĐTQC do tính quan yếu văn hoá của chúng Chẳng hạn nh- một cửa hàng nhỏ, là nơi thu hút các c- dân địa ph-ơng đ-ợc chọn làm ĐTQC

Trang 38

do có tính gặp gỡ th-ờng xuyên một cách công khai của nó Đặc tính này đã khiến nó trở nên quen thuộc và hầu hết mọi ng-ời đều biết nó một cách t-ờng tận, từ đó nó trở thành một thực thể có tính trội dị biệt hơn, theo ph-ơng diện quen thuộc và dễ nhận biết, từ đó dễ đ-ợc sử dụng làm ĐTQC hơn là những

thực thể khác.(Dẫn theo luận án Tiến sĩ “Ngữ nghĩa của giới từ chỉ không gian tiếng Anh trong sự so sánh đối chiếu với tiếng Việt“ của tác giả Lê Văn

Thanh)

1.2 Vai nghĩa của các BTĐVKG trong cấu trúc câu

1.2.1. Nói là truyền đạt những nhận định Nội dung của những nhận

định ấy thông báo những sự thể của thế giới hiện thực (hoặc một thế giới t-ởng t-ợng) theo cách tri giác và t- duy của ng-ời nói

Trong thế giới hiện thực có vô số những sự thể khác nhau cần đ-ợc thông báo Chẳng hạn, một hành động của một con ng-ời, một hiện t-ợng của thiên nhiên, giá trị của một tác phẩm, trách nhiệm của ng-ời công dân

Trong những sự thể nh- trên đều có thể phân tích thành hai phần: Nội dung của sự thể (tức những hành động, trạng thái, phẩm chất, quan hệ ) và

những nhân vật tham gia vào sự thể (các tham tố)

Trong câu nội dung của sự thể th-ờng đ-ợc biểu hiện bằng một vị ngữ, còn các tham tố của sự thể th-ờng đ-ợc biểu hiện bằng các danh ngữ

Nội dung của sự thể quyết định cách tổ chức các tham tố của nó, và do đó, cũng quyết định cấu trúc ngữ nghĩa của toàn câu

Trong một sự thể th-ờng đ-ợc gọi là "một cuộc tìm kiếm" chẳng hạn, nội dung của sự thể th-ờng là hành động "tìm", hành động này phải có ít nhất hai nhân vật tham gia mới thành đ-ợc: ng-ời tìm và ng-ời (hay vật) đ-ợc tìm Hay trong một hành động đ-ợc gọi là "đến", ngoài ng-ời đến ra phải có một

nơi đến nữa mới hình thành cái sự thể đ-ợc gọi nh- thế

Do đó, nghĩa của những vị từ biểu hiện cái sự thể nh-: tìm, đến đều

quy định cái khung những tham tố có mặt trong sự thể và, do đó, cũng quyết

định cấu trúc nghiã của toàn câu, vốn là mục đích diễn đạt của cú pháp

Trang 39

Sự phân biệt cơ bản giữa các sự thể đ-ợc thực hiện trên hai chiều, chiều

của sự đối lập về tính [ Động] và chiều của sự đối lập về tính [ Chủ ý] của

S Dik Đó một mặt là sự phân biệt giữa những sự thể động, tức là những biến

cố, những sự việc với những sự thể tĩnh, tức những tình thế, những trạng thái, những tính chất và mặt khác, là sự phân biệt giữa những sự thể diễn ra hay tồn tại do sự chủ ý, có sự tự điều khiển của ng-ời hay động vật, tức những hành động, những t- thế với những sự tình không do sự Chủ ý mà ra, những quá trình hay những trạng thái của những bất động vật, của những động vật nh-ng không có sự tự điều khiển

Cách phân loại sự thể trên đây của S Dik, một trong những cách phân loại đ-ợc coi là có hiệu lực cho mọi ngôn ngữ, cho ta các loại sự thể sau đây

Sự phân tích trên đây cho thấy rằng, hai thế đối lập nghĩa học của S Dik

đ-ợc thể hiện rõ ràng trên bình diện ngữ pháp cũng nh- trên bình diện ngữ nghĩa của tiếng Việt đã có thể cho chúng ta phân chia các vị từ của tiếng Việt

Trang 40

Dựa vào cách phân loại của S Dik, chúng tôi cũng đồng ý với Cao

Xuân Hạo khi đ-a thêm vào hàng sự tình cơ bản (ngang hàng với biến cố và tình hình) sự tình tồn tại Trong câu tồn tại, một sự vật có thể đ-ợc định vị hay

không đ-ợc định vị, và trong phạm vi luận văn của mình chúng tôi chỉ khảo sát những câu đ-ợc định vị

Nghĩa của vị từ qui định các khung những tham tố quay xung quanh nó Tuy nhiên, có những tham tố là bắt buộc và những tham tố không bắt buộc cho từng vị từ Ta gọi những tham tố bắt buộc là diễn tố và những tham tố không bắt buộc là chu tố Các BTĐVKG làm diễn tố có thể đi với những vị từ sau đây:

- Vị từ tồn tại: có, còn

- Vị từ t- thế: nằm, ngồi, đứng

- Vị từ hành động: bày, đặt, đút, treo

Khi là chu tố, các BTĐVKG có thể đi với bất cứ loại sự tình nào, hành

động cũng nh- không hành động (trạng thái, t- thế, quan hệ ), nó có ý nghĩa

tạo cảnh huống, nơi chốn xảy ra hành động, sự kiện

1.2.2. Những sự tình đ-ợc thông báo đều phải dựa vào câu mà biểu hiện Mỗi từ ngữ, mỗi thành phần chức năng trong câu đều có vai trò của nó, nh-ng có thể nói hạt nhân của câu là khung vị ngữ gồm có vị từ trung tâm và các tham tố của nó Tham tố của vị từ gồm hai loại là diễn tố và chu tố Các BTĐVKG mà chúng tôi đang xét là những tham tố của sự tình Nó có thể là diễn tố hoặc chu tố Đôi khi, ở khung vị ngữ này nó là một chu tố nh-ng trong

một khung vị ngữ khác, cũng BTKG này nó lại có thể là một diễn tố

1.2.2.1 BTĐVKG là diễn tố

Diễn tố là tham tố của vị từ tham gia vào nội dung biểu hiện của khung

vị ngữ nh- một nhân vật đ-ợc giả định một cách tất yếu trong nội dung nghĩa của vị từ, mà nếu thiếu đi thì cái sự tình hữu quan không thể đ-ợc thực hiện, không còn là nó nữa.(113 - NPCNTV - Câu trong tiếng Việt)

Ngày đăng: 21/04/2020, 18:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm