Tác giả nêu quan điểm “Biện chứng của quá trình cảm thụ là quá trình sáng tác giữa nhà văn với bạn đọc, giữa đối tượng nhận thức với chủ thể nhận thức tác phẩm với người đọc” [36.Tr 17]n
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
VŨ THỊ ĐÀI TRANG
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯỞNG TƯỢNG
CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC
TÙY BÚT NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ (NGỮ VĂN LỚP 12)
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
HÀ NỘI – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
VŨ THỊ ĐÀI TRANG
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯỞNG TƯỢNG
CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC
TÙY BÚT NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ (NGỮ VĂN LỚP 12)
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGHÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số : 8 14 01 11
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thanh Huyền
HÀ NỘI – 2017
Trang 3Tiếp theo, tôi xin gửi lời tri ân đến Tiến Sĩ Lê Thanh Huyền - người trực tiếp hướng dẫn tôi đã rất nhiệt tình và tận tâm trong suốt quá trình làm luận văn
Sau nữa, tôi cũng trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu và Tổ bộ môn Văn Trường THPT Lam Hồng, quý đồng nghiệp đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi hoàn thành khóa học và luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả - quý thầy cô, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
Hà Nội, ngày 24 tháng 10 năm 2017
Học viên
Vũ Thị Đài Trang
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục các chữ viết tắt ii
Danh mục các bảng v
Danh mục các biểu đồ vi
MỞ ĐẦU vi CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN Error! Bookmark not defined 1.1 Năng lực tưởng tượng Error! Bookmark not defined 1.1.1 Quan điểm về năng lực Error! Bookmark not defined
1.1.2 Năng lực tưởng tượng Error! Bookmark not defined 1.2 Thực tiễn việc dạy học tùy bút Người lái đò sông Đà Ngữ văn lớp 12 Error! Bookmark not defined
1.2.2 Mục đích khảo sát Error! Bookmark not defined
1.2.3 Địa điểm và thời gian khảo sát Error! Bookmark not defined
1.2.4 Phương pháp điều tra khảo sát Error! Bookmark not defined
1.2.5 Kết quả khảo sát Error! Bookmark not defined CHƯƠNG 2: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯỞNG TƯỢNG CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC TÙY BÚT NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ Error! Bookmark not defined
2.1 Những năng lực tưởng tượng cần rèn luyện, phát huy cho học sinh trong dạy học
tùy bút Người lái đò sông Đà Error! Bookmark not defined 2.1.1 Năng lực của các giác quan Error! Bookmark not defined 2.1.2 Năng lực tri giác Error! Bookmark not defined 2.1.3 Năng lực phát hiện, liên tưởng Error! Bookmark not defined 2.1.4 Năng lực suy đoán, dự đoán, giả định Error! Bookmark not defined 2.1.5 Năng lực lập sơ đồ, kể, tả, thuyết minh Error! Bookmark not defined
Trang 62.2 Đề xuất giải pháp rèn luyện và phát huy năng lực tưởng tượng cho HS trong dạy
học tùy bút Người lái đò sông Đà Error! Bookmark not defined 2.2.1 Dạy học gắn với đặc trưng thể loại Error! Bookmark not defined 2.2.1 Hướng tiếp cận dạy học tích hợp Error! Bookmark not defined 2.2.2 Các phương pháp dạy học Error! Bookmark not defined 2.2.3 Các công cụ dạy học Error! Bookmark not defined 2.2.4 Hình thức dạy học hợp tác Error! Bookmark not defined
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 76
3.1 Kế hoạch thực nghiệm sư phạm 76
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 76
3.1.2 Phương pháp thực nghiệm 76
3.1.3 Thời gian, địa điểm, tiến trình và kết quả dự kiến 76
3.1.4 Tiến trình thực nghiệm 77
3.1.5 Giáo án thực nghiệm 78
3.2 Kết quả thực nghiệm 93
3.2.1 Kết quả thực nghiệm 93
3.2.2 Kết luận chung về kết quả thực nghiệm 95
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHỤ LỤC 104
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.2.1 Mức độ hứng thú của HS với tùy bút Người lái đò sông Đà Biểu đồ 1.2.2 Hình thức chuẩn bị bài trước khi đến lớp của HS
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Việt Nam đang trên đà phát triển hội nhập cùng thế giới trên hầu hết các lĩnh vực Đặc biệt kể từ khi gia nhập tổ chức kinh tế thế giới WHO, nhiều cơ hội cũng như thách thức đang buộc toàn xã hội phải thay đổi trong cả tư duy và hành động Song song với những sự đổi thay trong kinh tế, văn hóa và xã hội, những yêu cầu mới với công dân toàn cầu trong thế kỉ tri thức buộc nền giáo dục chúng ta cần phải có những thay đổi phù hợp Nhận thức được điều đó, căn cứ trên đánh giá những mặt được và chưa được của nền giáo dục quốc dân, Đảng đã ban hành nghị quyết 29 về đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục, mà trong đó có nhấn mạnh đến mục tiêu đào tạo năng lực cho người
học ở mọi trình độ Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo
dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học… Đổi
mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề (Nghị quyết 29 đổi mới toàn diện nền giáo
dục) Đánh giá về tư tưởng chỉ đạo này là phù hợp với xu thế chung của nền giáo dục trên thế giới, chuyển từ việc tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực
Các thống kê cho thấy có 8 năng lực sau đây được sử dụng và nhấn mạnh ở hầu hết các hệ thống giáo dục tại các nước tiên tiến: Tư duy phê phán, tư duy logic; Giao tiếp, làm chủ ngôn ngữ; Tính toán, ứng dụng số; Đọc - viết; Làm việc nhóm - quan hệ với người khác; Công nghệ thông tin - truyền thông (ICT); Sáng tạo, tự chủ; Giải quyết vấn
đề Trong những năng lực trên, thì năng lực sáng tạo rất cần thiết cho người học Năng lực này được hình thành qua hầu hết các môn học, nhưng thể hiện rất rõ nét trong môn
ngữ văn Trong môn ngữ văn, dạy học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh, hướng
đến người học là chủ yếu, đang được sự quan tâm của rất nhiều người, của giới nghiên cứu trong và ngoài nước
Năng lực tưởng tượng của học sinh là một nhân tố quan trọng tạo tiền đề cho năng lực sáng tạo Chương trình Ngữ văn THPT hiện hành là kết quả của quá trình Đổi mới giáo dục phổ thông theo quan điểm giáo dục tích cực nhằm phát huy vai trò chủ động,
Trang 10sáng tạo của học sinh vào quá trình tìm hiểu, giải mã văn bản - tác phẩm, tình hình dạy học bộ môn Ngữ văn đã có bước chuyển biến quan trọng, tạo đà cho tiến bộ mới đối với lĩnh vực dạy học môn học Có thể nhận ra sự thay đổi nổi bật của giờ học Văn thể hiện ở hoạt động tiếp nhận văn bản tác phẩm bằng hoạt động đọc với tất cả sự nỗ lực tự thân của người đọc - học sinh Thực tế cho thấy, hoạt động đọc - hiểu trong giờ học tác phẩm văn chương hiện nay ở trường THPT đã mang đến những đổi thay quan trọng về cách thức tiến hành giờ học Văn theo hướng tăng cường vai trò hoạt động độc lập, sáng tạo của từng cá thể người đọc - học sinh Tuy nhiên, khi vận dụng, triển khai quan điểm đổi mới đó, GV vẫn còn gặp phải một số vướng mắc, lúng túng khi tiến hành quá trình đọc thông qua hướng dẫn HS tìm tòi, khám phá các giá trị nội dung nghệ thuật đặc sắc của văn bản Dễ thấy, trong tiến trình dạy học, GV còn tỏ ra lúng túng, máy móc theo trình tự có phần cứng nhắc đối với việc dẫn dắt HS hoạt động bằng một số thao tác, việc làm nổi theo bề mặt mà chưa chú trọng đầy đủ tới việc hướng dẫn, kích thích để các em tự bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc bằng cách khơi gợi, trau dồi năng lực liên tưởng, tưởng tượng vốn tiềm ẩn trong tâm thức học sinh Từ đó, giúp các em có cách tiếp cận hợp lí, đúng quy luật của quá trình tiếp cận, giải mã và chiếm lĩnh văn bản nghệ thuật Muốn thực hiện thấu đáo việc đổi mới dạy học Văn theo tinh thần trên, GV cần có hiểu biết và nắm bắt đầy đủ, vững chắc những vấn đề cốt yếu về lí luận khoa học từng được
đề cập, vận dụng trong thực tiễn dạy học Với môn Ngữ văn - môn học có tính đặc thù
- thì con đường tiếp cận, thâm nhập văn bản nghệ thuật thông qua các quy luật của những khoa học liên ngành đa dạng phong phú là vấn đề mang tính khoa học, chắc chắn có những điểm khác biệt cần nắm bắt, tìm hiểu thấu đáo, trong đó, tưởng tượng liên tưởng là sợi dây nối kết giữ vai trò tác nhân kích thích quá trình hoạt động sáng tạo
Trong quá trình giảng dạy môn Ngữ văn ở bậc THPT, chúng tôi nhận thấy, nhóm
các tác phẩm ký của chương trình Ngữ văn 12, đặc biệt, tùy bút Người lái đò Sông Đà
(Nguyễn Tuân) là văn phẩm tiêu biểu Đây là tác phẩm có tính chất tổng hợp cao, bao
gồm tri thức lịch sử, địa lý, nhân văn, phong tục, Hơn nữa, Người lái đò Sông Đà
Trang 11được viết bằng thể tài tùy bút, một thể tài vừa mang tính chất tự do, phóng khoáng vừa đòi hỏi tính khoa học, chính xác Bởi vậy, việc tiếp nhận tác phẩm, với các em học sinh, dù là học sinh lớp 12, vẫn gặp nhiều khó khăn
Xuất phát từ những yêu cầu khách quan và thực tiễn trên, chúng tôi lựa chọn nghiên
cứu đề tài: “Phát triển năng lực tưởng tượng cho học sinh trong dạy học tùy bút Người
lái đò sông Đà (Ngữ văn lớp 12) ” Hướng đi này kỳ vọng có thể áp dụng vào thực tiễn
nhằm giúp HS phát triển năng lực tưởng tượng Góp phần vào quá trình nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn Ngữ văn, giúp các em HS có thể năng động, tự tin và yêu thích môn Ngữ văn
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Việc nghiên cứu, vận dụng yếu tố tưởng tượng vào quá trình dạy học Văn ở trường phổ thông nước ta đã được chú ý từ rất sớm Vào những năm đầu thập niên 60 thế kỉ trước, ở nhà trường miền Bắc, trong các tài liệu biên soạn, tại diễn đàn các hội nghị chuyên đề về giảng dạy văn học, vấn đề rèn luyện, xây dựng năng lực tưởng tượng cho
HS trong giờ học Văn đã được trao đổi, thảo luận khá sôi nổi Về mặt lí thuyết cũng như thực hành, chúng ta đã có những căn cứ xác đáng để tiến hành việc trau dồi, rèn luyện năng lực tưởng tượng, xem đó là yếu tố quan trọng nhằm giúp học sinh thâm nhập, khám phá văn bản theo đúng đặc trưng, tính chất của sáng tạo nghệ thuật, từ đó nâng cao hiệu quả của giờ học Văn
Một số công trình nghiên cứu có liên quan tới hoạt động tưởng tượng - vận dụng năng lực tưởng tượng vào dạy học văn lần lượt được biên soạn Có thể kể tới: - “Rèn luyện tư duy trong dạy Văn” (Phan Trọng Luận): Xem xét vai trò của tư duy trong giảng dạy Văn học, tác giả chú ý tìm hiểu nhiệm vụ quan trọng của quá trình dạy học tác phẩm văn chương là “bồi dưỡng và rèn luyện năng lực tư duy hình tượng” cho học sinh Tác giả đề cập tới yếu tố then chốt làm cơ sở cho quá trình tiếp nhận, lĩnh hội nghệ thuật là “nắm chắc bản chất của hình tượng”, và nhấn mạnh dạy học Văn là “cần
có ý thức rõ ràng rằng mình đang đứng trước hay nói cho đúng là đang thâm nhập vào một thế giới vừa thực vừa hư, rất thực mà lại không thực, không phải là thực nhưng lại
Trang 12còn thực hơn cả sự thực” Tác giả khẳng định: “Đọc sách là liên tưởng, là tưởng tượng,
là hồi ức… Bao nhiêu năng lực được vận dụng để tiếp thu chân lí nghệ thuật” Dựa vào
cơ sở này, chuyên luận đã phân tích vai trò của liên tưởng và tưởng tượng trong giờ học Văn Từ những cơ sở lí luận đã nêu và bước đầu vận dụng vào thực tế dạy học, tác giả “tìm những biện pháp bồi dưỡng và rèn luyện năng lực cảm thụ văn học cho học sinh” Đó là những kinh nghiệm bước đầu đối với việc trau dồi và nâng cao năng lực cảm thụ văn học - “Cảm thụ văn học - giảng dạy văn học” (Phan Trọng Luận): Điểm nổi bật của chuyên luận là nhờ vận dụng những kiến thức lí luận đa ngành như lí thuyết tiếp nhận, lí thuyết cấu trúc, lí thuyết hành vi hoạt động để lí giải hiện tượng đặc biệt của tiếp nhận nghệ thuật là cảm thụ Dựa vào cơ sở lí thuyết tiếp nhận, tác giả chú ý tìm hiểu vai trò của người đọc học sinh với hứng thú, kinh nghiệm cá nhân để phát huy vai trò chủ thể cảm thụ trong giờ học Văn Tác giả nêu quan điểm “Biện chứng của quá trình cảm thụ là quá trình sáng tác giữa nhà văn với bạn đọc, giữa đối tượng nhận thức với chủ thể nhận thức (tác phẩm với người đọc)” [36.Tr 17]nhấn mạnh tới ý nghĩa sáng tạo nghệ thuật là “những hình tượng được xây dựng lên thông qua tưởng tượng của nhà văn theo một lí tưởng thẩm mĩ nhất định”, tác giả cũng đồng thời chỉ rõ “Tác phẩm chỉ thực sự tồn tại, thực sự sống động lên trong sự tiếp nhận bằng tưởng tượng tái hiện của
người đọc” (tr 34 - Phan Trọng Luận, Cảm thụ văn học - giảng dạy văn học, Nxb Giáo
dục, 1983) Từ cơ sở này, chuyên luận nêu bật quan điểm của tiếp nhận văn học xem
“cảm thụ văn học” là “một hoạt động sáng tạo ở bạn đọc - học sinh” Tác giả đã dành phần tìm hiểu “cơ chế thâm nhập một tác phẩm” bằng mô hình hóa quá trình đi vào tác phẩm và chỉ rõ “Con đường đi vào tác phẩm văn học là con đường trải qua nhiều chặng, nhiều bước, nhiều giai đoạn…Con đường đó bao giờ cũng bắt đầu từ việc tri giác ngôn ngữ và lĩnh hội hình tượng tác phẩm ở những bình diện thấp cao khác nhau”
Vì thế, người đọc phải nỗ lực trong “quá trình lao động sáng tạo, vận dụng nhiều năng lực” trong đó “cảm thụ là bước giúp cho người đọc tự giác hứng thú đi vào tác phẩm để rồi còn tiếp tục đưa tác phẩm đi trọn vòng đời của nó, phát huy năng lực để đi dần từ
bề ngoài đến bề trong mô hình” Để tìm hiểu sâu về năng lực cảm thụ đối với việc dạy Văn, tác giả đã vận dụng cơ sở lí luận cùng khảo sát thực tế để xác định “Tiêu chuẩn
Trang 13phát triển và đặc điểm cảm thụ văn học của học sinh trung học” Theo đó, chuyên luận chú ý đến mối quan hệ hợp lí giữa tính khách quan và chủ quan trong cảm thụ, từ đó không thể xem nhẹ “tính chủ quan là một tâm lí đặc trưng của hoạt động cảm thụ thẩm mĩ” cũng như “nhận thức đúng đắn về mối quan hệ giữa giữa đặc trưng của tác phẩm
văn học với tâm lí cảm thụ của người học” (tr.100 - Phan Trọng Luận, Cảm thụ văn
học - giảng dạy văn học, Nxb Giáo dục, 1983) Đồng thời, phải dựa vào “trình độ cụ
thể hóa hình tượng và khái quát hóa hình tượng” xem đó là “biểu hiện khách quan đặc trưng của hoạt động đọc và và cảm thụ văn học vốn rất phức tạp về cấu trúc tâm lí” Đi sâu vào hoạt động cảm thụ, tác giả dành phần đáng kể của tài liệu để tìm hiểu sâu về cấu trúc năng lực văn học của học sinh bằng việc tìm hiểu hứng thú văn học và “năng lực tưởng tượng tái tạo trong cảm thụ văn học ở HS trung học”
- “Dạy văn, dạy cái hay cái đẹp” (Nguyễn Duy Bình): Theo phương hướng tìm tòi,
lí giải những vấn đề có tính khoa học và nghệ thuật để nhận diện đúng vai trò, tác dụng của môn học vốn gắn với giá trị tư tưởng và thẩm mĩ cao quý, chuyên luận nhấn mạnh tới yêu cầu dạy Văn phải chú ý giúp học sinh “có được năng lực thẩm mĩ, rung cảm cái hay cái đẹp của thơ văn và cái 6 hay cái đẹp trong cuộc sống” Từ quan niệm sâu sắc
đó, tác giả đặt vấn đề “cần phải thay đổi quan niệm dạy học, thay đổi cách thức tổ chức, phải sáng tạo những biện pháp mới, đặc biệt chú ý tới vai trò chủ thể của học sinh” Để làm sáng tỏ nhận thức này, dựa vào “cơ chế hoạt động của nội dung tác phẩm”, tác giả hướng tới vai trò “cùng sáng tạo” của người tiếp nhận tác phẩm Tác giả
đề cao cách thức tạo điều kiện cho học sinh phát huy năng lực sáng tạo của mình Tác giả khẳng định: “Mục đích của giảng văn không phải là nhằm buộc học sinh nhớ những điều giáo viên dạy mà trước hết là để cho học sinh say mê với tác phẩm văn học, hào hứng đi vào cái thế giới sáng tạo ấy để cho sự tiếp xúc của học sinh với tác phẩm còn đọng lại được những ấn tượng lâu bền, có sức thanh lọc, nâng đỡ tâm hồn các em, kích thích các em suy nghĩ” Theo tác giả “sự cảm thụ nghệ thuật rất đa dạng, sinh động” cho nên dạy học tác phẩm, thầy giáo đừng quên mục đích là giới thiệu một phương pháp, góp một tiếng nói gợi ý cho học sinh tự mình tìm đến với tác phẩm Dĩ nhiên,
Trang 14muốn đến với tác phẩm bằng việc phát huy năng lực của chủ thể cảm thụ, người đọc - học sinh phải huy động nhiều năng lực tư duy và tâm lí để “phát hiện ra cái mạng rộng lớn những điểm sáng, những mạch thẩm mĩ”, đi vào những “ý tại ngôn ngoại, thông cảm với cái rộng thênh thang của tác phẩm” Muốn vậy học sinh phải thường xuyên rèn luyện, trau dồi, duy trì năng lực liên tưởng, tưởng tượng hợp lí, sâu sắc, mạnh mẽ
sẽ giúp cho việc cảm thụ chủ quan tránh những ngộ nhận, những phát hiện sai lầm
- “Về môn Văn trong cải cách giáo dục” (Nguyễn Đức Nam): Trước hết, tài liệu này nêu rõ “Một trong những nguyên nhân khiến cho việc dạy học Văn từ trước đến nay không thành công là sự không quan tâm đến bản chất và đặc trưng của nó” [11 tr.5] Từ
đó, tác giả nêu rõ dạy Văn không được xa rời bản chất và đặc trưng vốn có của Văn học, đồng thời cũng phải chú ý đến tâm lí tiếp nhận Tác giả khẳng định “hình tượng nghệ thuật đẹp vì chính nó, nhưng sức mạnh của nó còn ở chỗ có khả năng gây ra những tác động không hạn chế, gợi nên những trường liên tưởng bất tận vượt qua không gian và thời gian” Do đặc điểm tâm lí lứa tuổi, trình độ, vốn sống, khuynh hướng tình cảm và trí tuệ, nên sự tiếp nhận có thể khác nhau bởi các chủ thể cảm thụ Huống chi, ở một số trường hợp, do phong cách và phương pháp nghệ thuật quy định, hình tượng nghệ thuật lại có thể có tính mơ hồ, tính không nói hết hay tính đa nghĩa
Do vậy, chính trong mối quan hệ qua lại giữa người tiếp nhận với văn bản nghệ thuật, thông qua hệ thống hình tượng đó “trí tưởng tượng của người đọc ở đây có thể tha hồ bay bổng, tư duy của người đọc có nhiều phương hướng để tiếp nối sự suy nghĩ của tác giả” Phê phán quan điểm dạy học theo PPDH truyền thống, tác giả đã đề xuất hướng khắc phục những hạn chế của lối giảng văn cũ khi chỉ rõ: “sự phức tạp, khó khăn là ở chỗ chỗ xử lí văn bản, đem tác phẩm đến người đọc” “Toàn bộ vấn đề phương pháp là
ở chỗ làm thế nào để biến tác phẩm của tác giả (qua văn bản trong sách giáo khoa) thành tác phẩm trong từng người đọc Mấu chốt của việc đổi mới quan điểm dạy học là
ở khâu trọng tâm đó Bởi thế, khái niệm “giảng văn” đã bị khai tử và thay vào đó, tác giả nêu khái niệm “đọc văn” Do vậy, quy trình của giảng văn cũ nay chuyển sang việc
tổ chức hoạt động đọc văn với các bước cụ thể, trong đó nổi lên việc hướng dẫn, kích
Trang 15thích học sinh phát huy các năng lực cảm thụ, phân tích văn bản bằng sự nỗ lực tự thân của người đọc Đây là con đường “đem tác phẩm đến người đọc” hay là “phương pháp
tổ chức những hình thức hoạt động để giúp học sinh chiếm lĩnh tác phẩm” vừa được khởi xướng qua cải cách dạy học Văn Để thực hiện cách thức dạy học nói đó, tác giả nêu ra các hình thức hoạt động trong giờ đọc văn như sau: 1/ Trước hết là đọc (đọc thầm, đọc to, đọc có tưởng tượng, đọc có phân vai, đọc diễn cảm) 2/ Học thuộc lòng tác phẩm 3/ Ghi chép về tác phẩm, tóm tắt tác phẩm 4/ Phân tích, suy nghĩ về tác phẩm 5/ Thuyết trình về tác phẩm 6/ Đọc tác phẩm kết hợp với sự giảng giải của giáo viên ở lớp 7/ Thảo luận, trao đổi về tác phẩm ở tổ, theo những vấn đề do giáo viên nêu
ra 8/ Biểu diễn tác phẩm (ngâm thơ, diễn kịch, chuyển thể) 9/ Vẽ tranh theo tác phẩm 10/ Viết cảm nghĩ về tác phẩm Với những nhận thức mới về quan điểm cùng cách thức dạy học tác phẩm văn chương, những đề xuất của Nguyễn Đức Nam đã mở ra khâu đột phá, tạo bước chuyển biến quan trọng đối với tình hình dạy học Văn trong nhà trường Quan điểm “đọc văn” bằng việc phát huy vai trò chủ thể cảm thụ sáng tạo cùng các hình thức thâm nhập, tiếp nhận, chiếm lĩnh văn bản được đề xuất đã thể hiện sự tiếp cận PPDH Văn hiện đại của nhà trường các nước tiên tiến trên thế giới
- “Dạy học giảng văn ở nhà trường phổ thông trung học” (Nguyễn Đức Ân): Tác giả
đã nhấn mạnh tới xu thế tất yếu của việc đổi mới quan điểm dạy học TPVC hiện nay Dựa trên cơ sở nghiên cứu lịch sử quan niệm, tác giả đã điểm lại những quan điểm dạy học TPVC thời gian qua Từ đó, nhận rõ những yêu cầu của việc thay đổi quan điểm và PPDH giảng văn theo xu thế giáo dục hiện đại Tiếp cận việc dạy học tác phẩm theo những cơ sở lí thuyết khoa học đa ngành, công trình nhấn mạnh mục tiêu và nhiệm vụ của phân môn này trong kết cấu của chương trình theo tinh thần của cải cách giáo dục tiến hành từ giữa thập niên 80 là tăng cường việc học sinh thâm nhập văn bản với sự nỗ lực của chủ thể cảm thụ Từ đó, làm cho học sinh biết nhận ra các giá trị chân, thiện, mĩ kết tinh qua sáng tạo của nhà văn Đề cập tới vai trò tác dụng của văn chương, tác giả cho rằng sự đổi mới dạy học Văn phải được xác lập theo nguyên tắc khoa học là “làm cho văn học với tính chất môn học phải trở thành con đường đúng đắn để đảm bảo
Trang 16“văn học với tính chất là môn nghệ thuật” Vì thế, việc duyệt lại các chương trình, tài liệu học tập phải hướng vào mục đích thúc đẩy năng lực của học sinh về mặt tư duy bởi chính mình và chính mình ra những quyết định phù hợp” [10 tr 167]
- Từ đó, về mặt PPDH tác phẩm văn chương, tác giả chú ý tới tác dụng mạnh mẽ của những PPDH mới như phương pháp tích cực, phương pháp hợp tác, phương pháp nêu vấn đề Tác giả đặc biệt nhấn mạnh tới hai hoạt động quan trọng của giờ học là quá trình phân tích đánh giá và hoạt động đọc, xem đó là hai trục cơ bản của quá trình dạy học văn Trên cơ sở đó, GV tạo điều kiện phát huy cao vai trò chủ thể cảm thụ tích cực của người đọc học sinh bằng việc kích thích hứng thú, trau dồi rèn luyện năng lực liên tưởng tưởng tượng để học sinh chủ động khám phá phát hiện những giá trị nghệ thuật độc đáo do nhà văn sáng tạo Để góp phần đổi mới PPDH Văn, tác giả đã tiếp cận một
số kinh nghiệm của các nhà sư phạm Mĩ khi tiến hành các hình thức dạy học như thảo luận nhóm, xây dựng hệ thống câu hỏi, đặc biệt chú ý tới mô hình đọc văn với quá trình xây dựng, phát huy tưởng tượng theo theo quy trình 4 bước của J Langer “Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương” (Nguyễn Trọng Hoàn): Dựa trên quan điểm xem văn học nghệ thuật như phương tiện nhận thức, giáo dục và thưởng thức thẩm mĩ, văn học được hiểu trong quá trình giao tiếp, xem quá trình tiếp nhận tác phẩm văn chương diễn ra theo quan hệ tương tác GV - TP - HS trong đó liên tưởng và tưởng tượng của học sinh có vai trò cầu nối giữa khát vọng, sở thích của mình với tầm đón đợi (tiềm năng thẩm mĩ) và ý đồ sáng tạo của nhà văn, tác giả đặt vấn đề nghiên cứu “mối liên hệ mật thiết giữa tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương không thể tách rời và biệt lập với những nghiên cứu về vai trò của liên tưởng tưởng tượng trong tâm lí cũng như trong sáng tạo văn học nghệ thuật” [22 tr 8] Chuyên luận
đi sâu nghiên cứu các vấn đề thuộc lĩnh vực tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương Để xây dựng cơ sở lí thuyết cho vấn 10 đề then chốt của tư duy sáng tạo trong lĩnh hội, tiếp nhận nghệ thuật, tác giả lần lượt đi sâu vào các phần:
+ Những tiền đề khoa học nghiên cứu tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương Trong phần này, từ góc độ hoạt động tâm lí, công trình lí giải các khái niệm
Trang 17cảm giác, tri giác, biểu tượng, trí nhớ và liên tưởng cũng như nêu mối quan hệ giữa liên tưởng và tưởng tượng.Tác giả nêu bật vai trò của tưởng tượng và tư duy đồng thời soi sáng hiện tượng tâm lí và tư duy đặc biệt nói đó vào quá trình sáng tạo và tiếp nhận nghệ thuật
+ Nội dung phát triển của tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương Nêu luận điểm: “Dạy học tác phẩm văn chương (giảng văn) là một loại hình dạy học đặc thù, đòi hỏi sự nỗ lực sáng tạo từ cả hai phía (giáo viên và học sinh), lấy giá trị của tác phẩm làm điểm xuất phát để hướng tới mục đích” Vì thế “hoạt động tiếp nhận sáng tạo của học sinh trong nhà trường nói chung và liên tưởng tưởng tượng trong dạy học tác phẩm văn chương nói riêng cũng cần được nhìn nhận đánh giá từ nhiều phía trong hệ thống các phương pháp, biện pháp dạy học với tư cách một hoạt động sáng tạo trí tuệ
có đối tượng mục đích, cơ chế cụ thể…” [22 tr.91] Từ nhận thức đó, công trình tiếp tục tìm hiểu các vấn đề cụ thể như: “Đối tượng tiếp nhận thẩm mĩ của học sinh trong dạy học tác phẩm văn chương”, “Mục đích tiếp nhận thẩm mĩ của học sinh trong dạy học tác phẩm văn chương”, “Xác định phương thức tiếp nhận thẩm mĩ của học sinh trong dạy học tác phẩm văn chương”, “Cơ chế liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm văn chương”, “Giới hạn của liên tưởng, tưởng tượng và vấn đề định hướng thẩm mĩ cho học sinh”
+ Một số giải pháp rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương Đây
là phần vận dụng những hiểu biết và kinh nghiệm từ quá trình nghiên cứu những vấn
đề thuộc lĩnh vực khoa học tâm lí trong tư duy và nghệ thuật nói trên để vận dụng vào thực tiễn dạy học Văn nhằm rèn luyện và phát huy năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh vào quá trình lĩnh hội tiếp nhận TPVC Ngoài những công trình vừa nêu trên, có thể nêu thêm một số tài liệu như “Văn học, học văn” (Hoàng Ngọc Hiến), “Công nghệ dạy văn” của Phạm Toàn, “Hiểu văn, dạy văn” (Nguyễn Thanh Hùng), “Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương” (Nguyễn Viết Chữ) Đặc biệt, cần nói tới một số tài liệu dịch như có nguồn gốc từ các tài liệu giáo trình giảng dạy văn học của Liên xô (cũ) Có
Trang 18thể kể tới: - “Phương pháp giảng dạy văn học ở trường Phổ thông” 2 tập (Nhi - xkôn - xki), - “Phương pháp luận dạy văn học” (Z Ia Rez chủ biên)
Bên cạnh đó, có thể nêu thêm các công trình của các nhà nghiên cứu lí luận văn học, tâm lí học đã góp phần làm sáng tỏ thêm những cơ sở lí luận nhằm tìm hiểu vấn đề liên quan tới dạy học Văn là hoạt động liên tưởng tượng như sau đây:
- “Tâm lí học nghệ thuật” của L.X Vưgốtxki
- “Tâm lí học sáng tạo văn học” của M Arnaudốp
- “Tâm lí văn nghệ” của Chu Quang Tiềm
Tóm lại, những công trình nêu trên đã đặt nền móng về lí luận và thực tiễn cho đề tài nghiên cứu của chúng tôi Tuy nhiên, các tài liệu trên còn mới chỉ là những gợi dẫn nặng về lí thuyết, chưa có sự hướng dẫn cụ thể mang tính ứng dụng của biện pháp rèn luyện và phát huy năng lực tưởng tượng cho HS trong giờ học Văn Hơn nữa, mặc dù vấn đề này đã được đặt ra từ lâu, nhưng trước nay bị bỏ quên, ít được chú ý Vì vậy, với luận văn này, chúng tôi đã kế thừa lí luận và thực tiễn của các công trình trên, tiếp tục hệ thống, củng cố và bổ sung thêm các biện pháp hữu hiệu để giúp GV áp dụng vào việc rèn luyện, phát huy năng lực liên tưởng, tưởng tượng cho HS, từ đó, góp phần nâng cao năng lực cảm thụ, hiệu quả dạy và học bộ môn Văn ở trường phổ thông
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Nêu và phân tích được cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn của đề tài
- Đề xuất và giới thuyết được những nguyên tắc, phương pháp, biện pháp, hình thức tổ
chức, công cụ rèn luyện năng lực tưởng tượng cho HS trong dạy học tùy bút Người lái
đò sông Đà
- Thiết kế được giáo án và dạy thực nghiệm tác phẩm tùy bút Người lái đò sông Đà
theo theo hướng đã đề xuất
Trang 19- Đánh giá, khẳng định tính khả thi của các đề xuất
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu tài liệu, khái quát và đưa ra quan điểm về các vấn đề lý luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu
- Khảo sát, tìm hiểu, đánh giá thực trạng dạy học và rèn luyện năng lực tưởng tượng
trong dạy học tùy bút Người lái đò sông Đà
- Đề xuất giải pháp trong dạy học tùy bút Người lái đò sông Đà nhằm phát triển năng
lực tưởng tượng cho HS lớp 12
- Thử nghiệm, đánh giá và khuyến nghị
3.3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các phương pháp, biện pháp, hình thức tổ chức, công
cụ hỗ trợ dạy học nhằm phát triển năng lực tưởng tượng
- Khách thể nghiên cứu: Trích đoạn văn bản “Người lái đò sông Đà”, trong tùy
bút “Sông Đà” của Nguyễn Tuân, chương trình Ngữ văn THPT
4 Phương pháp nghiên cứu
Để phù hợp với mục đích nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu, chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau đây:
- Phương pháp tổng hợp lí luận và thực tiễn: Phương pháp này được sử dụng để tổng hợp cơ sở lí luận từ các công trình nghiên cứu về năng lực tưởng tượng trong dạy học Văn, tổng hợp các đề tài nghiên cứu thực tiễn dạy học Văn, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp dạy Văn phù hợp với đối tượng học sinh THPT
- Phương pháp khảo sát, thống kê: Phương pháp này được sử dụng để thống kê các phiếu tham khảo ý kiến của GV và HS về thực tế dạy học Văn; thống kê kết quả thực nghiệm sư phạm, phân loại và đánh giá những kết quả thu được nhằm kiểm nghiệm biện pháp đã được vận dụng trong quá trình dạy Văn
Trang 20- Phương pháp thực nghiệm: Chúng tôi tiến hành thực nghiệm sư phạm trong một
số giờ ở trường THPT bằng cách xây dựng nội dung thực nghiệm, trình tự tiến hành thực nghiệm, đối tượng thực nghiệm, soạn giảng,… Qua kết quả thực nghiệm, chúng tôi muốn kiểm định lại tính khả thi của đề tài, hiệu quả đạt được và phạm vi ứng dụng
của đề tài trong dạy học Văn nói chung, dạy học tùy bút Người lái đò sông Đà nói
riêng ở trường phổ thông
5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2 Đề xuất giải pháp phát triển năng lực tưởng tượng cho học sinh trong
dạy học tùy bút Người lái đò sông Đà
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 21CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Năng lực tưởng tượng
1.1.1 Quan điểm về năng lực
Quan niệm về năng lực Trong từ điển triết học do NXB tiến bộ Mátxcơva khẳng định: “Năng lực theo nghĩa rộng là những đặc tính tâm lý của cá thể điều tiết hành vi của các thể và là điều kiện cho hoạt động sống của cá thể” (Từ điển Triết học, Nhà
xuất bản Matxcova (bản dịch ra tiếng Việt của Nhà xuất bản Sự thật))
Trong từ điển Tiếng Việt: “Năng lực là một trong những điều kiện đủ hoặc vốn
có để thực hiện một công việc” (Đại từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, 1998) Theo nghĩa thông thường, năng lực là những điều kiện khả năng và chủ quan của con người trong thực hiện một số công việc nhất định Trong thực tế, người nào cũng có thể tiếp thu một số kiến thức,kỹ năng, kỹ xảo tối thiểu là cái làm cho người ta có thể dùng khi hoạt động Song, trong những điều kiện như nhau thì khác nhau có khả năng tiếp thu kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo ở mức độ, nhịp độ khác nhau Ví
dụ trong hoạt động tiếp thu kiến thức học sinh này có thể tiếp thu nhanh, học sinh khác lại tiếp thu chậm Hay cùng một dạng bài tập,cùng điều kiện học tập như nhau, học sinh này có thể đạt trình độ giải một cách điêu luyện, thành thạo nhưng học sinh khác lại ở mức độ bình thường…
Theo quan điểm của những nhà tâm lý học Năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động, nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao Các năng lực hình thành trên
cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân mới đóng vai trò quan trọng, năng lực của
con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, phần lớn do công tác, do tập luyện
mà có
Tâm lý học chia năng lực thành các dạng khác nhau như năng lực chung và năng lực chuyên môn Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều ngành hoạt động khác nhau như năng lực phán xét tư duy lao động, năng lực khái quát hoá, năng lực
Trang 22vận dụng, năng lực tưởng tưởng Năng lực chuyên môn là năng lực đặc trưng trong lĩnh vực nhất định của xã hội như năng lực tổ chức, năng lực âm nhạc, năng lực kinh doanh, hội hoạ, toán học Năng lực chung và năng lực chuyên môn có quan hệ qua lại hữu cơ với nhau, năng lực chung là cơ sở của năng lực chuyên luôn, nếu chúng càng phát triển thì càng dễ thành đạt được năng lực chuyên môn Ngược lại sự phát triển của năng lực chuyên môn trong những điều kiện nhất định lại có ảnh hưởng đối với sự phát triển của năng lực chung Trong thực tế mọi hoạt động có kết quả và hiệu quả cao thì mỗi người đều phải có năng lực chung phát triển ở trình độ cần thiết và có một vài năng lực chuyên môn tương ứng với lĩnh vực công việc của mình Những năng lực cơ bản này không phải là bẩm sinh, mà nó phải được giáo dục phát triển và bồi dưỡng ở con người Năng lực của một người phối hợp trong mọi hoạt động là nhờ khả năng tự điều khiển, tự quản lý, tự điều chỉnh ở lỗi cá nhân được hình thành trong quá trình sống
và giáo dục của mỗi người
Năng lực còn được hiểu theo một cách khác, năng lực là tính chất tâm sinh lý của con người chi phối quá trình tiếp thu kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo tối thiểu là cái
mà người đó có thể dùng khi hoạt động Trong điều kiện bên ngoài như nhau những người khác nhau cớ thể tiếp thu các kiến thức kỹ năng và kỹ xảo đó với nhịp độ khác nhau có người tiếp thu nhanh, có người phải mất nhiều thời gian và sức lực mới tiếp thu được, người này có thể đạt được trình độ điêu luyện cao còn người khác chỉ đạt được trình trung bình nhất định tuy đã hết sức cố gắng
Dưới góc độ xã hội, năng lực là tổng hợp những phẩm chất cá nhân đáp ứng những yêu cầu của hoạt động nhất định đảm bảo cho hoạt động đó nhanh chóng thành thạo và đạt hiểu quả cao Dưới góc độ triết học, năng lực là tổng hợp những đặc điểm
cá nhân., những khả năng chủ quan để thực hiện có hiệu quả một dạng hoạt động nhất định của chủ thể Năng lực vừa là cái tự nhiên vốn có mang tính di truyền giữa các thế
hệ vừa là sản phẩm của lịch sử Con người trước hết là một thực thể tự nhiên, là sản phẩm tiến hóa của giới tự nhiên Đồng thời là một thực thể xã hội, được quy định bởi các quan hệ xã hội trong quá trình phát triển Mặt xã hội và mặt tự nhiên thống nhất
Trang 23chặt chẽ với nhau tạo nên con người hiện thực Năng lực của con người được hình thành và phát triển trên chính sự thống nhất biện chứng của hai mặt này
Có rất nhiều quan niệm, định nghĩa khái niệm về năng lực như:
1/ Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó
2/ Phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao (Hoàng Phê,Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2000)
Khả năng được hình thành và phát triển, cho phép con người đạt được thành công trong một hoạt động thể lực, trí lực hoặc nghề nghiệp Năng lực được thể hiệnvào khả năng thi hành một hoạt động, thực hiện một nhiệm vụ (Từ điển Giáo dục học, NXB Từ điển Bách khoa, 2000)
Năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo – tức là có thể thực hiện một cách thuần thục và chắc chắn – một hay một số dạng hoạt động nào đó Năng lực gắn liền với những phẩm chất về trí nhớ, tính nhậy cảm, trí tuệ, tính cách của
cá nhân (Từ điển Bách khoa Việt Nam, Tập III)
Năng lực là “phẩm chất tâm sinh lý và trình độ chuyên môn tạo cho con người hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao Năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo – có thể thực hiện một cách thuần thục và chắc chắn – một dạng hoặc một số dạng hoạt động nào đó; năng lực gắn liền với phẩm chất trí nhớ, tính nhạy cảm, trí tuệ và tính cách của cá nhân Năng lực có thể di truyền thông qua gen nhưng nó chủ yếu là sản phẩm của lịch sử và các hoạt động thực tiễn của con người” Năng lực là sự phù hợp một tổ hợp thuộc tính nào đó của cá nhân với yêu cầu của hoạt động nhất định, được thể hiện ở sự hoàn thành tốt hoạt động ấy Không có năng lực chung chung mà năng lực bao giờ cũng gắn với hoạt động cụ thể của con người
Đặc điểm năng lực: Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân,
năng lực không phải chỉ là thuộc tính, đặc điểm nào đó của cá nhân mà nó bao gồm
Trang 24những thuộc tính tâm lý và sinh lý Tuy nhiên, sự tổ hợp này không phải là tất cả các thuộc tính tâm lý và sinh lý mà chỉ bao gồm những thuộc tính tương ứng với những đòi hỏi của một hoạt động nhất định nào đó và làm cho hoạt động đó đạt kết quả Năng lực chỉ tồn tại trong hoạt động, gắn liền với hoạt động và chỉ được bộc lộ thông qua hoạt động khi con người chưa hoạt động thì năng lực tồn tại dưới dạng tiềm ẩn Tuy nhiên, năng lực con người không phải sinh ra đã có mà năng lực được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động và giao tiếp Kết quả của hoạt động là thước đo đánh giá năng lực của cá nhân
Điều kiện để có năng lực: Điều kiện tự nhiên: Điều kiện tự nhiên chính là tư chất của con người Tư chất là những gì thuộc về đặc điểm riêng của cá nhân Tư chất thể xuất phát từ yếu tố bẩm sinh – di truyền nhưng cũng có thể xuất phát trong quá trình tiếp thu; Điều kiện xã hội: Xã hội càng phát triển, con người càng có nhiều cơ hội phát triển năng lực Sự phát triển của năng lực còn chịu sự chị phối của chế độ chính trị Có năng khiếu và năng lực nhưng xã hội không sử dụng hoặc sử dụng sai mục đích thì sẽ không phát huy được năng lực đó Năng lực chỉ được hình thành và phát triển trong giao tiếp với mọi người xung quanh
Có nhiều công trình nghiên cứu với các góc độ tiếp cận khác nhau mà có các khái niệm khác nhau về năng lực Trong khuôn khổ của khóa luận này, chúng tôi xin được sử dụng khái niệm về năng lực nghề nghiệp, năng lực đầu ra của TS Tôn Quang Cường trong Tài liệu Tập huấn Xây dựng chương trình theo chuẩn năng lực đầu ra (Tháng 8/2013), đó là:
- Tính định hướng về kết quả cuối cùng mà người học cần phải làm được sau
khi kết thúc một chương trình đào tạo
- Tổ hợp các kĩ năng và hành vi, giá trị, niềm tin…để thực thi các nhiệm vụ trong từng bối cảnh, mức độ cụ thể
- Tổ hợp các chỉ số về kiến thức, kĩ năng, thái độ, phẩm chất được hình thành theo những chuẩn được công bố trước và khả năng của cá nhân vận dụng chúng trong thực tế
Trang 25- Sự “sẵn sàng” thực hiện hành động đáp ứng các yêu cầu chung, yêu cầu cụ thể trong từng bối cảnh theo chuẩn
Năng lực được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau phụ thuộc vào bối cảnh và mục đích sử dụng những năng lực đó Điều quan trọng là rút ra những đặc điểm chủ yếu của năng lực trong từng mục đích, chương trình cụ thể
Từ khái niệm và phân tích đặc điểm của năng lực, chúng ta thấy cấu trúc của
năng lực thể hiện ở các cách tiếp cận sau:
- Về bản chất, năng lực là khả năng chủ thể kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức hợp lí các kiến thức, kĩ năng, với thái độ, giá trị, động cơ…
- Về mặt biểu hiện, năng lực thể hiện bằng sự biết sử dụng các kiến thức, kĩ năng, thái
độ và giá trị, động cơ trong một tình huống có thực thể hiện trong hành vi, hành động
là tầng LÀM, tầng những gì mà cá nhân thực hiện được, làm được vì thế nên có thể quan sát được Tầng 2 là SUY NGHĨ, tầng tiền đề, tức là những kiến thức, kỹ năng tư
duy cùng với giá trị niềm tin là cơ sở quan trọng để phát triển tư duy, suy nghĩ… là điều kiện để phát triển năng lực, chúng ở dạng tiềm năng, không quan sát được Tầng 3
là tầng MONG MUỐN, tầng sâu nhất, quyết định cho sự khởi phát và tính độc đáo của
năng lực được hình thành, trong đó động cơ và tính tích cực của nhân cách có tính quyết định Bởi nếu bạn thực sự mong muốn, bạn có thể đạt được những điều ở tầng 2
và 1; nếu bạn không muốn thì không gì có thể thay đổi bạn Tầng 1 vừa là tầng thể hiện
Trang 26kết quả của hoạt động (thể hiện năng lực) và vừa là con đường và phương thức hình thành và phát triển năng lực
Hình 1.1 Mô hình tảng băng về cấu trúc năng lực
1.1.2 Năng lực tưởng tượng
1.1.2.1 Một số quan điểm về năng lực tưởng tượng
Năng lực tưởng tượng dưới góc nhìn tâm lý học
Năng lực tưởng tượng theo quan điểm tâm lý học
Trang 27Dưới góc nhìn của tâm lý học, tưởng tượng là một quá trình tâm lý phản ánh
những cái chưa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở của những biểu tượng đã có [6 Tr.202]
Biểu tượng được hiểu là sự làm hiện ra trong óc cá nhân một cách nguyên vẹn hoặc có sáng tạo những hình tượng của sự vật hiện tượng mà ta đã tri giác trước đây, mặc dầu không có những thuộc tính cụ thể của các sự vật hiện tượng đó tác động trực tiếp vào cơ quan cảm giác
Như vậy, tưởng tượng chỉ nảy sinh trước hoàn cảnh có vấn đề, trước những đòi hỏi mới của thực tiễn chưa từng gặp Động cơ thúc đẩy quá trình tưởng tượng cũng là nhu cầu khám phá, phát hiện, tìm ra cái mới
Căn cứ vào tính tích tích cực và tính hiệu lực của tưởng tượng mà các nhà tâm
lý học chia tưởng tượng thành hai loại: Tưởng tượng tích cực và tưởng tượng tiêu cực
- Tưởng tượng tiêu cực là tưởng tượng tạo ra những hình ảnh không thể được thực hiện trong cuộc sống, vạch ra những chương trình hành vi không thực hiện, tưởng tượng chỉ để mà tưởng tượng, để thay thế cho hành động
- Tưởng tượng tích cực là tưởng tượng là loại tưởng tượng tạo ra những hình ảnh nhằm đáp ứng những nhu cầu Kích thích tính tích cực thực tế của con người
Quan hệ giữa tư duy và tưởng tượng
Theo Pascal, nhà tư tưởng Pháp đã có quan niệm về con người: Con người
chẳng qua chỉ là một cây sậy, một thứ yếu ớt nhất trong giới tự nhiên, nhưng lại biết tư duy [12 Tr.11]
Như vậy, nhờ điều khiển chức năng tư duy độc đáo của bộ não, con người tạo nên sức mạnh thần kì để sinh tồn và phát triển một cách mạnh mẽ Trong nghiên cứu triết học, tâm lí học đều thống nhất quan điểm về tư duy:
Trang 28- Tư duy là sự phản ánh của bộ não con người đối với thuộc tính bản chất và quy luật nội tại của sự vật khách quan Tư duy là hoạt động tâm lí mà con người vạch
ra thuộc tính bản chất và quy luật nội tại của sự vật
- Tư duy là một quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan, mà trước đó ta chưa biết
- Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lí
Dựa vào đặc điểm của tư duy, lí luận nhận thức thường xếp tư duy vào ba bình diện khác nhau:
Tư duy trực quan - hành động là hình thức liên hệ trực tiếp với hiện thực trên cơ
sở thực tiễn Nó giúp con người đối chiếu hoạt động tư duy với các thuộc tính của khách thể tác động, đảm bảo một sự nhận thức khách quan phù hợp đối tượng
Tư duy logic - khái niệm là sự phản ánh tách khỏi đối tượng, nhưng nó xâm nhập vào bản chất của các hiện tượng Loại tư duy này vận dụng các phương pháp cơ bản như phân tích, tổng hợp, trừu tượng, khái quát v.v… từ đó vạch ra bản chất và mối liên hệ có tính quy luật của sự vật, đi sâu vào những điều bí ẩn mà tư duy trực quan không vươn tới được
Tư duy hình tượng - cảm tính đảm bảo sự tiếp xúc cảm tính, nhưng cách xa đối với khách thể trên cơ sở nghe, nhìn, tưởng tượng Tư duy này đòi hỏi phải tái hiện khách thể một cách toàn vẹn, tách khỏi hiện thực khách quan, chuyển nó thành một sự thực của ý thức Cách tái hiện này không tạo nên sự sao chép hiện thực một cách bàng quan, mà là tạo thành hình tượng cụ thể, hoàn chỉnh và còn có khả năng dự báo về hiện thực
Trang 29Tưởng tượng là một thao tác cơ bản của tư duy hình tượng, là một yếu tố quan trọng trong hoạt động của tư duy Nhận thức của con người không phải chỉ phản ánh những sự vật hiện tượng đang trực tiếp tác động (như cảm giác, tri giác) và đã tác động trước đây (như trí nhớ) mà còn phản ánh những cái mà mình chưa hề trải qua Đó là một hình thức hoạt động tâm lí đặc biệt gọi là tưởng tượng
Giữa tư duy và tưởng tượng có mối quan hệ mật thiết với nhau Trong tưởng tượng nhất thiết phải có quá trình tư duy tham gia, tư duy tạo ý đồ cho tưởng tượng, xây dựng hình ảnh của tưởng tượng theo ý đồ đó Còn những hình ảnh cụ thể do tưởng tượng xây dựng nên đều chứa đựng và bộc lộ những tư tưởng do tư duy trừu tượng tạo
ra Nhờ tưởng tượng mà tư duy được cụ thể hóa bằng các hình ảnh Tưởng tượng vạch
ra hướng đi cho tư duy trong việc tìm kiếm, khám phá cái mới
Mối quan hệ giữa tưởng tượng và sáng tạo Sáng tạo là một yếu tố đặc trưng của con người trong hoạt động nhận thức Cuốn từ điển về sáng tạo (Gorny, 2007) đã nói về sáng tạo một cách tương đối khái
quát và đầy đủ: Sáng tạo được hiểu là khả năng của một con người, của một tổ chức
đưa ra những ý tưởng mới, có chất lượng cao và có giá trị cao; là sự tư duy theo cách mới, là sự nhìn thấy vấn đề mới trong các vấn đề cũ Sáng tạo là sản phẩm của các phẩm chất và năng lực trí tuệ [33 Tr 7]
Weisberg (2006) có chỉ ra những đặc tính cơ bản của sáng tạo Trong đó, đặc
tính đầu tiên đó là: Sáng tạo là quá trình tư duy, tưởng tượng để hình thành các ý
tưởng mới có giá trị dựa trên các kiến thức khoa học chung và chuyên ngành và dựa trên những xúc cảm cá nhân [33 Tr 8]
Sáng tạo có đầu vào là những vấn đề, những kích thích của môi trường, kiến thức, năng lực sáng tạo của chủ thể, có quá trình là hành động tâm lý và sản phẩm là các ý tưởng mới Ủy ban Tư vấn quốc gia về Sáng tạo và Giáo dục văn hóa của Vương quốc Anh cho rằng quá trình sáng tạo có 4 đặc trưng chính như sau:
Trang 30- Cuối cùng, ý tưởng đó phải có giá trị
Như vậy, theo cách hiểu này, chúng ta thấy rằng tưởng tượng là một quá trình thuộc sáng tạo Quá trình tưởng tượng là quá trình sáng tạo ra cái mới cho cá nhân và xã hội,
là cơ sở để có những phát minh khoa học và các tác phẩm văn học nghệ thuật
Năng lực tưởng tượng dưới góc nhìn lý luận dạy học hiện đại
Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực
Định hướng quan trọng trong đổi mới PPDH là phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực cộng tác làm việc của người học Đó cũng là những xu hướng quốc tế trong cải cách PPDH ở nhà trường phổ thông Một số
lý thuyết dạy học hiện đại như: Thuyết kiến tạo, thuyết hành vi, thuyết nhận thức,… đều hướng tới phương pháp dạy học tích cực Dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, từ đó giúp HS tự khám phá những điều chưa biết chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức được sắp đặt sẵn Theo tinh thần này, giáo viên không cung cấp, áp đặt kiến thức có sẵn mà là người tổ chức và chỉ đạo HS tiến hành các hoạt động học tập như nhớ lại kiến thức cũ, phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đã biết vào các tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn, Những biểu hiện của việc tích cực hóa hoạt động của học sinh chính là tiền đề quan trọng trong việc hình thành các năng lực cần thiết cho người học, trong đó có năng lực tưởng tượng
Đối với môn học Ngữ văn, đổi mới phương pháp dạy học càng có mối quan hệ mật thiết với việc phát triển năng lực tưởng tưởng Theo phương pháp dạy học truyền thống, giờ Ngữ văn thường là giờ giảng của các thầy cô Thầy cô là trung tâm của lớp
Trang 31học, học sinh chỉ lắng nghe và tiếp nhận Với các phương pháp dạy học tích cực hiện nay, học sinh chính là trung tâm của lớp học, tạo nên một lớp học đa chiều, có sự giao lưu, trao đổi giữa học sinh với giáo viên, với các tài liệu, Học sinh thực sự có cơ hội
để cùng tưởng tượng, sáng tạo, kiến tạo ra những đơn vị kiến thức mới không chỉ bó hẹp trong phạm vi sách vở mà còn mở rộng liên hệ với thực tế, không chỉ là văn chương mà còn liên tưởng, tưởng tượng tới các lĩnh vực như điện ảnh, hội họa, âm nhạc,…
Vấn đề đổi mới kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực Thuật ngữ Đánh giá năng lực theo cách tiếp cận Eric Witty (Eric Witty, Barbara
Gaston (2008), Competency Based Learning And Assessment, ETITO) là quá trình
tương tác với người được đánh giá để thu thập các minh chứng về năng lực, sử dụng các chuẩn đánh giá đã có để đưa ra kết luận về mức độ đạt hay không đạt về năng lực nào đó của người đó Đánh giá theo tiếp cận năng lực là hướng tới việc đánh giá khả
năng vận dụng kiến thức và thái độ và những kinh nghiệm vào cuộc sống chứ không chỉ đánh giá những đơn vị kiến thức đơn lẻ Để chứng tỏ được người được đánh giá có năng lực ở một mức độ nào đó, phải tạo cơ hội để họ được vận dụng các kiến thức, kỹ năng và cả kinh nghiệm bản thân vào giải quyết vấn đề trong bối cảnh thực để chứng minh được khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng thực hiện của mình cùng với thái độ của bản thân
Đánh giá không phải là sự kết thúc trong chính nó mà là một phương tiện để cải tiến giáo dục Có nghĩa là cần xác định các giá trị mang lại cho các bên liên quan sau khi thực hiện quá trình đánh giá, ví dụ như cung cấp những thông tin phản hồi để giúp mỗi cá nhân tự cải thiện một năng lực nào đó, trong đó có năng lực tưởng tượng
Trong môn Ngữ văn, đánh giá năng lực tưởng tượng là một nhân tố trong việc khuyến khích tính tích cực, chủ động của người học Giúp người học linh hoạt, hoạt ngôn và sáng tạo hơn trong giờ Ngữ văn, tạo hứng thú trong mỗi giờ học và giúp giáo viên đánh giá được đúng năng lực thực sự của người học
Trang 32Năng lực tưởng tượng dưới góc nhìn giáo dục học Theo đề án Đổi mới chương trình, sách giáo khoa (2014), năng lực tưởng tượng
là các khả năng của học sinh hình thành ý tưởng mới, đề xuất các giải pháp mới hay cải tiến làm mới một sự vật, có các giải pháp khác nhau để giải quyết một vấn đề, sự tò
mò, thích đặt câu hỏi để khám phá sự thật xung quanh từ đó tạo nên năng lực sáng tạo
Bộ GD-ĐT vừa công bố dự thảo chương trình giáo dục phổ thông mới dự
kiến áp dụng từ năm học 2018-2019; được xây dựng theo định hướng phát triển phẩm
chất và năng lực, định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp cho học sinh
Về năng lực, dự thảo hướng đến 10 năng lực cốt lõi (những năng lực mà ai cũng cần
có để sống và làm việc trong xã hội hiện đại) gồm:
- Những năng lực chung được tất cả các môn học và hoạt động giáo dục góp phần hình thành, phát triển: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
- Những năng lực chuyên môn được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một
số môn học, hoạt động giáo dục nhất định: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất
Như vậy, môn Ngữ văn sẽ góp phần hình thành và phát triển những năng lực quan trọng cho thế hệ trẻ tương lai Trong đó không thể thiếu năng lực sáng tạo Năng lực tưởng tượng là một thành tố biểu hiện quan trọng của năng lực sáng tạo
1.1.2.2 Vai trò của năng lực tưởng tượng trong hoạt động nhận thức
Tưởng tượng rất quan trọng trong cuộc sống, theo K Marx: tưởng tượng không
chỉ là là một đặc tính của hoạt động thần kinh, là bản năng mà còn là một năng lực đánh dấu bước tiến so với con vật, nói lên trình độ phát triển của con người, Trí tưởng tượng là phú bẩm vĩ đại đã thúc đẩy mạnh mẽ cho nhân loại phát triển
Trang 33Ti-mi-ria-zep- nhà tự nhiên học người Nga, một trong những người sáng lập
ngành sinh lí học thực vật- cũng từng nói: Con người không biết tưởng tượng vẫn có
thể thu thập được sự kiện Nhưng nếu không có tưởng tượng sẽ không thể có phát minh
vĩ đại, loài người sẽ không phát triển cả văn minh vật chất và văn minh tinh thần [38
Tr.2]
Quá trình phát triển trí tuệ của con người thường liên quan đến bốn yếu tố Bẩm sinh di truyền, môi trường sống, giáo dục đào tạo và tự thân rèn luyện Tưởng tượng chỉ là một trong nhiều nội dung của tự thân rèn luyện Điều này chúng ta có thể tự trau dồi và luyện tập để có được hết những ích lợi của sự tưởng tượng Dù là học sinh, sinh viên đến nhà khoa học, các vị lãnh đạo quản lý, sản xuất kinh doanh, đến các văn nghệ sĩ muốn phát triển tài năng nhất thiết phải biết tưởng tượng
Tưởng tượng có vai trò quan trọng đối với cá nhân nói riêng và nhân loại nói chung Óc tưởng tượng phong phú sẽ đem đến những hình ảnh mới lạ, những sáng kiến hay, những cách giải quyết vấn đề mới Tuy nhiên, đó phải là sự kết hợp với óc tư duy,
ý thức đúng đắn, tưởng tượng một cách sáng tạo chứ không phải là tưởng tưởng trong tiêu cực
Tưởng tượng luôn liên quan mật thiết với những xúc cảm sâu sắc bền vững, thúc đẩy quá trình tư duy, là nguồn kích thích nội tâm đối với hành vi và tâm lý hoạt động của con người để thể hiện nó vào trong cuộc sống Với mỗi người, tưởng tượng hình mẫu về mình trong tương lai không giống nhau, có người ước mơ trở thành bác sĩ, có người thích làm kỹ sư, người khác lại muốn làm ca sĩ,…và thường hình dung mình trong vai trò hình mẫu đó Chính những ước mơ ấy góp phần kích thích mỗi người luôn phấn đấu để đạt được thành công Tưởng tượng là điều kiện của hoạt động sáng tạo Thiếu tưởng tượng con người không thể thoát ra khỏi thế giới cảm giác và tri giác, không thể có cơ sở đi sâu vào nhận thức bản chất của sự vật, hiện tượng, không thể nhìn về tương lai, không thể lao động sáng tạo, phát minh
Trong lao động, nhờ có năng lực tưởng tượng, con người mới dám bứt phá trong cách nghĩ, cách làm, vượt lên trên mọi khuôn phép ràng buộc và lối mòn để sáng tạo và đạt hiệu suất lao động cao nhất Từ cày tay đến cày máy, từ gặt đập thủ công đến gặt
Trang 34đập bằng máy móc, từ cắt may thủ công đến công nghiệp,…tất cả thành quả ấy đều xuất phát từ trí tưởng tượng phong phú, từ khát khao nâng cao năng suất lao động và giảm thời gian, sức lực của con người
Trong khoa học kĩ thuật, tưởng tượng là điều kiện quan trọng nhất của mọi sáng chế, phát minh Từ những vật dụng trong đời sống hàng ngày như tủ lạnh, máy giặt, ô
tô, các thiết bị truyền thông, cho đến các máy móc, phương tiện tối tân như máy bay, tàu vũ trụ, tên lửa,… đều là những thành quả của trí tưởng tượng độc đáo, kì diệu của con người
Trí tưởng tượng trong khoa học khảo cổ thật tuyệt vời, nó có thể cho ta hình dung thấy cả thời tiền sử chỉ từ một chiếc răng duy nhất của khủng long còn sót lại đến nay Cũng như vậy, từ một mẫu vật khảo cổ, một họa tiết trên đình chùa, sách vở, các nhà khoa học lịch sử, các nhà văn hoá học đã dùng trí tưởng tượng logic của mình để khôi phục một cách thuyết phục hình dáng, màu sắc và vị thế của một cung điện, một ngôi chùa đã bị thời gian vùi lấp để có thể phục dựng, trùng tu
Tưởng tượng, do vậy luôn luôn xuất hiện trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người khi tác động lên đời sống tự nhiên và xã hội Nhờ có tưởng tượng thông qua sự khái quát hóa của tư duy, con người được chắp cánh bay lên chân trời của mơ ước, nuôi khát vọng vươn tới sự khám phá, phát hiện để khẳng định vị thế của chủ thể đời sống Nhấn mạnh về vai trò của tưởng tượng, Albert Einstein - nhà bác học kỳ tài, cha
đẻ của thuyết Tương đối, một trong những thuyết vật lý cách mạng của nền khoa học
hiện đại đã có câu nói bất hủ: Trí tưởng tượng quan trọng hơn kiến thức Ông lý giải:
Kiến thức bị giới hạn bởi những gì ta biết và hiểu được, trong khi đó, trí tưởng tượng
ôm ấp cả thế giới, và cả những kiến thức chưa ai biết, chưa ai hiểu được
Hoạt động tưởng tượng có hai mức độ: tưởng tượng tái tạo và tưởng tượng sáng tạo
- Tưởng tượng tái tạo là quá trình phản ánh trong óc những biểu tượng mới đối với bản thân bằng cách dựa vào một số thông tin, tranh ảnh, những tài liệu, kinh nghiệm đã có của xã hội loài người mà tạo ra hình tượng hoàn chỉnh về sự vật, con người Loại này thường được sử dụng trong giảng dạy, học tập Ví dụ như
Trang 35tưởng tượng của HS về những điều được mô tả trong sách giáo khoa địa lí, lịch
sử, văn học,… Sự xây dựng hình ảnh mới đối với học sinh phụ thuộc vào tri thức, biểu tượng và kinh nghiệm đã có Do đó, muốn tưởng tượng tái tạo phong phú, giáo viên phải hướng dẫn HS rèn luyện trí nhớ, hiểu được các tri thức một cách hệ thống
- Tưởng tượng sáng tạo là quá trình kết hợp các hình ảnh đã biết để tạo ra những biểu tượng mới chưa có trong hiện thực Loại tưởng tượng này có đặc điểm cơ bản là mới lạ, độc đáo, riêng biệt Tưởng tượng sáng tạo vô cùng quan trọng đối với việc làm văn nói chung và sáng tác văn học nói riêng Các nhà văn thường thông qua các sự việc, kinh nghiệm có thật, biến hóa chúng đi, khái quát hóa, điển hình hóa để tạo nên hình tượng mới Các hình tượng văn học xưa nay đều
do tưởng tượng mà có
1.1.2.3 Năng lực tưởng tượng với quá trình sáng tạo và tiếp nhận nghệ thuật
Tưởng tượng với quá trình sáng tạo văn chương
Tư duy hình tượng là cơ sở của tư duy nghệ thuật Đó là loại tư duy xuất phát từ bình diện tư duy hình tượng - cảm tính, nhờ dựa trên cơ sở tiếp xúc cảm tính với đối tượng và làm sống lại toàn vẹn đối tượng đó bằng nghe, nhìn, tưởng tượng ợc nhà văn tái hiện không phải là sự sao chép hiện thực khách quan một cách bàng quan, mà bao hàm thái độ, tình cảm, đánh giá,…của người viết đối với nó Những hình ảnh hiện thực khách quan ở ngoài đời khi đi vào tác phẩm văn học là những hình ảnh, chi tiết đã được nhà văn chọn lọc, cải tạo cho phù hợp với tư tưởng, tình cảm và mục đích của người viết Như vậy, tư duy hình tượng - cảm tính cho phép nhà văn cùng một lúc vừa phát hiện khách thể vừa bộc lộ thái độ của chủ thể (quy luật khách quan phản ánh, chủ quan biểu hiện) Bên cạnh đó, là một sự tái hiện khách thể, người nghệ sĩ phải sử dụng tưởng tượng (hư cấu) để xây dựng những hình tượng có tầm khái quát lớn lao, tác động mãnh liệt tới người đọc
Trang 36Trong bài thơ “Tràng giang”, nhà thơ Huy Cận đem đến cho người đọc hình ảnh đẹp và buồn về cảnh vật trên sông Hồng: những con sóng gợn mênh mang, hình ảnh một con thuyền xuôi mái, một cành củi khô trôi trên sông, những cồn cát nhỏ, lơ thơ, ngọn gió đìu hiu buồn bã, bầu trời sâu chót vót, những cánh bèo trôi dạt, một cánh chim chiều chới với giữa bầu trời hoàng hôn,…Nhà thơ vừa tái hiện những hình ảnh thực trên sông, nhưng cũng lồng vào đó cảm xúc cá nhân, sự tưởng tượng độc đáo của bản thân mình Qua “Tràng giang”, ta cũng cảm nhận được nỗi sầu cô đơn của nhà thơ trước vũ trụ rộng lớn, vĩnh hằng và một tình yêu nước thầm kín, da diết của thi nhân
“Tràng giang” có cảm hứng từ dòng sông Hồng cụ thể, nhưng vào bài thơ, nhà thơ đã thổi hồn vào nó, biến nó thành một dòng sông sinh động, hấp dẫn, mang ý nghĩa khái quát, biểu tượng- dòng sông của tâm trạng, dòng sông cuộc đời Tư duy nghệ thuật diễn ra với quá trình thể nghiệm, trực giác và hư cấu đồng thời tiến hành việc khái quát hóa và cá thể hóa của nghệ sĩ Trong tư duy nghệ thuật, thể nghiệm là quá trình “nhập thân” bằng tưởng tượng vào đối tượng và tình huống của nó để phát hiện lại trên bản thân mình những kinh nghiệm mà đối tượng đã trải qua hoặc có thể xảy ra Đây là quá trình nhà văn tự quan sát, tiếp thu các kinh nghiệm của người khác bằng sự tưởng tượng để bổ sung cho kinh nghiệm thực tế của bản thân mình Nhờ sự thể nghiệm của người nghệ sĩ, mà hiện thực được phản ánh trong tác phẩm có chiều sâu và đa dạng, phong phú, muôn màu Cùng với sự thể nghiệm, trực giác cũng đóng vai trò quan trọng trong tư duy nghệ thuật Nó là những phán đoán cảm tính trực tiếp, tức thời, thể hiện sự nhận thức thẩm mĩ của chủ thể trong đời sống Vì là sự phán đoán và nhận xét cảm tính, nên trực giác của mỗi người không giống nhau, nó phụ thuộc vào vốn sống, sự liên tưởng, ấn tượng của chủ thể nghệ thuật Có thể kiểm chứng trực giác trên cơ sở đối chiếu với hiện thực khách quan Bên cạnh đó, để thể hiện một cách cụ thể và khái quát những điều mình thể nghiệm, trực giác, nhà văn phải tạo ra những hư cấu nghệ thuật - những hình tượng con người sinh động, cụ thể, có tính cách, số phận, quan hệ xã hội, phản ánh được bản chất xã hội và tư tưởng của nhà văn Hư cấu nghệ thuật không có trong đời thực nhưng phản ánh được cuộc sống hiện thực Trong quá trình xây dựng hình tượng nghệ thuật, để có được một hình tượng sinh động, hấp dẫn, có sức sống lâu
Trang 37bền, người nghệ sĩ phải đồng thời tiến hành khái quát hóa và cá thể hóa Khái quát hóa làm cho hình tượng có tầm bao quát, chứa đựng những chân lí lớn thoát khỏi giới hạn của các hiện tượng cá biệt đời thường, nó chỉ ra những nét chung nhất, bản chất nhất của sự vật Cá thể hóa tạo nên đặc điểm riêng biệt, độc đáo, không lặp lại của hình tượng Cả hai quá trình này luôn gắn liền với nhau trong việc xây dựng hình tượng nghệ thuật Mỗi hình tượng nghệ thuật mà nhà văn sáng tạo ra đều xuất phát từ hiện thực đời sống, và trải qua một quá trình thai nghén lâu dài của quan sát, trải nghiệm, trăn trở, nung nấu, dồn nén tình cảm, tưởng tượng của nhà văn về con người, cuộc đời Nhưng hình tượng ấy không phải là hình ảnh “nguyên xi” của hiện thực, mà đã được nhà văn hư cấu để thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình
Để sáng tác bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”, Hàn Mặc Tử đã có một thời gian học trung học ở Huế, có thời gian gắn bó với cảnh, người Huế Cảnh ấy, người ấy khắc sâu trong tâm khảm, trong tiềm thức của nhà thơ, cộng hưởng với nỗi đau bệnh tật, đến khi nhận được bức bưu ảnh Hoàng Cúc gửi thăm, thì hồi ức ấy, hình ảnh ấy, kỷ niệm ấy, nỗi đau ấy trào dâng mãnh liệt thôi thúc nhà thơ sáng tác Cuối cùng, nhà thơ đem đến cho chúng ta vẻ đẹp của mảnh vườn thôn Vĩ xanh tốt, mượt mà, tươi sáng trong khoảnh khắc bình minh, cảnh dòng Hương thơ mộng huyền ảo trong đêm trăng- cái thần, cái hồn của xứ Huế Vẻ đẹp của cả cảnh người Huế ấy vừa là hình ảnh của hiện thực mà nhà thơ đã nhìn thấy, đã nghe, đã nhớ được, nhưng nó cũng vừa là những hình ảnh của trí tưởng tượng, bị chi phối bởi ấn tượng, tình cảm của nhà thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” đâu chỉ là bức tranh đẹp về cảnh và người Huế, mà còn chứa chan tình đời, tình quê, tình người và nỗi buồn da diết của nhà thơ trong hoàn cảnh ốm đau bệnh tật Bên cạnh đó, hình ảnh Vĩ Dạ trong bài thơ mang nét riêng biệt của thần thái Huế, nhưng qua Vĩ Dạ, người đọc còn thấy được hình ảnh quen thuộc của mọi làng quê đất nước Việt Nam thanh bình, hiền hòa, yên ả Bằng tưởng tượng, nghệ sĩ nhào nặn những tư liệu thực tế truyền vào đó hơi thở của cuộc sống để làm cho chúng trở thành hình tượng cụ thể sinh động Hình tượng nghệ thuật về bản chất, cũng là sự phản ánh hiện thực, tuy nhiên, sự
Trang 38phản ánh này không phải là trực tiếp, mà là gián tiếp và được thực hiện thông qua sự sáng tạo mang tính cá nhân, in đậm dấu ấn chủ thể
Vì thế, tư duy nghệ thuật không chấp nhận sự giống nhau, sự lặp lại, sự sao chép; nó luôn yêu cầu phải đạt được tính cá biệt, điển hình và độc đáo Cùng viết về nỗi khổ của người nông dân, nhưng các nhà văn, đều có cảm nhận và thể hiện khác nhau
Nhân vật Lão Hạc trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Nam Cao khổ vì nghèo, đói, và kết cục phải ăn bả chó, chết đớn đau tủi khổ, Chị Dậu ở Tắt đèn của Ngô Tất Tố khổ cực vì sưu cao thuế nặng, Chí Phèo của Nam Cao lại xoáy vào bi kịch tha hóa, bị
cự tuyệt quyền làm người của người nông dân Lão Hạc, chị Dậu, Chí Phèo là những hình ảnh phản ánh được hiện thực bi kịch bế tắc của người nông dân trong xã hội cũ, nhưng mỗi hình tượng đều mang một nét riêng biệt, để lại ấn tượng lâu bền trong lòng người đọc nhờ sự sáng tạo độc đáo của tư duy nghệ thuật ở người nghệ sĩ Sức tưởng tượng cũng thể hiện cho sự ước đoán, tính nhạy bén của nhà văn trước cuộc đời Qua
“Chí Phèo”, Nam Cao đã phơi bày bi kịch tha hóa, bị cự tuyệt quyền làm người của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám Đọc “Chí Phèo”, ta vẫn còn thấy ám ảnh, day dứt trước hình ảnh Chí khật khưỡng vừa đi vừa chửi trong cơn say, cảnh nhân vật
ôm mặt khóc rưng rức khi bị thị Nở từ chối, xua đuổi, và những tiếng thét đầy căm phẫn, tuyệt vọng của Chí trước khi giết Bá Kiến và tự kết liễu đời mình: “Tao muốn làm người lương thiện (…) Không được! Ai cho tao lương thiện ? Làm thế nào cho mất được những vết mảnh chai trên mặt này? Tao không thể là người lương thiện được nữa Biết không !” [31 Tr 154]
Những hình ảnh trên cho thấy tấm lòng tinh tế nhạy cảm của nhà văn trước hiện thực xã hội, là sự trăn trở, đau đáu của tác giả trước bi kịch không lối thoát của người nông dân, là niềm tin của Nam Cao vào bản chất lương thiện đẹp đẽ của con người, đồng thời hành động Chí Phèo giết Bá Kiến còn nói lên một cảm quan hiện thực nhạy bén của Nam Cao: sự vùng dậy tất yếu của của những người dân bị áp bức vùng lên đòi
Trang 39quyền sống, quyền làm người Tác phẩm của nhà văn đâu chỉ là phản ánh hiện thực,
mà nhờ sự trải nghiệm và tưởng tượng, nhà văn còn có khả năng đi sâu vào khám phá bản chất của đời sống hiện tại, dự báo tương lai “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu còn để lại trong tôi bao ấn tượng sâu đậm về hình dáng dữ dằn và hành động tàn bạo của lão đàn ông vũ phu có “mái tóc tổ quạ” , “chân đi chữ bát”, “hai con mắt đầy vẻ độc dữ” Người đọc phẫn nộ trước cảnh “ lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà”, “dang thẳng cánh cho thằng bé hai cái tát khiến thằng nhỏ lảo đảo ngã dúi xuống cát”, đánh đập vợ con tàn bạo Nhưng cùng với sự căm phẫn, người đọc cũng xót lòng trước cảnh “lão lẳng lặng bỏ đi về phía bờ nước để trở về thuyền…tảng lưng khum khum và vạm vỡ càng có
vẻ cúi thấp hơn, nom lão như một con gấu đang đi tìm nguồn nước uống” Có lẽ cái đời đói nghèo vất vả, quẩn quanh bao nhiêu lo toan cực nhọc đã biến anh con trai “cục tính nhưng hiền lành” xưa kia thành một người chồng vũ phu, một lão đàn ông độc ác Lão vừa là nạn nhân của cuộc sống khốn khổ, vừa là thủ phạm gây nên biết bao đau khổ cho chính những người thân của mình Từ nhân vật này, tác phẩm cũng thể hiện cảm quan nhạy bén, trăn trở của nhà văn trước hiện thực cuộc sống con người sau chiến tranh, đó là làm sao để giữ thiên lương, nhân cách con người trước sự xô đẩy của hoàn cảnh, làm sao để người dân thoát khỏi cuộc sống khốn khổ, tăm tối ấy
Tóm lại, trong quá trình sáng tạo tác phẩm văn chương, tưởng tượng, năng lực tưởng tượng của nhà văn rất quan trọng Năng lực tưởng tượng của nhà văn chi phối toàn bộ quá trình sáng tạo của nhà văn, là một trong những yếu tố góp phần tạo nên sự sống động, hấp dẫn, mới lạ, hàm ý sâu xa của tác phẩm và là cơ sở tạo nên giá trị, sức sống của tác phẩm
Tưởng tượng với quá trình tiếp nhận văn học
Giữa sáng tạo và tiếp nhận văn học có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau Sản phẩm tinh thần do nhà văn sáng tạo (tác phẩm) được xem là “thông điệp” gởi tới công chúng - người đọc Bởi mục đích sáng tạo của nhà văn là kí thác, gởi gắm tâm sự,
Trang 40bộc lộ cảm xúc cá nhân và tinh thần thời đại của mình hướng tới người đọc Vì thế, lí thuyết tiếp nhận xem người đọc giữ vai trò là cầu nối góp phần hoàn tất quá trình sáng tạo của nhà văn
Trong quá trình sáng tạo tác phẩm văn học, nhà văn xây dựng những hình tượng nghệ thuật để thông qua đó- “nói” lên tâm tư, tình cảm của mình Hình tượng nghệ thuật lúc đầu nảy sinh trong ý đồ của nhà văn và được phát triển thành một thế giới nghệ thuật trọn vẹn tồn tại dưới dạng tinh thần trong ý thức nghệ sĩ Sau đó, nó được nhà văn hiện thực hóa bằng một hình thức vật chất nhất định, trở thành một văn bản văn học tách rời khỏi ý thức tác giả và tồn tại độc lập trong xã hội Nhưng tới đây, tác phẩm cũng chỉ là một văn bản, một tổ chức của những kí hiệu ngôn ngữ tồn tại khách quan Khi chưa được tiếp nhận, nằm trên giá sách, văn bản văn học chỉ là một tập giấy
có chữ, chưa thể nói đến tác động của nó đối với xã hội Chỉ khi được đọc, hệ thống kí hiệu ấy mới hiện lên trong tâm trí người đọc những sự việc, những hình tượng nhân vật, những suy nghĩ vui buồn của con người, cuộc đời…lúc ấy, các giá trị văn học tiềm
ẩn trong văn bản sẽ được người đọc tiếp nhận, văn bản văn học trở thành tác phẩm văn học Người đọc càng có trải nghiệm phong phú về cuộc sống, hiểu biết thấu đáo quy luật nghệ thuật, nội dung tác phẩm càng hiện lên rõ hơn, đầy đủ hơn, tác động đến tư tưởng, tình cảm của người đọc, của cuộc đời, trở thành một yếu tố của đời sống xã hội, tác phẩm văn học hoàn thành nhiệm vụ nghệ thuật của mình
Lí thuyết tiếp nhận hiện đại đã đặc biệt chú ý đến vai trò người đọc với tư cách
là “chủ thể tiếp nhận” Thể hiện vai trò năng động sáng tạo của tiếp nhận, người đọc tiếp nối, tham gia vào việc lí giải mục đích cùng ý đồ sáng tạo của nhà văn bằng tiếng nói đồng cảm, đồng tình của mình
Đọc “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng, người đọc cũng đau đớn trước sức mạnh của đồng tiền và sự băng hoại đạo đức của con người buổi giao thời; đến với “Từ ấy” (Tố Hữu), người đọc cũng phấn chấn, hứng khởi, tràn đầy say mê và nhiệt huyết với lí tưởng cách mạng của nhà thơ Những cảm nhận ấy của người đọc chính là sự phản hồi