1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Thực tiễn thực hiện tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Thương mại Đoàn Nguyên

61 184 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 138,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài luận văn tốt nghiệp của một sinh viên Khoa Luật trườngĐại học Cần Thơ đưa ra những lý luận chung về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tếkhái niệm, đặc điểm, vai trò nguồn của luật điều

Trang 1

MỤC MỤC

MỤC MỤC i

DANH MỤC VIẾT TẮT iii

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 3

3 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu 5

4 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Kết cấu khóa luận 8

CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 9

1.1 Một số khái niệm cơ bản về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 9

1.1.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 9

1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng thương mại quốc tế 10

1.2 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh vấn đề hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 12

1.2.1 Cơ sở ban hành pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 12

1.2.2 Nội dung pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 15

1.3 Các nguyên tắc về pháp luật điều chỉnh của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 20

1.3.1 Đảm bảo việc thực hiện đúng, đầy đủ hợp đồng 20

1.3.3 Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội 21

1.3.4 Đảm bảo sự bình đẳng giữa các bên 21

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 22

2.1 Tổng quan về tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 22

2.1.1 Tổng quan tình hình pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 22

Trang 2

2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh trong hợp đồng mua bán

hàng hóa quốc tế 22

2.2 Phân tích thực trạng các quy phạm pháp luật điều chỉnh vấn đề về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế: 25

2.2.1 Về chủ thể trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 25

2.2.2 Về hình thức trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 26

2.2.3 Về nội dung trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 27

2.2.4 Về giao kết trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế: 28

2.2.5 Về thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế: 29

2.3 Thực trạng thực hiện pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Thương mại Đoàn Nguyên 36

2.3.1 Giới thiệu về công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Thương mại Đoàn Nguyên 36 2.3.2 Thực trạng thực hiện các quy phạm pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tếtại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Thương mại Đoàn Nguyên 40

2.4 Các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu 45

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 49

3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 49

3.1.1 Đảm bảo quyền và lợi ích giữa các bên tham gia 49

3.1.2 Đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất trong việc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trong hệ thống pháp luật Việt Nam 49

3.1.3 Đảm bảo việc thực hiện đúng, đầy đủ các cam kết thương mại quốc tế của Việt Nam phù hợp với pháp luật Việt Nam 50

3.2 Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và thực hiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 50

3.2.1 Về phía pháp luật 50

3.2.2 Về phía doanh nghiệp 52

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

Trang 3

DANH MỤC VIẾT TẮT

tế

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Như chúng ta đã biết, thương mại là khâu nối liền sản xuất với tiêu dùng thôngqua việc luân chuyển hàng hóa, dịch vụ giữa người bán và người mua Hoạt độngthương mại có vai trò điều tiết sản xuất vì trong một nền sản xuất hàng hóa mọi sảnphẩm đều đem ra trao đổi trên thị trường Ngành thương mại phát triển giúp cho sựtrao đổi được mở rộng, do đó, nó thúc đẩy sự phát triển sản xuất hàng hóa Hoạt độngthương mại được chia làm hai ngành lớn chính: đó là nội thương và ngoại thương.Trong khi nội thương là ngành làm nhiệm vụ trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong mộtquốc gia, nó phát triển góp phần đẩy mạnh chuyên môn hóa sản xuất và phân công laođộng theo vùng và lãnh thổ trong cả nước thì ngoại thương là ngành làm nhiệm vụ traođổi hàng hóa, dịch vụ giữa các quốc gia Sự phát triển của ngành ngoại thương sẽ gópphần làm tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước, gắn liền thị trường trong nước với thịtrường thế giới rộng lớn làm cho nền kinh tế đất nước trở thành một bộ phận của nềnkinh tế thế giới Thông qua hoạt động xuất nhập khẩu, hoạt động mua bán hàng hóagiữa các quốc gia đã khiến cho nền kinh tế đất nước tìm được động lực mạnh mẽ đểphát triển, tham gia vào thị trường thế giới, các lợi thế của đất nước được khai thác cóhiệu quả và kinh tế hơn

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay, quá trình giao lưu, hội nhập, xu hướng

mở cửa thị trường và toàn cầu hóa là vô cùng cần thiết Để theo kịp thị trường vàkhông bị lạc hậu, Việt Nam - một nước đang trong giai đoạn đang phát triển cũngkhông nằm ngoài xu hướng đó Một trong những nỗ lực lớn nhất của Việt Nam làchính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới (WTO) vàongày 11/01/2007 và gần đây nhất là hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương( Hiệp định TPP) Ngoài ra,tính đến năm 2016, Việt Nam đã ký kết, thực hiện và đangtiến hành đàm phán tổng cộng 16 Hiệp định Thương mại Tự do (FTAs) Cho đến nay,Việt Nam đã ký kết và thực hiện 10 FTA, đã kết thúc đàm phán một FTA và đang đàmphán 5 FTA khác Việc mở cửa hội nhập quốc tế đã mở ra một cơ hội cũng như thách

Trang 5

thức to lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam trong việc phát triển đối tác, thu hút vốnđầu tư nước ngoài cũng như mở rộng các ngành nghề sản xuất, dịch vụ đem lại lợinhuận, tiềm năng lớn để phát triển kinh tế đất nước Theo Tổng cục Thống kê tổngmức lưu chuyển hàng hóa xuất, nhập khẩu vượt mốc 400 tỷ USD trong năm 2017;GDP bình quân đầu người ước tính đạt 53,5 triệu đồng, tương đương 2.385 USD, tăng

170 USD so với năm 2016 vừa qua ;tỉ lệ lạm phát CPI bình quân năm tăng thấp(3,53% so với bình quân 2016) Những bước phát triển vượt bậc trong quá trình hộinhập kinh tế thời gian gần đây thúc đẩy nền kinh tế quốc tế cũng như thu hút vốn đầu

tư nước ngoài ngày càng lớn, nó mở ra tiềm năng tích cực của hoạt động mua bánhàng hóa quốc tế và tầm quan trọng của nó trong sự phát triển tăng trưởng nền kinh tếđất nước Đây cũng chính là một trong những mối quan tâm được đặt lên hàng đầu củaNhà nước trong công tác điều chỉnh pháp luật sao cho hợp lý để tăng cường hiệu quảtrong hoạt động thương mại quốc tế Trong hoạt động ngoại thương, việc mua bán,trao đổi hàng hóa quốc tế đóng vai trò quan trọng và thiết yếu, nó chỉnh các hoạt độngmua bán hàng hóa giữa các nước chính là hợp đồng gắn liền thị trường trong nước vớithị trường thế giới Và cơ sở pháp lý điều chỉnh sự giao thoa giữa thị trường trong vàngoài nước đó chính là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, việc giao kết và thực hiện hợp đồngmua bán hàng hóa quốc tế giữ vai trò quan trọng nhất, nó giúp cho doanh nghiệp giữacác nước xác định rõ quyền và nghĩa vụ thực hiện giữa các bên, đảm bảo tính côngbằng, minh bạch và giải quyết tranh chấp theo hướng tích cực cũng như giảm thiểu rủi

ro khi vi phạm hợp đồng xảy ra Tuy nhiên, các quy định của pháp luật Việt Nam cũngnhư các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã kí kết quy định pháp luật về hợp đồng muabán hàng hóa quốc tế còn nhiều vấn đề hạn chế cần giải quyết và thực tiễn áp dụngkhông tránh khỏi những vướng mắc, bất cập chưa đáp ứng được xu thế hội nhập quốc

tế hiện nay

Từ những vấn đề đó và qua quá trình thực tập và tìm hiểu tại Công ty Cổ phầnĐầu tư Xây dựng và Thương mại Đoàn Nguyên, nhận thấy hoạt động mua bán hànghóa quốc tế đóng vai trò không nhỏ trong hoạt động kinh doanh của công ty, vì vậy em

Trang 6

đã chọn lựa đề tài “Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế - Thực tiễn thực hiện tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Thương mại Đoàn Nguyên” làm công

trình nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp của mình

1980, hiệp định thuế quan và thương mại GATT, hiệp định incoterms quy định về vậnchuyển hàng hóa quốc tế; Luật thống nhất về mua bán hàng hóa quốc tế (ULIS); Cácnguyên tắc UNIDROIT của Hợp đồng Thương Mại quốc tế; các Nguyên tắc của LuậtHợp đồng Châu Âu (PECL); Hợp đồng Mua bán Hàng hóa quốc tế mẫu của ICC –Hàng hóa được sản xuất nhằm mục đích bán lại v.v cũng như các văn bản pháp luậttrong nước như BLDS, BLTTDS, Luật Thương mại, Cùng với đó, em cũng đã thamkhảo một số công trình nghiên cứu đã có những thành công nhất định trong việcnghiên cứu và đưa ra những giải pháp để hoàn thiện và nhằm nâng cao hiệu quả phápluật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Một số công trình tiêu biểu như:

Nguyễn Uy Pháp (2014) “Các vấn đề pháp lý về Hợp đồng Thương mại quốc tế theo Công ước Viên 1980 - CISG” Bài nghiên cứu khoa học của một sinh viên nghiên

cứu, tìm hiểu, phân tích lý luận chung và các quy phạm pháp luật của Công ước Viên

1980 đối với các bên tham gia thỏa thuận hoặc là thành viên của Công ước Viên Bàinghiên cứu phân tích các vấn đề về chủ thể, nguyên tắc chung, trách nhiệm, quyền lợi

và các quy tắc xử lý khi các bên vi phạm hợp đồng cũng như xảy ra tranh chấp thươngmại Tuy nhiên nghiên cứu chỉ phân tích pháp luật áp dụng trong Điều ước quốc tế chứkhông đi vào khai thác các quy phạm của pháp luật Việt Nam để đưa ra giải pháp chocác doanh nghiệp Việt Nam trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán với cácđối tác nước ngoài

Trang 7

Dương Bảo Trân (2008) “Quyền và nghĩa vụ của các bên trong Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế” Bài luận văn tốt nghiệp của một sinh viên Khoa Luật trường

Đại học Cần Thơ đưa ra những lý luận chung về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế(khái niệm, đặc điểm, vai trò) nguồn của luật điều chỉnh, phân tích các quyền cuảngười mua và người bán trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng.Bài nghiên cứu tuy phân tích cụ thể quyền và nghĩa vụ giữa các bên nhưng chưa đi sâuvào thực trạng áp dụng và những hạn chế còn tồn tại mà chỉ nêu chung chung, chưa sátvới thực tế áp dụng các quy định của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ở các doanhnghiệp Việt Nam

Nguyễn Văn Quang (2014) “So sánh chế định giao kết hợp đồng mua bán theo pháp luật Việt Nam với Công ước Viên 1980” , Luận văn thạc sĩ luật học Đại học

Quốc gia Hà Nội Bài luận phân tích lý luận về giao kết trong hợp đồng mua bán hànghóa quốc tế theo pháp luật Việt Nam và Công ước Viên 1980; so sánh các nội dung cụthể ở trong hoạt động giao kết hợp đồng giữa theo Công ước Viên 1980 với pháp luậtViệt Nam Từ đó tìm ra những bất cập nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam

về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Tuy nhiên, bài luận chỉ đi sâu vàophân tích lý luận, so sánh dựa trên các quy phạm pháp luật của Việt Nam và quốc tế,còn khá lý thuyết và trừu tượng, chưa đề cập vào việc áp dụng trong thực tiễn phápluật ở các doanh nghiệp Việt Nam về vấn đề mua bán hàng hóa quốc tế

Vũ Khắc Thư (2009) “Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của Luật Thương Mại 2005 và các quy định của pháp luật quốc tế” , Luận văn thạc sĩ Luật

học Đại học Quốc gia Hà Nội Bài luận trình bày những lý luận về khái niệm, vai trò,đặc điểm và các quy định pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế,thực trạng thực thi pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng mua bán hànghóa quốc tế ở Việt Nam, từ đó phân tích những bất cập và đưa ra giải pháp cho thựctiễn trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng thương mại quốc tế ở Việt Nam” Đây làmột trong những công trình nghiên cứu khá đầy đủ không những về lý luận mà còn ởthực tiễn áp dụng pháp luật của Việt Nam và Điều ước quốc tế Nó làm rõ những vấn

Trang 8

đề pháp lý trong thực trạng áp dụng pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

ở Việt Nam trong quá trình ký kết, thực hiện hợp đồng và giải quyết tranh chấp Từ đótìm ra những bất cập và đưa ra những giải pháp giúp các doanh nghiệp Việt Nam vậndụng hiệu quả pháp luật trong quá trình ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong lĩnhvực ngoại thương Tuy nhiên, bài luận chỉ đưa ra phân tích tổng thể nền kinh tế trênphương diện rộng các doanh nghiệp Việt Nam chứ không phân tích, chọn lựa, đi sâuvào một doanh nghiệp cụ thể

Những công trình khoa học trên là tài liệu vô cùng quý giá và là một trongnhững căn cứ giúp người viết có thêm nhiều thông tin quan trọng để phục vụ cho việcnghiên cứu của mình Các công trình, bài báo, luận văn về đề tài hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế kể trên đã có những thành công nhất định về cả mặt lý luận cũng nhưthực tiễn áp dụng pháp luật Việt Nam đối với các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.Tuy nhiên, phần lớn chưa có công trình nghiên cứu còn khá chung, chưa đi sâu vàophân tích thực tiễn hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế tại một doanh nghiệp cụ thể

Để phân tích và tìm hiểu rõ hơn lý luận cũng như thực tiễn thực thi và áp dụng các quyphạm pháp luật đối với một doanh nghiệp đã và đang tham gia vào hợp đồng mua bán

hàng hóa quốc tế tại Việt Nam, em xin chọn đề tài “ Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế - Thực tiễn thực hiện tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Thương mại Đoàn Nguyên”.

3 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu

Trong thời đại mở cửa thị trường và giao thoa kinh tế giữa các quốc gia thôngqua việc xuất nhập khẩu, việc hoàn thiện cơ chế pháp luật về hợp đồng mua bán hànghóa quốc tế sao cho thuận lợi và tối ưu để tăng cường hiệu quả trong hoạt động thươngmại quốc tế là vô cùng cần thiết Nó không những giúp bảo vệ quyền và lợi ích giữacác doanh nghiệp, giảm thiểu rủi ro khi xảy ra vi phạm hợp đồng, tạo nên một môitrường kinh doanh thuận lợi, thúc đẩy và thu hút các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư

và hợp tác Từ những tài liệu tham khảo và các công trình nghiên cứu trên cũng nhưviệc quan sát, tìm hiểu hoạt động kinh doanh trong Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng

và Thương mại Đoàn Nguyên, đề tài khóa luận của em tập trung nghiên cứu và phân

Trang 9

tích về chủ thể, nội dung, hình thức, quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng cũngnhư quyền và nghĩa vụ giữa các bên chủ thể tham gia hợp đồng mua bán hàng hóaquốc tế ,nghiên cứu và đánh giá các quy phạm pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế Từ đó phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật về giao kết và thực hiệnhợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Thươngmại Đoàn Nguyên và đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồngmua bán hàng hóa quốc tế.

4 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu là các quy định của pháp luật Việt Nam về chủ thể, nội dung,hình thức, quyền và nghĩa vụ giữa các bên chủ thể tham gia hợp đồng mua bán hànghóa quốc tế, trong đó tập trung đến nghiên cứu pháp luật về điều chỉnh giao kết vàthực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế; nghiên cứu các bản hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế trong công ty và thực tiễn thực hiện theo quy định của pháp luậttrong nội dung các bản hợp đồng mua bán hàng hóa giữa Công ty Cổ phần Đầu tư Xâydựng và Thương mại Đoàn Nguyên với các đối tác nước ngoài của công ty

4.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của việc nghiên cứu là làm sáng tỏ một số vấn đề về lý luận và thực tiễncủa pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của Công

ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Thương mại Đoàn Nguyên, cụ thể:

Về lý luận: Hệ thống được các quy định của pháp luật về chế định hợp đồng mua

bán hàng hóa quốc tế

Về thực tiễn: Đưa ra những phân tích về thực trạng áp dụng các quy định của

pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của Công ty Cổ phần Đầu tư Xâydựng và Thương mại Đoàn Nguyên và từ đó tìm ra những ưu điểm, hạn chế còn tồntại

Về giải pháp: Đề xuất được những giải pháp mang tính định hướng nhằm khắc

phục những bất cập, hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của

Trang 10

Việt Nam và giúp công ty nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về ký kết hợp đồngMBHHQT.

4.3 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung nghiên cứu: Bài viết tập trung nghiên cứu pháp luật về điều chỉnh

vấn đề giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và các vấn đề có liênquan bao gồm: Các vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế, thực trạng thực thi pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật mua bánhàng hóa quốc tế về giao kết và thực hiện tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng vàThương mại Đoàn Nguyên, một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả ápdụng pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Về không gian nghiên cứu: Hợp đồng mua bán hàng hóa được quy định trong

nhiều văn bản luật của nhiều quốc gia khác nhau và các điều ước quốc tế Tuy nhiên,

để thuận lợi trong quá trình tìm hiểu và giải quyết các vấn đề nóng bỏng trong các quyđịnh còn bất cập, bài khóa luận chủ yếu nghiên cứu về pháp luật Việt Nam điều chỉnhvấn đề giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, các điều ước quốc tế

mà Việt Nam đã tham gia, thực trạng ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóaquốc tế tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Thương mại Đoàn Nguyên

Về thời gian nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu trong khoảng thời gian

2015-2017

5 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin, đề tài tập trung sử dụng một sốphương pháp chủ yếu như: phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp thống kê,phân tích, tổng hợp, phương pháp thu thập dữ liệu, phương pháp tổng kết kinhnghiệm Các phương pháp được vận dụng linh hoạt trong toàn bộ đề tài

Phương pháp duy vật biện chứng: để làm rõ các khái niệm cơ bản liên quan đến

hợp đồng thương mại quốc tế trong chương 1 : Những vấn đề lý luận cơ bản về phápluật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Phương pháp thu thập dữ liệu: Thu thập các dữ liệu có sẵn trên các phương tiện

thông tin đại chúng như sách báo, internet Ngoài ra, em còn thu thập các thông tin về

Trang 11

báo cáo tổng kết, các hợp đồng đã ký kết với đối tác nước ngoài của Công ty cũng nhưhỏi ý kiến, khảo sát các lãnh đạo, các bộ phận nhân viên trong công ty có kinh nghiệm

và liên quan đến lĩnh vực hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trong công ty, thamkhảo thầy cô, thảo luận với các thành viên được chia theo nhóm

Phương pháp thống kê dữ liệu: Từ những dữ liệu đã thu thập được, tiến hành

tổng hợp,chọn lọc những dữ liệu cần thiết để tiến hành phân tích

Phương pháp phân tích dữ liệu: Dựa vào các dữ liệu đã thu thập được, tiến hànhphân tích , nêu lên thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về hợp đồng muabán hàng hóa quốc tế trong công ty, phương pháp này được dùng trong chương 2:Thực trạng pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm: Nắm bắt được những khó khăn ,

vướng mắc của cơ quan quản lý trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng muabán hàng hóa quốc tế để rút ra những giải pháp nhằm hoàn thiện về chế định của hợpđồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của pháp luật Phương pháp này nằmtrong chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và thực hiện về hợp đồngmua bán hàng hóa quốc tế

6 Kết cấu khóa luận

Ngoài phần mục lục, lời mở đầu, danh mục các chữ viết tắt, kết luận và danh mụctài liệu tham khảo, nội dung của đề tài bao gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh hợp đồng muabán hàng hóa quốc tế

Chương 2: Thực trạng pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và thực hiện về hợp đồngmua bán hàng hóa quốc tế

Trang 12

CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH

HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ

1.1 Một số khái niệm cơ bản về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

1.1.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế là một trong những hoạt động thương mạiđược hình thành sớm nhất và ngày càng phổ biến, giữ vị trí quan trọng, góp phần tăngtrưởng lớn trong nền kinh tế của các nước đã và đang phát triển trong giai đoạn hộinhập quốc tế hiện nay Ngày nay, các giao dịch trong lĩnh vực thương mại hàng hóaquốc tế được thực hiện chủ yếu thông qua các hợp đồng mua bán hàng hóa quốctế.Vậy hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là gì? Tùy từng cách tiếp cận pháp luậtmỗi nước, các điều ước quốc tế hay tập quán quốc tế ta lại có những cách hiểu khácnhau về khái niệm của hợp đồng thương mại quốc tế

Theo Điều 1 Phụ lục của Công ước La Haye 1964 về Luật thống nhất về mua

bán hàng hóa quốc tế thì “Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết giữa các bên có trụ sở thương mại đóng trên lãnh thổ các quốc gia khác nhau nếu có thêm một trong các điều kiện sau:

Thứ nhất, hợp đồng liên quan đến vật mà trong thời gian ký kết hợp đồng vật đó được chuyên chở hoặc phải được chuyên chở từ lãnh thổ của quốc gia này đến lãnh thổ của quốc gia khác;

Thứ hai, hành vi chào hàng và hành vi chấp nhận chào hàng được thực hiện trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau;

Thứ ba, việc giao hàng được thực hiện trên lãnh thổ của một quốc gia khác với quốc gia nơi tiến hành hành vi chào hàng hoặc hành vi chấp nhận chào hàng”.

Công ước Viên 1980 của Liên Hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tếlại xác định hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế dựa trên trụ sở thương mại của cácbên quốc gia khác nhau Theo đó, để được coi là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

theo Khoản 1 Điều 1 Công ước Viên 1980 quy định thì “Công ước này áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau” Có nghĩa là không phân biệt các bên chủ thể là pháp nhân của cùng một

Trang 13

nước hay tại các quốc gia khác nhau thì việc xác định áp dụng Công ước này phụthuộc vào trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau thì được phép áp dụng.

Cũng giống như Công ước Viên 1980, Bộ nguyên tắc UNIDROIT lại đưa ra mộttiêu chí rộng để xác định tính quốc tế của một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, chỉcần hợp đồng đó thể hiện một mối liên hệ nào đó với hơn một quốc gia, hợp đồng đóđược coi là có tính quốc tế

Trên thực tế, pháp luật Việt Nam vẫn chưa đưa ra khái niệm cụ thể và rõ ràngmột cách chính xác về định nghĩa “hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế” Tuy nhiên,dựa theo các quy định của các văn bản pháp luật Việt Nam hiện nay, có thể xác địnhmột hợp đồng dân sự được coi là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế khi nó có đầy đủ

hai yếu tố là tính thương mại và tính quốc tế.

Theo pháp luật Việt Nam hiện nay, cách xác định hợp đồng mua bán hàng hóaquốc tế trước hết được xác định qua tính thương mại của hợp đồng đó Theo khoản 1

điều 3 Luật Thương Mại 2005 đã định nghĩa về hoạt động thương mại “ là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”.

Ngoài ra, việc xác định một hợp đồng được coi là hợp đồng mua bán hàng hóaquốc tế khi nó đáp ứng được tính quốc tế dựa trên quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoàitại khoản 2 điều 663 của Bộ luật dân sự 2015 khi đưa rõ các trường hợp được xác định

có tính quốc tế khi thuộc một trong các trường hợp như:

“a)Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài; b)các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài;

c) các bên tham gia là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.”

Tóm lại, một hợp đồng được coi là một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế hoànchỉnh khi nó đáp ứng được hai yếu tố là tính thương mại và tính quốc tế

1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng thương mại quốc tế

Trang 14

  Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trước hết đó là một hợp đồng, vì vậy nómang đầy đủ bản chất và đặc trưng của tất cả các loại hợp đồng nói chung Ngoài ra,xuất phát từ những đặc trưng của hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường, cùng với

sự tham gia của yếu tố nước ngoài trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, chúng ta

có thể chia hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có những đặc điểm chính như sau:

Thứ nhất, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mang đầy đủ các đặc trưng của

một hợp đồng mua bán hàng hoá Thông thường, một hợp đồng mua bán hàng hóa sẽ

có những đặc điểm sau:

 Về chủ thể của hợp đồng: Các thương nhân hoạt động thương mại, các tổ chức

cá nhân hoạt động có liên quan đến thương mại đều là chủ thể của Luật thương mại

2005 Để trở thành thương nhân các cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vidân sự đầy đủ, pháp nhân tổ hợp tác, hộ gia đình có đủ điều kiện để kinh doanh thươngmại theo quy định của pháp luật nếu có yêu cầu hoạt động thương mại thì cơ quan nhànước có toàn quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và trở thành thươngnhân (Điều 2 Luật thương mại 2005)

 Về mục đích: Hợp đồng trong lĩnh vực thưong mại là nhằm thực hiện các hành

vi thương mại cụ thể sau: mua bán hàng hóa, đại diện cho thương nhân, môi giớithương mại, ủy thác mua bán hàng hóa, đại lý mua bán hàng hóa, gia công trongthương mại, đấu giá hàng hóa, đấu thầu hàng hóa, dịch vụ giao nhận hàng hóa, dịch vụgiám định hàng hóa, quảng cáo thương mại, trưng bày giới thiệu hàng hóa

 Về hình thức: Theo quy định của Luật thương mại hình thức của hợp đồng

thương mại có thể là lời nói, văn bản, hành vi cụ thể hoặc các thông điệp, dữ liệu điện

tử và các hình thức thông tin điện tử khác Như vậy, hình thức của hợp đồng theo Luậtthương mại cũng rất đa dạng và rộng rãi

Thứ hai, tính quốc tế - là yếu tố vượt ra khỏi phạm vi một quốc gia.Với hợp đồng

mua bán trong nước, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có những đặc điểm sau đây:

 Về chủ thể: Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là các bên, người

bán và người mua, có trụ sở thương mại đặt ở các nước khác nhau

Trang 15

 Về đối tượng của hợp đồng: Hàng hoá là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng

hoá quốc tế là động sản, tức là hàng có thể chuyển qua biên giới của một nước

 Về đồng tiền thanh toán: Tiền tệ dùng để thanh toán thường là nội tệ hoặc có

thể là ngoại tệ đối với các bên Ví dụ: hợp đồng được giao kết giữa người bán ViệtNam và người mua Hà Lan, hai bên thoả thuận sử dụng đồng euro làm đồng tiền thanhtoán Lúc này, đồng euro là ngoại tệ đối với phía người bán Việt Nam nhưng lại là nội

tệ đối với người mua Hà Lan Tuy nhiên, cũng có trường hợp đồng tiền thanh toán đều

là nội tệ của cả hai bên, như trường hợp các doanh nghiệp thuộc các nước trong cộngđồng châu Âu sử dụng đồng euro làm đồng tiền chung

 Về ngôn ngữ của hợp đồng: Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thường được

ký kết bằng tiếng nước ngoài, trong đó phần lớn là được ký bằng tiếng Anh Điều nàyđòi hỏi các bên phải giỏi ngoại ngữ

 Về nguồn của luật điều chỉnh hợp đồng: Luật quốc gia; các điều ước quốc tế và

tập quán quốc tế khác về thương mại và hàng hải

 Về cơ quan giải quyết tranh chấp: Tranh chấp phát sinh từ việc giao kết và thực

hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể là toà án hoặc trọng tài nước ngoài

Và một lần nữa, vấn đề ngoại ngữ lại được đặt ra nếu muốn chủ động tranh tụng tại tòa

án hoặc trọng tài nước ngoài

1.2 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh vấn đề hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

1.2.1 Cơ sở ban hành pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Việt Nam đã và đang trên con đường hội nhập nền kinh tế thế giới Các quan hệmua bán hàng hóa trong lĩnh vực thương mại ngày một tăng, thúc đẩy nền kinh tếtrong và ngoài nước phát triển Việc chỉ thực hiện các văn bản pháp luật quốc tế màViệt Nam đã ký kết và tham gia đôi khi còn khó khăn trong vấn đề ngoại ngữ, văn hóa

và tập quán quốc tế giữa các quốc gia khác nhau, gây khó khăn cho các chủ thể thamgia vào hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ở Việt nam Do vậy, Việt Nam cũng cầnphải có những văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn và quy định về lĩnh vực hợpđồng mua bán hàng hóa quốc tế một cách cụ thể và rõ ràng, giúp tạo điều kiện thuận

Trang 16

lợi trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng giữa các thương nhân trong và ngoàinước khi chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam.

Ngoài các nguồn của luật pháp quốc tế quy định trong quan hệ thương mại quốc

tế như Công ước Viên 1980, Bộ nguyên tắc Unidroit ,Bộ luật Lahaye, hiệp địnhincoterm quy định về vận chuyển hàng hóa quốc tế còn có các văn bản pháp luậtquốc gia điều chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại Việt Nam nhưLuật thương mại 2005, Bộ luật dân sự 2015, Bộ Luật Hàng hải 2015, Luật Trọng tàithương mại 2010

Nguồn của luật quốc gia

Luật quốc gia được hiểu là toàn bộ hệ thống pháp luật của một quốc gia Ví dụ:Nếu pháp luật Việt Nam được áp dụng thì không chỉ áp dụng luật Thương mại mà làtoàn bộ pháp luật Thương mại, rộng hơn nữa là toàn bộ hệ thống pháp luật Việt Nam.Luật quốc gia được các bên lựa chọn có thể là luật nước người bán, nước người mua,luật của nước thứ ba hoặc luật của bất kỳ nước nào khác có quan hệ với hợp đồng,chẳng hạn như luật của nơi ký hợp đồng, nơi thực hiện nghĩa vụ, …

Khi lựa chọn pháp luật của một nước thứ ba, phải có hiểu biết về luật pháp củanước đó Cần phải biết luật đó bảo vệ quyền lợi của người bán, người mua, luật đó cótrái với chế độ chính trị hay vi phạm quyền lợi của chủ thể tham gia ký kết hợp đồnghay không Ở Việt Nam, luật quốc gia có liên quan đến hợp đồng thương mại nóichung và hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nói riêng là luật Thương mại 2005, bộluật Hàng hải, bộ luật Dân sự 2005, luật thuế xuất nhập khẩu, … Ngoài ra còn hàngloạt các nghị định, nghị quyết, qui định, thông tư như: Thông tư 38/2015/TT-BTC Quyđịnh về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu ; Nghị định 19/2006/NĐ-CPhướng dẫn Luật Thương mại về xuất xứ hàng hóa

Nguồn của luật quốc tế

 Điều ước quốc tế.

Trang 17

Một khi tranh chấp phát sinh trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà vấn

đề liên quan đến tranh chấp không được quy định hoặc quy định không đầy đủ thì cácbên có thể dựa vào điều ước quốc tế về kinh doanh thương mại

Điều ước quốc tế song phương như Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ,Việt Nam – Nhật Bản, Việt Nam – Trung Quốc, Việt Nam với Lào, Cam pu chia cóthể là đa phương như Hiệp định về thuế quan và thương mại GATT, GATS trongkhuôn khổ WTO, Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương TPP, Hiệp địnhThương mại tự do FTAs Những điều ước quốc tế này không điều chỉnh các vấn đề

về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm cụ thể của các bên trong hợp đồng kinh doanh quốc tế

mà chỉ nêu những nguyên tắc pháp lý có tính chất chỉ đạo như nguyên tắc đối xử quốcgia, đối xử tối huệ quốc nhưng lại có vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiệnthuận lợi cho các thương nhân thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế

 Tập quán thương mại.

Tập quán quốc tế về thương mại là những thói quen, phong tục về thương mạiđược nhiều nước áp dụng và áp dụng một cách thường xuyên với nội dung rõ ràng đểdựa vào đó các bên xác định quyền và nghĩa vụ với nhau.Tập quán quốc tế về thươngmại có thể là luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế

Thông thường, tập quán quốc tế về thương mại được chia thành ba nhóm: các tậpquán có tính chất nguyên tắc; các tập quán thương mại quốc tế chung và các tập quánthương mại khu vực

Tập quán có tính chất nguyên tắc: là những tập quán cơ bản, bao trùm được hình

thành trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế và luật quốc gia như nguyêntắc tôn trọng chủ quyền quốc gia, nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc Ví dụ: Toà

án (hoặc trọng tài) của nước nào thì có quyền áp dụng các quy tắc tố tụng của nước đókhi giải quyết những vấn đề về thủ tục tố tụng trong các tranh chấp về hợp đồng mua

bán hàng hoá quốc tế.

Tập quán thương mại quốc tế chung: là các tập quán thương mại được nhiều

nước công nhận và được áp dụng ở nhiều nơi, nhiều khu vực trên thế giới Ví dụ:Incoterms năm 2000 (Các Điều kiện Thương mại Quốc tế) do Phòng Thương mại

Trang 18

Quốc tế tập hợp và soạn thảo được rất nhiều quốc gia trên thế giới thừa nhận và áp

dụng trong hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế. Hay UCP 500 do ICC ban hành đưa

ra các quy tắc để thực hành thống nhất về thư tín dụng cũng được nhiều quốc gia trênthế giới áp dụng vào hoạt động thanh toán quốc tế

Tập quán thương mại khu vực (địa phương): là các tập quán thương mại quốc tế

được áp dụng ở từng nước, từng khu vực hoặc từng cảng Ví dụ: ở Hoa Kỳ cũng cóđiều kiện cơ sở giao hàng FOB Điều kiện FOB Hoa Kỳ được đưa ra trong “Địnhnghĩa ngoại thương của Mỹ sửa đổi năm 1941”, theo đó có 6 loại FOB mà quyền vànghĩa vụ của bên bán, bên mua rất khác biệt so với điều kiện FOB trong Incotermsnăm 2000 Chẳng hạn, với FOB người chuyên chở nội địa quy định tại điểm khởi hànhnội địa quy định người bán chỉ có nghĩa vụ đặt hàng hoá trên hoặc trong phương tiệnchuyên chở hoặc giao cho người chuyên chở nội địa để bốc hàng

1.2.2 Nội dung pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

a Về đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Hàng hóa là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải thỏa mãncác quy định về quy chế hàng hóa được phép mua bán, trao đổi theo pháp luật củanước bên mua và bên bán Tuy nhiên, cách để xác định hàng hóa là đối tượng của hợpđồng giữa các nguồn luật lại khác nhau Pháp luật của các quốc gia khác nhau cónhững quy định không giống nhau về những hàng hóa được phép trao đổi mua bán, từ

đó sẽ dẫn đến việc có những hàng hóa theo quy định của nước này thì được phép traođổi mua bán nhưng theo quy định của pháp luật nước khác thì lại cấm trao đổi muabán Như vậy chỉ những hàng hóa nào đều được pháp luật quốc gia của các bên kí kếthợp đồng quy định là được phép trao đổi mua bán thì mới có thể trở thành đối tượngcủa hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Pháp luật thương mại của đa số các nước và trong nhiều điều ước quốc tế chẳnghạn như Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, hàng hóa là đốitượng của mua bán thương mại được hiểu bao gồm những loại tài sản có hai thuộc tính

cơ bản: có thể đưa vào lưu thông và có tính chất thương mại

Trang 19

Theo quy định tại khoản 2 điều 3 Luật Thương Mại Việt Nam năm 2005 thì hànghóa bao gồm: tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai vànhững vật gắn liền với đất đai Như vậy, với khái niệm này thì hàng hóa là đối tượngcủa mua bán có thể là hàng hóa hiện đang tồn tại hoặc hàng hóa sẽ có trong tương lai,hàng hóa có thể là động sản hoặc bất động sản được phép lưu thông thương mại.

Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa (tại điều 2) chỉ loại trừ(không áp dụng) đối với một số loại hàng hóa như chứng khoán, giấy bảo đảm chứng

từ và tiền lưu thông, điện năng, tàu thủy, máy bay,… Tuy nhiên công ước La Haye

1964 lại coi đó là hàng hóa

Việt Nam còn cấm xuất nhập khẩu một số loại hàng hóa theo quy định pháp luậtnhư vũ khí, đạn dược, trang thiết bị quân sự, các loại thủy sản quý hiếm tại DANH

MỤC HÀNG HÓA CẤM XUẤT KHẨU, CẤM NHẬP KHẨU được Ban hành kèm theo Nghị định số 187/2013/NĐ-CP ngày 20 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ Việc

xuất nhập khẩu các loại mặt hàng này chỉ có thể thực hiện theo quyết định của Thủtướng Chính phủ hoặc các cơ quan có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật

b Về chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Khi nói tới chủ thể trong hợp đồng dân sự nói chung hay hợp đồng mua bán hànghóa quốc tế nói riêng thì điều kiện quan trọng khi cần xác lập một hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế là cần phải có năng lực chủ thể Năng lực chủ thể của một hợp đồngmua bán hàng hóa quốc tế được xác định dựa trên năng lực pháp luật và năng lực hành

vi của các bên chủ thể trong hợp đồng Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc

tế chủ yếu là các thương nhân Thương nhân theo nghĩa thông thường được hiểu lànhững người trực tiếp thực hiện hoạt động kinh doanh thương mại Trong luật thươngmại, thương nhân bao gồm các cá nhân, pháp nhân có đủ các điều kiện do pháp luậtquốc gia quy định để tham gia vào các hoạt động thương mại và trong một số trườnghợp cả chính phủ (khi từ bỏ quyền miễn trừ quốc gia) Mỗi quốc gia có những quyđịnh khác nhau về điều kiện trở thành thương nhân cho từng đối tượng cụ thể Chẳnghạn, đối với cá nhân những điều kiện hưởng tư cách thương nhân trong pháp luật

Trang 20

thương mại quốc gia thường bao gồm điều kiện nhân thân (độ tuổi, năng lực hành vi,điều kiện tư pháp) và nghề nghiệp.

c Về hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Mỗi nước lại có những quy định đòi hỏi hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tếphải đáp ứng được khi thỏa mãn các điều kiện nhất định Hình thức hợp đồng đượchiểu không chỉ là phương thức ghi nhận sự biểu lộ ý chí dưới dạng lời nói, văn bản,hành vi, cử chỉ cụ thể mà còn là những thủ tục mà pháp luật quy định bắt buộc các bêngiao kết hợp đồng phải tuân thủ trong một số trường hợp nhất định Hình thức của hợpđồng mua bán hàng hóa quốc tế cũng được quy định rất khác nhau trong pháp luật củacác quốc gia và pháp luật quốc tế Có pháp luật của một số nước yêu cầu bắt buộc hìnhthức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải được lập thành văn bản, nhưngpháp luật của một số nước khác lại không có bất kì một yêu cầu nào về hình thức hợpđồng Theo Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thì không yêucầu các bên phải ký, xác nhận bằng văn bản hoặc phải tuân theo bất kỳ yêu cầu nào vềhình thức hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trong khi pháp luật Việt Nam theo luậtthương mại 2005 lại quy định “Mua bán hàng hóa quốc tế phải được thực hiện bằngvăn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương”

d Về nội dung hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

 Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là sự thể hiện thỏa thuận biểuhiện ý chí tự nguyện của các chủ thể, nhằm ấn định các quyền và nghĩa vụ cụ thể củacác bên đối với nhau được ghi nhận tại các điều khoản trong hợp đồng mà các bên kíkết. Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mang đầy đủ những nội dung tương tự nhưhợp đồng mua bán hàng hóa trong nước Dù hợp đồng là đơn giản hay phức tạp đều cómột số điều khoản làm nổi bật những đặc trưng riêng của một hợp đồng mua bán hànghóa như các điều khoản xác định rõ quyền và nghĩa vụ giữa bên bán và bên mua, vềđiều kiện khi giao nhận hàng

Pháp luật Việt Nam theo Điều 398 của Bộ luật dân sự (BLDS) 20015 có quy định

các bên trong hợp đồng có quyền tự thỏa thuận về nội dung trong hợp đồng hoặcnhững nội dung có thể có trong một hợp đồng dân sự như sau:

Trang 21

“Điều 398 Nội dung của hợp đồng

1 Các bên trong hợp đồng có quyền tự thỏa thuận về nội dung trong hợp đồng.

2 Hợp đồng có thể có các nội dung sau đây:

a) Đối tượng của hợp đồng;

b) Số lượng, chất lượng;

c) Giá, phương thức thanh toán;

d) Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng;

đ) Quyền, nghĩa vụ của các bên;

e) Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng;

f) Phương thức giải quyết tranh chấp.”

Đối với các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, dù không bắt buộc nhưng cần

có các điều khoản quan trọng trong nội dung hợp đồng như các điều khoản liên quanđến chuyển rủi ro, bảo quản hàng hóa, luật áp dụng, cơ quan giải quyết tranh chấp Vìnếu không xác định rõ ràng các vấn đề trên ngay từ khi giao kết hợp đồng sẽ rất dễ nảysinh vấn đề giải quyết tranh chấp khi các bên xử lý vi phạm hợp đồng hay có mâuthuẫn sau khi thực hiện hợp đồng

e Về đàm phán và giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Đề nghị giao kết hợp đồng :Là quyết định đơn phương có chủ ý của một người

bày tỏ ý định giao kết hợp đồng theo những điều kiện xác định, cụ thể và rõ ràng vớimột hay nhiều người khác, có thể kèm theo hoặc không kèm theo hạn trả lời Nhữngvấn đề thường trở thành nội dung của các cuộc đàm phán mua bán hàng hóa baogồm:Tên hàng; phẩm chất; số lượng; bao bì đóng gói; phạt bồi thường; giao hàng; giácả; thanh toán; bảo hành; bảo hiểm; khiếu nại; trọng tài; trường hợp bất khả kháng…Các bên đàm phán có thể đàm phán qua thư, qua điện thoại, thư điện tử hoặc đàm phánbằng cách gặp gỡ trực tiếp

Điều 14 Công ước viên 1980 định nghĩa một đề nghị giao kết hợp đồng hìnhthành một chào hàng khi nó được gửi đến một/nhiều người xác định, thể hiện ý chí củangười chào hàng muốn ràng buộc mình trong trường hợp chào hàng được chấp nhận,

và nêu rõ hàng hóa, ấn định hoặc quy định cách xác định số lượng và giá cả Bộ luật

Trang 22

dân sự ViệtNam quy định đề nghị giao kết hợp đồng phải thể hiện rõ ý định giao kếthợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xácđịnh cụ thể. So với Công ước viên, pháp luật Việt Nam không yêu cầu nội dung cụ thểcủa một đề nghị giao kết hợp đồng.

Hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng

Theo điều 20 Công ước Viên quy định về thời hạn để chấp nhận chào hàng “do người chào hàng quy định trong điện tín hay thư bắt đầu tính từ lúc bưu điện đượcc giao để gửi đi hoặc vào ngày ghi trên thư hoặc nếu ngày đó không có thì tính từ ngày bưu điện đóng dấu trên bì thư Thời hạn để chấp nhận chào hàng dp người chào hàng quy định bằng điện thoại,bằng telex hoặc bằng phương tiện thông tin liên lạc khác, bắt đầu tính từ thời điểm người được chào hàng nhận được chào hàng”.

Tại Khoản 1 điều 388 trong BLDS 2015 có quy định: Thời điểm đề nghị giao kết

hợp đồng có hiệu lực được xác định như sau: Do bên đề nghị ấn định Nếu bên đề nghịkhông ấn định thì đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực kể từ khi bên được đề nghịnhận được đề nghị đó, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác

Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

Hợp đồng được coi là đã ký kết kể từ thời điểm chấp nhận chào hàng có hiệu lực(Điều 23 Công ước Viên 1980) Bắt đầu từ thời điểm này các bên phát sinh nhữngquyền và nghĩa vụ được ghi trong trong hợp đồng Theo Công ước Viên 1980, chấpnhận chào hàng là sự thể hiện ý chí của người được chào hàng đồng ý với những điềukiện của người chào hàng Sự chấp nhận của người được chào hàng chỉ có giá trị pháp

lý khi nó được thể hiện dưới một hành vi nhất định (khoản 1, điều 18, Công ước Viên1980) Hành vi này được thể hiện dưới dạng một hành động hoặc một lời nói mangtính chất tuyên bố Theo điều khoản này, sự im lặng hoặc bất hợp tác của người đượcchào hàng sẽ không mặc nhiên có giá trị như một sự chấp nhận Và Theo quy địnhhiện hành tại điều 393 của Bộ luật dân sự 2015 thì chấp nhận đề nghị giao kết hợpđồng được quy định như sau:

- Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị về việcchấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị

Trang 23

- Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kếthợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa cácbên

Như vậy, Công ước Viên 1980 có quy định rõ ràng hơn về việc chấp nhận lời đềnghị giao kết hợp đồng bằng lời nói hoặc hành động cụ thể Trong khi pháp luật ViệtNam tại Bộ luật dân sự 2015 không quy định cụ thể chi tiết về việc trả lời chấp nhận

đề nghị giao kết hợp đồng

f.Về thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Thời hạn giao hàng: để đảm bảo quyền lợi của mình và tạo điều kiện thuận lợi

cho việc giao nhận hàng các bên cần phải thỏa thuận cụ thể về thời gian giao hàng.Thời gian giao hàng có thể được các bên ấn định vào một thời điểm cụ thể hoặc vàomột thời gian cụ thể Tuy nhiên nếu trong hợp đồng có thỏa thuận về giao hàng nhiềulần thì các bên nên quy định cụ thể về từng lần giao hàng, nhằm tránh trường hợpkhông thực hiện việc giao hàng nhưng không thể ràng buộc nghĩa vụ vì không đủ cơ

sở pháp lí. 

Phương thức giao hàng: Đây là một điều khoản cực kì quan trọng vì nó liên

quan đến các vấn đề như: thuê phương tiện vận chuyển,  bảo hiểm hàng hóa, đặc biệtliên quan đến việc xác định thời điểm chuyển dịch quyền sở hữu và rủi ro đối với hànghóa từ người bán sang người mua Trong thực tiễn mua bán hàng hóa quốc tế khi thỏathuận về phương thức giao hàng các bên thường sử dụng các điều kiện giao hàng đượcquy định trong tập quán thương mại INCOTERMS. 

Thanh toán tiền hàng:

Nghĩa vụ thanh toán tiền hàng của người mua bao gồm việc áo dụng các biệnpháp tuân thủ các thủ tục mà hợp đồng hoặc luật lệ đòi hỏi để có thể thực hiện thanhtoán tiền hàng Theo khoản 1 điều 57 Công ước Viên quy định nếu như người muakhông có nghĩa vụ phải thanh toán tiền hàng tại một địa điểm quy định nào đó thì họphải trả tiền cho người bán: tại nơi có trụ sở thương mại của người bán hoặc tại nơigiao hàng hoặc chứng từ nếu việc trả tiền được làm cùng lúc với việc giao hàng hoặcchứng từ

Trang 24

Chế tài áp dụng vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế:

Theo pháp luật Việt Nam tại điều 292 Luật Thương mại 2005 có quy định cácbiện pháp khác phục vi phạm hợp đồng như: Buộc thực hiện đúng hợp đồng, phạt viphạm, bồi thường thiệt hại , tạm ngừng, đình chỉ hoặc hủy bỏ hợp đồng Còn theo quyđịnh của Công ước Viên 1980 bao gồm những biện pháp khắc phục vi phạm hợp đồngtương tự như quy định của pháp luật Việt Nam, tuy nhiên có một điểm khác biệt làđiều khoản giảm giá cũng được xem như một biện pháp khắc phục vi phạm hợp đồng

và một số biện pháp khác như: tạm ngừng , hủy bỏ hợp đồng

1.3 Các nguyên tắc về pháp luật điều chỉnh của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

1.3.1 Đảm bảo việc thực hiện đúng, đầy đủ hợp đồng

Nguyên tắc này đòi hỏi các bên phải thực hiện đúng và đầy đủ tất cả các điềukhoản đã cam kết trong hợp đồng, tức là tất cả các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan

hệ hợp đồng đều phải được thực hiện đầy đủ Cụ thể là thực hiện đúng đối tượng, đúngchất lượng, đúng thời gian, đúng số lượng, đúng phương thức thanh toán và các thoảthuận khác trong hợp đồng

Trang 25

1.3.2 Đảm bảo quyền tự do, tự nguyện thỏa thuận

Điều tiên quyết trong một hợp đồng mua bán hàng hóa được coi là có hiệu lựckhi nhận được ý chí tự nguyện thỏa thuận từ phía hai bên chủ thể, “thuận mua – vừabán” Nguyên tắc tự do thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là mộtnguyên tắc hết sức quan trọng trong các hợp đồng thương mại quốc tế Thương nhân

có quyền tự do quyết định ai là người họ sẽ bán hàng và cung cấp dịch vụ của mình và

ai là người mua hàng và nhận cung cấp dịch vụ cho mình, cũng như họ có thể tự dothỏa thuận những điều khoản của từng giao dịch cụ thể Đó là nền tảng của trật tự kinh

tế quốc tế mang tính cạnh tranh và theo định hướng thị trường mở Dĩ nhiên, trong một

số trường hợp ngoại lệ, người ta hạn chế nguyên tắc tự do trong hợp đồng Về khíacạnh tự do giao kết hợp đồng với bất kỳ người nào, vì lợi ích chung, Nhà nước có thểcan thiệp vào một vài ngành kinh tế Trong trường hợp đó hàng hóa chỉ có thể muađược từ một nhà cung cấp, thường là các công ty của Nhà nước Những công ty này cóthể không có nghĩa vụ phải giao kết hợp đồng với bất kỳ ai có yêu cầu, trong giới hạncác hàng hóa và dịch vụ có sẵn

1.3.3 Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội

Pháp luật Việt Nam hay các điều ước quốc tế đều đưa ra những nguyên tắc đảmbảo tính ổn định, cân bằng cho xã hội Theo nguyên tắc này, các bên có quyền tự doquyết định nội dung của hợp đồng, nhưng trước hết, giới hạn của nguyên tắc này là cácđiều khoản các bên đưa ra không được vi phạm pháp luật cũng như trái với thuầnphong mỹ tục và chuẩn mực đạo đức xã hội

1.3.4 Đảm bảo sự bình đẳng giữa các bên

Nguyên tắc này dựa trên đặc trưng của quan hệ hợp đồng dân sự nói chung vàhợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nói riêng Trong quá trình giao kết và thực hiệnhợp đồng, các bên đều bình đẳng như nhau, không ép buộc, đe dọa hay áp đặt ý chícủa mình với đối tác Chính vì vậy, pháp luật không thừa nhận những hợp đồng giaokết thiếu sự bình đẳng và ý chí tự nguyện của một bên trong các bên chủ thể Cùng với

Trang 26

đó, mỗi bên chủ thể trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế lại có nhữngquy định về quyền và nghĩa vụ nhất định theo quy định của pháp luật.

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN

HÀNG HÓA QUỐC TẾ 2.1 Tổng quan về tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

2.1.1 Tổng quan tình hình pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay, quá trình giao lưu, hội nhập, xu hướng

mở cửa thị trường và toàn cầu hóa là vô cùng cần thiết Để theo kịp thị trường vàkhông bị lạc hậu, Việt Nam - một nước đang trong giai đoạn đang phát triển cũngkhông nằm ngoài xu hướng đó Việc các văn bản quy phạm pháp luật giữa các quốc rađối với hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế nhằm giúp các chủ thể tham gia vào lĩnhvực hợp đồng mua bán hàng hoá giữa các nước được thuận lợi, điều chỉnh linh hoạttrong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng, giảm thiểu tối đã rủi ro và mâu thuẫn khiphát sinh vi phạm và giải quyết trách nhiệm do vi phạm giữa các bên gây ra Dovậy,việc đưa ra các quy định về mua bán hàng hóa quốc tế không chỉ theo pháp luậtquốc tế mà luật quốc gia đưa ra để điều chỉnh quan hệ hợp đồng thương mại quốc tếcũng là việc vô cùng quan trọng và cần thiết.Tùy từng trường hợp cụ thể và do thỏathuận để điều chỉnh sao cho hợp lý giữa bên mua và bên bán trong hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế Từ đó, doanh nghiệp các nước nói chung cũng như các doanhnghiệp Việt Nam nói riêng sẽ đưa ra quyết định lựa chọn nguồn luật thích hợp nhất đểbảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Việc trở thành thành viên thứ 84 vào ngày18/12/2015 khi chính thức phê duyện gia nhập Công ước Viên 1980 về hợp đồng muabán hàng hóa quốc tếcủa Liên hợp quốc (“CISG”) đã đem lại cho Việt Nam và doanhnghiệp Việt Nam những lợi ích đáng kể về mặt lợi ích kinh tế lẫn lợi pháp luật Tuynhiên, các quy định pháp luật Việt Nam đưa ra vẫn chưa được rõ ràng, cụ thể và cònkhá nhiều bất cập trong mối quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế

2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Trang 27

 Nhân tố chủ quan:

 Nhân tố con người:

Nhân tố con người là chủ thể chính của mọi hoạt động, quyết định trực tiếp đếnkết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi doanh nghiệp Trình độ, năng lực lãnhđạo và quản trị kinh doanh của ban giám đốc tốt thì sẽ đảm bảo được kế hoạch sảnxuất của doanh nghiệp đề ra, cho phép việc thực hiện các hợp đồng mua bán hàng hóa

có được các chiến lược kinh doanh đúng đắn, nhanh nhạy với thị trường Trình độ,năng lực của bộ phận quản lý đóng vai trò quan trọng bao nhiêu thì yếu tố về trình độ,năng lực của đội ngũ cán bộ nhân viên càng đặc biệt quan trọng hơn , đây là nhữngngười trực tiếp thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa, kinh doanh trong công ty Họ

là những người trực tiếp đi giao dịch ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tếvớiđối tác khách hàng và thực hiện chúng, trong quá trình thực hiện hợp đồng Chính vìvậy mà họ là nhân tố quyết định hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

 Nhân tố tài chính:

Tài chính hay nguồn vốn là nhân tố cực kỳ quan trọng và quyết định đến sự tồntại của doanh nghiệp cũng như hoạt động mua bán hàng hóa Nó là một trong ba yếu tốquan trọng: nhân lực, tài lực (hay còn gọi là yếu tố tài chính) và vật lực quyết định sựthành công hay không trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Có nguồn tàichính dồi dào sẽ đảm bảo hoạt động mua bán hàng hóa được thực hiện và diễn ra liêntục.Với khả năng huy động vốn của doanh nghiệp tốt thì có thể tăng khả năng cạnhtranh bằng các biện pháp như ứng trước tiền hàng, cho phép thanh toán chậm, đưa racác điều khoản thanh toán ưu đãi và dễ dàng hơn trong việc đàm phán ký kết hợp đồngmua bán hàng hóa

 Nhân tố khách quan:

 Đường lối của Đảng và Nhà nước

Ngay từ đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 , Đảng và Nhà nước ra đã xác địnhđổi mới kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, đặc biệt là đổi mới kinh tế đối ngoại Hoạt độngkinh tế đối ngoại rất phong phú bao gồm mua bán hàng hóa quốc tế, đầu tư quốc tế,chuyển giao công nghệ, hợp tác lao động quốc tế Trong đó mua bán hàng hóa quốc

Trang 28

tế là hoạt động chủ yếu nhất Sau hơn 30 năm thực hiện chiến dịch đổi mới, nền kinh

tế Việt Nam không những thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng mà còn có những bướcphát triển vững chắc đã chứng tỏ Đảng ta vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lê nin và

tư tưởng Hồ Chí Minh trong tiến trình xây dựng nền kinh tế thị trường theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện tay

 Nhân tố bối cảnh hội nhập quốc tế

Cùng với việc chủ trương đổi mới quản lý kinh tế theo cơ chế thị trường theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã và đang tích cực tham gia công cuộc hộinhập nền kinh tế quốc tế Một trong những yêu cầu cửa quá trình hội nhập này là đảmbảo tôn trọng và thực thi những quy định của các tổ chức quốc tế cũng như các camkết trong các hiệp định mà Việt Nam đã ký kết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã

yêu cầu “Chủ động, tích cực hội nhập kinh tế sâu hơn, đầy đủ hơn với khu vực và thế giới Thực hiện có hiệu quả các cam kết với các nước, các tổ chức quốc tế về thương mại, đầu tư, dịch vụ và các lĩnh vực khác Chuẩn bị tốt các điều kiện để thực hiện các cam kết sau khi nước ta gia nhập WTO Khẩn trương đổi mới thể chế kinh tế, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật bảo đảm lợi ích quốc gia và phù hợp với các quy định, thông

lệ quốc tế”.

 Nhân tố kinh tế:

Các yếu tố kinh tế có ảnh hưởng vô cùng lớn đến các doanh nghiệp kinhdoanh. Các kiến thức kinh tế sẽ giúp các nhà quản trị xác định những ảnh hưởng củamột doanh nghiệp đối với nền kinh tế đất nước, ảnh hưởng của các chính sách kinh tếcủa chính phủ đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Tính ổn định về kinh tếtrước hết và chủ yếu là ổn định nền tài chính quốc gia, ổn định tiền tệ, khống chế lạmphát Đây là những vấn đề các doanh nghiệp rất quan tâm và liên quan trực tiếp đếnhoạt động kinh doanh của họ

 Nhân tố chính trị, pháp luật:

Hệ thống pháp luật chi phối đến tất cả quá trình hoạt động của doanh nghiệp Nóthể hiện qua các bộ luật, các chuẩn mực, nghị định Để điều chỉnh hành vi kinh doanhcủa doanh nghiệp giúp các doanh nghiệp đi đúng hướng.Hệ thống pháp luật đồng bộ

Trang 29

chặt chẽ tạo môi trường kinh doanh thuận lợi.Ổn định phát tiển kinh tế xã hội, tự dokinh doanh, làm chủ kinh doanh và đảm bảo nguyên tắc bình đẳng trong kinh doanh vàđôi bên cùng có lợi trong kinh doanh

2.2 Phân tích thực trạng các quy phạm pháp luật điều chỉnh vấn đề về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế:

Luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, xét dưới góc độ pháp lý,được hiểu là pháp luật được áp dụng để điều chỉnh đối với hợp đồng bao gồm nhữngvấn đề năng lực chủ thể tham gia hợp đồng, hình thức của hợp đồng, nội dung hợpđồng, giao kết và thực hiện hợp đồng

2.2.1 Về chủ thể trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Chủ thể tham gia hợp đồng là một trong những yếu tố quan trọng, cần thiết đểcấu thành quan hệ hợp đồng Xét trên thực tế, bất kỳ cá nhân, tổ chức nào cũng có thểthực hiện giao dịch, xác lập các quan hệ hợp đồng mua bán với các cá nhân, tổ chứckhác mà có thể không quan tâm đến phía đối tác của mình là ai, có đủ điều kiện và khảnăng thực hiện hợp đồng hay không Tuy nhiên, điều đó sẽ tiềm ẩn những rủi ro phátsinh trong quá trình thực hiện hợp đồng và nếu như không được pháp luật công nhận

và bảo vệ thì các bên có thể phải chịu những bất lợi không đáng có về mình (ví dụ:hợp đồng vô hiệu do chủ thể không có năng lực pháp luật) Các điều ước quốc tế về

thương mại quốc tế khẳng định rõ “không điều chỉnh đối với những vấn đề liên quan đến địa vị pháp lý hoặc năng lực chủ thể của các bên” (Khoản 1 Điều 5 Công ước La-

Haye 1964) Điều đó có thể được hiểu là các điều ước quốc tế dành việc quy định cácvấn đề liên quan đến chủ thể cho pháp luật quốc gia Theo quy định của pháp luật ViệtNam, năng lực pháp luật của chủ thể tham gia hợp đồng chính là năng lực pháp luậtdân sự của chủ thể - là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự(Khoản 1 Điều 16, Khoản 1 Điều 86 Bộ luật Dân sự năm 2015) Năng lực pháp luậtdân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết đi; mọi

cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau (Khoản 2 và Khoản 3 Điều 16.Ngoài ra, đối với cá nhân, để trở thành chủ thể của quan hệ dân sự đòi hỏi người đóphải có năng lực hành vi dân sự (là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác

Trang 30

lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự - Điều 19) Điều này có nghĩa, cá nhân đókhông phải là người mất năng lực hành vi dân sự (là người do bị bệnh tâm thâm hoặcmắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình - Điều 22)hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự (là người nghiện ma túy, nghiện cácchất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình - Điều 24) Bên cạnh đó, đểtrở thành chủ thể trong quan hệ hợp đồng thương mại thì cá nhân phải là người thànhniên (người từ đủ 18 tuổi trở lên) Có rất nhiều loại chủ thể khác nhau tham gia vàohợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Chủ thể phổ biến trong hoạt động ký kết tronghoạt động này là các thương nhân Khái niệm thương nhân theo khoản 1 điều 6 Luậtthương mại 2005 của pháp luật Việt Nam quy định “Thương nhân bao gồm tổ chứckinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập,thường xuyên và có đăng ký kinh doanh”.

2.2.2 Về hình thức trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tếcũng là vấn đề mà các doanhnghiệp Việt Nam cần đặc biệt chú ý.Khi nói đến hình thức của hợp đồng mua bánhàng hoá quốc tế thường có hai quan điểm:

Quan điểm thứ nhất là hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế có thể được ký kết

bằng lời nói, bằng văn bản, bằng hành vi hay bằng bất kỳ hình thức nào khác do cácbên tự do thoả thuận Các nước theo quan điểm này hầu hết là các nước có nền kinh tếthị trường phát triển, như Anh, Pháp, Mỹ

Quan điểm thứ hai là hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế phải được ký kết dưới

hình thức văn bản Những nước nêu ra quan điểm này là một số nước có nền kinh tếđang chuyển đổi như Việt Nam Điều 27 khoản 2 Luật Thương mại Việt Nam năm

2005 quy định: “Mua bán hàng hoá quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng các hình thức có giá trị pháp lý tương đương” Các hình thức

có giá trị pháp lý tương đương ở đây bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu

và các hình thức khác theo quy định của pháp luật (theo điều 3 khoản 15 Luật Thươngmại Việt Nam năm 2005)

Ngày đăng: 21/04/2020, 15:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 Khác
4. Luật thương mại Việt Nam 1997 Khác
6. Luật Doanh nghiệp 2014 Khác
8. Công Ước viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Khác
9. Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế 2004 Khác
10. Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT 1994 Khác
11. NĐ 209/2004/NĐ-CP quy định về việc quản lý chất lượng công trình Khác
12. Trường Đại học Thương Mại, Giáo trình Luật thương mại quốc tế, NXB Thống kê 2016 Khác
13. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật thương mại quốc tế, NXB CAND, Hà Nội, 2007 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w