1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về người đại diện trong doanh nghiệp Thực tiễn thực hiện tại Công ty cổ phần Môi trường và Công trình đô thị Thanh Hoa

51 32 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 129,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Pháp luật doanh nghiệp hiện hành mặc dù đã có những sửa đổi bổ sung nhất định, khắc phục được phần nào hạn chế bất cập của Luật cũ nhưng vẫncòn tồn tại vấn đề nhất định như xác

Trang 1

TÓM LƯỢC

Nền kinh tế của Việt Nam hiện nay đang trên con đường phát triển và hội nhậpsâu rộng vào nền kinh tế thế giới Kết quả là các hoạt động kinh tế diễn ra môt cáchthường xuyên, liên tục và không kém phần sôi động Trong vòng xoáy của sự pháttriển đó, công cụ hiệu quả nhất để các nhà kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận trên thịtrường đó là thành lập các tổ chức kinh tế dưới dạng các loại hình doanh nghiệp Điềunày đòi hỏi pháp luật về doanh nghiệp nói riêng cũng như pháp luật kinh tế nói chungphải được hoàn thiện, góp phần tạo ra hành lang pháp lý vững chắc, an toàn và bìnhđẳng cho các nhà đầu tư Trong đó, vấn đề pháp lý về người đại diện trong doanhnghiệp thực sự là một vấn đề pháp lý quan trọng bởi lẽ chủ thể là người thay mặtdoanh nghiệp trong các giao dịch với chủ thể khác cũng như các quan hệ quản trị nội

bộ của doanh nghiệp Pháp luật doanh nghiệp hiện hành mặc dù đã có những sửa đổi

bổ sung nhất định, khắc phục được phần nào hạn chế bất cập của Luật cũ nhưng vẫncòn tồn tại vấn đề nhất định như xác định các hình thức đại diện trong giao dịch củadoanh nghiệp; phạm vi thẩm quyền của người đại diện; trách nhiệm của doanh nghiệpđối với các giao dịch do người đại diện xác lập, thực hiện; vấn đề chấp nhận haykhông các thông lệ, tập quán thương mại quốc tế về quan hệ đại diện trong các giaodịch thương mại của doanh nghiệp… Cần có những giải pháp pháp lý phù hợp, kịpthời để giải quyết và hạn chế phần nào các tranh chấp liên quan

Từ thực tế đó khóa luận tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật ViệtNam về nội dung, hình thức, phạm vi, thẩm quyền, vai trò của người đại diện trongdoanh nghiệp Dựa trên những phân tích, những bất cập đã được chỉ ra khóa luận kiếnnghị một số giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về người đại diện

i

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Nghiên cứu việc thực thi pháp luật trong doanh nghiệp giúp ích rất lớn cho quátrình chuẩn bị hành trang ra trường của sinh viên chuyên ngành Được sự giúp đỡ củaKhoa Kinh tế - Luật, Trường Đại học Thương Mại và sự hỗ trợ của Công ty Cổ phầnMôi trường và Công trình đô thị Thanh Hoa em đã được đi thực tế tại doanh nghiệpđồng thời có cơ hội nghiên cứu tìm hiểu pháp luật về người đại diện trong doanhnghiệp Quá trình này giúp em vận dụng những kiến thức đã được học, được tích lũykhi ngồi trên ghế nhà trường, nhằm có cái nhìn thực tế hơn về pháp luật trong đời sốnghiện nay và là cơ sở quan trọng giúp em thực hiện khóa luận này

Để hoàn thành khóa luận này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thạc sỹ ĐỗPhương Thảo, người đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình viết Khóa luận tốtnghiệp Em chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong khoa Kinh tế - Luật, Trường Đạihọc Thương Mại đã tận tình truyền đạt kiến thức trong những năm em học tập Emchân thành cảm ơn Ban giám đốc Công ty Cổ phần Môi trường và Công trình đô thịThanh Hoa đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi để em thực tập tại quý công ty

Do những hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên Khóa luận tốt nghiệp của emkhông tránh khỏi thiếu sót, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ phía công ty

và các thầy, cô giáo

Cuối cùng em kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sựnghiệp cao quý của mình

Em xin chân thành cảm ơn!

ii

Trang 3

MỤC LỤC

TÓM LƯỢC i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài 1

2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan 1

3 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu 3

4 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Kết cấu khóa luận 5

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN TRONG DOANH NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN TRONG DOANH NGHIỆP 6

1.1 Những vấn đề lý luận về người đại diên trong doanh nghiệp 6

1.1.1 Khái niệm người đại diện trong doanh nghiệp 6

1.1.2 Các hình thức đại diện theo pháp luật trong doanh nghiệp 7

1.1.3 Vai trò người đại diện trong doanh nghiệp 9

1.2 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh người đại diện trong doanh nghiệp 11

1.2.1 Cơ sở ban hành pháp luật 11

1.2.2 Nội dung pháp luật về người đại diện trong doanh nghiệp 12

1.3 Những nguyên tắc của pháp luật điều chỉnh vấn đề pháp luật về người đại diện trong doanh nghiệp 19

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU CHỈNH NGƯỜI ĐẠI DIỆN TRONG DOANH NGHIỆP 20

2.1 Thực trạng pháp luật về người đại diện theo pháp luật trong doanh nghiệp 20

2.1.1 Điều kiện, tiêu chuẩn và số lượng người đại diện theo pháp luật trong doanh nghiệp 20

2.1.2 Quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật trong Doanh nghiệp 22

2.1.3 Chấm dứt đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 24

2.1.4 Thay đổi người đại diện theo pháp luật 26

2.2 Thực trạng pháp luật về người đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp 26

2.2.1 Điều kiện, tiêu chuẩn người đại diện theo ủy quyền của doanh nghiệp 26

iii

Trang 4

2.2.2 Quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo ủy quyền của doanh nghiệp 28 2.2.3 Chấm dứt đại điện đại diện theo ủy quyền của doanh nghiệp 30

2.3 Trách nhiệm của doanh nghiệp đối với các giao dịch do người đại diện xác lập, thực hiện 302.4 Thực trạng thực hiện quy định về người đại diện trong doanh nghiệp tại Công ty

cổ phần Môi trường và Công trình đô thị Thanh Hoa 32

2.4.1 Khái quát về Công ty cổ phần Môi trường và Công trình đô thị Thanh Hoa 33 2.4.2 Thực trạng thực hiện quy định pháp luật về đại diện tại Công ty cổ phần Môi trường và Công trình đô thị Thanh Hoa 33

2.5 Các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu 35

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN TRONG DOANH NGHIỆP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ THANH HOA 38

3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về người đại diện trong doanh nghiệp 383.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về người đại diện trong doanh nghiệp 393.3 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 42

KẾT LUẬN 44 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

iv

Trang 5

v

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài.

Nền kinh tế của Việt Nam hiện nay đang trên con đường phát triển và hội nhậpsâu rộng vào nền kinh tế thế giới Quá trình này đặt ra những đòi hỏi nhất định với hệthống pháp luật nói chung cũng như pháp luật về doanh nghiệp nói riêng Để đáp ứngyêu cầu điều chỉnh và quản lý kinh tế, hệ thống pháp luật về doanh nghiệp đã khôngngừng hoàn thiện, tạo khuôn khổ pháp lý để các nhà đầu tư trong và ngoài nước thamgia thành lập các loại hình doanh nghiệp Tiêu biểu là sự ra đời của Luật doanh nghiệpnăm 2014 thay thế Luật doanh nghiệp năm 2005 đã góp phần hoàn thiện khung pháp

lý các mô hình tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần và đồng thời, tiếp cận và tuânthủ các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp đang được áp dụng trên thế giới đã phần nàođáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của nền kinh tế Tuy nhiên, hơn hai năm đi vào thựchiện các quy định pháp luật Việt Nam về đại diện của doanh nghiệp, còn bộc lộ nhiềuhạn chế, thiếu xót, còn tồn tại những chế định chưa được quy định rõ ràng, thiếu nhấtquán như xác định các hình thức đại diện trong giao dịch của doanh nghiệp; phạm vithẩm quyền của người đại diện, trách nhiệm của doanh nghiệp đối với các giao dịch dongười đại diện xác lập, thực hiện; vấn đề chấp nhận hay không các thông lệ, tập quánthương mại quốc tế về quan hệ đại diện trong các giao dịch thương mại của doanhnghiệp Từ những tồn tại của pháp luật dẫn đến hệ quả là việc áp dụng pháp luậtkhông đúng, không thống nhất, đồng thời gây khó khăn cho chính các cơ quan nhànước và ảnh hưởng đến quyền tự do kinh doanh

Đặc biệt trong quá trình thực tập tại Công ty cổ phần Môi trường và Công trình

đô thị Thanh Hoa tác giả đã nhận thấy đây thực sự là một vấn đề pháp lý quan trọng,cần được tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi trong thời gian tới.Vì vậy, việc tiếp tục tìm hiểu,nghiên cứu nhằm hoàn thiện pháp luật về người đại diện là một vấn đề có ý nghĩa lýluận và thực tiễn trong thời điểm hiện tại

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Pháp luật về người đạidiện trong doanh nghiệp - Thực tiễn thực hiện tại Công ty cổ phần Môi trường vàCông trình đô thị Thanh Hoa” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp cho mình với mongmuốn làm rõ quy định pháp luật về người đại diện trong doanh nghiệp và đề xuất một

số ý kiến hoàn thiện quy định về chế tài này

2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan.

Trên thực tế, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này theo các cấp độ vàdưới nhiều góc độ khác nhau, cụ thể:

Trang 7

Một số luận văn, luận án đã tiếp cận những vấn đề pháp lý về người đại diện ởnhững góc độ chuyên biệt như: Luận văn thạc sĩ Luật học năm 2006: “Pháp luật vềhợp đồng đại diện thương mại và thực tiễn áp dụng”của tác giả Nguyễn Thị Thúy Nga;Luận văn thạc sĩ Kinh tế năm 2007: “Kiểm soát và quản lý hiệu quả chi phí đại diệntrong công ty cổ phần” của tác giả Hà Thị Thu Hằng; Luận văn thạc sĩ Luật học năm2011: “Kiểm soát giao dịch tư lợi của người quản lý công ty theo Luật Doanh nghiệp2005” của tác giả Lý Đăng Thư.

Đáng chú ý là Luận án tiến sĩ Luật học năm 2012: “Đại diện cho thương nhântheo pháp luật thương mại Việt Nam hiện nay” của tác giả Hồ Ngọc Hiển và Luận vănthạc sĩ Luật học năm 2014: “Người đại diện theo pháp luật của công ty theo quy địnhcủa pháp luật Việt Nam” của tác giả Lê Việt Phương Tuy nhiên, các nghiên cứu nàyđề cập đến những quy định của pháp luật thương mại về người đại diện cho thươngnhân hoặc phân tích trong một phạm vi hẹp về người đại diện theo pháp luật của công

ty Cho đến nay, vẫn chưa có một công trình nào tiếp cận một cách cụ thể các quy địnhcủa pháp luật doanh nghiệp nhằm bổ sung, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thựctiễn về chế định người đại diện của doanh nghiệp, bao gồm người đại diện theo phápluật và người đại diện theo uỷ quyền Do đó, việc nghiên cứu một cách có hệ thống vềvấn đề này mang tính thời sự sâu sắc

Trên thế giới, học thuyết về đại diện đã được nghiên cứu từ rất sớm Trong cáctác phẩm như The Wealth of Nations của Adam Smith; The Modern Corporation andPrivate Property của Adolf A Berle và Gardiner C Means; Agency Law and ContractFormation của Eric Rasmusen; Corporate Governane: Kiểm soát quản trị của BobTricker…các nhà nghiên cứu đã dự đoán rằng, xu hướng phát triển của các công tyhiện đại cần có sự phân tách giữa quyền sở hữu và quản lý, kiểm soát công ty

Còn đối với tình hình nghiên cứu trong nước, ở phạm vi và góc độ khác nhau, đã

có những công trình nghiên cứu, bài viết đề cập chế định người đại diện của doanhnghiệp, điển hình như: “Học thuyết về đại diện và mấy vấn đề của pháp luật công tyViệt Nam” của PGS.TS Bùi Xuân Hải đăng trên Tạp chí Khoa học pháp lý số 4 năm2007; “Người quản lý công ty theo Luật doanh nghiệp 1999- Nhìn từ góc độ luật sosánh” của PGS.TS Bùi Xuân Hải đăng trên Tạp chí Khoa học Pháp lý số 4 năm 2005,các nghiên cứu này phân tích những vấn đề cơ bản của học thuyết về đại diện và sửdụng những luận điểm của học thuyết này để bình luận một số vấn đề trong thực tiễnquản trị doanh nghiệp và pháp luật công ty Việt Nam

Một số bài viết khác tiếp cận vấn đề đại diện dưới góc độ pháp luật dân sự như

“Chế định đại điện trong pháp luật Việt Nam và vấn đề đặt ra trong thực tiễn áp dụng”của TS Nguyễn Vũ Hoàng đăng trên Tạp chí Luật học số 2 năm 2013 hay “Chế định

Trang 8

đại diện theo quy định của pháp luật Việt Nam – Nhìn từ góc độ Luật so sánh” của TSNgô Huy Cương đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 4 năm 2009; đây lànhững bài viết ngắn, phân tích một số khiếm khuyết của Bộ luật Dân sự 2005 về chếđịnh đại diện.

Những công trình khoa học trên là tài liệu vô cùng quý giá và là một trong nhữngcăn cứ giúp người viết có thêm nhiều thông tin quan trọng để phục vụ cho việc nghiêncứu luận văn của mình Tất cả các công trình nghiên cứu, các bài báo khoa học, sáchchuyên khảo, các luận án, luận văn đó đều có những thành công nhất định về một sốkhía cạnh pháp lý về người đại diện, tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu cũngnhư bài viết nào đi sâu nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật về người đại diện tạimột doanh nghiệp cụ thể, đặc biệt là tại công ty Cổ phần Môi trường và Công trình đôthị Thanh Hoa Ngoài ra, luận văn còn có sự cập nhật của văn bản pháp luật mới, tiêubiểu như Bộ luật Dân sự 2005 đã được sửa đổi năm 2015, Luật doanh nghiệp 2005 đãđược sửa đổi năm 2014, luận văn có sự so sánh các vấn đề liên quan đến người đạidiện giữa Luật doanh nghiệp 2005 và Luật doanh nghiệp 2014, BLDS 2005 và BLDS2015

3 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu.

Mặc dù đề tài về người đại diện của doanh nghiệp không còn mới mẻ, nhưng saumột thời gian thực tập tại công ty Cổ phần Môi trường và Công trình đô thị ThanhHoa, tác giả nhận thấy vấn đề nhận thức cũng như thực hiện các quy định pháp luậthiện hành về người đại diện tại doanh nghiệp còn khá nhiều bất cập Bên cạnh đó cácvăn bản pháp luật nói chung và các văn bản pháp luật liên quan đến doanh nghiệp,người đại diện nói riêng không ngừng được đổi mới, đòi hỏi các doanh nghiệp phảiliên tục cập nhật pháp luật Vì vậy, mong rằng kết quả của đề tài có thể được dùng làmphương tiện tham khảo, nhằm nâng cao hiệu quả trong việc áp dụng pháp luật vềngười đại diện tại Công ty Cổ phần Môi trường và Công trình đô thị Thanh Hoa

Khóa luận làm rõ một số vấn đề lý luận về người đại diện của doanh nghiệp, chỉ

ra một số điểm chưa hợp lý trong quy định pháp luật điều chỉnh về người đại diện củadoanh nghiệp, phân tích một số tình huống thực tế về áp dụng thực hiện Từ nhữngphân tích, bất cập đã chỉ ra, khóa luận kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện quy địnhpháp luật về người đại diện

4 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu những quy định của pháp

luật Việt Nam về nội dung, hình thức, phạm vi, thẩm quyền, vai trò của người đại diệntrong doanh nghiệp và thực tiễn áp dụng pháp luật về người đại diện tại Công ty Cổphần Môi trường và Công trình đô thị Thanh Hoa

Trang 9

Mục tiêu nghiên cứu: Tiếp cận vấn đề nghiên cứu về người đại diện trong

doanh nghiệp cả góc độ lý luận và thực tiễn Từ những nghiên cứu, phân tích làm rõđược các bất cập trong quy định pháp luật về người đại diện trong doanh nghiệp,những khó khăn khi áp dụng quy định pháp luật Dựa trên những bất cập đề xuất giảipháp hoàn thiện quy định pháp luật, giảm những khó khăn khi áp dụng Những mụctiêu cụ thể của khóa luận như sau:

- Nghiên cứu những vấn đề lí luận cơ bản và nội dung pháp luật về người đạidiện trong doanh nghiệp

- Phân tích thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về người đại diện trongdoanh nghiệp từ đó nêu lên ưu điểm và hạn chế

- Đưa ra định hướng, giải pháp để hoàn thiện những quy định pháp luật về ngườiđại diện trong doanh nghiệp

Phạm vi nghiên cứu

- Không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Namđiều chỉnh các vấn đề về người đại diện trong doanh nghiệp, thông qua tình hình thựctiễn hoạt động sản xuất kinh doanh ở Công ty Cổ phần Môi trường và Công trình đôthị Thanh Hoa

- Thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 2006 –

2014, Luật doanh nghiệp 2005 có hiệu lực thi hành Giai đoạn 2013 – 2014, Quốc hộitiến hành sửa đổi Luật doanh nghiệp và đã được thông qua, đánh dấu một bước ngoặtlớn cho hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và ngành Luật doanh nghiệp nói riêng,trong đó có chế định về người đại diện trong doanh nghiệp

- Lĩnh vực: Đề tài tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật Việt Nam,

cụ thể là Luật doanh nghiệp 2014 điều chỉnh về nội dung, hình thức, phạm vi, thẩmquyền, vai trò của người đại diện trong doanh nghiệp

5 Phương pháp nghiên cứu.

Tác giả đã sử dụng các phương pháp:

- Phương pháp duy vật biện chứng để làm rõ các khái niệm liên quan đến ngườiđại diện của doanh nghiệp trong chương 1: Những vấn đề lý luận về người đại diệntrong doanh nghiệp và pháp luật về người đại diện trong doanh nghiệp

- Phương pháp phân tích để làm rõ các quy định của pháp luật về một số vấn đề

cơ bản của chế định người đại diện của doanh nghiệp trong chương 1: Những vấn đề

lý luận về người đại diện trong doanh nghiệp và pháp luật về người đại diện trongdoanh nghiệp - Phương pháp nghiên cứu thực tiễn và phương pháp tổng hợp nhằmnêu lên thực trạng áp dụng các quy định của một số một số vấn đề cơ bản trong chế

Trang 10

định người đại diện của doanh nghiệp Phương pháp này được dùng trong chương 2:Thực trạng pháp luật về người đại diện trong doanh nghiệp.

- Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm nhằm xem xét lại những thựctrạng về người đại diện trong doanh nghiệp hiện tại để rút ra giải pháp trong chương 3:Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về người đại diện trong doanh nghiệp tạiCông ty cổ phần Môi trường và Công trình đô thị Thanh Hoa

6 Kết cấu khóa luận.

Ngoài phần mục lục, lời mở đầu, danh mục các chữ viết tắt, kết luận và danh mụctài liệu tham khảo, nội dung của dề tài gồm ba chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về người đại diện trong doanh nghiệp và phápluật về người đại diện trong doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng pháp luật về người đại diện trong doanh nghiệp

Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về người đại diện trongdoanh nghiệp tại Công ty cổ phần Môi trường và Công trình đô thị Thanh Hoa

Trang 11

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN TRONG DOANH NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN

TRONG DOANH NGHIỆP.

1.1 Những vấn đề lý luận về người đại diên trong doanh nghiệp.

1.1.1 Khái niệm người đại diện trong doanh nghiệp.

Một điểm khác biệt, tiến bộ nữa cũng cần phải nhấn mạnh rằng, với thuật ngữ

“người đại diện” thì pháp luật Việt Nam đã làm rõ liệu một cá nhân, pháp nhân có thểlàm đại diện được không Bộ luật Dân sự 2015 mới đã chính thức cho phép một phápnhân có thể ủy quyền cho một pháp nhân khác xác lập và/ hoặc thực hiện giao dịchcho mình Thực vậy, khoản 1 Điều 134 Bộ luật Dân sự 2015 quy định đại diện là việccá nhân, pháp nhân (người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc phápnhân khác (người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự

Nhưng nghiên cứu pháp luật ở một số quốc gia trên thế giới thì thuật ngữ

“người” được hiểu khá rộng Theo từ điển Luật học của New Zealand Butterworths(xuất bản lần thứ 5) thì quan niệm người bao gồm cả tự nhiên nhân và pháp nhân(Butterworths New Zealand Law Dictionary, 5th Edition) Bộ luật Washington (sửađổi) quan niệm rất rộng: “Thuật ngữ “người” có thể được đề cập bao gồm cả Hoa Kỳ,hoặc bất kỳ nhà nước và vùng lãnh thổ nào, hoặc bất kỳ công ty công cộng nào, cũngnhư một cá nhân” (The Revised Code of Washington) Vì thế pháp luật nhiều nướccho phép pháp nhân có thể làm đại diện Rõ ràng pháp luật thực định Việt Nam đã dựliệu một cách đầy đủ về vấn đề này và cập nhập cho phù hợp với pháp luật quốc tế.Người đại diện của doanh nghiệp là người nhân danh và vì lợi ích của doanhnghiệp xác lập, thực hiện các giao dịch trong phạm vi đại diện Với khái niệm này,người đại diện của doanh nghiệp có một số đặc điểm cơ bản sau:

- Về chủ thể: Chủ thể đại diện phải là cá nhân và bên được đại diện là doanhnghiệp

Chủ thể đại diện phải là cá nhân Người đại diện của doanh nghiệp phải là người cóđầy đủ năng lực hành vi dân sự Năng lực hành vi dân sự là khả năng của chủ thể bằnghành vi của mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự Năng lực hành vi dân

sự của cá nhân phụ thuộc vào lứa tuổi và được xác định theo pháp luật của từng quốcgia Theo pháp luật thực định Việt Nam, cá nhân được xem là có năng lực hành vi dân

sự đầy đủ khi đã đủ 18 tuổi trở lên và không bị toà án tuyên bố là người mất năng lựchành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự Chủ thể được đại diện làdoanh nghiệp Doanh nghiệp phải là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sởgiao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục

Trang 12

đích thực hiện các hoạt động kinh doanh Doanh nghiệp bao gồm: công ty Tráchnhiệm Hữu hạn, Hộ kinh doanh, công ty Cổ phần, Công ty Hợp danh, Doanh nghiệp tưnhân.

- Về nghĩa vụ: Người đại diện của doanh nghiệp nhân danh và vì lợi ích củadoanh nghiệp khi thực hiện việc đại diện

Người đại diện của doanh nghiệp là người có thẩm quyền nhân danh doanhnghiệp tham gia, xác lập và thực hiện các giao dịch vì lợi ích của doanh nghiệp Trongmối quan hệ giữa người chủ sở hữu, cổ đông và người đại diện thì người đại diện đượccoi như là người thụ ủy và phải có nghĩa vụ của người thụ ủy Đây được xem là mốiquan hệ ủy thác tài sản, khi tài sản được đặt dưới sự kiểm soát của người được ủy thác

vì lợi ích của một người thụ hưởng hoặc cho một mục đích đã định Người được ủythác có quyền và bổn phận và chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng theo các điều khoảnủy thác và nhiệm vụ đặc biệt mà luật pháp áp đặt Hay nói cách khác, người đại diệncủa doanh nghiệp là người có trách nhiệm với tài sản của chủ sở hữu

- Về phạm vi: Người đại diện của doanh nghiệp chỉ được nhân danh doanhnghiệp xác lập, thực hiện giao dịch trong phạm vi đại diện

Giao dịch do người đại diện xác lập, thực hiện chỉ có hiệu lực pháp lý đối vớingười được đại diện khi và chỉ khi giao dịch đó phù hợp với phạm vi đại diện Đặcđiểm này có ý nghĩa quan trọng và tác động đến hầu hết mọi vấn đề liên quan đếnquan hệ đại diện Quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của doanh nghiệp, của người đạidiện và của người thứ ba có phát sinh hay không, được thực hiện như thế nào phụthuộc vào việc người đại diện có thực hiện đúng phạm vi đại diện của mình hay không

Do đó, đòi hỏi người đại diện phải minh bạch trong việc cung cấp thông tin về phạm viđại diện trước khi xác lập các giao dịch

1.1.2 Các hình thức đại diện theo pháp luật trong doanh nghiệp.

Đại diện của pháp nhân được thể hiện dưới hai hình thức: đại diện theo pháp luật

và đại diện theo ủy quyền

1.1.2.1 Đại diện theo pháp luật

Khoản 1 điều 13 Luật doanh nghiệp 2014 quy định: “Người đại diện theo phápluật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền vànghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tưcách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòaán và các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật”

Hoạt động của một doanh nghiệp được thông qua người đại diện theo pháp luật.Người đại diện theo pháp luật sẽ nhân danh và vì lợi ích của doanh nghiệp xác lập,thực hiện các giao dịch thể hiện mối quan hệ với các chủ thể trong doanh nghiệp (như

Trang 13

với các thành viên, cổ đông góp vốn) hoặc với các chủ thể khác bên ngoài doanhnghiệp (đối tác, khách hàng, cơ quan quản lý nhà nước ) Trong suốt quá trình hoạtđộng, từ khi thành lập đến khi giải thể hoặc tuyên bố phá sản hay sáp nhập, chia, tách,doanh nghiệp phải đảm bảo luôn có người đại diện theo pháp luật Đối với hình thứcđại diện theo pháp luật, đây là là hình thức đại diện do pháp luật quy định hoặc cơquan nhà nước có thẩm quyền quy định Một số đặc điểm cơ bản về người đại diệntheo pháp luật của doanh nghiệp như sau:

Thứ nhất: Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải là cá nhân và cónăng lực hành vi dân sự đầy đủ Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp thaymặt doanh nghiệp để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp nhằm manglại lợi ích cho doanh nghiệp, do đó họ phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ

Thứ hai: Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải thường trú tại ViệtNam Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là người thay mặt công ty trongviệc tổ chức nội bộ doanh nghiệp và giao dịch với bên ngoài Do đó, người đại diệntheo pháp luật của doanh nghiệp phải thường xuyên có mặt tại doanh nghiệp Để thựchiện tốt nghĩa vụ của mình, pháp luật bắt buộc người đại diện theo pháp luật của doanhnghiệp phải thường trú ở Việt Nam; trường hợp vắng mặt trên ba mươi ngày ở ViệtNam thì phải uỷ quyền bằng văn bản cho người khác theo quy định tại Điều lệ doanhnghiệp để thực hiện các quyền và nhiệm vụ của người đại diện theo pháp luật củadoanh nghiệp

Thứ ba: Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hành động nhân danhdoanh nghiệp Trong quản lý doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật hành độngnhân danh doanh nghiệp - đại diện đương nhiên - và thay mặt các chủ sở hữu doanhnghiệp - đại diện ủy quyền để thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp.Thứ tư: Thù lao đại diện người đại diện theo pháp luật của công ty không hưởngthù lao đại diện

1.1.2.2 Đại diện theo ủy quyền.

Ủy quyền là phương tiện pháp lý cần thiết tạo điều kiện cho cá nhân, pháp nhân

và các chủ thể khác của quan hệ dân sự, bằng nhiều hình thức khác nhau có thể thamgia vào các giao dịch dân sự một cách thuận lợi nhất, bảo đảm thỏa mãn nhanh chóngcác lợi ích vật chất, tinh thần mà chủ thể quan tâm Đối với hình thức đại diện theo ủyquyền thì đây là hình thức đại diện được xác lập giữa người đại diện và người được đạidiện Hình thức đại diện theo ủy quyền, theo quy định của BLDS 2015 “Đại diện làviệc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi íchcủa cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập,thực hiện giao dịch dân sự.” Đại diện theo ủy quyền là trường hợp quan hệ đại diện

Trang 14

được xác lập theo ý chí của hai bên Do vậy, cả người đại diện và người được đại diệnđều phải có năng lực hành vi dân sự Hai bên biểu hiện tự do ý chí thông qua một hợpđồng ủy quyền hoặc một giấy ủy quyền Một số đặc điểm cơ bản về người đại diệntheo ủy quyền của doanh nghiệp như sau:

Thứ nhất: Người đại diện theo ủy quyền của công ty là người được người đạidiện theo pháp luật của doanh nghiệp ủy quyền để thực hiện một hoặc một số quyền vànghĩa vụ nhất định Người đại diện theo ủy quyền của công ty không có quyền đươngnhiên nhân danh công ty để thực hiện quyền và nghĩa vụ mà chỉ được nhân danh công

ty trong phạm vi ủy quyền và có nghĩa vụ nói rõ việc ủy quyền đó trong các giao dịch.Thứ hai: Người đại diện theo ủy quyền của doanh nghiêp không đương nhiênđược ủy quyền lại cho người khác thực hiện quyền và nghĩa vụ đại diện cho doanhnghiệp mà mình đã được ủy quyền, trừ trường hợp được người ủy quyền đồng ý

Thứ ba: Người đại diện theo ủy quyền của doanh nghiệp được hưởng thù lao đạidiện

1.1.3 Vai trò người đại diện trong doanh nghiệp.

Vai trò của người đại diện theo pháp luật

Người đại diện theo pháp luật là một cơ chế pháp lý đặc biệt quan trọng đối với

doanh nghiệp Thông qua người đại diện để xác định được tư cách hợp pháp của ngườithay mặt cho công ty thực hiện các giao dịch kinh tế, dân sự, giải quyết các vấn đềphát sinh Trong quản trị doanh nghiệp người đại diện theo pháp luật có vai trò quantrọng Cụ thể:

Thứ nhất: Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là một trong các điềukiện pháp lý để doanh nghiệp hoạt động bình thường

Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định ngay từ khi thành lập và đăng ký doanhnghiệp thì phải đăng ký chức danh người đại diện theo pháp luật (trừ công ty hợp danhthì tất cả thành viên hợp danh đều là người đại diện theo pháp luật) Trừ những việc dochủ sở hữu công ty hoặc HĐQT, HĐTV quyết định, các quyền và nghĩa vụ còn lại củadoanh nghiệp sẽ do người đại diện theo pháp luật trực tiếp hoặc ủy quyền cho ngườikhác thực hiện

Thứ hai: Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp thay mặt doanh nghiệpduy trì mối quan hệ với các chủ sở hữu doanh nghiệp, Nhà nước, người lao động…Doanh nghiệp trong quá trình hoạt động doanh nghiệp không tồn tại đơn lẻ mà có

sự liên kết và quan hệ mật thiết với các chủ thể khác như: quan hệ với chủ sở hữu(kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp, phân phối lợi nhuận, quyết định phương ánkinh doanh,…); quan hệ với Nhà nước (đăng ký kinh doanh, đóng thuế, nộp phạt…);quan hệ với khách hàng, với các đối tác, với người lao động, Những người được

Trang 15

người đại diện theo pháp luật ủy quyền phải thực hiện nghĩa vụ của mình trong phạm

vi ủy quyền, chịu trách nhiệm trước người đại diện theo pháp luật và trước doanhnghiệp về việc thực hiện các công việc được ủy quyền

Thứ ba: Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp nhân danh doanh nghiệpđể thực hiện các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp

Doanh nghiệp có các quyền và nghĩa vụ trước pháp luật, có quyền tham gia quanhệ pháp luật Tuy nhiên, doanh nghiệp không thể tự mình thực hiện được quyền vànghĩa vụ của mình, do vậy người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có vai tròthay mặt doanh nghiệp, nhân danh doanh nghiệp để thực hiện các quyền và nghĩa vụcủa doanh nghiệp

Thứ tư: Chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hoạt động của doanh nghiệp.Khi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hành động trái với thẩmquyền gây tổn thất cho doanh nghiệp thì người đại diện phải chịu trách nhiệm cá nhântrước doanh nghiệp và trước pháp luật trong phạm vi thẩm quyền được pháp luật, điềulệ doanh nghiệp và bản hợp đồng lao động (nếu có) mà người đại diện theo pháp luậtcủa doanh nghiệp đã ký kết với chủ sở hữu doanh nghiệp quy định Tuy nhiên nếumức độ vi phạm pháp luật của doanh nghiệp đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, thìlúc này người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp và những người liên quan cóthể đối mặt với trách nhiệm hình sự cá nhân

Vai trò của người đại diện theo uỷ quyền.

Uỷ quyền tạo điều kiện cho cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác của quan hệdân sự, bằng nhiều hình thức khác nhau có thể tham gia các giao dịch dân sự một cáchthuận lợi nhất Trong doanh nghiệp, không người chủ doanh nghiệp nào có thể tự mìnhlàm hết mọi việc Mà phải uỷ thác một số việc cho người đại diện Điều này không chỉđúng với tập đoàn lớn, mà còn cho bất kỳ doanh nghiệp nào có nhân viên Trong cáctập đoàn, các cổ đông không thể tự nhân danh mình mà hành động, mà họ uỷ quyềncho HĐQT, theo đó lần lượt HĐQT uỷ quyền cho Ban giám đốc Trong hoạt động củacác doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có quy mô lớn, tổ chức phức tạp, thôngthường tại cùng một thời điểm, doanh nghiệp đó vẫn có thể thực hiện cùng lúc nhiềugiao dịch với nhiều chủ thể Để thực hiện được điều này thì người đại diện theo phápluật thường ủy quyền cho “các chức danh quản lý khác” như Phó GĐ/ Phó TGĐ, cácTrưởng phòng, Giám đốc chi nhánh, Trưởng văn phòng đại diện trực thuộc doanhnghiệp của mình để tổ chức, thực hiện những hoạt động sản xuất kinh doanh Ngườiđại diện theo uỷ quyền sẽ giúp giảm bớt gánh nặng giúp san sẻ công việc cho chủdoanh nghiệp

Trang 16

Trong phạm vi uỷ quyền, người đại diện theo ủy quyền còn có thẩm quyền nhândanh doanh nghiệp xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự Các ủy quyền này có thểmang tính chất thường xuyên, liên tục hoặc trong từng công việc cụ thể.

Dưới góc độ của pháp luật doanh nghiệp Việt Nam, thì vai trò của người đại diệntheo uỷ quyền mới chỉ giới hạn trong việc nhân danh thành viên công ty TNHH, cổđông là tổ chức của CTCP thực hiện quyền của thành viên, cổ đông trong công ty Mà

cụ thể là nhân danh thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên thực hiện cácquyền và nghĩa vụ của thành viên HĐTV và nhân danh cổ đông CTCP tham dự cuộchọp ĐHĐCĐ

1.2 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh người đại diện trong doanh nghiệp.

1.2.1 Cơ sở ban hành pháp luật.

- Về chính trị: Sau khi giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến, nền chính trị củanước ta đã ổn định hơn, nước ta luôn chủ động để hòa nhập chung vào nền kinh tế thếgiới hiện đại Cùng với đó nền kinh tế của Việt Nam đang trên con đường phát triển vàhội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới Để đáp ứng yêu cầu điều chỉnh và quản lýkinh tế, hệ thống pháp luật về doanh nghiệp đã không ngừng hoàn thiện, tạo khuônkhổ pháp lý để các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia thành lập các loại hìnhdoanh nghiệp Việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp phải thông quahành vi cụ thể của con người-người đại diện Bởi doanh nghiệp là một thực thể pháp lýđộc lập, nhưng bản thân nó không thể hành động Người đại diện của doanh nghiệp làngười được chủ sở hữu của doanh nghiệp cử ra thay mặt doanh nghiệp để tiếp xúc,giao dịch với bên ngoài vì lợi ích của doanh nghiệp Kể từ khi thống nhất đất nước đếnnay do sự phát triển mạnh mẽ, mở rộng của các doanh nghiệp đòi hỏi nhà nước phảiban hành các văn bản pháp luật nhằm điều chỉnh người đại diện trong doanh nghiệp

- Kinh tế: Nền kinh tế thị trường có ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại và phát triểncủa từng quốc gia, từng dân tộc Thực tiễn những năm đổi mới chỉ ra rằng, việcchuyển sang mô hình kinh tế thị trường của Đảng và Nhà nước ta là hoàn toàn đúngđắn, bước đầu khai thác được tiềm năng trong nước, đi đôi với thu hút vốn và kỹ thuậtnước ngoài, mở rộng quan hệ với nhiều quốc gia trên thế giới, tạo điều kiện thuận lợigiúp các doanh nghiệp phát triển mở rộng Sự phát triển hưng thịnh của một quốc giaphụ thuộc vào các doanh nghiệp trong nước Để kiểm soát nền kinh tế nhà nước phải

sử dụng hệ thống pháp luật làm công cụ điều tiết đồng thời phải luôn thay đổi, hoànthiện sao cho phù hợp với các quy định chung Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thốngpháp luật là một quá trình lâu dài vì thị trường luôn luôn biến động nên hệ thống phápluật cũng phải có sự thay đổi theo để kịp thời điều chỉnh cho phù hợp Do vậy nên kể

Trang 17

từ khi có những quy định pháp luật đầu tiên điều chỉnh “Pháp luật về người đại diệntrong doanh nghiệp” được thông qua lần 1 là sự ra đời của Luật doanh nghiệp 1999thông qua ngày 12/06/1999 Lần 2 là Luật doanh nghiệp 2005 được quốc hội thôngqua ngày 29/11/2005 và gần đây nhất là sự ra đời của Luật doanh nghiệp 2014 đượcQuốc hội thông qua ngày 26/11/2014 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2015 Bêncạnh đó còn có sự điều chỉnh của Bộ luật Dân sự đầu tiên là Bộ luật Dân sự đượcQuốc hội thông qua ngày 28/10/1995 và hiện nay đang được áp dụng thi hành là Bộluật Dân sự 2015 được Quốc hội thông qua ngày 24/11/2015 có hiệu lực từ ngày01/01/2017.

- Xã hội: Kinh tế của Việt Nam hiện nay đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tếthế giới Để đáp ứng yêu cầu điều chỉnh và quản lý kinh tế, hệ thống pháp luật vềdoanh nghiệp đã không ngừng hoàn thiện, tạo khuôn khổ pháp lý để các nhà đầu tưtrong và ngoài nước tham gia thành lập các loại hình doanh nghiệp Việc ban hành cácquy định về người đại diện của doanh nghiệp sẽ bảo đảm quyền, lợi ích của doanhnghiệp, đối tác, duy trì và phát triển quan hệ tốt đẹp giữa cá nhân, tổ chức trong xãhội

1.2.2 Nội dung pháp luật về người đại diện trong doanh nghiệp.

1.2.2.1 Pháp luật về người đại diện theo pháp luật trong doanh nghiệp.

1.2.2.1.1 Điều kiện, tiêu chuẩn và số lượng người đại diện theo pháp luật trong Doanh nghiệp.

Số lượng người đại diện theo pháp luật trong doanh nghiệp:

**Đối với Công ty TNHH, Công ty Cổ phần: Theo khoản 2 Điều 13 Luật doanh

nghiệp 2014 có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật Số lượng cụ thể,chức danh quản lý, quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật được quy định

cụ thể tại Điều lệ doanh nghiệp

**Đối với công ty hợp danh: Pháp luật không quy định rõ có bao nhiêu người đại

diện theo pháp luật của công ty hợp danh cụ thể là bao nhiêu người Tuy nhiên cácthành viên hợp danh có quyền đại diện theo pháp luật cho công ty hợp danh và tổ chứchoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty Các thành viên hợp danh có quyền đạidiện theo pháp luật của công ty hợp danh phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ theo Điều

14 Luật doanh nghiệp 2014

**Đối với doanh nghiệp tư nhân: chỉ có một người đại diện theo pháp luật vì chỉ

có chủ doanh nghiệp tư nhận là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

Tiêu chuẩn điều kiện của người đại diện theo pháp luật:

+ Thứ nhất, có đủ năng lực hành vi dân sự và không thuộc các đối tượng bị cấmthành lập và quản lý doanh nghiệp quy định tại khoản 2 Điều 18 Luật doanh nghiệp

Trang 18

2014 Ngoài ra, các đối tượng thuộc diện cấm thành lập, quản lý doanh nghiệp cònđược ghi nhận trong các đạo luật khác như Điều 19; Điều 20 của Luật Cán bộ côngchức quy định những việc cán bộ công chức không được làm, Điều 19 Luật Viên chức;Điều 37 của Luật phòng chống tham nhũng quy định những việc cán bộ, công chức,viên chức không được làm; Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí

+ Thứ hai, doanh nghiệp phải bảo đảm luôn có ít nhất một người đại diện theopháp luật cư trú tại Việt Nam Trường hợp doanh nghiệp chỉ có một người đại diệntheo pháp luật thì người đó phải cư trú ở Việt Nam và phải ủy quyền bằng văn bản chongười khác thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật khi xuấtcảnh khỏi Việt Nam Trường hợp này, người đại diện theo pháp luật vẫn phải chịutrách nhiệm về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ đã ủy quyền

+ Thứ ba, yêu cầu về trình độ chuyên môn hoặc chứng chỉ hành nghề

Các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành đã có những điều chỉnh cụ thể vềtiêu chuẩn làm thành viên HĐTV, HĐQT, Giám đốc, Tổng giám đốc phải có một trình

độ chuyên môn, nghiệp vụ nhất định hay phải có chứng chỉ, bằng cấp

1.2.2.1.2 Quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật trong doanh nghiệp.

Có thể thấy được Chủ tịch HĐTV, Chủ tịch công ty, thành viên HĐQT,GĐ/TGĐ… thường giữ vai trò là người đại diện của doanh nghiệp Ở những cương vịnhất định, có thẩm quyền nhân danh doanh nghiệp xác lập thực hiện mọi giao dịch.Không phải lúc nào giữa người quản lý và các cổ đông, thành viên công ty đã đã cùngchung lợi ích và mục đích, những người quản lý đều có khả năng thực hiện các giaodịch tư lợi, tìm kiếm các lợi ích cá nhân Do đó, những quy định rõ ràng và chặt chẽvề trách nhiệm và nghĩa vụ của người quản lý có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ

cổ đông, nó là biện pháp quan trọng để xử lý mối quan hệ đại diện giữa cổ đông vàngười quản lý công ty

Được quy định tại khoản 2 điều 14 Luật doanh nghiệp 2014 Người đại diện theopháp luật của doanh nghiệp có trách nhiệm sau đây:

- Thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốtnhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp

- Trung thành với lợi ích của doanh nghiệp; không sử dụng thông tin, bí quyết, cơhội kinh doanh của doanh nghiệp, không lạm dụng địa vị, chức vụ và sử dụng tài sảncủa doanh nghiệp để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác

- Thông báo kịp thời, đầy đủ, chính xác cho doanh nghiệp về việc người đại diện

đó và người có liên quan của họ làm chủ hoặc có cổ phần, phần vốn góp chi phối tạicác doanh nghiệp khác

Trang 19

- Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chịu trách nhiệm cá nhân đốivới những thiệt hại cho doanh nghiệp do vi phạm nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều

14 Luật doanh nghiệp 2014

1.2.2.1.3 Thủ tục đăng ký và thay người đại diện theo pháp luật.

Người đại diện theo pháp luật của công ty có thể là thành viên, cổ đông góp vốntrong công ty hoặc là người được doanh nghiệp đi thuê theo hợp đồng lao động Trongquá trình hoạt động kinh doanh, khi doanh nghiệp có nhu cầu thay đổi người đại diệntheo pháp luật Doanh nghiệp cần thực hiện theo trình tự, thủ tục như sau:

Hồ sơ thay đổi người đại diện theo pháp luật:

Chứng minh thư nhân dân hoặc hộ chiếu hoặc thẻ căn cước công dân của ngườiđại diện theo pháp luật mới (lưu ý thời hạn của các giấy tờ này); Bản gốc giấy chứngnhận đăng ký kinh doanh (nộp khi được cấp bản mới giấy chứng nhận đăng ký doanhnghiệp) Thông báo thay đổi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp; Biên bảnvề việc thay đổi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp; Quyết định về việcthay đổi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp;Thông báo thay đổi thông tinđăng ký thuế; Giấy giới thiệu hoặc ủy quyền cho công ty luật thực hiện thủ tục tại cơquan nhà nước có thẩm quyền

Số lượng hồ sơ: 02 bộ: 01 bộ nộp cơ quan đăng ký kinh doanh và 01 bộ lưu tại

công ty

Thời gian thực hiện thủ tục: 03-05 ngày làm việc.

Một số lưu ý khi thay đổi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp: Khi

thay đổi người đại diện theo pháp luật doanh nghiệp cần lưu ý việc đăng ký thông tinchủ tài khoản tại ngân hàng; Thông báo với bạn hàng, đối tác, cơ quan bảo hiểm, các

cơ quan liên quan khác; Đối với công ty có giấy phép sau thành lập như giấy phépkinh doanh lữ hành, giấy phép kinh doanh dịch vụ vận tải, giấy phép vệ sinh an toànthực phẩm, phòng cháy chữa cháy, an ninh trật tự phải thực hiện thủ tục thay đổi cácgiấy phép này vì trên giấy phép có thông tin về người đại diện theo pháp luật cũ (đókhi thực hiện thay đổi người đại diện theo pháp luật doanh nghiệp cần lưu ý thực hiệnthủ tục liên quan nếu doanh nghiệp còn có các giấy phép con)

1.2.2.1 4 Chấm dứt đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

** Trường hợp doanh nghiệp chấm dứt hoạt động

Doanh nghiệp là một pháp nhân kinh tế, theo quy định của Luật doanh nghiệpnăm 2014 và Luật Phá sản năm 2014, doanh nghiệp có thể chấm dứt hoạt động do các

sự kiện như: bị giải thể; bị tòa án tuyên bố phá sản; sáp nhập, hợp nhất vào doanhnghiệp khác hoặc chia doanh nghiệp

** Trường hợp doanh nghiệp không chấm dứt hoạt động

Trang 20

- Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp được bổ nhiệm theo nhiệm kỳ

và đã hết nhiệm kỳ hoặc ký hợp đồng lao động mà hết thời hạn hợp đồng nhưng khônggia hạn hoặc chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn theo quy định của Bộ luậtLao động

- Khi Điều lệ doanh nghiệp quy định người đại diện theo pháp luật của doanhnghiệp là Tổng giám đốc, Giám đốc hoặc Chủ tịch và người này đã xin từ chức Tổnggiám đốc, giám đốc hoặc Chủ tịch, hoặc bị Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị,chủ sở hữu doanh nghiệp hoặc Đại hội đồng cổ đông miễn nhiệm chức Tổng giám đốc,giám đốc hoặc Chủ tịch

- Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp vắng mặt tại Việt Nam quá 30ngày mà không ủy quyền cho người khác thực hiện các quyền và nhiệm vụ của ngườiđại diện theo pháp luật của doanh nghiệp thì Hội đồng thành viên, chủ sở hữu doanhnghiệp, Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên doanh nghiệp hợp danh cử người kháclàm đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

- Đối với công ty TNHH có hai thành viên, nếu có thành viên là cá nhân làmngười đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp bị tạm giữ, tạm giam, trốn khỏi nơi cưtrú, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị Tòa án tước quyền hànhnghề

- Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp vi phạm điều cấm tại khoản 2,điều 18 Luật doanh nghiệp năm 2014

1.2.2.2 Pháp luật về người đại diện theo ủy quyền trong doanh nghiệp

1.2.2.2.1 Điều kiện, tiêu chuẩn và số lượng người đại diện trong doanh nghiệp

Đối với quy định cũ – Bộ luật Dân sự 2005: Chủ thể của hợp đồng ủy quyền là cánhân

Trong thực tế có rất nhiều giao dịch có thể làm phát sinh quan hệ ủy quyền giữacác pháp nhân, từ đó đặt ra nhu cầu chính đáng về hành lang pháp lý cho mối quan hệđại diện này Bộ luật Dân sự 2015 mới đã chính thức cho phép một pháp nhân có thểủy quyền cho một pháp nhân khác xác lập và/hoặc thực hiện giao dịch cho mình Thựcvậy, khoản 1 Điều 134 Bộ luật Dân sự 2015 quy định đại diện là việc cá nhân, phápnhân (người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (ngườiđược đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự

Điều kiện, tiêu chuẩn người đại diện theo ủy quyền trong doanh nghiệp

Đối với cá nhân

“Năng lực hành vi dân sự đầy đủ”theo định nghĩa tại điều 19 Bộ luật Dân sự

2015 là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa

vụ dân sự Nội dung của năng lực hành vi dân sự không chỉ bao gồm năng lực thực

Trang 21

hiện các giao dịch dân sự hoặc các hành vi pháp lý mà còn cả bao gồm năng lực chịutrách nhiệm do thực hiện hành vi trái pháp luật như bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng, thực hiện công việc không có uỷ quyền.

Đối với pháp nhân

Pháp nhân là tổ chức có đủ các điều kiện được qui định tại Điều 74 BLDS 2015.Các pháp nhân là chủ thể đầy đủ của quan hệ pháp luật dân sự, có năng lực chủ thểmang tính chuyên biệt, được tham gia xác lập, thực hiện các giao dịch phù hợp vớimục đích và phạm vi hoạt động của pháp nhân Mục đích và phạm vi hoạt động củapháp nhân được thể hiện trong điều lệ, hoặc quyết định thành lập pháp nhân (Điều 77BLDS 2015)

- Các tiêu chuẩn và điều kiện khác do Điều lệ công ty quy định

1.2.2.2.2 Quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo ủy quyền trong doanh nghiệp

Trong quản trị doanh nghiệp nếu một mình người đại diện theo pháp luật làm tất

cả những quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp thì người đó khó có khả năng hoànthành nhiệm vụ được giao Do đó pháp luật đặt ra cơ chế ủy quyền Người đại diệntheo pháp luật có thể ủy quyền thường xuyên cho cấp dưới Người đại diện theo phápluật cũng có thể ủy quyền cho người khác theo vụ việc trong một thời hạn nhất định.Nhưng dù có ủy quyền thì trước pháp luật, trước doanh nghiệp và chủ sở hữu doanhnghiệp, người đại diện theo pháp luật vẫn phải chịu trách nhiệm cá nhân về nghĩa vụđại diện theo pháp luật

Theo đó, người được ủy quyền là người đại diện cho người ủy quyền theo thỏa

thuận giữa các bên Do vậy, ngoài các điểm đặc thù của chế định đại diện thì ngườiđược ủy quyền còn chịu sự ràng buộc theo các quy định của pháp luật về hợp đồng ủyquyền, và theo quy định điều lệ của công ty

Nghĩa vụ của người đại diện theo ủy quyền

- Người được ủy quyền nhân danh và vì lợi ích của người ủy quyền khi thựchiện việc đại diện:

Mặc dù người đại diện có thể có những quyền năng rất lớn (theo thỏa thuận hoặcpháp luật cho phép) nhưng tất cả mọi công việc, hoạt động, hành vi của người đại diệnluôn phải được thực hiện vì lợi ích của người được đại diện Người đại diện hoạt độngkhông nhân danh chính bản thân mình và không được vì lợi ích của mình

- Thực hiện công việc theo ủy quyền và báo cho bên ủy quyền về việc thực hiện công việc đó

- Báo cho người thứ ba trong quan hệ thực hiện ủy quyền về thời hạn, phạm vi ủy quyền và việc sửa đổi, bổ sung phạm vi ủy quyền

Trang 22

- Bảo quản, giữ gìn tài liệu và phương tiện được giao để thực hiện việc ủy quyền.

- Giữ bí mật thông tin mà mình biết được trong khi thực hiện việc ủy quyền

- Giao lại cho bên ủy quyền tài sản đã nhận và những lợi ích thu được trong khi thực hiện việc ủy quyền theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật

- Bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều này

Quyền của người đại diện theo ủy quyền:

- Yêu cầu bên ủy quyền cung cấp thông tin, tài liệu và phương tiện cần thiết để thực hiện công việc ủy quyền

- Được thanh toán chi phí hợp lý mà mình đã bỏ ra để thực hiện công việc ủy quyền; hưởng thù lao, nếu có thỏa thuận

1.2.2.2.3 Chấm dứt đại diện theo ủy quyền của doanh nghiệp.

** Chấm dứt đại diện theo ủy quyền do thỏa thuận.

Việc chấm dứt đại diện theo ủy quyền có thể xảy ra khi các bên thỏa thuận vớinhau chấm dứt đại diện, khi công việc được ủy quyền thực hiện chưa được thực hiện

** Chấm dứt đại diện theo ủy quyền do thời hạn ủy quyền đã hết.

Khi thỏa thuận về việc đại diện theo ủy quyền, có nhiều trường hợp các bên phảithỏa thuận về thời hạn ủy quyền Khi thời hạn thỏa thuận kết thúc, quan hệ đại diệntheo ủy quyền cũng chấm dứt

** Chấm dứt đại diện theo ủy quyền do công việc được ủy quyền đã hoàn thành.

Một trong những căn cứ chấm dứt đại diện theo ủy quyền là do công việc đượcủy quyền đã hoàn thành Căn cứ xác định công việc đã hoàn thành và thời gian hoànthành phụ thuộc vào đặc điểm của từng loại công việc

** Chấm dứt đại diện theo ủy quyền do người được đại diện hoặc người đại diện

đơn phương chấm dứt việc thực hiện ủy quyền

1.2.2.3 Trách nhiệm của doanh nghiệp đối với các giao dịch do người đại diện xác lập, thực hiện.

Trách nhiệm của doanh nghiệp đối với các giao dịch do người đại diện xác lập,thực hiện luôn là vấn đề cơ bản của chế định đại diện, có ý nghĩa trong việc bảo đảm

an toàn về mặt pháp lý mà quan hệ đại diện chứa đựng nhiều khả năng phá vỡ

Thực tế, trách nhiệm của doanh nghiệp đối với các giao dịch do người đại diệnxác lập, thực hiện thường phát sinh trong hai trường hợp:

** Trường hợp thứ nhất, người đại diện xác lập, thực hiện giao dịch trong phạm

vi thẩm quyền đại diện:

Theo quy định, doanh nghiệp phải chịu sự ràng buộc về mặt pháp lý đối với hành

vi của người đại diện trong phạm vi đại diện Khi người đại diện nhân danh doanh

Trang 23

nghiệp giao dịch với một bên thứ ba, giao dịch dân sự đó không phải được xác lậpgiữa người đại diện với bên thứ ba mà là giữa doanh nghiệp với bên thứ ba.

** Trường hợp thứ hai, khi người đại diện của doanh nghiệp xác lập, thực hiện

giao dịch vượt quá thẩm quyền hoặc không có thẩm quyền đại diện, hậu quả pháp lýcủa tình huống đó được pháp luật xử lý như sau:

Trường hợp vượt quá phạm vi đại diện

Trường hợp giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm

vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với phầngiao dịch được xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện thì người đại diện phảithực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao dịch với mình về phần giao dịch vượt quáphạm vi đại diện, trừ trường hợp người đã giao dịch biết hoặc phải biết về việc vượtquá phạm vi đại diện mà vẫn giao dịch

Người đã giao dịch với người đại diện có quyền đơn phương chấm dứt thực hiệnhoặc hủy bỏ giao dịch dân sự đối với phần vượt quá phạm vi đại diện hoặc toàn bộgiao dịch dân sự và yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp người đó biết hoặcphải biết về việc vượt quá phạm vi đại diện mà vẫn giao dịch hoặc trường hợp quyđịnh tại điểm a khoản 1 Điều này

Trường hợp người đại diện và người giao dịch với người đại diện cố ý xác lập,thực hiện giao dịch dân sự vượt quá phạm vi đại diện mà gây thiệt hại cho người đượcđại diện thì phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại

Trường hợp do người không có thẩm quyền đại diện

Trường hợp giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thựchiện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện thì người không

có quyền đại diện vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao dịch với mình, trừtrường hợp người đã giao dịch biết hoặc phải biết về việc không có quyền đại diện màvẫn giao dịch

Người đã giao dịch với người không có quyền đại diện có quyền đơn phươngchấm dứt thực hiện hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự đã xác lập và yêu cầu bồi thườngthiệt hại, trừ trường hợp người đó biết hoặc phải biết về việc không có quyền đại diện

mà vẫn giao dịch hoặc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này

Trường hợp người không có quyền đại diện và người đã giao dịch cố ý xác lập,thực hiện giao dịch dân sự mà gây thiệt hại cho người được đại diện thì phải chịu tráchnhiệm liên đới bồi thường thiệt hại

Trang 24

1.3 Những nguyên tắc của pháp luật điều chỉnh vấn đề pháp luật về người đại diện trong doanh nghiệp.

Những nguyên tắc của pháp luật điều chỉnh vấn đề pháp luật về người đại diệntrong doanh nghiệp nhằm đảm bảo lợi ích cho doanh nghiệp cũng từ đó doanh nghiệp

có thể thực hiện đúng yêu cầu của nhà nước và không vi phạm những điều mà phápluật không cho phép

Thứ nhất, pháp luật về đại diện phải xây dựng rõ ràng minh bạch cụ thể và linhhoạt tư cách pháp lý của người đại diện Công khai, minh bạch thông tin, đây đượcxem là nguyên tắc quan trọng trong pháp luật về người đại diện, các đối tác kháchhàng của công ty sẽ gặp khó khăn trong việc xác định người đại diện theo pháp luậtcủa công ty Người làm việc, ký kết hợp đồng với mình có phải là người đại diện theopháp luật không Việc ký kết không đúng thẩm quyền sẽ dẫn đến hợp đồng vô hiệu và

có thể xảy ra các tranh chấp gây ảnh hưởng không chỉ cho chính khách hàng và công

ty mà còn ảnh hưởng đến sự ổn định của môi trường kinh doanh Do đó việc công khaiminh bạch, rõ ràng trên website riêng của doanh nghiệp hoặc các hình thức khác nhằmgiúp bên thứ ba tiếp nhận thông tin, không chỉ đảm bảo lợi ích cho khách hàng mà còngiúp doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc thực thi pháp luật

Thứ hai, quy định về người đại diện phải đảm bảo thực hiện đúng quyền hiếnđịnh và quyền tự quyết quyền tự do kinh doanh Theo đó người đại diện có quyền tựquyết tự do trong lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh của mình, tuy nhiên sự tự do của

người đại diện trong doanh nghiệp phải nằm trong khôn khổ nhất định, nó “không được trái pháp luật, đạo đức xã hội”, không được trái với điều cấm của pháp luật và

những chuẩn mực đã được xã hội thừa nhận rộng rãi

Trang 25

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU CHỈNH NGƯỜI

ĐẠI DIỆN TRONG DOANH NGHIỆP 2.1 Thực trạng pháp luật về người đại diện theo pháp luật trong doanh nghiệp.

2.1.1 Điều kiện, tiêu chuẩn và số lượng người đại diện theo pháp luật trong doanh nghiệp.

- Về số lượng người đại diện theo pháp luật trong doanh nghiệp

Quy định này nhằm hướng tới việc tạo điều kiện tối đa cho doanh nghiệp, chophép doanh nghiệp toàn quyền quyết định số lượng người đại diện theo pháp luật chomình trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanhnghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi,nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền và nghĩa vụ khác theo quyđịnh của pháp luật

Có thể nói, đây là một trong những nội dung thay đổi cơ bản so với Luật doanhnghiệp năm 2005 (công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần chỉ có duy nhấtmột người đại diện theo pháp luật) Đứng dưới khía cạnh đảm bảo quyền tự do kinhdoanh, đây là một quy định mang tính đột phá trong việc cho doanh nghiệp toàn quyềnquyết định số lượng người đại diện theo pháp luật, tạo điều kiện cho doanh nghiệp cóthể hội nhập nhanh hơn, tận dụng được mọi cơ hội kinh doanh thông qua các đại diệntheo pháp luật Đồng thời, quy định này sẽ góp phần tháo gỡ vướng mắc cho doanhnghiệp trong trường hợp người đại diện duy nhất của doanh nghiệp bất hợp tác, khôngthực hiện các yêu cầu của thành viên/cổ đông trong quá trình quản lý điều hành doanhnghiệp trong nội bộ cũng như giao dịch với bên ngoài công ty Bằng cách có nhiều hơnmột người đại diện, sự lạm quyền, bất hợp tác như đã nói trên sẽ bị vô hiệu hóa

Đồng thời, với việc Luật doanh nghiệp 2014 cho phép công ty TNHH, CTCP cóthể có nhiều người đại diện theo pháp luật, để giúp cho doanh nghiệp hội nhập nhanhhơn, tận dụng được mọi cơ hội kinh doanh, Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày14/9/2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp đã quy định trường hợp doanhnghiệp có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật, chữ ký của những người đạidiện theo pháp luật trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp có giá trị pháp lý như nhau Quyđịnh này sẽ nâng cao sự chủ động, tiết kiệm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp khithực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp quy mô lớn vớinhiều người đại diện theo pháp luật

Quy định mới này góp phần đảm bảo quyền tự do kinh doanh cho doanh nghiệp,theo đó điều lệ công ty sẽ quy định cụ thể về số lượng, chức danh quản lý, quyền vànghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

- Về tiêu chuẩn điều kiện của người đại diện theo pháp luật trong doanh nghiệp

Ngày đăng: 21/04/2020, 12:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Nguyễn Thị Thanh, Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, Trang thông tin điện tử của Tạp chí Dân chủ và pháp luật, truy cập ngày 13 tháng 03 năm 2018http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/phap-luat-kinh-te.aspx?ItemID=1475. Nguyễn Văn Lộc, Những điều cần biết về thành viên HĐQT độc lập, Tạp chí Doanh nhân Sài Gòn online, truy cập ngày 14 tháng 03 năm 2018 Link
6. Nguyễn Lâm, Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, Trang sở kếhoạch và đầu tư thành phố Hồ Chia Minh, truy cập ngày 15 tháng 03 năm 2018 http://www.dpi.hochiminhcity.gov.vn/TinTuc/tintuc/Lists/Posts/Post.aspx?List=43cc31f0-7871-4326-83d2-11fceebc16ea&ID=196&Web=914d7bf3-7db3-45a9-8171-246d27cf1f24 Link
7. Hoàng Thanh Tuấn, Một số lưu ý về người đại diện theo pháp luật theo quy định Luật doanh nghiệp 2014, truy cập ngày 20 tháng 03 năm 2018https://dangkykinhdoanh.gov.vn/NewsandUpdates/tabid/91/ArticleID/2997/M Link
8. Đậu Quốc Dũng, Một số vấn đề trong đại diện theo ủy quyền của cổ đông, thành viên góp vốn, chủ sở hữu trong doanh nghiệp, truy cập ngày 20 tháng 03 năm 2018http://vietthink.vn/117/print-article.html Link
9. Mai Chuyên, Quy định về người đại diện theo ủy quyền của doanh nghiệp, truy cập ngày 20 tháng 03 năm 2018https://viettinlaw.com/quy-dinh-ve-nguoi-dai-dien-theo-uy-quyen-cua-doanh-nghiep.html Link
10. Luật Dương Gia, Người đại diện theo ủy quyền của công ty TNHH 2 thành viên trở lên, truy cập ngày 30 tháng 03 năm 2018https://luatduonggia.vn/nguoi-dai-dien-theo-uy-quyen-cua-cong-ty-tnhh-2-thanh-vien-tro-len/ Link
11. Luật Toàn Giang, Quy định mới nhất về người đại diện theo ủy quyền của chủ sở hữu, thành viên, cổ đông là tổ chức, truy cập ngày 30 tháng 03 năm 2018http://www.thanhlapdoanhnghiep.net.vn/quy-dinh-moi-nhat-ve-nguoi-dai-dien-theo-uy-quyen-cua-chu-so-huu-thanh-vien-co-dong-la-to-chuc.htm Link
12. Nguyễn Thanh, Ủy quyền và những điều cần lưu ý, truy cập ngày 31 tháng 03 năm 2018http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1576 Link
1. Đại học Luật Hà Nội (2014), Giáo trình luật Dân sự tập II, nhà xuất bản Công an Nhân dân, Hà Nội Khác
2. Phan Thị Mai (2011), Điều lệ pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
3. Nguyễn Thị Thu Vân (1998), Một số vấn đề về công ty và hoàn thiện pháp luật về công ty ở Việt Nam hiện nay, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w