Để thừa nhận về mặt pháp lý sự tồn tại của loại hình hoạt động thương mại này, để bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng đại lý cũng nhưbảo đảm cho việc giao k
Trang 1TÓM LƯỢC
Trong đời sống xã hội của chúng ta, nhu cầu giao lưu, trao đổi hàng hóa, gọichung là giao dịch dân sự là một nhu cầu tất yếu khách quan Để điều chỉnh và đảmbảo tính hiệu lực của các giao dịch đó, pháp luật về hợp đồng đã ra đời và ngày càngchứng tỏ được vai trò quan trọng của mình Hợp đồng chính là sự thỏa thuận giữa cácbên về xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên Pháp luật vềhợp đồng hiện nay đã cơ bản hoàn thiện với những quy định ràng buộc chặt chẽ Tuy nhiên, trên thực tế trong quá trình thực hiện hợp đồng đặc biệt là hợp đồngđại lý thương mại mới được quy định mở rộng từ hợp đồng đại lý mua bán hàng hóatrong Luật thương mại 2005 luôn nảy sinh những vấn đề rắc rối do nhiều nguyên nhânkhác nhau Pháp luật chưa điều chỉnh triệt để làm cho việc giao kết, thực hiện hợpđồng hoặc thanh lý hợp đồng trở nên khó khăn, trong nhiều trường hợp dẫn đến tranhchấp phải đưa đến cơ quan pháp luật hoặc cơ quan trọng tài để giải quyết
Qua quá trình thực tập tại công ty Cổ phần Thương mại Đầu tư Công nghệChâu Âu Em tìm hiểu được lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của công ty là hoạt độngtrong lĩnh vực xây dựng chuyên dụng Công ty là đại lý cho hãng Fike của Mỹ ở Việt Nam Do đó, em muốn đi sâu vào nghiên cứu vấn đề về hợp đồng đại lý tại công ty đểhiểu rõ hơn thực tiễn áp dụng hợp đồng đại lý tại công ty cũng như trải nghiệm nhữngkiến thức đã học được trong chuyên ngành luật thương mại
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Thương mại, em
đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và giảng dạy nhiệt tình của các thầy cô giáo trongtrường Qua quá trình học tập em đã tích lũy được một phần kiến thức để vận dụng vào
công việc của mình trong tương lai Với đề tài khóa luận “ Pháp luật về hợp đồng đại
lý thương mại và thực tiễn áp dụng tại công ty Cổ phần Thương mại Đầu tư Công nghệ Châu Âu ”, em đã có cơ hội vận dụng những kiến thức của mình đã học tại
trường vào thực tế đểcủng cố thêm vốn kiến thức và hiểu biết của mình
Sau thời gian thực tập tại Công ty đến nay em đã hoàn thành khóa luận tốtnghiệp của mình Em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo trong trường đại họcThương mại, đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến ThS Trần Ngọc Diệp người
đã hết lòng hướng dẫn em hoàn thành khóa luận của mình
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới giám đốc công ty Đào Việt Hồng cùngtoàn thể nhân viên trong công ty Cổ phần Thương mại Đầu tư Công nghệ châu Âu đãtạo điều kiện giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do còn hạn chế về lý luận và kinh nghiệmthực tế nên khóa luận của em còn có nhiều thiếu sót, em rất mong nhận được sự góp ýcủa các thầy cô, các chú và anh chị trong công ty để bài viết của em hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiệnNguyễn Thị Thu Hương
Trang 3MỤC LỤC
TÓM LƯỢC i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của đề tài 5
7 Kết cấu khóa luận tốt nghiệp 6
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG ĐẠI LÝ THƯƠNG MẠI 7
1.1 Cơ sở lý lụân về hợp đồng trong nền kinh tế thị trường 7
1.1 Khái niệm hợp đồng kinh tế 7
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng kinh doanh thương mại 8
1.1.3 Vai trò của hợp đồng trong nền kinh tế thị trường 8
1.2 Khái quát về hợp đồng đại lý 9
1.2.1 Khái niêm và hình thức đại lý thương mại 9
1.2.2 Khái niệm hợp đồng đại lý thương mại 10
1.2.3.Đặc điểm pháp lý của hợp đồng 11
1.3 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật về hợp đồng đại lý trong thương mại 13
1.3.1: Cơ sở ban hành pháp luật về hợp đồng đại lý 13
1.3.2 Nội dung pháp luật điều chỉnh hợp đồng đại lý thương mại 14
1.3.3 Nguyên tắc và biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng đại lý 17
1.3.4 Sửa đổi, chấm dứt, huỷ bỏ hợp đồng đại lý 18
1.3.5 Trách nhiệm pháp lý khi vi phạm hợp đồng 19
1.3.6 Giải quyết tranh chấp hợp đồng đại lý 20
1.4 Nguyên tắc về pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng đại lý 25
1.4.1.Nguyên tắc Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội 25
1.4.2 Nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng 25
1.4.3.Nguyên tắc bảo mật thông tin 26
Trang 41.4.4.Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật 26
1.4.5.Nguyên tắc cùng có lợi 26
1.5 Vai trò và ý nghĩa của hợp đồng đại lý 26
Chương 2: THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HỢP ĐỒNG ĐẠI LÝ - THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN PHẦN THƯƠNG MẠI ĐẦU TƯ CÔNG NGHỆ CHÂU ÂU 28
2.1 Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa 28
2.1.1 Tình hình pháp luật điều chỉnh hợp đồng đại lý 28
2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề giao kết hợp đồng đại lý 28
2.2 Thực trạng các quy phạm pháp luật điều chỉnh về hợp đồng đại lý 30
2.2.1 Thực trạng các quy phạm pháp luật điều chỉnh hợp đồng đại lý 30
2.2.2 Thực trạng các quy phạm pháp luật điều chỉnh về giao kết hợp đồng đại lý 31
2.3 Thực trạng thực hiện các quy phạm pháp luật điều chỉnh về giao kết hợp đồng đại lý 36
2.3.1 Khái quát về giao kết hợp đồng đại lý tại công ty Cổ phần Thương mại Đầu tư Công nghệ Châu Âu 36
2.3.1 Chủ thể giao kết 36
2.3.2 Nguyên tắc, căn cứ giao kết hợp đồng 37
2.3.3 Nội dung giao kết hợp đồng 38
2.3.4: Các lưu ý khi ký kết hợp đồng 39
2.3.5.Thực trạng về hợp đồng đại lý tại công ty Cổ phần Thương mại Đầu tư Công nghệ Châu Âu 40
2.4.1 Thực hiện các điều khoản về số lượng, chủng loại 41
2.4.2 Thực hiện các điều khoản về trách nhiệm và quyền hạn của mỗi bên 41
2.4.3 Thực hiện các điều khoản về thanh toán tiền hàng 41
2.4.4 Thực hiện các điều khoản về thời hạn và phụ lục hợp đồng 42
2.4.5 Thực hiện các điều khoản khác trong hợp đồng 42
2.5 Các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu 42
2.5.1 Những kết quả đạt được 42
2.5.2 Khó khăn 43
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG ĐẠI LÝ THƯƠNG MẠI 45
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về hợp đồng đại lý 45
3.2 Kiến nghị 46
Trang 53.2.1 Kiến nghị về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật 46 3.2.2 Kiến nghị về việc hoàn thiện chế độ hợp đồng nói chung 47
3.2.3 Kiến nghị về việc hoàn thiện chế độ hợp đồng đại lý 48 3.2.4 Kiến nghị đối với Công ty Cổ phần Thương mại Đầu tư Công nghệ Châu Âu 49
KẾT LUẬN 52
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thương mại hàng hóa và dịch vụ càng phát triển, vai trò của trung gian thươngmại càng được coi trọng vì nó hỗ trợ đắc lực cho thương nhân trong khâu phân phối,tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ được nhanh chóng, ít rủi ro, chi phí thấp và dễ dàng gianhập hoặc từ bỏ thị trường Là một loại hình động trung gian thương mại nhưng kháiniệm đại lý thương mại ở Việt Nam có sự khác biệt và đặc thù so với các hình thứctrung gian thương mại trong pháp luật các nước Ở Việt Nam, bắt đầu từ thời kỳ kinh
tế kế hoạch hóa tập trung mô hình đại lý thương mại ngày càng được được sử dụngphổ biến Trong những năm gần đây, hoạt động đại lý thương mại ngày càng phát triển
và số lượng đại lý hoạt động tại Việt Nam tăng nhanh Đại lý thương mại có mặt trêntoàn quốc từ nông thôn đến thành thị, từ trung du đến miền núi hoặc những khu vực xaxôi hẻo lánh Đại lý thương mại đa dạng về loại hình và phát triển nhanh chóng tronghầu hết mọi lĩnh vực và ngành nghề, cả về doanh số bán hàng và phạm vi cung cấpdịch vụ
Để thừa nhận về mặt pháp lý sự tồn tại của loại hình hoạt động thương mại này,
để bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng đại lý cũng nhưbảo đảm cho việc giao kết, thực hiện hợp đồng đại lý thương mại trong một trật tự ổnđịnh, cần có pháp luật điều chỉnh hoạt động đại lý thương mại và hợp đồng đại lýthương mại Xét về mặt nội dung, pháp luật về hoạt động trung gian thương mại nóichung và về đại lý thương mại nói riêng điều chỉnh không tách rời hai nhóm quan hệ:quan hệ hợp đồng giữa bên thuê dịch vụ (bên giao đại lý) với bên đại lý và quan hệgiữa bên giao đại lý với bên đại lý và bên thứ ba
Hợp đồng đại lý là căn cứ pháp lý cho thỏa thuận đại lý thương mại được thựchiện trong một hành lang pháp lý an toàn vì nó ghi nhận sự tự do thể hiện ý chí của cácbên trong quan hệ hợp đồng, đồng thời là căn cứ pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợppháp của các bên đối với tranh chấp phát sinh trong và liên quan tới quá trình thựchiện hoạt động đại lý Hiện nay ngoài Luật thương mại 2005, pháp luật điều chỉnh hoạtđộng đại lý ở Việt Nam còn được đề cập trong nhiều văn bản luật như Bộ luật HàngHải, Luật kinh doanh bảo hiểm…và các văn bản dưới luật khác Không thể phủ nhậnnhững đóng góp nhất định trong việc xây dựng và ban hành hệ thống các quy định nêutrên, tuy nhiên hiện nay nhận thức của thương nhân và nhiều chủ thể khác về hoạtđộng đại lý còn khá mơ hồ, chưa hiểu rõ bản chất pháp lý của đại lý thương mại vàmối quan hệ của các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng đại lý với bên thứ ba
Mặt khác, hệ thống pháp luật hiện hành về hoạt động đại lý chưa đáp ứng đầy đủcác yêu cầu thực tiễn đặt ra Các quy định pháp luật điều chỉnh đại lý thương mại còn
Trang 7bộc lộ nhiều mâu thuẫn, chồng chéo Một số quy định còn thiếu tính cụ thể hoặc chưaphù hợp với thông lệ quốc tế Đây là một trong những nguyên nhân làm ảnh hướng tới
sự phát triển của hoạt động đại lý của nước ta Trước nhu cầu của hội nhập kinh tếquốc tế, trước thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động đại lý ở Việt Nam đang cần
bổ sung, hoàn thiện đồng hành với thời gian thực tập ở Công ty Cổ phần Thương mạiĐầu tư Công nghệ Châu âu, em đã lựa chọn đề tài “Pháp luật về hợp đồng đại lýthương mại và thực tiễn áp dụng tại Công ty cổ phần Thương mại Đầu tư Công nghệChâu Âu” cho khóa luận với mong muốn nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ cácvấn đề lý luận cũng như thực tiễn nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật điều chỉnh lĩnhvực hợp đồng này
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Tính đến thời điểm hiện tại có khá là nhiều các công trình nghiên cứu liên quanđến hợp đồng ở những khía cạnh khác nhau Ở nước ngoài cũng đã có một số côngtrình nghiên cứu, bài viết đề cập đến từng vấn đề riêng lẻ về hợp đồng thương mại.Tiêu biểu trong số đó có các công trình dưới đây:
- Năm 2010, tác giả Michael Diathesopoulos đã công bố công trình: “Relationcontract theory and management contracts: A paradigm for the application of theTheory of the Norms”, trong đó tác giả này đã đưa ra một mô hình các mối quan hệvới hợp đồng nhằm kiểm chứng hiệu quả của việc quản lý hợp đồng dựa trên các mốiquan hệ đó Từ việc kiểm chứng này tác giả phân tích những nghĩa vụ đơn vụ và song
vụ trong việc quản lý hợp đồng xuất phát từ phía người mua và người bán
- Năm 2010, Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC) xuất bản Cẩm nang dành chocác DN nhỏ mang tên: “Model Contracts for Small Firms – Legal guidance for doinginternational business”, đưa ra các mẫu hợp đồng cho các doanh nghiệp tham khảo,trong đó có hợp đồng đại lý với những điều khoản chi tiết và các phụ lục hợp đồngkèm theo, mang ý nghĩa hướng dẫn thực tiễn cho các doanh nghiệp nhỏ trong hợpđồng kinh doanh quốc tế
- Năm 2012, Cơ quan Kiểm toán Nhà nước Australia (ANAO) đã xuất bản cuốnsách: “Developing and Managing contracts – Getting the right outcome, Achievingvalue for money”, cuốn sách đã chỉ ra cách soạn thảo hợp đồng, phát triển hợp đồngthông qua sự kết hợp của quản lý rủi ro, phân cấp trách nhiệm cụ thể, ghi nhận những
sự việc xảy ra hàng ngày, đạo đức nghề nghiệp, quản lý nguồn lực và quản lý các mốiquan hệ Từ những yếu tố này DN sẽ lên kế hoạch về các vấn đề có liên quan nhƣ luônquan tâm đến hợp đồng, làm rõ mục đích cuối cùng của hợp đồng, tác động của việcquản lý đến hiệu quả của hợp đồng và các vấn đề cần lưu ý khi kết thúc một hợp đồng.Năm 2012, hai tác giả Mark Anderson và Victor Warner đã cho tái bản lần thứ 3
Trang 8cuốn sách: “Drafting and negotiating commercial contracts”8, hai tác giả đã chỉ ranhững yêu cầu về mặt pháp lý đối với một hợp đồng thương mại như về hình thức hợpđồng, cấu trúc, kỹ năng soạn thảo hợp đồng và các điều khoản cần lưu ý khi soạn thảomột hợp đồng thương mại như điều khoản về nghĩa vụ, điều khoản thanh toán, điềukhoản bảo mật …
Các bài viết trên tùy chưa nói tập trung được các mặt về hợp đồng đại lý những
sẽ là phần để cho em tham khảo và bài khóa luận của mình
- Các công trình nghiên cứu ở Việt nam
Trong quá trình nghiên cứu và tìm kiếm tài liệu qua thư viện, tạp chí, sách báo,internet,… để thực hiện đề tài, em tìm thấy rất ít tài liệu nghiên cứu trực tiếp pháp luật
về hợp đồng đại lý thương mại mà chủ yếu là những công trình liên quan đến pháp luật
về hợp đồng nói chung Các chuyên đề, bài nghiên cứu, luận án tiến sĩ liên quan đếnkhóa luận nghiên cứu là:
- Bài nghiên cứu ''Pháp luật Việt nam về hợp đồng đại lý thương mại ''- Luận vănThs.Luật của Nguyễn Mai Chi ( Đại học quốc gia Hà Nội - Khoa Luật ) bài viết đãnghiên cứu nghiên cứu chuyên sâu về hợp đồng đại lý thương mại theo quy định củaluật Việt Nam trong tương quan so sánh với pháp luật của một số nước theo hai hệthống pháp luật lớn trên thế giới, Common Law và Civil Law để phát hiện những điểmtương đồng và khác biệt, chỉ ra những kinh nghiệm pháp lý làm cơ sở quan trọng choviệc đề xuất một số kiến nghị bước đầu góp phần hoàn thiện chế định pháp luật về hợpđồng đại lý ở Việt Nam
- Đã có một số sách nghiên cứu về các chế định trung gian thương mại, đặc biệt
về đại diện và ủy quyền thương mại như Giáo trình Luật thương mại của một số cơ sởđào tạo Luật (Trường đại học Luật Hà Nội, Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội v.v…)
- Đề tài nghiên cứu của PGS.TS Hoàng Phước Hiệp và đề tài của TS NguyễnVăn Tuân thuộc Bộ Tư pháp Đây là hai Đề tài nghiên cứu chuyên biệt về lĩnhvực pháp luật điều chỉnh DVPL của Việt Nam và các quy định của Tổ chức Thươngmại thế giới Những đề tài nghiên cứu nói trên, bên cạnh ý nghĩa là một công trìnhnghiên cứu khoa học, còn chủ yếu phục vụ mục đích nâng cao năng lực và hiệu quảquản lý nhà nước về nghề DVPL của Viêt Nam trước thềm hội nhập
- PGS.TS Nguyễn Như Phát và TS Phan Thảo Nguyên có bài ''Pháp luật thươngmại dịch vụ Việt Nam và Hội nhập kinh tế quốc tế'' xuất bản năm 2006 Đề tài đãnghiên cứ sâu về các lý luận pháp lý trong pháp luật thương mại về ngành dịch vụtrong thời kỳ Việt Nam hội nhập kinh tế Chỉ ra những ưu, nhược điểm trong hệ thốngpháp luật và đưa ra nhưng giải pháp thiết thực nhất
- PGS.TS Phạm Duy Nghĩa Chuyên khảo Luật kinh tế
Trang 9Ngoài các sách chuyên khảo, ở phạm vi và mức độ khác nhau có một số bài viết,công trình nghiên cứu của các nhà luật học bàn về một vài khía cạnh pháp luật liênquan (trong đó đề cập đại lý thương mại với tính chất là một loại hình trung gianthương mại và chủ yếu trong lĩnh vực mua bán hàng hóa) được công bố qua các tàiliệu, báo cáo và tạp chí chuyên ngành như
- “Chế định đại diện thương mại theo quy định của pháp luật Việt Nam, nhìn từgóc độ luật so sánh” của TS Ngô Huy Cương – Tạp chí nhà nước và pháp luật (2009)Bài viết được nhần nhận dưới góc độ so sánh nên việc nhìn nhận đại diện thương mại
và các đặc điểm dễ dàng hơn
- Bài viết “Tìm hiểu khái niệm đại lý thương mại” của Nguyễn Thị Vân Anh –Tạp chí Luật Học (2006) đã đưa ra những khái niệm từ lúc bắt đầu hình thành và quátrình phát triển để có thể nhìn nhận một cách khái quát và toàn diện nhất về khái niệmđại lý thương mại
- Bài nghiên cứu “Hoàn thiện chế định hợp đồng” của TS Phan Chí Hiếu đăngtại tạp chí nghiên cứu lập pháp ( 2005).Nghiên cứu sâu những thiếu sót về các chếđịnh của hợp đồng để đưa ra những giải pháp tối ưu, hoàn thiện chế định của hợpđồng
Những công trình nghiên cứu trên là tài liệu vô cùng quý giá giúp em có thêmnhiều thông tin quan trọng phục vụ cho việc nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp Nhữngvấn đề bao quát chung thì được nghiên cứu nhiều nhưng những vấn đề nhỏ trong nóđang ngày càng không phù hợp thì như chưa được tìm hiểu, nghiên cứu sâu, trong khi
đó hoạt động đại lý ngày càng phát triển mạnh pháp luật quy định về hợp đồng đã cónhiều chỗ không thỏa đáng gây mâu thuẫn giữa các bên nên pháp luật về hợp đồng đại
lý cần phải được nghiên cứu nhiều hơn, sâu sắc hơn, toàn diện hơn để từ đó đưa ranhững phương hướng, giải pháp hoàn thiện nó giúp cải thiện pháp luật khi mà phápluật hiện nay chưa đáp ứng được những yêu cầu của hoạt động đại lý thương mại
3 Mục đích nghiên cứu
-Mục đích nghiên cứu: nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về hợpđồng đại lý cũng như vai trò và ý nghĩa của hợp đồng đại lý đối với hoạt động kinhdoanh, thương mại và sự phát triển của nền kinh tế Mặt khác, đề tài nghiên cứu vàphân tích một số vấn đề liên quan đến bản chất pháp lý của hợp đồng đại lý theo quyđịnh của pháp luật Việt Nam
- Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận về hợp đồng đại lý thương mại và pháp luậtđiều chỉnh loại hợp đồng này
- Nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam về hợp đồng đại lý tại Công ty Cổphần Thương mại Đầu tư Công nghệ Châu Âu.Nhằm đưa ra các giải pháp phù hợp cho
Trang 10công ty hội nhập
- Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật điều chỉnhhợp đồng đại lý, đưa ra một số đề xuất cụ thể để hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợpđồng đại lý ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu bao gồm các quy định của pháp luật Việt nam và cácnước về hợp đồng đại lý Những vấn đề lý luận chung về pháp luật hợp đồng đại lýtrong thương mại và thực tiễn áp dụng tại Công ty Cổ phần Thương mại Đầu tư Côngnghệ Châu Âu Từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luậtViệt nam hiện nay
- Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung:
+ Nghiên cứu các lý luận pháp lý về hợp đồng đại lý ở Việt Nam
+ Thực trạng pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng đại lý tại Công ty Cổphần Thương mại Đầu tư Công nghệ Châu Âu
Về không gian: Đề tài nghiên cứu các quy phạm pháp luật trên lãnh thổ
nước Việt nam, do nhà nước Việt nam ban hành Trong quá trình nghiên cứu, phápluật của các quốc gia
Về thời gian: Đề tài nghiên cứu các quy định hiện hành của Việt nam liên quan
đến nội dung nghiên cứu của đề tài, cụ thể là Luật thương mại 2015, Bộ luật dân sự
2015 và các văn bản hướng dẫn có liên quan khác
5 Phương pháp nghiên cứu
Để làm sáng tỏ những vấn đề nghiên cứu trên, đề tài được thực hiện sử dụngnhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau như:
- Phương pháp phân tích: Phân tích các lý luận liên quan đến hợp đồng đại lý vàcác quy định, nguyên tắc của pháp luật điều chỉnh hợp đồng đại lý
- Phương pháp tổng hợp: Tổng hợp các quan điểm, các công trình nghiên cứu,các bài viết, bài báo, các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến đề tài nghiên cứu
để có cái nhìn tổng quan nhất
- Phương pháp thống kê : Đưa ra các kiến nghị thông qua các phân tích hạn chế
mà quy định của Luật đang gặp phải và các giả pháp cho Công ty.Kiến nghị để hoànthiện pháp luật
6 Đóng góp của đề tài
Về mặt lý luận khóa luận là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống và tương đốitoàn diện về hợp đồng đại lý dưới giác độ luật học với những điểm mới chủ yếu sau:
Trang 11- Khóa luận đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động đại lý vàhợp đồng đại lý, theo đó phân tích kỹ về khái niệm, đặc điểm pháp lý và đã so sánh,luận giải một cách có hệ thống và chiều sâu giữa hoạt động đại lý với các hoạt độngtrung gian thương mại khác nhằm làm rõ bản chất pháp lý của đại lý thương mại trongmối liên hệ với ủy quyền hay đại diện, vấn đề mà từ trước đến nay còn nhiều ý kiếnkhác nhau trong quá trình giải thích và áp dụng luật, từ đó lý giải được vấn đề tráchnhiệm pháp lý của chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng đại lý với bên thứ ba phù hợpvới pháp luật quốc tế.
- Khóa luận đã chỉ ra được các quy định hiện hành điều chỉnh hoạt động đại lý ởViệt Nam còn một số nội dung không thống nhất: khái niệm đại lý trong các luậtchuyên ngành được hiểu khác với khái niệm đại lý trong Luật Thương mại; Các quyđịnh về hình thức của hợp đồng, quyền hưởng thù lao của bên đại lý cũng như các quyđịnh về sở hữu hàng hóa, hạn chế cạnh tranh, chấm dứt hợp đồng phát sinh trong hoạtđộng đại lý còn bộc lộ một số bất cập, chưa đảm bảo quyền tự do giao kết, thực hiệnhợp đồng cũng như lợi ích của các bên tham gia quan hệ hợp đồng
- chỉ ra những kinh nghiệm pháp lý làm cơ sở quan trọng cho việc đề xuất một sốkiến nghị bước đầu góp phần hoàn thiện chế định pháp luật về hợp đồng đại lý ở ViệtNam
- Trên cơ sở nghiên cứu, khảo sát thực trạng thực thi pháp luật về hợp đồng đại lý
ở Việt Nam, luận văn đã chỉ rõ nguyên nhân của những tồn tại trong hệ thống phápluật hiện hành cũng của những tranh chấp trong giao kết và thực hiện hợp đồng đại lý,
từ đó đề xuất một số phương hướng và giải pháp cụ thể để tiếp tục hoàn thiện phápluật về đại lý thương mại và hợp đồng đại lý ở Việt Nam nhằm đáp ứng nhu cầu pháttriển và xu thế hội nhập của thị trường Về mặt thực tiễn
7 Kết cấu khóa luận tốt nghiệp
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục các bảng, biểu, hình, khóa luận đượckết cấu gồm 3 chương
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG ĐẠI LÝTHƯƠNG MẠI
Chương 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG ĐẠI LÝTHƯƠNG MẠI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI ĐẦU TƯ CÔNG NGHỆCHÂU ÂU
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢPĐỒNG ĐẠI LÝ THƯƠNG MẠI
Trang 12Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG
ĐẠI LÝ THƯƠNG MẠI.
1.1 Cơ sở lý lụân về hợp đồng trong nền kinh tế thị trường.
1.1 Khái niệm hợp đồng kinh tế.
*Khái niệm
Hợp đồng kinh tế: Theo Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989, hợp đồng kinh
tế là sự thỏa thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết về việc thựchiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hóa, dịch vụ, nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoahọc kỹ thuật và các thỏa thuận khác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràngquyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình Như vậy,theo khái niệm này thì mục đích của hợp đồng kinh tế nhằm thực hiện công việc sảnxuất, trao đổi hàng hóa, dịch vụ và các hoạt động kinh doanh khác Về hình thức củahợp đồng chủ yếu là văn bản Còn các hình thức lời nói, thông điệp, dữ liệu điện tửcũng như các hình thức khác chưa được quy định chính thức Chủ thể của hợp đồngkinh tế trong pháp lệnh này là các pháp nhân và cá nhân có đăng ký kinh doanh
Nhưng theo quan điểm mới thì hợp đồng kinh tế được hiểu theo nghĩa rộng hơn
về chủ thể và hình thức Chủ thể của hợp đồng kinh tế giờ đây không chỉ dừng lại ởpháp nhân, cá nhân có đăng ký kinh doanh nữa mà rộng ra với người làm công táckhoa học kỹ thuật, nghệ nhân, hộ gia đình, hộ nông dân, ngư dân, cá thể, cá nhân, tổchức nước ngoài Nhưng mục đích thì vẫn không thay đổi đó là sinh lời không kể việcgiao kết hợp đồng để thực hiện các công việc khác nhau như sản xuất, kinh doanh,
Hợp đồng thương mại: Trong Luật thương mại 2005 của Việt nam không quy
định cụ thể hợp đồng thương mại như thế nào Mà chỉ đề cập đến các khái niệm hoạtđộng thương mại, hành vi thương mại, vi phạm hợp đồng…Tuy nhiên, theo các quyđịnh có liên quan trong Luật thương mại, chúng ta có thể nhận biết được hoạt độngthương mại qua các yếu tố như chủ thể, mục đích, hình thức quan hệ thương mại
Về chủ thể: Theo điều 2 của Luật thương mại: các thương nhân hoạt độngthương mại, các tổ chức cá nhân hoạt động có liên quan đến thương mại đều là chủ thểcủa Luật thương mại Để trở thành thương nhân các cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên cónăng lực hành vi dân sự đầy đủ, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình có đủ điều kiện đểkinh doanh thương mại theo quy định của pháp luật nếu có yêu cầu hoạt động thươngmại thì cơ quan nhà nước có toàn quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh vàtrở thành thương nhân
Về mục đích: hợp đồng trong lĩnh vực thưong mại là nhằm thực hiện các hành
vi thương mại cụ thể sau: mua bán hàng hóa, đại diện cho thương nhân, môi giớithương mại, ủy thác mua bán hàng hóa, đại lý thương mại, gia công trong thương mại,
Trang 13đấu giá hàng hóa, đấu thầu hàng hóa, dịch vụ giao nhận hàng hóa, dịch vụ giám địnhhàng hóa, quảng cáo thương mại, trưng bày giới thiệu hàng hóa
Về hình thức: theo quy định của Luật thương mại, hình thức của hợp đồngthương mại có thể là lời nói, văn bản, hành vi cụ thể hoặc các thông điệp, dữ liệu điện
tử và các hình thức thông tin điện tử khác Như vậy, hình thức của hợp đồng theo Luậtthương mại cũng rất đa dạng và phong phú
Thông qua chủ thể, mục đích, hình thức của hợp đồng thương mại chúng ta cóthể hiểu hợp đồng thương mại tương tự như hợp đồng kinh tế Vì thực ra hai lĩnh vựcnày có quan hệ với nhau vô cùng chặt chẽ Hiện nay hai loại hợp đồng này có tên gọichung là hợp đồng kinh doanh thương mại
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng kinh doanh thương mại.
Về nội dung: hợp đồng kinh doanh thương mại được giao kết nhằm phục vụ
hoạt động sản xuất kinh doanh, đó là việc thực hiện các công việc sản xuất, trao đổihàng hoá dịch vụ, nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và các hoạt độngkhác nhằm mục đích sinh lợi
Về hình thức: hợp đồng kinh doanh thương mại được giao kết dưới các hình
thức văn bản hoặc các tài liệu giao dịch khác có giá trị pháp lý tương đương như: điện,báo, telex, fax
Về chủ thể: hợp đồng kinh doanh thương mại được giao kết giữa pháp nhân với
pháp nhân hoặc giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh Như vậy, trongquan hệ hợp đồng kinh tế phải có ít nhất một bên là pháp nhân Ngoài ra, những ngườilàm công tác khoa học, nghệ nhân, hộ gia đình, hộ nông dân, hộ ngư dân, các tổ chức,
cá nhân nước ngoài cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng kinh tế khi họ ký kếthợp đồng kinh tế với pháp nhân
1.1.3 Vai trò của hợp đồng trong nền kinh tế thị trường.
Như chúng ta đã biết trong nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung quan liêu baocấp trước đây hợp đồng kinh tế được coi là một công cụ cơ bản để quản lý nền kinh tế
xã hội chủ nghĩa Hợp đồng kinh tế được kí kết theo chỉ tiêu theo kế hoạch của Nhànước Mỗi khi các chỉ tiêu kế hoạch thay đổi thì các bên tham gia kí kết hợp đồng cũngphải thay đổi nội dung kí kết cho phù hợp Nếu các bên vị phạm hợp đồng tức là viphạm kế hoạch của Nhà nước Như vậy trong giai đoạn này chỉ tiêu kế hoạch là cơ sở
để các bên tham gia kí kết hợp đồng Trong giai đoạn này, hợp đồng kinh tế chỉ làphương tiện để các xí nghiệp, các đơn vị của Nhà nước trao đổi sản phẩm với nhaumột cách hình thức, đó là sự ghi nhận sự cấp phát vật tư, sản phẩm của Nhà nước chocác đơn vị kinh tế và sự giao nộp sản phẩm của các đơn vị kinh tế cho Nhà nước Hợp
Trang 14đồng kinh tế hoàn toàn mất đi ý nghĩa đích thực của nó với tư cách là hình thức pháp
lý chủ yếu của quan hệ trao đổi
Trong nền kinh tế thị trường hợp đồng kinh tế là sự thoả thuận của các chủ thểkinh doanh theo nguyên tắc tự do, tự nguyện, các bên cùng có lợi Nhà nước chỉ có thể
sử dụng pháp luật để tác động vào các quan hệ hợp đồng để đảm bảo lợi ích chínhđáng của các bên tham gia quan hệ hợp đồng và lợi ích chung của toàn xã hội Trongnền kinh tế thị trường sản phẩm được làm ra để trao đổi mua bán do đó hợp đồng làcông cụ, là cơ sở để xây dựng và thực hiện kế hoạch của các chủ thể kinh doanh, làmcho kế hoạch sản xuất kinh doanh của họ phù hợp với thị trường Qua đó các nhà sảnxuất kinh doanh có căn cứ để xây dưng kế hoạch sản xuất kinh doanh cho mình Đó làmục tiêu đầu vào, nơi tiêu thụ sản phẩm đầu ra, chất lượng số lượng, giá…Sự thỏathuận đó đảm bảo sự bình đẳng thực sự của các bên, thể hiện ý chí nguyện vọng của
họ Hợp đồng luôn phản ánh những đòi hỏi, những điều kiện cụ thể của các chủ thểtham gia giao kết hợp đồng kinh tế Rõ ràng hợp đồng kinh tế là công cụ của các nhàkinh doanh chứ không phải công cụ của nhà nước như trước đây Vì thông qua việcđàm phán giao kết hợp đồng người ta có thể nắm được nhu cầu của thị trường về sảnphẩm dịch vụ của mình và kiểm tra tính hiện thực của kế hoạch sản xuất kinh doanh.Hợp đồng kinh tế có tác dụng chuyển các quan hệ kinh tế khách quan thành các quan
hệ pháp luật cụ thể cho nên nó trở thành hình thức pháp lý để hình thành quan hệ thịtrường
Hợp đồng kinh tế được giao kết đúng với pháp luật của nhà nước cho nên nóđược coi là luật của các bên tham gia giao kết Khi đã giao kết các bên phụ thuộc lẫnnhau, đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích của các bên Như vậy vai trò của hợp đồngkinh tế trong giai đoạn hiện nay khác với vai trò của hợp đồng kinh tế trong thời kỳ kếhoạch hóa tập trung bao cấp trước đây vì vây phải hiểu rõ vai trò bản chất của hợpđồng kinh tế mới có thể xây dựng được những quy định về hợp đồng kinh tế vớinhững đòi hỏi khách quan của nền kinh tế thị trường
1.2 Khái quát về hợp đồng đại lý.
Trước khi có luật thương mại 1997, việc giao kết và thực hiện hợp đồng đại lyvẫn phải dựa trên các văn bản pháp luật chung về hợp đồng Vì vậy việc nghiên cứukhái quát về hợp đồng đại lý thực chất là nghiên cứu về hợp đồng nói chung
1.2.1 Khái niêm và hình thức đại lý thương mại.
Theo điều 3 Luật thương mại hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mụcđích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thươngmại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác Hoạt động đại lý cũng là một trong
Trang 15các hoạt động thương mại do đó cũng thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật thươngmại.
Khái niệm
Theo Điều 166 Luật Thương mại 2005: “Đại lý thương mại là là hoạt độngthương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danhchính mình mua, bán hàng hoá cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giaođại lý cho khách hàng để hưởng thù lao”
Hình thức
Theo Điều 169 đại lý có các hình thức là:
- Đại lý bao tiêu là hình thức đại lý mà bên đại lý thực hiện việc mua, bán trọnvẹn một khối lượng hàng hoá hoặc cung ứng đầy đủ một dịch vụ cho bên giao đại lý
- Đại lý độc quyền là hình thức đại lý mà tại một khu vực địa lý nhất định bêngiao đại lý chỉ giao cho một đại lý mua, bán một hoặc một số mặt hàng hoặc cung ứngmột hoặc một số loại dịch vụ nhất định
- Tổng đại lý mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ là hình thức đại lý mà bên đại
lý tổ chức một hệ thống đại lý trực thuộc để thực hiện việc mua bán hàng hoá, cungứng dịch vụ cho bên giao đại lý Tổng đại lý đại diện cho hệ thống đại lý trực thuộc.Các đại lý trực thuộc hoạt động dưới sự quản lý của tổng đại lý và với danh nghĩa củatổng đại lý
- Các hình thức đại lý khác mà các bên thỏa thuận
Quan hệ đại lý thương mại được xác lập bằng hợp đồng đại lý thương mại Hợpđồng đại lý thương mại được hiểu là sự thỏa thuận giữa các bên trong đó bên giao đại
lý nhân danh mình mua bán hàng hóa cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ củabên giao đại lý cho khách hàng và bên giao đại lý có nghĩa vụ trả thù lao cho hoạtđộng đại lý này của bên đại lý
1.2.2 Khái niệm hợp đồng đại lý thương mại
Giống với các hoạt động trung gian thương mại khác, bản chất đại lý thương mại làmột quan hệ hợp đồng, đó là sự xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền, nghĩa vụ pháp
lý của các bên tham gia quan hệ hợp đồng Luật thương mại 2005 không đưa ra định nghĩachính xác về HĐĐL, tuy nhiên quan hệ đại lý thương mại giữa thương nhân giao đại lý vàthương nhân làm đại lý được xác lập trên cơ sở hợp đồng là sự thỏa thuận giữa bên giao đại
lý và bên đại lý về việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hóa cho bên đại lýhoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao Xét về bảnchất, HĐĐL là một hợp đồng dịch vụ
Theo quy định tại Điều 518 Bộ luật dân sự 2005: “Hợp đồng dịch vụ là sự thỏathuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên thuê dịch vụ,
Trang 16còn bên thuê dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ” Theo đó, đối tượngcủa hợp đồng dịch vụ là công việc có thể thực hiện được, không bị pháp luật cấm, khôngtrái đạo đức xã hội Cụ thể ở đây, đó là việc bên đại lý nhận sự ủy quyền của bên giao đại lýtrong việc định đoạt hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ vì lợi ích của bên giao đại lý HĐĐLthương mại được xác lập trên cơ sở có đề nghị giao kết và có chấp nhận đề nghị giao kếthay thỏa thuận và được tạo ra và xác định bởi nghĩa vụ về công việc mua, bán hàng hóa cóđiều kiện giữa bên giao đại lý và bên đại lý Đối tượng, công việc mua bán hàng hóa, cungứng dịch vụ cho bên thứ ba, cùng các thỏa thuận về thời hạn, thù lao…đối với bên đại lý làcác điều khoản chủ yếu trong hợp đồng dịch vụ.
Tuy mang đặc điểm của hợp đồng dịch vụ trong dân sự (hợp đồng dịch vụ dân sựtrong thương mại) nhưng về bản chất HĐĐL có những dấu hiệu của hợp đồng ủy quyền.Bên đại lý, thực thể cung ứng dịch vụ trung gian thương mại chuyên nghiệp được thuê thựchiện công việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ nhân danh chình mình cho bên thuê vàđược trả thù lao theo thỏa thuận Yếu tố ủy quyền thể hiện ở nghĩa vụ thực hiện công việccủa bên đại lý (người thụ ủy) trong phạm vi được ủy quyền và được nhận thù lao theo thỏathuận Mặc dù vậy, ủy quyền trong dân sự là hành vi giao cho người khác sử dụng một sốquyền mà pháp luật đã trao cho mình trong khi đại lý thương mại là hành vi giao cho ngườikhác làm thay công việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ của mình Do đó, về tư cáchchủ thể khi thực hiện hành vi, bên được ủy quyền hay bên bên nhận đại diện thực hiện côngviệc được ủy quyền nhân danh bên chủ ủy, bên giao đại diện; bên đại lý thực hiện công việcđược giao nhân danh chính mình Về phạm vi, bên được ủy quyền có thể được ủy quyềnthực hiện một hoặc một số hành vi trong khi đại lý thương mại thu hẹp trong lĩnh vực muabán hàng hóa, cung ứng dịch vụ Về năng lực pháp lý, bên được ủy quyền trong hợp đồng
ủy quyền có thể là cá nhân, thương nhân hay tổ chức tùy thuộc vào hành vi được ủy quyền.Trong khi đó, các chủ thể tham gia HĐĐL gồm bên giao đại lý và bên đại lý đều phải làthương nhân HĐĐL có thể được giao kết dưới hình thức HĐĐL bao tiêu, HĐĐL độcquyền, tổng đại lý và các hình thức đại lý khác mà các bên thỏa thuận, song về cơ bảnHĐĐL phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tươngđương (Điều 168 Luật thương mại 2005)
Hợp đồng đại lý là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó, một bên (bên đại lý) được sự
ủy quyền của bên kia (bên giao đại lý) cam kết nhân danh bên giao đại lý thực hiện mộthoặc nhiều giao dịch theo sự ủy quyền và vì lợi ích của bên kia để được nhận một khoảntiền thủ lao do các bên thỏa thuận về số lượng và thời hạn thanh toán
1.2.3.Đặc điểm pháp lý của hợp đồng
Hợp đồng đại lý thương mại có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, chủ thể của hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa là các thương nhân.
Trang 17Quan hệ đại lý mua bán hàng hóa được xây dựng trên cơ sở hợp đồng, giữa bêngiao đại lý và bên đại lý
Theo Điều 167 Luật thương mại 2005 quy định về bên giao đại lý và bên đại lý:
1 Bên giao đại lý là thương nhân giao hàng hoá cho đại lý bán hoặc giao tiềnmua hàng cho đại lý mua hoặc là thương nhân uỷ quyền thực hiện dịch vụ cho đại lýcung ứng dịch vụ
2 Bên đại lý là thương nhân nhận hàng hoá để làm đại lý bán, nhận tiền muahàng để làm đại lý mua hoặc là bên nhận uỷ quyền cung ứng dịch vụ
Như vậy theo quy định của pháp luật thì cả bên giao đại lý và bên đại lý đều phải
là thương nhân
Bên giao đại lý và bên đại lý phải là tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp; cánhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinhdoanh Bên giao đại lý là thương nhân Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài giaohàng hóa cho đại lý bán hoặc giao tiền mua hàng cho đại lý mua Đối với hàng hóathuộc danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu theo giấy phép, thương nhân chỉ được kýhợp đồng đại lý sau khi được Bộ Công Thương cho phép Để hợp đồng đại lý mua bánhàng hóa có hiệu lực pháp luật thì các bên phải có năng lực chủ thể thực hiện cácnghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng
Thứ hai, bên đại lý phải dùng chính danh nghĩa của mình để thực hiện việc mua
bán hàng hóa cho bên giao đại lý
Đây là một đặc điểm quan trọng của hợp đồng đại lý, cho phép phân biệt hợpđồng đại lý với hợp đồng đại diện cho thương nhân Trong quan hệ hợp đồng đại lý, dobên giao đại lý thực hiện việc mua, bán hàng hóa cho mình thông qua bên đại lý nênbắt buộc phải có quyền kinh doanh những hàng hóa đó, hay nói cách khác là phải cóngành, nghề kinh doanh phù hợp với hàng hóa đại lý Do bên đại lý thực hiện việcmua, bán hàng hóa cho bên giao đại lý bằng chính danh nghĩa của mình nên phải cóngành, nghề kinh doanh phù hợp với hàng hóa đại lý mua, đại lý bán Từ nghĩa vụ cụthể của bên đại lý là nhân danh chính mình để thực hiện việc mua hoặc bán một khốilượng hàng hóa nhất định cho bên giao đại lý nên bên giao đại lý phải có đăng ký kinhdoanh mặt hàng phù hợp với hàng hóa ghi trong hợp đồng
Thứ ba, trong quan hệ hợp đồng đại lý, chủ sở hữu hàng hóa là bên giao đại lý,
đại lí chỉ là người được bên giao đại lý giao việc định đoạt hàng hóa Bên giao đại lýhoàn toàn không chuyển quyền sở hữu hàng hóa (trong trường hợp đại lý bán) hoặctiền (trong trường hợp đại lý mua)
Cơ sở để bên đại lý bán hoặc mua hàng hóa cho bên giao đại lý là sự ủy nhiệmquyền mua, bán hàng hóa của bên giao đại lý Đặc điểm này làm cho hợp đồng đại lý
Trang 18mua bán hàng hóa hoàn toàn khác hợp đồng mua bán hàng hóa Đặc trưng nổi bật nhấtcủa hợp đồng mua bán hàng hóa là có sự chuyển quyền sở hữu hàng hóa cũng nhưchuyển giao rủi ro từ người bán sang cho người mua, trừ trường hợp các bên có thỏathuận khác Trong quan hệ đại lý mua bán hàng hóa, bên đại lý chỉ giao hàng hóa chobên đại lý bán hàng mà không chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên đại lý (bên giaođại lý chỉ chuyển quyền chiếm hữu hàng hóa cho bên đại lý) Khi bên đại lý giao kết,thực hiện hợp đồng với khách hàng, quyền sở hữu hàng hóa sẽ được chuyển từ bêngiao đại lý sang cho khách hàng Bên đại lý chỉ có vai trò của một người làm dịch vụtrung gian nối liền sự liên kết của bên giao đại lý với khách hàng Với tư cách là chủ
sở hữu của hàng hóa, bên giao đại lý được toàn quyền định đoạt đối với hàng hóa củamình cũng như phải chịu rủi ro đối với hàng hóa cũng như gánh chiu mọi trách nhiệmvới khách hàng về chất lượng của hàng hóa (trừ trường hợp hàng hóa hư hỏng do lỗicủa bên đại lý)
Thứ tư, để thực hiện hoạt động đại lý, bên đại lý phải thực hiện các hành vi thực tế.
Bên đại lý nhận hàng hóa từ bên giao đại lý để giao cho người mua trong trườnghợp đại lý bán, hoặc nhận tiền từ bên giao đại lý để thanh toán cho khách hàng; nhậnhàng từ khách hàng để giao cho bên đại lý trong trường hợp đại lý mua hàng
Đặc điểm này giúp phân biệt hợp đồng đại lý với hợp đồng ủy thác mua bán hànghóa, trong đó bên được ủy thác chủ yếu thực hiện các hành vi pháp lý (bên được ủythác chỉ sử dụng danh nghĩa của mình ký hợp đồng với khách hàng; còn việc giaohàng, thanh toán có thể được thực hiện trực tiếp giữa bên ủy thác với khác hàng) Bênđại lý mua bán hàng hóa được tự do hơn bên nhận ủy thác trong việc lựa chọn bên thứ
ba để giao kết và thực hiện hợp đồng
Việc bên nhận ủy thác thực hiện mua bán hàng hóa cho bên ủy thác phải tuân thủnghiêm ngặt chỉ dẫn của bên ủy thác Nhưng bên đại lý trong quan hệ đại lý mua bánhàng hóa được tự do trong việc tìm kiếm, giao kết hợp đồng với các bên thứ ba màkhông chịu sự tác động của bên giao đại lý
Thứ năm, hợp đồng đại lý là một dạng của hợp đồng dịch vụ.
Bên đại lý bán hàng hóa hoặc mua hàng cho bên giao đại lý để nhận thù lao.Trong quan hệ hợp đồng đại lý, lợi ích bên đại lý được hưởng chính là thù lao đại lý
mà xét dưới khía cạnh pháp lý thì khoản tiền này chính là thù lao dịch vụ mà bên giaođại lý phải thanh toán cho bên đại lý do sử dụng dịch vụ mua bán hàng hóa của bên đạilý
1.3 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật về hợp đồng đại lý trong thương mại
1.3.1: Cơ sở ban hành pháp luật về hợp đồng đại lý
Trang 19Năm 1995, Quốc hội đã thông qua Bộ Luật dân sự với 838 điều, đánh dấu mộtbước quan trọng vì xét về đối tượng điều chỉnh phạm vi áp dụng đến nội dung cũngnhư kỹ thuật lập pháp, có thể nói Bộ luật dân sự đã góp phần vô cùng quan trọng vàoviệc thực hiện chính sách đổi mới và nhất là việc dân sự hoá các quan hệ xã hôi vốn đãđược hành chính hoá trong nhiều năm duy trì cơ chế quản lý tập trung kế hoạch hoá,nhất là các quy định về chế độ hợp đồng.
Hoạt động đại lý trong nền kinh tế thị trường diễn ra ngày càng sôi động, chính
vì vậy mà Chính phủ ban hành Nghị định 25/CP ngày 25/4/1996 về quy chế đại lý muabán hàng hoá để điều chỉnh các hợp đồng đại lý Từ giai đoạn này mới có một văn bảnpháp luật riêng rã điều chỉnh hoạt động đại lý Còn trước đó lĩnh vực này cũng đượccác quy định của hợp đồng kinh tế điều chỉnh Nhưng hoạt động thương mại ngày càngphát triển mạnh mẽ đòi hỏi phải có một văn bản pháp luật riêng điều chỉnh
Để đáp ứng nhu cầu mới của nền kinh tế, Luật thương mại đã được Quốc hộithông qua ngày 10/5/1997 và có hiệu lực từ ngày 1/1/1998: Trong đó có quy định vềhợp đồng đại lý Về bản chất, Luật thương mại sẽ bổ sung cho Bộ luật dân sự Do vậy,các quy định của hợp đồng thương mại trong Luật thương mại được xây dựng và cụthể hoá trên các nguyên tắc của hợp đồng dân sự Sau hơn 7 năm có hiệu lực áp dụng,Luật thương mại cũng đã bộc lộ nhiều bất cập và thiếu đồng bộ cần phải sửa đổi
Như vậy, Luật thương mại năm 2005 đã đưa ra định nghĩa chung về các hoạtđộng trung gian thương mại bên cạnh các định nghĩa về từng loại hoạt động trunggian, đồng thời quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệtrung gian thương mại, các nội dung tại hợp đồng của từng loại hoạt động trung gianthương mại
1.3.2 Nội dung pháp luật điều chỉnh hợp đồng đại lý thương mại
a) Chủ thể giao kết hợp đồng đại lý
Chủ thể giao kết hợp đồng đại lý là thương nhân, Theo điều 6 Luật thương mạithì thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt độngthương mại thường xuyên và có đăng ký kinh doanh Thương nhân được quyền hoạtđộng thương mại trong các ngành nghề, tại các địa bàn, dưới các hình thức mà phápluật không cấm
Nguyên tắc chung về điều kiện chủ thể giao kết hợp đồng theo quy định của Bộluật Dân sự là các bên ký kết hợp đồng phải có năng lực chủ thể để thực hiện nghĩa vụphát sinh từ hợp đồng Trong hoạt động đại lý thương mại, bên đại lý vừa là một bênchủ thể của hợp đồng đại lý vừa là một bên chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa,cung ứng dịch vụ nên để đảm bảo năng lực chủ thể để thực hiện các nghĩa vụ phát sinh
từ các hợp đồng nói trên thì bên đại lý vừa phải đăng ký kinh doanh ngành nghề đại lý
Trang 20vừa phải có đăng ký kinh doanh ngành nghề phù hợp với loại hàng hóa, dịch vụ màmình làm đại lý Điều này nhằm đảm bảo sự hợp pháp về tư cách chủ thể để bên đại lýthực hiện việc bán hàng, cung ứng dịch vụ hoặc mua hàng nhằm thu lợi nhuận chomình hay để cho người khác.
b) Nguyên tắc giao kết hợp đồng đại lý
* Nguyên tắc tự nguyện: Nội dung chính của nguyên tắc này thể hiện ở chỗ:
việc giao kết hợp đồng thương mại phải dựa trên cơ sở tự do ý chí của các bên trongquan hệ hợp đồng, bất kỳ cơ quan, tổ chức hay cá nhân đều không được áp đặt ý chícủa mình cho bên tham gia quan hệ hợp đồng Khi xác lập quan hệ hợp đồng các chủthể có quyền tự do lựa chọn bạn hàng, thời điểm giao kết, bàn bạc, thoả thuận nội dungcủa hợp đồng Tuy nhiên, các bên khi sử dụng quyền giao kết hợp đồng phải tuân theocác quy định Không được phép lợi dụng giao kết hợp đồng kinh tế để hoạt động tráipháp luật Đối với các tổ chức kinh tế chức năng sản xuất kinh doanh trong các lĩnhvực thuộc đặc quyền của Nhà nước thì không được lợi dụng quyền giao kết hợp đồng
để đòi hỏi điều kiện bất bình đẳng với bạn hàng
* Nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi: Trong quan hệ kinh doanh thì lợi ích là
động lực thúc đẩy hành động của các chủ thể Theo nguyên tắc này thì nội dung củahợp đồng đảm bảo được lợi ích kinh tế của các bên cũng như sự tương ứng về quyền
và nghĩa vụ đối với bất cứ tổ chức, cá nhân thuộc thành phần kinh tế nào Tính bìnhđẳng này không phụ thuộc vào quan hệ sở hữu và quan hệ quản lý của chủ thể
* Nguyên tắc trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản: Các bên tham gia quan hệ hợp
đồng kinh tế phải tự mình gáng vác trách nhiệm tài sản, gồm phạt vi phạm hợp đồng
và bồi thường thiệt hại khi có hành vi vi phạm hợp đồng đã giao kết Các cơ quan Nhànước, các tổ chức kinh tế khác không thể đứng ra chịu trách nhiệm tài sản thay chobên vi phạm
* Nguyên tắc không trái với pháp luật đòi hỏi việc giao kết và thực hiện hợp đồng phải hợp pháp: Điều này có nghĩa là mọi thoả thuận trong hợp đồng phải hoàn
toàn không trái với những quy định của pháp luật, không được lợi dụng giao kết hợpđồng để hoạt động trái pháp luật Vấn đề này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệtrật tự, kỷ cương trong lĩnh vực hợp đồng kinh tế, cũng như hợp đồng thương mại
c) Nội dung giao kết hợp đồng đại lý.
Trong luật thương mại không quy định nội dung giao kết của hợp đồng thươngmại, nhưng trên cơ sở quyền và nghĩa vụ của các bên, chúng ta có thể khái quát nộidung giao kết thành các điều khoản sau
Trang 21* Điều khoản chủ yếu: Đây là những điều khoản băt buộc không thê thiếu trong
hợp đồng Nếu thiếu một trong các điều khoản này thì hợp đồng không có giá trị pháp
lý Các điều khoản chủ yếu gồm các điều kiện sau:
- Họ tên và địa chỉ pháp lý của các bên giao kết hợp đồng thương mại
- Hàng hoá dịch vụ mà các bên thoả thuận làm đại lý
- Chủng loại hàng hoá các bên thoả thuận đại lý
- Thời hạn phương thức và điạ điểm giao hàng
- Giá cả và chiết khấu
- Phương thức và địa điểm thanh toán
- Chế độ thưởng phạt và bồi thường thiệt hại
- Thời hạn có hiệu lực của hợp đồng
* Điều khoản tuỳ nghi: là những điều khoản mà các bên thoả thuận với nhau
trong khuôn khổ pháp luật Khi một văn bản pháp luật quy định các bên có thể thoảthuận với nhau về một số điều khoản nào đó, thì các bên có quyền thoả thuận hoặckhông thoả thuận Nếu thoả thuận thì các bên có nghĩa vụ phải thực hiện các điềukhoản đó, còn không thoả thuận thi nghiễm nhiên không phải thực hiện Trong hợpđồng thương mại thì các điều khoản về thoả thuận trong tài giải quyết tranh chấp, hoàgiải, kiểm dịch, giám định là những điều khoản tuỳ nghi mà các bên có thể thoảthuận với nhau
* Điều khoản thường lệ: Là những điều khoản mà nội dung của nó đã được quy
định sẵn trong các văn bản quy phạm pháp luật Các bên có thể lựa chọn đưa hoặckhông đưa vào trong hợp đồng, nhưng theo quy định của pháp luật thì các bên thamgia giao kết hợp đồng vẫn phải thực hiện như là một điều khoản bắt buộc Trong hợpđồng nói chung hợp đồng thương mại nói riêng thì các điều khoản về khung hình phạt,các điều khoản về trình thụ thủ tục giải quyết tranh chấp là bắt buộc với các bên
và các loại tài liệu giao dịch khác có giá trị pháp lý tương đương văn bản như điệnbáo, telex, fax, và các hình thức khác theo quy định của pháp luật
Tuy nhiên các văn bản pháp luật của một số nước cũng quy định rất khác nhau
về hình thức của hợp đồng Luật của nước Anh quy định những hợp đồng có giá trị từ
10 bảng Anh thì phải giao kết bằng văn bản, luật của Mỹ lại quy định những hợp đồng
Trang 22giao kết có giá trị từ 500$ trở lên thì phải giao kết bằng văn bản Còn theo Công ướcViên 1980 thì quy định hợp đồng không bị giới hạn bởi hình thức, miễn là các bên cóthể chứng minh hợp đồng đã được giao kết.
Trang 23* Giao kết trực tiếp: là trường hợp đại diện của các bên trực tiếp gặp gỡ nhau và
cùng trao đổi với nhau về các điều khoản trong hợp đồng Sau khi trao đổi bàn bạc kỹlưỡng các bên đi đến thống nhất các nội dung và tiến hành ký kết hợp đồng Hiện nayhình thức này là hình thức giao kết nhanh chóng và hiệu quả nhất Trong hoạt độngthương mại, những hợp đồng quan trọng các bên thường trực tiếp gặp gỡ nhau rồi tiếnhành đàm phán đi đến giao kết
* Giao kết gián tiếp: là phương thức giao kết mà theo đó các bên gửi cho nhau
văn bản, tài liệu giao dịch (công văn, điện báo, đơn chào hàng, đơn đặt hàng) chứađựng các nội dung giao dịch Quá trình giao kết gián tiếp thường trải qua hai giai đoạn
- Giai đoạn một: Một bên đề nghị hợp đồng thông báo ý định giao kết cho bênmời giao kết Trong đề nghị đưa ra phải đưa ra đầy đủ các nội dung định giao dịch Lời
đề nghị này phải rõ ràng chính xác tránh gây hiểu lầm cho bên kia
- Giai đoạn hai: Bên được đề nghị sau khi nhận được văn bản tài liệu giao dịchtiến hành xem xét kiểm tra các nội dung nghi trong tài liệu Sau khi tìm hiểu kĩ các nộidung sẽ trả lời cho bên đề nghị biết có đồng ý hay không đồng ý với những nội dungtrong tài liệu Nếu đồng ý một số nội dung và bổ xung thêm nội dung mới thì coi nhưmột đề nghị giao kết mới
Hợp đồng giao kết bằng hình thức gián tiếp được coi là hình thành và có giá trịpháp lý từ khi các bên nhận dược tài iệu giao dịch thể hiện sự thoả thuận về tất cả cácđiều khoản trong nội dung của hợp đồng Căn cứ xác định sự giao kết hợp đồng là bênnhận được tài liệu giao dịch thể hiện sự đồng ý
Bộ luật dân sự và Luật thương mại quy định về giao kết hợp đồng, thời hạn trảlời giao kết hợp đồng, điều kiện thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng khá chi tiết
và đầy đủ
1.3.3 Nguyên tắc và biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng đại lý.
a) Nguyên tắc thực hiện hợp đồng đại lý.
Các bên có nghĩa vụ thực hiện đúng và đầy đủ các nội dung trong hợp đồng đại
lý trên tinh thần hợp tác, tôn trọng lợi ích của nhau Thực hiện đúng có nghĩa là thựchiện đúng đối tượng, chất lượng chủng loại, thời hạn, giá và phương thức thanh toáncũng như các thoả thuận khác Hợp tác, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong quá trìnhthực hiện hợp đồng Theo nguyên tắc này, các bên phải hợp tác thường xuyên theo đó
Trang 24quá trình thực hiện hợp đồng giúp đỡ lẫn nhau khắc phục khó khăn đồng thời thựchiện đầy đủ và nghiêm chỉnh các nghĩa vụ đã cam kết Ngay cả khi tranh chấp xảy racác bên phải chủ động thương lượng giải quyết Như vậy, nguyên tắc này không chỉ có
ý nghĩa trong thực tế thực hiện hợp đồng mà còn giúp phòng ngừa ngăn chặn và giảiquyết các tranh chấp có thể sảy ra
b) Các biện pháp bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng đại lý.
Các biện pháp bảo đảm được quy định hết sức cụ thể trong bộ luật dân sự Theođiều 324 có các biện pháp sau:
* Cầm cố tài sản: Là dùng tài sản thuộc quyền sở hửu của mình để đảm bảo cho
việc thực hiện hợp đồng Việc cầm cố tài sản phải lập thành văn bản Người giữ vậtcầm cố phải có nghĩa vụ bảo quản, không được bán, tặng, cho thuê, cho mượn, trao đổitài sản cầm cố trong thời hạn văn bản cầm cố tài sản còn hiệu lực
* Thế chấp tài sản: là việc bên có nghĩa vụ dùng tài sản thuộc quyền sở hữu
của mình để bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng Bên thế chấp tài sản phải có nghĩa
vụ bảo đảm nguyên giá trị của tài sản, không được chuyển dịch quyền tài sản chongười khác trong thời hạn văn bản thế chấp có hiệu lực pháp lý
* Bảo lãnh tài sản: là sự bảo đảm tài sản thuộc quyền sở hữu của người nhận
bảo lãnh để chịu trách nhiệm về tài sản thay cho người được bảo lãnh khi người này viphạm hợp đồng đã giao kết Người nhận bảo lãnh phải có tài sản không ít hơn giá trịhợp đồng được bảo lãnh
* Đặt cọc: là trường hợp một bên gaio cho bên kia một tài sản (tiền, kim khí
quý, ) để bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng
* Ngoài các hình thức trên trong Bộ luật dân sự còn có các hình thức khác nhưlà: kí cược, kí quỹ, phạt vị phạm và các hình thức khác theo thoả thuận của các bên
1.3.4 Sửa đổi, chấm dứt, huỷ bỏ hợp đồng đại lý.
Luật thương mại không quy định các trường hợp sửa đổi, chấm dứt, thanh lýhợp đồng đại lý Nhưng trong bộ luật dân sự có quy định khá cụ thể và chi tiết về cáctrường hợp này
* Sửa đổi hợp đồng: Hợp đồng đại lý là loại hợp đồng được soạn thảo bằng văn
bản và các loại hình khác có giá trị pháp lý tương đương Hơn nữa hình thức giao kếthợp đồng đại lý là hình thức giao kết trực tiếp Chính vì lẽ đó khi có sửa đổi hợp đồngđại lý các bên nhất thiết phải găp gỡ trao đổi các điều khoản cần sửa đổi, sau đó đi đếnthống nhất các điều khoản cần sửa đổi Sau khi sửa đổi xong các bên sẽ chính thức coicác điều khoản đó là các điều khoản trong nội dung của hợp đồng mới
Trang 25* Chấm dứt hợp đồng đại lý trong các trường hợp sau:
- Hợp đồng đại lý đã hoàn thành
- Theo thoả thuận của các bên
- Pháp nhân hoặc các chủ thế khác chấm dứt mà không phải do chính pháp nhânhay chủ thể đó thực hiện
- Hợp đồng bị huỷ bỏ, bị đơn phương chấm dứt
- Hợp đồng không thể thực hiện được do đối tượng của hợp đồng không còn vàcác bên có thoả thuận thay thế đối tương khác hoặc bồi thường thiệt hại
- Các trường hợp khác do pháp luật quy định
* Buộc thực hiện đúng hợp đồng: là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm
thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện
và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh Trường hợp bên vi phạm giao thiếu hànghoặc cung ứng dịch vụ không đúng hợp đồng thì phải giao đủ hàng hoặc cung ứngdịch vụ theo đúng thoả thuận trong hợp đồng Trường hợp bên vi phạm giao hàng hoá,cung ứng dịch vụ kém chất lượng thì phải loại trừ khuyết tật của hàng hoá, thiếu sótcủa dịch vụ hoặc giao hàng hoá khác thay thế, cung ứng dịch vụ theo đúng hợp đồng.Bên vi phạm không được dùng tiền hoặc hàng hoá khác chủng loại, dịch vụ khác đểthay thế nếu không được sự chấp thuận của bên bị vi phạm
* Phạt vi phạm : là trường hợp bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một
khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thảo thuận Mức phạt tối
đa đối với điều vi phạm hợp đồng do các bên thoả thuận nhưng không được quá 8%phần giá trị hợp đồng bị vi phạm
* Bồi thường thiệt hại : là trường hợp bên vi phạm bồi thường những tổn thất do
hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm Giá trị bồi thường gồm giá trịtổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoảnlợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại là có hành vi vi phạm hợp đồng, cóthiệt hại thực tế và hành vi vi pham hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại
Trang 26* Tạm ngừng thực hiện hợp đồng : là việc một bên tạm thời không thực hiện
nghĩa vụ hợp đồng Tạm ngừng trong những trường hợp sau đây: xảy ra hành vi viphạm mà các bên đã đề thoả thuận là điều kiện để tạm ngừng thực hiện hợp đồng hoặcmột bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng
* Đình chỉ thực hiện hợp đồng : là việc một bên chấm dứt thực hiện nghĩa vụ
hợp đồng thuộc một trong các trường hợp sau đây: xảy ra hành vi vi phạm mà các bên
đã thoả thuận là điều kiện để đinh chỉ hợp đồng hoặc một bên vi phạm cơ bản nhữngnghĩa vụ hợp đồng
* Huỷ bỏ hợp đồng bao gồm hai trường hợp: huỷ bỏ toàn bộ nội dung hợp đồng
và huỷ bỏ một phần nội dung hợp đồng Huỷ bỏ toàn bộ nội dung hợp đồng là việc loại
bỏ hoàn toàn tất cả các nghĩa vụ hợp đồng đối với toàn bội hợp đồng Huỷ bỏ mộtphần nội dung hợp đồng là việc bãi bỏ thực hiện một phần nghĩa vụ hợp đồng, cácphần còn lại vẫn có hiệu lực Huỷ bỏ hợp đồng trong trường hợp giao hàng hoặc cungứng dịch vụ từng phần, nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ của mình trong việcgiao hàng, cung ứng dịch vụ và việc này cấu thành một hành vi vi phạm cơ bản đối vớilần giao hàng, cung ừng dịch vụ đó thì bên có quyền tuyên bố huỷ bỏ hợp đồng đối vớilần giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ đó
1.3.6 Giải quyết tranh chấp hợp đồng đại lý.
Khi có tranh chấp sảy ra, việc đầu tiên là các bên tiến hành gặp gỡ nhau cùngtrao đổi bàn bạc giải quyết tranh chấp Nếu các bên có thể tự thương lượng giải quyếtđươc với nhau thì sẽ không phải tiến hành các biện pháp tiếp theo Nhưng khi tranhchấp chưa được giải quyết thì các bên có thể lựa chọn một trong các hình thức giảiquuyết sau
a) Giải quyết bằng hoà giải.
Hoà giải là đưa các bên đến người thứ ba để giải quyết tranh chấp, nếu hoà giảithành công, thoả thuận hoà giải được lập thành biên bản hoà giải có chữ ký của cácbên và của hòa giải viên Trong quá trình hoà giải, với thoả thuận giữa các bên, hoàgiải viên luôn cố gằng trình bày cho các bên thấy được những triển vọng tốt đẹp nhất
để từ đó hoà giải các quan điểm khác nhau, và vì vậy, chuyển tình huống tranh chấpthành sự hoà giải Hoà giải viên tiến hành quy trình hoà giải mà họ cho rằng theonguyên tắc vô tư công bằng và theo công lý Các đề nghị hoặc kiến nghị của hoà giảiviên không có giá trị ràng buộc do vậy các bên có thể tự do áp dụng hoặc khước từ.Tuy nhiên các bên có thể đưa các đề nghị của hoà giải viên và một hợp đồng đã ký kếthoặc một quyết định ràng buộc được các bên thoả thuận với nhau
Trang 27b) Giải quyết bằng trọng tài.
Đây là phương thức giả quyết tranh chấp bằng cách giao vấn đề tranh chấp chobên thứ ba là các trọng tài để họ phân xử và đưa ra quyết định cuối cùng trong trườnghợp các bên không thể dàn xếp được với nhau mà không muốn đưa tranh chấp ra toà
án giải quyết
Pháp lệnh trọng tài thương mại được Quốc hội thông qua 12/3/2003, quy định
về tổ chức và tố tụng trọng tài để giải quyết các vụ tranh chấp giữa các bên trong hoạtđộng thương mại theo sự thoả thuận của các bên và theo quy định của pháp luật Theopháp lệnh này “Hoạt động thương mại là việc một hay nhiều hành vi thương mại của
cá nhân, tổ chức, kinh doanh bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, phân phốiđại diện, đại lý thương mại, ký gửi, thuê, cho thuê, thuê mua, xây dựng, tư vấn, kĩthuật, lixăng, đầu tư; tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thăm dò, khai thác; vận chuyểnhàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ vàcác hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật” (điều 2.3)
Đặc điểm của phương pháp giải quyết tranh chấp bằng trọng tài: phải có sự thoảthuận của các bên về việc đưa tranh chấp ra xét xử bằng trọng tài Thoả thuận đó cóthể là một điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc một thoả thuận trọng tài riêng biệtđược lập sau khi tranh chấp phát sinh Toàn bộ quá trình trọng tài được coi như sự thểhiện ý chí của các bên dựa trên quyền tự chủ của họ Một khi thoả thuận trọng tài cóhiệu lực thì không một bên nào có quyền rút lui ý kiến Điều khoản trọng tài được coi
là độc lập với các điều khoản khác trong hợp đồng chính nên ngay cả khi hợp đồngchính đã kết thúc hoặc vô hiệu thì cũng không làm điều khoản trọng tài vô hiệu mộtcách tương ứng (Điều11 pháp lệnh trọng tài thương mại 2003)
Hội đồng trọng tài sẽ ra quyết định sau khi cân nhắc mọi chứng cứ và lập luậncủa các bên
Các bên tranh chấp thoả thuận giao cho trọng tài quyền và nghĩa vụ phải ra cácphán quyết, quyết định có tính bắt buộc đối với các bên Để ra được phán quyết, quyếtđịnh trọng tài phải tuân theo các trình tự, thủ tục tố tụng nhất định do các bên lựachọn , bao gồm những quy định cơ bản sau đây:
- Nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài ;
- Thoả thuận trọng tài;
- Khởi kiện;
- Thành lập hội đồng trọng tài;
- Chuẩn bị giải quyết tranh chấp;
- Phiên họp giải quyết tranh chấp ;
- Quyết định trọng tài ;
Trang 28- Huỷ quyết định trọng tài ;
- Thi hành quyết định trọng tài
Nếu quy trình tố tụng này không được tuân thủ, một hoặc các bên không cóđược cơ hội công bằng để trình bày trường hợp của mình trước hội đồng trọng tài thìquyết định của trọng tài có thể sẽ không được công nhận và cho thi hành Dưới góc độnày, trọng tài gần với toà án nhưng so với phương pháp giải quyết tranh chấp bằng toà
án thì tố tụng trọng tài có một số ưu điểm là: Đỡ tốn kém thời gian, bảo toàn được bímật kinh doanh (trọng tài được xét sử kín); tính phù hợp về chuyên môn nghiệp vụkinh doanh của các quyết định trọng tài (do các trọng tài viên thường là các chuyên giatrong lĩnh vực kĩ thuật, các thương nhân có uy tín, kinh nghiệm ), tính khách quantrung lập của trọng tài
Các quyết định phán quyết của trọng tài có thể được toà án công nhận và cho thihành thông qua một thủ tục tư pháp Mặc dù phán quyết của trọng tài là kết quả của sựthoả thuận có tính chất riêng tư giữa các bên tranh chấp và do hội đồng trọng tài banhành (mà bản thân hợp đồng dó chấm dứt nhiệm vụ và không còn tồn tại sau khi raphán quyết) nhưng giá trị bắt buộc của phán quyết trọng tài đối với các bên vẫn đượcpháp luật Việt nam công nhận
Giải quyết tranh chấp bằng phương pháp trọng tài thực sự đi vào đời sống, điểnhình như trung tâm trọng tai quốc tế tại Việt Nam nằm bên cạnh phòng Thương mại vàcông nghiệp Việt Nam (VIAC) đã được các chủ thể kinh doanh thường xuyên lựa chọnlàm cơ quan xét xử tranh chấp phát sinh từ hoạt động ký kết và thực hiện hợp đồng,với thủ tục xét xử của trung tâm được tiến hành theo quy tắc của VIAC
c) Giải quyết bằng toà án.
Theo điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 quy định thẩm quyền của toà án.Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa cá nhân, tổchức có đăng kí kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận bao gồm:
-Vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường sắt đường thuỷ, nội địa;
-Vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không , đường biển;
Trang 29-Mua bán cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá trị khác;
-Đầu tư, tài chính, ngân hàng;
Các tranh chấp về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định
Như vậy thẩm quyền giải quyết của toà án bao gồm rất nhiều hoạt động tronglĩnh vực kịnh doanh thương mại, tuy nhiên chủ thể của hợp đồng chỉ gồm cá nhân và
tổ chức, với mục đích là lợi nhuận, trong đó hợp đồng đại lý với mục đích và chủ thểnhư trên là do toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp
Thủ tục giải quyết các vụ án theo bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 bao gổm cácbước sau:
-Khởi kiện và thụ lý vụ án;
-Chuẩn bị xét xử vụ án;
-Phiên toà sơ thẩm;
-Thủ tục phúc thẩm;
-Thủ tục xem xét lại bản án (quyết định) đã có hiệu lực pháp luật;
-Thi hành bản án (quyết định) của toà án;
Ngoài ra các tranh chấp hợp đồng được giải quyết bằng 2 cơ quan toà án khácnhau là Toà Kinh tế và Toà Dân sự
Theo quy định hiện hành thì Toà Kinh tế và Toà Dân sự có chức năng khácnhau Toà Dân sự có nhiệm vụ giải quyết các vụ việc dân sự trong đó có tranh chấp vềhợp đồng dân sự, Toà Kinh tế có nhiệm vụ giải quyết các tranh chấp kinh tế trong đó
có că các tranh chấp về hợp đồng đại lý
Như vậy thuận lợi của toà án là có tính bắt buộc và cưỡng chế rất cao Tố tụngtại Tòa án, các bên không phải trả thù lao cho Thẩm phán, ngoài ra phí hành chính rấthợp lý, các bên tranh chấp chỉ mất chi phí cho các luật sư trong việc tham gia tố tụngbảo vệ quyền lợi cho họ Các Tòa án, đại diện cho chủ quyền quốc gia, có thể triệu tậpbên thứ ba và nhân chứng ra trước Tòa án, đây là quyền cưỡng chế mà trọng tài viênkhông có
Tuy nhiên, phương pháp này có nhiều bất lợi vì thủ tục xét xử công khai sẽkhông cho phép các bên giữ được bí mật kinh doanh và quá trình xết xử kéo dài phức