1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Thiết kế hệ thống câu hỏi, bài tập tự học nội dung ngữ nghĩa, ngữ dụng trong học phần tiếng việt nâng cao cho sinh viên ngành giáo dục tiểu học,ở trường CĐSP

126 236 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 855,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài nghiên cứu, sáng kiến kinh nghiệm, dành cho giáo viên: Thiết kế hệ thống câu hỏi, bài tập tự học nội dung ngữ nghĩa, ngữ dụng trong học phần tiếng việt nâng cao cho sinh viên ngành giáo dục tiểu học,ở trường CĐSP

Trang 1

A MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Môn Tiếng Việt ở tiểu học có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc

trang bị và hoàn thiện kiến thức, kĩ năng sử dụng tiếng Việt cho học sinh trongnhững năm đầu đời Nhiệm vụ của môn học là dạy các em cách dùng từ, đặt câusao cho đúng ngữ pháp và phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp hay nói cách khác làdạy các em các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt trong học tập, giao tiếp Đó là mục tiêu

cơ bản, quan trọng hàng đầu của môn học

Với một sinh viên ngành sư phạm tiểu học, điều trước hết các em cần có đó

là một vốn kiến thức chuyên ngành căn bản để có thể xử lí các đơn vị kiến thức

trong sách giáo khoa tiểu học Môn Tiếng Việt nâng cao được giảng dạy dành cho

sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học năm thứ 3 Môn học cung cấp những kiến thứcchuyên sâu về hai nội dung chính đó là: Ngữ nghĩa, ngữ dụng và chuyên đề Từ HánViệt Những kiến thức được trang bị khi học xong học phần sẽ giúp các em hiểu rõ

và sâu hơn các vấn đề về nghĩa của từ, các bình diện của câu, nghĩa của câu trongvăn bản và nghĩa hàm ngôn của văn bản nghệ thuật Những kiến thức này sẽ có ýnghĩa rất lớn đối với việc giảng dạy môn Tiếng Việt của các em sau này đặc biệt lànhững bài học của phân môn Luyện từ và câu

1.2 Tự học là một trong những năng lực cơ bản cần có của sinh viên khi

bước chân vào giảng đường các trường chuyên nghiệp Tự học là một xu hướnghọc tập của thời đại và là điều kiện tất yếu của việc dạy học theo học chế tín chỉ tạicác trường đại học, cao đẳng hiện nay Đáp ứng yêu cầu đó, người giáo viên cần cónhững phương pháp để hình thành cho sinh viên ý thức và thói quen tự học, cầnphải có sự kích thích để tự học không chỉ là nhiệm vụ mà còn trở thành nhu cầu tựthân của mỗi sinh viên khi tham gia học tập Điều đó có nghĩa là các em phải thấyđược sự cần thiết, tầm quan trọng, ý nghĩa và sự hứng thú từ những điều các emđược tiếp cận và trang bị Bởi vậy, bên cạnh phương pháp thì nội dung dạy họccũng là vấn đề cần được quan tâm Tự học là quá trình sinh viên tự nghiên cứu, học

Trang 2

tập, tìm hiểu về nội dung học tập trước, trong và sau quá trình lên lớp Thiết kế câuhỏi, bài tập hướng dẫn sinh viên tự học, nghiên cứu, ôn tập các kiến thức đã họcchính là một trong những nội dung mà người giảng viên cần chú ý trong quá trìnhlên lớp Hệ thống câu hỏi, bài tập có tính phân loại, gợi mở, gợi sự sáng tạo, suyluận, tìm tòi của người học sẽ tạo ra chất xúc tác khiến họ say mê hơn với nội dunghọc tập

1.3 Trong quá trình giảng dạy môn Tiếng Việt nâng cao cho sinh viên năm

thứ 3 (CĐTH ) và sinh viên hệ CĐLT, chúng tôi sử dụng cuốn Tài liệu học tập một số học phần đào tạo giáo viên trình độ cao đẳng ngành Giáo dục Tiểu học: Phương pháp dạy học Tiếng Việt 1, Phương Pháp dạy học Tiếng Việt 2, Tiếng Việt nâng cao Trong cuốn giáo trình mới biên soạn này đã có hệ thống câu hỏi và bài

tập tương đối cơ bản phục vụ cho việc ôn tập và tự học của sinh viên Tuy nhiên,

tôi nhận thấy số lượng bài tập của Chương 1: Một số vấn đề ngữ nghĩa và ngữ dụng còn chưa phong phú, chưa có những bài tập phân loại từ dễ đến khó, chưa có

những bài tập thể hiện mối liên hệ giữa kiến thức chuyên ngành của môn học vớinội dung dạy học Tiếng Việt ở tiểu học

Bên cạnh đó, cách hỏi, cách đề cập, gợi mở vấn đề khi xây dựng câu hỏi, bàitập cũng là những vấn đề nên được quan tâm, chú ý Khi tiến hành khảo sát để thựchiện đề tài, tôi nhận thấy những câu hỏi lí thuyết trong phần tự học của tài liệu chủyếu xoay quanh việc nêu và trình bày nên sẽ dễ dẫn đến sự nhàm chán và máy móccho sinh viên Thực tế trong một số đơn vị kiến thức cần thiết phải hỏi những câuhỏi dạng trình bày, nêu Tuy nhiên có những nội dung, người dạy có thể suy nghĩ

để có thể lựa chọn những cách hỏi khác, đưa vấn đề được hỏi vào một tình huống

có vấn đề để người học phải suy nghĩ mới có thể trả lời được Cách hỏi và xâydựng bài tập như vậy thường sẽ tạo hứng thú cho người học Ví dụ khi muốn sinhviên nắm chắc được bình diện ngữ nghĩa của câu, người dạy có thể yêu cầu xác

định cấu trúc vị từ - tham thể trong câu: Bà mẹ nấu cơm cho con nhưng để thay đổi

hình thức và giúp sinh viên được khắc sâu kiến thức hơn, giáo viên có thể yêu cầu

Trang 3

xác định cấu trúc vị từ - tham thể trong một số câu có cấu trúc gần giống nhau sau

đó yêu cầu sinh viên nhận xét, so sánh về sự khác nhau của việc xác định các yếu

tố của cấu trúc các câu đó như: Hãy xác định cấu trúc vị từ - tham thể của các câu

sau và nhận xét sự khác nhau giữa chúng: (1) Bà mẹ nấu cơm cho con (2) Bà mẹ rửa chân cho con (3) Anh ấy rót nước cho tôi” (4) Anh ấy tắm cho em trai.

Vì những lí do như trên, tôi lựa chọn đề tài Thiết kế hệ thống câu hỏi, bài tập

tự học nội dung Ngữ nghĩa, ngữ dụng trong học phần Tiếng Việt nâng cao cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học,ở trường CĐSP nhằm xây dựng được hệ thống câu

hỏi, bài tập ngữ nghĩa, ngữ dụng vừa củng cố được các đơn vị kiến thức vừa liên hệđược việc giảng dạy các đơn vị này khi dạy nội dung Luyện từ và câu ở tiểu học.Thực hiện đề tài, tôi cũng mong muốn xây dựng và xác định được hệ thống câu hỏi,bài tập phù hợp với từng thời điểm học tập của sinh viên, sắp xếp các câu hỏi theotừng thời điểm trước, trong và sau bài học để thuận lợi cho quá trình giảng dạycũng như học tập của sinh viên, đảm bảo mục tiêu của học phần và đáp ứng đượccác yêu cầu về đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng dạy và học của nhàtrường

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục đích của đề tài

- Xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập định hướng giúp sinh viên tự học nội

dung học phần Tiếng Việt nâng cao Hệ thống câu hỏi, bài tập sẽ được giáo viên

định hướng cho sinh viên trong quá trình học tập bằng hình thức giao nhiệm vụ cụthể trước, trong và sau bài học; giúp SV chuẩn bị bài, tìm hiểu vấn đề được họctrước khi lên lớp; được thảo luận, nêu ý kiến trong giờ học và được thực hành, rènluyện sau giờ học từ đó nâng cao năng lực tự học của các em trong quá trình họctập và nghiên cứu học phần

- Kết quả của đề tài sẽ là tư liệu học tập của sinh viên, tư liệu giảng dạy củabản thân tác giả và là tài liệu tham khảo trong tổ chuyên môn, có ý nghĩa ứng dụng

Trang 4

thực tiễn đảm bảo mục tiêu dạy học của học phần; góp phần đổi mới phương pháp

và nâng cao chất lượng dạy học

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận trong các tài liệu và sách giáo khoa tiểu học làm cơ sởcho việc xây dựng câu hỏi, bài tập;

- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn bao gồm: lịch sử nghiên cứu vấn đề; thống kê, đánhgiá nhận xét câu hỏi, bài tập trong Tài liệu học tập; việc thực hiện các nhiệm vụ họctập tự học của sinh viên khi học môn Tiếng Việt nâng cao

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài

- Đề xuất hệ thống câu hỏi, bài tập và hướng dẫn tự học cho sinh viên các nội dungcủa học phần Tiếng Việt nâng cao

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Nội dung tự học Chương 1: Một số vấn đề ngữ nghĩa và ngữ dụng và chương 2: Chuyên đề Từ Hán Việt của học phần Tiếng Việt nâng cao.

- Lớp sinh viên TH E ngành Giáo dục Tiểu học trong thời gian tác giả giảng dạytại trường CĐSP

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập hướng dẫn tự học nội dung kiến thức Chương

1: Một số vấn đề ngữ nghĩa và ngữ dụng và chương 2: Chuyên đề Từ Hán Việt của học phần Tiếng Việt nâng cao.

- Áp dụng và đánh giá hiệu quả trên đối tượng sinh viên ngành Tiểu học

4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 5

5 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, phần Nội dung

của đề tài gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở khoa học của đề tài

Chương 2 Thiết kế hệ thống câu hỏi, bài tập và hướng dẫn tự học học phần Tiếng Việt nâng cao

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 6

B NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1.1 Một số vấn đề lý luận về tự học và câu hỏi, bài tập tự học

1.1.1.1 Khái quát về “tự học”

a Khái niệm tự học

Tự học là một phạm trù được nhiều nhà giáo dục quan tâm, nghiên cứu và đưa

ra quan điểm riêng Có thể dẫn ra một số quan niệm của các tác giả như sau: “Tự học là động não, suy nghĩ, sử dụng năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích…)

và có khi cả cơ bắp (khi sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của chính bản thân người học (tính trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say

mê khoa học) cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” (tác giả Nguyễn Cảnh Toàn).

Tác giả Lưu Xuân Mới cho rằng: “Tự học là hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính sinh viên tiến hành trên lớp, ở ngoài lớp theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa

đã quy định Tự học là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở đại học có tính độc lập cao và mang đậm nét sắc thái cá nhân như có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học” [2].

Trong tập bài giảng chuyên đề Dạy tự học cho SV trong các nhà trường trung học chuyên nghiệp và Cao đẳng, Đại học GS – TSKH Thái Duy Tuyên viết:

“Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học”.

Tác giả Nguyễn Kỳ ở Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 7/ 1998 cũng bàn về

Trang 7

khái niệm tự học: “Tự học là người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp…Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học”

Trong bài phát biểu tại hội thảo Nâng cao chất lượng dạy học tổ chức vào tháng

11 năm 2005 tại Đại học Huế, GS Trần Phương cho rằng: “ Học bao giờ và lúc nào cũng chủ yếu là tự học, tức là biến kiến thức khoa học tích lũy từ nhiều thế hệ của nhân loại thành kiến thức của mình, tự cải tạo tư duy của mình và rèn luyện cho mình kĩ năng thực hành những tri thức ấy”

Từ những quan niệm trên nhận thấy rằng, khái niệm tự học luôn đi cùng, gắn

bó chặt chẽ với khái niệm “tự thân” Tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng của mỗi cánhân chỉ được hình thành bền vững và phát huy hiệu quả thông qua các hoạt động

tự thân ấy Tự học là học với sự tự giác và tích cực ở mức độ cao, là quá trìnhngười học tự tìm ra ý nghĩa của việc học, làm chủ hoạt động học tập của mình Bảnchất của tự học là quá trình chủ thể người học cá nhân hóa việc học nhằm thỏa mãncác nhu cầu học tập, tự giác tiến hành các hoạt động để thực hiện có hiệu quả mụcđích và nhiệm vụ học tập đề ra

b Vị trí, vai trò của tự học

* Vị trí: Tự học là kĩ năng học tập bắt buộc đối với mọi đối tượng học sinh, sinh

viên Tự học còn là kĩ năng sinh tồn của mỗi con người trong cuộc sống Việc tựhọc có thể thực hiện ở bất kì đâu, bất kì thời điểm nào tùy thuộc vào nhu cầu và sựlinh động của người học Theo mục 2 điều 5, chương I của Luật giáo dục Việt Namnăm 2005 quy định “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủđộng, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khảnăng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”

* Vai trò:

- Tự học là mục tiêu cơ bản của quá trình dạy học

Từ lâu các nhà sư phạm đã nhận thức rõ ý nghĩa của phương pháp dạy tự học

Trang 8

Trong quá trình hoạt động dạy học (DH) giảng viên (GV) cần phải định hướng, tổchức cho SV tự mình khám phá ra những quy luật, thuộc tính mới của các vấn đềkhoa học; giúp SV không chỉ nắm bắt được tri thức mà còn biết cách tìm đếnnhững tri thức ấy Thực tiễn cũng như phương pháp dạy học hiện đại còn xác địnhrõ: càng học lên cao thì tự học càng cần được coi trọng, nói tới phương pháp dạyhọc thì cốt lõi chính là dạy tự học Phương pháp tự học là cầu nối giữa học tập vànghiên cứu khoa học SV cần có thói quen nghiên cứu khoa học, mà để có đượcthói quen ấy thì không thể không thông qua con đường tự học Muốn thành côngtrên bước đường học tập và nghiên cứu thì phải có khả năng phát hiện và tự giảiquyết những vấn đề mà cuộc sống, khoa học đặt ra.

- Bồi dưỡng năng lực tự học là phương cách tốt nhất để tạo ra động lực mạnh

mẽ cho quá trình học tập.

Một trong những phẩm chất quan trọng của mỗi cá nhân là tính tích cực, sự chủđộng sáng tạo trong mọi hoàn cảnh Một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáodục là hình thành phẩm chất đó cho người học Có thể xem tính tích cực (hìnhthành từ năng lực tự học) như một điều kiện, kết quả của sự phát triển nhân cáchthế hệ trẻ trong xã hội hiện đại Trong đó hoạt động tự học là những biểu hiện sựgắng sức cao về nhiều mặt của từng cá nhân người học trong quá trình nhận thứcthông qua sự hưng phấn tích cực Mà hưng phấn chính là tiền đề cho mọi hứng thútrong học tập Có hứng thú người học mới có được sự tự giác say mê tìm tòi nghiêncứu khám phá

- Tự học giúp cho mọi người có thể chủ động học tập suốt đời, học tập để

khẳng định năng lực phẩm chất và để cống hiến Tự học giúp con người thích ứngvới mọi biến cố của sự phát triển kinh tế - xã hội Bằng con đường tự học mỗi cánhân sẽ không cảm thấy bị lạc hậu so với thời cuộc, thích ứng và bắt nhịp nhanhvới những tình huống mới lạ mà cuộc sống hiện đại mang đến, kể cả những tháchthức to lớn từ môi trường nghề nghiệp Nếu rèn luyện cho người học có đượcphương pháp, kĩ năng tự học, biết linh hoạt vận dụng những điều đã học vào thực

Trang 9

tiễn thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, nhờ đó kết quả học tập sẽ ngày càng được nângcao.

c Cách hình thức tự học

* Tự học hoàn toàn: là hình thức mà người học hoàn toàn độc lập hoàn thànhcác nhiệm vụ học tập của mình, vai trò của người học là nhân tố trọng yếu nhấttrong quá trình chiếm lĩnh tri thức Hình thức tự học này còn gọi là tự nghiên cứucủa các nhà khoa học

* Tự học có sự điều khiển, chỉ đạo của thầy nhưng không giáp mặt: Hìnhthức tự học này đòi hỏi người học phải có tính tự giác và tính tự lực cao, phải tuânthủ theo chỉ dẫn của thầy Hiệu quả của hình thức tự học này phụ thuộc vào vai tròcủa người hướng dẫn, và vai trò tích cực, chủ động hoàn thành các nhiệm vụ họctập của người học

* Tự học dưới sự tổ chức, chỉ đạo, điều khiển trực tiếp của thầy: Thông quabiện pháp tổ chức, định hướng, thiết kế chỉ đạo của người thầy nhằm giúp chongười học tự tổ chức, tự thiết kế, tự thi công hoạt động học tập của mình bằng hoạtđộng tự nghiên cứu, tự thể hiện, tự kiểm tra, tự điều chỉnh nhằm hoàn thành nhiệm

vụ học tập Kết quả tự học của sinh viên trong hình thức này phụ thuộc vào mốiquan hệ thống nhất biện chứng giữa người dạy và người học, yếu tố đóng vai tròquan trọng là sự tổ chức, chỉ đạo của thầy, yếu tố đóng vai trò quyết định là sự tíchcực, tính tự giác, năng lực tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động tự học của sinh viên

1.1.1.2 Khái quát về câu hỏi, bài tập tự học và các yêu cầu cơ bản

a Quan niệm về câu hỏi, bài tập (CH, BT) tự học

Khái niệm “câu hỏi”, “bài tập” thường được đề cập đến trong các nội dungcủa logic học, tâm lí học, lí luận dạy học và cả ngôn ngữ học Các khái niệm này cókhi được dùng độc lập nhưng có khi lại được đồng nhất với nhau Sau đây là sựphân biệt tương đối hai khái niệm đó

* Câu hỏi tự học

Câu hỏi trong đời thường biểu hiện sự mong muốn tìm tòi, hiểu biết của con

Trang 10

người từ thuở mới bắt đầu tập nói Từ triết học Hi Lạp, bản chất của câu hỏi đãđược nghiên cứu và khẳng định câu hỏi có tầm quan trọng đặc biệt trong hành độngnhận thức của loài người và trong dạy học Câu hỏi là một mệnh đề trong đó chứađựng cái đã biết và cái chưa biết.

CH = cái đã biết + cái chưa biết

Trong dạy học, CH được sử dụng để hướng dẫn quá trình nhận thức củangười học Đó là yêu cầu được đặt ra đòi hỏi người học phải giải quyết bằng lời

giải đáp Câu hỏi tự học được thiết kế cho người học cần vừa đảm bảo người học nghiên cứu tài liệu để nắm được những tri thức cơ bản (câu hỏi thông thường: trình bày, nêu, chỉ ra) đồng thời vừa có những câu hỏi tích cực hóa hoạt động của người học (phân tích, chứng minh, giải thích, khái quát hóa, tổng hợp, sơ đồ hóa).

* Bài tập tự học

Theo tác giả Trần Thị Bích Liễu: Bài tập là nhiệm vụ học tập giáo viên đặt

ra cho người học buộc người học phải vận dụng các kiến thức đã biết hoặc các kinhnghiệm thực tiễn, sử dụng các hành động trí tuệ hay hành động thực tiễn để giảiquyết các nhiệm vụ nhằm chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng một cách tích cực, hứng thú

và sáng tạo

Bài tập chỉ ra một định hướng nhận thức cho người học để người học hướngtới việc tìm hiểu, sử dụng vốn hiểu biết tri thức, định hướng bổ sung thêm nhữngkiến thức mới từ tài liệu học tập Trên cơ sở đó bằng năng lực tư duy, vốn kinhnghiệm của mỗi cá nhân tạo ra những tiềm lực mới nhận thức được vấn đề đặt ra vànhư vậy người học đã tiếp thu được một lượng tri thức mới từ bài tập Như vậy bàitập là hiện tượng khách quan đối với người học, do giáo viên thiết kế hoặc trong tàiliệu học tập

Bài tập tự học bao gồm các bài tập củng cố kiến thức lí thuyết đã học (kiểm tra, đánh giá, phát hiện) và cả những bài tập tích cực hóa hoạt động và nhu cầu tự học của người học.

b Vai trò của CH, BT trong quá trình hướng dẫn tự học

Trang 11

CH, BT tự học có vai trò quan trọng trong quá trình tự học của SV bởi trướcmột nội dung kiến thức, nếu người học được định hướng, dẫn dắt bằng những yêucầu cụ thể, chi tiết, rõ ràng thì việc chiếm lĩnh sẽ tri thức sẽ trở nên thuận lợi hơn.Cùng một đơn vị kiến thức nhưng nếu GV đưa ra những câu hỏi kích thích nhu cầuhọc tập của người học, đưa ra những yêu cầu phù hợp với khả năng và khơi dậyđược sự sáng tạo của người học; thiết kế những bài tập đa dạng, phong phú; cóhướng dẫn chi tiết về cách làm, địa chỉ tài liệu tham khảo, cách nghiệm thu kếtquả thì sẽ tạo ra hứng thú cho người học trong việc thực hiện các nhiệm vụ tựhọc Cụ thể, CH, BT tự học có vai trò nhất định trong các khâu của quá trình họctập:

- Trước buổi học: thực hiện câu hỏi tự học cho phần chuẩn bị bài giúp người họcnắm và hiểu được một phần nội dung kiến thức bài học đồng thời có thể đưa ranhững điều thắc mắc chưa rõ Việc làm này giúp cho việc lĩnh hội tri thức ở trênlớp được ghi nhớ lâu và hiểu bài sâu hơn

- Trong buổi học: nghiên cứu những câu hỏi, vấn đề GV đưa ra, thảo luận nhómgiúp SV củng cố kiến thức bài học

- Sau buổi học: CH, BT tự học giúp SV hệ thống lại nội dung kiến thức đã học, đàosâu, tìm tòi, vận dụng để kiến thức một lần nữa được củng cố

c Phân loại CH, BT tự học

Có nhiều quan niệm và cách thức phân loại dạng CH-BT Trong đề tàinghiên cứu, chúng tôi dựa theo hai theo quan niệm phân loại CH, BT đó là: phânloại dựa vào mục đích dạy học và dựa các hình thức diễn đạt

* Phân loại dựa vào mục đích lý luận dạy học, CH-BT được chia thành 3 loạichính:

- Loại câu hỏi dùng đề dạy bài mới: Là loại câu hỏi dùng để tổ chức, hướngdẫn học sinh nghiên cứu tài liệu mới Người học thực hiện câu hỏi nhằm chiếm lĩnhtri thức mới Mỗi nội dung câu hỏi dạy bài mới cần phải được mã hóa nội dung

Trang 12

kiến thức Trong những trường hợp cần thiết GV có thể thêm những câu hỏi phụgợi ý.

- Loại câu hỏi để củng cố, hoàn thiện kiến thức: Được thiết kế dựa trên nhữngtri thức đã có của người học nhưng các kiến thức đó còn rời rạc, tản mạn chưathành hệ thống Do đó những câu hỏi có tác dụng củng cố kiến thức đã học đồngthời khái quát và hệ thống hóa kiến thức đó, rèn luyện các thao tác tư duy pháttriển

- Loại câu hỏi dùng để ôn tập, kiểm tra, đánh giá: Dùng sau khi kết thúc mộtbài học, một chương hoặc một đơn vị kiến thức

* Phân loại dựa vào các hình thức diễn đạt, CH-BT được chia thành 2 loại chính:

- CH tự luận (trắc nghiệm chủ quan): là dạng dùng những câu hỏi mở, yêucầu người học xây dựng câu trả lời

- CH trắc nghiệm khách quan: là dạng CH trong đó đáp án kèm sẵn câu trảlời Loại CH này cung cấp cho người học một phần hay tất cả thông tin cần thiết vàyêu cầu người học phải chọn câu trả lời hoặc điền thêm vào chỗ trống Đây là CHđóng, được xem là khách quan vì đảm bảo tính khách quan khi đánh giá, không phụthuộc ý kiến đánh giá của người chấm Một số dạng CH trắc nghiệm khách quan:+ Câu hỏi đúng – sai

+ Câu hỏi nhiều lựa chọn

+ Câu hỏi điền khuyết

d Các bước xây dựng CH-BT và hướng dẫn tự học

* Bước 1: Xác định nội dung kiến thức trọng tâm của chương, mục; xác định

các năng lực và kĩ năng cần hình thành cho sinh viên khi học học phần nói chung

và từng nội dung kiến thức nói riêng

* Bước 2: Xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập và hướng dẫn tự học cho từngphần nội dung kiến thức (có thể xây dựng theo chương, mục) theo cách: khảo sát hệthống câu hỏi, bài tập trong Tài liệu học tập; điều chỉnh, bổ sung, mở rộng các yêucầu theo mục đích của người dạy Biên soạn câu hỏi/bài tập minh họa cho các mức

Trang 13

độ đã mô tả Với mỗi mức độ/loại câu hỏi/bài tập cần biên soạn nhiều câu hỏi/bàitập để minh họa.

* Bước 3: Giao câu hỏi, bài tập cho người học; yêu cầu cụ thể về hình thức tựhọc (cá nhân, nhóm, ); yêu cầu cụ thể về cách thực hiện (trong vở tự học/ trên đồdùng học tập); yêu cầu cụ thể về cách nghiệm thu, kiểm tra, đánh giá kết quả (trìnhbày trước lớp; thu vở kiểm tra; chấm bài bất kì; hỏi đáp )

* Bước 4: Kiểm tra bằng nhiều hình thức khác nhau để đánh giá kết quả tự học

1.1.2 Khái quát học phần Tiếng Việt nâng cao

Học phần Tiếng Việt nâng cao là môn chuyên ngành, cung cấp những kiến

thức cơ sở mang tính nâng cao, mở rộng nội dung Tiếng Việt dành cho sinh viênngành Giáo dục Tiểu học năm thứ 3 Phân bổ thời gian cho toàn bộ học phần là 135tiết trong đó 45 giờ GV giảng dạy trên lớp và 90 giờ tự học của SV

Mục tiêu cơ bản của môn học là ngoài việc cung cấp những kiến thức về ngữnghĩa và ngữ dụng tiếng Việt; những vấn đề khái quát về từ Hán Việt sinh viên cònđược hình thành và rèn luyện kĩ năng tự học, nhờ việc tự học để lĩnh hội tri thứcmột cách sâu sắc Nội dung kiến thức và thời gian tự học của mỗi đơn vị kiến thứcđược cụ thể trong chương trình chi tiết môn học như sau:

dạy trên lớp

Giờ SV tự học

Tỉ lệ (%) giờ tự học

Lý thuyết

Thực hành

1 Chương I Một số vấn đề về ngữ nghĩa và ngữ

dụng

I Ngữ cảnh và việc phân tích ngữ nghĩa 4 2 12 200%

II Bổ túc vốn từ Hán Việt qua một số bài thơ,

văn

Trang 14

III Một số vấn đề cơ bản về từ Hán - Việt

trong sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học

tự học trong TLHT cần có những bổ sung, điều chỉnh và chi tiết hóa, hướng dẫn cụthể về thời điểm thực hiện từng nhiệm vụ tự học cho sinh viên

2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

2.2.1 Khảo sát về hệ thống câu hỏi, bài tập trong TLHT

Học phần Tiếng Việt nâng cao gồm 2 chương: Chương 1: Một số vấn đề vềngữ nghĩa và ngữ dụng; chương 2: Từ Hán Việt Cuối mỗi chương đều có hệ thốngCH-BT hướng dẫn SV tự học, tuy nhiên, qua khảo sát và thực tế giảng dạy, tôi cómột số nhận xét như sau:

- Khảo sát hệ thống CH-BT trong TLHT chương 1 có tổng số 24 CH-BT tựhọc giúp SV nắm được và củng cố những nội dung kiến thức cơ bản của chương

Hệ thống CH-BT đáp ứng tương đối đầy đủ, khoa học, diễn đạt rõ ràng Tuy nhiênnội dung một số câu hỏi còn chưa chi tiết, chưa chỉ dẫn cụ thể và yêu cầu SV lấy vídụ; cùng một nội dung kiến thức nhưng lại có nhiều câu hỏi hoặc có những nộidung kiến thức trọng tâm, phức tạp lại chưa có hệ thống bài tập chi tiết, nâng cao

để SV tự học như các câu: 2, 3, 5, 6, 8, 10, 11 Một số bài tập còn đơn giản, đơnđiệu chưa phù hợp với khả năng của SV và chưa chú trọng vào tính “nâng cao” củamôn học: phần 3 bình diện của câu chỉ có 1 BT19 (tr.364) tuy nhiên các câu trong

Trang 15

BT còn đơn giản, chưa sát với nội dung ra đề thi các năm, nên bổ sung những dạngcâu khác nhau để SV được làm quen.

- Một số nội dung kiến thức phức tạp thì chưa có lượng bài tập phù hợp, ngữliệu còn hạn chế: Nội dung nghĩa của từ trong ngữ cảnh là nội dung được dạy nhiềutrong chương trình TV tiểu học nhưng trong GT chỉ có 1 BT (bài 17, 20) Một sốbài tập có ngữ liệu chưa đầy đủ, rõ ràng, gây khó khăn cho việc tự học của SV: Bài

23 (trang 366) Khi SV thi kết thúc học phần, ngữ liệu thường nằm trong chươngtrình TV tiểu học, vì vậy ngữ liệu hướng dẫn SV tự học cũng nên lấy trong CT TV

để SV không bỡ ngỡ khi làm bài: Bài 18 (trang 363)

- Chưa có chỉ dẫn chi tiết về hệ thống câu hỏi, bài tập dành cho từng thờiđiểm lên lớp: chuẩn bị trước giờ học; câu hỏi gợi mở trong giờ và CH, BT củng cốsau giờ học

- Chưa có những yêu cầu cụ thể về phần CH- BT bắt buộc sẽ có sự hỗ trợ,hướng dẫn và chữa bài của GV; có những CH, BT SV tự học một cách hoàn toàn

- Chương 2: Nội dung lí thuyết của chương 2 xoay quanh chuyên đề về TừHán Việt Mục đích giúp sinh viên hiểu được thế nào là từ Hán Việt, cách nhậndiện, giải nghĩa và sử dụng từ Hán Việt Hệ thống câu hỏi, bài tập trong Tài liệukhá chi tiết, cụ thể, đặc biệt phần lí thuyết mở rộng vốn từ Hán Việt qua được cáctác giả trình bày chi tiết chính là những gợi ý quan trọng giúp sinh viên tự học, tựnghiên cứu làm giàu vốn từ Hán Việt cho bản thân Tuy nhiên, chính bởi Tài liệu

đã viết rất chi tiết khi giải nghĩa các yếu tố Hán Việt trong các văn bản nên sinhviên thường dựa vào sách mà không chịu tìm hiểu thêm Bởi vậy, cần có cáchhướng dẫn tự học trên cơ sở những điều tài liệu đã viết để SV không ỷ lại vào sách

mà vẫn cần phải tìm hiểu thêm các yếu tố khác trong bài, yêu cầu đặt câu để SVnắm chắc hơn nội dung ngữ nghĩa của từ

2.2.2 Khảo sát về việc hướng dẫn sinh viên tự học của giảng viên

Để có những cơ sở thực tiễn về việc cần thiết khi thiết kế hệ thống CH, BTcho học phần Tiếng Việt nâng cao, tôi tiến hành khảo sát trên 4 giảng viên trong tổ

Trang 16

Văn, khoa GD Tiểu học – Mầm non đã và đang giảng dạy học phần Tiếng Việtnâng cao theo học chế tín chỉ hệ Cao đẳng và Cao đẳng Liên thông Nội dung câuhỏi khảo sát của tôi xoay quanh các vấn đề về: nhận xét của giảng viên về hệ thống

CH, BT trong TLHT; cách giảng viên hướng dẫn SV tự học; hệ thống CH, BTgiảng viên sử dụng hướng dẫn SV tự học, đánh giá của giảng viên về ý thức tự họccủa SV và những thuận lợi, khó khăn của giảng viên khi hướng dẫn SV tự học cũngnhư những giải pháp cụ thể của giảng viên để việc tự học của SV đạt hiệu quả Sauđây là hệ thống câu hỏi và kết quả khảo sát

2.2.2.1 Nội dung câu hỏi khảo sát

PHIẾU LẤY Ý KIẾN GIÁO VIÊN

VỀ VIỆC HƯỚNG DẪN SINH VIÊN TỰ HỌC THEO HỆ THỐNG

CÂU HỎI, BÀI TẬP TRONG TÀI LIỆU HỌC TẬP

Câu 1: Khi giảng dạy học phần Tiếng Việt nâng cao, đồng chí đã sử dụng hệ thống câu hỏi, bài tập trong TLHT để hướng dẫn sinh viên tự học như thế nào?

a Sử dụng toàn bộ hệ thống câu hỏi ôn tập, bài tập và hướng dẫn tự học trongTài liệu học tập để hướng dẫn và giao nhiệm vụ cho sinh viên

b Sử dụng có lựa chọn hệ thống câu hỏi, bài tập trong Tài liệu học tập để giaonhiệm vụ và hướng dẫn sinh viên tự học

c Sử dụng có lựa chọn một số câu hỏi, bài tập trong Tài liệu học tập; bổ sung cáccâu hỏi, bài tập nhằm phù hợp với đối tượng người học

d Không sử dụng hệ thống câu hỏi bài tập trong TLHT, xây dựng lại bộ câu hỏi,bài tập hướng dẫn tự học cho sinh viên với từng nội dung

Trang 17

b Sử dụng câu hỏi trong tài liệu, có lựa chọn, chỉnh sửa, bổ sung theo từng

chương, giao cho sinh viên từ đầu mỗi khi bắt đầu một chương

c Sử dụng câu hỏi và bài tập trong tài liệu giao cho sinh viên theo nội dung buổi học, giao trước buổi học 1 tuần

a Đầy đủ, khoa học, đảm bảo nội dung kiến thức, không cần bổ sung, điều chỉnh

b Đầy đủ, khoa học, đảm bảo những nội dung kiến thức cơ bản, tuy nhiên cần bổsung một số câu hỏi, bài tập và hướng dẫn tự học chi tiết hơn

c Một số đơn vị kiến thức còn hạn chế về câu hỏi, bài tập

d Ý kiến khác:

Câu 5: Khi giao nhiệm vụ và hướng dẫn sinh viên tự học, đồng chí thấy có những thuận lợi và khó khăn gì? Đồng chí đã có giải pháp như thế nào để việc tự học của sinh viên đạt hiệu quả?

2.2.2.2 Kết quả khảo sát

a

Tỉ lệ (%)

ĐA b Tỉ lệ ĐA

c

Tỉ lệ (%)

ĐA d

Tỉ lệ (%)

Ý kiến khác

Tỉ lệ (%)

Trang 18

Kết quả khảo sát trên cho thấy đa số giảng viên đều có những đánh giá chung về

bộ câu hỏi, bài tập trong TLHT là đầy đủ, đảm bảo nộ dung kiến thức cơ bản nhưngcần bổ sung một số câu hỏi, bài tập và hướng dẫn tự học chi tiết hơn Cũng xuấtphát từ nhận xét đó mà đa số giảng viên khi giảng dạy nội dung Tiếng Việt nângcao đều sử dụng có lựa chọn một số câu hỏi, bài tập trong TLHT; bổ sung CH-BT

và điều chỉnh, hướng dẫn chi tiết nhiệm vụ tự học để phù hợp với đối tượng SV

Trong câu 5 khi phỏng vấn về những thuận lợi và khó khăn trong việc giaonhiệm vụ hướng dẫn sinh viên tự học và những giải pháp giảng viên đã thực hiện

để việc tự học của sinh viên đạt hiệu quả, đa số các ý kiến thu được đều xoay quanhmột số ý sau:

* Thuận lợi:

- Nhiệm vụ tự học cụ thể, vừa sức với sinh viên;

- Tài liệu học tập và tham khảo nhiều, dễ tìm và dễ sử dụng; một số SV có ý thức tựgiác trong học tập;

- SV nhận thức rõ nhiệm vụ, yêu cầu tự học khi GV hướng dẫn; SV các lớp VB2,CĐLT có trình độ tương đối đồng đều và chủ động, tích cực lĩnh hội kiến thức nênrất tự giác thực hiện các nhiệm vụ học tập

* Khó khăn:

- SV chưa thực sự chủ động, tích cực, tự giác trong nhiệm vụ học tập;

- SV chưa có tinh thần tương trợ, hợp táp khi làm việc nhóm;

- SV học các lớp cuối tuần (VB2, CĐLT) nên thời gian chuẩn bị cho các nhiệm vụ

tự học còn hạn chế

- Tiếng Việt nâng cao là một học phần khó, cần có thêm những ngữ liệu mở cho SVtham khảo

Trang 19

* Giải pháp:

- Cung cấp thêm những bài tập, ngữ liệu, những quan điểm lí thuyết khác có liênquan đến nội dung học phần giúp người học có cái nhìn toàn diện và sâu sắc về nộidung được học;

- Hướng dẫn cụ thể, chi tiết từng nhiệm vụ học tập, đưa ra yêu cầu về sản phẩm đạtđược;

- Thường xuyên giám sát, hỗ trợ kịp thời khi SV gặp khó khăn, có thể điều chỉnhyêu cầu của nhiệm vụ học tập nếu thấy quá sức đối với SV;

- Tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả tự học của SV; nghiêm khắc đánh giá kếtquả tự học bằng điểm số hàng tuần trên lớp

2.2.3 Khảo sát và nhận xét về việc tự học của sinh viên

2.2.3.1 Nội dung khảo sát

Ngoài việc khảo sát đối với GV, tôi cũng tiến hành khảo sát đối với SV vềnhững câu hỏi xoay quanh việc tự học của các em Việc khảo sát được thực hiệnsau 2 tuần học khi chưa có sự điều chỉnh, bổ sung của GV, SV tiến hành tự họchoàn toàn trên hệ thống CH-BT và hướng dẫn tự học trong TLHT Sau đây là nộidung 5 câu hỏi khảo sát 55 SV lớp CĐTH 36E do tôi trực tiếp giảng dạy:

PHIẾU KHẢO SÁT KHẢ NĂNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN THEO HỆ

THỐNG CÂU HỎI, BÀI TẬP TRONG TÀI LIỆU HỌC TẬP

Anh (chị) hãy khoanh tròn vào câu trả lời đúng với mình.

Câu 1: Anh (chị) có thể tự học một cách hiệu quả dựa vào những câu hỏi, bài tập và hướng dẫn tự học trong Tài liệu học tập không?

a Hoàn toàn có thể tự học và đạt hiệu quả

b Có thể tự học để nắm được một phần kiến thức nhưng còn một số nội dung chưathật hiểu

c Có tự học nhưng chưa thật hiểu, cần sự hướng dẫn chi tiết hơn

d Không có nhu cầu tự học nên thường không thực hiện hoặc thực hiện chống đối

e Ý kiến khác:

Trang 20

Câu 2: Nội dung câu hỏi, bài tập và hướng dẫn tự học trong TLHT có đáp ứng được mục tiêu, nhiệm vụ học tập và phù hợp với khả năng của anh (chị) chưa?

a Đáp ứng đầy đủ mục tiêu, nhiệm vụ học tập và phù hợp với khả năng

b Còn một số nội dung kiến thức chưa có câu hỏi và hướng dẫn học tập cụ thể

c Đã đáp ứng được phần nào mục tiêu, nhiệm vụ môn học nhưng cần bổ sungthêm một số câu hỏi, bài tập và hướng dẫn tự học chi tiết hơn

d Chưa đáp ứng được mục tiêu, nhiệm vụ và chưa phù hợp với khả năng

a Rất tốt, có thể tự nghiên cứu không cần sự hướng dẫn của giáo viên

b Bình thường, cần sự định hướng của giáo viên

c Chưa tốt, cần sự giúp đỡ của giáo viên

d Kém, cần giáo viên giảng giải cặn kẽ

ĐA b

Tỉ lệ (%)

ĐA c Tỉ lệ

(%)

ĐA d

Tỉ lệ (%)

Ý kiến khác

Tỉ lệ (%)

2.2.3.3 Nhận xét

Trang 21

Dựa trên số liệu khảo sát, tôi có một số nhận xét như sau:

- Có 50.9% số SV được khảo sát trả lời là: có thể tự học theo hệ thống CH,

BT và hướng dẫn tự học trong TLHT để nắm được một phần kiến thức nhưng còn một số nội dung chưa thật hiểu; 36.4% trả lời là có tự học nhưng chưa thật hiểu, cần sự hướng dẫn chi tiết hơn; có 9.1% trả lời là không có nhu cầu tự học nên thường không thực hiện hoặc thực hiện chống đối và chỉ có 3.6% cho rằng mình

hoàn toàn có thể tự học và đạt hiệu quả nhưng lại có ý kiến khác là vẫn còn một sốbài tập chưa hiểu

- Nhận xét vê nội dung câu hỏi, bài tập và hướng dẫn tự học trong TLHT cóđáp ứng được mục tiêu, nhiệm vụ học tập và phù hợp với khả năng của bản thân

chưa thì có 45.45% SV chọn đáp án b: còn một số nội dung kiến thức chưa có câu hỏi và hướng dẫn học tập cụ thể; 49.1% câu trả lời cho rằng đã đáp ứng được phần

nào mục tiêu, nhiệm vụ môn học nhưng cần bổ sung thêm một số câu hỏi, bài tập

và hướng dẫn tự học chi tiết hơn

- Về kĩ năng tự học của SV đối với môn học: 65.5% số SV tự nhận là: Bình thường, cần sự định hướng của giáo viên và 32.7% là chưa tốt và cần sự giúp đỡ của giáo viên.

- Về thuận lợi và khó khăn trong quá trình tự học đa số SV có những ý kiếngiống nhau đó là:

+ Thuận lợi: hệ thống CH, BT nhiều, phong phú; các tài liệu tham khảo đa dạng; cóthể trao đổi và làm việc nhóm

+ Khó khăn: chưa biết cách tự học hiệu quả; nhiều bài tập nên không hoàn thành;một số yêu cầu trong TLHT còn lặp và chưa rõ

- Về đề xuất với giáo viên: đa số SV muốn giảm lượng CH, BT tự học để hoànthành các môn học khác

Khi xem xét nguyên nhân của những khó khăn và nguyện vọng trên, tôi nhậnthấy bản thân SV chưa có kế hoạch tự học khoa học, chưa có nhu cầu tự học thiếtthực và cũng chưa dành thời gian tự học xứng đáng cho môn học SV đi làm thêm

Trang 22

nhiều, dành nhiều thời gian cho các hoạt động vui chơi, giải trí; chưa nhận thứcđược sâu sắc ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng cũng như trách nhiệm của bản thântrong việc tự học, tự bồi dưỡng kiến thức và hoàn thiện bản thân Nhiều SV có tưtưởng học để thi nên còn nặng vấn đề điểm số và trọng tâm học những nội dungdùng đề thi nên còn lơ là và coi nhẹ các nội dung học tập khác.

Với kết quả khảo sát trên, tôi cho rằng việc thiết kế hệ thống CH-BT gọn,đúng, trúng kết hợp mở rộng và bổ sung các dạng bài tập khác nhau, các hình thứcđánh giá khác nhau và hướng dẫn tự học cụ thể là vấn đề đáng để nghiên cứu vàthực hiện giúp SV hứng thú với việc tự học và nhờ thế hiệu quả tự học cũng đượcnâng cao

CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ HỆ THỐNG CÂU HỎI, BÀI TẬP VÀ

HƯỚNG DẪN TỰ HỌC HỌC PHẦN TIẾNG VIỆT NÂNG CAO

2.1 Câu hỏi, bài tập và hướng dẫn tự học chương 1: Một số vấn đề ngữ nghĩa

Trang 23

Câu 2: Nêu các cách phân tích nghĩa của từ theo ngữ cảnh Lấy ví dụ minh họa cho

từng cách phân tích đó

Câu 3: Lập bảng so sánh về các bình diện của từ trong từ điển với từ trong hoạt

động giao tiếp

2.1.1.2 Bài tập

Bài 1: Dựa vào ngữ cảnh để tìm nghĩa của từ “xanh” trong câu chuyện sau:

Một con cáo nhìn thấy chùm nho chín mọng liền tìm cách hái chúng Nhưng loay hoay mãi, cáo ta vẫn không với tới được chùm nho Để dẹp nỗi bực mình, Cáo bèn nói:

- Nho còn xanh lắm.

(Theo Ngụ ngôn Ê – dốp)

Bài 2: Chỉ ra sự biến đổi của từ trong hoạt động giao tiếp (về bình diện ngữ âm,

cấu tạo, ngữ pháp hoặc ngữ nghĩa) của những từ in đậm trong ví dụ dưới đây:

a) Trời thu thay áo mới

Trong biếc nói cười thiết tha

(Nguyễn Đình Thi)

b) Ngoài thềm rơi chiếc lá đa

Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng.

(Trần Đăng Khoa)

c) Xanh cây, xanh cỏ, xanh đổi

Xanh rừng, xanh núi, da giời cũng xanh.

(Nguyễn Bính)

d) Song sa vò võ phương trời

Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng.

(Nguyễn Du)

e) Kĩ thuật tranh làng Hồ đã đạt tới sự trang trí tinh tế: những bộ tranh tố nữ áo

màu, quần hoa chanh nền đen lĩnh của một thứ màu đen rất Việt Nam.

Trang 24

g) Rứa là hết! Chiều ni em đi mãi

Còn mong chi ngày trở lại Phước ơi!

Quên làm sao, em hỡi, lúc chia phôi

Bởi khác cảnh, hai đứa mình nghẹn nói.

(Tố Hữu)

Bài 3: Dựa vào ngữ cảnh, chỉ ra nghĩa của các từ được in đậm trong mỗi câu dưới

đây Nêu rõ vai trò của ngữ cảnh đối với việc xác định nghĩa của từ

a) Chỉ trong vài hôm mà chim chóc ở khu rừng nằm dọc bên một cái hồ lớn đã về

đông đủ.

b) Vì việc quân cấp bách, Trần Hưng Đạo đành để voi ở lại Voi chảy nước mắt

nhìn vị chủ tướng ra đi.

c) Những cơn gió sớm đẫm mùi hồi.

d) Nhà ai vừa chín quả đầu

Đã nghe xóm trước vườn sau thơm lừng.

e) Những trưa hè đầy nắng

Trâu nằm nhai bóng râm

Tre bần thần nhớ gió

Chợt về đầy tiếng chim.

g) Tiếng chim nghe thánh thót

Văng vẳng khắp cánh đồng

h) Ngọt bùi nhớ lúc đắng cay

Ra sông nhớ suối, có ngày nhớ đêm

Đời ta gương vỡ lại lành

Cây khô cây lại đâm cành nở hoa.

i) Mình về với Bác đường xuôi

Thưa giùm Việt Bắc không nguôi nhớ Người.

k) Những vạt nương màu mật

Lúa chín ngập lòng thung.

Trang 25

l) Những người Giáy, người Dao

Đi tìm măng, hái nấm

Vạt áo chàm thấp thoáng

Nhuộm xanh cả nắng chiều.

Bài 4: Dựa vào ngữ cảnh của bài thơ “Rắn đầu biếng học”, hãy chỉ ra các từ đồng

âm được sử dụng trong văn bản và chỉ rõ nghĩa của các từ đồng âm đó

Chẳng phải liu điu cũng giống nhà

Rắn đầu biếng học lẽ không tha

Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ

Nay thét mai gầm rát cổ cha

Ráo mép chỉ quen tuồng nói dối

Lằn lưng cam chịu dấu roi da

Từ nay Trâu Lỗ xin gắng học

Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia.

Bài 5: Chỉ ra nghĩa biểu cảm của các từ, cụm từ được in đậm trong các ví dụ dưới

đây Nêu ý nghĩa của việc sử dụng những từ ngữ biểu cảm đó

a) Trâu ăn cho no

Cỏ non ngọt xớt

Nước mương trong vắt

Mời trâu xuống đầm

b) Lông vàng mát dịu

Mắt đen sáng ngời

Ơi chú gà ơi

Ta yêu chú lắm!

c) Việt Nam đất nước ta ơi

Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn!

d) Trời xanh đây là của chúng ta

Núi rừng đây là của chúng ta

Trang 26

Những cánh đồng thơm mát

Những ngả đường bát ngát

Những dòng sông đỏ nặng phù sa.

2.1.1.3 Hướng dẫn tự học

Câu 1: Ngữ cảnh là gì? Nêu vai trò của ngữ cảnh.

* Yêu cầu: Đọc TL tr.336 – 340 Sơ đồ hóa vào vở tự học

* Gợi ý:

- Ngữ cảnh là toàn bộ các nhân tố giao tiếp Ngữ cảnh vừa bao gồm các tình huốnggiao tiếp trong hiện thực vừa bao gồm các văn cảnh trong văn bản (các từ ngữ vàcâu văn hiện diện trong văn bản)

- Vai trò của ngữ cảnh: Ngữ cảnh có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hiệnthực hóa nghĩa của từ:

+ Ngữ cảnh hiện thực hóa nghĩa của từ đồng âm;

+ Ngữ cảnh hiện thực hóa nghĩa của từ nhiều nghĩa;

+ Ngữ cảnh góp phần mở rộng nghĩa của từ;

+ Ngữ cảnh góp phần thu hẹp nghĩa của từ;

+ Ngữ cảnh góp phần tạo nên nét nghĩa mới cho từ

Câu 2: Nêu các cách phân tích nghĩa của từ theo ngữ cảnh Lấy ví dụ minh họa cho

từng cách phân tích đó

* Yêu cầu: Đọc TLHT trang 340 – 341

* Gợi ý:

- Các cách phân tích nghĩa của từ theo ngữ cảnh:

+ Xác định nghĩa của các từ đồng âm trong ngữ cảnh Ví dụ: Dựa vào ngữ cảnh của

câu “Một nghề cho chín(1) còn hơn chín (2) nghề”, có thể xác định được từ chín (1) là tính từ, chỉ sự giỏi giang, chín muồi; chín (2) là số từ, ý chỉ nhiều nghề.

+ Xác định nghĩa trong ngữ cảnh của từ nhiều nghĩa Ví dụ: Dựa vào ngữ cảnh

trong câu thơ “Mùa xuân(1) là Tết trồng cây/ Làm cho đất nước càng ngày càng xuân(2)” có thể xác định nghĩa của từ xuân (1) là danh từ, chỉ mùa xuân – mùa đầu

Trang 27

tiên trong năm; xuân (2) là tính từ, chỉ sự tươi trẻ, phát triển, khởi đầu, tốt đẹp Hai nghĩa này có liên quan với nhau vì từ xuân (2) vẫn giữ nét nghĩa của xuân (1) là chỉ

sự tươi trẻ, khởi đầu

+ Phân tích nghĩa biểu cảm của từ Ví dụ: Trong câu thơ: “Em vui em hát/ Hạt vànglàng ta”, giọng điệu vui tươi của câu thơ kết hợp với các từ “vui”, “hát”, “hạt vàng”

đã thể hiện niềm vui, niềm tự hào của tác giả về hạt gạo quê hương Hạt gạo quýnhư hạt vàng – hình ảnh ẩn dụ thể hiện sự trân trọng và lòng biết ơn sâu lặng vớihạt gạo

Câu 3: Lập bảng so sánh về các bình diện của từ trong từ điển với từ trong hoạt động giao tiếp.

Các bình diện Từ trong từ điển Từ trong hoạt động giao tiếp

VD: thay đổi trật tự (đấu tranh

=> tranh đấu; thay đổi => đổi thay, son sắt => sắt son ); viết tắt (Cao đẳng Sư phạm – CĐSP, Bộ Giáo dục và Đào tạo – Bộ GD&ĐT)

- Hình thức cấu tạo của từ cóbiến đổi ở mức độ nhất địnhnhưng không làm thay đổi ýnghĩa và bản chất ngữ pháp củatừ

Ở bình diện nghĩa VD: Từ “đánh” trong Từ

điển tiếng Việt của tác giả

Hoàng Phê được xác định là

VD: Trong câu thơ: “Đoànthuyền đánh cá lại ra khơi,/ Câuhát căng buồm cùng gió khơi”,

Trang 28

có 27 nghĩa.

- Nghĩa của từ trong từ điển

có tính cố định, ổn định

Một từ có thể có nhiềunghĩa

căn cứ vào ngữ cảnh, chúng ta

sẽ chỉ thấy nghĩa thứ 18 của từ

“đánh” được hiện thực hóa đólà: làm cho sa vào lưới, bẫy đểbắt

- Nghĩa của từ có sự biến đổi vàchuyển hóa, nghĩa của từ đượchiện thực hóa, được quy chiếuvào một đối tượng cụ thể, xácđịnh

Ở bình diện ngữ

pháp

VD: từ “suy nghĩ” khi đứgđộc lập mang ý nghĩa ngữpháp là chỉ hoạt động vì vậyđược xếp vào động từ

- Từ trong từ điển thuộcnhững loại ý nghĩa ngữpháp nhất định và những ýnghĩa ngữ pháp này cũngmang tính cố định

VD:

- Tôi đang suy nghĩa (1)

- Những suy nghĩ của anh ấy chưa đúng (2)

=> Từ suy nghĩ trong câu (1) làđộng từ nhưng trong câu (2) lạitrở thành danh từ vì kết hợp với

từ “những”

- Trong hoạt động giao tiếp,những đặc điểm ngữ pháp của

từ cũng có sự chuyển hóa vàbiến đổi

Ở bình diện

phong cách chức

năng

VD: thẳng tay, cướp không, là những từ ngữ

dùng trong phong cách sinh

hoạt; dân chủ, chính trị, tuyên truyền, yêu nước là

những từ ngữ thường dùng

VD: Trong “Tuyên ngôn độclập” (văn bản chính luận), chủtịch Hồ Chí Minh đã sử dụngmột số từ thuộc phong cách sinh

hoạt: “Chúng thẳng tay chém

giết những người yêu nước ”,

Trang 29

trong phong cách chínhluận.

- Trong mỗi loại phongcách chức năng có quy địnhriêng về việc sử dụng từngữ Mỗi phong cách chứcnăng sẽ sử dụng một số từngữ nhất định, thể hiện đặctrưng của phong cách chứcnăng đó

“chúng cướp không ruộng đất,

hầm mỏ ”

- Trong giao tiếp, đôi khi đểthực hiện một mục đích nào đó,người viết có thể sử dụng từngữ ở phong cách chức năngnày trong phong cách chứcnăng khác

a) Từ áo mới với nghĩa thông thường là chỉ một trang phục mặc trên của người và

vẫn còn mới Trong câu thơ, từ áo mới có sự biến đổi về nghĩa ý chỉ bầu trời mùa

thu ngày chiến thắng

- Trật tự thông thường: cười nói, tha thiết => trong câu thơ: nói cười, thiết tha =>

tạo âm điệu tươi vui, tha thiết và tình cảm hân hoan của tác giả

b) mỏng trong từ điển có nghĩa là “có bề dày nhỏ hơn bình thường hoặc nhỏ hơn

vật khác” => “mỏng” trong câu thơ: nghĩa là “nhẹ” => biến đổi về nghĩa

c) da giời: biến đổi ngữ âm (trong từ điển: trời) => cách nói chân quê, dân dã trong

thơ Nguyễn Bính

d) hôn hoàng: biến đổi về bình diện cấu tạo => trật tự thông thường: hoàng hôn =>

Tác dụng: thể hiện sự luân chuyển liên tục của thời gian, tâm trang vò võ của ThúyKiều đồng thời cũng tạo ra cách nói mới lạ

Trang 30

e) Việt Nam vốn là một danh từ chỉ tên nước nhưng trong câu văn của Nguyễn

Tuân, bình diện ngữ pháp của từ đã thay đổi trở thành tính từ do kết hợp với phụ từchỉ mức độ “rất” đồng thời thể hiện tính chất của màu đen: một màu đen rất ViệtNam nghĩa là một màu đen rất khác, rất riêng và đặc biệt – màu đen tự nhiên đượctạo nên bởi than của lá tre mùa thu rụng lá

g) rứa: thế, ni: nay, chi: gì => biến đổi ở bình diện ngữ âm => tạo âm hưởng địa

phương, quê hương; cách nói gần gũi, tình cảm giữa tác giả và nhân vật

Bài 3:

* Yêu cầu: xem lí thuyết mục 1.1.2 trong TLHT, trang 337

* Gợi ý:

a) Nghĩa của từ chim chóc: chỉ các loài chim trong khu rừng nằm dọc bên hồ =>

Vai trò của ngữ cảnh: cụ thể nghĩa của từ

b) voi: chỉ con voi của Trần Hưng Đạo => vai trò: cụ thể nghĩa của từ.

+ Nghĩa ngoài ngữ cảnh: nhận biết âm thanh bằng tai

+ Nghĩa trong câu thơ: nhận biết bằng khứu giác

=> Vai trò: tạo nét nghĩa mới cho từ

e) nhai:

+ Nghĩa ở ngoài ngữ cảnh: nghiền nhỏ, nghiền nát bằng hai hàm răng

+ Nghĩa trong ngữ cảnh: vừa thể hiện hành động “nhai” của chú trâu vừa gợi khônggian làng quê thanh bình, yên ả

g) thánh thót:

Trang 31

+ Nghĩa ngoài ngữ cảnh: mô phỏng tiếng nước nhỏ từng giọt; âm thanh cao, ngânvang, trong trẻo, lúc to lúc nhỏ.

+ Nghĩa trong ngữ cảnh: tiếng chim cao ngân vang, trong trẻo

=> Vai trò: thu hẹp nghĩa của từ

h) ngọt bùi:

+ vị ngon, ngọt và thơm, dùng đề ví lúc sung sướng, hạnh phúc

+ chỉ lúc sung sướng, hạnh phúc

đắng cay: vị khó ăn, đắng và cay, dùng để ví khi khổ cực, vất vả.

+ dùng để nói khi vất vả, gian khổ

=> Vai trò: hiện thực hóa nghĩa của từ

i) Việt Bắc:

+ Nghĩa ngoài ngữ cảnh: mảnh đất Việt Bắc

+ Nghĩa trong câu thơ: con người Việt Bắc

=> Vai trò: thu hẹp nghĩa của từ

Bài 4:

Từ trong bài Từ đồng âm với từ trong bài

- liu điu: cũng con nhà dòng dõi - rắn liu điu

- rắn (đầu): cứng đầu, không nghe lời - rắn

- mai gầm: nay quát mai mắng - rắn mai gầm

- ráo mép: nói dối xong là quên - rắn ráo

- trong vắt: nước trong và ngọt

- mời: lời nói trân trọng thể hiện sự yêu quý.

Trang 32

=> Các từ ngữ thể hiện tình cảm âu yếm của người chăn trâu đối với con trâu Các

từ đều có mức độ cao, biểu hiện những đặc điểm, tính chất “tích cực” của sự vật

Từ “mời” vừa thể hiện sự trân trọng của người nói, coi trâu như một người bạn vừathể hiện sự trìu mến và lòng biết ơn đối với con trâu Những nét nghĩa trên đây làvốn có trong các từ nhưng trong bài thơ này, những từ ngữ ấy bộc lộ giá trị biểucảm một cách cụ thể đó là tình cảm của em bé đối với con trâu – đó là sự hiện thựchóa nghĩa biểu cảm của từ qua ngữ cảnh

b) Nghĩa biểu cảm của các từ:

+ mát dịu: gợi hình ảnh lông của những chú gà rất đẹp, mềm và mượt tạo cảm giác

dễ chịu => vẻ đẹp của chú gà con

+ sáng ngời: đôi mắt đen, tròn sáng long lanh => gợi vẻ đẹp và sự đáng yêu của

+ đất nước ta: thể hiện niềm tự hào và tình yêu đất nước tha thiết, chỉ quyền sở hữu

“đất nước của ta”

+ ơi: tiếng gọi tha thiết như gọi một người bạn, thể hiện tình cảm thân thương, gắn

+ mênh mông: rộng lớn

+ đẹp hơn: không có nơi nào đẹp hơn

=> tình yêu, niềm tự hào về cảnh đẹp và sự trù phù của quê hương Việt Nam

d)

+ đây: khẳng định tất cả trời xanh, núi rừng trên dải đất này là “của chúng ta”

+ thơm mát: xanh tươi, trù phú

+ bát ngát: rộng lớn, mênh mông, trù phú.

2.1.2 Câu hỏi, bài tập và hướng dẫn tự học nội dung Câu tiếng Việt

Trang 33

2.1.2.1 Câu hỏi

Câu 1: Nêu những đặc trưng cơ bản của câu Câu do đơn vị ngôn ngữ nào tạo ra và

câu cấu tạo nên những đơn vị ngôn ngữ nào trong hệ thống ngôn ngữ?

Câu 2: Lập bảng phân biệt các kiểu câu xét theo cấu tạo (câu đơn, câu phức, câu

ghép) Lấy ví dụ minh họa

Câu 3: Lập bảng phân biệt các kiểu câu xét theo mục đích nói (câu trần thuật, câu

nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán) Lấy ví dụ minh họa

Câu 4: Nêu khái niệm phát ngôn Phân biệt khái niệm câu và phát ngôn Nêu đặc

trưng của 1 phát ngôn thông qua 1 ví dụ cụ thể

Câu 5: Lập bảng đối chiếu giữa các yếu tố của bình diện kết học (cấu trúc chủ - vị)

và bình diện nghĩa học (cấu trúc vị từ - tham thể) theo bảng sau:

Bình diện kết học(Cấu trúc chủ - vị)

Bình diện nghĩa học(Cấu trúc vị từ - tham thể)

- Chủ ngữ

- Trung tâm của vị ngữ

- Bổ ngữ bắt buộc (của động từ trao

nhận, sai khiến…)

- Bổ ngữ không bắt buộc (Bổ ngữ thời

gian, địa điểm, mục đích….)

-Tiêu chí Bình diện kết học

(Câu trúc chủ - vị)

Bình diện dụng học(Cấu trúc đề - thuyết)

Trang 34

Câu 10: Phân biệt nghĩa hiển ngôn và hàm ngôn Lấy ví dụ minh họa.

Câu 11: Các câu trong văn bản có quan hệ như thế nào với nhau về ngữ nghĩa và

cấu tạo?

Câu 12: Hãy nối từ ở cột A với các mệnh đề ở cột B

Kết học Phân tích cấu trục vị từ tham thể của câu

Nghiên cứu câu trong những văn cảnh cụ thểNghĩa học Phân tích các thành phần chính và phụ của câu

Nghiên cứu các sự kiện, sự tình của câuDụng học Phân tích cấu trúc đề thuyết của câu

Nghiên cứu các quy tắc để tạo câu

Trang 35

Bài 2: Phân biệt nghĩa tình thái và nghĩa miêu tả của các câu sau:

- Có đau không chú mình?

- Chuyện gì đã xảy ra với ông cụ thể nhỉ?

- Hay ông cụ đánh mất cái gì?

Bài 3: Hãy phân tích các câu sau ở ba bình diện:

- Cô giáo đang giảng bài.

- Mĩ Tâm hát

- Ngày mai, anh ấy đi bộ đội.

- Bố tôi chặt cây tre.

- Chiếc bút này rất bền.

- Cháu biếu bà cân cam.

- Nó đi học bằng xe buýt.

- Tôi đag học bài.

- Mặc dù trời mưa nhưng nó vẫn đến trường đúng giờ.

- Hoa thi hát còn Huệ thi múa.

- Trống đánh xuôi, kèn thổi ngược.

Bài 4: Phân tích 3 bình diện của các câu – phát ngôn sau:

(1) Đêm qua, một bàn tay nào đã giội rửa vòm trời sạch bóng (SGK Tiếng Việt 4,

tập 1, trang 111)

(2) Loanh quanh trong rừng, chúng tôi đi vào một lối đầy nấm dại, một thành phố lúp xúp dưới bóng cây thưa.

(3) Mỗi chiếc nấm là một lâu đài kiến trúc tân kì

(4) Đền đài, miếu mạo, cung điện của họ lúp xúp dưới chân.

(SGK Tiếng Việt 5, tập 1, trang 75)

(5) Qua nhiều lần thí nghiệm, ông đã tìm ra cách chế khí cầu bay bằng kim loại.

(SGK Tiếng Việt 4, tập 1, trang 126)

(6) Trước nhà, mấy cây bông giấy nở hoa tưng bừng (SGK Tiếng Việt 4, tập 2,

trang 95)

Trang 36

(7) Những chiếc chân vàng giẫm trên thảm lá vàng và sắc nắng cũng rực vàng trên lưng nó (SGK Tiếng Việt 5, tập 1, trang 76).

(8) Anh đã quệt máu chảy từ đôi mắt bị thương vẽ một bức chân dung Bác Hồ.

(SGK Tiếng Việt 4, tập 1, trang 116)

Bài 5: Trong bài “Hành trình của bầy ong” có những câu thơ:

Với đôi cánh đẫm nắng trời Bầy ong bay đến trọn đời tìm hoa.

Bầy ong rong ruổi trăm miền

Rù rì đôi cánh nối liền mùa hoa.

a Tác giả dùng từ “đẫm” ở trên có gì hay?

b Anh (chị) hiểu nghĩa của câu thơ “Rù rì đôi cánh nối liền mùa hoa” như thế nào?

Bài 6: Phân tích ý nghĩa hàm ẩn của những văn bản sau:

a Ngày hôm qua đâu rồi

Em cầm tờ lịch cũ

- Ngày hôm qua đâu rồi?

Ra ngoài sân hỏi bố

Xoa đầu em bố cười

- Ngày hôm qua ở lại

Trên cành hoa trong vườn

Nụ hồng lớn lên mãi

Đợi đến ngày tỏa hương.

- Ngày hôm qua ở lại Trong hạt lúa mẹ trồng Cánh đồng chờ gặt hái Chín vàng màu ước mong

- Ngày hôm qua ở lại Trong vở hồng của con Con học hành chăm chỉ

Trang 37

Con chó chậm rãi lại gần Bỗng từ trên cây cao gần đó, một con sẻ già có bộ

ức đen nhánh lao xuống như hòn đá rơi trước mõm con chó Lông sẻ già dựng ngược, miệng rít lên tuyệt vọng và thảm thiết Nó nhảy hai ba bước về phía cái mõm há rộng đầy răng của con chó.

Sẻ già lao đến cứu con, lấy thân mình phủ kín sẻ con Giọng nó yếu ớt nhưng hung dữ và khản đặc Trước mắt nó, con chó như một con quỷ khổng lồ Nó sẽ hi sinh Nhưng một sức mạnh vô hình vẫn cuốn nó xuống đất.

Con chó của tôi dừng lại và lùi Dường như nó hiểu rằng trước mặt nó có một sức mạnh Tôi vội lên tiếng gọi con chó đanh bối rối ấy rồi tránh ra xa, lòng đầy thán phục.

Vâng, lòng tôi đầy thán phục, xin bạn đừng cười Tôi kính cẩn nghiêng mình trước con chim sẻ bé bỏng dũng cảm kia Trước tình yêu của nó.

(Tuốc-ghê-nhép, Tiếng Việt 4, tập 1)

Bài 7: Viết đoạn văn phân tích nghĩa hàm ngôn của các đoạn thơ sau:

a) Quê hương biết mấy thân yêu,

Bao nhiêu đời đã chịu nhiều thương đau.

Mặt người vất vả in sâu, Gái trai cũng một áo nâu nhuộm bùn.

Đất nghèo nuôi những anh hùng, Chìm trong máu chảy lại vùng đứng lên.

Đạp quân thù xuống đất đen, Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa.

Nguyễn Đình Thi

(Việt Nam thân yêu, SGKTiếng Việt 5, tập 1, trang 6) b) Chắt trong vị ngọt mùi hương

Lặng thầm thay những con đường ong bay.

Trải qua mưa nắng vơi đầy Men trời đất đủ làm say đất trời.

Trang 38

Bầy ong giữ hộ cho người Những mùa hoa đã tàn phai tháng ngày.

Rất công bằng, rất thông minh Vừa độ lượng lại đa tình, đa mang.

- Đặc trưng cơ bản của câu:

+ Câu là sản phẩm của lời nói, được tạo ra khi giao tiếp

+ Câu được cấu tạo từ một từ, một cụm từ hay một tổ hợp các từ và cụm từ

+ Câu là đơn vị trong hệ thống ngôn ngữ, lớn hơn từ và cụm từ

+ Câu thể hiện trọn vẹn một ý và thể hiện rõ thái độ, tình cảm của người nói

+ Câu có một cấu tạo ngữ pháp nhất định và có ngữ điệu kết thúc (chữ đầu câu viếthoa và kết thúc câu có dấu câu)

- Câu được tạo nên bởi các từ, cụm từ hoặc tổ hợp các từ và cụm từ Câu được dùng

để cấu tạo nên đoạn văn

Câu 2:

VD: Trời đang mưa VD: Trời mưa to quá! VD: Trời mưa, đường trơn.

- Là câu có 1 cụm C – - Là câu có từ 2 kết cầu C - Là câu có từ 2 kết cấu C –

Trang 39

V làm nòng cốt câu – V trở lên, trong đó có 1

kết cầu nòng cốt còn cáckết cấu khác làm thànhphần

V trở lên, mỗi kết cấu C – Vlập thành một vế, không cókết cấu nào bao chứa kếtcấu nào

- Câu đơn có các loại:

+ Câu đơn bình thường

+ Câu đơn đặc biệt

+ Câu đơn rút gọn (tỉnh

lược)

- Một số loại câu phức:

+ Phức thành phần chủngữ

+ Phức thành phần vị ngữ+ Phức thành phần địnhngữ

+ Phức thành phần bổ ngữ

- Câu ghép chia làm 2 loạilớn:

+ Câu ghép đẳng lập+ Câu ghép chính phụ

VD: Ôi, những bông hoa mới đẹp làm sao!

VD: Mấy giờ rồi?

- Là câu dùng đểbộc lộ cảm xúc,thái độ, tình cảmcủa người nói vớingười nghe hoặcđối với vấn đềđược nói đến trongcâu

- Là câu nêu nhữngđiều chưa biết hoặccòn hoài nghi màngười nói muốnngười nghe trả lời

Trang 40

- Phân biệt câu và phát ngôn:

+ Câu là mô hình cấu trúc ngữ pháp của ngôn ngữ, là một đơn vị của hệ thống ngônngữ

+ Phát ngôn là câu trong giao tiếp, là sự hiện thực hóa của các mô hình cấu trúcngữ pháp trong những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể

+ Ví dụ: Đặt 1 câu: Thời tiết rất mát mẻ => câu có mô hình cấu trúc là: CN – VN.

Câu trên khi được đưa vào một hoàn cảnh giao tiếp cụ thể:

SP1 (gọi điện hỏi): Thời tiết hôm nay ở nhà thế nào?

SP2 (trả lời): Thời tiết rất mát mẻ => câu trở thành phát ngôn vì được hiện thực

hóa, sử dụng trong một tình huống giao tiếp cụ thể

- Đặc trưng của phát ngôn:

Ví dụ: Cậu làm bài tập môn Toán chưa?

+ Về chức năng giao tiếp: phát ngôn trên diễn đạt hành động ngôn ngữ hỏi nghĩa làngười nói muốn người nghe cung cấp cho mình thông tin mình chưa biết

+ Về nội dung: phát ngôn chứa nội dung về việc người nói không biết người nghe

đã làm bài tập môn Toán chưa Phát ngôn thể hiện người nói hoàn toàn chưa biếtthông tin gì về việc người nghe đã làm bài tập chưa

+ Về hình thức: phát ngôn trên là một đoạn lời nói có cấu trúc cú pháp với “cậu” làchủ ngữ, vị ngữ là “làm bài tập môn Toán” và một ngữ điệu kết thúc

=> Khi câu được hiện thực hóa trong hoạt động giao tiếp sẽ trở thành phát ngôn(lúc đó câu không chỉ bó hẹp ở cấu trúc hình thức)

Ngày đăng: 21/04/2020, 09:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w