ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC NGUYỄN THỊ THANH THỦY PHÂN TÍCH ĐẶC TRƯNG CẤU TRÚC, KHẢ NĂNG XÚC TÁC QUANG PHÂN HỦY MỘT SỐ CHẤT MÀU HỮU CƠ CỦA VẬT LIỆU TỔ HỢP CuO/ZnO LU
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
NGUYỄN THỊ THANH THỦY
PHÂN TÍCH ĐẶC TRƯNG CẤU TRÚC, KHẢ NĂNG XÚC TÁC QUANG PHÂN HỦY MỘT SỐ CHẤT MÀU
HỮU CƠ CỦA VẬT LIỆU TỔ HỢP CuO/ZnO
LUẬN VĂN THẠC SĨ HÓA HỌC
Thái Nguyên - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
NGUYỄN THỊ THANH THỦY
PHÂN TÍCH ĐẶC TRƯNG CẤU TRÚC, KHẢ NĂNG XÚC TÁC QUANG PHÂN HỦY MỘT SỐ CHẤT MÀU
HỮU CƠ CỦA VẬT LIỆU TỔ HỢP CuO/ZnO
Chuyên ngành : Hóa phân tích
Mã số : 8 44 01 18
LUẬN VĂN THẠC SĨ HÓA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Trương Thị Thảo
Thái Nguyên – 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên em xin được tỏ lòng cảm ơn chân thành nhất tới các thầy cô Khoa Hóa học Trường Đại học Khoa học Thái Nguyên đã trang bị kiến thức cho
em trong hai năm học tập và nghiên cứu
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo trường Đại học khoa học Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Hóa học và các cán
bộ nhân viên phòng thí nghiệm đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ em thực hiện luận văn tốt nghiệp này
Cuối cùng em xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới người đã hướng dẫn và giúp
đỡ em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này đó là cô Trương Thị Thảo
Dù đã rất cố gắng trong quá trình thực hiện luận văn này, nhưng do còn hạn chế về mặt năng lực, thời gian nên chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót cần
bổ sung, sửa chữa Vì vậy em rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của quý thầy
cô để luận văn tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Thủy
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
EDTA Etylen diamin tetra axetic
SEM Kính hiển vi điện tử quét (Scanning Electron Microscope) TEM Hiển vi điện tử truyền qua (Transmission Electron Microscopy) TG– DTA Phép phân tích nhiệt (Thermal Analysis)
XRD Nhiễu xạ tia X (X - Ray Diffraction)
UV - Vis Tử ngoại khả kiến (Ultraviolet - visible spectroscopy)
Trang 5
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Các thông số cấu trúc của CuO [28] 7
Bảng 2.1 Khối lượng các chất lấy để chế tạo các cặp CuO/ZnO 29
Bảng 2.2 Bảng pha các dung dịch chuẩn MR xác định khoảng tuyến tính 32
Bảng 3.1.Độ hấp thụ quang các dung dịch MR nồng độ 1 ppm đến 40 ppm 43
Bảng 3.2 Hiệu suất phân hủy methyl đỏ trong quá trình quang xúc tác có mặt CuO/ZnO với tỷ lệ CuO khác nhau nung ở các nhiệt độ khác nhau 45
Bảng 3.3 Hiệu suất quang phân hủy MR của vật liệu 47
CuO/ZnO 1-30 nung ở 550oC ,1h khảo sát ở hàm lượng vật liệu khác nhau 47
Bảng 3.4 Hiệu suất quang phân hủy MR của vật liệu 47
CuO/ZnO 1-30 nung ở 550oC ,1h khảo sát ở nồng độ chất phản ứng 47
Bảng 3.5 Tái sử dụng vật liệu CuO/ZnO 1-30 nung ở 550oC ,1h 48
với dung dịch MR 30ppm, nồng độ vật liệu 0,1 g/l 48
Bảng 3.6 Ảnh hưởng của các tác nhân tác nhân t – BuOH, Na2EDTA, p – BQ 49
Trang 6DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Cấu trúc Wurtzite và Blende của ZnO 4
Hình 1.2 Phổ huỳnh quang của ZnO khối loại n 6
Hình 1.3 Cấu trúc của vật liệu CuO ở nhiệt độ phòng 6
Hình 1.4 Phổ huỳnh quangcủa các mẫu CuO [30] 8
Hình 1.5 Sự dịch chuyển của bờ hấp thụ trong vật liệu ZnO có nồng độ điện tử cao 10
Hình 1.6 Quá trình chế tạo vật liệu bằng phương pháp sol - gel 12
Hình 1.7.Diễn biến quá trình sol - gel 13
Hình 1.8 Quá trình ngưng tụ 14
Hình 1.9 Vùng năng lượng của chất dẫn điện, bán dẫn, chất dẫn điện 15
Hình 1.10 Electron và lỗ trống quang sinh khi chất bán dẫn bị kích thích 16
Hình 1.11 Cơ chế xúc tác quang của chất bán dẫn 16
Hình 1.12 Màu của dung dịch methyl đỏ ở giá trị pH khác nhau 18
Hình 1.13 Công thức hóa học của methyl đỏ 18
Hình 1.14.Sơ đồ để mẫu và cặp nhiệt điện cho TGA - DTA 20
Hình 1.15 Minh hoạ sự nhiễu xạ của tia X 21
Hình 1.16 Nguyên tắc phát xạ tia X dùng trong phổ 24
Hình 2.1.Sơ đồ chế tạo vật liệu CuO/ZnO 29
Hình 3.1 Giản đồ phân tích nhiệt mẫu xerogel 35
Hình 3.2 Giản đồ XRD mẫu vật liệu CuO/ZnO 1- 30 nung 450oC 1h 36
Hình 3.3 Giản đồ XRD mẫu vật liệu CuO/ZnO 1- 45 nung 450oC 1h 36
Hình 3.4 Giản đồ XRD mẫu vật liệu CuO/ZnO 1- 10 nung 550oC 1h 37
Hình 3.5 Giản đồ XRD mẫu vật liệu CuO/ZnO 1- 30 nung 550oC 1h 37
Hình 3.6 Giản đồ XRD mẫu vật liệu CuO/ZnO 1- 45 nung 550oC 1h 38
Hình 3.7 Phổ EDX mẫu vật liệu CuO/ZnO 1-30 nung 450oC 1h 39
Hình 3.8 Phổ EDX mẫu vật liệu CuO/ZnO 1-45 nung 450oC 1h 39
Hình 3.9 Phổ EDX mẫu vật liệu CuO/ZnO 1-10 nung 550oC 1h 40
Hình 3.10 Phổ EDX mẫu vật liệu CuO/ZnO 1-30 nung 550oC 1h 40
Hình 3.11 Phổ EDX mẫu vật liệu CuO/ZnO 1-45 nung 550oC 1h 40
Hình 3.12 Ảnh SEM một số mẫu vật liệu nghiên cứu 41
Trang 7Hình 3.13.Ảnh TEM một số mẫu vật liệu nghiên cứu 41Hình 3.14 Phổ hấp thụ UV - Vis DRS mẫu vật liệu có tỷ lệ nguyên tử CuO/ZnO 1-
30 nung ở 450oC so với mẫu bột ZnO 42Hình 3.15 Phổ hấp thụ phân tử của Methyl đỏ 43Hình 3.16 Đường chuẩn xác định nồng độ MR 44Hình 3.17 Theo dõi quang phổ hấp thụ UV - Vis của sự phân hủy quang xúc tác của MR khi sử dụng TB 45Hình 3.18 Hiệu suất quang phân hủy MR với nồng độ vật liệu khác nhau 47Hình 3.19 Hiệu suất quang phân hủy MR với nồng độ chất phản ứng khác nhau 48Hình 3.20 Hiệu suất quang phân hủy MR khi tái sử dụng 3 lần 48Hình 3.21 Sự ảnh hưởng khi có mặt của các tác nhân oxi hóa t – BuOH,
Na2EDTA, p – BQ 49
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU iii
DANH MỤC HÌNH VẼ iv
1.1 VẬT LIỆU CuO/ZnO 4
1.1.1 Vật liệu ZnO 4
1.1.2 Vật liệu CuO 6
1.1.3 Vật liệu ZnO pha tạp CuO 9
1.2 PHƯƠNG PHÁP SOL – GEL TỔNG HỢP VẬT LIỆU KÍCH THƯỚC NANO 11
1.2.1 Diễn biến quá trình sol – gel 12
1.2.2 Phản ứng thủy phân 13
1.2.3 Phản ứng ngưng tụ 13
1.3 HOẠT TÍNH QUANG XÚC TÁC CỦA VẬT LIỆU CuO/ZnO 14
1.3.1 Khái niệm 14
1.3.2 Vùng hóa trị - vùng dẫn, năng lượng vùng cấm 14
1.3.3 Cặp electron - lỗ trống quang sinh 15
1.3.4 Cơ chế phản ứng quang xúc tác 16
1.3.5 Giới thiệu chất hữu cơ màu methyl đỏ 18
1.4 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HÓA LÝ 19
1.4.1 Phương pháp phân tích nhiệt TGA - DTA 19
1.4.2 Phương pháp nhiễu xạ tia X 20
1.4.3 Hiển vi điện tử quét 21
1.4.4 Hiển vi điện tử truyền qua 22
1.4.5 Phương pháp phổ tán sắc năng lượng tia X – phổ EDX 23
1.4.6 Phổ hấp thụ tử ngoại - khả kiến 24
2.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 27
2.2 NGUYÊN LIỆU, HÓA CHẤT VÀ THIẾT BỊ 27
Trang 92.2.1 Nguyên liệu, hóa chất 27
2.2.2 Thiết bị 27
2.3 TỔNG HỢP VÀ XÁC ĐỊNH ĐẶC TRƯNG VẬT LIỆU 28
2.3.1 Quy trình tổng hợp hệ vật liệu CuO/ZnO 28
2.3.2 Các phương pháp phân tích đặc trưng cấu trúc vật liệu 30
2.4 THỰC NGHIỆM ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG QUANG XÚC TÁC CỦA VẬT LIỆU TỔNG HỢP 31
2.4.1 Khảo sát bước sóng hấp thụ cực đại 31
2.4.2 Khảo sát khoảng tuyến tính, xây dựng đường chuẩn 31
2.4.3 Đánh giá phương pháp 32
2.4.4 Quy trình đánh giá hoạt tính xúc tác quang 33
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35
3.1 Phân tích các đặc trưng vật liệu 35
3.2 Phương pháp phổ hấp thụ phân tử UV - Vis đánh giá khả năng quang xúc tác phân hủy MR của vật liệu CuO/ZnO 42
3.2.1 Một số đặc trưng của phép đo 42
3.2.2 Đánh giá khả năng quang xúc tác của vật liệu CuO/ZnO tổng hợp được 44 KẾT LUẬN 51
Trang 10MỞ ĐẦU
ZnO là hợp chất bán dẫn thuộc nhóm AIIBIV có độ rộng vùng cấm lớn (cỡ 3.37 eV) và là chất quang xúc tác mạnh, có thể dùng để phân hủy các hợp chất hữu cơ độc hại trong môi trường nước và không khí [11, 13] Nhưng việc ứng dụng ZnO trong xử lí môi trường còn hạn chế do khả năng quang xúc tác chỉ xảy ra dưới tác dụng của bức xạ tử ngoại [14], mà bức xạ này chỉ chiếm 5% trong bức xạ Mặt Trời Đã có nhiều công trình nghiên cứu với mục đích tăng khả năng quang xúc tác của ZnO trong vùng ánh sáng khả kiến như thay đổi kích thước hạt, tăng tỉ lệ số nguyên tử trên bề mặt hạt, tổ hợp với bán dẫn khác
để làm giảm độ rộng vùng cấm hiệu dụng của vật liệu [8] Trong các phương pháp trên thì việc tổ hợp hai bán dẫn khác loại để tạo ra lớp chuyển tiếp dị thể tạo ra vật liệu hấp thụ trong dải phổ khả kiến là phương pháp đầy hứa hẹn Một
số nghiên cứu đã phát hiện khi thêm bán dẫn khác vào ZnO thì bề rộng vùng cấm hiệu dụng giảm, vùng hấp thụ mở rộng sang vùng ánh sáng nhìn thấy và kết quả hoạt động quang xúc tác hiệu quả hơn Có nhiều bán dẫn oxit kim loại đã được tổ hợp với ZnO như SnO2, Fe2O3, WO3, CdS, ZnS, trong đó có CuO
[16,18]
CuO là vật liệu bán dẫn loại p có vùng cấm hẹp (Eg=1,2 eV), khi tổ hợp với ZnO có thể tạo ra lớp chuyển tiếp dị thể p - n [9, 10] Nhờ lớp chuyển tiếp dị thể p - n của vật liệu composite CuO/ZnO, các quá trình truyền hạt dẫn giữa hai chất bán dẫn xảy ra, dẫn đến độ rộng vùng cấm hiệu dụng giảm [11,12] Nhờ đó khả năng quang xúc tác trong vùng ánh sáng mặt trời của vật liệu tổ hợp sẽ có hiệu quả cao hơn Một trong các ứng dụng quang xúc tác của vật liệu tổ hợp CuO/ZnO là tác dụng khử một số hợp chất màu hữu cơ
Từ lý do đó, và căn cứ vào điều kiện thiết bị điều kiện nghiên cứu của
phòng thí nghiệm, tôi chọn đề tài “Phân tích đặc trưng cấu trúc và khả năng quang xúc tác phân hủy một số chất màu hữu cơ của vật liệu tổ hợp
CuO/ZnO”
Cấu trúc của luận văn gồm các phần sau:
Trang 11- Mở đầu
- Chương 1: Tổng quan các vấn đề mà nhiều tác giả khác đã nghiên cứu,
từ đó đặt ra mục tiêu nghiên cứu để đóng góp một phần vào lý thuyết cũng như thực tiễn của vấn đề đang nghiên cứu
- Chương 2: Trình bày mục tiêu và nội dung của luận văn Trình bày các
phương pháp nghiên cứu và quá trình thực nghiệm các nội dung của luận văn
- Chương 3: Trình bày kết quả và thảo luận những vấn đề liên quan đến
đặc trưng cấu trúc vật liệu CuO/ZnO và khả năng quang xúc tác của các vật liệu điều chế được
- Kết luận rút ra trong quá trình nghiên cứu
- Tài liệu tham khảo
Trang 12CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN 1.1 VẬT LIỆU CuO/ZnO
1.1.1 Vật liệu ZnO
1.1.1.1 Cấu trúc vật liệu ZnO
ZnO thuộc dạng bán dẫn loại n, với năng lượng vùng cấm trực tiếp rộng
3,37eV và năng lượng kích thích liên kết lớn (60 meV) ở nhiệt độ phòng [17,18] Năng lượng vùng cấm trực tiếp rộng của ZnO làm cho nó trở thành một trong những vật liệu quan trọng nhất ứng dụng trong quang điện tử và năng lượng kích thích lớn làm cho nó có thể ứng dụng trong các thiết bị tái kết hợp kích thích [19] Về phương diện kỹ thuật, ZnO là một loại vật liệu quan trọng và
đa chức năng với nhiều ứng dụng khác nhau trong kỹ thuật điện tử, cửa sổ thông minh, thiết bị hoả điện, lazer UV, detector quang UV, cảm biến khí, cảm biến hoá học, cảm biến sinh học và chất kháng khuẩn [20,21]
ZnO thường tồn tại trong hai cấu trúc tinh thể Wurtzite và Blende như chỉ
ra trong hình 1.1
Hình 1.1 Cấu trúc Wurtzite và Blende của ZnO
Tuy nhiên, ở nhiệt độ và áp suất thường, tinh thể ZnO chủ yếu có cấu trúc Wurtzite với mạng lưới lục phương (hexagonal)
1.1.1.2 Tính chất hóa lý
Tinh thể ZnO có nhiệt độ nóng chảy cao (1975ºC), khối lượng riêng 5,606g/cm3, không tan trong nước, không mùi, ZnO ở dạng bột có màu trắng
Trang 13ZnO không tan trong nước nhưng tan trong dung dịch axit và dung dịch kiềm để tạo thành muối kẽm và zincat
ZnO + H2SO4 → ZnSO4 + H2O ZnO+ 2NaOH → Na2ZnO2 + H2O
Do vậy, khi sử dụng làm điện cực cho pin mặt trời hữu cơ DSSC (pin nhạy quang), độ bền của ZnO sẽ kém hơn so với TiO2 Bởi vì, pin DSSC sử dụng chất điện phân nên điện cực ZnO sẽ bị ăn mòn trong quá trình sử dụng làm cho tuổi thọ của pin giảm
1.1.1.3 Tính chất điện
ZnO là bán dẫn loại n, độ rộng vùng cấm 3,37 eV ở 300K ZnO tinh khiết là chất cách điện, ở nhiệt độ thấp Dưới đáy vùng dẫn tồn tại 2 mức donor cách đáy vùng dẫn lần lượt là 0,05eV và 0,15eV Ở nhiệt độ thường, electron không đủ năng lượng để nhảy lên vùng dẫn Vì vậy, ZnO dẫn điện kém ở nhiệt độ phòng Khi nhiệt độ tăng đến khoảng 200 ÷ 400oC, các electron nhận được năng lượng nhiệt đủ lớn chúng có thể di chuyển lên vùng dẫn, lúc đó ZnO trở thành chất dẫn điện
1.1.1.4 Tính chất quang
Tính chất quang của ZnO phụ thuộc mạnh vào cấu trúc vùng năng lượng
và mạng động lực Nói chung, tính chất quang của ZnO có nguồn gốc do sự tái hợp các trạng thái kích thích có trong khối Cơ chế này cho phép xử lý và phân tích phổ thu được từ ZnO và gắn cho nhiều sai hỏng liên quan đến đặc điểm của phổ, cũng như phát xạ cặp donor - aceptor (DAP) Sự mở rộng đỉnh từ 1,9 eV đến 2,8 eV liên quan đến một lượng lớn sai hỏng cũng là một tính chất quang phổ biến của ZnO Nguồn gốc phát quang trong vùng xanh lá cây vẫn chưa được hiểu rõ, người ta thường quy cho một các tạp chất và khuyết tật khác nhau trong mạng tinh thể Hình 1.2 là phổ huỳnh quang điển hình của ZnO loại n ở 4,2K
Sự kích thích cặp donor - aceptor và sự mở rộng vùng phát xạ xanh đều có thể được nhìn thấy rõ ràng, như thể là bản sao của các phonon quang dọc [15]
Trang 14Hình 1.2 Phổ huỳnh quang của ZnO khối loại n
1.1.2 Vật liệu CuO
1.1.2.1 Cấu trúc tinh thể của CuO
Trong số các hợp chất oxit bán dẫn, oxit đồng là một trong những chất được quan tâm nhiều nhất trong lĩnh vực vật lý bán dẫn Oxit đồng tồn tại ở hai dạng ổn định là đồng II oxit (CuO) và đồng I oxit (Cu2O) Hai oxit có sự khác nhau về tính chất vật lý, màu sắc, cấu trúc tinh thể và tính chất điện, cả hai oxit được biết đến là oxit kim loại bán dẫn loại p, oxit (Cu2O) với màu sắc đỏ thì ngược lại CuO có màu sắc đen, các báo cáo gần đây đã chứng minh rằng CuO có tính dẫn cao hơn Cu2O nhưng với tính di động thấp hơn CuO là một chất bán dẫn loại p có cấu trúc đơn tà, là bán dẫn liên kết cộng hóa trị với độ rộng vùng cấm vào khoảng 1,21 - 1,85 eV [23]
Hình 1.3 Cấu trúc của vật liệu CuO ở nhiệt độ phòng
Trang 15Cấu trúc tinh thể đầu tiên CuO được xác định vào năm 1933 và sau đó được khẳng định lại bằng phương pháp Xray vào năm 1970 [26] Trái ngược với các cấu trúc đá muối thông thường của mono oxit kim loại chuyển tiếp lớp 3d khác, cấu trúc của CuO là đơn tà với kiểu đối xứng không gian C2/c Trong mỗi
ô đơn vị của CuO có 4 nguyên tử Cu và 4 nguyên tử O (hình 1.3) Bourneetal đã chứng minh rằng CuO không có giai đoạn chuyển pha ở áp suất lên đến 700 kbar và nhiệt độ lên tới 3000K, trái ngược với các ôxit kim loại bán dẫn khác, quá trình chuyển pha tinh thể có thể xảy ra trong quá trình ủ và làm mát [37]
Bảng 1.1 Các thông số cấu trúc của CuO [28]
o
A (O - O) 2,90
Trang 161.1.2.2 Tính chất quang, điện của vật liệu CuO
Tính chất quang
Tính chất quang học của CuO trong vùng hấp thụ bị chi phối bởi ngưỡng hấp thụ quang của nó Giá trị này được xác định bởi bề rộng vùng cấm của vật liệu So với vật liệu CuO dạng khối, bề rộng vùng cấm của vật liệu CuO cấu trúc nano có sự dịch chuyển về phía vùng năng lượng của ánh sáng xanh (“blueshifted”) với các giá trị nằm trong một dải rộng từ 1,2 đến 2,1 eV [26]
Các nghiên cứu khác cũng đã công bố giá trị bề rộng vùng cấm lớn hơn rất nhiều, lên tới 4,13 eV đối với chấm lượng tử CuO có kích thước 10nm Vì vậy, CuO hấp thụ mạnh ánh sáng nhìn thấy và đối với các vật liệu CuO cấu trúc nano có bề rộng lớn, nó không hấp thụ trong vùng ánh sáng nhìn thấy mà hấp thụ mạnh trong vùng ánh sáng tử ngoại
Kết quả nghiên cứu [30] cho thấy phổ hấp thụ quang của vật liệu CuO cấu trúc nano có bờ vùng hấp thụ rất rõ ràng, vật liệu này có khả năng hấp thụ hầu như toàn bộ vùng ánh sáng nhìn thấy Điều rất quan trọng là các tính chất quang của CuO phụ thuộc rất mạnh vào phương pháp chế tạo mẫu và nhiệt độ xử lý
Hình 1.4 Phổ huỳnh quangcủa các mẫu CuO [30]
Ngoài tính chất hấp thụ của CuO, phổ phát quang (PL) của vật liệu CuO cấu trúc nano cũng được nghiên cứu khá toàn diện Vật liệu nano CuO đã được chế tạo với hình thái và kích thước khác nhau bằng phương pháp phân hủy nhiệt nhanh đối với muối đồng nitrate Cu(NO3)2, trong đó kích thước và hình thái của
Trang 17cấu trúc nano được kiểm soát bằng cách thay đổi nhiệt độ và thời gian của quá trình phân hủy[29] Hình 1.4 biểu diễn phổ huỳnh quang PL của các mẫu CuO được chế tạo trong thời gian nhất định (20 phút) và nhiệt độ khác nhau (a) và trong điều kiện nhiệt độ cố định (400oC) và thời gian khác nhau (b) Điểm chung của các phổ PL của tất cả các mẫu là có ba dải phát xạ rộng chính tập trung xung quanh các giá trị bước sóng 305 (4,07 eV), 505 (2,46 eV) và 606 nm (2,05 eV) Các PL đỉnh tại bước sóng 305 nm (4,07 eV) có liên quan đến các phát xạ vùng
- vùng của CuO cấu trúc nano Ba đỉnh phát xạ mạnh tại bước sóng 489nm (2,54 eV), 505nm (2,46 eV) và 525nm (2,37 eV) do sự phát xạ vùng - vùng từ các mức năng lượng phụ mới tại nhiệt độ 300 K hoặc có thể do các khuyết tật hiện diện trong các cấu trúc nano CuO gây ra Vùng phát xạ kéo dài từ bước sóng
585 nm đến 625 nm tương ứng với các tâm khuyết tật sâu của CuO[32]
Tóm lại, các tính chất huỳnh quang của CuO cấu trúc nano có thể được điều khiển bởi hình dạng, kích thước và hình thái của nó.Việc nghiên cứu tính chất quang của vật liệu CuO có thể ứng dụng trong các thiết kế thiết bị quang điện tử trên cơ sở vật liệu CuO
Gần đây vật liệu cấu trúc nano CuO đã chứng tỏ tiềm năng ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau Các lĩnh vực bao gồm: pin Li - ion (LIBs), siêu
tụ điện, cảm biến, các tế bào năng lượng mặt trời, bộ tách sóng quang, lĩnh vực khí thải, chất hoạt động bề mặt, trong môi trường loại bỏ các chất ô nhiễm hữu
cơ và thạch tín từ nước thải…[33, 35]
1.1.3 Vật liệu ZnO pha tạp CuO
Tinh thể thực tế luôn có kích thước xác định, do vậy tính tuần hoàn và đối xứng của tinh thể bị phá vỡ ngay tại bề mặt của tinh thể Đối với các tinh thể có kích thước giới hạn và rất nhỏ (cấu trúc màng mỏng, cấu trúc nano ) thì tính tuần hoàn và đối xứng tinh thể bị vi phạm Lúc này, tính chất của vật liệu phụ thuộc rất mạnh vào vai trò của các nguyên tử bề mặt [33] Ngoài lí do kích thước, tính tuần hoàn của tinh thể có thể bị phá vỡ ở các dạng sai hỏng trong tinh thể như là: sai hỏng đường, sai hỏng mặt, sai hỏng điểm
Trang 18Sai hỏng điện tử là sự khác biệt cấu trúc lớp vỏ điện tử ngoài cùng (thừa hoặc thiếu electron) so với lớp vỏ liên kết bền vững, xảy ra khi các electron bị kích thích lên mức năng lượng cao hơn Sự kích thích này có thể tạo một electron trong vùng dẫn hoặc một lỗ trống trong vùng hóa trị
Khi đưa vào trong mạng tinh thể ZnO, ion Cu2+ thay thế vi trí của ion
Zn2+ để màng ZnO trở thành bán dẫn loại n, điện tử dẫn trong màng được tăng lên[24] Điều này góp phần làm tăng số lượng cặp điện tử - lỗ trống khuếch tán đến bề mặt chất bán dẫn và tham gia phản ứng quang xúc tác Mặt khác sự tăng nồng độ hạt tải còn làm tăng nồng độ vùng cấm quang do dịch chuyển Brustein - Moss
* Dịch chuyển Brustein – Moss
Khi vật liệu ZnO pha tạp có nồng độ điện tử lớn hơn nồng độ giới hạn Mott 2,2.1019cm - 3 [31] thì có sự xảy ra dịch chuyển bán dẫn – kim loại, các trạng thái điện tử ở đáy vùng dẫn đã bị lấp đầy, mức Fermi được xác định bởi trạng thái bị chiếm cao nhất và bán dẫn trở nên suy biến Do đó dịch chuyển quang học vùng – vùng sẽ chịu tác động của nồng độ hạt tải tự do Năng lượng cần thiết để kích hoạt điện tử từ vùng hóa trị lên cùng dẫn sẽ lớn hơn độ rỗng vùng cấm cơ bản Hiện tượng này được gọi là hiệu ứng Brustein – Moss
Hình 1.5 Sự dịch chuyển của bờ hấp thụ trong vật liệu ZnO có nồng độ điện tử cao
Trang 19Mức độ tăng của vùng cấm phụ thuộc vào độ cong của vùng dẫn và vùng hóa trị, hay khối lượng hiệu dụng Sự tăng giá trị của vùng cấm Eg cho dịch chuyển trong bán dẫn suy biến được biểu diễn dưới dạng:
Trong đó Eg0 là vùng cấm của bán dẫn không pha tạp, N là nồng độ điện tử, ђ
là hằng số Planck và mvc* là khối lượng hiệu dụng rút gọn, được tính bởi biểu thức:
Như vậy khi pha tạp CuO vào mạng ZnO sẽ xuất hiện điện tử tự do, độ rộng vùng cấm giảm nên từ đó ảnh hưởng đến hoạt tính quang xúc tác
1.2 PHƯƠNG PHÁP SOL – GEL TỔNG HỢP VẬT LIỆU KÍCH THƯỚC NANO
Phương pháp sol - gel là một phương pháp linh hoạt được sử dụng trong việc tạo ra các vật liệu gốm khác nhau Thông thường, trong quá trình sol - gel, các hạt keo ở thể vẫn được tạo nên từ quá trình thuỷ phân và phản ứng trùng hợp của các tiền chất (các muối vô cơ kim loại hoặc hợp chất kim loại hữu cơ như các kiềm kim loại) Sau khi hoàn thành quá trình trùng hợp và mất tính hoà tan thì dung dịch tiền chất chuyển từ sol lỏng sang gel pha rắn Bằng phương pháp sol - gel và các biện pháp xử lý thích hợp có thể chế tạo vật liệu gốm với nhiều dạng khác nhau như: bột nano, màng mỏng, sợi gốm, màng xốp, gốm chắc đặc hoặc các vật liệu aerogel cực xốp Quá trình sol - gel và một số phương pháp xử lý mẫu được minh hoạ trên hình 1.6
Trang 20Hình 1.6 Quá trình chế tạo vật liệu bằng phương pháp sol - gel
Ưu điểm của phương pháp sol - gel:
- Có thể tổng hợp được vật liệu dưới dạng bột với cấp hạt cỡ micromet, nanomet;
- Có thể tổng hợp vật liệu dưới dạng màng mỏng, dạng sợi;
- Nhiệt độ tổng hợp không cần cao;
- Thời gian tạo mẫu khá nhanh
1.2.1 Diễn biến quá trình sol – gel
Quá trình phủ màng bằng phương pháp sol - gel gồm 4 bước:
- Bước 1: Các hạt keo mong muốn từ các phân tử huyền phù precursor
phân tán vào một chất lỏng để tạo nên một hệ sol
- Bước 2: Sự lắng đọng dung dịch sol tạo ra các lớp phủ trên đế bằng cách
phun, nhúng, quay
- Bước 3: Các hạt trong hệ sol được polyme hoá thông qua sự loại bỏ các
thành phần ổn định hệ và tạo ra hệ gel ở trạng thái là một mạng lưới liên tục
- Bước 4: Cuối cùng là quá trình xử lý nhiệt nhiệt phân các thành phần
hữu cơ, vô cơ còn lại và tạo nên một màng tinh thể hay vô định hình Diễn biến quá trình phủ màng có thể mô tả như trên hình 1.7
Trang 21Hình 1.7.Diễn biến quá trình sol - gel
Về cơ chế hoá học: Quá trình sol - gel hình thành với 2 dạng phản ứng chính là phản ứng thủy phân và phản ứng ngưng tụ bao gồm phản ứng ngưng tụ rượu và phản ứng ngưng tụ nước
1.2.2 Phản ứng thủy phân
Phản ứng thủy phân thay thế nhóm kiềm (–OR) trong liên kết kim loại - kiềm bằng nhóm hydroxyl (–OH) để tạo thành liên kết kim loại - hydroxyl Theo phương trình phản ứng sau:
M(OR)x + nH2O thuy phan
ester hoa
(RO)x - n - M - (OH)n + nROH M(OR)x + H2O M(OH)x + xROH
(x là hoá trị kim loại)
Các thông số ảnh hưởng chủ yếu đến quá trình thủy phân là pH, bản chất
và nồng độ của chất xúc tác, nhiệt độ, dung môi, tỉ số H2O/M
1.2.3 Phản ứng ngưng tụ
Phản ứng ngưng tụ tạo nên liên kết kim loại - oxit - kim loại, là cơ sở cấu trúc cho các màng oxit kim loại Hiện tượng ngưng tụ diễn ra liên tục làm cho liên kết kim loại - oxit - kim loại không ngừng tăng lên cho đến khi tạo ra một mạng lưới kim loại - oxit - kim loại trong khắp dung dịch Phản ứng ngưng tụ được thực hiện theo mô hình hình 1.8 và phương trình phản ứng sau:
MOR + MOH↔ M - O - M + ROH MOH + MOH↔ M - O - M + H2O
Trang 221.3.2 Vùng hóa trị - vùng dẫn, năng lượng vùng cấm
Theo lý thuyết vùng, cấu trúc của vật chất gồm có một vùng gồm những obitan phân tử được xếp đủ electron, gọi là vùng hóa trị (Valence band - VB) và một vùng gồm những obitan phân tử còn trống electron, gọi là vùng dẫn (Conduction band - CB).Hai vùng này được chia cách nhau bởi một khoảng
Trang 23cách năng lượng gọi là vùng cấm, năng lượng vùng cấm Eg (Energy gap band) chính là độ chênh lệch năng lượng giữa hai vùng hóa trị và vùng dẫn
Hình 1.9 Vùng năng lượng của chất dẫn điện, bán dẫn, chất dẫn điện
Sự khác nhau giữa vật liệu dẫn, không dẫn và bán dẫn chính là sự khác nhau về giá trị năng lượng vùng cấm Eg.Vật liệu bán dẫn là vật liệu có tính chất trung gian giữa vật liệu dẫn và vật liệu không dẫn Khi được kích thích đủ lớn bởi năng lượng (lớn hơn năng lượng vùng cấm Eg), các electron trong vùng hóa trị (VB) của vật liệu bán dẫn có thể vượt qua vùng cấm nhảy lên vùng dẫn (CB), trở thành chất dẫn có điều kiện Những chất bán dẫn đều có thể làm chất xúc tác quang [22]
1.3.3 Cặp electron - lỗ trống quang sinh
Khi được kích thích bởi các photon có năng lượng lớn hơn năng lượng vùng cấm Eg, các electron vùng hóa trị của chất bán dẫn sẽ nhảy lên vùng dẫn.Kết quả là trên vùng dẫn sẽ có các electron mang điện tích âm, được gọi là electron quang sinh (photogenerated electron eCB- ) và trên vùng hóa trị sẽ có các lỗ trống mang điện tích dương, được gọi là lỗ trống quang sinh (photogenerated hole hVB+) [36]
Trang 24Hình 1.10 Electron và lỗ trống quang sinh khi chất bán dẫn bị kích thích
Chính các electron - lỗ trống quang sinh là nguyên nhân dẫn đến các quá trình hóa học xảy ra bao gồm quá trình ôxi hóa đối với hVB+ và quá trình khử đối với eCB -
1.3.4 Cơ chế phản ứng quang xúc tác
Dưới tác dụng của ánh sáng, cơ chế xúc tác quang trên chất bán dẫn được thể hiện trong hình 1.11, gồm các quá trình sau:
Hình 1.11 Cơ chế xúc tác quang của chất bán dẫn
- Quá trình vật liệu bán dẫn hấp thụ năng lượng ánh sáng mặt trời tạo thành cặp electron - lỗ trống quang sinh
Trang 25- Quá trình tạo các gốc tự do bởi electron và lỗ trống quang sinh Các electron - lỗ trống quang sinh có khả năng phản ứng cao hơn so với các tác nhân ôxi hóa - khử đã biết trong hóa học
- Các electron - lỗ trống quang sinh chuyển đến bề mặt và tương tác với một số chất bị hấp thụ như nước và oxy, tạo ra những gốc tự do trên bề mặt chất bán dẫn theo cơ chế [35]:
đó các electron khác có thể nhảy vào đó để bão hòa điện tích, đồng thời tạo ra một lỗ trống mới ngay tại vị trí mà electron đó vừa đi khỏi Các electron quang sinh trên vùng dẫn cũng có xu hướng quay trở lại, tái kết hợp với các
lỗ trống quang sinh trên vùng hóa trị, kèm theo việc giải phóng năng lượng dưới dạng nhiệt hoặc ánh sáng Quá trình này làm giảm đáng kể hiệu quả xúc tác quang của vật liệu
Nhiều công bố cho rằng ZnO có hiệu ứng quang xúc tác cao hơn TiO2
trong một số điều kiện [11, 35, 27] Chất xúc tác trên cơ sở ZnO được nhiều nhà khoa học quan tâm vì các tính chất đặc biệt của nó như ổn định hoá học cao, không độc, rẻ tiền và có nhiều trong tự nhiên Tuy nhiên, ZnO vẫn có những nhược điểm như có tốc độ tái kết hợp nhanh các điện tử và lỗ trống quang sinh, hiệu suất lượng tử thấp trong phản ứng quang hoá trong dung dịch, do đó hoạt
Trang 26tính xúc tác quang hoá của ZnO cần phải được cải thiện rất nhiều mới có thể đáp ứng yêu cầu xử lý môi trường Để cải thiện hoạt tính xúc tác, nhiều loại kim loại hay oxit kim loại đã được pha tạp vào ZnO để ức chế sựtái kết hợp của điện tử
và lỗ trống sinh ra do quang hóa [28]
Trong luận văn này, chúng tôi sẽ nghiên cứu động học phân huỷ methyl
đỏ dùng chất xúc tác quang hoá CuO/ZnO có sự hỗ trợ của sóng siêu âm
1.3.5 Giới thiệu chất hữu cơ màu methyl đỏ
Methyl đỏ (2-(N, N - dimetyl - 4 - aminophenyl) axit azo benzene carboxylic), còn được gọi là C.I Acid Red 2, là một thuốc nhuộm chỉ số chuyển màu đỏ thành dung dịch axit
Hình 1.12 Màu của dung dịch methyl đỏ ở giá trị pH khác nhau
Trang 27được phân loại bởi IARC trong nhóm 3 – chưa được phân loại là tiềm năng gây
ung thư ở người
* Ứng dụng:
Trong vi sinh học, methyl đỏ được sử dụng trong thử nghiệm màu đỏ methyl (MR test), được sử dụng để xác định vi khuẩn sản xuất axit ổn định bằng cơ chế lên men axit glucose trong hỗn hợp Và được sử dụng làm chất chỉ thị trong lĩnh vực hóa học
1.4 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HÓA LÝ
1.4.1 Phương pháp phân tích nhiệt TGA - DTA
Phân tích nhiệt trọng lượng (TGA): là phương pháp phân tích trong đó sự thay đổi khối lượng của mẫu dưới sự thay đổi của nhiệt độ theo một chương trình được ghi lại như là một hàm số của nhiệt độ hoặc thời gian Khi vật liệu bị nung nóng khối lượng của chúng sẽ bị mất đi từ các quá trình đơn giản như bay hơi hoặc từ các phản ứng hoá học giải phóng khí Một số vật liệu có thể nhận được khối lượng do chúng phản ứng với không khó trong môi trường kiểm tra Phép đo TGA nhằm xác định khối lượng bị mất trong quá trình chuyển pha hoặc khối lượng chất mất đi theo thời gian và theo nhiệt độ do quá trình khử nước hoặc phân ly Đường phổ TGA đặc trưng cho một hợp chất hoặc một hệ do thứ
tự các phản ứng hoá học xuất hiện tại một khoảng nhiệt độ xác định là một hàm của cấu trúc phân tử Sự thay đổi khối lượng là kết quả của quá trình đứt gãy hoặc sự hình thành vô số các liên kết vật lý và hoá học tại một nhiệt độ dẫn đến
sự bay hơi của các sản phẩm hoặc tạo thành sản phẩm nặng hơn Nhiệt độ sử dụng thường khoảng 1200oC trong môi trường khí trơ [2]
Phân tích nhiệt vi sai (DTA): là kĩ thuật đo trong đó phát hiện sự chênh lệch nhiệt độ của mẫu đo và mẫu chuẩn (mẫu so sánh) để xác định các biến đổi nhiệt bên trong mẫu đang diễn ra sự thay đổi vật lý hoặc hóa học khi mẫu được gia nhiệt hoặc được làm lạnh [1] Sự chênh lệch giữa mẫu đo và mẫu chuẩn được phát hiện bởi cặp nhiệt điện đặt tái tấm để kim loại của giá đỡ mẫu Mẫu khi đo luôn xảy ra một trong hai quá trình giải phóng và hấp thụ nhiệt khi tăng nhiệt độ của hệ, ứng với mỗi quá trình này sẽ có một trạng thái chuyển pha
Trang 28tương ứng Dấu của năng lượng chuyển pha sẽ đặc trưng cho quá trình hấp thụ hay giải phóng nhiệt Đồng thời ta cũng xác định được nhiệt độ chuyển pha đó Mọi trạng thái chuyển pha của mẫu đo sẽ là kết quả của quá trình giải phóng hoặc thu nhiệt bởi mẫu, điều này sẽ tương đương với đạo hàm của nhiệt độ xác định từ mẫu chuẩn Khoảng thay đổi nhiệt độ vi phân đối với nhiệt độ điều khiển
mà tại đó toàn bộ hệ thay đổi sẽ cho phép phân tích nhiệt độ chuyển pha và xác định đây là quá trình toả nhiệt hay thu nhiệt
Hình 1.14.Sơ đồ để mẫu và cặp nhiệt điện cho TGA - DTA
1.4.2 Phương pháp nhiễu xạ tia X
Đa số các vật liệu rắn có thể mô tả theo hai trạng thái pha (phase) đó là vô định hình (amorphous) và tinh thể (crystalline) Vô định hình là trạng thái các phân tử sắp xếp một cách ngẫu nhiên như trong chất lỏng Ngược lại trạng thái tinh thể là trạng thái các phân tử được sắp xếp có trật tự theo một quy luật nào
đó Gần 95% vật liệu rắn là ở trạng thái tinh thể
Tia X là một dạng bức xạ điện từ có bước sóng từ 0,01 đến 10 nm, tương ứng với tần số từ 30 petahertz đến 30 exahertz (3x1010 Hz - 3x1019Hz) và năng lượng trong khoảng từ 100 eV đến 100 keV [3] Khi tia X tương tác với vật liệu tinh thể (phase) thì sẽtạo ra một kiểu nhiễu xạ (diffraction pattern) Mối liên
quan giữa cấu trúc tinh thể (khoảng cách giữa các mặt tinh thể, dhkl và vị trí của
Trang 29tia nhiễu xạ (theta) được biểu diễn bằng phương trình Bragg (phương trình 1.4) Hình 1.15 minh hoạ phương trình Bragg Đồ thị mối tương quan giữa cường độ của tia nhiễu xạ và vi trí nhiễu xạ gọi là giản đồ tia X [4, 5, 6]
Hình 1.15 Minh hoạ sự nhiễu xạ của tia X 2d khl sin q khl = n (1.4)
Số nguyên n được gọi là bậc nhiễu xạ; giá trị của nó là 1 trong tính toán Thực vậy, các bậc cao hơn 1 (n > 1) có thể luôn luôn biểu diễn bằng bậc 1 (n = 1) do dhkl =ndnh,nk, nl nên phương trình (1.4) có thể viết thành:
2d khl sin q khl = n 2d nk, nh, nl sin q nk, nh, nl = (1.5)
Mặt (nh, nk, nl) thường được gọi là mặt bậc cao của n Trên cơ sở lý
thuyết đối xứng của cấu trúc tinh thể người ta đã tìm ta các biểu thức liên hệ giữa các tham số tế bào mạng và chỉ số Miller Đối với tế bào tinh thể thuộc hệ lục phương (hexagonal) biểu thức này được trình bày ở phương trình (1.6)
.3
1.4.3 Hiển vi điện tử quét
Kính hiển vi điện tử quét (từ đây gọi là SEM) là một loại kính hiển vi điện
tử, nó tạo ra hình ảnh của mẫu bằng cách quét qua mẫu một dòng điện tử Các điện tử tương tác với các nguyên tử trong mẫu, tạo ra những tín hiệu khác nhau chứa đựng những thông tin về hình thái cũng như thành phần của mẫu Dòng điện tử thường được quét trong máy raster và vị trí của dòng điện tử kết hợp với các tín hiệu tạo ra hình ảnh SEM có thể đạt đến độ phân giải 1 nm
Trang 30Các loại tín hiệu sinh ra do dòng điện tử quét là điện tử thứ cấp (secondary electrons (SE)), điện tử tán xạ ngược (back - scattered electrons (BSE), tia X đặc trưng (characteristic X ray) v.v Detector điện tử thứ cấp là phổ biến cho tất cả các loại máy SEM Rất ít máy có detetor dùng cho tất cả các tín hiệu.Trong đa số các trường hợp, tín hiệu từ điện tử thứ cấp (secondary electron image) hay SEM cho hình ảnh với độ phân giải cao và bộc lộ ra những chi tiết trên bề mặt có thể lên đến 1 nm Do dòng điện tử hẹp, ảnh SEM có độ sâu của trường (depth of field) lớn tạo ra bề mặt ba chiều rõ ràng rất hữu ích cho việc nghiên cứu bề mặt vật liệu Điện tử tán xạ ngược (BSE) là dòng điện tử phản xạ từ mẫu bởi tán xạ đàn hồi BSE thường dùng để phân tích SEM cùng với phổ từ tia X đặc trưng bởi vì cường độ tín hiệu của tín hiệu BSE phụ thuộc vào phân tử khối (Z) của mẫu Ảnh BSE cung cấp thông tin về sự phân bố các nguyên tố khác nhau trong mẫu [6, 7]
1.4.4 Hiển vi điện tử truyền qua
Hiển vi điện tử truyền qua (thường viết tắt là TEM) là một kỹ thuật hiển
vi trong đó dòng điện tử đi xuyên qua một màng mỏng của mẫu đo và tương tác với nó Một hình ảnh được tạo thành từ sự tương tác của điện tử đi xuyên qua mẫu đo, hình ảnh này được phóng đại và tập trung lên một thiết bị nhận ảnh như
là màn hình huỳnh quang (fluorescent screen) hay lớp phim
Về mặt lý thuyết, độ phân giải cực đại d, nhận được bởi ánh sáng bị giới
hạn bởi bước sóng của các photon mà được dùng để quan sát mẫu
2 sin
d n
Vào đầu thế kỷ 20, các nhà khoa học đã cố gắng giải quyết giới hạn độ phân giải của kính hiển vi do dùng ánh sáng khả kiến với bước sóng tương đối lớn (400 - 700 nm) bằng cách dùng chùm điện tử Theo lý thuyết Broglie, các điện tử vừa có tính chất sóng vừa có tính chất hạt Điều này có nghĩa là chùm điện tử có thể đóng vai trò như là chùm bức xạ điện từ Bước sóng của điện tử liên hệ với động năng thông qua phương trình Broglie:
Trang 311.4.5 Phương pháp phổ tán sắc năng lượng tia X – phổ EDX
Phổ tán sắc năng lượng tia X (thường được gọi là EDS, EDX hay XEDS)
- từ đây gọi là phổ EDX, là một kỹ thuật phân tích dùng để phân tích nguyên tố của mẫu rắn Nguyên tắc dựa trên sự tương tác của nguồn tia X kích thích vào mẫu cần phân tích Mỗi nguyên tố hoá học có một cấu trúc nguyên tử xác định tạo ra các phổ tia X đặc trưng riêng biệt cho nguyên tố đó Để kích thích bức xạ đặc trưng tia X từ mẫu, một dòng năng lượng cao của các hạt tích điện như điện
tử hay photon, hay chùm tia X được chiếu vào mẫu cần phân tích Các nguyên
tử trong mẫu này ở các trạng thái cơ bản (chưa bị kích thích), các điện tử ở các mức năng lượng riêng biệt xoay quanh hạt nhân [7] Khi dòng tia tới kích thích các điện tử ở lớp bên trong, đánh bật nó ra khỏi vỏ điện tử tạo thành lỗ trống điện tử, một điện tử từ lớp bên ngoài có năng lượng cao hơn nhảy vào điền vào
lỗ trống đó Sự khác nhau năng lượng giữa lớp vỏ năng lượng cao và lớp vỏ năng lượng thấp hơn tạo ra tia X (xem hình 2.3) Cường độ của tia X phát ra từ mẫu có thể được đo bằng phổ kế tán xạ năng lượng (energy - dispersive spectrometer) Từ chỗ năng lượng tia X là đặc trưng cho hiệu số năng lượng của hai lớp vỏ điện tử và đặc trưng cho cấu tạo của nguyên tố phát xạ ra tia X đó, nên cường độ của tia X này có thể dùng để đặc trưng định tính cũng như định
lượng các nguyên tố có trong mẫu Tần số (f) của tia X được xác định qua định
luật Mosley như sau:
Trang 32Trong đó me là khối lượng của điện tử; qe là điện tích của điện tử, h là
hằng số Planck Theo định luật này, tần số tia X phát ra là đặc trưng đối với nguyên tử của mỗi chất có mặt trong chất rắn Việc ghi nhận phổ tia X phát ra từ vật rắn sẽ cho thông tin về các nguyên tố hóa học có mặt trong mẫu đồng thời cho các thông tin về tỉ phần các nguyên tố này
Hình 1.16 Nguyên tắc phát xạ tia X dùng trong phổ
Có nhiều thiết bị phân tích EDX nhưng chủ yếu EDX được đo bằng trong các kính hiển vi điện tử quét hay truyền qua
1.4.6 Phổ hấp thụ tử ngoại - khả kiến
Nhiều phân tử hấp thụ ánh sáng khả kiến và tử ngoại Muốn xác định một cấu tử X nào đó, ta chuyển nó thành hợp chất có khả năng hấp thụ ánh sáng rồi đo cường độ hấp thụ ánh sáng của nó và dựa vào mối quan hệ giữa độ hấp thụ quang
và nồng độ suy ra được hàm lượng cấu tử X cần xác định
Khi chiếu một dòng sáng có cường độ I0 vào một cuvet trong suốt có thành song song đựng dung dịch chất hấp thụ ánh sáng thì một phần bị hấp thụ bởi dung dịch chất hấp thụ (Iht), cường độ của dòng sáng sau khi ra khỏi lớp dung dịch có chiều dày l (I) yếu hơn so với I0 Nguyên nhân của sự giảm cường
độ dòng sáng là do một phần bị phản xạ khỏi thành cuvet (Ipx), một phần bị khuyếch tán bởi hạt rắn ở dạng huyền phù của chất hấp thụ trong dung dịch (Ikt)
Ta có thể biểu diễn tổng quát quá trình hấp thụ ánh sáng khi đi qua dung dịch: