1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên Cứu Một Số Đặc Điểm Sinh Thái Về Thành Phần Thức Ăn Của Hai Loài Đặc Hữu Thuộc Giống

71 74 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 3,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM PHẠM THÙY LINH NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI VỀ THÀNH PHẦN THỨC ĂN CỦA HAI LOÀI ĐẶC HỮU THUỘC GIỐNG THẠCH SÙNG MÍ GONIUROSAURUS TẠI

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHẠM THÙY LINH

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI

VỀ THÀNH PHẦN THỨC ĂN CỦA HAI LOÀI ĐẶC HỮU THUỘC

GIỐNG THẠCH SÙNG MÍ GONIUROSAURUS TẠI VIỆT NAM

VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP BẢO TỒN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Thái Nguyên - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHẠM THÙY LINH

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI

VỀ THÀNH PHẦN THỨC ĂN CỦA HAI LOÀI ĐẶC HỮU THUỘC

GIỐNG THẠCH SÙNG MÍ GONIUROSAURUS TẠI VIỆT NAM

VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP BẢO TỒN

Ngành: Sinh thái học

Mã số: 8 42 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Hoàng Văn Ngọc

Thái Nguyên - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được bảo vệ trước bất kỳ hội đồng nào trước đây

Tác giả

Phạm Thuỳ Linh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và tri ân sâu sắc tới PGS.TS Hoàng Văn Ngọc đã tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn PGS TS Nguyễn Quảng Trường, TS Phạm Thị Nhị, Nghiên cứu viên Hoàng Vũ Trụ, Nguyễn Hải Nam, Phan Quang Tiến (Viện Sinh thái Tài nguyên Sinh Vật), TS Nguyễn Thiên Tạo, Th.S Ngô Ngọc Hải (Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam) những người đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn Phòng Hệ thống học Côn trùng (Viện Sinh thái Tài nguyên Sinh vật), Phòng Bảo tồn Thiên nhiên (Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam) đã giúp đỡ, cung cấp tài liệu

và các trang thiết bị trong thời gian nghiên cứu tại đây

Ngoài ra, tôi xin cảm ơn thầy cô trong khoa Sinh học , Phòng Đào tạo Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã chỉ dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin cảm ơn Ban Lãnh đạo, các cán bộ kiểm lâm của VQG Bái Tử Long, Ban quản lý vịnh Hạ Long đã cung cấp thông tin và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình khảo sát thực địa

Xin được tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân và bạn bè đã động

viên và ủng hộ tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu này

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018

Tác giả

Phạm Thuỳ Linh

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh lục chữ viết tắt iv

Danh mục bảng v

Danh mục hình vi

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 4

1.1 Tổng quan về nghiên cứu bò sát ở Việt Nam 4

1.1.1 Đa dạng loài bò sát ở Việt 4

1.1.2 Các nghiên cứu về bò sát ở vùng Đông Bắc 4

1.1.3 Nghiên cứu về đặc điểm dinh dưỡng, thành phần thức ăn của các loài bò sát 6

1.2 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 6

1.2.1 Vườn quốc gia Bái Tử Long 6

1.2.2 Vịnh Hạ Long 9

1.3 Tổng quan về đối tượng nghiên cứu: 12

1.3.1 Phân loại giống Thạch sùng mí Goniurosaurus: 12

1.3.2 Các loài Thạch sùng mí phân bố ở Việt Nam 13

1.3.3 Loài Thạch sùng mí Lichtenfer (Goniurosaurus lichtenfelderi): 14

1.3.4 Loài Thạch sùng mí Cát Bà (Goniurosaurus catbaensis) 15

Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 18

2.2 Nội dung nghiên cứu 18

2.3 Phương pháp nghiên cứu 18

Trang 6

2.3.1 Dụng cụ khảo sát thực địa 18

2.3.2 Khảo sát thực địa - Khảo sát theo tuyến 19

2.3.3 Đặc điểm hình thái 21

2.3.4 Phân tích thành phần thức ăn 22

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27

3.1 Đặc điểm hình thái của hai loài Thạch sùng mí lichtenfer và Thạch sùng mí cát bà 27

3.2 Xác định thành phần thức ăn của loài Thạch sùng mí Lichtenfer và loài Thạch sùng mí cát bà 33

3.2.1 Thành phần thức ăn của loài Thạch sùng mí Lichtenfer 33

3.2.2 Thành phần thức ăn của loài Thạch sùng mí cát bà 35

3.2.3 So sánh thành phần thức ăn theo giới tính và nhóm tuổi: 39

3.2.4 Tương quan hình thái của loài Thạch sùng mí và kích thước thức ăn 43

3.2.5 So sánh thành phần dinh dưỡng của quần thể loài Thạch sùng mí lichtenfer và quần thể loài Thạch sùng mí cát bà tại Vịnh Hạ Long và VQG Cát Bà 45

3.3 Đánh giá các mối đe doạ đến loài và đề xuất các giải pháp bảo tồn hai loài Thạch sùng mí 46

3.3.1 Đánh giá các mối đe doạ đến loài thạch sùng mí 46

3.3.2 Các vấn đề bảo tồn 48

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 52

TÀI LIỆU THAM KHẢO 54

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DTSQ Dự trữ sinh quyển

GPS Hệ thống định vị toàn cầu (Global Positioning System)

HST Hệ sinh thái

IEBR Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật

IUCN Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (The World Conservation

Union)

NOWC Tổ chức tư nhân New Open World Corporation

PCA Phân tích thành phần chính (Principal Component Analysis) UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (United

Nations Educational Scientific and Cultural Organization)

VQG Vườn Quốc gia

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Các đặc điểm hình thái đo đạc trên mẫu Thạch sùng mí cát bà 22 Bảng 3.1 Đặc điểm hình thái của loài Thạch sùng mí lichtenfer và Thạch

sùng mí cát bà 28 Bảng 3.2 Tần suất (F), Số lượng (N), Thể tích (V), chiều dài (L), chiều

rộng (W) và chỉ số quan trọng (I) của các dạng thức ăn của loài

Thạch sùng mí Lichtenfer 35 Bảng 3.3 Tần suất (F), Số lượng (N), Thể tích (V), chiều dài (L), chiều

rộng (W) và chỉ số quan trọng (I) của các dạng thức ăn của loài

Thạch sùng mí cát bà 37

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Số lượng các loài bò sát được ghi nhận ở Việt Nam qua các năm 4

Hình 1.2 Ảnh chụp Bản đồ hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp VQG Bái Tử Long - tỉnh Quảng Ninh 7

Hình 1.3 Vị trí Vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh (Nguồn: Phòng Nghiệp vụ - Nghiên cứu, Ban Quản lý Vịnh Hạ Long) 10

Hình 1.4 Phân bố của các loài thuộc giống Thạch sùng mí ở Việt Nam 14

Hình 1.5 Loài Thạch sùng mí lichtenfer (Goniurosaurus lichtenfelderi) 15

Hình 1.6 Loài Thạch sùng mí cát bà (Goniurosaurus catbaensis) 16

Hình 2.1 A, B Sinh cảnh Vườn Quốc Gia Bái Tử Long; C, D Sinh cảnh Vịnh Hạ Long 20

Hình 2.2 A, B Khảo sát thực địa tại VQG Bái Tử Long và Vịnh Hạ Long 21

Hình 2.3 Xác định giới tính dựa trên đặc điểm hình thái 22

Hình 2.4 A Thụt dạ dày mẫu Thạch sùng mí cát bà ngoài thực địa; B Thụt dạ dày mẫu Thạch sùng mí lichtenfer 23

Hình 2.5 Xác định và đo đếm kích thước mẫu thức ăn dưới kính lúp soi nổi Leica S6E 24

Hình 3.1 A Phân tích PCA (PC1) so sánh về kích thước giữa các cá thể đực và cái của loài Thạch sùng mí lichtenfer; B Đánh giá ảnh hưởng của các chỉ số đo tới sự khác biệt về hình thái giữa giới tính bằng chỉ số PC1 loading 30

Hình 3.2 A Phân tích PCA (PC1) so sánh về kích thước giữa các cá thể đực và cái của loài Thạch sùng mí cát bà; B Đánh giá ảnh hưởng của các chỉ số đo tới sự khác biệt về hình thái giữa giới tính bằng chỉ số PC1 loading 31

Hình 3.3 A Phân tích PCA (PC1) so sánh về kích thước giữa 2 loài Thạch sùng mí; B Đánh giá ảnh hưởng của các chỉ số đo tới sự khác biệt về hình thái giữa 2 loài bằng chỉ số PC1 loading 32

Trang 10

Hình 3.4 Vẩy giữa gian mũi của loài, A: Thạch sùng mí lichtenfelderi; B:

Thạch sùng mí cát bà tại đảo cát bà; C: Thạch sùng mí cát bà

tại Ánh Cống Đỏ, Vịnh Hạ Long 33 Hình 3.5 A Tần số các loại thức ăn; B Số lượng các loại thức ăn của loài

Thạch sùng mí lichtenfer (n=8) 34 Hình 3.6 A Tần số các loại thức ăn; B Số lượng các loại thức ăn của loài

Thạch sùng mí cát bà (n=52) 36 Hình 3.7 So sánh kích thước A Chiều rộng, B Chiều dài, C Thể tích của

thức ăn theo cấu trúc giới tính của loài Thạch sùng mí Lichtenfer 40 Hình 3.8 So sánh kích thước A Chiều rộng, B Chiều dài, và C Thể tích

của thức ăn theo cấu trúc giới tính và nhóm tuổi ở loài Thạch

sùng mí cát bà 42 Hình 3.9 A, B Tương quan sinh trưởng giữa chiều dài cơ thể (SVL) và

kích thước thức ăn của loài Thạch sùng mí Lichtenfer; C, D

Tương quan sinh trưởng giữa độ rộng miệng (MW) và kích

thước thức ăn của loài Thạch sùng mí Lichtenfer 43 Hình 3.10 A, B Tương quan sinh trưởng giữa chiều dài cơ thể (SVL) và

kích thước thức ăn của loài Thạch sùng mí cát bà; C, D Tương

quan sinh trưởng giữa độ rộng miệng (MW) và kích thước thức

ăn của loài Thạch sùng mí cát bà 44 Hình 3.11 Các mối đe doạ đến loài Thạch sùng mí, A Buôn bán loài

Thạch sùng mí lichtenfer; B Lũ lụt tại xã Việt Hải, VQG Cát

Bà; C Xả rác bừa bãi tại Vịnh Hạ Long; D Tổ chức sinh nhật

tại hang động của Vịnh Hạ Long 48 Hình 3.12 A Cá thể Thạch sùng mí lichtenfer; B Cá thể Thạch sùng mí

cát bà nuôi nhốt tại Trạm Đa dạng Sinh học Mê Linh 50 Hình 3.13 Hình ảnh Poster giới thiệu về loài Thạch sùng mí cát bà tại

Vịnh Hạ Long 51

Trang 11

MỞ ĐẦU

Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa và có địa hình phức tạp tạo nên sự đa dạng về sinh cảnh ở cả vùng đồng bằng, trung du, vùng núi và vùng đất liền hải đảo nên phù hợp cho sự phát triển của động vật nói chung và các loài bò sát nói riêng Khu hệ bò sát của nước ta rất đa dạng với khoảng hơn

465 loài hiện đã được ghi nhận Uetz & Hošek, 2018 [60] Số lượng các loài bò

sát được nghiên cứu ở Việt Nam không ngừng tăng trong những năm gần đây, với hàng trăm loài mới và ghi nhận mới được phát hiện, đặc biệt là các nhóm còn

ít được nghiên cứu như các loài thuộc họ Tắc kè (Gekkonidae) [49] Bò sát là

một mắt xích quan trọng trong mạng lưới thức ăn của quần xã sinh vật, với số lượng loài rất phong phú và đa dạng, đã góp phần quan trọng tạo nên tính đa dạng sinh học và giữ trạng thái cân bằng sinh học trong quần xã sinh vật Trong đời sống và phát triển kinh tế - xã hội của con người, bò sát cũng có một vai trò rất quan trọng như nguồn thực phẩm, nguồn dược liệu sử dụng trong một số bài thuốc dân gian, nuôi làm cảnh, vật liệu kỹ nghệ da, hàng mỹ nghệ Ngoài tự nhiên, các loài bò sát còn là thiên địch của rất nhiều loài sâu bọ phá hoại mùa màng, kể cả một số loài gặm nhấm gây hại cho con người Chúng tham gia đắc lực vào việc giúp con người chống sâu bệnh, góp phần hạn chế việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật làm giảm ô nhiễm môi trường Tuy nhiên, quần thể của các loài bò sát trong tự nhiên đang bị suy giảm nghiêm trọng, nhiều loài đang đứng trước nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng do mất và suy thoái sinh cảnh sống Ngoài ra, nhiều loài bò sát có giá trị kinh tế cao (rùa, rắn, tắc kè) bị săn bắt cạn kiệt phục vụ nhu cầu của con người nên quần thể của nhiều loài đã bị suy giảm nhanh chóng IUCN, 2018 [27] Theo ước tính của Böhme và cs (2013) [13], có khoảng 20% tổng số loài bò sát đã ghi nhận trên toàn cầu có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng Bên cạnh đó, hiểu biết của chúng ta về hiện trạng quần thể của các loài, đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài bò sát còn rất hạn chế khiến cho công tác bảo tồn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt tại các khu vực xa xôi hẻo lánh

Trang 12

hoặc đối với các loài mới được phát hiện trong những năm gần đây

Chính bởi vậy, công tác nhân nuôi và bảo tồn các loài bò sát đặc hữu và quý hiếm trong những năm gần đây đang đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và phục hồi nhiều quần thể loài ngoài tự nhiên Tuy nhiên, đa phần những nghiên cứu cơ bản về sinh thái học, đặc điểm dinh dưỡng và thành phần thức ăn của các loài bò sát ở Việt Nam rất hạn chế, nên công tác bảo tồn gặp nhiều khó khăn và chủ yếu dựa trên những kinh nghiệm cá nhân

Loài Thạch sùng mí Lichtenfer Goniurosaurus lichtenfelderi (Mocquard,

1897) [35] được ghi nhận tại khu vực rừng trên đảo thuộc Vườn Quốc Gia Bái

Tử Long, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh Những nghiên cứu tiếp theo ghi nhận loài phân bố trên trên đất liền tại dãy núi Yên Tử thuộc địa bàn tỉnh Quảng Ninh và Hải Dương, khu vực Đông Bắc, Việt Nam (Grismer, 2000, Orlov và cs,

2008) [21], [55] Loài Thạch sùng mí cát bà Goniurosaurus catbaensis được phát

hiện và mô tả vào năm 2008 dựa trên bộ mẫu chuẩn thu được tại đảo Cát Bà, thành phố Hải Phòng (Ziegler và cs, 2008) [67] Loài này cũng là một trong 21 loài đặc hữu của Việt Nam nên có giá trị đặc biệt đối với bảo tồn đa dạng sinh học của Vườn quốc gia Cát Bà cũng như của Việt Nam (Ban Tuyên giáo Huyện

uỷ Cát Hải, 2012; Ngo và cs, 2016) [3], [42] Nghiên cứu gần đây ghi nhận mở rộng loài phân bố tại các đảo nhỏ thuộc Vịnh Hạ Long (Ngo và cs) [39] Nghiên cứu của Ngo và cs (2016) [42] bước đầu đã ước tính được kích cỡ quần thể và ghi nhận một số đặc điểm sinh học, sinh thái cũng như xác định những mối đe dọa tới quần thể loài Thạch sùng mí cát bà tại đảo Cát Bà Trên cơ sở đó, Nguyen

và cs (2016) [46] đưa loài Thạch sùng mí cát bà vào trong Danh lục đỏ thế giới

xếp hạng Nguy cấp (EN) và nhận định các loài Thạch sùng mí có nguy cơ tuyệt

chủng cao, trong đó bao gồm cả loài Thạch sùng mí lichtenfer Một số chương trình nghiên cứu nhân nuôi sinh sản với mục đích bảo tồn các loài Thạch sùng

mí đang được thực hiện tại trạm Đa dạng sinh học Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc Ziegler và cs, 2016 [70] Để đưa ra được quy trình nhân nuôi đảm bảo cho sự

Trang 13

sinh trưởng và phát triển của các loài Thạch sùng mí, đòi hỏi phải có những thông tin cần thiết từ các nghiên cứu điều tra thực tế về cấu trúc quần thể, đặc điểm sinh thái và thành phần dinh dưỡng của loài ngoài tự nhiên Tuy nhiên, ngoài nghiên cứu ghi nhận với số lượng nhỏ mẫu thành thức ăn của loài Thạch sùng

mí cát bà tại đảo Cát Bà, chưa ghi nhận bất kể nghiên cứu nào về thành phần

thức ăn của các loài Thạch sùng mí Xuất phát từ thực tế đó, đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái về thành phần thức ăn của hai loài đặc hữu thuộc giống Thạch sùng mí Goniurosaurus tại Việt Nam và đề xuất một số biện pháp bảo tồn”, được thực hiện để tìm hiểu một số đặc điểm sinh thái dinh dưỡng,

thành phần thức ăn của các loài bò sát trên phục vụ công tác bảo tồn nhân nuôi

và các quần thể ngoài tự nhiên Kết quả của đề tài là cơ sở để phát triển hướng nghiên cứu về thành phần dinh dưỡng của loài hai loài Thạch sùng mí đặc hữu

Goniurosaurus catbaensis và G lichtenfelderi nói riêng và các loài bò sát nói

chung tại Việt Nam và phục vụ công tác bảo tồn sau này

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về nghiên cứu bò sát ở Việt Nam

1.1.1 Đa dạng loài bò sát ở Việt Nam

Việt Nam cũng được đánh giá là một trong 25 quốc gia có mức độ đa dạng sinh học cao nhất thế giới (Myers và cs, 2000) [36] trong đó có khu hệ bò sát Năm 1996, Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc ghi nhận 258 loài bò sát, số lượng loài tăng lên 368 loài vào năm 2009 (Nguyễn và cs, 2009) [49] và lên tới 420 loài vào năm 2013 Chỉ tính riêng trong 5 năm trở lại đây có tới hơn 50 loài mới được công bố hoặc ghi nhận tại Việt Nam (tính đến tháng 3-2018 theo Uetz &

Hošek, 2018 [60] (Hình 1.1)) Số lượng loài tăng lên nhanh chóng và những phát

hiện mới chứng tỏ khu hệ bò sát của Việt Nam rất đa dạng và cần tiếp tục những nghiên cứu chi tiết hơn

Hình 1.1 Số lượng các loài bò sát được ghi nhận ở Việt Nam qua các năm 1.1.2 Các nghiên cứu về bò sát ở vùng Đông Bắc

Trong khoảng gần 20 năm trở lại đây, có rất nhiều công trình công bố về

Bò sát ở khu vực Đông Bắc Việt Nam nhưng hầu hết các nghiên cứu tập trung điều tra về thành phần loài hoặc đa dạng khu hệ

Trang 15

Thành phần loài tại các khu hệ, Orlov và cs (2000) [52] ghi nhận hơn 80 loài rắn ở Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc Năm 2007, Trương Văn Lã và cs [8] đã thống kê được 25 loài Bò sát tại khu vực Tam Đảo - Chợ Đồn - Bắc Kạn Năm

2008, Trần Thanh Tùng thống kê 89 loài bò sát ở khu vực Tây Yên Tử, tỉnh Bắc Giang [12] Các nghiên cứu về bò sát ở Bắc Kạn theo Nguyễn Văn Sáng và cs (2009) [10] ghi nhận 39 loài rắn và 18 loài thằn lằn ở Ba Bể, Chợ mới, Chợ Đồn, Ngân Sơn, Linh Thông, Xuân Lạc Hoàng Văn Ngọc (2010) [9] đã ghi nhận 101 loài bò sát ở 3 tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang và Hà Giang Nguyen và cs (2011) [45] khảo sát và ghi nhận 40 loài bò sát tại VQG Cát Bà Vũ Tiến Thịnh (2013) [11] xác định được 11 loài bò sát quý hiếm ở khu bảo tồn loài loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc (Bắc Kạn) Hecth và cs (2014) [24] thống kê ở vùng núi Tây Yên Tử (tỉnh Bắc Giang) có 40 loài Bò sát Gawor và cs (2016) [19] đã ghi nhận 51 loài bò sát tại VQG Bái Tử Long

Về mô tả loài mới và ghi nhận mới cho Việt Nam: Le & Ziegler (2003)

[31] lần đầu tiên ghi nhận loài Shinisaurus crocodilurus ở Việt Nam Darevsky

và cs (2004) [17] mô tả loài mới Sphenomorphus devorator ở Quảng Ninh Böhme và cs (2005) [14] mô tả mới loài Tylototriton vietnamensis ở Bắc Giang

Vu và cs (2006) [61] ghi nhận bổ sung loài Goniurosaurus luii cho khu hệ bò sát của Việt Nam Ziegler và cs (2008) [69] mô tả mới Goniurosaurus catbaensis ở đảo Cát Bà Ziegler và cs (2008) [69] phát hiện loài mới Opisthotropis

tamdaoensis ở Tam Đảo Năm 2009, Orlov và cs [53] mô tả loài rắn mới Protobothrops trungkhanhensis với mẫu chuẩn thu tại tỉnh Cao Bằng Nguyen

và cs (2010) [47] mô tả loài mới Scincella apraefrontalis tại tỉnh Lạng Sơn Roesler và cs (2010) [58] mô tả loài Gekko canhi thu tại tỉnh Lạng Sơn David

và cs (2012) [18] mô tả mới loài Oligodon nagao tại tỉnh Lạng Sơn và Cao Bằng Nguyen và cs (2012) [48] ghi nhận bổ sung loài Sphenomorphus incognitus cho

khu hệ bò sát của Việt Nam với mẫu vật thu tại tỉnh Bắc Giang Orlov và cs

(2013) [54] mô tả loài mới Azemiops kharini với mẫu vật thu tại các tỉnh Cao

Trang 16

Bằng, Lạng Sơn và Vĩnh Phúc Nguyen và cs (2013) [43] đã công bố và mô tả

loài mới Hemiphyllodactylus zugi ở Hạ Lang, Cao Bằng Loài rắn đặc hữu

Opisthotropis voquyi gần đây được phát hiện duy nhất phân bố tại vùng núi Tây

Yên Tử, Bắc Giang và được mô tả bởi nhóm nghiên cứu của Ziegler và cs (2018) [67]

1.1.3 Nghiên cứu về đặc điểm dinh dưỡng, thành phần thức ăn của các loài

bò sát

Số lượng các nghiên cứu về sinh thái học của các loài bò sát ở Việt Nam còn khá hạn chế, một số nghiên cứu về thành phần thức ăn trong tự nhiên được

ghi nhận như: Nghiên cứu dinh dưỡng của Rắn ráo trâu Ptyas mucosa trong điều

kiện nuôi tại Nghệ An thực hiện bởi Ông Vĩnh An và cs (2012) [1]; Nghiên cứu

đặc điểm dinh dưỡng và sinh dục của Rắn nước Xenochrophis flavipunctatus của

Ngô Đắc Chứng và Lê Anh Tuấn (2012); Ngo và cs (2014) [5], [40] nghiên cứu

thành phần thức ăn của loài Eutropis multifasciatus (Kuhl, 1820) [40]; Nghiên cứu về sinh thái săn mồi và dinh dưỡng của loài Thằn lằn bóng Eutropis

multifasciatus được nghiên cứu bởi Ngo và cs (2015); Ngo và cs (2016) [40],

[41] phân tích và ghi nhận một số mẫu thành phần thức ăn của loài Thạch sùng

mí cát bà (Goniurosaurus catbaensis) tại VQG Cát Bà Như vậy, có thể nói

hướng nghiên cứu về đặc điểm dinh dưỡng và thành phần thức ăn của các loài

bò sát còn khá hạn chế ở Việt Nam Bên cạnh đó kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng đối với công tác bảo nhân nuôi các loài bò sát quý hiếm và có nguy

cơ bị đe dọa tuyệt chủng

1.2 Tổng quan về khu vực nghiên cứu

1.2.1 Vườn quốc gia Bái Tử Long

1.2.1.1 Vị trí địa lý

Vườn quốc gia Bái Tử Long được thành lập ngày 01/06/2001 theo quyết định số 85/2001/QĐ-TT, nằm trong tọa độ địa lý: 20°55’05’’ - 21°15’10’’ vĩ độ Bắc, 107°30’10’’ - 107°46’20’’ kinh độ Đông, nằm trong địa giới hành chính

Trang 17

của 3 xã: Minh Châu, Vạn Yên và Hạ Long của huyện Vân Đồn, với tổng diện

tích 15.783 ha (Hình 1.2) VQG Bái Tử Long thuộc Vịnh Bái Tử Long, nằm trong vịnh Bắc Bộ, phía Tây nam giáp Vịnh Hạ Long, phía Đông gáp biển, phía

Tây giáp đất liền với thành phố Cẩm Phả và phía Đông bắc giáp huyện đảo Cô

Tô Vịnh Bái Tử Long bao gồm hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ và trong đó có nhiều đảo lớn và có dân sinh sống Các đảo thuộc vườn quốc gia bao gồm: Ba Mùn, Trà Ngọ Lớn, Trà Ngọ Nhỏ, Sậu Nam, Sậu Động, Đông Ma, Hòn Chính, Lò Hố, Máng Hà Nam, Máng Hà Bắc, Di To, Chầy Cháy, Đá Ẩy, Soi Nhụ,… (Lê văn Lanh, 2011) [7]

Hình 1.2 Ảnh chụp Bản đồ hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp VQG

Bái Tử Long - tỉnh Quảng Ninh

(Nguồn: VQG Bái Tử Long)

Trang 18

1.2.1.2 Khí hậu

VQG Bái Tử Long chịu ảnh hưởng chung của vùng nhiệt đới gió mùa cận chí tuyến Bắc có mùa đông lạnh từ tháng 10 tới tháng 3 năm sau và mùa hè nắng nóng từ tháng 5 tới tháng 8, tháng 4 và tháng 9 là thời kỳ chuyển tiếp với khí hậu

- Hệ sinh thái Vịnh Bái Tử Long:

Vịnh Bái Tử Long bao gồm VQG Bái Tử Long do có cấu tạo địa hình, địa chất đa dạng nên HST rất đa dạng: HST rừng lá rộng thường xanh nhiệt đới trên đảo đá vôi, HST rừng lá rộng thường xanh nhiệt đới trên đảo đất, HST rừng ngập mặn, vùng triều, hồ nước mặn (tùng, áng), HST thảm cỏ biển, HST rạn san hô, đáy mềm (động thực vật phù du, thảm rong, cỏ biển, …), HST thung áng trong đảo đá vôi và hệ thống các hang động

- Hệ động, thực vật VQG Bái Tử Long:

VQG Bái Tử Long có hệ thực vật khá phong phú và đa dạng Hệ thực vật rừng ở đây bao gồm 780 loài, 468 chi, 135 họ thuộc 5 ngành thực vật bậc cao có mạch Trong đó ngành Mộc lan chiếm đa số với 729 loài, 438 chi, 114 họ Nguồn tài nguyên cây có ích: 431 loài cây thuốc, 126 loài cây cho gỗ, 44 loài cây cho quả và hạt ăn được, 33 loài cây làm rau ăn, 27 loài cây cho tinh dầu và dầu béo,

14 loài cây làm thức ăn cho gia súc Qua khảo sát đã phát hiện được 19 loài thực vật ngập mặn thuộc hai nhóm: nhóm loài chủ yếu có 8 loài và nhóm loài chịu

Trang 19

mặn gia nhập vào rừng ngập mặn có 8 loài Trong thành phần của khu hệ loài Sú chiếm ưu thế trong toàn khu vực

Thành phần loài động vật hoang dã trên đảo trong phạm vi VQG Bái Tử Long có:

⁻ Lớp thú có 24 loài thuộc 13 họ, 6 bộ

⁻ Lớp chim có 71 loài thuộc 28 họ, 9 bộ

⁻ Lớp lưỡng cư có 15 loài thuộc 1 họ, 1 bộ

⁻ Lớp bò sát có 33 loài thuộc 12 họ, 2 bộ

⁻ Côn trùng bộ Cánh phấn có 120 loài, thuộc 8 họ

Một số loài động vật rừng thuộc sách đỏ Việt Nam có: Bồ câu nâu, Báo gấm, Báo lửa, Sơn dương, Rái cá, Rùa hộp ba vạch, Tắc kè, Kỳ đà hoa, Trăn đất, Rắn ráo, Rắn cạp nong, Rắn hổ mang, Rắn hổ mang chúa… [7]

- Đa dạng các loài bò sát, ếch nhái tại VQG Bái Tử Long:

Nghiên cứu của Le và Vo (2005) [30] khảo sát đánh giá đa dạng các loài động vật có xương tại VQG Bái Tử Long ghi nhận 08 loài ếch nhái thuộc 06 họ

và 19 loài bò sát thuộc 11 họ Nguyen và cs (2009) [49] ghi nhận 40 loài bò sát tại VQG Bái Tử Long Gần đây, Gawor và cs (2016) [19] đã bổ sung và ghi nhận một số loài bò sát và ếch nhái, tăng số lượng các loài ếch nhái thành 14 loài

và số lượng các loài bò sát tăng lên tới 51 loài Đa dạng các loài bò sát ếch nhái tại VQG Bái Tử Long ghi nhận 04 loài trong Danh lục Đỏ IUCN 2018 [27], 08 loài trong Sách đỏ Việt Nam (2007) , 05 loài có tên trong Nghị định 32/NĐ-CP (2006), 05 loài có tên trong Công ước quốc tế về buôn bán các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES-2016) và 01 loài đặc hữu tại Việt Nam là loài

Thạch sùng mí lichtenfer (Goniurosaurus lichtenfelderi)

1.2.2 Vịnh Hạ Long

1.2.2.1 Vị trí địa lý

Vịnh Hạ Long thuộc Vịnh Bắc Bộ nằm ở khu vực Đông Bắc Việt Nam, thuộc địa phận tỉnh Quảng Ninh (Hình 1.3) Vịnh Hạ Long hai lần được

Trang 20

UNESCO công nhận là di sản thế giới vào năm 1994 với giá trị ngoại hạng mang tính toàn cầu về cảnh quan thiên nhiên, và năm 2000 với giá trị đặc biệt về địa chất - địa mạo; ngoài ra vịnh Hạ Long còn là 1 trong 7 kỳ quan thiên nhiên của thế giới do NOWC bầu chọn vào năm 2011 Khu vực di sản thế giới Vịnh Hạ Long được công nhận có diện tích rộng 434km2, gồm 775 hòn đảo trong đó 411 đảo có tên, được xác định trong tọa độ: 106059'24” - 107020'30” kinh độ Đông

và 20043'24”-20056'12” vĩ độ Bắc, giới hạn bởi 3 điểm: Đảo Đầu Gỗ (phía Tây), đảo Đầu Bê (phía Nam) và đảo Cống Tây (phía Đông) [3]

Hình 1.3 Vị trí Vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

(Nguồn: Ban Quản lý Vịnh Hạ Long)

1.2.2.2 Khí hậu

Vịnh Hạ Long có khí hậu cơ bản là nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, chia làm

2 mùa chính và 2 mùa chuyển tiếp: Mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Mùa hè từ tháng 5 đến tháng 9 Hai mùa chuyển tiếp: Mùa xuân vào tháng 4 và mùa thu vào tháng 10 có khí hậu mát mẻ ôn hoà

Mùa hè có nhiệt độ trung bình 26oC - 27oC Mùa đông có nhiệt độ trung bình 15oC - 20oC Nhiệt độ trung bình năm 18oC - 19oC

Trang 21

Lượng mưa trung bình năm tại Vịnh Hạ Long từ 2.000mm - 2.200mm [3]

1.2.2.3 Đa dạng sinh học:

- Hệ sinh thái Vịnh Hạ Long:

Vịnh Hạ Long là nơi hội tụ nhiều hệ sinh thái biển đảo đa dạng nhất của Việt Nam như: hệ sinh thái rừng thường xanh nhiệt đới trên đảo núi đá vôi, hệ sinh thái biển và ven bờ gồm hệ sinh thái đất ướt: vùng triều và vùng ngập mặn, đáy cứng và rạng san hô, hang động và Tùng Áng, đáy mềm, bãi triều không có rừng ngập mặn và hệ sinh thái biển: Thực vật phù du, động vật phù du, động vật đáy biển và động vật tự du

- Hệ động, thực vật Vịnh Hạ Long:

Theo thống kê năm 2003 của các nhà khoa học, thực vật trên cạn ở Hạ Long có 435 loài, trong đó ngành mộc lan có 416 loài, ngành dương xỉ có 14 loài, ngành thông đất có 02 loài, ngành lá thông có 01 loài, ngành thông (hạt trần)

có 02 loài

Về động vật, đã thống kê được: 04 loài lưỡng cư, 08 loài bò sát, 76 loài chim và 22 loài thú trên đảo Một số quần xã các loài thực vật khác nhau được tìm thấy như: các loài ngập mặn, các loài thực vật ở bờ cát ven đảo, các loài mọc trên sườn núi và vách đá, trên đỉnh núi hoặc mọc ở cửa hang Tất cả các loài thực vật này đều thích nghi tốt với điều kiện sống trên các đảo đá vôi của Vịnh Hạ Long

- Đa dạng các loài bò sát, ếch nhái tại Vịnh Hạ Long:

Tuy có ranh giới tiếp giáp với VQG Cát Bà và VQG Bái Tử Long tuy nhiên thành phần các loài bò sát và ếch nhái tại Vịnh Hạ Long không đa dạng Những nghiên cứu điều tra đa dạng chung ghi nhận chỉ với 08 loài bò sát và 04 loài ếch nhái tại các đảo nhỏ thuộc Vịnh Hạ Long Gần đây, nghiên cứu của Ngo

và cs (in press - gửi đăng tạp chí) đã phát hiện và ghi nhận mới 01 loài đặc hữu

và quý hiếm Thạch sùng mí cát bà (Goniurosaurus catbaensis), mở rộng vùng

phân bố của loài tại các đảo nhỏ thuộc Vịnh Hạ Long [3]

Trang 22

1.3 Tổng quan về đối tượng nghiên cứu:

1.3.1 Phân loại giống Thạch sùng mí Goniurosaurus:

Theo Nguyen và cs (2009) [49] giống Thạch sùng mí (Goniurosaurus) thuộc họ Tắc kè mí (Eublepharidae), bộ Có vảy (Squamata), lớp Bò sát (Reptilia)

Hiện nay, trên thế giới đã ghi nhận 19 loài thuộc giống Thạch sùng mí (Orlov và cs, 2008; Ziegler và cs, 2008; Yang và cs, 2015, Honda & Ota, 2017, Zhou và cs, 2018 ) [26], [55], [65], [66], [68] Trong các năm 2014 - 2018, có 04

loài mới được mô tả với mẫu vật thu ở Nam Trung Quốc gồm: G zhelongi

(Wang, Jin, Li & Grismer, 2014), G kadoorieorum (Yang & Chan, 2015), G kwangsiensis (Yang & Chan, 2015) và G Zhoui (Zoui, Wang, Chen & Liang),

2018 [64], [65], [66] Các loài thạch sùng mí phân bố ở Đông Nam châu Á, ghi

nhận ở vùng Đông Bắc Việt Nam (kể cả các đảo trong Vịnh Hạ Long), Nam Trung Quốc (kể cả đảo Hải Nam) và quần đảo Ryukyu của Nhật Bản (Ziegler và

cs, 2008; Nguyen và cs, 2009; Yang và cs, 2015) [49], [65], [68]

Các loài thuộc giống Thạch sùng mí được phân thành 4 nhóm:

Nhóm G lichtenfelderi bao gồm loài G lichtenfelderi Mocquard, 1897 [35] phân bố ở Đông Bắc Việt Nam và loài G hainanensis Barbour, 1908 phân

bố ở đảo Hải Nam, Trung Quốc

Nhóm G kuroiwae gồm 06 loài phân bố ở quần đảo Ryukyu của Nhật Bản: G kuroiwae (Namiye, 1912) , G orientalis (Maki, 1931), G splendens

(Nakamura &; Uano, 1959), G toyamai (Grismer, Ota và Tanaka, 1994), và G yamashinae (Okada, 1936), G sengokui (Honda & Ota, 2017) [20], [26], [33],

[37], [38], [51]

Nhóm G.luii gồm 09 loài: G araneus (Grismer Viets & Boyle, 1999)

[22] phân bố ở Đông Bắc Việt Nam và phía Tây Nam tỉnh Quảng Tây (Trung

Quốc), G bawanglingensis (Grismer, Haitao, Orlov & Anajeva, 2002) [23]

ở đảo Hải Nam; G catbaensis (Ziegler, Nguyen, Schmitz, Stenke & Rosler,

Trang 23

2008) [69] ở đảo Cát Bà (Việt Nam), G huuliensis Orlov, Ryabov, Nguyen, Nguyen & Ho, 2008) [55] ở tỉnh Lạng Sơn (Việt Nam), G liboensis (Wang,

Yang & Grismer, 2013) [62] phân bố ở Quảng Tây và Quý Châu (Trung Quốc),

G luii (Grismer, Viets & Boyle, 1999) [22] ở khu vực Tây Nam tỉnh Quảng Tây

(Trung Quốc) và các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn (Việt Nam) và 3 loài mới mô tả

gần đây G kadoorieorum và G kwangsiensis (Yang & Chan, 2015) [65] phân

bố ở tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) và G zhoui (Zhou, Wang, Chen & Liang,

2018) [66] ở đảo Hải Nam, Trung Quốc

Nhóm G yingdeensis bao gồm 02 loài: G yingdeensis (Wang, Yang & Cui, 2010) [63] và loài G zhelongi (Wang, Jin, Li & Grismer, 2014) [64] phân

bố ở tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc)

1.3.2 Các loài Thạch sùng mí phân bố ở Việt Nam

Ở Việt Nam, hiện đã ghi nhận 5 loài gồm: Goniurosaurus araneus, G

catbaensis, G huuliensis, G lichtenfederi, và G luii (Nguyen và cs 2009) [49]

(Hình 1.4) Trong số 5 loài Thạch sùng mí trên có 3 loài đặc hữu chỉ ghi nhận tại

khu vực Đông Bắc, Việt Nam gồm: loài Thạch sùng mí cát bà (G catbaensis)

chỉ ghi nhận phân bố tại đảo Cát Bà thuộc VQG Cát Bà, các đảo nhỏ thuộc Vịnh

Hạ Long; loài Thạch sùng mí hữu liên (G huuliensis) phân bố tại Khu bảo tồn

thiên nhiên Hữu Liên, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn; loài Thạch sùng mí

lichtenfer (G lichtenfelderi) phân bố tại VQG Bái Tử Long, tỉnh Quảng Ninh và

vùng núi Yên Tử thuộc địa phận tỉnh Quảng Ninh, Bắc Giang và Hải Dương Trong khi đó 2 loài còn lại ghi nhận phân bố ở Việt Nam và Trung Quốc (Nguyen

và cs 2009; Ziegler và cs, 2008; Orlov và cs, 2008) [49], [55], [68]

Trang 24

Hình 1.4 Phân bố của các loài thuộc giống Thạch sùng mí ở Việt Nam

(Nguồn: Ngô Ngọc Hải)

1.3.3 Loài Thạch sùng mí Lichtenfer (Goniurosaurus lichtenfelderi):

Loài Thạch sùng mí Lichtenfer Goniurosaurus lichtenfelderi (Mocquard,

1897) [35] được ghi nhận lần đầu tiên ghi nhận ở Việt Nam tại khu vực rừng trên đảo thuộc Vườn Quốc Gia Bái Tử Long, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh (Hình 1.5) Loài này sau đó được ghi nhận mở rộng tại huyện Chí Linh - Hải Dương (Nguyen et al 2009) [49]; Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử (huyện Sơn Động - Bắc Giang); rừng Quốc gia Yên Tử (thành phố Uông Bí - Quảng Ninh)

Trên thế giới, trước đây loài G lichtenfelderi được ghi nhận tại Quảng Tây và

Hải Nam của Trung Quốc (Nguyen et al 2009) [49] nhưng các tài liệu công bố gần đây khẳng định loài này chỉ phân bố ở Việt Nam và loài ở Trung Quốc là

loài Thạch sùng mí hải nam G hainanensis

Trang 25

Hình 1.5 Loài Thạch sùng mí lichtenfer (Goniurosaurus lichtenfelderi)

Đặc điểm nhận dạng: SVL 77 - 104,3mm; cơ thể chắc mập; 5 - 6 vảy quanh mũi; 1 hàng vẩy có nốt sân lớn phía trước ổ mắt; bề mặt của mí mắt trên là các vẩy có kích thước bắng ½ các vẩy ở đỉnh đầu; 1 - 2 vẩy gian mũi; 9 - 11 vảy môi dưới; 8 - 10 vảy môi trên; 15 - 19 vẩy trước ổ mắt; 51 - 55 vảy mí mắt; 2 - 5 vảy sau cằm; vùng dước cằm không có các vẩy sần lớn; 117 - 130 vảy quanh thân;

21 - 27 hàng vẩy nốt sần quanh thân; 11 - 13 vảy nhỏ bao quanh vảy lớn; 18 - 24 bản mỏng dưới ngón 4; 30 - 32 lỗ đùi phía trước hậu môn ở con đực, ở con cái

là 17 - 21; mống mắt mầu nâu đỏ; phía trên của đầu, cơ thể, chân có màu nâu đen; dải sáng màu phía sau gáy hẹp hình cữ U; trên lưng có 2 dải sáng màu vàng, hẹp; vùng cổ có chấm màu nâu; phía dưới đầu, có thể, chân màu trắng đục (Mocquard, 1897; Grismer và cs, 2002; Orlov và cs, 2008) [23], [35], [55]

- Một số đặc điểm sinh học, sinh thái: Ngoài tự nhiên, chúng hoạt động mạnh vào buổi tối, thường bắt gặp loài này bám trên các vách đất, các gốc cây cạnh đường mòn hay cạnh suối để tìm kiếm thức ăn Trong nuôi nhốt, ban ngày chúng thường trú trong các ống tre hay gáo dừa; ra kiếm ăn và uống nước vào buổi tối, loài này ăn các loại côn trùng như dế, sâu quy, sâu sáp, mối… Loài này mỗi lần đẻ 2 trứng (kích thước 18,9 - 20,6 mm, rộng 14,2 - 14,8 mm) từ tháng 4 đến tháng 8, đẻ 3 - 4 lứa, trứng ấp ở 25 - 28º C, độ ẩm 75 - 95 %, nở sau 55 - 65 ngày (Orlov và cs, 2008) [23]

1.3.4 Loài Thạch sùng mí Cát Bà (Goniurosaurus catbaensis)

Loài G catbaensis Ziegler, Nguyen, Schmitz, Stenke & Rosler, 2008 [69]

Trang 26

thuộc nhóm G luii phân bố ở đảo Cát Bà (Việt Nam) (Hình 1.6) Loài Thạch sùng mí cát bà (G catbaensis) được mô tả dựa trên mẫu chuẩn thu tại đảo Cát

Bà, thành phố Hải Phòng (Ziegler và cs, 2008) [68] và hiện chỉ ghi nhận tại Việt Nam Gần đây, nghiên cứu của Ngo và cs (submitted) [39] ghi nhận mở rộng vùng phân bố của loài Thạch sùng mí cát bà tại các đảo nhỏ thuộc Vịnh Hạ Long Nghiên cứu của Ngo và cs (2016) [42] bước đầu đã ước tính được kích cỡ quần thể và ghi nhận một số đặc điểm sinh học, sinh thái cũng như xác định những mối đe dọa tới quần thể loài Thạch sùng mí cát bà tại đảo Cát Bà Trên cơ sở đó, Nguyen và cs (2016) [46] đề xuất đưa loài Thạch sùng mí cát bà vào trong danh lục đỏ thế giới xếp hạng Nguy cấp (EN)

Hình 1.6 Loài Thạch sùng mí cát bà (Goniurosaurus catbaensis)

Đặc điểm nhận dạng: SVL 84,4 - 111,5 mm; cơ thể và chân mảnh; 5 - 6 vảy quanh mũi; 1 hàng vẩy có nốt sần lớn phía trước ổ mắt; bề mặt mí mắt trên

là các vẩy có kích thước bằng kích thước các vẩy ở đỉnh đầu; không có vảy gian mũi; 8 - 9 vảy môi dưới; 8 - 10 vảy môi trên; 11 - 12 vẩy trước ổ mắt; 52 - 55 vảy mí mắt; 2 - 3 vảy sau cằm; vùng dưới hàm không có vẩy có nốt sần lớn; 112-

127 vảy quanh thân; 23 - 25 hàng vảy có nốt sần quanh thân; 8 - 11 vảy nhỏ bao quanh vảy lớn; 22 - 24 bản mỏng dưới ngón 4; 19 - 21 lỗ đùi phía trước hậu môn

ở con đực; mống mắt màu nâu vàng; phần trên của đầu, lưng và chân có màu

Trang 27

xám nâu và các đốm màu xám đen; dải màu phía sau gáy hẹp, hình chữ V; trên lưng có 3 - 4 dải sáng màu vàng, hẹp không có các đốm đen; đuôi màu đen có 5 dải màu trắng (đuôi nguyên vẹn); mặt bụng của đầu, cơ thể, chân màu trắng đục; vùng cổ chấm màu nâu (Ziegler và cs, 2008) [68]

Một số đặc điểm sinh học, sinh thái: Ngoài tự nhiên loài này hoạt động mạnh vào buổi tối, thường bắt gặp loài này bám trên các vách đá, các cửa hang

đá, cách mặt đất từ 0,3 - 1,5 m hay các đường mòn trong rừng Trong nuôi nhốt ban ngày chúng thường trú trong các ống tre hay gáo dừa, khe tối; ra kiếm ăn và uống nước vào buổi tối, ăn các loại côn trùng như dế, sâu quy, sâu sáp, mối… có trộn thêm canxi Loài này đẻ mỗi lần 1 - 2 trứng (kích thước 24 - 25 mm, rộng 15,8 - 16,5 mm) bắt đầu vào khoảng tháng 4 đến tháng 7, đẻ 2 - 3 lứa, có thể do thiếu chất nên trứng thường bị non, hoặc trứng bị hỏng sau một thời gian ấp (Ziegler và cs 2008) [68]

Trang 28

Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Phân tích được thành phần thức ăn của loài Thạch sùng mí lichtenfer

(Goniurosaurus lichtenfelderi) tại VQG Bái Tử Long và loài Thạch sùng mí cát

bà (G catbaensis) tại Vịnh Hạ Long

- Đánh giá các mối đe dọa và đề xuất các giải pháp bảo tồn hai loài Thạch

sùng mí tại Việt Nam

2.2 Nội dung nghiên cứu

Nội dung 1: Xác định thành phần thức ăn của loài Thạch sùng mí lichtenfer

và loài Thạch sùng mí cát bà

- Xác định thành phần thức ăn, dạng thức ăn ưa thích của loài

- So sánh thành phần thức ăn theo cấu trúc giới tính và nhóm tuổi

- So sánh thành phần thức ăn của loài Thạch sùng mí lichtenfer với loài

Thạch sùng mí cát bà

Nội dung 2: Đánh giá các mối đe dọa đến loài và đề xuất các giải pháp

bảo tồn loài Thạch sùng mí lichtenfer và loài Thạch sùng mí cát bà tại Việt Nam

- Đánh giá các mối đe dọa đến loài

- Đề xuất và kiến nghị các biện pháp bảo tồn sinh cảnh và các quần thể

loài

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Dụng cụ khảo sát thực địa

Các dụng cụ phục vụ cho công tác điều tra thực địa gồm có: máy định vị GPS Garmin 62s, thước đo điện tử độ chính xác 0,01 mm, phiếu giám sát, máy

đo nhiệt độ, độ ẩm, máy ảnh, đèn đội đầu, ống tiêm, xilanh, ống thụt dạ dày, thước dây, bút đánh dấu, cồn, ống tuýp đựng mẫu sục dạ dày

Trang 29

2.3.2 Khảo sát thực địa - Khảo sát theo tuyến

- Khảo sát theo tuyến:

Nguyên tắc lập tuyến: Tuyến điều tra được lập dựa vào bản đồ địa hình, thảm thực vật và sinh cảnh sống của thạch sùng mí Các tuyến điều tra đi qua các dạng sinh cảnh, độ cao khác nhau của khu vực nghiên cứu Đối với loài Thạch sùng mí lichtenfer thường ghi nhận gần các điểm có suối trong rừng, do đó nghiên cứu khảo sát dọc theo các tuyến suối núi đất Trong khi đó, chúng tôi lựa chọn khảo sát loài Thạch sùng mí cát bà dọc theo các tuyến có các hang và vách

đá, các thung lũng giữa các dãy núi đá vôi trong rừng

Qua phân tích tài liệu và phỏng vấn cán bộ kiểm lâm tại VQG Bái Tử Long

và Vịnh Hạ Long, chúng tôi xác định và tiến hành khảo sát thực địa theo 6 tuyến:

- VQG Bái Tử Long, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh:

 Tuyến 1 (T-1): tuyến đảo Ba Mùn,

 Tuyến 2 (T-2): tuyến đảo Cái Lim,

- Vịnh Hạ Long, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

 Tuyến 3 (T-3): Áng Cống Đỏ,

 Tuyến 4 (T-4): Áng Bù Xám,

 Tuyến 5 (T-5): Áng Cửa Vạn,

 Tuyến 6 (T-6): Áng Dù

Mỗi tuyến khảo sát có chiều dài khoảng từ 2 - 3km Trong đó, tuyến 1

và tuyến 2 khảo sát tại dọc theo các tuyến suối ở khu vực rừng núi đất tại các đảo thuộc VQG Bái Tử Long (Hình 2.1.A, B) để ghi nhận loài Thạch sùng

mí lichtenfer (Hình 1.5, trang 14); các tuyến còn lại khảo sát dọc theo các tuyến đường mòn ở khu vực rừng núi đá vôi tại các đảo nhỏ thuộc Vịnh Hạ Long (Hình 2.1.C, D) để ghi nhận loài Thạch sùng mí cát bà (Hình 1.6, trang 15)

Trang 30

Hình 2.1 A, B Sinh cảnh Vườn Quốc Gia Bái Tử Long; C, D

Sinh cảnh Vịnh Hạ Long

- Phương pháp thu mẫu:

Để đo đếm các chỉ tiêu hình thái, thụt rửa dạ dày, chúng tôi tiến hành thu thập mẫu vật của loài Thạch sùng mí dọc theo các tuyến khảo sát Mẫu vật được thu thập bằng tay và các dụng cụ chuyên dụng như kẹp có bọc cao su nhằm tránh gây tổn thương đến con vật Mẫu vật sau khi thu được mẫu thức ăn và đo đếm được thả lại đúng điểm đã thu thập

- Thời gian khảo sát thực địa:

Chúng tôi tiến hành khảo sát thực địa trong khoảng thời gian 20 ngày từ tháng 6 đến tháng 7 năm 2017, vào thời gian này các loài Thạch sùng mí ra hoạt động, kiếm ăn và sinh sản (Ngo và cs 2016) [42] Nghiên cứu đã thực hiện 2 đợt khảo sát tại VQG Bái Tử Long và Vịnh Hạ Long

 Đợt 1 từ ngày 21 đến ngày 28 tháng 6 năm 2017 tại VQG Bái Tử Long

 Đợt 2 từ ngày 29 tháng 6 đến ngày 10 tháng 7 năm 2017 tại Vịnh Hạ Long

Trang 31

Hình 2.2 A, B Khảo sát thực địa tại VQG Bái Tử Long và Vịnh Hạ Long

Để thu thập mẫu thức ăn và các số liệu hình thái có liên quan, chúng tôi tiến hành khảo sát thực địa cả ban ngày và ban đêm

 Ban ngày: Từ 13h00 đến 15h00, khảo sát các tuyến đường và chụp ảnh sinh cảnh, quan sát các nhân tố tác động tới sinh cảnh và loài, thả cá thể bắt từ tối hôm trước (sau khi đo đếm số liệu hình thái)

 Ban đêm: Loài Thạch sùng mí thường hoạt động và kiếm ăn nên chúng tôi tiến hành khảo sát từ 20h00 đến 3h00 ngày hôm sau để thu thập mẫu vật và

đo đếm các chỉ số hình thái và sinh thái liên quan

2.3.3 Đặc điểm hình thái

Xây dựng bảng dữ liệu hình thái cho 02 loài Thạch sùng mí cát bà và Thạch sùng mí Lichtenfer theo Ziegler và cs (2008), và Orlov và cs (2008) [55],

[56], [68] Các số đo được đo bằng thước kẹp điện tử Alpha-Tool với độ chính

xác là 0,01mm Đo trọng lượng của từng cá thể bằng cân điện tử với độ chính

xác là 0,01g (Bảng 1) Giới tính được xác định dựa trên đặc điểm hình thái ngoài đối với mẫu ghi nhận trên thực địa: cá thể đực thường có phần sau gốc đuôi phình

to hơn hẳn so với cá thể cái (Hình 2.3.A) và trong mùa sinh sản cá thể đực thường

có lỗ trước hậu môn rõ hơn và cá thể cái thường có trứng trong ổ bụng (Ziegler

và cs 2008) [68] (Hình 2.3.B)

Trang 32

Hình 2.3 Xác định giới tính dựa trên đặc điểm hình thái

Bảng 2.1: Các đặc điểm hình thái đo đạc trên mẫu Thạch sùng mí cát bà

1 SVL Chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt: đo từ mút mõm đến rìa trước

hậu môn

2 TAL Chiều dài đuôi: đo từ rìa sau lỗ huyệt đến mút đuôi

3 WT Chiều rộng đuôi: đo gần cuống đuôi nơi chiều rộng lớn nhất

4 HL Dài đầu: Đo từ mút mõm đến góc sau của xương hàm dưới

5 HW Rộng đầu: Đo phần rộng nhất của đầu

6 HH Chiều cao tối đa của đầu

7 MW Chiều rộng miệng

8 JL Chiều dài miệng

9 AG Chiều dài ổ bụng: Từ hốc nách chi trước đến hốc háng chi sau

10 WS Chiều rộng ổ bụng: Kích thước rộng bụng lớn nhất

11 Forearm Chiều dài chi trước: đo từ hốc nách đến mút ngón 4

12 Hindlimb Chiều dài chi sau: đo từ hốc háng đến mút ngón 4

13 IN Vẩy giữa 2 vảy mũi lớn

14 PP Lỗ huyệt trước huyệt

15 Weight Cân nặng

Chúng tôi đo đếm các đặc điểm hình thái cơ bản (15 chỉ tiêu) sau đó nhập vào phiếu giám sát như ở Bảng 2.1

2.3.4 Phân tích thành phần thức ăn

Trang 33

2.3.4.1 Thu thập mẫu thức ăn trong dạ dày

Để nghiên cứu thành phần thức ăn nhưng không gây chết đối với mẫu vật, chúng tôi áp dụng phương pháp thụt dạ dày Phương pháp này được áp dụng khá phổ biến trong nghiên cứu thành phần thức ăn các loài bò sát và lưỡng cư (James

và cs, 1984, Norval và cs, 2012, Ngo và cs, 2016) [28], [42], [50] Mẫu vật sau khi thu thập sẽ được thụt dạ dày ngay tại vị trí thu mẫu Chúng tôi không thụt dạ dày với những cá thể cái có trứng và con non vì có thể ảnh hưởng tới khả năng sinh sản hoặc sinh trưởng Nước sử dụng cho việc thụt dạ dày là nước tinh khiết để đảm bảo tinh sạch Phương pháp thực hiện dựa trên mô tả của Sole và cs

(2005) [59]: giữ cá thể cố định, dùng panh nhỏ có quấn cao su để mở miệng mẫu

vật, nhẹ nhàng luồn ống dẫn nước có đường kính 1 mm qua thực quản xuống dạ dày, dùng bơm tiêm nước để thức ăn trào ra ngoài Lượng nước và thức ăn trào

ra ngoài được hứng bởi cốc đựng nước (thể tích 20 ml) có màng lọc (Hình 2.4

A, B) Toàn bộ mẫu thức ăn thu được sau khi thụt dạ dày sẽ được bảo quản trong cồn 70% để phục vụ phân tích, định loại tại Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam và Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật

Hình 2.4 A Thụt dạ dày mẫu Thạch sùng mí cát bà ngoài thực địa.; B Thụt

dạ dày mẫu Thạch sùng mí lichtenfer

2.3.4.2.Phân tích mẫu thức ăn

Trang 34

Các mẫu thức ăn được phân tích và định loại dưới kính lúp soi nổi Leica S6E ở phòng thí nghiệm của Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam và Viện Sinh thái

và Tài nguyên sinh vật Mẫu thức ăn được đo đếm, chụp ảnh dưới kính lúp Leica M80 có gắn máy ảnh Leica IC80HD Nghiên cứu định loại mẫu thức ăn theo các tài liệu của Millar và cs (2000) và Thái Trần Bái (2003) [2], [34]

Các thông số phân tích thành phần thức ăn gồm: Tần số (F) thể hiện sự phong phú của một loại con mồi thu được từ các mẫu dạ dày, số lượng (N) là số mẫu thức ăn của một loại con mồi, thể tích (V, mm3) của mỗi mẫu thức ăn được ước tính bằng công thức theo tài liệu của Magnusson và cs (2003) và Ngo và cs (2014) [40]:

Trong đó, L: là chiều dài của mẫu thức ăn, W: là chiều rộng của mẫu thức

ăn (Hình 11) Hirai và Masui 2001 [25]

Chỉ số quan trọng (Ix) là phần trăm của mỗi mẫu thức ăn được tính theo công thức mô tả trong tài liệu của Caldart và cs (2012), Ngo và cs (2014), Ngo

Trang 35

của loài Trong đó: D là chỉ số đa dạng, ni là số lượng mẫu thức ăn trong một mục thức ăn (Taxa) thứ i, N là tổng số lượng mẫu thức ăn của các mục thức

ăn (Taxa), S là tổng số mục thức ăn (Taxa) Chỉ số đa dạng được trình bày dưới dạng 1/D (0 ≤ D ≤ 1), khi D càng lớn thì đa dạng càng cao Công thức tính như sau:

Để ước tính mức độ đồng đều giữa các loại thức ăn của Thạch sùng mí chúng tôi sử dụng chỉ số Shannon’s evenness Trong đó: E là chỉ số đồng đều (0 ≤ E ≤ 1), khi E = 1 thì độ đồng đều cao nhất, H’là chỉ số đa dạng Shannon

- Weiner, Hmax = ln S (S là tổng số các mục thức ăn - taxon) Công thức tính như sau:

Chỉ số đa dạng H’ được tính như sau:

Trong đó: pi là tỉ lệ số lượng mẫu thức ăn trong một mục thức ăn (ni) trên tổng số lượng mẫu thức ăn của các mục thức ăn - Taxa (N) ở bậc thứ i

Để đánh giá mức độ tương đồng về thành phần thức ăn giữa các loài trong

cùng 1 giống (giữa loài Goniurosaurus catbaensis và loài G lichtenfelderi),

nghiên cứu phân tích sự chồng chéo trong mức độ tương đồng giữa chế độ ăn giữa 2 loài, chúng tôi sử dụng chỉ số trùng lặp Pianka (Ojk) Pianka, 1973 [56] với các giá trị từ 0 (không chồng chéo) đến 1 (hoàn toàn chồng chéo) Krebs, 1999 [29], theo biểu thức sau:

Trong đó Ojk đại diện cho chỉ số chồng chéo giữa các loài j và k; Pij là tỷ

Ngày đăng: 19/04/2020, 21:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w