1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng nhập khẩu thiết bị điện gia dụng tại Công ty TNHH Thương mại An Quân.pdf

75 1,1K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Tiễn Ký Kết Và Thực Hiện Hợp Đồng Nhập Khẩu Thiết Bị Điện Gia Dụng Tại Công Ty TNHH Thương Mại An Quân
Người hướng dẫn Thầy Giáo Hướng Dẫn
Trường học Công Ty TNHH Thương Mại An Quân
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại Luận Văn Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2025
Thành phố Việt Nam
Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 762,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng nhập khẩu thiết bị điện gia dụng tại Công ty TNHH Thương mại An Quân

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Từ Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986, nước ta đã thực

hiện chính sách đổi mới nền kinh tế, xoá bỏ cơ chế quản lý tập trung, quan liêu bao

cấp, chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà

nước theo định hướng XHCN, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo Gần

hai mươi năm thực hiện đổi mới nền kinh tế, với chính sách khuyến khích đầu tư

trong và ngoài nước, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện tạo môi trường thuận

lợi cho sự phát triển kinh tế – xã hội Các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu

có những bước phát triển ngày một lớn mạnh trong những năm gần đây

Bên cạnh những kết quả tích cực, sự biến động phức tạp của môi trường kinh

tế cũng như tính chất cạnh tranh ngày càng quyết liệt trong nền kinh tế thị trường,

đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam đang đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh

tế quốc tế, các doanh nghiệp đang phải đương đầu với rất nhiều khó khăn, thách

thức về năng lực quản lý, công nghệ, nguồn lực, chất lượng sản phẩm và thông tin

cập nhật về thị trường, áp dụng các tập quán thương mại quốc tế…

Đứng trước thực tiễn đó, qua thời gian thực tập tại Công ty TNHH Thương

mại An Quân, với sự giúp đỡ nhiệt tình của giảng viên Bộ môn Luật Kinh tế, cùng

với sự giúp đỡ của các cô, chú trong công ty, tác giả quyết định lựa chọn đề tài

“Thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng nhập khẩu thiết bị điện gia dụng tại

Công ty TNHH Thương mại An Quân” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt

nghiệp của mình

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm ba

chương:

Chương 2 : Thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng nhập khẩu thiết bị điện

gia dụng tại Công ty TNHH Thương mại An Quân

Chương 3 : Một số kiến nghị và giải pháp để nâng cao hiệu quả trong việc ký

kết và thực hiện hợp đồng nhập khẩu thiết bị điện gia dụng tại Công ty

Trang 2

Với lòng biết ơn sâu sắc, tác giả xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn và

giúp đỡ tận tình của Thầy giáo hướng dẫn và các cô, chú trong Công ty TNHH

Thương mại An Quân đã tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn tốt nghiệp

này

Trang 3

Nền kinh tế càng phát triển thì đòi hỏi sự chuyên môn hóa và phân công lao

động càng cao Song quá trình đó không chỉ diễn ra tại một quốc gia, mà nó được

tiến hành trên bình diện quốc tế Mỗi quốc gia phát huy lợi thế của mình trong một

số lĩnh vực nhất định mà họ có thể tận dụng hết tiềm năng, trí sáng tạo và kinh

nghiệm, sự ưu đãi của thiên nhiên để tạo ra hiệu quả to lớn cho xã hội Nhưng tài

nguyên lại phân bố không đều, hạn chế nên một quốc gia không thể tự sản xuất để

đáp ứng được mọi nhu cầu của mình Vì thế quốc gia đó sẽ phải mua về những thứ

không tự sản xuất được từ nước khác, đồng thời bán những sản phẩm tự sản xuất

được cho những nước có nhu cầu Hoạt động này được gọi là ngoại thương

Nhu cầu hoạt động ngoại thương thực chất là hoạt động xuất nhập khẩu hàng

hoá và dịch vụ giữa các quốc gia trên thế giới Nếu ta xem ngoại thương là một

tổng thể thì xuất nhập khẩu là nhân tố cốt lõi của tổng thể đó Vì vậy hoạt động

ngoại thương ra đời và phát triển cùng với sự phát triển về nhu cầu trao đổi hàng

hoá giữa các quốc gia

Báo cáo chính trị của Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại

hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) đã chỉ rõ “Trong toàn bộ công tác kinh tế

đối ngoại, khâu quan trọng nhất là đẩy mạnh xuất khẩu để đáp ứng nhu cầu nhập

khẩu”; đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2000) Đảng ta tiếp tục khẳng

định: “Nhà nước có chính sách khuyến khích mạnh mẽ mọi thành phần kinh tế

tham gia sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ… Tăng nhanh

kim ngạch xuất khẩu, tiến tới cân bằng xuất nhập khẩu”(1) Xuất nhập khẩu có vai

trò cần thiết và quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đặc biệt là nhập khẩu có ý

nghĩa to lớn đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

(1)

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX – NXB Chính trị Quốc gia, tr199, Hà Nội, 2001

Trang 4

1 Vai trò của hoạt động xuất khẩu:

Hoạt động xuất khẩu tạo ra lượng ngoại tệ đáng kể để nhập khẩu các mặt

hàng cần thiết phục vụ công cuộc CNH-HĐH đất nước Hoạt động xuất khẩu tạo ra

cơ hội cho hàng hoá trong nước được tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường

thế giới, từ đó tác động vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thúc đẩy sản xuất

trong nước phát triển Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi các doanh nghiệp phải có cơ cấu

tổ chức sản xuất và kinh doanh sao cho luôn thích nghi được với thị trường Ngoài

ra nó còn có vai trò tích cực trong vấn đề giải quyết việc làm và cải thiện đời sống

nhân dân Sản xuất hàng xuất khẩu thu hút lực lượng lao động rất lớn, giảm bớt tình

trạng thất nghiệp, góp phần ổn định tình hình kinh tế, chính trị và xã hội Đồng thời

xuất khẩu còn là cơ sở, tiền đề để mở rộng, thúc đẩy các quan hệ kinh tế của một

quốc gia (như quan hệ tín dụng, đầu tư, bảo hiểm quốc tế v.v )

2 Vai trò của hoạt động nhập khẩu :

Nhập khẩu là việc mua hàng hóa, dịch vụ của nước ngoài đem bán ở thị

trường trong nước nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và tăng lợi nhuận

của doanh nghiệp

Nhập khẩu để bổ sung các hàng hoá mà trong nước không sản xuất được,

hoặc sản xuất không đáp ứng nhu cầu Nhập khẩu còn để thay thế, nghĩa là nhập

khẩu về những hàng hoá mà sản xuất trong nước sẽ không có lợi bằng nhập khẩu

Hai mặt nhập khẩu bổ sung và nhập khẩu thay thế nếu được thực hiện tốt sẽ tác

động tích cực đến sự phát triển cân đối nền kinh tế quốc dân, trong đó, cân đối trực

tiếp ba yếu tố của sản xuất : công cụ lao động, đối tượng lao động và lao động

Nhập khẩu đem lại cho nền kinh tế những máy móc thiết bị hiện đại, công

nghệ sản xuất tiên tiến, tăng cường chuyển giao công nghệ, chuyển dịch cơ cấu

kinh tế theo hướng công nghiệp hoá đất nước

Hàng hoá nhập khẩu thường là các hàng hoá có chất lượng cao, do đó để có

thể cạnh tranh được với các hàng hoá nhập khẩu thì các doanh nghiệp sản xuất

trong nước buộc phải đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm

Trang 5

Hàng hoá nhập khẩu góp phần thỏa mãn các nhu cầu của người tiêu dùng, cải

thiện và nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo các yếu tố đầu vào sản xuất cho

doanh nghiệp mà các yếu tố đầu vào đó trong nước không thể đáp ứng nổi, tạo việc

làm ổn định cho người lao động

Những ngành nghề, lĩnh vực mà sản xuất trong nước có lợi thế so sánh cao

hơn sẽ ngày càng được chú trọng và những hàng hoá mà sản xuất trong nước có lợi

thế kém hơn sẽ được nhập khẩu Điều này sẽ làm tăng hiệu quả kinh tế xã hội, phát

huy tối đa những nguồn lợi, lợi thế trong nước Bên cạnh đó, những hàng hoá được

sản xuất từ công nghệ hiện đại sẽ có đủ sức cạnh tranh với hàng hoá nhập khẩu và

vươn ra thị trường nước ngoài Đây cũng chính là một hình thức cạnh tranh lành

mạnh để tất yếu phải đầu tư phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu của các doanh

nghiệp trong nước nếu họ không muốn bị loại bỏ

Nhập khẩu hợp lý có ý nghĩa to lớn trong việc góp phần tăng nhanh tốc độ

phát triển kinh tế quốc dân, tăng thu nhập của dân cư và giải quyết tốt chính sách

lao động xã hội, sử dụng có hiệu quả khả năng tiềm tàng của sản xuất trong nước,

cải thiện cán cân thanh toán quốc tế

Tóm lại, trong một nền kinh tế thị trường, thương mại quốc tế là hoạt động

kinh doanh buôn bán dịch vụ ở phạm vi quốc tế Đây không phải là những hành vi

mua bán riêng lẻ, mà là một hệ thống các hành vi mua bán có tổ chức nhằm đẩy

mạnh sản xuất hàng hoá phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế ổn định và nâng cao

đời sống nhân dân Nhờ đó mà nền kinh tế có thể đạt được những bước tăng trưởng

đột biến nhanh chóng nhưng đồng thời cũng có thể gặp phải những thất bại do

đương đầu với các nền kinh tế khác

Trao đổi mua bán quốc tế là một tất yếu, là một cách thức để phát triển nền

kinh tế quốc dân Có thương mại quốc tế là có xuất nhập khẩu và kinh doanh hàng

hoá xuất nhập khẩu Xuất nhập khẩu và kinh doanh hàng hóa xuất nhập khẩu là hai

công việc khác nhau, nhưng đứng trên giác độ nền kinh tế quốc dân và các doanh

Trang 6

Cho đến nay, ở Việt Nam chúng ta chưa có một văn bản quy phạm pháp luật

chính thức nào quy định cụ thể, chi tiết riêng cho hợp đồng xuất nhập khẩu Trước

đây, trong quy chế tạm thời số 4794/TN-XNK ngày 31/7/1991 của Bộ Thương

nghiệp (nay là Bộ Thương mại) có nêu khái niệm về hợp đồng xuất nhập khẩu,

trong đó đưa ra ba tiêu chuẩn để hợp đồng mua bán được thừa nhận là hợp đồng

xuất nhập khẩu Ba tiêu chuẩn đó là :

Thứ nhất, chủ thể của hợp đồng xuất nhập khẩu là các bên có quốc tịch khác

nhau (i)

Thứ hai, hàng hoá là đối tượng của hợp đồng thường được di chuyển từ nước

này sang nước khác (ii)

Thứ ba, đồng tiền thanh toán trong hợp đồng xuất nhập khẩu là ngoại tệ đối

với một hoặc hai bên ký kết hợp đồng (iii)

Khái niệm và cách hiểu này đã được thừa nhận trong thực tiễn hoạt động

xuất nhập khẩu của Việt Nam trong nhiều năm qua Và ở một chừng mực nhất

định, quan điểm này không sai Nhưng cùng với việc hình thành các khu chế xuất ở

Việt Nam và những quy chế đặc biệt về khu chế xuất, tiêu chuẩn (ii) quy định rằng

đối tượng của hợp đồng xuất nhập khẩu phải được chuyển qua biên giới không còn

phù hợp nữa

Theo Điều 80 của Luật Thương mại hiện hành (10/5/1997): “ Hợp đồng mua

bán hàng hoá với thương nhân nước ngoài là hợp đồng mua bán hàng hoá được ký

kết giữa một bên là thương nhân Việt Nam với một bên là thương nhân nước

ngoài” Như vậy có thể hiểu hợp đồng xuất nhập khẩu là tất cả các hợp đồng mua

bán được ký kết giữa các chủ thể Việt Nam với các thể nhân, pháp nhân nước

ngoài, hay nói cách khác là những hợp đồng mua bán có yếu tố nước ngoài

Trang 7

Cùng với việc chuyển sang cơ chế thị trường, và việc tham gia sâu rộng vào

sự phân công lao động quốc tế, Việt Nam đang từng bước hoà nhập, thay đổi và đi

đúng quỹ đạo của sự phát triển kinh tế quốc tế Chính phủ Việt Nam cũng đang

nghiên cứu để tiến tới gia nhập hoặc thừa nhận các điều ước quốc tế đa phương,

trong đó có các điều ước quốc tế về mua bán hàng hoá quốc tế như Công ước Viên

1980 Công ước Viên 1980 là Công ước của Liên Hiệp Quốc về mua bán hàng hoá

quốc tế được ký kết ở Viên (Áo) ngày 11/04/1980 Công ước Viên 1980 có quy

định: “ Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là hợp đồng mua bán hàng hoá, trong

đó các bên ký kết có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau Hàng hoá được

chuyển từ nước này sang nước khác hoặc trao đổi ý chí khi ký kết hợp đồng giữa

các bên ký kết được thiết lập ở các nước khác nhau” (Điều 1)

Vậy, để hiểu rõ và nhận biết hợp đồng xuất nhập khẩu với hợp đồng mua bán

hàng hoá trong nước thì chúng ta cần nắm rõ điều kiện trước tiên của các chủ thể

ký kết là có quốc tịch khác nhau

2 Đặc điểm:

Bản chất của hợp đồng xuất nhập khẩu (HĐ XNK) là sự thoả thuận của các

bên ký kết (các đương sự ), và có những đặc điểm sau:

+ Hợp đồng xuất nhập khẩu mang tính thương mại, thông qua nó là sự trao

đổi, mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương mại của các thương nhân, nhằm

mục đích thu lợi nhuận

Thương nhân, theo Luật Thương mại quốc tế, là các bên tham gia vào hoạt

động thương mại quốc tế để hưởng các quyền và thực hiện những nghĩa vụ nhất

định

+ Đồng thời, hợp đồng xuất nhập khẩu mang tính quốc tế, thể hiện:

- Hàng hoá - đối tượng của hợp đồng - được di chuyển ra khỏi biên giới quốc

gia Thực tế thì điều kiện này cũng chưa cho thấy sự khác biệt giữa hợp đồng xuất

nhập khẩu với một hợp đồng kinh tế nói chung, ví dụ như hợp đồng mua bán ký

kết giữa một xí nghiệp trong khu chế xuất với một xí nghiệp ngoài khu chế xuất

Trang 8

được luật pháp coi là hợp đồng xuất nhập khẩu, nhưng hàng hoá thuộc hợp đồng đó

không di chuyển ra khỏi biên giới quốc gia

- Đồng tiền thanh toán phải là ngoại tệ đối với ít nhất một bên

- Các bên ký kết có trụ sở kinh doanh hoặc quốc tịch ở các nước khác nhau

- Luật điều chỉnh hợp đồng ( Luật áp dụng cho hợp đồng) mang tính chất

phức tạp và đa dạng; nếu là hợp đồng trong nước thì chỉ chịu sự điều chỉnh của luật

pháp nước đó Nhưng xuất phát từ đặc điểm các bên ký kết là những thương nhân

có quốc tịch khác nhau, HĐ XNK có thể sẽ áp dụng luật nước ngoài mà các bên

thỏa thuận lựa chọn, tập quán thương mại quốc tế hoặc điều ước quốc tế thậm chí

cả án lệ (tiền lệ pháp) Để tránh hiện tượng “xung đột pháp luật”- là hiện tượng có

nhiều hệ thống pháp luật khác nhau có thể cùng tham gia điều chỉnh một quan hệ

pháp luật – thì các bên phải thống nhất dẫn chiếu một nguồn luật điều chỉnh cụ thể

trong quá trình thực hiện hợp đồng

3 Nguồn luật điều chỉnh

Trước khi giao kết một HĐ XNK các chủ thể luôn phải tìm hiểu trong hoàn

cảnh đó hợp đồng quy định họ có những quyền và nghĩa vụ gì Nếu một HĐ XNK

không chặt chẽ thì khả năng xảy ra tranh chấp là rất lớn, các bên rất dễ vi phạm hợp

đồng Trên thực tế, một HĐ XNK dù được soạn thảo hoàn chỉnh, chi tiết đến đâu

cũng không thể tiền liệu trước được mọi tình huống có thể phát sinh trong quá trình

thực hiện Khi đó, những vấn đề phát sinh sẽ dựa vào cơ sở nào để giải quyết nếu

như trong hợp đồng không quy định hoặc quy định không đầy đủ Nếu là hợp đồng

mua bán hàng hoá trong nước thông thường thì luật quốc gia đó là cơ sở, nhưng đối

với một HĐ XNK thì vấn đề hoàn toàn không đơn giản – bởi luật quốc gia của các

bên liên quan đều có khả năng áp dụng Để giải quyết vấn đề này, thì theo sự thoả

thuận của các bên trong quá trình giao kết HĐ nguồn luật điều chỉnh có thể là luật

quốc gia, luật quốc tế, tập quán TMQT hay tiền lệ pháp (án lệ) về thương mại

Trang 9

3.1 Luật quốc gia

Các điều khoản mà các bên đã thỏa thuận được trong hợp đồng không phải

trong mọi trường hợp đều đầy đủ và có thể giải quyết được mọi vấn đề phát sinh

trong quá trình thực hiện hợp đồng Do đó, vấn đề lựa chọn pháp luật áp dụng cho

quan hệ cụ thể được đặt ra, trước hết các chủ thể tìm hiểu điều ước quốc tế liên

quan quy định ra sao; trong trường hợp không có điều ước quốc tế hoặc điều ước

quốc tế không đề cập hoặc đề cập không đầy đủ quyền và nghĩa vụ các bên thì các

chủ thể của hợp đồng có thể dựa vào luật của quốc gia nào đó để giải quyết các

tranh chấp phát sinh Trong trường hợp đó, Luật quốc gia sẽ trở thành luật áp dụng

cho HĐ XNK trong các trường hợp sau:

- Nếu điều ước quốc tế mà quốc gia của các chủ thể tham gia ký kết (hoặc

thừa nhận) có quy định về điều khoản luật áp dụng cho HĐ mua bán ngoại thương,

thì luật đó đương nhiên được áp dụng mà không phụ thuộc sự đàm phán thỏa thuận

của các chủ thể

- Các bên đã thoả thuận trong HĐ XNK

- Hoặc có thể do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan khác nhau mà các

bên có thể thoả thuận lựa chọn luật áp dụng sau khi ký HĐ hoặc thậm chí sau khi

đã phát sinh tranh chấp (khi đó các bên vẫn có quyền thoả thuận đưa tranh chấp ra

xét xử theo trình tự trọng tài và quyết định áp dụng luật quốc gia nào để giải quyết

tranh chấp mà HĐ chưa quy định về cơ quan giải quyết tranh chấp)

- Trong trường hợp không đạt được sự thống nhất giữa các đương sự, cơ

quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp (các cơ quan tài phán) sẽ lựa chọn luật áp

dụng Thông thường, các cơ quan tài phán sẽ lựa chọn nguyên tắc quốc tịch đối với

những trường hợp này, nghĩa là luật áp dụng cho hợp đồng xuất nhập khẩu là luật

quốc gia nơi hợp đồng được ký kết

Tuy nhiên một vấn đề cần chú ý đối với việc chọn pháp luật áp dụng là tất cả

các nước trên thế giới đều không cho phép áp dụng pháp luật nước ngoài khi có lý

Trang 10

do phải bảo vệ trật tự công cộng nước mình dù quy phạm xác định dẫn chiếu đến

việc áp dụng pháp luật nước ngoài

Theo pháp luật Việt Nam, tại Điều 828-Bộ Luật Dân sự và khoản 2 (Điều

4-Luật Thương mại Việt Nam) có quy định các bên tham gia hợp đồng được thỏa

thuận áp dụng pháp luật nước ngoài không trái với pháp luật Việt Nam hoặc trong

trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định áp

dụng luật nước ngoài

Luật do các bên thống nhất dẫn chiếu đến có thể là luật quốc gia của nước

người mua, hoặc của nước người bán, hoặc nếu không thống nhất được các bên có

thể quyết định chọn luật của nước thứ ba-Luật trung lập

3.2 Luật quốc tế

Luật quốc tế bao gồm điều ước quốc tế song phương và điều ước quốc tế đa

phương

Điều ước quốc tế là sự thoả thuận giữa các chủ thể của luật quốc tế, mà chủ

yếu là giữa các quốc gia trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện nhằm thiết lập những quy

tắc pháp lý bắt buộc để ấn định, thay đổi hoặc từ bỏ quyền và nghĩa vụ với nhau

Mặc dù trong tư pháp quốc tế, điều ước quốc tế không phải là nguồn luật chủ yếu

chiếm ưu thế, vì để ký một điều ước quốc tế cần có những điểm tương đồng về lợi

ích trên cơ sở tương quan lực lượng giữa các quốc gia và còn những trở ngại về

phong tục tập quán, nhưng đây là cách hữu hiệu nhất để giải quyết xung đột pháp

luật, chúng có tác động chủ đạo và trực tiếp đối với hoạt động ngoại thương Khi

các quốc gia đã tham gia điều ước quốc tế thì phải nghiêm chỉnh thi hành, điều ước

quốc tế có giá trị pháp lý bắt buộc trên toàn bộ lãnh thổ điều ước Các quy phạm

pháp luật quốc gia phải ban hành phù hợp với điều ước quốc tế Trong trường hợp

có sự khác nhau, quy phạm của điều ước quốc tế sẽ được áp dụng Điều đó cũng có

nghĩa là khi ký kết một hợp đồng mua bán ngoại thương, nếu hai bên chủ thể mang

quốc tịch của nước là thành viên điều ước quốc tế vẫn đương nhiên được áp dụng

mà không phụ thuộc ý chí chủ quan của các bên Nếu nội dung của các điều khoản

Trang 11

trái với điều ước quốc tế chúng sẽ không có hiệu lực pháp lý; và trong quá trình

thực hiện, bên cạnh các quyền, nghĩa vụ mà hợp đồng quy định, các quy định của

điều ước quốc tế cũng phải được thực hiện nghiêm chỉnh

Hiện nay công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán quốc tế có vai trò quan

trọng trong việc trao đổi, mậu dịch quốc tế Công ước Viên 1980 quy định cụ thể

quyền, nghĩa vụ, của người bán, người mua, trình tự ký kết hợp đông ngoại thương

giữa các bên có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau, nhưng đều là thành viên

của công ước Cho đến nay đã có hơn 50 quốc gia phê chuẩn, tham gia, tuyên bố

thừa kế việc tham gia công ước này Hiện nay Việt Nam chưa tham gia Công ước

Viên 1980 nên nó không phải là nguồn luật đương nhiên điều chỉnh HĐ XNK có

chủ thể là một bên Việt Nam Nhưng trên cơ sở tôn trọng ý chí tự thỏa thuận của

các bên cũng như của các quốc gia khác, Việt Nam cho phép các điều ước quốc tế

mà Việt Nam chưa tham gia được trở thành luật áp dụng cho hợp đồng mua bán

ngoại thương có sự tham gia của chủ thể Việt Nam nếu chúng được thoả thuận dẫn

chiếu trong hợp đồng Nếu quy định nào mà hậu quả của việc áp dụng trái với

những nguyên tắc cơ bản của chế độ xã hội, của pháp luật Việt Nam sẽ không được

phép áp dụng dù đã được quy định trong điều khoản luật áp dụng của hợp đồng

Bên cạnh điều ước quốc tế đa phương, thì còn có các điều ước quốc tế song

phương Đó là những điều ước quốc tế do các quốc gia có quan hệ ngoại thương

với nhau, và hiệu lực chỉ giữa những nước đó, và trong những lĩnh vực nhất định

Ví dụ như Hiệp định Thương mại Việt Nam –Hoa kỳ…

3.3 Tập quán thương mại quốc tế :

Trong quan hệ kinh tế ngoại thương, tập quán thương mại cũng là nguồn

được áp dụng để điều chỉnh hợp đồng ngoại thương và cũng giữ một vai trò khá

quan trọng; mỗi hợp đồng mua bán ngoại thương ít nhiều đều chịu ảnh hưởng của

những tập quán quốc tế

Tập quán thương mại quốc tế là những thói quen thương mại được lặp đi lặp

lại nhiều lần trong một thời gian dài, được nhiều nước công nhận và áp dụng rộng

Trang 12

rãi trong hoạt động ngoại thương Tập quán thương mại không có giá trị gì nếu các

vấn đề phát sinh trong quan hệ hợp đồng đã được các điều khoản hợp đồng điều

chỉnh Các bên không thể phủ nhận những điều khoản này bằng cách viện dẫn nó

trái với tập quán thương mại Như vậy một tập quán thương mại chỉ được áp dụng

khi:

+ Được các bên thỏa thuận trong hợp đồng là sẽ áp dụng

+ Được quy định trong điều ước quốc tế

+ Hoặc trong trường hợp hợp đồng không có quy định gì vấn đề đang tranh

chấp và điều ước quốc tế liên quanvới luật quốc gia được dẫn chiếu không quy định

Tập quán thương mại quốc tế là tập quán thương mại được nhiều nước công

nhận và áp dụng rộng rãi ở nhiều nơi, nhiều khu vực Trong các HĐ XNK thường

dẫn chiếu tới tập quán thương mại quốc tế trong Incoterms do Phòng Thương mại

và Công nghiệp quốc tế biên soạn vào năm 1936, sửa đổi bổ sung vào các năm

1953, 1967, 1980, 1990, và gần đây nhất là Incoterms 2000- quy định về điều kiện

giao hàng, bao gồm quyền và nghĩa vụ của các bên, như : chi phí trong giao nhận

hàng hoá giữa các bên, thời điểm chuyển dịch rủi ro từ người bán sang người mua

Ngoài ra người ta còn áp dụng Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng

từ (UCP)-do Phòng Thương mại và Công nghiệp quốc tế ban hành

Theo pháp luật Việt Nam, Điều 48-khoản 3, Luật Thương mại Việt Nam

1997, các bên trong hợp đồng được thỏa thuận áp dụng tập quán thương mại quốc

tế nếu tập quán thương mại quốc tế đó không trái với pháp luật Việt Nam

3.4 Tiền lệ pháp (án lệ) về thương mại

Án lệ về bản chất là việc sử dụng các phán quyết đã tuyên trước đây của toà

án hoặc trọng tài trên cơ sở phân tích, giải thích và vận dụng nó như một cơ sở

pháp lý để các cơ quan tư pháp giải quyết tranh chấp về sau Đối với một số quốc

gia thì án lệ không được coi là nguồn của pháp luật, nhưng đối với một số nước

như Anh, Mỹ thì án lệ được coi là một nguồn quan trọng của pháp luật

Trang 13

Việt Nam không thừa nhận án lệ, nhưng đối với hợp đồng xuất nhập khẩu nó

có thể trở thành luật áp dụng nếu một trong hai nước mà chủ thể mang quốc tịch

coi án lệ là một nguồn của pháp luật và luật áp dụng trong hợp đồng là luật của

quốc gia coi án lệ là nguồn của pháp luật Tuy nhiên việc sử dụng án lệ không được

trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt

Nam

III KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG XUẤT NHẬP KHẨU

THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM

1 Ký kết Hợp đồng xuất nhập khẩu:

1.1 Nguyên tắc ký kết

Việc ký kết hợp đồng xuất nhập khẩu phải được thực hiện theo các nguyên

tắc cơ bản sau:

+ Nguyên tắc tự nguyện: hợp đồng là sự thỏa thuận và thống nhất ý chí của

các bên tham gia xác lập quan hệ hợp đồng do đó việc ký kết hợp đồng xuất nhập

khẩu phải dựa trên cơ sở tự do ý chí của các bên Điều đó có nghĩa là các bên tham

gia ký kết hợp đồng có quyền tự do bày tỏ ý kiến của mình, không thể do sự áp đặt

ý chí của bất kỳ cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào Quan hệ hợp đồng chỉ có thể

hình thành và có giá trị nếu các bên thống nhất ý chí với nhau một cách tự nguyện

và sự thống nhất này phải có chứng cứ

Trong quá trình ký kết hợp đồng, đây là một nguyên tắc quan trọng, pháp

luật không công nhận giá trị pháp lý của hợp đồng nếu phát hiện có sự vi phạm

nguyên tắc này: một bên đương sự bị đe dọa phải tham gia ký kết; hoặc các bên

tham gia ký kết hợp đồng không phải trên cơ sở tự nguyện, mà do sự áp đặt ý chí

của một chủ thể khác Sự vi phạm nguyên tắc này thể hiện việc ký kết hợp đồng

không mang lại lợi ích thiết thực cho một trong các chủ thể tham gia, mà vì lợi ích

của cá nhân, tổ chức khác

+ Nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi: các bên tham gia hợp đồng hoàn

toàn bình đẳng với nhau về các quyền và nghĩa vụ Điều này thể hiện ở chỗ khi

Trang 14

đàm phán ký kết hợp đồng các bên đều có quyền đưa ra những yêu cầu của mình và

đều có quyền chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của người khác mà không

bên nào có quyền ép buộc bên nào Nếu hai bên đã thống nhất được với nhau về

những điều kiện của hợp đồng, mà không trái với pháp luật thì hợp đồng có hiệu

lực Trong quan hệ hợp đồng kinh tế, quyền và nghĩa vụ các bên phải cân xứng với

nhau, bên nào cũng có quyền, nghĩa vụ và đều phải chịu trách nhiệm với nhau về

việc thực hiện nghĩa vụ của mình

+ Nguyên tắc trực tiếp chịu trách nhiệm bằng tài sản và không trái pháp

luật: khi nói tới hợp đồng có nghĩa là nói tới quyền và nghĩa vụ Tuy nhiên không

phải các bên khi nào cũng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình Vì vậy pháp luật

đưa ra nguyên tắc này nhằm đảm bảo quyền lợi của các bên và tính nghiêm minh

của pháp luật Các bên khi tham gia vào quan hệ hợp đồng phải dùng chính tài sản

của mình để đảm bảo cho việc ký kết và thực hiện hợp đồng Trong trường hợp

khác chủ thể có thể ký kết một hợp đồng nếu như có một chủ thể khác đứng ra nhận

trách nhiệm bảo lãnh về tài sản

Nguyên tắc không trái pháp luật có nghĩa là các quy định trên đòi hỏi nội

dung chủ thể và hình thức của hợp đồng phải phù hợp và tuân theo đúng những quy

định của pháp luật Không lợi dụng việc ký kết và thực hiện hợp đồng xuất nhập

khẩu để hoạt động trái pháp luật Nguyên tắc tắc này có ý nghĩa quan trọng trong

việc đảm bảo kỷ cương trật tự trong hoạt động kinh doanh, buộc các chủ thể chỉ có

thể trong phạm vi đã đăng ký kinh doanh

Trên đây là những nguyên tắc cơ bản, quan trọng trong việc ký kết một hợp

đồng xuất nhập khẩu Nó là một trong những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới giá trị

pháp lý của bản hợp đồng Trong quá trình đàm phán ký kết, các bên vi phạm một

trong những nguyên tắc này thì bản hợp đồng sẽ không được công nhận về mặt giá

trị pháp lý – hợp đồng vô hiệu

Trang 15

1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng

a) Chủ thể hợp đồng:

Chủ thể bên nước ngoài là thương nhân và tư cách pháp lý của họ được xác

định căn cứ theo pháp luật của nước mà thương nhân đó mang quốc tịch

Chủ thể bên Việt Nam phải là thương nhân được phép hoạt động thương mại

trực tiếp với nước ngoài (Điều 81- Luật Thương mại 1997) Theo Nghị định số

44/2001/NĐ-CP ngày 02/08/2001 của Chính phủ- sửa đổi bổ sung Nghị định số

57/1998/NĐ-CP (31/07/1998) – nêu rõ : “ Đối với thương nhân Việt Nam: Thương

nhân theo quy định của pháp luật được quyền xuất khẩu tất cả các loại hàng hóa,

không phụ thuộc ngành nghề, ngành hàng ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh

doanh, trừ hàng hoá thuộc Danh mục hàng hoá cấm xuất khẩu;

Được nhập khẩu hàng hóa theo ngành nghề, ngành hàng ghi trong Giấy

chứng nhận đăng ký kinh doanh

Đối với hàng hoá thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ thương mại hạn chế

kinh doanh; Danh mục hàng hoá, dịch vụ thương mại kinh doanh có điều kiện,

thương nhân phải thực hiện đầy đủ quy định hiện hành của pháp luật về kinh

doanh các hàng hóa đó trước khi tiến hành xuất khẩu, nhập khẩu” (Khoản 6, Điều

1- NĐ 44/2001/NĐ-CP)

Hoạt động xuất nhập khẩu chỉ được tiến hành ở các doanh nghiệp đã có đăng

ký kinh doanh (theo thủ tục thành lập doanh nghiệp) và đăng ký mã số kinh doanh

xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh, thành phố

b) Hình thức hợp đồng:

Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay, hợp đồng xuất nhập khẩu

phải được lập thành văn bản mới có hiệu lực Tại Khoản 4, Điều 81-Luật Thương

mại nêu rõ: “ Hợp đồng mua bán hàng hoá với thương nhân nước ngoài phải được

lập thành văn bản” Như vậy ký kết hợp đồng kinh tế bằng văn bản là một quy

định bắt buộc mà các chủ thể của hợp đồng phải tuân theo.Văn bản này là sự ghi

nhận rõ ràng về quyền lợi và nghĩa vụ mà các bên đã thỏa thuận với nhau, là cơ sở

Trang 16

pháp lý để các bên thực hiện các điều khoản đã cam kết; để cơ quan nhà nước có

thẩm quyền kiểm tra tính hợp pháp của mối quan hệ và giải quyết các tranh chấp

Văn bản ở đây được hiểu bao gồm: Văn bản hợp đồng hoặc là các tài liệu

giao dịch khác Các tài liệu giao dịch phải có sự xác nhận nội dung trao đổi, thỏa

thuận như công văn, đơn chào hàng, đơn đặt hàng, giấy chấp nhận Theo Khoản 3,

Điều 19-Luật Thương mại thì điện báo, telex, fax, thư tín điện tử và các hình thức

thông tin khác cũng được coi là hình thức văn bản Từ đó cho phép các bên có thể

lựa chọn một trong hai cách ký kết hợp đồng xuất nhập khẩu sau:

Ký kết hợp đồng theo phương thức trực tiếp: Hợp đồng xuất nhập khẩu

được hình thành sau khi các bên trực tiếp gặp gỡ, đàm phán, thỏa thuận với nhau

các điều khoản của hợp đồng Hợp đồng phát sinh hiệu lực khi các bên cùng thể

hiện thống nhất bằng cách cùng ký và đóng dấu vào bản dự thảo hợp đồng

Ký kết hợp đồng theo phương thức gián tiếp: Trong nhiều trường hợp

việc gặp gỡ trực tiếp, thỏa thuận từng chi tiết các điều khoản của hợp đồng là rất

tốn kém tiền bạc và thời gian của các bên Do đó, hình thức ký kết gián tiếp rất hay

được sử dụng Đây là hình thức ký kết được các bên trao đổi, thống nhất từng vấn

đề thông qua thư từ, điện thoại, fax, Internet…trong đó ghi rõ nội dung công việc

cần giao dịch Một hợp đồng xuất nhập khẩu được ký kết theo phương thức gián

tiếp bao gồm hai giai đoạn:

+ Đề nghị lập hợp đồng: Bên đề nghị đưa ra những điều khoản chủ yếu của

hợp đồng, thể hiện trong bản chào hàng hoặc chào mua hàng, đề nghị giao kết hợp

đồng mua bán hàng hoá trong một thời gian nhất định, để bên được đề nghị xem

xét quyết định lập hợp đồng Đề nghị lập hợp đồng phải xác định điều kiện để sự

tuyên bố huỷ bỏ đề nghị ký kết có hiệu lực

Pháp luật Việt Nam quy định tại Điều 396-Bộ Luật Dân sự : “ Khi bên đề

nghị giao kết hợp đồng có ghi rõ nội dung hợp đồng và thời gian trả lời thì không

được một người thứ ba giao kết trong thời hạn phải chờ trả lời và chịu trách nhiệm

Trang 17

về lời đề nghị của mình” Đây là phương thức chào hàng cố định, là hình thức gửi

chào hàng cho một người và nó chỉ có hiệu lực trong một thời gian nhất định

Khác với phương thức chào hàng cố định, chào hàng tự do-là chào hàng gửi

cho nhiều bạn hàng nhằm thăm dò thị trường, không có hiệu lực ràng buộc người

chào hàng Nó chỉ có giá trị pháp lý khi bên chào hàng chấp nhận về điều kiện của

người được chào hàng

+ Chấp nhận đề nghị chào hàng: Bên được đề nghị trả lời bằng văn bản cho

bên đề nghị trong thời hạn đề nghị bằng một thông báo chấp thuận toàn bộ các nội

dung đã nêu trong chào hàng Thời hạn trách nhiệm của bên chấp nhận đề nghị bắt

đầu từ thời điểm bản chấp nhận đề nghị được chuyển đi cho bên chào hàng

Trường hợp người được chào hàng không chấp nhận hoàn toàn chào hàng

mà chỉ chấp nhận một phần hay có sửa đổi, bổ sung bản chào hàng thì đây được gọi

là hoàn giá Hoàn giá được coi là từ chối lời chào hàng, chào hàng trước coi như bỏ

và một lời đề nghị mới được đưa ra Hợp đồng chỉ được coi là ký kết nếu bên chào

hàng thông báo chấp nhận toàn bộ mọi sửa đổi bổ sung (trong lời đề nghị mới) do

bên được chào hàng đưa ra

Điều 54 – Luật Thương mại 1997, quy định một chấp nhận đề nghị không có

hiệu lực trong trường hợp bên đề nghị nhận được chấp nhận đề nghị sau khi hết

thời hạn chấp nhận đề nghị, trừ khi bên đề nghị thông báo ngay cho bên được đề

nghị về việc chấp nhận của mình

Mỗi phương thức ký kết đều có những mặt ưu điểm và nhược điểm, nên

doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu sẽ tuỳ vào từng hoàn cảnh cụ thể mà lựa

chọn phương thức ký kết cho phù hợp Đối với phương thức ký kết trực tiếp, cho

phép các bên trực tiếp đàm phán từng chi tiết của hợp đồng, trong quá trình giao

kết cũng cho phép các bên biết rõ hơn về tiềm lực của bạn hàng Nhưng phương

thức này lại rất tốn kém, và mất nhiều thời gian, chỉ áp dụng khi các bên chưa biết

rõ về nhau cũng như các số liệu kỹ thuật của hàng hoá quá phức tạp, các bên mới

ký kết hợp đồng với nhau lần đầu hoặc giá trị của bản hợp đồng lớn Còn theo

Trang 18

phương thức gián tiếp thì các bên đỡ tốn kém hơn về mặt tiền của và thời gian, các

bên tham gia hợp đồng thường là bạn hàng quen thuộc với nhau, hoặc cùng một

chủng loại hàng hoá mà trước đây các bên đã có quan hệ mua bán với nhau, nhưng

không vì thế mà hợp đồng trái với quy định của pháp luật Tuy vậy, khi thực hiện

ký kết hợp đồng theo phương thức này cũng có những mặt hạn chế của nó, do các

chủ thể có quốc tịch khác nhau, phong tục tập quán khác nhau, ngôn ngữ bất đồng,

nên thường dẫn đến những hiểu lầm đáng tiếc như đơn vị đo lường dùng trong hợp

đồng, luật điều chỉnh,.v.v

c) Đối tượng hợp đồng:

Đối tượng hợp đồng phải là hàng được phép xuất nhập khẩu theo các văn

bản pháp luật hiện hành Doanh nghiệp không được phép xuất nhập khẩu những

mặt hàng cấm xuất nhập khẩu Nếu đối tượng của hợp đồng là loại hàng hoá Nhà

nước hạn chế lưu thông, thì loại hợp đồng mua bán này thường bị Nhà nước quản

lý chặt chẽ về số lượng và địa chỉ tiêu thụ, việc ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá

phải tuân theo quy định của pháp luật hiện hành

Căn cứ theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 46/2001/QĐ-Ttg ngày

04/04/2001, hàng cấm xuất khẩu gồm: vũ khí, đạn dược, vật liệu nổ, trang thiết bị

kỹ thuật quân sự; đồ cổ; các loại ma tuý; các loại hoá chất độc; gỗ tròn, gỗ xẻ, than

làm từ gỗ; động vật hoang dã và động thực vật quý hiếm tự nhiên; các loại mật mã

và chương trình phần mềm mật mã

Hàng cấm nhập khẩu gồm: vũ khí, đạn dược, vật liệu nổ; các loại ma tuý;

các loại hoá chất độc; sản phẩm văn hoá đồi trụy,phản động; đồ chơi trẻ em có ảnh

hưởng xấu đến giáo dục nhân cách và trật tự an toàn xã hội; pháo các loại (trừ pháo

hiệu); thuốc lá điếu,xì gà và các loại thuốc lá thành phẩm khác; hàng tiêu dùng đã

qua sử dụng như hàng dệt may, hàng điện tử, hàng điện gia dụng…; phương tiện

vận tải tay lái nghịch, trừ các loại phương tiện chuyên dùng; vật tư phương tiện đã

qua sử dụng như máy, khung, săm, lốp ôtô máy kéo, xe đạp cũ, ôtô cứu thương

cũ…; sản phẩm, vật liệu có chứa amiăng thuộc nhóm amphibole; các loại máy mật

Trang 19

mã chuyên dùng và các chương trình phần mềm mật mã sử dụng trong phạm vi bảo

vệ bí mật nhà nước

Ngoài ra, còn có những mặt hàng xuất nhập khẩu theo giấy phép của Bộ

Thương mại, những mặt hàng nhập khẩu thuộc diện quản lý của Bộ Nông nghiệp

và phát triển nông thôn; Bộ Thủy sản; Ngân hàng nhà nước ; Tổng cục Bưu chính

viễn thông; Bộ Văn hoá thông tin; Bộ Y tế và thuộc diện quản lý của Bộ Công

nghiệp

d) Nội dung hợp đồng:

Nội dung của hợp đồng bao gồm những điều khoản mà theo Điều 50 của

Luật Thương mại buộc phải có Đó là:

Tên hàng;

Số lượng;

Quy cách, chất lượng;

Giá cả;

Phương thức thanh toán;

Địa điểm và thời hạn giao nhận hàng

Nội dung về điều khoản tên hàng:

Trong hợp đồng tên hàng phải nêu bằng những danh từ thông dụng nhất

(tiếng phổ thông) để các bên hợp đồng và các cơ quan hữu quan đều có thể hiểu

được

Ngoài ra, các bên phải thực hiện tốt các yêu cầu về nhãn mác theo Quyết

định số 178/1999/QĐ-Ttg của Thủ tướng Chính phủ ngày 30/8/1999, có hiệu lực

bắt đầu từ ngày 1/3/2000

Điều khoản về số lượng hàng hoá:

Số lượng vật tư, hàng hoá, phải được ghi chính xác, rõ ràng theo sự thỏa

thuận của các bên chủ thể và tính theo đơn vị đo lường hợp pháp của nhà nước với

từng loại hàng, như: kg, tạ, tấn, cái, chiếc.v.v nếu tính trọng lượng thì ghi cả trọng

lượng tĩnh và trọng lượng cả bì

Trang 20

Về trọng lượng, quy cách hàng hoá:

Có thể thỏa thuận theo ba phương pháp quy định chất lượng hàng hoá, phổ

biến trong thực tế ký hợp đồng theo những phương pháp như sau: Phải ghi rõ trong

hợp đồng phẩm chất, quy cách, tiêu chuẩn kỹ thuật, kích thước, màu sắc, mùi vị, độ

ẩm, tạp chất…Nhưng tuỳ từng loại hàng mà hai bên có thể thỏa thuận về các điều

kiện phẩm chất, quy cách cho phù hợp

Có thể căn cứ vào tiêu chuẩn để thỏa thuận chất lượng của hàng hoá Nếu

chưa được tiêu chuẩn hoá, các bên phải thỏa thuận chất lượng bằng sự mô tả tỉ mỉ

Đối với hàng hoá có chất lượng ổn định thường được thỏa thuận theo mẫu

hàng, đó là hàng được sản xuất hàng loạt và trong hợp đồng nên kèm theo mẫu

hàng hoá Tuỳ theo từng chủng loại hợp đồng mà thỏa thuận chất lượng hàng hoá

sao cho phù hợp

Điều khoản về giá cả:

Khi định giá hàng trong hợp đồng mua bán cần nêu rõ: đơn vị tính giá và

phương pháp tính giá Về phương pháp định giá trong điều kiện kinh tế thị trường

hiện nay, nói chung thì phương pháp định giá như thế nào cho phù hợp với giá cả

thị trường để bên mua có thể chấp nhận được là do nghệ thuật tiếp thị của mỗi

thương nhân (Trừ những sản phẩm và vật tư đặc biệt do Nhà nước đang quản lý

giá )

Điều khoản thanh toán:

Tuỳ theo tính chất, đối tượng của hợp đồng và các quan hệ chi trả, hai bên

thỏa thuận và ghi vào trong hợp đồng với các hình thức như: thanh toán bằng đổi

hàng; uỷ nhiệm chi (chuyển tiền); bằng séc; bằng thư tín dụng v.v và hai bên phải

thỏa thuận ngay từ đầu thanh toán bằng tiền Việt Nam, hay bằng ngoại tệ nào Về

thời gian thanh toán có thể căn cứ vào thời gian và phương thức giao hàng

Về nội dung của điều khoản về giao nhận hàng:

Nội dung này được ghi nhận trong các Điều 61, Điều 64, Điều 65 và

Điều71-Luật Thương mại (1997) Nội dung của hợp đồng cần xác định rõ những vấn đề

Trang 21

sau: về thời gian giao nhận hàng, về địa điểm giao nhận, phương thức giao nhận;

điều kiện của người đại diện đến khi nhận hàng… Trước khi giao nhận hàng người

bán phải kiểm tra chất lượng hàng hoá, chịu chi phí kiểm tra và cung cấp giấy

chứng nhận chất lượng theo các điều kiện đã thỏa thuận với người mua Trong

trường hợp không có thỏa thuận cụ thể về việc kiểm tra chất lượng hàng hoá, thì

theo các điều kiện thường được áp dụng đối với hàng hoá này

Ngoài các nội dung chủ yếu quy định tại Điều 50 – Luật Thương mại, các

bên có thể thỏa thuận các nội dung khác trong hợp đồng về bao bì và ký mã hiệu,

về bảo hành hàng hoá và giấy hướng dẫn sử dụng (Điều 66); về các biện pháp bảo

đảm thực hiện hợp đồng hoặc các thỏa thuận khác không trái với quy định của pháp

luật

Vậy, xét về hình thức của một hợp đồng xuất nhập khẩu gồm có hai phần:

Những điều trình bày (representations); và các điều khoản và điều kiện (terms and

conditions)

+ Trong phần những điều trình bày, cần phải ghi rõ:

- Số hợp đồng (contract No.);

- Địa điểm và ngày tháng ký kết hợp đồng (Ex: HCMC May 20th 2003)

- Tên và địa chỉ của các bên (Ex: NEU company, address…,Tel…);

- Những định nghĩa dùng trong hợp đồng Những định nghĩa này có thể rất

nhiều, ví dụ như “ hàng hoá” có nghĩa là…

- Cở sở pháp lý để ký kết hợp đồng Đây có thể là Hiệp định Chính phủ ký

kết ngày, tháng…; hoặc nêu lên sự tự nguyện của hai bên khi ký kết hợp đồng

+Trong phần điều khoản và điều kiện, người ta ghi rõ các điều khoản thương

phẩm (tên hàng, số lượng…); Các điều khoản tài chính (giá cả, thanh toán…); Các

điều khoản về vận tải (điều khoản giao hàng, thời gian và địa điểm giao hàng…);

Các điều khoản pháp lý (Luật áp dụng vào hợp đồng, khiếu nại, trường hợp bất khả

kháng, trọng tài…)

Trang 22

2 Thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu:

Sau khi hợp đồng xuất nhập khẩu được xác lập có giá trị pháp lý, các bên có

trách nhiệm chấp hành nghĩa vụ của mình và hưởng các quyền như đã thỏa thuận

trong hợp đồng Việc thực hiện hợp đồng cũng đòi hỏi tuân thủ theo các quy định

của pháp luật Thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu là hành vi của các chủ thể tham

gia quan hệ hợp đồng nhằm làm cho các điều khoản đã cam kết trở thành hiện

2.1 Nguyên tắc thực hiện :

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên phải tuân theo các nguyên tắc

sau:

+ Nguyên tắc thực hiện đúng nghĩa vụ: là chấp hành rõ, đầy đủ tất cả các

điều khoản đã cam kết Nguyên tắc này đòi hỏi mỗi bên đều phải thực hiện nghiêm

chỉnh và đúng đắn tất cả các nghĩa vụ của mình trong quan hệ hợp đồng, đồng thời

có quyền yêu cầu bên kia thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của họ

Bên cạnh đó, đối tượng của hợp đồng phải được chấp hành nghiêm chỉnh,

không được tự ý thay thế đối tượng này bằng đối tượng khác, hay thay thế thực

hiện nó bằng một khoản tiền nhất định

+ Nguyên tắc thực hiện trên tinh thần hợp tác cùng có lợi: tương trợ hợp tác

giúp đỡ lẫn nhau trong quá trình thực hiện hợp đồng là việc làm cần thiết và quan

trọng để đáp ứng nhu cầu và bảo đảm quyền lợi của chủ thể hợp đồng Theo

nguyên tắc này, các bên phải hợp tác chặt chẽ, thường xuyên theo dõi quá trình

thực hiện hợp đồng, giúp đỡ nhau khắc phục khó khăn để thực hiện đầy đủ và

nghiêm chỉnh các nghĩa vụ đã cam kết, ngay cả trong trường hợp có tranh chấp xảy

ra, các bên phải chủ động gặp nhau giải quyết

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, pháp luật nghiêm cấm những hành vi

xâm hại đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của

các chủ thể khác

Các chủ thể nếu vi phạm các nguyên tắc này trong quá trình thực hiện hợp

đồng, tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra, bên vi phạm phải gánh

Trang 23

chịu chế tài do Pháp luật quy định : “ Buộc phải thực hiện đúng hợp đồng; Phạt vi

pham; Bồi thường thiệt hại; Huỷ hợp đồng” (Điều 222 – Luật Thương mại )

Theo Điều 258 – Luật Thương mại, thương nhân bên vi phạm bị xử lý theo

một trong các hình thức: “Xử phạt vi phạm hành chính; Trong trường hợp hành vi

vi phạm có đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo

quy định của pháp luật”

2.2 Nghiệp vụ thực hiện :

Sau khi hợp đồng xuất nhập khẩu đã được ký kết – có hiệu lực pháp luật, đơn

vị kinh doanh xuất nhập khẩu-với tư cách một bên ký kết – phải tổ chức thực hiện

hợp đồng đó Đây là một công việc rất phức tạp Nó đòi hỏi phải tuân thủ luật quốc

gia và quốc tế, đồng thời bảo đảm được quyền lợi quốc gia và uy tín kinh doanh

của đơn vị Về mặt kinh doanh, trong quá trình thực hiện các khâu công việc để

thực hiện hợp đồng, đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu phải cố gắng tiết kiệm chi

phí lưu thông, nâng cao tính doanh lợi và hiệu quả của toàn bộ nghiệp vụ giao dịch

Để tiến hành một hợp đồng xuất nhập khẩu, doanh nghiệp phải tiến hành các bước

tuần tự sau:

Bước 1: Xin giấy phép xuất nhập khẩu

Giấy phép xuất nhập khẩu là một biện pháp quan trọng để nhà nước quản lý

xuất nhập khẩu Vì thế, sau khi ký hợp đồng xuất nhập khẩu, doanh nghiệp phải xin

giấy phép xuất nhập khẩu để thực hiện hợp đồng Ngày nay, trong xu thế tự do hoá

mậu dịch, nhiều nước giảm bớt số mặt hàng cần phải xin giấy phép xuất nhập khẩu

chuyến

Ở Việt Nam, giấy phép nhập khẩu từng lô hàng (chuyến hàng) được bãi bỏ

từ ngày 15/12/1995 Tuy nhiên, giấy phép nhập khẩu vẫn là biện pháp quản lý nhập

khẩu quan trọng Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số

46/2001/QĐ-TTg, quy định cơ chế quản lý hàng hoá xuất nhập khẩu thời kỳ 2001-2005 Theo

đó, nhiều hàng hoá chịu sự quản lý thông qua hình thức cấp giấy phép của Bộ

Trang 24

Thương mại và các Bộ chuyên ngành Hiện nay, ở nước ta việc cấp giấy phép xuất

nhập khẩu được phân công như sau:

+ Bộ Thương mại (các phòng cấp giấy phép ) cấp những giấy phép xuất nhập

khẩu hàng mậu dịch, nếu hàng đó phải xin giấy phép theo luật định

+ Tổng cục Hải quan cấp giấy phép xuất nhập khẩu hàng phi mậu dịch

Mỗi giấy phép chỉ cấp cho một chủ hàng kinh doanh để xuất hoặc nhập khẩu

một hoặc một số mặt hàng với một nước nhất định, chuyên chở bằng một phương

thức vận tải và giao nhận tại một cửa khẩu nhất định Đơn xin giấy phép (và các

chứng từ đính kèm) phải được chuyển đến Phòng (hoặc Tổ) cấp giấy phép của Bộ

Thương mại Sau 03 ngày, kể từ ngày nhận được đơn đó, Phòng (hoặc Tổ ) cấp

giấy phép phải trả lời kết quả (theo Thông tư 21/KTĐN/VT ngày 23/10/1989)

Bước 2: Mở tín dụng thư (nếu hợp đồng quy định phương thức thanh toán

này)

Nếu hợp đồng xuất khẩu quy định việc thanh toán bằng thư tín dụng, đơn vị

kinh doanh xuất khẩu phải đôn đốc bên mua mở thư tín dụng (L/C) đúng hạn Khi

lập bộ chứng từ thanh toán cần phải chú ý những điểm quan trọng: nhanh chóng,

chính xác, phù hợp với những yêu cầu của L/C cả về nội dung lẫn hình thức

Khi hợp đồng nhập khẩu quy định tiền hàng thanh toán bằng L/C, một trong

các việc đầu tiên mà bên mua phải làm để thực hiện hợp đồng là việc mở L/C Căn

cứ để mở L/C là các điều khoản của hợp đồng nhập khẩu

Bước 3: Thuê tàu lưu cước và mua bảo hiểm hàng hoá

Trong quá trình thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu, việc thuê tàu chở hàng

dựa vào ba căn cứ sau: Những điều khoản của hợp đồng xuất nhập khẩu, đặc điểm

hàng mua bán và điều kiện vận tải Chẳng hạn nếu điều kiện cơ sở giao hàng của

hợp đồng xuất khẩu là CIF hoặc C and F hoặc của hợp đồng nhập khẩu là FOB thì

chủ hàng xuất nhập khẩu phải thuê tàu để chở hàng Tàu này có thể là tàu chuyến

nếu hàng có khối lượng lớn và để trần (bulk cargo) Đó có thể là tàu chợ (liner) nếu

hàng lẻ tẻ, đóng trong bao kiện (general cargo) và từ cảng đi tới cảng đến có

Trang 25

chuyến tàu chợ (regular line) Việc thuê khoang tàu chợ còn được gọi là lưu cước

(Booking a ship’s space)

Hàng hoá chuyên chở trên đường biển thường gặp nhiều rủi ro, tổn thất Vì

thế bảo hiểm hàng hoá đường biển là loại bảo hiểm phổ biến nhất trong ngoại

thương Các chủ hàng xuất nhập khẩu của ta, khi cần mua bảo hiểm, hầu hết đều

mua tại các công ty Việt Nam (Bảo Việt, Bảo Minh,Công ty CP bảo hiểm Bưu điện

PTI…) Hợp đồng bảo hiểm có thể là hợp đồng bảo hiểm bao, hoặc hợp đồng bảo

hiểm chuyến Khi mua bảo hiểm bao, chủ hàng (đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu

) ký hợp đồng từ đầu năm, còn đến khi giao hàng xuống tàu xong chủ hàng chỉ gửi

đến công ty bảo hiểm một thông báo bằng văn bản, gọi là: “ Giấy báo bắt đầu vận

chuyển” Khi mua bảo hiểm chuyến, chủ hàng phải gửi đến công ty bảo hiểm một

văn bản, gọi là: “Giấy yêu cầu bảo hiểm” Trên cơ sở đó chủ hàng và công ty bảo

hiểm đàm phán ký kết hợp đồng bảo hiểm

Bước 4: Làm thủ tục hải quan

Tất cả các hàng hoá xuất nhập khẩu đều phải làm thủ tục hải quan Việc làm

thủ tục hải quan bao gồm ba bước sau:

+ Khai báo hải quan

Chủ hàng khai báo các chi tiết về hàng hoá lên tờ khai (customs declartion)

để cơ quan hải quan kiểm tra các thủ tục giấy tờ

+ Xuất trình hàng hoá

Hàng hoá xuất nhập khẩu phải được sắp xếp trật tự, thuận tiện cho việc kiểm

soát Chủ hàng phải chịu chi phí và nhân công về việc mở, đóng các kiện hàng Yêu

cầu của việc xuất trình hàng hoá cũng là sự trung thực của chủ hàng Để thực hiện

các thủ tục kiểm tra và giám sát, chủ hàng phải nộp phí làm thủ tục hải quan

+ Thực hiện các quyết định của hải quan

Sau khi kiểm soát giấy tờ và hàng hoá, cơ quan hải quan sẽ ra những quyết

định như: cho hàng được phép ngang qua biên giới (thông qua), cho hàng đi qua

một cách có điều kiện (như phải sữa chữa, đóng gói lại bao bì…), cho hàng đi qua

Trang 26

sau khi hàng đã nộp thuế; lưu kho ngoại quan (bonded warshouse), hàng không

được xuất khẩu (hoặc nhập khẩu)… Các chủ hàng có nghĩa vụ phải thực hiện

nghiêm túc các quyết định đó

Bước 5: Giao nhận hàng với tàu và kiểm tra hàng hoá

Hàng xuất khẩu của ta được giao, về cơ bản bằng đường biển và đường

hàng không Ngoài ra, còn có thể được được giao cả bằng phương thức đường bộ,

đường sắt trong giao lưu thương mại với các nước láng giềng (Lào, Campuchia,

Trung Quốc) Trong đó, vận tải biển là phương thức vận tải chủ yếu và bảo đảm

chuyên chở khoảng 90% khối lượng hàng hoá của Việt Nam Nếu hàng hoá được

giao bằng đường biển, chủ hàng phải tiến hành các việc chủ yếu sau:

+ Căn cứ vào các chi tiết hàng xuất khẩu, lập bảng đăng kí hàng chuyên chở

cho người vận tải (Đại diện hàng hải, hoặc thuyền trưởng hoặc công ty đại lý tàu

biển) để đổi lấy sơ đồ xếp hàng (Stowage plan)

+ Trao đổi với cơ quan điều độ cảng để nắm vững ngày giờ làm hàng

+ Bố trí phương tiện đem hàng vào cảng, xếp hàng lên tàu

+ Lấy biên lai thuyền phó (Mate’s receipt) và đổi biên lai thuyền phó lấy vận

đơn đường biển

Vận đơn đường biển phải là vận đơn hoàn hảo, đã xếp hàng (Clean on board

B/L)

Đối với việc giao nhận hàng nhập khẩu, các cơ quan vận tải (ga, cảng) có

trách nhiệm tiếp nhận hàng hoá nhập khẩu trên các phương tiện vận tải từ nước

ngoài vào, bảo quản hàng hoá đó trong quá trình xếp dỡ, lưu kho, lưu bãi, và giao

cho các doanh nghiệp đã nhập hàng hoặc các đơn vị nhận hàng theo sự uỷ quyền

của doanh nghiệp đã nhập hàng đó, sau khi hoàn thành các thủ tục hải quan

Do đó, đơn vị kinh doanh nhập khẩu phải, hoặc trực tiếp hoặc thông qua một

đơn vị nhận uỷ thác giao nhận (như Vietrans chẳng hạn), tiến hành:

+ Ký kết hợp đồng uỷ thác giao nhận hàng hoá nhập khẩu

Trang 27

+ Xác nhận với ga, cảng kế hoạch tiếp nhận hàng nhập khẩu từng năm, từng

quý, lịch tàu, cơ cấu mặt hàng, điều kiện kỹ thuật khi bốc dỡ, vận chuyển, giao

nhận

+ Cung cấp các tài liệu cần thiết cho việc giao nhận hàng hoá (như vận đơn,

lệnh giao hàng…) nếu cơ quan vận tải không giao những tài liệu đó

+ Thông báo cho các đơn vị trong nước đặt mua hàng nhập khẩu (nếu hàng

nhập khẩu cho các đơn vị trong nước) về dự kiến ngày hàng về, ngày thực tế tàu

chở hàng về đến cảng hoặc ngày toa xe chở hàng về sân ga giao nhận

+ Thanh toán cho cơ quan vận tải các khoản phí tổn về giao nhận, bốc xếp,

bảo quản và vận chuyển hàng nhập khẩu

+ Theo dõi giao nhận, đôn đốc cơ quan vận tải lập những biên bản về đổ vỡ,

thiếu hụt, mất mát hàng hoá và giải quyết trong phạm vi những vấn đề xảy ra trong

việc giao nhận

Theo các quy định của Việt Nam, hàng nhập khẩu khi về qua cửa khẩu cần

được kiểm tra kỹ càng, mỗi cơ quan tuỳ theo chức năng của mình phải tiến hành

công việc kiểm tra đó Cơ quan giao thông (ga, cảng) phải kiểm tra niêm phong cặp

chì trước khi dỡ hàng ra khỏi phương tiện vận tải Doanh nghiệp nhập khẩu, với tư

cách là một bên đứng tên trên vận đơn, phải lập thư dự kháng nếu nghi ngờ hoặc

thực sự thấy có tổn thất, sau đó phải yêu cầu công ty bảo hiểm lập biên bản giám

định nếu tổn thất xảy ra bởi những rủi ro đã được mua bảo hiểm Trong những

trường hợp khác phải yêu cầu công ty giám định tiến hành kiểm tra hàng hoá và lập

chứng thư giám định Các cơ quan kiểm dịch phải thực hiện nhiệm vụ kiểm dịch

nếu hàng nhập khẩu là động hoặc thực vật

Bước 6: Làm thủ tục thanh toán

Thủ tục thanh toán dựa vào điều khoản đã được giao kết trong hợp đồng Ở

Việt Nam, theo quy định số 299/TMDL-XNK ngày 9/4/1992 của Bộ Thương mại

và Du lịch (nay là Bộ Thương mại) tại Điều 6, khoản 6 quy định phương thức thanh

Trang 28

toán mà bên Việt Nam tham gia hợp đồng mua bán ngoại thương có quyền lựa

chọn là:

+ Thanh toán theo L/C (phương thức tín dụng chứng từ): là sự thỏa thuận

trong đó một ngân hàng (ngân hàng mở L/C) theo yêu cầu của khách hàng (người

mở L/C) sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi) hoặc

chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người này

xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với quy định của

L/C

+ Uỷ thác thu (D/A and D/P): là phương thức mà người bán sau khi giao

hàng cho người mua, lập bộ chứng từ thanh toán (gồm cả hối phiếu và chứng từ gửi

hàng) chuyển đến ngân hàng nhờ thu hộ

+ Thanh toán TTR: là phương thức thanh toán căn cứ vào việc bên bán giao

hàng theo điều kiện đã thỏa thuận và chuyển toàn bộ chứng từ cho bên mua, nếu

thấy phù hợp bên mua sẽ báo cho ngân hàng chuyển tiền cho bên bán

+ Đổi hàng: là phương thức thanh toán phải thông qua các ngân hàng Việt

Nam, số lượng, giá trị hàng đổi phải được quy định cụ thể, phải cân đối giữa hàng

xuất khẩu và hàng nhập khẩu

3 Trách nhiệm pháp lý đối với vi phạm hợp đồng xuất nhập khẩu:

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên bắt buộc phải thực hiện nghiêm

chỉnh các nghĩa vụ của mình; một hành vi vi phạm hợp đồng chính là sự vi phạm

gây thiệt hại cho bên kia, sẽ phát sinh hậu quả pháp lý bất lợi cho bên vi phạm Hay

nói cách khác là bên vi phạm phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại gây ra cho

bên kia

3.1 Các yếu tố cấu thành trách nhiệm do vi phạm HĐ xuất nhập khẩu :

Muốn kết luận một bên có vi phạm hợp đồng hay không, cần phải xem xét

các yếu tố:

+ Có hành vi vi phạm hợp đồng (không thực hiện hoặc thực hiện không đúng

hợp đồng đã ký);

Trang 29

+ Có thiệt hại thực tế về tài sản;

+ Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại thực tế

3.2 Các hình thức trách nhiệm:

Hợp đồng mua bán ngoại thương là một trong 14 hành vi thương mại được

quy định trong Luật Thương mại 1997, nên khi có vi phạm hợp đồng đã ký, bên vi

phạm cũng phải gánh chịu chế tài đã được Luật quy định tại điều 222- Các loại chế

tài trong thương mại :

+ Buộc phải thực hiện đúng hợp đồng;

+ Phạt vi phạm;

+ Bồi thường thiệt hại;

+ Huỷ hợp đồng

a) Buộc thực hiện đúng hợp đồng: Theo Điều 223 – Luật Thương mại, nội

dung của chế tài này được quy định như sau:

- Buộc thực hiện đúng hợp đồng là việc bên có quyền lợi bị vi phạm yêu cầu

bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng

được thực hiện và bên vi phạm phải chịu phí tổn phát sinh

- Trong trường hợp bên vi phạm giao hàng thiếu, kém chất lượng, không phù

hợp với hợp đồng thì phải giao đủ hàng và phải tìm cách loại trừ khuyết tật của

hàng hoá hoặc giao hàng khác thay thế Nếu bên vi phạm cung ứng dịch vụ không

đúng với thoả thuận trong hợp đồng thì phải tìm cách khắc phục thiếu sót của dịch

vụ, cung ứng dịch vụ theo đúng với hợp đồng Không được dùng tiền hoặc hàng

khác chủng loại, loại dịch vụ khác để thay thế, nếu không được sự chấp thuận của

bên có quyền lợi bị vi phạm

- Trong trường hợp bên vi phạm không thực hiện theo quy định tại khoản 2

điều này thì bên có quyền lợi bị vi phạm có quyền mua hàng, nhận cung ứng dịch

vụ của người khác để thay thế theo đúng loại hàng hoá, dịch vụ ghi trong hợp đồng

và bên vi phạm phải bù chênh lệch nếu có

Trang 30

- Trong trường hợp bên có quyền lợi bị vi phạm tự sửa chữa khuyết tật của

hàng hoá, thiếu sót của dịch vụ thì bên vi phạm phải trả các chi phí thực tế hợp lý

- Bên có quyền lợi bị vi phạm phải nhận hàng, nhận dịch vụ và thanh toán

tiền hàng, phí dịch vụ, nếu bên vi phạm đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo quy định

tại khoản 2 điều này

* Gia hạn thực hiện nghĩa vụ (Điều 224-LTM):

Bên có quyền lợi bị vi phạm có thể gia hạn một thời gian hợp lý để bên vi

phạm thực hiện nghĩa vụ của mình

* Quan hệ giữa chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và các loại chế tài

khác (Điều 225-LTM):

Trong trường hợp không có thoả thuận khác thì trong thời gian áp dụng chế

tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, bên có quyền lợi bị vi phạm không được áp

dụng các chế tài phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại hoặc huỷ hợp đồng

Trong trường hợp bên vi phạm không thực hiện chế tài buộc thực hiện đúng

hợp đồng trong thời hạn ấn định, bên có quyền lợi bị vi phạm được áp dụng các chế

tài khác để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, như phạt vi phạm hoặc huỷ hợp

đồng

b) Phạt vi phạm: Là bên có quyền lợi bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả

một khoản tiền phạt nhất định do vi phạm hợp đồng, nếu trong hợp đồng có thỏa

thuận pháp luật có quy định( Điều 226 – LTM) Quyền đòi tiền phạt vi phạm phát

sinh do các hành vi :

+ Không thực hiện hợp đồng

+ Thực hiện không đúng hợp đồng

Các bên có thể thỏa thuận mức phạt đối với một vi phạm hoặc tổmg mức

phạt đối với nhiều vi phạm, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm

của hợp đồng (Điều 228- LTM)

Đối với hợp đồng xuất nhập khẩu, có thể căn cứ vào Pháp lệnh hợp đồng

kinh tế (ngày 28/9/1989) để thỏa thuận quy định mức phạt Trong trường hợp giao

Trang 31

hàng không đúng phẩm chất theo hợp đồng, mà người mua đòi hỏi thay thế hay

sửa chữa khuyết tật thì họ vẫn có quyền đòi tiền phạt giao hàng chậm và tiền phạt

sẽ được tính từ ngày khiếu nại cho đến ngày người bán loại trừ khuyết tật

c) Bồi thường thiệt hại: Là việc bên có quyền lợi bị vi phạm yêu cầu bên vi

phạm trả tiền bồi thướng thiệt hại do vi phạm hợp đồng gây ra Bồi thường thiệt hại

bao gồm giá trị tổn thất trực tiếp, thực tế và những lợi ích khác đáng lẽ được

hưởng, bị bỏ lỡ, mà bên có quyền lợi bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm hợp

đồng gây ra Số tiền bồi thường thiệt hại không thể cao hơn giá trị tổn thất và khoản

lợi đáng lẽ được hưởng (Điều 229 – LTM)

bồi thường thiệt hại là: có hành vi vi phạm hợp đồng; có thiệt hại vật chất; có mối

quan hệ giữa hành vi và thiệt hại; có lỗi của bên vi phạm hợp đồng

Một số vấn đề các bên cần lưu ý khi áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại:

+ Bên đòi bồi thường phải có nghĩa vụ chứng minh tổn thất và mức độ tổn

thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra

+ Bên có quyền lợi bị vi phạm được lựa chọn một trong hai chế tài là phạt vi

phạm hoặc bồi thường thiệt hại đối với cùng một vi phạm, nếu các bên không có

thỏa thuận khác (Điều 134- LTM)

Nguyên tắc bồi thường là thiệt hại bao nhiêu bồi thường bấy nhiêu

d) Huỷ hợp đồng: Đây là chế tài nặng nhất khi có hành vi vi phạm hợp đồng

mà không thể dung hoà được nữa, hợp đồng đã giao kết không thể thực hiện được

do hành vi vi phạm gây ra

huỷ hợp đồng nếu việc vi phạm của bên kia là điều kiện để huỷ hợp đồng mà các

bên đã thỏa thuận Đây là một quy định mới so với Pháp lệnh hợp đồng kinh tế

(28/9/1989) về các trường hợp áp dụng chế tài huỷ hợp đồng Chế tài huỷ hợp đồng

mua bán hàng hoá, theo Luật Thương mại, do các bên thỏa thuận và được ghi vào

hợp đồng trong điều khoản: “điều kiện huỷ hợp đồng”

Trang 32

Khi vi phạm hợp đồng xảy ra, phù hợp với các điều kiện huỷ hợp đồng đã

thỏa thuận, bên huỷ hợp đồng có nghĩa vụ phải thông báo ngay cho bên kia biết về

việc huỷ hợp đồng (Điều 236) Việc huỷ hợp đồng sẽ dẫn tới các hậu quả pháp lý

sau:

+ Các bên không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận trong

hợp đồng

+ Mỗi bên có quyền đòi lại lợi ích cho việc đã thực hiện phần nghĩa vụ thỏa

thuận trong hợp đồng Nếu do việc huỷ hợp đồng mà các bên đều có nghĩa vụ bồi

hoàn thì nghĩa vụ của họ phải được thực hiện đồng thời

+ Quyền đòi bồi thường thiệt hại do huỷ hợp đồng thuộc bên bị thiệt hại

Trong thực tiễn hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế,để bảo vệ lợi ích của

mình nên các bên đều muốn áp dụng luật quốc gia làm nguồn luật điều chỉnh hợp

đồng Trong trường hợp luật quốc gia chưa quy định đầy đủ hoặc các bên không

thỏa thuận được về lựa chọn luật nước nào để điều chỉnh hợp đồng, một điều ước

quốc tế có liên quan được dẫn chiếu áp dụng, làm cơ sở pháp lý cho quan hệ hợp

đồng đó

3.3 Các trường hợp miễn trách:

Trong giao dịch trên thị trường thế giới, người ta thương quy định những

trường hợp mà bên đương sự được hoàn toàn hoặc, trong chừng mực nào đó, miễn

hay hoãn thực hiện các nghĩa vụ của hợp đồng Những trường hợp như vậy thường

xảy ra sau khi sau khi ký hợp đồng, có tính chất khách quan và không thể khắc

phục được Những điều khoản nói về những trường hợp như vậy thường có tên là

“trường hợp bất khả kháng” hoặc trường hợp miễn trách nhiệm Theo văn bản số

421 của Phòng Thương mại quốc tế, một bên được miễn trách nhiệm về việc không

thực hiện toàn bộ hoặc một phần nghĩa vụ của mình nếu bên đó chứng minh được

rằng:

+ Việc không thực hiện được nghĩa vụ là do một trở ngại ngoài sự kiểm soát

của bên đó;

Trang 33

+ Bên đó đã không thể lường trước một cách hợp lý được trở ngại đó;

+ Bên đó đã không thể tránh hoặc khắc phục một cách hợp lý các trở ngại đó

Việc miễn trách nhiệm cho một bên hợp đồng được quy định rất cụ thể tại

Điều 79-Công ước Viên 1980 Theo pháp luật Việt Nam, Điều 77-Luật Thương

mại; và Quyết định số 299/TMDL-XNK ngày 9/4/1992 nêu ba trường hợp miễn

trách :

+ Trường hợp bất khả kháng

+ Lỗi của bên kia (trái chủ) hoặc bên thứ ba

+ Các trường hợp miễn trách do hai bên thỏa thuận

Trường hợp bất khả kháng: là những sự kiện khách quan xảy ra ngoài ý

muốn và dự kiến của các bên trong thời gian thực hiện hợp đồng, khi sự kiện đó

xảy ra dù đã làm hết khả năng của mình nhưng vẫn không thể khắc phục được

Lỗi trái chủ: Nếu lỗi của trái chủ là nguyên nhân chủ yếu và trực tiếp gây

nên sự vi phạm hợp đồng của thụ trái thì thụ trái được miễn trách nhiệm Trong

trường hợp này, để được miễn trách nhiệm, thụ trái phải chứng minh được lỗi của

trái chủ là nguyên nhân chủ yếu và trực tiếp dẫn đến vi phạm hợp đồng cuả mình

Lỗi của người thứ ba: khi lỗi của người thứ ba là nguyên nhân trực tiếp và

chủ yếu dẫn đến việc vi phạm hợp đồng (với điều kiện lỗi của người thứ ba là ngẫu

nhiên và trước đó không có quan hệ gì với các bên chủ thể về những công việc có

liên quan đến hợp đồng bị vi phạm) thì bên vi phạm cũng được miễn trách nhiệm

nếu chứng minh được điều đó là thực tế

Trường hợp miễn trách nhiệm được ghi trong hợp đồng (hoặc do hai bên

thỏa thuận): bên vi phạm sẽ không chịu trách nhiệm trong trường hợp hợp đồng

quy định được miễn trách nhiệm, hoặc do các bên thống nhất thỏa thuận

Trong điều kiện trường hợp bất khả kháng, người ta cũng quy trách nhiệm

của bên gặp trường hợp đó như: phải lập tức báo tin cho bên kia bằng văn bản về

lúc bắt đầu và lúc chấm dứt sự kiện… Đồng thời người ta cũng thỏa thuận chỉ định

Trang 34

một tổ chức có thể chứng nhận được về diễn biến của sự kiện Tổ chức này thường

là Phòng Thương mại ở nơi xảy ra sự kiện

4 Giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng xuất nhập khẩu:

Hợp đồng xuất nhập khẩu nói chung dù có được soạn thảo chi tiết và cẩn

thận đến mấy cũng khó lường trước được hết những vấn đề có thể phát sinh tranh

chấp

Mặt khác, do có sự khác biệt về địa lý, truyền thống pháp luật và tập quán

thương mại …Nên khi thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu các tranh chấp cũng có

thể xảy ra

Bởi vậy việc giải quyết tranh chấp là việc làm cần thiết; nó là việc điều chỉnh

các bất đồng, các xung đột dựa trên những căn cứ và những phương thức khác nhau

do các bên lựa chọn Căn cứ để giải quyết tranh chấp có thể được quy định ở điều

khoản nguồn luật áp dụng hay điều khoản trọng tài trong hợp đồng Nếu các bên

không thỏa thuận thì việc giải quyết tranh chấp sẽ được áp dụng nguyên tắc xung

đột pháp luật

Theo pháp luật Việt Nam, Điều 239- Luật Thương mại có quy định phương

thức giải quyết tranh chấp như sau:

Tranh chấp thương mại trước hết phải thông qua thương lượng giữa các

bên Theo hình thức này, khi bắt đầu phát sinh tranh chấp các bên tự nguyện và

nhanh chóng liên hệ, gặp gỡ với nhau để thương lượng tìm cách tháo gỡ bất đồng

với mục đích chung là giữ gìn mối quan hệ kinh doanh tốt đẹp và lâu dài giữa họ

Các bên tranh chấp có thể thỏa thuận chọn một cơ quan, tổ chức, cá nhân làm trung gian hoà giải Đây là một hình thức giải quyết tranh chấp mang tính

chất riêng tư, trong đó hoà giải viên là người thứ ba trung gian giúp các bên tranh

chấp đạt được một sự thỏa thuận chung

Trong trường hợp thương lượng hoặc hoà giải không đạt kết quả thì tranh

chấp thương mại được giải quyết tại trọng tài hoặc toà án Thủ tục giải quyết tranh

Trang 35

chấp thương mại tại trọng tài toà án được tiến hành theo các thủ tục tố tụng trọng

tài, toà án mà các bên lựa chọn

Giải quyết tranh chấp theo thủ tục trọng tài: là quá trình giải quyết tranh

chấp do các bên tự nguyện lựa chọn, trong đó bên thứ ba trung lập (trọng tài viên)

sau khi nghe các bên trình bày sẽ ra một quyết định có tính chất bắt buộc đối với

các bên Các quyết định và phán quyết của trọng tài có thể được toà án công nhận

và cho thi hành thông qua một thủ tục tư pháp

Giải quyết tranh chấp theo thủ tục tư pháp tại toà án: khác với hoà giải hay

trọng tài là các hình thức giải quyết tranh chấp mang tính thỏa thuận tự nguyện,

quyền lực của trọng tài viên là quyền theo hợp đồng do các bên tranh chấp giao

phó, thì việc giải quyết tranh chấp theo thủ tục tư pháp tại toà án gắn liền với quyền

lực nhà nước Do đó, phương thức giải quyết tranh chấp của một nước nào đó về

thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng xuất nhập khẩu căn cứ vào

Điều 240-Luật Thương mại

Đối với tranh chấp thương mại với thương nhân nước ngoài, nếu các bên

không có thỏa thuận hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia

không có quy định thì tranh chấp được giải quyết tại Toà án Việt Nam

Trang 36

CHƯƠNG II THỰC TIỄN KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG NHẬP

KHẨU THIẾT BỊ ĐIỆN GIA DỤNG TẠI CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI

AN QUÂN

I KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY

1 Địa vị pháp lý của công ty:

1.1 Một số thông tin chủ yếu về Công ty TNHH Thương mại An Quân:

Tên công ty: Công ty TNHH thương mại An Quân

Tên giao dịch quốc tế: AN QUAN Co.,Ltd

a) Ngành nghề kinh doanh:

- Buôn bán hàng tư liệu sản xuất, tiêu dùng

- Nhập khẩu và phân phối thiết bị điện gia dụng chất lượng cao

Trang 37

- Dịch vụ lữ hành

- Mua bán và lắp đặt thiết bị viễn thông

- Nhập khẩu và phân phối các loại cáp điện, các sản phẩm phụ gia bê-tông

b) Những mặt hàng kinh doanh nhập khẩu chủ yếu của Công ty

Là một công ty chuyên về lĩnh vực thương mại, nên Công ty TNHH Thương

mại An Quân kinh doanh rất nhiều mặt hàng nhập khẩu từ nước ngoài, như: cáp

mỏ, cáp tàu biển, phụ gia bảo dưỡng bê-tông, thép tấm,thép hình và các đồ điện gia

dụng chất lượng cao Trong đó đồ điện gia dụng là mặt hàng kinh doanh chiến

lược của Công ty, nắm bắt được thị hiếu người tiêu dùng hiện nay là thích sử dụng

những đồ gia dụng cao cấp, có chất lượng, nên công ty đã tìm kiếm được những đối

tác chuyên cung cấp những sản phẩm phù hợp với thị hiếu trong nước mà có thể

cạnh tranh được với các đối thủ trong nước về giá cả và chất lượng Một số mặt

hàng kinh doanh nhập khẩu chủ yếu:

+ Nhập khẩu và phân phối các loại cáp điện sản xuất tại Nga, Hàn Quốc:

- Cáp mỏ

- Cáp tàu biển: DPYC, TPYC…

+ Phân phối các sản phẩm phụ gia bê tông của GRACE(Mỹ), SEALS

(Singapore):

- Phụ gia bảo dưỡng bê tông: SEACURE WB & SEACURE WB WHITE

- Phụ gia siêu hoá dẻo, duy trì độ sụt: DARATARD 17, DARACEM100

- Phụ gia hoá dẻo cao cấp dùng cho bê tông có cường độ cao:

DAREXSUPER 20

+ Kinh doanh các nguyên liệu có xuất xứ từ Nga:

Amiăng (URALL ORENBURG): A-3 6-45

Thép tấm (cuộn hoặc cán móng)

Thép hình, thép phôi

+ Nhập khẩu và phân phối các sản phẩm điện gia dụng mới 100%, có chất

lượng cao (tiêu chuẩn quốc tế ISO9002) của Nhật Bản (SANYO, HITACHI), của

Ngày đăng: 25/10/2012, 16:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC CÔNG TY: - Thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng nhập khẩu thiết bị điện gia dụng tại Công ty TNHH Thương mại An Quân.pdf
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC CÔNG TY: (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w