1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tác động bất đối xứng của thay đổi tỷ giá lên cán cân thương mại song phương của việt nam

64 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu Kết hợp với các lập luận vừa nêu, nghiên cứu này tiến hành phân tích mối quan hệ giữa thay đổi tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại, nhằm kiểm chứng sự hiện diện của

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

-NGUYỄN QUÝ KIỆT

TÁC ĐỘNG BẤT ĐỐI XỨNG CỦA THAY ĐỔI TỶ GIÁ LÊN CÁN CÂN THƯƠNG MẠI SONG PHƯƠNG

CỦA VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

-NGUYỄN QUÝ KIỆT

TÁC ĐỘNG BẤT ĐỐI XỨNG CỦA THAY ĐỔI TỶ GIÁ LÊN CÁN CÂN THƯƠNG MẠI SONG PHƯƠNG

CỦA VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã ngành: 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS NGUYỄN THỊ LIÊN HOA

TP Hồ Chí Minh – Năm 2020

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận văn “Tác động bất đối xứng của thay đổi tỷ giá lên cán cân thương mại song phương của Việt Nam” do PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa hướng dẫn là quá trình nghiên cứu của tôi Các dữ liệu, kết quả trong luận văn là rõ ràng và minh bạch

Tp Hồ Chí Minh, ngày 24 tháng 02 năm 2020

Tác giả

Nguyễn Quý Kiệt

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

TÓM TẮT

PHẦN 1: GIỚI THIỆU 5

1.1 Giới thiệu chủ đề nghiên cứu 5

1.2 Động cơ nghiên cứu 6

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 8

1.4 Câu hỏi nghiên cứu 8

1.5 Phương pháp nghiên cứu 8

1.4 Kết cấu nghiên cứu 9

PHẦN 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM 10

2.1 Lý thuyết nền tảng của hiệu ứng tỷ giá lên cán cân thương mại 10

2.1.1 Tác động dài hạn, điều kiện Marshall-Lerner 10

2.1.2 Tác động ngắn hạn, hiệu ứng đường cong J 13

2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về kiểm chứng hiệu ứng đường cong J 15

2.2.1 Các nghiên cứu về mối quan hệ tuyến tính giữa cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái 15

2.2.2 Các nghiên cứu về mối quan hệ phi tuyến giữa cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái 23

2.2.3 Kết luận 27

PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

3.1 Xây dựng mô hình cân bằng thương mại 28

3.2 Xác định biến và kỳ vọng dấu 30

3.2.1 Cán cân thương mại song phương 31

3.2.2 Tỷ giá hối đoái thực song phương 31

3.2.3 Thu nhập thực trong nước 32

3.2.4 Thu nhập thực nước ngoài 32

3.2.5 Mô tả và nguồn dữ liệu 33

3.3 Áp dụng phương pháp ARDL 37

Trang 5

4.1 Kiểm định tính dừng 42

4.2 Kết quả từ mô hình ARDL 44

4.3 Kết quả từ mô hình NARDL 49

PHẦN 5: KẾT LUẬN 55 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

(cụ thể là Malaysia, Philippines, Indonesia, Singapore, Thái Lan, Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc), sử dụng dữ liệu hàng quý trong giai đoạn 2000Q1–2018Q1 Trong khi các nghiên cứu trước đây giả định mối quan hệ tuyến tính giữa

tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại, nghiên cứu này đề cập hiệu ứng phi tuyến Dựa theo nghiên cứu của Bahmani-Oskooee và Fariditavana (2015), phương pháp thực nghiệm được sử dụng là mô hình tự hồi quy phân phối trễ đồng liên kết phi tuyến (NARDL) của Shin và cộng sự (2014), trong đó các hiệu ứng phi tuyến ngắn hạn và dài hạn được trình bày thông qua phân tách tổng từng phần dương (định giá thấp) và âm (định giá cao) của tỷ giá hối đoái thực Một số nghiên cứu cho rằng việc thiếu ủng hộ cho hiện tượng đường cong J có thể là do giả định tuyến tính Vấn

đề này được kiểm chứng bằng cách sử dụng các mô hình tuyến tính lẫn phi tuyến

Sử dụng mô hình ARDL tuyến tính, tác giả không thể tìm thấy sự hỗ trợ cho hiện tượng đường cong J Tuy nhiên, khi sử dụng mô hình NARDL, mẫu hình đường cong J được xác nhận duy nhất trong mối quan hệ song phương giữa Việt Nam và Hàn Quốc

Từ khóa: Đường cong J song phương, NARDL, đồng liên kết bất đối xứng

ABSTRACT

This article examines the J-curve phenomenon for Vietnam and its 9 partners (namely, Malaysia, Philippines, Indonesia, Singapore, Thailand, US, China, Japan and Korea) using quarterly data for the period 2000Q1–2018Q1 While previous studies assume a linear relationship between the exchange rate and the trade balance, this paper allows for nonlinearity Following Bahmani-Oskooee and Fariditavana (2015), the empirical method used is the nonlinear cointegrating autoregressive distributed lag (NARDL) model of Shin et al (2014) in which short-run and long-run nonlinearities are introduced via positive (depreciation) and

Trang 7

due to the linearity assumption This issue is examined by utilizing the linear and the non-linear models Using the linear ARDL model, we are unable to find support for the J-curve phenomenon in any case However, employing the nonlinear ARDL model, the J-curve pattern has confirmed in the bilateral relationship between Vietnam and Korea

Keywords: Bilateral J-curve, NARDL, asymmetry cointegration

Trang 8

PHẦN 1: GIỚI THIỆU

1.1 Giới thiệu chủ đề nghiên cứu

Sau hiệp định Smithsonian, đồng đô la Mỹ đã bị mất giá 15% vào năm 1971 Tuy nhiên, trong hai năm tiếp theo, cán cân thương mại của Mỹ lại không chứng kiến

sự cải thiện rõ rệt nào Trước tình hình trên, Magee (1973) chỉ ra rằng cán cân thương mại của một quốc gia trên thực tế có thể xấu đi sau khi phá giá tiền tệ, do cấu trúc trễ (lag structure) trong mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại, trước khi

có bất kỳ dấu hiệu cải thiện nào Điều này dẫn đến giả thuyết “đường cong J” Tài liệu

về đường cong J đã phát triển theo cấp số nhân trong những năm qua với các phương pháp khác nhau được đề xuất nhằm kiểm tra sự hiện diện của nó trong dữ liệu Lấy ví

dụ, Bahmani-Oskooee (1985, 1989) đưa ra các cấu trúc trễ của tỷ giá hối đoái trong

mô hình rút gọn với cán cân thương mại là biến phụ thuộc, và giải thích bằng chứng của đường cong J bằng sự hiện diện của ước tính âm (negative estimate) của tỷ giá hối đoái ở độ trễ thấp hơn, theo sau là ước tính dương của tỷ giá hối đoái ở độ trễ cao hơn Phương pháp được đề xuất bởi Bahmani-Oskooee (1985, 1989) được áp dụng cho phân tích ngắn hạn Ngược lại, Rose và Yellen (1989) đề xuất khuôn khổ dựa trên mô hình sai số hiệu chỉnh Engle và Granger (1987) và phù hợp để ước tính cả tác động ngắn hạn cũng như tác động dài hạn của bước đi tỷ giá hối đoái Điều này dẫn đến một cách giải thích mới về đường cong J Theo cách giải thích mới này, bằng chứng về đường cong J được xác nhận một khi sự mất giá có liên quan đến sự cải thiện dài hạn của cán cân thương mại, và cũng tồn tại những dấu hiệu suy giảm cán cân thương mại trong ngắn hạn Cách giải thích cụ thể này đã được sử dụng rộng rãi để xác minh sự hiện diện của đường cong J, trong trường hợp của một quốc gia cũng như cho một nhóm các quốc gia Các ví dụ bao gồm Himario (1985), người đã kiểm chứng sự hiện diện của đường cong J đối với 10 quốc gia phát triển và đang phát triển; Meade (1988)

và Moffet (1989) kiểm chứng cho Mỹ; Felroe (1988) cho Úc; Noland (1989) cho Nhật Bản; Lal và Lowinger (2002) cho các nước Đông Á; Hacker và Hatemi-J (2003) cho các quốc gia Bắc Âu; và Moura và Da Silva (2005) cho Brazil, Halicioglu (2007,

Trang 9

2008) cho Thổ Nhĩ Kỳ; gần đây gồm Le Hoang Phong và cộng sự (2017), Nguyen Cam Nhung và cộng sự (2018) và Thi Xuan Thom (2017) cho Việt Nam

1.2 Động cơ nghiên cứu

Việt Nam là nền kinh tế mở nhỏ và được phân loại là quốc gia đang phát triển

Do đó, sự thay đổi của cán cân ngoại thương ảnh hưởng đến các nền móng cơ bản của cán cân thanh toán Trong giai đoạn 2000–2018, nền kinh tế Việt Nam đối diện với vấn đề thâm hụt thương mại dai dẳng, trầm trọng nhất vào năm 2008, thời điểm xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu (tham khảo Hình 1.1) Duy nhất trong năm 2014

và năm 2018, cán cân thương mại giữa Việt Nam với các đối tác là thặng dư Thâm hụt cán cân thương mại quá nhiều có thể gây nguy hiểm cho nền kinh tế Việt Nam, châm ngòi cho các cuộc suy thoái và bất ổn trong tăng trưởng kinh tế (Ahad, 2017) Nhìn chung, việc phá giá ở Việt Nam (phá giá VND) nhiều lần đã được sử dụng làm công cụ chính sách nhằm cải thiện cán cân thương mại Một số lần phá giá tiền tệ có thể là thành công khi tăng xuất khẩu và giảm nhập khẩu, nhưng một số trong đó có thể

là thất bại; do đó, nghiên cứu liệu hiệu ứng đường cong J có tồn tại và xác định thời gian hồi phục của cán cân thương mại là rất quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách tại Việt Nam Nhiều nghiên cứu tại Việt Nam đã kiểm chứng sự hiện diện của hiệu ứng đường cong J ở cấp độ tổng hợp, điển hình như Le Hoang Phong và cộng

sự (2017); Nguyen Cam Nhung và cộng sự (2018); và Thi Xuan Thom (2017) Tuy nhiên, việc sử dụng dữ liệu tổng hợp có thể gây nên vấn đề thiên lệch tổng hợp (aggregation bias), che đậy bản chất thực của các kết quả từ chính sách phá giá tiền tệ lên từng đối tác thương mại Phá giá VND có thể cải thiện cán cân thương mại của Việt Nam với một đối tác nhưng lại làm suy thoái cán cân song phương với đối tác khác Mặt khác, các phát hiện gần đây cho thấy mối quan hệ giữa tỷ giá và cán cân thương mại có thể là không đối xứng (Nusair, 2016; Bahmani-Oskooee và Saha, 2017) Do đó, việc kiểm chứng sự hiện diện của hiệu ứng đường cong J ở cấp độ song phương là cần thiết, giúp các nhà hoạch định chính sách tại Việt Nam hiểu rõ hiệu quả của chính sách phá giá lên từng đối tác thương mại cụ thể

Trang 10

Can can thuong mai

Nguồn: Dữ liệu thống kê thương mại của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (DOTS)

Hình 1.1 Cán cân thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2000–2018 (Đơn vị:

Tỷ USD)

Mặc dù, các bằng chứng hỗ trợ cho sự hiện diện của đường cong J (dù tổng hợp hay song phương) tương đối phong phú và đa dạng Thế nhưng, hiện tại, phần lớn các bằng chứng vẫn đang xoay quanh một giả định hạn chế, đó là hiệu ứng đối xứng của tăng giá và giảm giá tiền tệ lên cán cân thương mại, được mô tả bởi ước tính liên quan giữa độ co giãn của cán cân thương mại đối với tỷ giá hối đoái Tuy nhiên, các mối quan hệ phi tuyến (cũng như bất đối xứng) lại xuất hiện ngày một rõ rệt giữa các biến kinh tế vĩ mô Do đó, sự hạn chế của giả định đối xứng có khả năng che đậy bản chất thực các mối quan hệ giữa các biến và do đó, tạo ra các dự báo không đáng tin cậy Quan điểm này nhận được sự ủng hộ trong những năm gần đây và tác giả cũng nhìn nhận quan điểm này trong trường hợp mối quan hệ tỷ giá hối đoái–cán cân thương mại Quan điểm về việc bác bỏ “tính chất đối xứng” xuất phát từ các bằng chứng Ví

dụ, Bussiere (2013) cho rằng giá xuất khẩu và nhập khẩu phản ứng với biến động tỷ giá theo cách bất đối xứng Nếu phản ứng của giá hàng hóa giao dịch đối với thay đổi

tỷ giá là không đối xứng, thì việc kỳ vọng cán cân thương mại sẽ phản ứng với thay đổi tỷ giá theo cách bất đối xứng là điều đương nhiên Bahmani-Oskooee và Fariditavana (2015) cho rằng các nhà giao dịch kỳ vọng về các bước đi tiền tệ trong tương lai là không đối xứng trong các giai đoạn tăng giá và giảm giá Giá hiện tại cũng như giá dự kiến của hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu có tác động đến cán cân thương

Trang 11

mại Do đó, một cách tự nhiên,cán cân thương mại có mối quan hệ bất đối xứng với các biến động tỷ giá hối đoái

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

Kết hợp với các lập luận vừa nêu, nghiên cứu này tiến hành phân tích mối quan

hệ giữa thay đổi tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại, nhằm kiểm chứng sự hiện diện của hiệu ứng đường cong J đối xứng lẫn bất đối xứng trong mối quan hệ thương mại song phương giữa Việt Nam và 9 đối tác thương mại lớn (gồm Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Philippines, Indonesia, Singapore và Thái Lan) trong giai đoạn quý 1/2000 đến quý 1/2018 Kết quả từ dữ liệu thương mại của quỹ Tiền tệ Thế giới (DOTS), trong năm 2017, tỷ trọng đóng góp thương mại của 9 đối tác, Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Philippines, Indonesia, Singapore và Thái Lan với Việt Nam, lần lượt là 21,42%, 11,61%, 7,69%, 14,08%, 2,31%, 0,91%, 1,49%, 1,89% và 3,54%, chiếm xấp xỉ 64,93% tổng kim ngạch thương mại của Việt Nam với thế giới

1.4 Câu hỏi nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu chính trên, nghiên cứu tiến hành trả lời các câu hỏi sau:

1 Phá giá nội tệ (phá giá VND) có giúp cải thiện cán cân thương mại song phương giữa Việt Nam với 9 đối tác thương mại hay không?

2 Mẫu hình phản ứng của cán cân thương mại sau phương sau khi phá giá nội

tệ trong ngắn hạn và dài hạn có sự khác biệt hay không? Nếu sự khác biệt xảy ra, mẫu hình phản ứng có tuân theo giả thuyết đường cong J hay không, đồng nghĩa với việc hiệu ứng đường cong J có xảy ra trong quan hệ thương mại song phương giữa Việt Nam và 9 đối tác chính hay không?

3 Nhiều nghiên cứu gần đây phát hiện hiệu ứng bất đối xứng (phi tuyến) trong mối quan hệ giữa tỷ giá thực và cán cân thương mại, như vậy, hiệu ứng đường cong J bất đối xứng có hiện diện ở cấp độ song phương tại Việt Nam hay không?

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 12

Nghiên cứu áp dụng phương pháp ARDL tuyến tính của Pesaran và cộng sự (2001) và phương pháp ARDL phi tuyến (NARDL) của Shin và cộng sự (2014) nhằm ước tính khuôn khổ mô hình hóa hiệu ứng đương cong J đối xứng và bất đối xứng trong quan hệ thương mại song phương của Việt Nam Kế thừa các ưu điểm vốn có của phương pháp ARDL, kỹ thuật NARDL đồng liên kết cho phép kết hợp các hiệu ứng ngắn hạn lẫn dài hạn của thay đổi tỷ giá lên cán cân thương mại, giúp xác minh hiệu ứng đường cong J thông qua một phương trình hồi quy duy nhất Phương pháp NARDL đã được áp dụng để kiểm tra giả thuyết đường cong J trong một số nghiên cứu gần đây (ví dụ Bahmani-Oskooee và Fariditavana, 2016; Bahmani-Oskooee và cộng sự, 2016; Bahmani-Oskooee và Saha, 2017; Ari và cộng sự, 2019)

1.6 Kết cấu nghiên cứu

Phần còn lại của nghiên cứu được tiến hành như sau Tác giả trình bày các lý thuyết cơ bản về điều kiện Marshall-Lerner, hiệu ứng đường cong J nhằm giải thích mối quan hệ dài hạn lẫn ngắn hạn giữa tỷ giá và cán cân thương mại; cùng các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan trong Phần 2; mô tả mô hình và phương pháp nghiên cứu trong Phần 3 Kết quả thực nghiệm được cung cấp trong Phần 4 Cuối cùng, Phần

5 đưa ra các kết luận và hàm ý chính sách

Trang 13

PHẦN 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC

NGHIỆM

2.1 Lý thuyết nền tảng của hiệu ứng tỷ giá lên cán cân thương mại

2.1.1 Tác động dài hạn, điều kiện Marshall-Lerner

Hiểu rõ làm thế nào thay đổi tỷ giá hối đoái và giá cả ảnh hưởng đến mẫu hình thương mại quốc tế của một quốc gia có ý nghĩa thực tiễn vô cùng to lớn Điều này lại càng quan trọng, đặc biệt là trong việc đánh giá hiệu quả của các chính sách nhằm cải thiện cán cân thương mại của một quốc gia thông qua việc phá giá (mất giá) đồng nội

tệ Nhìn chung, sự mất giá của đồng nội tệ dẫn đến tăng giá nhập khẩu và giảm giá xuất khẩu Điều này, đến lượt, làm giảm số lượng nhập khẩu và tăng số lượng xuất khẩu và cuối cùng, làm cải thiện cán cân thương mại và tài khoản vãng lai Abel và Bernanke (2005) nhấn mạnh tầm quan trọng của độ co giãn khi chúng tiết lộ mức độ phản ứng của một biến khi một biến khác thay đổi Tác động của sự mất giá tiền tệ lên việc cải thiện cán cân thương mại phụ thuộc chính vào độ co giãn của xuất khẩu và nhập khẩu bên cạnh nhiều yếu tố quan trọng khác Tuy nhiên, vị thế tài khoản thương mại của một quốc gia được biểu thị bằng số tiền nhận được từ xuất khẩu và số tiền thanh toán cho nhập khẩu Do đó, việc cải thiện cán cân thương mại sau khi định giá thấp tiền tệ không chỉ phụ thuộc vào sự thay đổi về số lượng nhập khẩu và xuất khẩu,

mà còn phụ thuộc vào cả giá cả của chúng Điều này là do giá cả đóng một vai trò lớn trong các quyết định của cá nhân đối với cầu và cung hàng hóa Trong lĩnh vực thương mại quốc tế, điều kiện theo đó sự mất giá tiền tệ có thể dẫn đến sự cải thiện hoặc làm xấu đi tài khoản thương mại của một quốc gia được giải thích bởi điều kiện Marshall-Lerner Điều kiện này phát biểu rằng sự mất giá sẽ cải thiện cán cân thương mại nếu tổng độ co giãn giá của cầu xuất khẩu và nhập khẩu (được đo bằng giá trị tuyệt đối) lớn hơn 1 (Appleyard và Field, 1986) Tác giả sẽ trình bày điều kiện Marshall-Lerner dưới dạng toán học, dựa theo nghiên cứu của Davidson (2009) Thứ nhất, cán cân thương mại, là giá trị xuất khẩu trừ hàng nhập khẩu, được định nghĩa là:

Trang 14

N = X − M e, (2.1) trong đó, N là xuất khẩu ròng, tương đương cán cân thương mại, e là giá của một đơn

vị ngoại tệ tính theo nội tệ, X và M lần lượt là xuất khẩu và nhập khẩu Lấy vi phân phương trình (2.1) theo biến e thu được:

Trang 15

Để cán cân thương mại được cải thiện, tổng độ co giãn của xuất khẩu và nhập khẩu phải lớn hơn một để đáp ứng điều kiện của Marshall-Lerner Davidson (2009) cho rằng nếu điều này là đúng, phía bên trái của phương trình (2.8) phải dương Trong trình bày toán học, điều này có nghĩa là:

và có thể được viết lại là:

Erich và cộng sự (2009) chỉ ra rằng trong ngắn hạn, độ co giãn cầu nhỏ hơn đáng

kể (không co giãn), do đó, điều kiện Marshall-Lerner không được thỏa mãn Điều này

là do trong ngắn hạn, thay đổi giá có rất ít tác động, nếu có, lên số lượng hàng hóa được yêu cầu khi người tiêu dùng mất thời gian để thay đổi sở thích của mình; ví dụ, nếu xuất khẩu co giãn theo giá, giá xuất khẩu giảm sẽ thấy lượng cầu xuất khẩu tăng với tốc độ nhanh hơn giá xuất khẩu, do đó dẫn đến tăng thu nhập xuất khẩu Tương tự như vậy, khi nhập khẩu co giãn theo giá, giá nhập khẩu tăng làm giảm lượng cầu và giá trị nhập khẩu Sự gia tăng giá trị xuất khẩu cùng với sự sụt giảm giá trị nhập khẩu giúp cải thiện cán cân thương mại Tuy nhiên, như đã chỉ ra trước đó, điều này không đúng trong ngắn hạn nhưng có thể xảy ra trong dài hạn Salvatore (2007) giải thích thêm rằng khi tổng (về mặt tuyệt đối) độ co giãn theo giá của cầu nhập khẩu và xuất khẩu là:

thay đổi; điều đó có nghĩa là chính sách phá giá tiền tệ không hiệu quả vì nó không ảnh hưởng đến cán cân thương mại;

mở rộng; ngụ ý rằng sự mất giá tiền tệ là không hiệu quả trong việc cải thiện cán cân thương mại;

 lớn hơn 1, cho thấy rằng cán cân thương mại ổn định và thu hẹp sự mất cân bằng, ngụ ý rằng sự mất giá tiền tệ có hiệu quả trong việc cải thiện cán cân thương mại

Trang 16

2.1.2 Tác động ngắn hạn, hiệu ứng đường cong J

Về mặt lý thuyết, khi đồng tiền yếu hơn có xu hướng thúc đẩy xuất khẩu và không khuyến khích nhập khẩu, dẫn đến sự cải thiện trong cán cân thương mại.Có nhiều lý do để dự đoán sự suy giảm trong cán cân thương mại lúc ban đầu vì thực tế là

độ co giãn của cung và cầu có thể khác nhau trong ngắn hạn so với dài hạn Sự khác biệt về độ co giãn này nằm sau lý thuyết đường cong J được phát triển bởi Magee (1973) Lý thuyết cho thấy rằng có một khoảng thời gian trễ trước khi khối lượng nhập khẩu và xuất khẩu có thể phản ứng với những thay đổi cụ thể phát sinh từ biến động tỷ giá hối đoái Khi đồng nội tệ suy yếu, cán cân thương mại được cho là sẽ xấu đi lúc ban đầu và cải thiện sau đó, dẫn đến một mẫu hình giống với chữ cái J, do đó có tên là đường cong J (Bahmani-Oskooee và Ratha, 2004) Salvatore (2007) lập luận rằng sự suy giảm trong cán cân thương mại là do xu hướng giá nhập khẩu tăng nhanh hơn giá xuất khẩu ngay sau khi phá giá tiền tệ, trong khi số lượng chỉ thay đổi bởi một biên độ nhỏ Số lượng nhập khẩu và xuất khẩu mất một thời gian để điều chỉnh, chủ yếu là do hầu hết các bên tham gia vào quá trình giao dịch đã ký kết các hợp đồng ràng buộc cố định, khiến số lượng hầu như không đổi hoặc thay đổi không đáng kể trong thời gian ngắn (Magee, 1973) Ngoài ra, người tiêu dùng có thể mất thời gian để điều chỉnh trước khi có thể thay đổi sở thích của mình sau khi thay đổi giá Tác động của thay đổi

tỷ giá hối đoái lên thương mại hàng hóa sau đó trở nên rõ ràng khi các hợp đồng mới được ký kết và chỉ sau đó, tác động đầy đủ của thay đổi tỷ giá lên cán cân thương mại mới trở nên rõ ràng Vì những lý do này, trong ngắn hạn, một quốc gia phá giá tiền tệ

có thể trải qua sự gia tăng giá nhập khẩu và giảm giá xuất khẩu, cùng với đó có thể làm xấu đi cán cân thương mại Chính vì những lý do như vậy mà Yazici (2008) kết luận rằng trong ngắn hạn, những thay đổi trong dòng chảy thương mại phản ánh những thay đổi về giá tương đối, một phần là do bước đi tỷ giá hối đoái

Tuy nhiên, trong dài hạn, đồng nội tệ mất giá có thể thúc đẩy khối lượng xuất khẩu và dẫn đến giá trị thu nhập xuất khẩu cao, đồng thời, nhập khẩu ít hơn, do đó cải thiện cán cân thương mại Do đó Yazici (2008) kết luận rằng dài hạn bị chi phối bởi những thay đổi về số lượng vật lý (physical quantity) của hàng hóa Tác giả sẽ áp dụng

Trang 17

phân tích của Salvatore (2007) và Abel và Bernanke (2005) để minh họa hiệu ứng đường cong J với Hình 2.1 cho thấy biểu diễn đồ họa của đường cong J Trục tung đo lường cán cân thương mại, khi trên 0, cho thấy thặng dư thương mại và dưới 0 phản ánh thâm hụt thương mại Trục hoành cho thấy khoảng thời gian.Giả định rằng các nhà hoạch định chính sách trong nền kinh tế quyết định phá giá đồng nội tệ để thu hẹp hoặc loại bỏ thâm hụt cán cân thương mại Phá giá sẽ dẫn đến tăng giá hàng nhập khẩu

và giảm giá xuất khẩu Điều này làm cho hàng nhập khẩu đắt hơn và xuất khẩu rẻ hơn

so với trước khi đồng tiền bị mất giá Cuộc thảo luận về điều kiện Marshall-Lerner cho thấy trong ngắn hạn, cầu số lượng tương đối không co giãn với các thay đổi giá, do đó, giá trị nhập khẩu có thể tăng (do giá nhập khẩu tăng) ngay cả khi lượng nhập khẩu giảm hoặc không thay đổi, làm cho cán cân thương mại xấu đi từ điểm A đến điểm B trong Hình 2.1 Tuy nhiên, Salvatore (2007) chỉ ra rằng về lâu dài người mua và người bán bắt đầu điều chỉnh theo giá xuất nhập khẩu mới sau khi phá giá tiền tệ Những điều chỉnh như vậy sẽ dẫn đến độ co giãn tăng lên khi các hợp đồng mới được ký kết Điều này có thể dẫn đến sự phục hồi cầu nước ngoài đối với các sản phẩm sản xuất trong nước do đồng tiền yếu hơn Khi điều này chiếm ưu thế, đường cong J trong Hình 2.1 sẽ bắt đầu xu hướng đi lên về phía điểm C, phản ánh sự cải thiện trong tài khoản thương mại

Nguồn: Eicher và cộng sự (2009)

Hình 2.1 Minh họa hiệu ứng đường cong J

Một thiếu sót lớn của đường cong J và điều kiện Marshall-Lerner là cả hai đều không phân biệt được các điều kiện theo đó cán cân thương mại sẽ cải thiện sau sự mất

Trang 18

giá nội tệ trong trường hợp một quốc gia nhỏ và một quốc gia lớn hơn Trên thực tế, phản ứng thương mại sẽ khác với một nền kinh tế mở nhỏ như Việt Nam, so với một nền kinh tế lớn như Mỹ khi tiền tệ của các quốc gia này thay đổi; ví dụ, khi phá giá tiền tệ làm tăng cầu xuất khẩu, một phần của phá giá được chuyển qua cho người tiêu dùng nước ngoài tại nước nhập khẩu Do đó, mức độ thay đổi của giá xuất khẩu trong nước liên quan đến sự mất giá của đồng nội tệ phụ thuộc vào quy mô nền kinh tế và độ

mở thương mại của nền kinh tế đó

2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về kiểm chứng hiệu ứng đường cong J

2.2.1 Các nghiên cứu về mối quan hệ tuyến tính giữa cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái

Một số nghiên cứu thực nghiệm về hiệu ứng đường cong J đã được thực hiện cho

cả các nước phát triển và đang phát triển trong quá khứ, sử dụng những phát triển gần đây trong mô hình kinh tế theo chuỗi thời gian Bằng chứng từ thực nghiệm về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại là không thống nhất Một số nghiên cứu của Hernan (1998) cho Columbia và Lal và Lowinger (2002) cho các quốc gia Nam Á, Bhattari và Armah (2005) cho Ghana và Onafowora (2003) cho Đông Á

đã chứng minh sự tồn tại của mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại

cả trong ngắn hạn và dài hạn Nhìn chung, bằng chứng thực nghiệm từ các nghiên cứu này phù hợp với các lý thuyết về phương pháp co giãn đối với cán cân thanh toán và đặc biệt xác nhận sự tồn tại của đường cong J trong lộ trình điều chỉnh cán cân thương mại sau khi phá giá tỷ giá hối đoái.Các nghiên cứu khác của Agbola (2004) cho Ghana

và Puah và cộng sự (2008) cho Hiệp hội các quốc gia thành viên Đông Nam Á (ASEAN) cho rằng mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại là yếu, không đáng tin cậy hoặc không hiện hữu Những nghiên cứu này cho rằng mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại không có ý nghĩa trong ngắn hạn hoặc dài hạn.Hầu hết các nghiên cứu được thực hiện về chủ đề này dựa trên phương pháp lý thuyết co giãn để phân tích cán cân thương mại Các nghiên cứu khác phân tích tác động của thay đổi tỷ giá đối với cán cân thương mại bằng cách áp dụng các phương pháp hấp thụ hoặc tiền tệ Một số nghiên cứu bao gồm sự kết hợp của bất kỳ hai hoặc

Trang 19

cả ba phương pháp lý thuyết trong một mô hình Phương pháp co giãn phân tích phản ứng của cả nhập khẩu và xuất khẩu phát sinh từ những thay đổi trong tỷ giá hối đoái Cách tiếp cận hấp thụ cố gắng nắm bắt các hiệu ứng thu nhập phát sinh từ sự thay thế giữa hàng hóa trong và ngoài nước Trong cách tiếp cận tiền tệ, cán cân thanh toán được xác định thông qua cung và cầu tiền Dữ liệu là chuỗi thời gian hàng quý hoặc hàng năm Phương pháp kinh tế lượng phổ biến nhất được sử dụng là các kỹ thuật đồng liên kết để kiểm tra các mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa các biến trong hầu hết các nghiên cứu này Động lực ngắn hạn được kiểm tra bằng cách sử dụng sự khác biệt của các biến và bởi các hàm phản ứng xung

Lal và Lowinger (2002) sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian hàng quý từ 1985 đến

1998 đã kiểm tra mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái danh nghĩa hiệu dụng (NEER) và cán cân thương mại cho năm quốc gia Nam Á gồm Bangladesh, Ấn Độ, Nepal, Pakistan và Sri Lanka Phương pháp tiếp cận đồng liên kết Johansen được sử dụng để kiểm tra mối quan hệ dài hạn giữa các biến Động lực của mô hình được phân tích bằng mô hình sai số hiệu chỉnh (ECM) Kết quả nghiên cứu cho thấy bằng chứng về mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại Mất giá tiền

tệ của năm quốc gia Nam Á dẫn đến sự cải thiện trong cán cân thương mại trong dài hạn, mặc dù ban đầu đã có sự xấu đi của cán cân thương mại trong ngắn hạn Kết quả

là sự xác nhận về sự tồn tại của hiệu ứng đường cong J Do đó, tác động ban đầu của phá giá là làm giảm cán cân thương mại, nhưng cuối cùng cán cân thương mại được cải thiện Có sự khác biệt đáng kể về thời gian giữa phá giá và cải thiện cán cân thương mại giữa các quốc gia Nam Á được khảo sát Phải mất từ hai đến năm quý trước khi cán cân thương mại có thể cải thiện sau khi phá giá ở các quốc gia khác nhau Sự khác biệt về thời gian được quy cho mức độ mất cân bằng tỷ giá hối đoái ở mỗi quốc gia trước khi điều chỉnh Các quốc gia có chính sách tỷ giá và thương mại tương đối cởi mở hơn đòi hỏi thời gian điều chỉnh ngắn hơn

Một nghiên cứu thực nghiệm của Bhattari và Armah (2005) cho Ghana đã tìm thấy kết quả tương tự đối với hiệu ứng đường cong J Nghiên cứu ước tính các hàm xuất khẩu và nhập khẩu riêng biệt của nền kinh tế Ghana Trong mỗi hàm số, tỷ giá hối

Trang 20

đoái được đưa vào như một biến độc lập Các hệ số tỷ giá hối đoái từ mỗi hàm số sau

đó được tổng hợp để đánh giá xem chúng có đáp ứng điều kiện Marshal-Lerner về mất giá dẫn đến cải thiện cán cân thương mại hay không Ngoài tỷ giá hối đoái thực, mô hình thu được ảnh hưởng của thu nhập trong và ngoài nước đối với cán cân thương mại Dữ liệu là chuỗi thời gian hàng năm từ 1970 đến 2000 Mối quan hệ ngắn hạn và dài hạn giữa các biến được kiểm tra bằng cách sử dụng các thủ tục Johansen (ECM) và Engle và Granger (1987) Kết quả cho thấy sự mất giá của đồng tiền Ghana đã cải thiện cán cân thương mại trong dài hạn, nhưng không phải trong ngắn hạn Do đó, điều kiện Marshal-Lerner về phá giá dẫn đến cải thiện cán cân thương mại không được tìm thấy trong ngắn hạn và trung hạn mà là trong dài hạn Do đó, sau khi mất giá tiền tệ, cán cân thương mại ban đầu xấu đi trước khi cải thiện trong thời gian dài Tổng giá trị của độ co giãn ngắn hạn của xuất khẩu và nhập khẩu là 0,333, thấp hơn đơn vị yêu cầu

về phá giá để dẫn đến cải thiện cán cân thương mại Nghiên cứu cũng chứng minh rằng sự mất giá 10% của đồng tiền Ghana dẫn đến xuất khẩu tăng 7,2% và giảm 4,68% nhập khẩu trong dài hạn Tổng giá trị của độ co giãn cho xuất khẩu và nhập khẩu hầu như không đáp ứng điều kiện Marshal-Lerner ngay cả trong dài hạn Từ đó, rút ra kết luận rằng lợi ích từ mất giá ngay cả trong dài hạn có thể là nhỏ Nhìn chung, nghiên cứu này phù hợp với các dự đoán lý thuyết về phương pháp co giãn đối với cán cân thanh toán

Agbola (2004) trong một nghiên cứu khác ở Ghana đã sử dụng phép đồng liên kết đa biến ước lượng hợp lý cực đại Johansen (MLE) cho dữ liệu hàng năm từ 1970 đến 2002 và tìm thấy kết quả hơi khác so với Bhattari và Armah (2005) cho Ghana Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu thông thường Stock-Watson để ước tính cả hệ số ngắn hạn và dài hạn của các biến số chính ảnh hưởng đến cán cân thương mại Bình phương tối thiểu thông thường Stock-Watson được chọn ở chỗ nó không chỉ nắm bắt được tính năng động của mô hình mà còn cho phép độ lệch đồng thời (simultaneity bias) Các biến trong mô hình bao gồm tỷ giá hối đoái danh nghĩa, lãi suất trong nước, lãi suất nước ngoài, cung tiền trong và ngoài nước, thu nhập trong và ngoài nước Theo kết quả, sự mất giá của tỷ giá hối đoái làm giảm cán cân thương mại cho Ghana trong ngắn hạn Các kết quả ngắn hạn tương tự như kết quả của

Trang 21

một nghiên cứu của Bhattari và Armah (2005) cho Ghana Tuy nhiên, về lâu dài, mất giá tỷ giá hối đoái có tác động tiêu cực đến cán cân thương mại của Ghana Các kết quả dài hạn tương phản với kết quả của Bhattari và Armah (2005) đối với Ghana trong

đó mát giá tỷ giá hối đoái dẫn đến cải thiện cán cân thương mại Do đó, chặng đường thời gian điều chỉnh cán cân thương mại sau mất giá không tuân theo lý thuyết đường cong J Động lực điều chỉnh dường như tuân theo lý thuyết đường cong M Mất giá của tỷ giá hối đoái dường như có tác động ngay lập tức tối thiểu đến tỷ giá hối đoái Việc giảm cán cân thương mại cuối cùng có hiệu lực khoảng một năm sau khi phá giá Cán cân thương mại được cải thiện trong năm tiếp theo trước khi cuối cùng điều chỉnh theo hướng cân bằng dài hạn Điều quan trọng cần lưu ý là bằng chứng thực nghiệm từ hai nghiên cứu liên quan đến Ghana bao gồm dữ liệu khi giá trong nước, tỷ giá hối đoái, nhập khẩu và xuất khẩu được kiểm soát chặt chẽ, trong thời gian dài của chính phủ Điều này đặt ra câu hỏi về việc liệu có thể vượt qua các tác động của thay đổi tỷ giá để đăng ký đủ số lượng của cả xuất khẩu và nhập khẩu trong các điều kiện như vậy Không có bằng chứng trong cả hai nghiên cứu cho thấy sự thay đổi cấu trúc đối với nền kinh tế Ghana vào đầu những năm 1990 đã được kiểm soát đầy đủ trong cả hai nghiên cứu

Một nghiên cứu khác của Hernan (1998) cho thấy tỷ giá hối đoái đóng vai trò quan trọng trong việc xác định cán cân thương mại cho Columbia Hernan đã sử dụng phương pháp của Johansen và Juselius, để ước tính các hệ thống đồng liên kết đa biến

Mô hình đã nắm bắt được các hiệu ứng của ba phương pháp tiếp cận cán cân thanh toán: co giãn, hấp thụ và tiền tệ Dữ liệu là chuỗi thời gian hàng quý từ năm 1979 đến năm 1995 Theo kết quả đồng liên kết, có mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa tỷ giá hối đoái thực và cán cân thương mại Mất giá tiền tệ có hiệu quả trong việc cải thiện cán cân thương mại cả trong ngắn hạn và dài hạn Bất kỳ sự mất cân bằng nào trong cán cân thương mại đã được điều chỉnh với tốc độ 7% mỗi quý Ước tính hệ số tỷ giá hối đoái cho thấy sự mất giá 1% của tiền tệ dẫn đến sự cải thiện 1% cán cân thương mại trong dài hạn Do đó, trong trường hợp của Columbia, điều kiện của Marshal-Lerner

về mất giá dẫn đến cải thiện cán cân thương mại đã được đáp ứng cả trong ngắn hạn và dài hạn Quá trình điều chỉnh của cán cân thương mại sau mất giá không tuân theo

Trang 22

đường cong J Cần phải có một phân tích chặt chẽ hơn về động lực ngắn hạn bởi hàm phản ứng xung để có được cái nhìn sâu sắc hơn về quá trình điều chỉnh Một nghiên cứu của Puah và cộng sự (2008) đã điều tra mối quan hệ của tỷ giá hối đoái với cán cân thương mại cho các nước thành viên ASEAN-5 gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan Vào cuối những năm 1980 và đầu những năm

1990, các quốc gia này đã tiến hành các cải cách tự do hóa mở của nền kinh tế trong nước cho thương mại và đầu tư quốc tế Do kết quả của những cải cách này, các quốc gia này đã trải qua sự tăng trưởng nhanh chóng trong thu nhập quốc dân, điều này được thúc đẩy bởi xuất khẩu chủ yếu sang Mỹ và các nước châu Âu Tác động của tỷ giá hối đoái đối với cán cân thương mại đã được phân tích liên quan đến Mỹ ở tất cả các quốc gia này Mỹ là đối tác thương mại lớn của tất cả các quốc gia này trong thời gian nghiên cứu được thực hiện Các quốc gia này thường được Ngân hàng Thế giới

và IMF trích dẫn là những ví dụ thành công của cải cách tự do hóa kinh tế Dữ liệu là chuỗi hàng năm từ năm 1970 đến 2004 Có những thay đổi lớn trong khung chính sách kinh tế của các quốc gia này trong giai đoạn đó Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và các biến số đã được kiểm tra bằng cách sử dụng kỹ thuật đồng liên kết sai số hiệu chỉnh Johansen-Juselius (1990) Kết quả cho thấy thay đổi tỷ giá chỉ ảnh hưởng đến cán cân thương mại trong ngắn hạn Về lâu dài, mối quan hệ của tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại là không đáng kể Đối với Indonesia, không có mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại ngay cả trong ngắn hạn Do các biến không đồng liên kết, nên mô hình vectơ tự hồi quy tiêu chuẩn (VAR) đã được sử dụng để phân tích các mối quan hệ ngắn hạn giữa các biến Thử nghiệm nhân quả Granger đã được sử dụng để phân tích hướng ảnh hưởng giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại Theo kết quả kiểm tra nhân quả, tỷ giá hối đoái gây tác động Granger lên cán cân thương mại Không có bằng chứng để hỗ trợ cán cân thương mại tác động nhân quả Granger lên tỷ giá hối đoái Ngoại trừ Indonesia, quan hệ nhân quả đối với các nước ASEAN-5

là từ tỷ giá hối đoái đến cán cân thương mại chứ không phải theo hướng ngược lại Một số giải thích có thể được đưa ra về vai trò hạn chế của tỷ giá hối đoái trong việc ảnh hưởng đến các vị thế cán cân thương mại dài hạn của các nước ASEAN-5 Một trong những lời giải thích có thể là hầu hết các quốc gia trong ASEAN-5 đã quản lý

Trang 23

các chế độ tỷ giá thả nổi Người ta tuyên bố rằng các chế độ thả nổi có quản lý có thể tạo ra sự sai lệch trong thị trường ngoại hối, làm suy yếu vai trò của tỷ giá hối đoái trong việc xác định dòng chảy thương mại Sự sai lệch này tạo ra các rào cản cơ chế truyền dẫn tỷ giá hối đoái đếncán cân thương mại Một cách giải thích khác là cán cân thương mại của các quốc gia này chủ yếu được thúc đẩy bởi nhu cầu xuất khẩu chứ không phải giá tương đối thông qua tỷ giá hối đoái Yếu tố khác có thể là tăng năng suất chi phối tổn thất trong khả năng cạnh tranh phát sinh từ sự tăng giá của tiền tệ, đến mức mà xuất khẩu tổng thể tăng Một nguồn tiềm năng trong nghiên cứu này là không tính đến những thay đổi cơ cấu của các nền kinh tế của các quốc gia khác nhau Điều này có thể được nhắc nhiều trong nhiều nghiên cứu khác: những biến đổi lớn trong nền kinh tế của các quốc gia, đặc biệt là những nghiên cứu liên quan đến nền kinh tế thay đổi từ kiểm soát sang định hướng thị trường

Kết luận của Puah và cộng sự (2008) đối với các nước thành viên ASEAN-5 gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan không phù hợp với nghiên cứu của Onafowora (2003) cho ba nước ASEAN là Thái Lan, Malaysia và Indonesia Nghiên cứu được thực hiện bởi Onafowora (2003) đã sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian hàng quý trong giai đoạn 1980Q1 đến 2001Q4 Tác động của thay đổi tỷ giá đã được nghiên cứu theo thương mại song phương giữa từng quốc gia với Mỹ và Nhật Bản bằng cách sử dụng phương pháp đồng liên kết và ECM khi coi tất cả các biến trong mô hình là có khả năng nội sinh Động lực ngắn hạn được phân tích bằng cách sử dụng hàm phản ứng xung, cho thấy phản ứng của cán cân thương mại trước sự mất giá 1 sai

số chuẩn của tỷ giá hối đoái Một biến giả được đưa vào mô hình cho thấy cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 có tác động tiêu cực đáng kể đến cán cân thương mại của ba nước ASEAN này Các thử nghiệm độ ổn định cho thấy các ước tính tham

số là đáng tin cậy mặc dù các sự kiện lớn trong giai đoạn mẫu đã ảnh hưởng đến các biến được đưa vào mô hình Kết quả đồng liên kết cho thấy có mối quan hệ dài hạn giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại song phương cho ba nước ASEAN Mất giá tiền tệ của ba nước ASEAN dẫn đến cải thiện cán cân thương mại trong dài hạn Trong ngắn hạn, sự mất giá của các loại tiền tệ của Indonesia và Malaysia đã dẫn đến sự xấu

đi của các cán cân thương mại song phương với Mỹ và Nhật Bản Đối với Indonesia,

Trang 24

tình trạng xấu đi kéo dài tới 3 quý sau đó là sự cải thiện trong cán cân thương mại Đối với cả Malaysia và Indonesia, hiệu ứng đường cong J được quan sát thấy trong thương mại song phương với Mỹ và Nhật Bản Đối với Thái Lan, hiệu ứng đường cong J được quan sát chỉ liên quan đến quan hệ thương mại song phương với Mỹ Suy thoái cán cân thương mại song phương giữa Thái Lan với Mỹ kéo dài tới 3 quý sau khi phá giá trước khi cuối cùng được cải thiện Mô hình phản ứng của cán cân thương mại đối với thay đổi tỷ giá hối đoái phù hợp với hiệu ứng đường cong J Đối với Nhật Bản, cán cân thương mại Thái Lan đã cải thiện sau khi phá giá ngay cả trong ngắn hạn Do đó, phản ứng của cán cân thương mại Thái Lan đối với Nhật Bản không tuân theo đường cong

J Việc phân chia dữ liệu giúp cung cấp một phân tích chi tiết về cách cán cân thương mại phản ứng với từng đối tác thương mại của một quốc gia Điều này thừa nhận thực

tế là một số đối tác thương mại của một quốc gia tương đối quan trọng hơn các quốc gia khác và việc tổng hợp dữ liệu, đặc biệt đối với các quốc gia có một hoặc hai đối tác thương mại tương đối lớn có thể dẫn đến kết quả sai lệch

Bahmani-Oskooee và Ratha (2007) điều tra ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái lên cán cân thương mại của Thụy Điển Mục tiêu chính của nghiên cứu là điều tra xem liệu đường cong Jcó tồn tại ở dữ liệu phân tách song phương giữa Thụy Điển và 17 đối tác thương mại hay không, sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian hàng quý từ 1980 đến 2005

Dữ liệu được phân chia theo nghĩa là có một phân tích riêng đối với từng đối tác thương mại của Thụy Điển Mô hình thực tế cũng nắm bắt những ảnh hưởng của thu nhập trong và ngoài nước đối với cán cân thương mại Các tác động ngắn hạn và dài hạn của thay đổi tỷ giá hối đoái được phân tích theo phương pháp kiểm định đường baotừ mô hình ARDL Ở cấp độ song phương, bằng chứng về mối quan hệ ngắn hạn giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại đã được tìm thấy ở 14 trong số 17 đối tác thương mại của Thụy Điển Nhưng bằng chứng của đường cong J chỉ được tìm thấy trong mối quan hệ song phương với 5 quốc gia Áo, Đan Mạch, Ý, Hà Lan và Anh Trong 5 mối quan hệ thương mại song phương khác của Thụy Điển, hiệu ứng tiêu cực ngắn hạn của mất giá tiền tệ dường như vẫn tồn tại ngay cả trong dài hạn Nhìn chung,

sự mất giá của đồng tiền Thụy Điển đã dẫn đến sự cải thiện dài hạn trong cán cân thương mại

Trang 25

Một nghiên cứu khác của Stucka (2004) phân tích tác động của thay đổi tỷ giá hối đoái thực đối với cán cân thương mại của Croatia Nghiên cứu này sử dụng ba biến thể của mô hình ARDL được phát triển bởi Pesaran và cộng sự (1996), Bewley (1979)

và Wickens và Breusch (1988) để kiểm tra sự đồng liên kết và động lực ECM ngắn hạn giữa các biến Dữ liệu chuỗi thời gian hàng quý được sử dụng từ năm 1994 đến

2002 Cán cân thương mại là tổng hợp tỷ lệ xuất khẩu và nhập khẩu của 6 đối tác thương mại lớn của Croatia Khoảng 55% tổng giao dịch của Croatia là với sáu đối tác thương mại lớn này Nhìn chung, hoán vị của ba phương pháp ARDL và hai thước đo năng lực cạnh tranh mang lại kết quả tương tự về mối quan hệ của tỷ giá hối đoái thực với cán cân thương mại Mất giá tỷ giá hối đoái thực của Croatia có hiệu quả trong việc cải thiện cán cân thương mại trong dài hạn Tuy nhiên, trong ngắn hạn do ảnh hưởng của hiệu ứng đường cong J, cán cân thương mại ban đầu xấu đi Suy giảm cán cân thương mại sau khi mất giá trung bình lên đến một quý trước khi cải thiện Tính trung bình, cải thiện cán cân thương mại từ 0,94 đến 1,3% là do sự mất giá dai dẳng 1% trong tỷ giá hối đoái

Các nghiên cứu cho Việt Nam cũng tương đối đa dạng Nghiên cứu gần đây của

Le Hoang Phong và cộng sự (2017) xác minh sự tồn tại của các tác động ngắn hạn và dài hạn của tỷ giá hối đoái thực lên cán cân thương mại tại Việt Nam bằng cách sử dụng phương pháp tự hồi quy phân phối trễ (ARDL), sử dụng dữ liệu theo quý trong giai đoạn từ 2000Q1 đến 2015Q4 Trong ngắn hạn, mô hình sai số hiệu chỉnh (ECM) dựa trên phương pháp ARDL chỉ ra rằng phá giá thực nội tệ có tác động tiêu cực đến cán cân thương mại; trong dài hạn, phá giá thực nội tệ có tác động tích cực đến cán cân thương mại, hàm ý sự hiện diện của mẫu hình đường cong J tại Việt Nam, vốn cũng được xác nhận trong hàm phản ứng đẩy (IRF) Thi Xuan Thom (2017) phân tích các bước đi của tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại trong giai đoạn 2001-2015 và điều tra xem liệu sự mất giá sẽ ảnh hưởng cán cân thương mại theo mẫu hình hiệu ứng đường cong J hay không Phát hiện của nghiên cứu là sau khi mất giá, cán cân thương mại xấu đi trong hai quý đầu tiên và sau đó bắt đầu cải thiện cho đến quý thứ sáu Sau sáu quý, cán cân thương mại lại rơi vào tình trạng thâm hụt và tiếp tục tăng giảm đột ngột Với các câu trả lời được minh họa từ phân tích, phản ứng cán cân thương mại

Trang 26

mang dáng dấp của mẫu hình đường cong J trong các quý đầu nhưng dấu hiệu này mờ dần trong các quý sau Nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng có khả năng sau cú sốc tỷ giá hối đoái, cán cân thương mại sẽ phản ứng theo đường cong S, thay vì đường cong

J Nguyen Cam Nhung và cộng sự (2018) làm rõ tác động của biến động tỷ giá VND/USD và VND/JPY đến cán cân thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản thông qua kiểm định hiệu ứng đường cong J bằng cách sử dụng mô hình vectơ tự hồi quy (VAR), hàm phản ứng đẩy (IRF), kiểm định nhân quả Granger và phân tích phân rã phương sai Khung phân tích bao gồm 5 biến số gồm giá dầu, tổng sản phẩm quốc nội, chỉ số giá tiêu dùng, cán cân thương mại trên tài khoản vốn, tỷ giá hối đoái danh nghĩa dựa trên 67 quan sát từ 2001Q1 đến 2017Q3 Điểm nổi bật của nghiên cứu này so với các nghiên cứu trước đó là các tác giả không chỉ đánh giá tác động của biến động tỷ giá lên cán cân thương mại tổng hợp giữa Việt Nam và Nhật Bản mà còn điều tra sự biến động của tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến cán cân thương mại trong từng nhóm hàng hóa Kết quả cho thấy sự mất giá của VND sẽ cải thiện cán cân thương mại của nhóm 84 (máy móc, thiết bị cơ khí, lò phản ứng hạt nhân, nồi hơi) và nhóm 94 (nội thất) ở cả tỷ giá hối đoái VND/USD và VND/JPY, và nhóm 27 (nhiên liệu khoáng, dầu khoáng và các sản phẩm chưng cất) và nhóm 85 (máy móc và thiết bị điện và các

bộ phận của chúng) theo tỷ giá hối đoái VND/USD Ngoài ra, trong tổng số sản phẩm

và nhóm 27, tỷ giá hối đoái VND/JPY tác động đến cán cân thương mại theo mẫu hình hiệu ứng đường cong J

2.2.2 Các nghiên cứu về mối quan hệ phi tuyến giữa cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái

Các nghiên cứu thực nghiệm khảo lược ở trên được thực hiện với giả định ngầm

về tính đối xứng của tác động tỷ giá đến cán cân thương mại, hàm ý rằng tỷ giá tăng và

tỷ giá giảm có ảnh hưởng đến cán cân thương mại với cùng độ lớn và ngược chiều nhau Tuy nhiên, nghiên cứu của Arize và Malindretos (2012) lại chỉ ra tỷ giá có tác động bất đối xứng đến nền kinh tế thực Arize và Malindretos (2012) cho rằng tính bất đối xứng xảy ra khi các biến động âm và dương trở về trung bình hoặc khi tốc độ điều chỉnh giữa chênh lệch âm và chênh lệch dương (khỏi cân bằng) trở về giá trị cân bằng

Trang 27

Đối với mối quan hệ giữa tỷ giá và cán cân thương mại, tính bất đối xứng được thể hiện dưới dạng tỷ giá tăng và tỷ giá giảm ảnh hưởng đến cán cân thương mại theo chiều ngược nhau nhưng không cùng độ lớn; hoặc tỷ giá giảm cải thiện cán cân thương mại nhưng tỷ giá tăng không ảnh hưởng hoặc không làm xấu đi cán cân thương mại và ngược lại tỷ giá tăng làm xấu đi cán cân thương mại nhưng tỷ giá giảm không ảnh hưởng hoặc không cải thiện cán cân thương mại (Bahmani-Oskooee và cộng sự, 2016)

Trái ngược với cách tiếp cận tuyến tính, cách tiếp cận phi tuyến loại bỏ giả định đối xứng và tách các biến động của tỷ giá thành hai loại - định giá thấp và đánh giá cao

- để có thể đánh giá tác động của chúng đối với cân bằng thương mại Theo cách tiếp cận phi tuyến, tồn tại bằng chứng cho đường cong J nếu có sự suy giảm (cải thiện) ngắn hạn và cải thiện (suy giảm) dài hạn trong cán cân thương mại do sự mất giá (tăng giá) tiền tệ Bahmani-Oskooee và Fariditavana (2015) nhận thấy rằng trong trường hợp của Trung Quốc, trong khi không có tác động dài hạn của tỷ giá thực đối với cán cân thương mại trong mô hình tuyến tính, vẫn tồn tại những tác động bất đối xứng của tỷ giá hối đoái trong mô hình phi tuyến Cụ thể, sự định giá cao của đồng Yuan được tìm thấy có tác động bất lợi đến cán cân thương mại của Trung Quốc trong khi đó, bằng chứng cho thấy sự mất giá của Yuan tạo ra hiệu ứng tương đương và ngược lại Mặc

dù hỗ trợ cho sự bất đối xứng, Bahmani-Oskooee và Fariditavana (2015) dựa trên dữ liệu thương mại tổng hợp giữa Trung Quốc và phần còn lại của thế giới Kết quả là, những phát hiện có xu hướng sai lệch tổng hợp (aggregation bias) Ngoài ra, việc sử dụng phần còn lại của thế giới là một đối tác thương mại có những hạn chế khác ở chỗ

nó giả định động lực thương mại chung áp dụng cho tất cả các đối tác thương mại của Trung Quốc Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái song phương và cán cân thương mại song phương với một đối tác rất có thể khác nhau trong trường hợp của các đối tác thương mại khác Do đó, một phân tích ở cấp độ song phương là rất quan trọng để thông báo chính sách và để có được sự hiểu biết sâu sắc hơn về mối quan hệ Xuất phát từ các bất cập trên, Bahmani-Oskooee và cộng sự (2018) dựa theo mô hình sai số hiệu chỉnh ARDL phi tuyến nhằm khám phá tính phi tuyến trong mối quan hệ giữa cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái thực giữa Trung Quốc và 21 đối tác thương mại

Trang 28

Nghiên cứu tìm thấy bằng chứng tác động bất đối xứng ngắn hạn của tỷ giá trong trường hợp của 18 đối tác, sự điều chỉnh bất đối xứng ngắn hạn trong 11 đối tác, bất đối xứng tích lũy ngắn hạn trong số 7 đối tác và hiệu ứng bất đối xứng dài hạn đáng kể

ở 5 đối tác Nghiên cứu tìm thấy sự ủng hộ cho giả thiết đường cong J trong trường hợp với 5 đối tác

Sivrikaya và Ongan (2019) điều tra hiệu lực của giả thuyết đường cong J dựa trên các mô hình thương mại song phương giữa Anh và 17 quốc gia đối tác chính trong giai đoạn 1981Q1–2015Q1, bằng cách áp dụng phương pháp tự hồi quy phân phối trễ phi tuyến (NARDL) Kết quả của nghiên cứu cho thấy không có bằng chứng ủng hộ giả thuyết đường cong J giữa Anh và bất kỳ đối tác thương mại nào trong số 17 đối tác Các tác giả cũng thấy rằng sự mất giá và tăng giá của đồng Bảng Anh có tác động bất đối xứng lên cán cán thương mại song phương của Anh trong ngắn hạn Kết quả của nghiên cứu có khả năng làm sáng tỏ kết quả ngắn hạn và dài hạn từ những biến động gần đây của đồng Bảng Anh liên quan đến cán cân thương mại sau cuộc trưng cầu dân

ý năm 2016 Bahmani-Oskooee và Baek (2016), giống như các nghiên cứu trước đây, trước tiên sử dụng phương pháp ARDL tuyến tính của Pesaran và cộng sự (2001) để điều tra hiệu ứng đường cong J giữa Hàn Quốc và 14 đối tác thương mại Sau đó, các tác giả sử dụng phương pháp ARDL phi tuyến gần đây của Shin và cộng sự (2014) và khám phá ra rằng, trong hầu hết các trường hợp, thay đổi tỷ giá hối đoái có tác động bất đối xứng ngắn hạn và dài hạn lên cán cân thương mại song phương Bahmani-Oskooee và Harvey (2018) xem xét cán cân thương mại song phương của Mỹ với 13 đối tác thương mại, là các quốc đang phát triển Khi áp dụng phương pháp ARDL tuyến tính của Pesaran và cộng sự (2001), các tác giả tìm thấy sự hỗ trợ cho hiệu ứng đường cong J với 6 đối tác Tuy nhiên, khi áp dụng phương pháp ARDL phi tuyến của Shin và cộng sự (2014), các tác giả tìm thấy sự hỗ trợ cho đường cong J song phương với 10 đối tác Ngoài ra, trong khi các tác giả tìm thấy sự hỗ trợ cho hiệu ứng bất đối xứng ngắn hạn của thay đổi tỷ giá hối đoái trong hầu hết các trường hợp, thì các hiệu ứng dài hạn chỉ chiếm một nửa các trường hợp Ari và cộng sự (2019) sử dụng phương pháp tự hồi quy phân phối trẽ tuyến tính và phi tuyến cho dữ liệu thương mại song phương của Thổ Nhĩ Kỳ với 18 quốc gia thành viên Liên minh châu Âu trong giai

Trang 29

đoạn từ 1990Q1 đến 2017Q3 Các phát hiện thu được từ mô hình ARDL phi tuyến mang lại nhiều sự hỗ trợ hơn cho hiện tượng đường cong J so với mô hình tuyến tính Kết quả này cung cấp bằng chứng về tác động bất đối xứng của sự định giá cao và thấp lên cán cân thương mại song phương của Thổ Nhĩ Kỳ

2.2.3 Kết luận

Như đã được nhấn mạnh bởi Bahmani-Oskooee và Brooks (1999), dữ liệu tổng hợp có thể che giấu các chuyển động thực tế diễn ra ở cấp độ song phương Sau khi phá giá tiền tệ, cán cân thương mại của một quốc gia có thể được cải thiện với một đối tác thương mại trong khi xấu đi với một đối tác khác Do đó, một số nghiên cứu về hiệu ứng đường cong J có xu hướng sử dụng dữ liệu song phương để giảm thiểu sai lệch tổng hợp Rose và Yellen (1989) thực hiện nghiên cứu đầu tiên sử dụng dữ liệu song phương để điều tra xem liệu hiệu ứng đường cong J có hiện diện trong nền kinh

tế Mỹ hay không Dù sử dụng nhiều kiểm định mạnh mẽ, các tác giả không tìm thấy sự

hỗ trợ nào cho hiệu ứng đường cong J, cũng như bằng chứng về mối quan hệ dài hạn giữa cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái thực Mặt khác, Bahmani-Oskooee và Ratha (2004) tìm thấy mối quan hệ cùng chiều dài hạn giữa cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái thực trong mối quan hệ thương mại song phương giữa Mỹ với các đối tác chính, nhưng không có mẫu hình ngắn hạn cụ thể nào hỗ trợ đường cong J Các nghiên cứu khác, chẳng hạn như Bahmani-Oskooee và Goswami (2003) cho Nhật Bản; Bahmani-Oskooee và cộng sự (2005) cho Úc và Bahmani-Oskooee và cộng sự (2006) cho Anh cũng tìm thấy các bằng chứng hạn chế ủng hộ hiệu ứng đường cong J Sơ lược các nghiên cứu vừa nêu cho thấy các mô hình đi đến kết quả hỗ trợ mối quan hệ dài hạn cùng chiều giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại, nhưng phản ứng ngắn hạn của cán cân thương mại trước phá giá tiền tệ không theo bất kỳ mẫu hình cụ thể nào Những kết quả không thuyết phục này có thể liên quan đến việc sử dụng các kỹ thuật ước tính tuyến tính, vì các mô hình tuyến tính cho rằng cán cân thương mại phản ứng đối xứng với sự định giá cao và thấp, ngụ ý rằng nếu định giá thấp cải thiện cán cân thương mại, sự định giá cao sẽ làm xấu đi (Nusair, 2016) Tuy nhiên, quá trình

Trang 30

điều chỉnh có thể là phi tuyến theo nghĩa là cán cân thương mại có thể phản ứng bất đối xứng với sự mất giá và tăng giá tiền tệ (Bahmani-Oskooee và Fariditavana, 2016)

Từ các lập luận vừa qua, giả định tính đối xứng trong quan hệ giữa thay đổi tỷ giá và cán cân thương mại có thể là một giả định hẹp Rất có thể, những thay đổi trong

tỷ giá sẽ ảnh hưởng bất đối xứng lên cán cân thương mại song phương giữa Việt Nam

và các đối tác Do đó, để trả lời cho câu hỏi trên, nghiên cứu này sử dụng phương pháp NARDL nhằm kiểm chứng sự tồn tại của hiệu ứng đường cong J bất đối xứng trong mối quan hệ thương mại song phương giữa Việt Nam và 9 đối tác gồm Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan trong giai đoạn 2000Q1–2018Q1

Trang 31

PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Xây dựng mô hình cân bằng thương mại

Chương 2 đã chỉ ra cán cân thương mại xuất phát từ 2 cấu thành, gồm nhập khẩu

và xuất khẩu hàng hóa Do đó, nhằm xây dựng mô hình cán cân thương mại, các phương trình cầu xuất khẩu và nhập khẩu cần được tính đến Do đó, tác giả dựa vào cách xây dựng của Yusoff (2009), sau này cũng được Khan và Hossain (2010) sử dụng Các tác giả xem đây như một mô hình cân bằng thương mại truyền thống tiêu chuẩn, và nhấn mạnh tính hữu dụng của mô hình vì “vectơ ba biến giải thích nắm bắt các tác động lên cán cân thương mại trong một mô hình kết hợp các phương pháp tiếp cận đàn hồi và hấp thụ” (Khan và Hossain, 2010) Mô hình sử dụng các phương trình cầu xuất khẩu và nhập nhân để rút ra phương trình cân bằng thương mại Phương trình xuất khẩu được xác định như sau:

lấy logarite tự nhiên hai vế, thu được:

Trang 32

lnM = lnM + δ lnq + γ lnYD, (3.5) trong đó, M là số lượng nhập khẩu; M là số lượng nhập khẩu ban đầu; YD là thu nhập trong nước; q là tỷ giá hối đoái thực; δ là độ co giãn cầu nhập khẩu đối với tỷ giá thực;

γ là độ co giãn cầu nhập khẩu đối với thu nhập trong nước Yusoff (2009) đưa ra một giả định rằng số lượng nhập khẩu ban đầu bằng số lượng xuất khẩu ban đầu, do đó, cán cân thương mại ban đầu (về số lượng) ở trạng thái cân bằng Các phương trình (3.1) và (3.4) được sử dụng để suy ra mô hình cân bằng thương mại Phương trình cân bằng thương mại được biểu diễn bằng tỷ lệ xuất khẩu trên nhập khẩu, được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu của Hacker và Hatemi-J (2004), Tihomor (2004) và Yazdani và Shajari (2009) Định nghĩa như vậy sẽ cho phép mô hình được biểu thị dưới dạng logarite, trái ngược với cách sử dụng cán cân thương mại thông thường (xuất khẩu trừ nhập khẩu); nếu có giá trị âm (phản ánh thâm hụt thương mại), khi đó không thể lấy logarite như yêu cầu của phương trình (3.1) và(3.4) Cán cân thương mại

có thể được thể hiện dưới dạng:

tỷ giá hối đoái thực được niêm yết trực tiếp tức là VND/ngoại tệ Do đó, tỷ giá thực

Ngày đăng: 21/04/2020, 11:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w