1.3 Mặc dù vậy, đối với sách giáo khoa Toán phổ thông nói chung, sách Đại số và Giải tích 12 nói riêng, chưa thực sự quan tâm đúng mức tới việc làm rõ mối liên hệ giữa thực tiễn với Toá
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ THỦY
DẠY HỌC CHỦ ĐỀ HÀM SỐ LŨY THỪA, HÀM SỐ MŨ
VÀ HÀM SỐ LÔGARIT LỚP 12 BAN CƠ BẢN GẮN VỚI NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC CỦA CUỘC SỐNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN
HÀ NỘI – 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ THỦY
DẠY HỌC CHỦ ĐỀ HÀM SỐ LŨY THỪA, HÀM SỐ MŨ
VÀ HÀM SỐ LÔGARIT LỚP 12 BAN CƠ BẢN GẮN VỚI NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC CỦA CUỘC SỐNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
BỘ MÔN TOÁN
Mã số: 8140111
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Hữu Châu
HÀ NỘI – 2018
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên trong luận văn này, tác giả xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo của trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy, hết lòng giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Nguyễn Hữu Châu - người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình chỉ bảo tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài này
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo và các em học sinh trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Phù Khê – Từ Sơn – Bắc Ninh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình thực hiện thực nghiệm sư phạm hoàn thiện luận văn của mình
Tiếp theo, tác giả xin cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ, chia sẻ của các bạn trong lớp Cao học Lý luận và Phương pháp dạy học môn Toán K11 trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội
Và gia đình tôi là nguồn động viên cổ vũ to lớn đã tiếp thêm sức mạnh cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài Mặc dù có nhiều cố gắng, tuy nhiên luận văn vẫn không tránh khỏi những sai sót Tác giả mong được nhận những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô và bạn bè để luận văn này được hoàn thiện hơn
Hà Nội, tháng 1 năm 2018
Trang 4OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for
Economic Cooperation and Development) PISA Programme for International Student Assessment –
Chương trình đánh giá sinh viên quốc tế THPT Trung học phổ thông
Trang 5iii
MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục các kí hiệu viết tắt, các chữ viết tắt ii
Danh mục các bảng vii
Danh mục các biểu đồ viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6
1.1 Lí luận về toán học và thực tiễn 6
1.1.1 Tính thực tiễn ứng dụng của toán học 6
1.1.2 Vai trò của toán học trong nhiều lĩnh vực của khoa học khác 7
1.1.3 Lý luận và thực tiễn trong dạy học ở trường phổ thông 9
1.1.4 Vai trò của việc dạy học môn Toán gắn với những vấn đề thực của cuộc sống 10
1.2 Tiếp cận Quy trình toán học hóa… 15
1.2.1 Bài toán và bài toán thực tiễn… 15
1.2.2 Quy trình toán học hóa … 15
1.2.3 Mối quan hệ giữa dạy học gắn với thực tiễn và các cấp độ năng lực Toán dùng trong đánh giá của PISA 18
1.3 Năng lực và Các cấp độ của năng lực toán phổ thông dùng trong các đánh giá của PISA … 19
1.3.1 Năng lực (Competence) và năng lực toán (mathematical competence) 19
1.3.2 Các cấp độ của năng lực toán phổ thông dùng trong các đánh giá của PISA……… 20
1.3.3 Đánh giá năng lực toán học của học sinh……….… 21
1.4 Tìm hiểu thực tiễn về dạy học toán gắn với thực tiễn ……… 22
1.4.1 Thực trạng……… ………… 22
Trang 6iv
1.4.2 Nguyên nhân……….…… 24
Kết luận Chương 1……….… 25 CHƯƠNG 2 DẠY HỌC CHỦ ĐỀ HÀM SỐ LŨY THỪA, HÀM SỐ MŨ VÀ HÀM SỐ LÔGARIT GẮN VỚI THỰC TIỄN….……… 27
2.1 Đề xuất các biện pháp nhằm tăng cường tính thực tiễn trong dạy học toán 27 2.2 Xây dựng Quy trình thiết kế các bài toán gắn với thực tiễn theo quan điểm dạy học định hướng phát triển năng lực ……… …… 29 2.2.1 Xác định nội dung cần học và các năng lực cần đạt……….… 29 2.2.2 Thiết kế bài toán thực tiễn tương……….… 30 2.2.3 Thực hiện quy trình Toán học hóa 3 giai đoạn, 5 bước của PISA…….… 30 2.3 Một số lưu ý khi thiết kế các bài toán tiếp cận PISA theo quan điểm dạy học định hướng phát triển năng lực……… 31 2.4 Những quan điểm về vấn đề xây dựng Hệ thống bài tập có nội dung thực tiễn……….… … 32 2.4.1 Việc xây dựng Hệ thống bài tập có nội dung thực tiễn phải đảm bảo sự tôn trọng, kế thừa, phát triển chương trình, sách giáo khoa hiện hành……… …… 36 2.4.2 Hệ thống bài tập có nội dung thực tiễn trước hết phải góp phần giúp học sinh nắm vững những kiến thức và kỹ năng cơ bản của Chương trình Toán nói chung và Trung học phổ thông nói riêng……….… 37 2.4.3 Hệ thống bài tập có nội dung thực tiễn cần được triệt để khai thác ở những chủ đề có nhiều tiềm năng……….……… …… 38 2.4.4 Hệ thống bài tập có nội dung thực tiễn phải được chọn lọc để nội dung sát với đời sống thực tế, sát với quá trình lao động sản xuất và đảm bảo tính đa dạng
về nội dung……… … 38 2.4.5 Trong việc xây dựng Hệ thống bài tập có nội dung thực tiễn, cần chú ý khai thác những bài toán có nội dung cực trị……… 39
Trang 7v
2.4.6 Hệ thống bài tập có nội dung thực tiễn trong dạy học Toán ở trường Trung học phổ thông phải giúp học sinh làm quen dần với phương pháp mô hình hóa
toán học ……… 40
2.4.7 Hệ thống bài tập phải được chọn lựa một cách thận trọng, vừa mức về số lượng và đảm bảo tính khả thi trong khâu sử dụng……… 40
2.5 Xây dựng hệ thống bài tập thực tế đối với chủ đề hàm số mũ, hàm số lũy thừa và hàm số lôgarit……… ……… ……… 41
2.5.1 Bài toán 1 Gửi tiền vào ngân hàng một lần……….………… … 42
2.5.2 Bài toán 2 Gửi tiền vào ngân hàng theo định kì……… 45
2.5.3 Bài toán 3 Vay vốn ngân hàng ……… … 46
2.5.4 Bài toán 4 Vay vốn ngân hàng ……… … 49
2.5.5 Bài toán 5 Số tiền bị lãng quên……… 50
2.5.6 Bài toán 6 Tỉ lệ gia tăng dân số……….…… 51
2.5.7 Bài toán 7 Bài toán động đất……… 54
2.5.8 Bài toán 8 Tính số niên đại của cây……… 56
2.5.9 Bài toán 9 Bài toán về phóng xạ……….……… 58
2.5.10 Bài toán 10 Bài toán nồng độ khí CO2 trong không khí……… 61
2.5.11 Bài toán 11 Bài toán tăng, giảm diện tích che phủ rừng……….…… 63
2.5.12 Bài toán 12 Bài toán trị xạ……… ……… 67
2.5.13 Bài toán 13 Bài toán về áp suất không khí ……… … … 70
2.5.14 Bài toán về sinh trưởng ………… ……… …… 71
2.6 Xây dựng một số bài giảng có những tình huống dạy học gắn với thực tiễn về kiến thức hàm số mũ, hàm số lũy thừa và hàm số lôgarit chương trình cơ bản ……….……… 71
2.6.1 Giáo án 1 – tiết 29 Hàm số mũ và hàm số lôgarit………… ………… … 72
2.6.2 Giáo án 2 – Tự chọn 11: Hàm số mũ và hàm số lôgarit……… 80
Trang 8vi
2.6.3 Giáo án 3 – Luyện tập về phương trình mũ và phương trình lôgarit (2
tiết)……… 86
Kết luận Chương 2……… 93
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 3.1 Mục đích, phương pháp, nội dung thực nghiệm sư phạm 95
3.1.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 95
3.1.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm … 95
3.1.3 Tổ chức và nội dung của thực nghiệm sư phạm 95
3.2 Phương pháp đánh giá thực nghiệm sư phạm 95
3.2.1 Phương pháp đánh giá thực nghiệm 96
3.2.2 Tổ chức thực nghiệm 96
3.3 Nội dung thực nghiệm……… 97
3.3.1 Giáo án thực nghiệm đã chuẩn bị 98
3.3.2 Các bài kiểm tra đánh giá 97
3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm………….……… 101
3.4.1 Đánh giá kết quả định tính……….……… 101
3.4.2 Đánh giá kết quả định lượng……… ……… 102
Kết luận Chương III 104
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
PHỤ LỤC ………109
Trang 9vii
Danh mục các bảng
Bảng 2.1 Bảng lãi suất tiền gửi……… … 43
Bảng 2.2 Dân số Việt Nam năm 2016 52
Bảng 2.3 Diện tích lớp phủ qua các thời kì 64
Bảng 3.1 Bảng tổng hợp kết quả các bài kiểm tra ……… …… 103
Bảng 3.2 Bảng các số liệu đặc trƣng ……… 104
Trang 10viii
Danh mục các biểu đồ Trang
Sơ đồ 1.1 Mối liên hệ giữa toán học với thực tiễn 7
Sơ đồ 1.2 Quy trình toán học hóa 16
Sơ đồ 1.3 Quy trình thiết kế các bài toán 29
Biểu đồ 2.1 Nồng độ CO2 trung bình trên toàn cầu 63
Biểu đồ 2.2 Diện tích che phủ rừng qua các thời kì 63
Biểu đồ 2.3 Diện tích che phủ rừng qua các thời kì 63
Biểu đồ 2.4 Diện tích che phủ rừng qua các thời kì 64 Biểu đồ 3.1 So sánh tần số điểm giữa lớp đối chứng và lớp thực nghiệm … 103
Trang 11và các kỹ năng cơ bản, có tư duy sáng tạo, có năng lực thực hành giỏi, có khả năng đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của xã hội là nhiệm vụ cấp bách đối với ngành giáo dục nước ta hiện nay, như trong quan điểm chỉ đạo - nghị quyết hội
nghị trung ương VIII khóa XI đã chỉ ra "phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội Để thực hiện được
nhiệm vụ đó sự nghiệp giáo dục cần được đổi mới, trước hết về mặt nội dung
"Tiếp tục đổi mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn" (Đại hội đảng XII), sau đó cần có những đổi mới căn bản về
tư duy giáo dục và phương pháp dạy học "Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng là việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” (Điều 28,
mục 2 luật giáo dục 2005)
1.2 Có người nói toán học là nàng tiên của các khoa học Ở nước ta Thủ
tướng Phạm Văn Đồng nói :" Trong phương hướng phát triển khoa học kỹ thuật
ở nước ta có những ngành có thể và cần phải làm sớm, mà làm sớm được thì rất tốt Ví dụ như ngành toán học, trong đó có vận trù học, có phương pháp PERT"
Trang 122
Toán học có nguồn gốc thực tiễn và là "chìa khoá" trong hầu hết các hoạt động của con người Toán học có mối liên hệ chặt chẽ với thực tiễn và có thể ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau: là công cụ để học tập các môn học trong nhà trường, là công cụ để hoạt động trong thực tế sản xuất và nghiên cứu nhiều ngành khoa học Và lịch sử cũng chứng minh rằng nhu cầu thực tiễn là nguyên nhân quyết định sự phát triển của toán học Từ thời Ơclid đến nay, trải qua hơn 20 thế
kỷ toán học đã trở thành một khoa học rất trừu tượng, nhưng tác dụng của nó đối với hoạt động thực tiễn của con người ngày càng to lớn vì toán học luôn dựa vào thực tiễn, lấy thực tiễn là nguồn động lực mạnh mẽ và mục tiêu phục vụ cuối cùng Có thể nói mỗi cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đều gây nên những biến đổi sâu sắc trong toán học và ngược lại những biến đổi này cũng tác động mạnh
mẽ đến sự phát triển của khoa học kỹ thuật, của cuộc sống
1.3 Mặc dù vậy, đối với sách giáo khoa Toán phổ thông nói chung, sách Đại
số và Giải tích 12 nói riêng, chưa thực sự quan tâm đúng mức tới việc làm rõ mối liên hệ giữa thực tiễn với Toán học, còn nặng về kiến thức, chưa bồi dưỡng cho học sinh ý thức và năng lực vận dụng những hiểu biết Toán học vào việc học tập các môn học khác cũng như giải quyết nhiều tình huống đặt ra trong lao động sản xuất Điều này làm giảm hứng thú và động lực học tập môn toán của học sinh Nếu như không học xa hơn thì học sinh không biết mình học số phức hay phải tính được đạo hàm, tích phân để làm gì ngoài mục đích thi cử Hơn nữa, thực trạng dạy học Toán ở trường phổ thông cho thấy, trong quá trình giảng dạy chúng ta chú ý nhiều đến việc truyền thụ khối lượng kiến thức, kỹ năng giải quyết các bài tập toán cơ bản cũng như nâng cao nhằm mục đích thi cử nhưng ít quan tâm đến thực hành và liên hệ kiến thức với thực tiễn hay cách dẫn dắt học sinh tìm hiểu, khám phá lĩnh hội kiến thức Dẫn đến tình trạng nhiều không yêu toán, thậm chí học sinh còn sợ học toán Như vậy, việc thiết kế các bài toán xuất phát từ thực tiễn cũng như quay lại phục vụ thực tiễn với kiến thức phù hợp với
Trang 133
trình độ của các em, đồng thời lựa chọn phương pháp thích hợp để giúp các em giải quyết các vấn đề thực của cuộc sống là việc hết sức thiết thực để phát triển năng lực toán cho học sinh và thực hiện mục tiêu giáo dục
Nhằm làm sáng tỏ mối liên hệ giữa các kiến thức giải tích ở trường phổ thông với thực tiễn cũng như làm tăng hứng thú của học sinh đối với việc học
toán, rèn luyện và phát triển tư duy toán, tôi chọn đề tài nghiên cứu là: “ Dạy học
chủ đề Hàm số lũy thừa, hàm số mũ và hàm số lôgarit lớp 12 ban cơ bản gắn với những vấn đề thực của cuộc sống "
2 Lịch sử nghiên cứu
Hiện nay, việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông đang diễn
ra mạnh mẽ và rộng khắp, trong đó đặc biệt quan tâm đến dạy học phát triển năng lực của người học Đã có nhiều công trình nghiên cứu về phát triển năng lực của người học cũng như việc tăng cường liên hệ Toán học với thực tiễn thông qua dạy học một số chủ đề trong chương trình Toán THPT Điều này chứng tỏ rằng việc dạy học Toán gắn với thực tiễn, giúp học sinh vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các tình huống nảy sinh trong thực tiễn là một nhiệm
vụ quan trọng của dạy học Toán Các công trình đó đã đưa ra một số biện pháp phát triển năng lực của học sinh cũng như hệ thống các bài toán thực tiễn để đưa vào giảng dạy Tuy nhiên tác giả thấy có một số điểm mà các công trình đó chưa quan tâm:
Một là, hệ thống bài tập thực tiễn còn ít, học sinh chưa được làm quen
thường xuyên
Hai là, chưa có hệ thống bài tập thực tiễn đối với chủ đề hàm số lũy thừa,
hàm số mũ và hàm số lôgarit trong chương trình lớp 12 ban cơ bản
Trên cơ sở đó, nội dung mà luận văn đề cập tới sẽ góp phần bổ sung hoàn thiện về điều nói ở trên
3 Mục đích nghiên cứu
Trang 144
Mục đích nghiên cứu: thiết kế các bài toán trong chương hàm số lũy thừa,
hàm số mũ và hàm số lôgarit có nội dung gắn với thực tiễn Từ đó góp phần tăng cường liên hệ với thực tiễn nhằm nâng cao hứng thú học tập cũng như hiệu quả dạy học nội dung này
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Dạy học chủ đề “Hàm số lũy thừa, hàm số mũ và hàm số lôgarit” trong chương trình giải tích lớp 12 – ban cơ bản gắn với những vấn đề thực của cuộc sống
- Khách thể nghiên cứu: Học sinh lớp 12A7 và 12A8 trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Từ Sơn, Bắc Ninh
5 Phạm vi nghiên cứu
- Chủ đề Hàm số lũy thừa, Hàm số mũ, hàm số lôgarit” trong chương trình giải tích lớp 12 – ban cơ bản
- Học sinh lớp 12 trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Từ Sơn, Bắc Ninh
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 12 năm 2016 đến tháng 10 năm 2017
6 Giả thuyết nghiên cứu
Dạy học toán gắn với thực tiễn thông qua chủ đề hàm số lũy thừa, hàm số
mũ và hàm số lôgarit sẽ giúp học sinh nắm vững kiến thức, tăng hứng thú, tăng tính tích cực học tập của học sinh đồng thời nâng cao hiệu quả của việc dạy và học
7 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài
- Nhiệm vụ 2: Tìm hiểu thực trạng dạy học toán gắn với thực tiễn ở trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Từ Sơn, Bắc Ninh
- Nhiệm vụ 3: Đề xuất các biện pháp nhằm tăng cường tính thực tiễn
trong dạy học toán
- Nhiệm vụ 4: Xây dựng hệ thống bài tập thực tế đối với chủ đề
Trang 155
hàm số mũ, hàm số lũy thừa và hàm số lôgarit
- Nhiệm vụ 5: Thực nghiệm sư phạm, kiểm nghiệm tính khả thi và
hiệu quả trong nội dung được đề cập đến của đề tài
8 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận : Nghiên cứu các tài liệu lí luận về dạy học gắn với thực tiễn
- Phương pháp điều tra quan sát: tiến hành dự giờ, trao đổi, tham khảo ý kiến một số đồng nghiệp có kinh nghiệm, tìm hiểu thực tiễn giảng dạy phần hàm
số hàm số lũy thừa, hàm số mũ và hàm số lôgarit
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: thực nghiệm giảng dạy một số giáo
án soạn theo hướng của đề tài nhằm đánh giá tính khả thi và hiệu quả của đề tài
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Dạy học chủ đề hàm số mũ, hàm số lũy thừa và hàm số lôgarit gắn với thực tiễn
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 166
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Lí luận về toán học và thực tiễn
1.1.1 Tính thực tiễn ứng dụng của toán học
Những kiến thức toán học đầu tiên của loài người về số học, hình học, tam giác lượng v.v đều được sinh ra từ nhu cầu của thực tiễn Cụ thể như các số hình thành và phát triển do nhu cầu của phép đếm và tính toán, ngành hàng hải đòi hỏi những kiến thức về thiên văn, mà bộ môn này lại cần những kiến thức về lượng giác do đó lượng giác phát sinh và phát triển Ở thời kỳ Pục hưng, sự phát triển mạnh mẽ của kỹ nghệ và sự hình thành quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đòi hỏi phải phát triển cơ học và ngành này đã thúc đẩy phải hoàn chỉnh phép tính vi phân và tích phân
Trong thế kỷ 18 toán học chủ yếu nhằm giải quyết yêu cầu của cơ học Từ nửa đầu thế kỷ 19 kỹ thuật cơ khí phát triển dựa vào động cơ hơi nước, kho tàng toán học được bổ xung nhiều kết quả quan trọng về giải tích, phương trình vi phân, phương trình đạo hàm riêng, hàm phức, đại số do yêu cầu của việc nâng cao năng suất của máy đưa vật lý lên hàng đầu Toán học cần phát triển để giải quyết những vấn đề về nhiệt, điện động, quang, đàn hồi, từ trường của trái đất Cũng ở thời kỳ này, môn hình học xạ ảnh ra đời do sự phát triển của hội hoạ và kiến trúc đòi hỏi nhiều ở phương pháp vẽ phối cảnh Những bài toán mới của thiên văn, cơ học, trắc địa và các khoa học khác ở thời kỳ này cũng là những nguồn kích thích mới đối với sự phát triển toán học Khoảng cuối thế kỷ 19, do nhu cầu của nội bộ toán học là xây dựng cơ sở cho giải tích, lý thuyết tập hợp của Cantor ra đời và thắng lợi, nó dần dần xâm nhập vào tất cả các lĩnh vực toán học Nhờ đó người ta có thể xây dựng phương pháp xử lý mới đối với toán học là phương pháp tiên đề trừu tượng Đồng thời, trên cơ sở của lý thuyết tập hợp và
Trang 177
phương pháp tiêu đề trừu tượng nhiều bộ môn toán học hiện đại như lý thuyết
hàm số thực, đại số trừu tượng, tô pô trừu tượng v.v ra đời
Trong mấy chục năm lại đây do sự phát triển của kỹ thuật từ cơ khí hoá lên
tự động hoá và sự ra đời của kỹ thuật tự động hoá mà nhiều bộ môn toán học
mới ra đời và phát triển cực kỳ nhanh chóng như thông tin học, lý thuyết các
chương trình toán học, lý thuyết máy tự động, lý thuyết độ tin cậy, lý thuyết đại
số về các sơ đồ liên lạc về điều khiển v.v
Do sự phát minh ra máy tính điện tử thúc đẩy mạnh mẽ quá trình tự động
hoá nền sản xuất hiện đại, toán học ngày càng mở rộng phạm vi ứng dụng của
nó Để phục vụ cho máy tính điện tử lý thuyết lập chương trình, lý thuyết
Angorit, giải tích số v.v ra đời
Gần đây do nhu cầu thực tiễn của sự phát triển khoa học mà các ngành
trung giao giữa toán học và các khoa học khác như ngôn ngữ toán, kinh tế toán,
sinh vật toán ra đời, đánh dấu một xu hướng mới trong quan hệ giữa toán học và
các khoa học khác
Tất cả những điều trình bày trên đây về quá trình phát triển của toán học
chứng tỏ nhu cầu thực tiễn là nguyên nhân quyết định sự phát triển của toán học
Sơ đồ 1.1 Mối liên hệ giữa Toán học và thực tiễn
Tóm lại, toán học luôn dựa vào thực tiễn, lấy thực tiễn là nguồn động lực
Trang 188
1.1.2 Vai trò đối với nhiều lĩnh vực khoa học khác của toán học
Toán học được ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực của khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, công nghệ, kinh tế, y học, sinh học, văn học…
Toán học được áp dụng vào sản xuất và kỹ thuật thông qua vật lý và cơ học Rất nhiều tiến bộ của khoa học kỹ thuật chỉ giải quyết được trên cơ sở những tiến bộ của vật lý và cơ học, thế mà hai ngành này lại liên hệ mật thiết với toán học Phương pháp của toán học đã giúp cho học cơ học vật lý và thiên văn đi sâu vào bản chất các quy luật của tự nhiên, có thể đoán trước được các kết quả còn
ẩn sau giới hạn của sự hiểu biết Nhờ quy luật toán học mà Leverier và Adam ( thế kỷ 19), Loren (thế kỷ 20) đã xác định được trên lý thuyết sự tồn tại của hai hành tinh mới Hải Vương Tinh và Diêm Vương tinh
Toán học ngày càng có ứng dụng sâu sắc và rộng rãi Cùng với ứng dụng thông qua cơ học và vật lý, những ứng dụng thông qua điều khiển học tăng lên không ngừng và ngày càng quan trọng Có thể nói bất kỳ tiến bộ nào của tự động hoá cũng không thể tách rời những thành tựu của toán học Ví dụ như việc thiết
kế và sử dụng các máy tự động, các hệ thống điều khiển và liên lạc đòi hỏi phải dựa trên những thành tựu của logic toán, thông tin học, đại số, lý thuyết độ tin cậy
Những thành tựu to lớn của thời đại của chúng ta ngày nay, động cơ phản lực, vô tuyến điện hay năng lượng nguyên tử đều gắn liền với sự phát triển của nhau ngành toán học khác nhau, như hình học phi Ơclid, đại số, hàm phức, hàm thực, phương trình vi phân, xác suất thông kê v.v Chẳng hạn như lý thuyết về các dạng không gian của không gian hình học được áp dụng trong điện động học
và điện kỹ thuật Những định lý tổng quát của hàm phức là cơ sở của lý thuyết thủy động học và khí động học mà đây là hai ngành lý thuyết cơ sở của kỹ thuật hàng hải và hàng không
Trang 199
Ví dụ trong công nghệ, liệu có bao nhiêu khách hàng thuê bao điện thoại biết được để mạng điện thoại vận hành thông suốt có sự đóng góp không nhỏ của thuật toán đơn hình - một thuật toán cơ bản của lí thuyết qui hoạch toán học
Và Y học là một lĩnh vự không thể không nhắc đến Trải qua hàng nghìn năm, y học đó biết đến hàng triệu căn bệnh khác nhau và có những phương pháp chữa trị bệnh khác nhau tuy nhiên có rất nhiều trường hợp thầy thuốc đoán nhầm bệnh hoặc bó tay trước các bệnh nan y trước đây như suy thận, bệnh tim Và ngày nay, được sự hỗ trợ của các trang thiết bị máy móc và công nghệ hiện đại
đã giúp con người khai thác triệt để các kinh nghiệm và chuẩn đoán bệnh một cách chính xác và hiệu quả hơn Và chúng ta biết ràng hiện nay y học đã rất thành công trong các lĩnh vực như ghép thận, ghép tim, ghép gan…
1.1.3 Lý luận và thực tiễn trong dạy học ở trường phổ thông
Để đạt được hiệu quả trong học tập cũng như nghiên cứu, việc kết hài hòa giữa lý luận và thực tiễn là hết sức cần thiết Bởi lý luận là những chỉ dẫn giúp hoạt động của con người đi đúng hướng, ngược lại hoạt động thực tiễn giúp lý luận trở nên có ý nghĩa hơn, minh chứng tính đúng đắn của lý luận Động lực phát triển của toán học dựa vào mâu thuẫn biện chứng giữa lý luận và thực tiễn
„Lý luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế Lý luận mà không áp dụng vào công việc thực tế là lý luận suông, dù xem được hàng ngàn, hàng vạn quyển lý luận, nếu không biết đem ra thực hành thì khác nào một cái hòm đựng sách‟
(theo Chủ tịch Hồ Chí Minh) Trong dạy học, để học sinh thấy được mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn nên tập dượt cho học sinh toán học hóa các tình huống thực tiễn theo hai chiều từ thực tiễn đến mô hình toán và ngược lại (điều này sẽ được trình bày cụ thể ở mục 1.3)
Trong dạy học, để giúp học sinh học tập hiệu quả và phát triển một cách toàn diện thì việc kết hợp giữa lý luận với thực tiễn trong quá trình dạy học đề là trách nhiệm không thể thiếu của mỗi người giáo viên Đó là dạy học kết hợp lý
Trang 2010
luận với đời sống và xã hội, với sản xuất; học phải đi đối với hành, đó là nhiệm
vụ của bất cứ môn học nào Xã hội đi lên, suộc sống thay đổi đòi hỏi mục tiêu của giáo dục cũng thay đổi Nếu như ngày trước, người lao động chỉ cần biết cộng trừ, nhân, chia và thậm trí có thể không biết làm tính thì vẫn có thể làm việc trong một vài hoạt động sản xuất, nhưng tương lai sẽ không còn chỗ đứng
đó cho họ trong các hoạt động sản xuất Và với nền kinh tế tri thức hiện nay rất cần một đội ngũ người lao động phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, có tư duy sáng tạo, có năng lực thực hành giỏi,
có khả năng đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của xã Phương pháp dạy học hiện nay là phương pháp dạy học tích cực, lấy học sinh làm trung tâm, và quá trình dạy học là quá trình hướng dẫn học sinh cách thức tiếp cận và nắm vững tri thức, hình thành nhân cách Bản thân mỗi giáo viên phải là một sự thể hiện tốt nhất về
“mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn ” - lời nói phải đi đôi với việc làm Trong dạy học, cũng như trong cuộc sống hàng ngày, mỗi giáo viên phải là những tấm gương sáng về đạo đức, tác phong, có như vậy thì lời nói mới “thống nhất” với việc làm
1.1.4 Vai trò của việc dạy học môn Toán gắn với những vấn đề thực của cuộc sống
1.1.4.1 Rèn luyện cho học sinh năng lực vận dụng kiến thức Toán học vào thực tiễn là phù hợp với xu hướng phát triển chung của thế giới và thực tiễn Việt Nam
Bước sang thế kỷ XXI, chúng ta đang đứng trước thời cơ mới Nhân loại đang từng bước đi vào sử dụng tri thức cho phát triển và đang hình thành nền kinh tế dựa vào tri thức, sử dụng nhanh và gần như trực tiếp các thành tựu của khoa học công nghệ vào phục vụ sản xuất đời sống Đối với nước ta, việc hoà nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực là việc làm hết sức cần thiết Một trong những điều kiện để làm được điều đó là người lao động phải biết vận dụng kiến
Trang 21Để theo kịp sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, nhiệm vụ của chúng ta là phải đào tạo những người lao động có hiểu biết, có ý thức vận dụng những thành tựu của Toán học vào trong thực tiễn cuộc sống một cách linh hoạt nhằm mang lại những kết quả thiết thực Và để thực hiện nguyên tắc này, cần:
+) Đảm bảo cung cấp đủ cho học sinh nắm vững kiến thức Toán học cơ bản, cần thiết để có thể vận dụng chúng vào giải quyết các vấn đề của thực tiễn; +) Rèn luyện cho học sinh có những kỹ năng toán học vững chắc;
+) Chú trọng đến các kiến thức, nội dung Toán học có ứng dụng trong thực tiễn;
+) Đặt vấn đề bài toán xuất phát từ những vấn đề thực tiễn;
+) Xây dựng hệ thống các bài toán có nội dung thực tiễn, sinh động;
+) Chú trọng công tác thực hành toán học trong lớp học cũng như trong các hoạt động ngoại khóa
1.1.4.3 Rèn luyện cho học sinh năng lực vận dụng Toán học vào thực tiễn đáp ứng yêu cầu mục tiêu bộ môn Toán và có tác dụng tích cực trong việc dạy học Toán
Ngày nay, việc rèn luyện cho học sinh năng lực vận dụng Toán học vào thực tiễn có vai trò quan trọng, góp phần phát triển cho học sinh những năng lực trí tuệ, những phẩm chất cần thiết, đáp ứng yêu cầu mới của xã hội lao động hiện đại Để đạt được mục tiêu nói trên "Cải cách giáo dục phải làm cho giáo dục
Trang 22và Nguyên lý chung mà Đại hội đại biểu toàn Quốc lần thứ IV của Đảng đã đề
ra Chất lượng đào tạo những người lao động mới qua môn Toán phải được thể hiện ở những mặt sau:
1) Học sinh phải nắm vững được phương pháp và hệ thống kiến thức cơ bản, cần thiết của Toán Vận dụng được nó để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra trong lao động, kĩ thuật, vào các môn học khác
2) Qua hoạt động toán học, học sinh phải thể hiện một số phẩm chất đạo đức của người lao động mới: đức tính cẩn thận, chính xác, chu đáo, làm việc có
kế hoạch, có kỷ luật, có năng suất cao; tinh thần tự lực cánh sinh, khắc phục khó khăn, dám nghĩ dám làm trung thực khiêm tốn, tiết kiệm, biết được đúng sai trong Toán học và trong thực tiễn
Ngoài ra, học sinh thấy và thể hiện được cái đẹp, cái hay của Toán học bằng ngôn ngữ chính xác, trong sáng, bằng lời giải gọn gàng, hình thức trình bày sáng sủa, bằng những ứng dụng rộng rãi Toán học trong thực tiễn
1.1.4.4 Rèn luyện năng lực vận dụng Toán học vào thực tiễn góp phần tích cực
hóa trong việc lĩnh hội kiến thức
Trong dạy học Toán, việc liên hệ gần gũi bằng những tình huống, những vấn
đề thực tế giúp học sinh tiếp thu tốt kiến thức một cách dễ dàng hơn, tự nhiên hơn, vừa có tác dụng rèn luyện năng lực vận dụng Toán học vào thực tiễn đồng thời giúp học sinh tích cực hóa trong học tập để lĩnh hội kiến thức Giáo sư Đào Tam
Trang 231.1.4.5 Rèn luyện năng lực vận dụng kiến thức Toán học vào thực tiễn, giúp học
sinh có kỹ năng thực hành các kỹ năng Toán học và làm quen dần các tình
huống thực tiễn
Trong thực tế dạy học ở trường phổ thông, một vấn đề nổi lên là đa số giáo viên chỉ quan tâm, chú trọng việc hoàn thành những kiến thức lí thuyết cũng như bài tập quy định trong chương trình và sách giáo khoa mà quên đi việc thực hành, cũng như việc giải quyết những bài toán có nội dung thực tiễn, dẫn đến tình trạng học sinh thường lúng túng, gặp nhiều khó khăn trong việc vận dụng kiến thức Toán học vào cuộc sống Và hơn nữa, khi rời khỏi ghế nhà trường học sinh sẽ khó vẫn dụng kiến thức đã học vào giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn cuộc sống
Để thực hiện tốt những hoạt động toán học gắn liền với thực tiễn, cần có những hoạt động tập thể, đi vào nhà máy, xí nghiệp, hợp tác xã, thu thập tư liệu (ghi chép vào sổ thực tế), trao đổi với công nhân, nông dân tập thể, kỹ thuật viên, với người quản lí kinh tế, để có được những tài liệu sống, rồi trên cơ sở đó dùng kiến thức Toán học mà phân tích hoặc để tích luỹ thực tiễn, làm vốn quý cho việc tiếp tục học Toán cũng như học các môn học khác Bằng các hoạt động
Trang 2414
đó, học sinh làm quen với các bước vận dụng Toán học vào thực tiễn: đặt bài toán, xây dựng mô hình, thu thập số liệu; xử lí mô hình để tìm lời giải bài toán, đối chiếu lời giải với thực tế, kiểm tra và điều chỉnh
Chính vì vậy, việc tăng cường rèn luyện năng lực vận dụng Toán học vào thực tiễn một mặt giúp học sinh thực hành tốt các kỹ năng toán học (như tính nhanh, tính nhẩm, kỹ năng đọc biểu đồ, kỹ năng suy diễn toán học, tính có căn
cứ đầy đủ của các lập luận, ) Mặt khác, giúp học sinh thực hành làm quen dần với các tình huống thực tiễn gần gũi trong cuộc sống, góp phần tích cực trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo học sinh phổ thông, đáp ứng mọi yêu cầu của xã hội
1.1.4.6 Dạy học ứng dụng kiến thức Toán học vào thực tiễn là một biện pháp có hiệu quả, nhằm chủ động thực hiện các nhiệm vụ dạy học
Trong thực tiễn dạy học ở trường phổ thông, để truyền thụ một tri thức nào
đó, các thầy giáo dạy Toán giàu kinh nghiệm thường cho học sinh thực hiện những bài tập được xây dựng có tính phân bậc từ những tình huống quen thuộc đến những tình huống mới lạ, từ chỗ thực hiện có sự giúp đỡ của thầy dần dần tới hoàn toàn độc lập, từng bước đạt tới các trình độ lĩnh hội, tiến tới hoàn toàn nắm vững kiến thức Trong thực tế có rất nhiều học sinh học mà không hiểu điều mình học, không ứng dụng được kiến thức khi làm bài tập nói chi ứng dụng vào thực tế, ở họ chỉ có những kiến thức sách vở do "nhồi nhét'', do ''học vẹt'' mà có, học mà không hiểu không ứng dụng được Tác giả cho rằng, giải quyết đúng đắn quan hệ giữa lí luận và thực tiễn, giữa học và hành, với các biện pháp bồi dưỡng cho học sinh ý thức học tập trong thực tế cuộc sống, ý thức vận dụng các kiến thức vào giải quyết các vấn đề thực tế, coi trọng củng cố kiến thức kỹ năng mà học sinh đã thu nhận được là những yếu tố tác động trực tiếp đến chất lượng học
Trang 25cho học sinh vừa là mục đích vừa là phương tiện của dạy học Toán ở trường phổ
thông
1.2 Tiếp cận quy trình toán học hóa
1.2.1 Bài toán và bài toán thực tiễn
G Polya định nghĩa: “Bài toán là nhu cầu hay yêu cầu đặt ra sự cần thiết phải tìm kiếm một cách ý thức phương tiện thích hợp để đạt tới một mục đích trông thấy rõ ràng nhưng không thể đạt được ngay” [Sáng tạo toán học, tr 119]
Như vậy, bài toán thực tiễn là bài toán mà yêu cầu hay nhu cầu cần được xuất phát từ trong thực tiễn cuộc sống Ví dụ: “ Ông An mua một chiếc xe máy với giá 37,5 triệu, trả góp trong vòng 12 tháng Tính số tiền ông An phải trả mỗi tháng”
1.2.2 Quy trình toán học hóa
Để rèn luyện cho học sinh khả năng vận dụng kiến thức toán vào thực tiễn thì trong nhà trường, việc giảng dạy toán học thông qua các vấn đề của thế giới thực là việc khó khăn và hết sức cần thiết Và để làm tốt điều đó trong nhà trường, trong nhiều thập niên qua, các nhà nghiên cứu giáo dục trong và ngoài
Trang 2616
nước luôn tình kiếm, xây dựng các mô hình; các quy trình mô hình hóa toán học để hỗ trợ đắc lực cho Giáo viên trong việc giảng dạy các vấn đề trong thế giới thực Dưới đây là quy trình toán học hóa tiêu biểu trong luận văn đề cập đến:
Quy trình toán học hóa của OECD/PISA được tác giả Trần Vui trình bày như sau:
Sơ đồ 1.2 Quy trình toán học hóa
Quy trình 5 bước toán học hóa
Bước 1 Bắt đầu từ một vấn đề được đặt ra trong thực tế
Vấn đề
của
Thế giới thực
Vấn đề của Toán học
Lời giải Toán học
Lời giải
của
Vấn đề thực
Giai đoạn thứ nhất Bước 1, 2, 3
Trang 2717
Bước 2 Tổ chức các vấn đề thực tiễn theo các khái niệm toán học và xác
định các yếu tố toán học tương thích
Bước 3 Dần thoát khỏi thực tiễn thông qua các quá trình: trừu tượng hóa,
khái quát hoá…chuyển vấn đề thực sang vấn đề toán bằng cách sử dụng các ngôn ngữ toán
Bước 4 Giải quyết bài toán
Bước 5 Chuyển ý nghĩa của lời giải toán sang ý nghĩa của đời sống thực
Quy trình trên có thể chia thành quy trình ba giai đoạn toán học hóa [nguyễn sơn hà, tr9]
Giai đoạn thứ nhất Quá trình này bao gồm các hoạt động sau:
Dựa vào vấn đề được đặt ra trong thực tế, xác định lĩnh vực Toán học tương ứng
Biểu diễn vấn đề theo một cách khác, bao gồm việc tổ chức nó theo các khái niệm toán học và đặt những giả thuyết phù hợp;
Hiểu các mối quan hệ giữa ngôn ngữ của vấn đề với ngôn ngữ kí hiệu và hình thức cần thiết để hiểu vấn đề một cách toán học;
Tìm những quy luật, mối quan hệ và những bất biến, nhận ra các khía cạnh tương đồng với các vấn đề đã biết;
Chuyển vấn đề sang lĩnh vực toán học, chẳng hạn như thành một mô hình toán
Giai đoạn thứ hai Phần suy diễn của quy trình mô hình hóa Phần này bao
gồm:
Dùng và di chuyển giữa các biểu diễn khác nhau;
Dùng ngôn ngữ kí hiệu, hình thức, kĩ thuật và các phép toán;
Hoàn thiện, chỉnh sửa, bổ sung các mô hình toán;
Kết hợp và tích hợp các mô hình; Lập luận;
Tổng quát hóa
Trang 2818
Giai đoạn thứ ba Học sinh phải giải thích các kết quả với một thái độ
nghiêm túc ở tất cả các giai đoạn của quá trình, nhưng nó đặt biệt quan trọng ở giai đoạn kết luận Những khía cạnh của quá trình phản ánh và công nhận này là:
Hiểu lĩnh vực và các hạn chế của các khái niệm toán học, đánh giá mô hình và các hạn chế của nó;
Phản ánh về các lập luận toán học, lời giải giải thích và kiểm tra các kết quả
1.2.3 Mối quan hệ giữa dạy học gắn với thực tiễn và các cấp độ năng lực Toán đã được vận dùng trong đánh giá của Pisa
Năng lực phổ thông là khái niệm quan trọng xác định nội dung đánh giá của Pisa, xuất phát từ sự quan tâm tới những điều mà học sinh sau giai đoạn giáo dục cơ bản cần phải biết và có khả năng thực hiện được những điều cần thiết chuẩn bị cho cuộc sống trong xã hội hiện đại
Năng lực Toán học phổ thông “là khả năng nhận biết ý nghĩa, vai trò của kiến thức Toán học trong cuộc sống; vận dụng và phát triển tư duy Toán học để giải quyết các vấn đề của thực tiễn, đáp ứng nhu cầu đời sống hiện tại và tương lai một cách linh hoạt” Năng lực toán học phổ thông không đồng nhất với khả
năng tiếp nhận nội dung của chương trình toán trong nhà trường phổ thông truyền thống, mà điều cần nhấn mạnh đó là kiến thức toán học được học, vận dụng và phát triển thế nào để tăng cường khả năng phân tích, lập luận, khái quát
và tìm ra những tri thức toán học ẩn dấu bên trong các tình huống toán học
Khi dạy học toán gắn với thực tiễn, nhất thiết phải đưa ra những tình huống toán học có gắn với đời sống để Toán học được ứng dụng vào thực tiễn, phản ánh các vấn đề thực tiễn vì các bối cảnh, tình huống để áp dụng toán học có thể liên quan tới những vấn đề của cuộc sống cá nhân hàng ngày, những vấn đề của cộng đồng và của toàn cầu Và vận dụng kiến thức toán học để giải quyết các
Trang 291.3.1 Năng lực (Competence) và năng lực toán (mathematical competence)
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam [tập III, tr 41]: “Năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo, tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn một hay một số dạng hoạt động nào đó”
Theo quan điểm của các nhà tâm lý học: “Năng lực là tổ hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt”
Theo Barnett (1992), năng lực là một tập hợp các kiến thức, kỹ năng, và
thái độ phù hợp với một hoạt động thực tiễn
Như vậy có thể hiểu: “Năng lực là tổ hợp các kỹ năng của cá nhân đảm bảo thực hiện được một dạng hoạt động nào đó”
Trong các chương trình dạy học hiện nay của các nước thuộc khối OECD, người ta cũng sử dụng mô hình đơn giản hơn, phân chia năng lực thành hai nhóm chính, đó là các năng lực chung và các năng lực chuyên môn
Nhóm năng lực chung bao gồm:
năng lực toán phổ thông
Năng lực toán (Mathematical competence)
Trang 3020
Năng lực toán (mathematic competence) là tổ hợp các kỹ năng của cá nhân
đảm bảo thực hiện các hoạt động toán học Các kỹ năng của cá nhân vừa là sản phẩm của sinh lý (có sẵn) vừa là sản phẩm của tâm lý (do rèn luyện mà có) Các hoạt động toán học đó là các thao tác đặc trưng (phân tích, suy luận, lập luận, chứng minh,…) với các đối tượng, nội dung toán học Theo OECD (PISA), năng lực toán học bao gồm:
+ Tư duy và suy luận (Thinking and Reasoning)
+ Lập luận (Argumentation)
+ Biểu đạt (Communication)
+ Mô hình hóa (Modelling)
+ Đặt và giải quyết vấn đề (Problem Posing and Solving)
+ Biểu thị (Representation)
+ Sử dụng kí hiệu, ngôn ngữ, phép toán (Using symbolic, formal and technical language and operations)
+ Sử dụng các phương tiện hỗ trợ (Use of aids and tools)
Mỗi tổ hợp các năng lực thành phần trên đây tạo nên năng lực toán của mỗi cá nhân
1.3.2 Các cấp độ của năng lực toán phổ thông đã được vận dụng trong các đánh giá PISA
Theo chương trình đánh giá quốc tế - PISA, năng lực toán phổ thông được chia làm 3 cấp độ:
Cụm tái tạo:
Mức 1: Nắm được các khái niệm cơ bản và các tính toán quen thuộc
Mức 2: Hiểu được các quy trình quen thuộc và các phương pháp quen
thuộc
Cụm liên kết:
Trang 3121
Mức 3: Dịch chuyển về các vấn đề không quá quen thuộc nhưng vẫn tiêu
chuẩn và giải quyết được vấn đề
Mức 4: Xác định được các phương pháp toán học không tiêu chuẩn
Cụm phản ánh
Mức 5: Đặt và giải quyết các vấn đề phức tạp
Mức 6: Khái quát hóa
1.3.3 Đánh giá năng lực toán học của học sinh
Theo nghĩa thông thường, đánh giá (evaluation) là đưa ra các nhìn nhận, phê bình hay phán quyết về một sự vật, hiện tượng hay vấn đề nào đó Trong nhà trường, theo Allen & Unwin (1993), việc đánh giá thường được thực hiện bằng hai cách: đánh giá sản phẩm (product evaluation) và đánh giá tiến trình (process evaluation)
Có một số loại hình đánh giá kết quả học tập sau:
- Kiểm tra đầu vào (Placement test): kiểm tra trước khi khóa học bắt đầu để xếp lớp theo trình độ phù hợp;
- Kiểm tra dự chuẩn (Diagnostic test): kiểm tra để xác định trình độ của người học tại một thời điểm nào đó nhằm điều chỉnh chương trình hợp lý hơn hoặc kiểm tra khi kết thúc mỗi khóa học để chỉ ra những kiến thức mà người học cần bổ sung hoặc còn yếu
- Kiểm tra tiến độ (Progress test): Loại kiểm tra này được tiến hành khi khóa học đã bắt đầu, thường đánh giá vào thời điểm giữa khóa học Nó giúp người dạy đánh giá hiệu quả hoạt động giảng dạy của mình và chỉ ra được điểm yếu, điểm mạnh của người học
- Kiểm tra kết quả (Achievement test): nhằm đánh giá được kết quả mà người học đạt được sau một khóa học Về nội dung có vẻ giống kiểm tra tiến độ
Trang 32Như vậy, có thể xem PISA là kiểu đánh giá sản phẩm (thông qua bài làm của học sinh) và nó là loại test nhằm kiểm tra năng lực toán học của người học (không phụ thuộc chương trình và tài liệu học sinh đã học) theo các cấp độ của năng lực toán học: cụm tái tạo, cụm liên kết và cụm phản ánh
1.4 Tìm hiểu thực tiễn về dạy học toán gắn với thực tiễn
Vấn đề này tác giả Trần Thúc Trình cho rằng: "Đáng tiếc là hiện nay trong các sách giáo khoa và bài tập còn quá ít các bài toán thực tế Điều này cần được nhanh chóng khắc phục Trong các sách giáo khoa môn Toán và các tài liệu tham khảo về Toán thường chỉ chú ý tập trung làm rõ những vấn đề, những bài toán trong nội bộ Toán học nhưng cũng chưa đáp ứng được so với yêu cầu, số lượng các vấn đề lý thuyết, các ví dụ, bài tập Toán có nội dung liên môn và thực tế trong các sách giáo khoa Đại số và Giải tích ở bậc THPT để học sinh rèn luyện còn rất ít" Cụ thể:
Đối với sách giáo khoa trước đây, rất ít thấy các bài tập và các vấn đề toán học gắn liền với thực tiễn Chẳng hạn, trong cuốn Đại số và Giải tích 11 (1999)
Trang 33Các tình huống, bài toán thực tế đưa ra nhiều khi gượng ép (SGK toán 10, bài toán quy hoạch tuyến tính), chỉ mang dáng vẻ của việc ứng dụng thực tiễn nhưng các kịch bản đưa ra chưa có ý nghĩa thực sự của việc vận dụng toán học vào thực tiễn, thậm chí phi lý trong thực tiễn…
1.4.1.2 Liên hệ Toán học với thực tiễn trong dạy và học
Phương pháp dạy học là thành tố quan trọng của quá trình dạy học, là nhân tố chủ đạo của việc đổi mới giáo dục Các nghiên cứu thực tiễn dạy học ở trường THPT cũng chỉ ra một số vấn đề cụ thể sau đây về mặt PPDH:
+ Đa số giáo viên dạy theo hình thức dạy luyện thi GV dạy cho học sinh
các dạng toán thường gặp trong các đề thi, và lặp đi lặp lại cho đến khi thuộc lòng cách giải và không quan tâm đến hình thành và phát triển năng lực cho các
em
+ Tâm lí ngại đổi mới PPDH của giáo viên hay đổi mới để đối phó với các tiết thao giảng tương đối phổ biến Việc vận dụng, đổi mới PPDH cũng như ứng dụng công nghệ trong dạy học còn lúng túng, hiệu quả mang lại chưa cao
+ Trong các giờ học toán có nội dung thực tiễn, đa số giáo viên chỉ chú ý đến câu hỏi ở mức độ tái tạo, không chú trọng câu hỏi đánh giá, tái tạo, câu hỏi
nâng cao Hình thức của bài toán mang tính chất giả thực
Trang 3424
+ Việc gắn nội dung dạy học trong Toán học với các tình huống thực tiễn chưa được chú trọng; Dạy học thí nghiệm, thực hành, dạy học thông qua các hoạt động thực tiễn ít được thực hiện
+ Việc sử dụng phương tiện dạy học mới, công nghệ thông tin mang tính phong trào, chưa mạng lại hiệu quả thực sự
Học sinh là thành tố quyết định trong quá trình dạy học, phong cách học tập của học sinh có ảnh hưởng lớn đến việc đổi mới giáo dục Thực tiễn cho thấy, phong cách học tập của học sinh phổ thông có một số vấn đề sau:
+ Học tập một cách thụ động, học tập có thói quen chờ đợi sự hướng dẫn, chỉ bảo của giáo viên, ít có tinh thần chủ động trong lĩnh hội kiến thức
+ Trong học tập, học sinh thường chỉ chú trọng vào nội dung, vào các dạng toán thường gặp trong các kỳ thi mà không chú ý rèn luyện năng lực tư duy sáng tạo, năng lực thực hành và giải quyết vấn đề
1.4.2 Nguyên nhân
1.4.2.1 Về phía giáo viên
Trong thực tế giảng dạy Toán ở trường phổ thông, việc cho học sinh rèn luyện những ứng dụng toán học vào thực tiễn không được thực hiện một cách thường xuyên, có thể do những nguyên nhân sau:
Thứ nhất, do ảnh hưởng trực tiếp của sách giáo khoa và tài liệu tham khảo:
Số lượng bài tập mang nội dung thuần túy Toán học cũng như kiến thức dành cho mỗi tiết học là khá nhiều đã khiến nhiều giáo viên vất vả trong việc hoàn thành kế hoạch bài giảng; trong khi đó số lượng bài toán, chất lượng và quy mô bài toán ứng dụng vào thực tiễn rất ít ở các chủ đề môn Toán trong giảng dạy, điều đó làm hạn chế việc liên hệ giữa toán học và thực tiễn
Thứ hai, do yêu cầu vận dụng Toán học vào thực tế không được đặt ra một
cách thường xuyên và cụ thể trong quá trình đánh giá (tức là trong các đề thi không có những nội dung như vậy) Mặt khác, lối dạy phục vụ thi cử (chỉ chú ý
Trang 3525
những gì để học sinh đi thi) như hiện nay cũng là một nguyên nhân góp phần tạo nên tình trạng này
Thứ ba, còn một nguyên nhân sâu xa nữa là Khi còn ngồi trên giảng
đường của trường đại học, cao đẳng thì người giáo viên tương lai cũng chỉ được" học toán trong phạm vi bốn bức tường", thiếu hẳn tính thực tiễn trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học Do đó ảnh hưởng trực tiếp đến tiềm năng dạy các vấn đề ứng dụng Toán học của các thầy giáo, cô giáo Một lý do nữa là do khả năng liên hệ kiến thức Toán học vào thực tiễn của giáo viên Toán còn gặp nhiều khó khăn
1.4.2.2 Về phía học sinh
Thứ nhất, muốn ứng dụng Toán học vào cuộc sống thì trước hết học sinh
phải có những thông hiểu nhất định các kiến thức, kĩ năng, phương pháp toán Tuy nhiên, với nhiều học sinh thì việc nắm vững các kiến thức, kĩ năng, phương pháp toán là điều rất khó khăn
Thứ hai, do việc liên hệ kiến thức Toán với thực tiễn ít như vậy nên khi
gặp phải, học sinh thường lúng túng, bế tắc, từ đó không hình thành và rèn luyện cho học sinh ý thức vận dụng toán học và không làm rõ được vai trò công cụ của toán học trong hệ thống các khoa học và thực tế cuộc sống
Như vậy, việc tăng cường rèn luyện cho học sinh ứng dụng Toán học vào thực tiễn đã được coi là một trong những quan điểm chỉ đạo xuyên suốt toàn bộ quá trình dạy học Toán ở phổ thông, được nhấn mạnh trong Dự thảo Chương trình Cải cách giáo dục môn Toán Tuy nhiên, trên thực tế (sách giáo khoa, thực
tế dạy học, trong đánh giá,…) quan điểm này vẫn chưa được quán triệt một cách toàn diện và cân đối – theo Nguyễn Cảnh Toàn đó là kiểu dạy Toán “xa rời cuộc sống đời thường” cần phải thay đổi
Trang 3626
Kết luận Chương 1
Trong chương này, luận văn đã trình bày và làm rõ cơ sở lí luận về Toán học và thực tiễn, trong đó nói rõ vai trò của Toán học với các nghành khoa học khác, với thực tiễn Và đặc biệt hơn là vai trò của việc dạy học Toán gắn với thực tiễn với nội bộ môn Toán, đó là quan điểm chỉ đạo, xuyên suốt toàn bộ quá trình dạy học Toán ở phổ thông
Luận văn cũng chỉ ra được thực trạng của việc dạy học Toán với thực tiễn ở phổ thông vẫn còn chưa thường xuyên, hiệu quả chưa cao, và nguyên nhân của tình trạng đó
Tiếp sau phần lý luận, luận văn đã đưa ra được cách tiếp cận quy trình toán học hóa cũng như các cấp độ của năng lực được dùng trong các đánh giá Pisa làm cơ sở khoa học cho chương II, đó cũng chính là nội dung chính của chương
Trang 3727
CHƯƠNG 2
DẠY HỌC CHỦ ĐỀ HÀM SỐ LŨY THỪA, HÀM SỐ MŨ VÀ
HÀM SỐ LÔGARIT GẮN LIỀN VỚI THỰC TIỄN
2.1 Đề xuất các biện pháp nhằm tăng cường tính thực tiễn trong dạy học toán
Nguyên tắc đề xuất các biện pháp
- Trên cơ sở học sinh phải nắm vững các kiến thức toán học để từ đó có
thể vận dụng đúng vào thực tiễn
- Chú trọng nêu các ứng dụng của toán học vào trong thực tiễn
- Chú trọng đến các kiến thức toán học có nhiều ứng dụng trong thực tiễn
- Chú trọng rèn luyện cho học sinh có những Kĩ năng toán học vững chắc
- Chú trọng công tác thực hành toán trong dạy học và các hoạt động ngoại
về sau thì việc gợi động cơ xuất phát từ thực tế lôi cuốn hấp dẫn càng trở lên cần thiết
Khi gợi động cơ mở đầu về thực tế nên đề cập đến
Thực tế gần gũi xung quanh với học sinh
Thực tế xã hội
Thực tế ở những môn học khác
Lưu ý:
Trang 3828
Cần đảm bảo tính chân thực
Không đòi hỏi quá nhiều tri thức bổ sung
Vấn đề thực tế đặt ra phải gần với nội dung bài mới
Biện pháp 2: Xây dựng hệ thống các bài toán có nội dung liên quan đến thực
tế cuộc sống ( kể cả các bài toán lời văn thực tế)
Xây dựng hệ thống các bài toán, các mảng kiển thức có nội dung liên quan đến thực tế phù hợp với nội dung, chương trình của từng cấp học Đồng thời, khai thác tốt các bài toán có nội dung càng gần với thực tiễn càng tốt cho phù hợp với trình độ nhận thức của các em và ở những chủ đề có nhiều tiềm năng để học sinh dễ tiếp thu
Biện pháp 3: Tổ chức các buổi ngoại khóa về toán học theo chủ đề cho trước
Hoạt động ngoại khóa theo chủ đề nhằm thực hiện các nhiệm vụ được đặt ra như sau: gây hứng thú cho quá trình dạy học môn Toán, bổ sung, kiểm nghiệm,
áp dụng kiến thức vào thực tiễn, đồng thời đào sâu và mở rộng các kiến thức, góp phần thực hiện tốt nguyên lí giáo dục, gắn liền nhà trường với thực tiễn
Biện pháp 4: Khai thác các ứng dụng của môn Toán vào các bộ môn khác gắn với thực tế như Vật lí, Hóa học, Sinh học,…
Biện pháp này hướng tới việc liên hệ với thực tiễn không chỉ trong môn Toán mà cần thực hiện đối với các môn học khác trong nhà trường Với vai trò là môn học công cụ, vì thế nội dung, kĩ năng và các phương pháp toán học xâm nhập vào tất cả các môn học khác ở nhà trường phổ thông Lưu ý khai thác những chủ đề, những ứng dụng có tính tích hợp liên môn, việc làm đó giúp củng
cố kiến thức và giúp dạy học hiệu quả các bộ môn
Do giới hạn về thời gian cũng như phạm vi của luận văn nên trong luận văn
chỉ đề cập dến biện pháp 2: Xây dựng hệ thống các bài toán có nội dung liên quan đến thực tế cuộc sống ( kể cả các bài toán lời văn thực tế)
Trang 39Sơ đồ 1.3 Quy trình thiết kế các bài toán
2.2.1 Xác định nội dung cần học và các năng lực cần đạt (Xác định thế giới toán học cho bài toán)
Xuất phát từ nội dung, kiến thức của chương trình học, giáo viên cần xác định nội dung chính mà học sinh cần học, thông qua nội dung này, các năng lực nào cần được rèn luyện và phát triển thuận lợi; từ đó xác định các năng lực và các cấp độ cần đạt
Hơn nữa, giáo viên cần nắm rõ để phát triển các kỹ năng nào cần những nội dung nào gì Chẳng hạn, các bài toán về tổ hợp xác suất rất phù hợp để rèn luyện
và phát triển các kỹ năng suy đoán, lập luận; Các bài toán về hình học không gian phù hợp với rèn luyện và phát triển các kỹ năng quan sát, mô hình hóa, các bài toán về hàm số lũy thừa, hàm số mũ, hàm số lôgarit phù hợp để giúp học sinh
Nội dung cần dạy và năng lực
cần đạt
Xác định bài toán thực tiễn
tương ứng (Thế giới thực của bài toán)
Quy trình Toán học hóa (3 giai đoạn, 5 bước)
Trang 4030
rèn luyện kỹ năng tính toán và tư duy; Các bài toán về phương trình phù hợp rèn luyện và phát triển các kỹ năng biểu đạt, sử dụng ký hiệu, ngôn ngữ toán học Để
dễ thể hiện về kiến thức, năng lực thì giáp viên có thể sử dụng ma trận:
Nội dung 1
1
- Kỹ năng a
- Kỹ năng b …
2.2.2 Thiết kế các bài toán thực tiễn tương ứng
Thiết kế các bài toán thực tiễn tương ứng là việc đầu tiên sau khi xác định được các nội dung cần học và năng lực cần đạt Các bài toán này cần đảm bảo yêu cầu gần gũi với học sinh, sát thực tiễn và hình thức phải tự nhiên
Để cho bài toán sát với thực tiễn và tự nhiên, giáo viên có thể kèm theo các hình ảnh, đồ thị, …
Các bài toán thực tiễn đưa ra cần đảm bảo rằng lời giải hợp lý là lời giải vận dụng kiến thức các mà các em vừa học và đảm bảo vừa sức với học trò
2.2.3 Thực hiện quy trình Toán học hóa 3 giai đoạn, 5 bước của PISA
Trong mục 1.2.2 đã trình bày rõ quy trình 3 giai đoạn, 5 bước toán học hóa
Vì vậy giáo viên cần thực hiện tuần tự theo quy trình và nếu không có lý do đặc biệt nên thực hiện đầy đủ các bước của quy trình, vì mỗi bước có ý nghĩa nhất định trong việc hình thành và phát triển năng lực của học sinh Có thể tóm tắt quy trình như sau: