ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC TRẦN THỊ THU HÀ DẠY HỌC CÁC TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN TUÂN TRONG CHƯƠNG TRÌNH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO HƯỚNG TIẾP CẬN LIÊN VĂN BẢN LUẬN VĂN
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRẦN THỊ THU HÀ
DẠY HỌC CÁC TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN TUÂN TRONG CHƯƠNG TRÌNH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
THEO HƯỚNG TIẾP CẬN LIÊN VĂN BẢN
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
HÀ NỘI – 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRẦN THỊ THU HÀ
DẠY HỌC CÁC TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN TUÂN
TRONG CHƯƠNG TRÌNH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
THEO HƯỚNG TIẾP CẬN LIÊN VĂN BẢN
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
MÃ SỐ: 8 14 01 11
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Khánh Thành
HÀ NỘI – 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc, tác giả xin chân thành cảm ơn sự nhiệt tình, tâm huyết của các thầy cô giáo, cán bộ đang công tác và giảng dạy tại trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện tốt nhất cho tác giả được học tập, được nghiên cứu mở mang kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới PGS.TS Trần Khánh Thành, người
thầy đã thắp lên trong tác giả ngọn lửa say mê nghiên cứu khoa học, tận tình hướng dẫn tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu, hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các đồng nghiệp và các em học sinh trường THPT Nguyễn Huệ - TP Nam Định đã tạo điều kiện, nhiệt tình giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và thực nghiệm đề tài
Qua đây, tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn gia đình, người thân và các bạn lớp cao học LL&PPDH Ngữ văn (2015-2017) đã dành cho tác giả sự quan tâm khích lệ, động viên trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Mặc dù đã cố gắng, nhưng luận văn khó tránh khỏi thiếu sót Tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp quý báu từ phía thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2017
Tác giả
Trần Thị Thu Hà
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Viết tắt Chữ viết đầy đủ
1 BGH Ban giám hiệu
7 KHXH&NV Khoa học xã hội và nhân văn
8 LL&PPDH Lí luận và phương pháp dạy học
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục các kí hiệu, các chữ viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng v
Danh mục các biểu đồ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Cấu trúc của luận văn 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 9
1.1 Cơ sở lý luận 9
1.1.1 Khái niệm liên văn bản 9
1.1.2 Liên văn bản từ quan niệm kinh điển đến hậu hiện đại 11
1.1.3 Quan hệ liên văn bản và nhiệm vụ liên văn bản 13
1.1.4 Dạy học văn theo hướng tiếp cận liên văn bản 15
1.2 Cơ sở thực tiễn 18
1.2.1 Vài nét về phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân và các tác phẩm của Nguyễn Tuân được dạy trong chương trình THPT 18
1.2.2 Khảo sát thực trạng dạy học văn nói chung và dạy tác phẩm Chữ người tử tù, Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân nói riêng 28
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC CÁC TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN TUÂN TRONG CHƯƠNG TRÌNH THPT THEO HƯỚNG TIẾP CẬN LIÊN VĂN BẢN 36
2.1 Định hướng dạy học các tác phẩm của Nguyễn Tuân trong chương trình THPT theo hướng tiếp cận liên văn bản 36
2.1.1 Dạy học tác phẩm trong thế liên văn bản với thời đại, bối cảnh lịch sử, hoàn cảnh sáng tác 36
2.1.2 Dạy học tác phẩm trong thế liên văn bản với mã văn hóa trong tác phẩm 38
2.1.3 Dạy học tác phẩm trong sự liên văn bản với văn bản văn học, văn bản thuộc các loại hình sáng tác khác 48
2.1.4 Sự pha trộn thể loại ở các sáng tác của Nguyễn Tuân trong chương trình THPT 63
2.2 Đề xuất các giải pháp dạy học các tác phẩm của Nguyễn Tuân theo hướng tiếp cận liên văn bản 71
2.2.1 Phương pháp hướng dẫn học sinh đọc hiểu sáng tạo 71
2.2.2 Phương pháp hướng dẫn học sinh so sánh, đối chiếu 73
2.2.3 Phương pháp nêu vấn đề 75
Trang 62.2.4 Phương pháp thảo luận nhóm 78
2.2.5 Phương pháp trực quan 81
2.2.6 Phương pháp dạy học theo dự án 82
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 85
3.1 Mục đích, nhiệm vụ thực nghiệm 85
3.2 Thời gian, đối tượng, địa bàn thực nghiệm 85
3.3 Tiến trình thực nghiệm 86
3.3.1 Nội dung thực nghiệm 86
3.3.2 Tổ chức thực nghiệm 86
3.3.3 Thiết kế dạy học 87
3.4 Kết quả thực nghiệm 104
3.4.1 Tiến hành kiểm tra 104
3.4.2 Kết quả kiểm tra 105
3.5 Đánh giá kết quả thực nghiệm 106
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 109
1 Kết luận 109
2 Khuyến nghị 110
Danh mục các công trình khoa học đã công bố của tác giả có liên quan đến luận văn 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
PHỤ LỤC 115
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Thông tin về các lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 86 Bảng 3.2 Tổng hợp kết quả (tính ra %) của lớp thực nghiệm 12A2
và lớp đối chứng 12A6 105 Bảng 3.3 Tổng hợp kết quả (tính ra %) của lớp thực nghiệm 12A3
và lớp đối chứng 12A4 105
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Biểu đồ so sánh kết quả kiểm tra lớp 12A6 và 12A2…… 106 Biểu đồ 3.2 Biểu đồ so sánh kết quả kiểm tra lớp 12A4 và 12A3…… 106
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trong những năm gần đây, thực tế dạy học Văn nhất là ở các
trường trung học phổ thông, vai trò hành dụng của môn Ngữ văn với tư cách
là môn học công cụ chưa phát huy đúng mức, khả năng vận dụng tri thức của học sinh còn nhiều hạn chế, chưa khơi dậy khả năng sáng tạo của học sinh Điều đó dẫn đến một thực trạng đáng buồn, học sinh tỏ ra thờ ơ với việc học văn, không nhận thấy tầm quan trọng của môn học này trong cuộc sống, đây
là điều mà những nhà giáo dục không khỏi băn khoăn, trăn trở Môn Ngữ văn vừa là một môn khoa học vừa là một môn nghệ thuật Để cảm thụ và hiểu tác phẩm văn chương thì người đọc cần có những hiểu biết nhất định về văn hóa, văn học, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội đặc biệt tri thức văn hóa - tri thức nền tảng sẽ là cơ sở để người đọc tự mình khám phá tác phẩm, đến với hình tượng văn học, với thế giới nghệ thuật của nhà văn Do vậy, việc cần thiết với mỗi nhà giáo dục hiện nay là cần cung cấp tri thức nền tảng, tri thức công cụ, tri thức phương pháp để các em có khả năng tự học, tự đọc, tự sáng tạo
1.2 Bước sang thế kỉ XX, đời sống văn học phương Tây trở nên phong
phú đa dạng với nhiều trường phái lý thuyết Sự ra đời của khái niệm về văn bản được đã làm thay đổi quan niệm của các nhà nghiên cứu về tác phẩm văn học, cấu trúc tác phẩm, về vị trí của tác giả văn học Nửa cuối thế kỉ XX, khái niệm tính liên văn bản gắn với tên tuổi các nhà nghiên cứu F.Saussure, Bakhtin, đặc biệt là Julia Kristeva đã trở thành mối quan tâm của nhiều nhà lí luận trên thế giới Việc nghiên cứu lý thuyết văn học phương Tây ở Việt Nam
đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong đó có lí thuyết liên văn bản Các vấn đề lý luận mà trước thời kì đổi mới bị lãng quên nay được các nhà nghiên cứu xem xét lại một cách khách quan và khoa học Tuy nhiên, những thành tựu đó lại chưa thật sự được vận dụng phổ biến vào dạy học Ngữ văn trong chương trình phổ thông Nhiều giáo viên vận dụng lý thuyết liên văn bản một cách tự phát mà không biết mình đang vận dụng nên chưa phát huy hết hiệu
Trang 10quả của việc dạy học Ngữ văn theo hướng tiếp cận liên văn bản Trong khi đó, thực tế cho thấy người giáo viên Ngữ văn muốn học sinh yêu mến môn học của mình trước hết cần khơi gợi ở các em khát khao khám phá, sáng tạo, mở rộng tầm hiểu biết ở nhiều lĩnh vực, dạy học theo hướng tiếp cận liên văn bản
sẽ là một trong những hướng khả thi nhất
1.3 Nguyễn Tuân là một tác giả văn học lớn được học trong chương
trình phổ thông, tác phẩm của ông được học xuyên suốt từ lớp 11 đến lớp 12 Ông bước vào nghề văn như để chơi ngông với thiên hạ và cũng là một nhà văn nổi tiếng bởi phong cách tài hoa uyên bác, đề cao tuyệt đối cái thật, cái đẹp trong cuộc sống Tác phẩm của ông luôn hấp dẫn bạn đọc bởi cách kể chuyện, cách xây dựng hình tượng nghệ thuật, cách sử dụng ngôn ngữ độc đáo Đặc biệt, Nguyễn Tuân luôn có ý thức liên văn bản trong các sáng tác của mình, các tác phẩm của ông luôn thấm đẫm chất văn hóa, đem đến cho người đọc những rung cảm thẩm mỹ, những tri thức uyên bác Truyện ngắn
Chữ người tử tù, tùy bút Người lái đò Sông Đà là hai trong những tác phẩm
xuất sắc chứa nhiều tri thức văn hóa, liên văn bản tiêu biểu cho phong cách Nguyễn Tuân trước và sau Cách mạng tháng Tám năm 1945
Từ những lí do trên cùng với việc việc khảo sát sơ bộ các công trình nghiên cứu, bài viết của các tác giả về các tác phẩm của Nguyễn Tuân trong
nhà trường, chúng tôi chúng tôi mạnh dạn khai thác đề tài: Dạy học các tác phẩm của Nguyễn Tuân trong chương trình Trung học phổ thông theo hướng tiếp cận liên văn bản, hi vọng đề tài góp phần phát huy tính tích cực
và tạo hứng thú yêu thích môn Văn ở học sinh
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Lịch sử nghiên cứu việc giảng dạy tác phẩm của Nguyễn Tuân
Là một trí thức Tây học song trên trang viết của Nguyễn Tuân người ta nhận thấy ở ông có một sự giao thoa giữa tính thời sự của hiện đại và chất cổ kính của quá khứ Đến với các tác phẩm của Nguyễn Tuân người đọc như được bước vào viện bảo tàng của cái đẹp Việc nghiên cứu về Nguyễn Tuân
Trang 11và các tác phẩm của ông đã xuất hiện tương đối nhiều Ở đây, chúng tôi chỉ xin phép điểm đến những tài liệu chúng tôi sử dụng để nghiên cứu đề tài này:
Người có công đầu trước hết phải kể đến trước hết là Nguyễn Đăng
Mạnh Trong Giáo trình Văn học Việt Nam 1945 - 1975, cuộc đời và sự
nghiệp Nguyễn Tuân được trình bày một cách hệ thống, khoa học
Nhà văn Hà Văn Đức, tác giả Chương XXII: Nguyễn Tuân trong Giáo trình Văn học Việt Nam 1900 - 1945, đã đánh giá Nguyễn Tuân ở nhiều góc
nhìn, nhiều hướng tiếp cận, đặc biệt quan tâm đến những yếu tố tích cực và tiến bộ trong sáng tác Nguyễn Tuân trước cách mạng [13]
Tác giả Hoài Anh trong Nguyễn Tuân - về tác gia, tác phẩm nhìn Nguyễn Tuân “một nghệ sĩ đi tìm cái Đẹp”, “chính sự tìm về những nét đẹp
của dân tộc ấy, đã khiến Nguyễn Tuân trở về với lòng Dân tộc, với Quê hương” [25, tr.188]
Năm 2007, tác giả Bùi Thị Anh Chung giới thiệu luận văn Phong cách
Nguyễn Tuân qua Tuỳ bút Kháng chiến Sau khi khảo sát vấn đề phong cách
nhà văn, đặc trưng của thể tài tuỳ bút, Bùi Thị Anh Chung đã xây dựng hệ
thống các luận điểm về phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân [12]
Luận án tiến sĩ Ngô Minh Hiền - Viện Văn học với đề tài Văn xuôi
Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường từ góc nhìn văn hoá (2009) đã chỉ
ra tầng sâu các giá trị văn hoá trong văn xuôi Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường [16]
Đứng về góc độ phương pháp dạy học, đã có đề tài nghiên cứu cách
dạy học tùy bút sông Đà như: Luận văn thạc sĩ Phạm Thị Thu Thủy Thể kí và
việc giảng dạy thể kí ở nhà trường phổ thông (Đại học sư phạm TP Hồ Chí
Minh, 2009); Luận văn thạc sĩ Đinh Thị Phương Thảo Giảng dạy tác phẩm kí
trong nhà trường phổ thông qua Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân và
Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường (Đại học Giáo dục -
Đại học quốc gia Hà Nội, 2010); Luận văn thạc sĩ Trần Thị Anh Đào Dạy học
tác phẩm kí trong chương trình Ngữ Văn 12, trung học phổ thông theo phong
Trang 12cách nghệ thuật tác giả (2012); Luận văn thạc sĩ Nguyễn Quang Bình (Đại
học Giáo dục - Đại học quốc gia Hà Nội, 2014) Vận dụng quan điểm tiếp cận
đồng bộ tác phẩm văn chương vào dạy tùy bút Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân nhằm đưa ra một cách tiếp cận khi dạy tác phẩm kí ở nhà
trường phổ thông Tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu tác phẩm theo
hướng tiếp cận liên văn bản
Với tác phẩm Chữ người tử tù là một trong những truyện ngắn xuất sắc,
tiêu biểu cho phong cách Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám, cũng có
nhiều công trình nghiên cứu như: Tác giả Văn Tâm trong bài viết Về truyện
ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân tập trung khai thác tác phẩm trên
phương diện tinh thần dân tộc ở các khía cạnh: Bậc thầy ngôn ngữ, thái độ luyến tiếc quá khứ, trân trọng ngôn ngữ dân tộc [34, tr.381] Tác giả Hà Bình
Trị với bài viết Thầy chữ Nguyễn Tuân [38, tr.408] ngợi ca nghệ thuật sử
dụng ngôn ngữ bậc thầy của Nguyễn Tuân
Luận văn thạc sĩ của một số tác giả cũng đi vào nghiên cứu tác phẩm
này như: Luận văn Rèn luyện kĩ năng đọc hiểu tác phẩm Chữ người tử tù của
Nguyễn Tuân cho học sinh lớp 11 của tác giả Trần Thị Hồng Bắc (Luận văn
thạc sĩ - Đại học Giáo dục - Đại học quốc gia Hà Nội) nhằm giúp học sinh
hiểu được cái hay của tác phẩm Chữ người tử tù từ tầng cấu trúc ngôn từ đến
tầng cấu trúc hình tượng nghệ thuật cũng như tầng cấu trúc vị nhân sinh thông qua các kĩ năng đọc chính xác, đọc phân tích, đọc sáng tạo và kĩ năng đọc tích lũy Bước đầu học sinh được rèn luyện kĩ năng đọc hiểu tác phẩm văn chương
Luận văn Hướng dẫn học sinh trung học phổ thông đọc hiểu văn bản
Chữ người tử tù theo đặc trưng thi pháp chủ nghĩa lãng mạn của tác giả Bùi
Thị Hạnh Châm (Luận văn thạc sĩ đại học Giáo dục - Đại học quốc gia Hà Nội) nhằm đề xuất phương pháp học cụ thể thích hợp khi đọc hiểu văn bản này theo đặc trưng thi pháp chủ nghĩa lãng mạn Ngoài ra, còn có luận văn
của Trần Quốc Khả với đề tài: Tổ chức đối thoại trong dạy học Chữ người tử
tù (Luận văn thạc sĩ - Đại học Giáo dục - Đại học quốc gia Hà Nội); Luận văn
Trang 13Xây dựng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học tác phẩm văn xuôi lãng mạn 1930-1945 cho học sinh lớp 11 của học viên Nguyễn Thị Loan (Đại học
Giáo dục - Đại học quốc gia Hà Nội) tiếp cận văn bản này ở các hướng khác nhau
Qua khảo sát sơ bộ, chúng tôi thấy có nhiều công trình nghiên cứu về Nguyễn Tuân và các tác phẩm của ông trong nhà trường, các bài viết đều có một cái nhìn khá sâu sắc về tác giả hay về một vấn đề, khía cạnh của tác phẩm, nhưng chưa có đề tài nào bàn cụ thể dạy học tác phẩm của Nguyễn Tuân theo hướng tiếp cận liên văn bản Do đó, những tài liệu trên đây sẽ là cơ
sở quan trọng để chúng tôi triển khai đề tài này
2.2 Những nghiên cứu văn học và dạy học tác phẩm văn học theo lý thuyết liên văn bản
Trong hơn hai chục năm gần đây, lí thuyết liên văn bản đã từng bước được giới thiệu ở Việt Nam cùng với cấu trúc luận, giải cấu trúc và hậu hiện
đại Trước hết là những bài viết của Hoàng Trinh tập tiểu luận Ký hiệu, nghĩa
và phê bình văn học (1993), tiếp đến là một số bài viết của Trần Đình Sử giới
thiệu về những cống hiến của M.Bakhtin và tính đối thoại và phức điệu trong
tiểu thuyết (in trong tập tiểu luận Lí luận và phê bình văn học, 1996) Đỗ Đức Hiểu trong Thi pháp hiện đại (2000) đã đề cập khá trực tiếp về liên văn bản Những công trình dịch thuật về liên văn hiện bản: Các khái niệm và
thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học ở Tây Âu và Hoa Kỳ thế kỷ
XX (I.P Ilin và E.A Tzurganova chủ biên) nhóm tác giả Đào Tuấn Ảnh - Trần
Hồng Vân - Lại Nguyên Ân dịch năm 2003, Bản mệnh của lí thuyết - Văn
chương và sự cảm nghĩ thông thường của Antoine Compagnon (Lê Hồng Sâm
và Đặng Anh Đào dịch năm 2006), Liên văn bản - sự xuất hiện của khái niệm
về lịch sử và lý thuyết của vấn đề của L.P.Rjanskaya (Ngân Xuyên dịch, năm
2007), công trình Thi pháp chủ nghĩa hậu hiện đại của Liviu Petrescu (Lê Nguyên Cẩn dịch 2013) Văn bản - Liên văn bản - Lý thuyết liên văn bản của
G.K Kosikov (Lã Nguyên dịch 2017)
Trang 14Cụ thể và có hệ thống nhất là bài viết của Nguyễn Minh Quân như Liên
văn bản - sự triển hạn đến vô cùng của tác phẩm văn học (2001); Nguyễn
Nam Điểm qua mấy hướng tiếp cận liên văn bản ở nước ngoài (2011); Các bài tiểu luận của Nguyễn Văn Thuấn: Tiếp cận thể loại từ góc độ liên văn
bản: Chủ nghĩa hình thức Nga - Mikhail Bakhtin - Gerard Genette (2012); Dẫn luận ngắn về lý thuyết liên văn bản (2013), gần đây là bài viết của Lê
Huy Bắc Liên văn bản hay tiếp nhận của tiếp nhận (2015)
Các bài viết nghiên cứu trường hợp cụ thể: Liên văn bản trong Cây đàn
ghita của Lorca (Lê Huy Bắc); Yếu tố liên văn bản trong tiểu thuyết lịch sử Giàn thiêu của Võ Thị Hảo (Nguyễn Văn Hùng); Liên văn bản trong tiểu thuyết Chân dung cát của Inrasara (Nguyễn Thị Quỳnh Hương); Các hình thức liên văn bản trong tiểu thuyết của Pau Auster của Nguyễn Thị Thanh
Hiếu, tác giả Lê Thị Thúy Hằng Nguyên lý đối thoại trong tiểu thuyết Việt Nam
từ 1986 đến 2016 (Luận án tiến sĩ ngành Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam-
Trường Đại học Khoa học - Đại học Huế); Truyện ngắn Hồ Anh Thái từ góc
nhìn liên văn bản của Nguyễn Văn Thành (Luận văn thạc sĩ KHXH&NV tại Đại
học Đà Nẵng, năm 2013); Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Thuấn với đề tài
Liên văn bản trong sáng tác của nguyễn Huy Thiệp (Học viện Khoa học Xã
hội-Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, 2013); Luận văn thạc sĩ của Đỗ Thị Vui với đề tài Dạy học văn học trung đại - Ngữ văn 10 theo hướng liên
văn bản (Trường Đại học Giáo dục- Đại học Quốc gia Hà Nội- 2013) Luận
văn thạc sĩ Nguyễn Thị Châm Dạy học truyện ngắn sau 1975 theo hướng tiếp
cận liên văn bản (Trường Đại học Giáo dục- 2015); Đề tài: Vận dụng kĩ thuật liên văn bản trong dạy đọc hiểu văn bản văn học ở trường trung học phổ thông của tác giả Nguyễn Thị Hoa (Trường Đại học Vinh, 2014); Đề tài: Vận dụng lý thuyết liên văn bản vào dạy học các tác phẩm thơ mới trong chương trình Ngữ văn 11- THPT của Phạm Thị Bích Phượng (Trường Đại học Giáo
dục- 2015) Đặc biệt bài viết Về việc vận dụng lý thuyết liên văn bản vào dạy
học Ngữ văn ở trường phổ thông của tác giả Phan Huy Dũng [38, tr.393-415]
Trang 15đã đưa ra những định hướng vận dụng lý thuyết liên văn bản trong dạy học văn hiện nay
Các bài nghiên cứu cùng các luận văn, luận án là minh chứng cho việc vận dụng lý thuyết liên văn bản để nghiên cứu tác giả, tác phẩm đang thu hút mạnh mẽ giới nghiên cứu phê bình văn học đương đại trong những năm gần đây Tiếp cận văn bản từ lí thuyết liên văn bản đã mở ra một hướng tiếp cận mới, nó kích thích quá trình tìm hiểu khoa học và khám phá thế giới văn hóa của người đọc, từ đó mở ra vỉa tầng giá trị mới cho tác phẩm văn chương Từ
đó, chúng tôi có cơ sở để lựa chọn đề tài nghiên cứu của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Đề xuất các biện pháp để dạy học các tác phẩm của Nguyễn Tuân trong chương trình Ngữ văn THPT theo hướng tiếp cận liên văn bản, nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Nghiên cứu, hệ thống hóa những vấn đề cơ sở lí luận của đề tài
+ Tìm hiểu thực trạng dạy Chữ người tử tù, Người lái đò Sông Đà của
Nguyễn Tuân trong chương trình Ngữ văn THPT hiện nay
+ Đề xuất biện pháp, phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận LVB
+ Thiết kế giáo án, dạy thực nghiệm đoạn trích Người lái đò Sông Đà có
vận dụng các phương pháp, biện pháp cách thức theo hướng tiếp cận liên văn bản để kiểm chứng tính khả thi của đề tài
+ Đánh giá kết quả nghiên cứu qua thực nghiệm sư phạm
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Việc dạy học tác phẩm Chữ người tử tù, Người
lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân trong chương trình Ngữ văn THPT theo
hướng tiếp cận liên văn bản
- Phạm vi nghiên cứu: Trong đề tài này, chúng tôi chỉ dừng lại ở một số biện pháp tiếp cận LVB mà chúng tôi cho là có ưu thế với việc phát huy tính
tích cực, sáng tạo của HS trong giờ dạy học tác phẩm Chữ người tử tù, Người
Trang 16lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân trong chương trình Ngữ văn lớp 11, lớp 12
THPT
5 Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Trong nhóm phương pháp này chúng tôi tập trung vào hai phương pháp chính: phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, phương pháp nghiên cứu lịch sử Chúng tôi nghiên cứu tài liệu lý luận, các bài báo khoa học, luận án, luận văn có liên quan đến đến lý thuyết liên văn bản, tổng hợp rút ra các kết luận cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài
- Phương pháp điều tra kết hợp thống kê: Thông qua GV và HS ở trường THPT, chúng tôi thu thập, thống kê các thông tin ở lớp thực nghiệm và đối chứng, sử dụng một số phương pháp như lập bảng, vẽ đồ thị, thống kê để đánh giá kết quả thực nghiệm
- Phương pháp thực nghiệm: Thực nghiệm những biện pháp, phương pháp dạy học các tác phẩm của Nguyễn Tuân theo hướng tiếp cận liên văn bản
thông qua các tiết dạy bài Người lái đò Sông Đà nhằm rèn luyện tính chủ
động, sáng tạo cho học sinh và so sánh kết quả thực nghiệm với kết quả thực trạng ban đầu chưa thực nghiệm, để đo mức độ thành công của đề tài
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ
lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương
CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
CHƯƠNG 2: Một số biện pháp dạy học các tác phẩm của Nguyễn Tuân trong chương trình THPT theo hướng tiếp cận liên văn bản
CHƯƠNG 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm liên văn bản
Liên văn bản là một trong những khái niệm quan trọng nhất trong các
lý thuyết văn học thế giới từ nửa sau thế kỷ XX đến nay, có sức hấp dẫn đặc biệt với các nhà nghiên cứu phê bình văn học trên thế giới và ở cả nước ta Đầu thế kỉ XX, khái niệm văn bản được phát hiện đã làm thay đổi hẳn quan niệm về tác phẩm văn học, cấu trúc, vị trí và vai trò của tác giả và độc giả
Nhưng đến nửa cuối thế kỉ XX, khái niệm tính LVB ra đời “thay đổi hẳn nội
hàm khái niệm văn bản để cuối cùng cả hai cơ hồ trở thành hai từ đồng nghĩa: không có một văn bản nào không phải là một liên văn bản và ngược lại, không có một liên văn bản nào không tồn tại như một văn bản ” [29]
Thuật ngữ tính liên văn bản (intertextuality) xuất hiện đầu tiên J
Kristeva sử dụng trong một tham luận đọc tại xêmina do R Barthes chủ trì
vào mùa thu năm 1966 Bài báo Bakhtin, lời nói, đối thoại và tiểu thuyết được công bố sau đó (1967) Trong bài báo này, Kristeva đã đặt ra thuật ngữ tính
liên văn bản để thay thế cho quan niệm về tính đối thoại/tính liên chủ thể
(subjectivity/ intersubjectivity) của Mikhail Bakhtin Đây không phải là sự chuyển dịch ngôn ngữ mà là sự luận giải nguyên tắc đối thoại của Bakhtin
theo tinh thần giải cấu trúc (deconstruction) Kristeva cho rằng: “bất kì văn
bản nào cũng được cấu trúc như là sự ghép mảnh của các trích dẫn; bất kì văn bản nào cũng là sự hấp thụ và chuyển đổi của các văn bản khác” [7,
tr.19] Theo bà, một văn bản mới không phải là một khách thể mang tính cá nhân, cô lập, tự trị mà là sản phẩm của một sự biên tập văn bản văn hóa - lịch
sử Nói cách khác, không có văn bản tồn tại độc lập như một sự sáng tạo tuyệt đối mà luôn luôn phải chịu sự tác động của văn bản văn hóa, trong đó chứa đựng ít nhiều những cấu trúc ý thức hệ và quyền lực qua các hình thức diễn
Trang 18ngôn khác nhau Kristeva quy cho văn bản trong giới hạn của hai trục: trục ngang kết nối giữa tác giả và người đọc văn bản, trục dọc kết nối giữa văn bản với các văn bản khác
Nhóm Tel Quel đứng đầu là Philippe Soller ủng hộ nhiệt tình lý thuyết
Kristeva song lại chỉ nhận được sự tiếp đón dè dặt của giới trí thức Pháp thời
kì đó Người có công lớn đưa lý thuyết liên văn bản dần thâm nhập sâu vào
đời sống nghiên cứu văn học là R Barthes Theo R.Barthes “Mỗi văn bản là
một liên văn bản; những văn bản khác có mặt trong nó ở những cấp độ khác nhau, giữa những hình thái ít nhiều nhận thấy được: những văn bản của văn hóa trước đó và những văn bản của văn hóa thực tại chung quanh Mỗi văn bản đều như là một tấm vải mới được dệt bằng những trích dẫn cũ Những đoạn của các mã văn hóa, các định thức, các cấu trúc nhịp điệu, những mảnh vụn biệt ngữ xã hội - tất cả đều bị văn bản ngốn nuốt và đều bị hòa trộn trong văn bản, bởi vì trước văn bản và xung quanh nó bao giờ cũng tồn tại ngôn ngữ” [18, tr.444 - 445] Với lập luận trên, R.Barthes đưa lại cách nhìn
mới có tính nền tảng về văn bản, văn bản không bao giờ tồn tại độc lập, tự trị, khép kín mà tồn tại trong không gian đa chiều, nơi có rất nhiều văn bản va đập và xáo trộn vào nhau mà không một cái nào là gốc cả Trong nhiều năm,
R Barthes đã tiếp tục nghiên cứu phát triển một cách độc đáo những luận điểm cơ bản của lý thuyết liên văn bản trong cuốn S/Z (1970), và tiểu luận, ví
như Từ tác phẩm đến văn bản (1971), Văn bản (lí luận văn bản) (1973),
Khoái cảm văn bản (1973) Từ đây lý thuyết liên văn bản đã thực sự được
giới phê bình quan tâm nghiên cứu Tiếp sau đó có quan điểm của Michael Riffaterre, G.Genette, Harold Bloom đưa ra những cách nhìn khác về tính liên văn bản, nhưng ở họ đều có điểm thống nhất khái niệm liên văn bản giống R.Barthes về cơ bản, họ đều có nhận thức chung rằng bất kì văn bản nào đều có mối quan hệ với văn bản khác ra đời trước đó
Dựa vào những khái niệm trên, chúng tôi xin đưa ra quan niệm: Liên
văn bản là sự đồng hiện của hai hay nhiều văn bản trong một văn bản ra đời
Trang 19trước đó hoặc cùng thời, được tác giả tạo lập bằng ý thức hoặc vô thức Người đọc tiếp nhận trong thực tiễn giao tiếp nghệ thuật bằng vốn sống trải nghiệm và tri thức của bản thân họ, từ đó các giá trị văn hóa sẽ không ngừng nảy sinh từ văn bản
1.1.2 Liên văn bản từ quan niệm kinh điển đến hậu hiện đại
Tính liên văn bản của văn bản có từ lâu, từ các loại hình nghệ thuật cổ xưa, vì bản chất nghệ thuật không chỉ là mô phỏng đời sống mà còn mô phỏng (tái tạo) từ văn bản này đến văn bản khác (từ văn bản thể loại này văn bản sang thể loại khác, từ loại hình nghệ thuật này sang loại hình nghệ thuật khác) Trên thực tế, có nhiều mối liên hệ trực tiếp giữa văn bản này với một hay nhiều văn bản khác trên những bình diện khác nhau Trong thời kỳ trung đại việc sử dụng điển cố, vay mượn cốt truyện, sử dụng lại các motif khá phổ biến Vì vậy, khi lưu hành văn bản văn học cho hậu thế người ta phải chú giải rất nhiều về các điển cố, giải mã các biểu tượng văn hóa và hình thành một công việc khảo cứu trong nghiên cứu văn học
Từ thực tế của tính liên văn bản đã hình thành một số hướng nghiên cứu
như: nghiên cứu ảnh hưởng (influence study), nghiên cứu cội nguồn (source study), nghiên cứu so sánh (comparative study) Các hướng nghiên cứu này
có tham vọng chỉ ra văn bản gốc có ảnh hưởng/dính líu đến các văn bản khác,
từ đó tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa các văn bản
Thuật ngữ tính liên văn bản được đặt ra trong bối cảnh cấu trúc luận
(structuralism) đang bị đả phá tại Pháp vào nửa cuối những năm sáu mươi của thế kỷ XX Những nhà nghiên cứu văn học như Derrida, Roland Barthes, Micheal Foucault, Philippe Sollers chống lại tư tưởng cấu trúc luận, phủ nhận
sự biểu nghĩa ổn định của cấu trúc Họ cho rằng, cái được biểu đạt thực chất cũng là cái biểu đạt và họ đề nghị một cấu trúc mới: cái biểu đạt/cái biểu đạt
Trở lại quan niệm của F.Saussure về kí hiệu ngôn ngữ, ông cho rằng
mỗi kí hiệu ngôn ngữ có hai mặt không thể tách rời, đó là cái biểu đạt và cái được biểu đạt Cái biểu đạt là hình ảnh - âm thanh, cái được biểu đạt là khái
Trang 20niệm của kí hiệu Cái được biểu đạt không phải là “sự vật” mà chỉ là quan niệm của chúng ta về sự vật Như vậy, sự quy chiếu kí hiệu ngôn ngữ với thực tại chỉ là ảo tưởng của người đọc Sự quy chiếu của kí hiệu ngôn ngữ hướng tới hệ thống ngôn ngữ chứ không phải hướng tới thế giới sự vật bên ngoài Michael Riffaterre đã phát triển luận điểm này trong đọc văn bản Khi đọc văn bản văn học, bạn đọc trước hết cần phải “vượt qua chướng ngại mô phỏng”, vượt qua giai đoạn đối chiếu ngôn từ và sự vật để bước vào chặng thứ hai: “đọc theo tinh thần phát hiện”, khám phá những đơn vị kí hiệu và những cấu trúc cô đúc sản sinh ý nghĩa và chủ đề của văn bản theo cách thức
phi tuyến tính, phi quy chiếu [36] Theo đó, “ngôn từ thơ được xác lập giữa từ
và văn bản, hay giữa văn bản này với văn bản khác”, tức là đọc một văn bản
thơ, người đọc cần phải cảm nhận bằng những kiến thức vốn có về văn bản, đồng thời phải thấy được mối liên hệ giữa văn bản ấy với những văn bản ra đời trước, cùng thời và thậm chí sau nó Theo hệ quy chiếu này, mỗi văn bản đều chịu sự chi phối của vũ trụ gồm nhiều văn bản khác và khi đọc văn bản cần đặt nó trong mạng lưới rộng lớn của nhiều văn hóa để nhận diện nó như là kết quả của một quá trình tương tác
Như vậy quan niệm truyền thống, liên văn bản được hiểu như là một thủ pháp nghệ thuật văn học xác định: trích dẫn, ám chỉ, bình giải, nhại, bắt chước, vay mượn Nghĩa là, từ văn bản gốc và xu hướng sử dụng văn bản gốc,
sẽ có các liên văn bản Theo quan niệm của các nhà hậu hiện đại, liên văn bản được hiểu như một thuộc tính bản thể của mọi văn bản “bất kỳ văn bản nào cũng là liên văn bản” (R Barthes), là sự xóa nhòa ranh giới giữa các văn bản của các tác giả riêng rẽ, giữa văn bản văn học cá nhân và văn bản vĩ mô của truyền thống, giữa các văn bản thuộc các thể loại và loại hình khác nhau, giữa văn bản và độc giả, và cuối cùng, giữa các văn bản và hiện thực Như vậy, liên văn bản mô tả không phải hiện tượng văn học, mà một quy luật khách quan nào đấy của sự tồn tại của loài người nói chung
Trang 21
1.1.3 Quan hệ liên văn bản và nhiệm vụ liên văn bản
* Những kiểu tương tác chủ yếu của quan hệ liên văn bản
Như đã trình bày ở trên, thực chất lí thuyết liên văn bản là lý giải về đặc trưng của văn bản mà trọng tâm là các mối quan hệ của văn bản Không
có văn bản nào tồn tại độc lập, tự trị, mỗi văn bản đều là hệ quả của những quan hệ, tồn tại trong quan hệ với mạng lưới văn bản rộng lớn Tùy thuộc vào quan điểm và hướng tiếp cận mà các nhà nghiên cứu đưa ra những kiểu quan
hệ khác nhau Có hai hướng tiếp cận tiêu biểu về tính liên văn bản là hướng tiếp cận từ cấu trúc luận và hướng tiếp cận từ giải cấu trúc
Kế thừa những thành tựu của cấu trúc luận, nhà nghiên cứu người Pháp
G.Genette trong cuốn Palimpsestes (Văn học bậc nhì - 1982), ông đề cập đến khái niệm xuyên văn bản gồm 5 kiểu tương tác sau:
- Intertextualité (liên văn bản) - sự cùng hiện diện trong một văn bản của hai hay nhiều văn (trích dẫn, điển tích, đạo văn…)
- Paratextualité (cận văn bản) như là quan hệ giữa văn bản với phụ đề, lời nói đầu, đề bạt, đề từ…
- Métatextualité (siêu văn bản) như sự chú giải hoặc viện dẫn văn bản trước đó một cách có phê phán
- Architextualité (kiến trúc văn bản) được hiểu như mối quan hệ thể
loại giữa các văn bản Kiến trúc văn bản không chỉ liên quan đến “tầm đón
đợi” về mặt thể loại của độc giả khi tiếp xúc với văn bản mà còn liên quan đến hành vi sáng tạo văn bản của nhà văn Chính Genette cũng lưu ý là bản
thân kiến trúc văn bản không phải là những “phạm trù riêng biệt và thuần
túy” mà là “sự va chạm, tương tác và chồng lấn lên nhau” giữa các thể loại
- Hypertextualité (ngoa dụ văn bản): như sự cười cợt hay giễu nhại của văn bản này đối với văn bản khác [1]
Liên văn bản có ba hình thức biểu hiện là: trích dẫn, đạo văn, và ám chỉ Trong đó trích dẫn, đạo văn là phân biệt cùng một hình thức đó là sự vay mượn câu chữ của một văn bản có sẵn để kiến tạo một sản phẩm mới mang ý
Trang 22đồ hoàn toàn mới Tuy trung thành với chủ nghĩa cấu trúc nhưng ông đã có cách nhìn mới Theo ông liên văn bản là quan hệ xác thực, có ý thức, có kiểm chứng, có chủ ý của tác giả
Roland Barthes với hướng tiếp cận từ hậu cấu trúc đã chỉ ra những đặc
điểm cơ bản của văn bản như: sự đa bội, phi trung tâm, phi tầng bậc, phi cấu trúc, tính đa nguyên, đa trị, tính phân mảnh, phi tuyến tính, phi hoàn kết…
Như vậy văn bản hậu cấu trúc là tổ hợp các yếu tố không đồng nhất được gắn kết không hẳn bằng các quan hệ ẩn dụ và nhân quả mà chủ yếu bằng các quan hệ hoán dụ, được đan bện bằng vô số mã văn hóa Theo Barthes, mã văn hóa là “viễn tưởng của những những trích dẫn, là ảo ảnh được đan dệt từ các cấu trúc”; “các đơn vị được chúng tạo thành chẳng phải là gì khác ngoài những mảnh nhỏ của một cái gì đó đã được đọc, đã được thực hiện, đã được
trải nghiệm: mã là vết tích của những cái đã ấy” [19, tr.383]
* Các nhiệm vụ liên văn bản
Theo Laurent Jenny, trong bài Chiến lược của hình thức (1976), để
nghiên cứu lí thuyết về liên văn bản có ít nhất ba nhiệm vụ được đặt ra :
- Giới hạn chính đối tượng của lí thuyết liên văn bản, phát hiện các mối liên hệ trực tiếp, hiển nhiên và có thể chứng minh giữa các văn bản có sự dịch chuyển ít hay nhiều một văn bản này sang văn bản khác
- Nghiên cứu bình diện quan hệ của lí thuyết liên văn bản - đó là “tổng thể các quan hệ với những văn bản khác được tìm thấy bên trong văn bản” (vấn đề văn bản trong văn bản);
- Nghiên cứu văn bản trong mối quan hệ với các văn bản khác, đây không phải là sự cộng gộp hay đặt cạnh nhau một cách cơ học, mà là sự xử lí, tinh chế tích cực thành một chỉnh thể thống nhất: tác phẩm - liên văn bản sẽ kéo toàn bộ tập hợp các văn bản được nó hấp thụ vào một đầu mối ý nghĩa thống nhất [19, tr.388]
Với tính liên văn bản, mọi văn bản đều trở thành bất quyết và bất định; cái gọi là bản sắc văn bản cũng như những thẩm quyền vốn gắn liền với văn
Trang 23bản từ xưa đến nay đều bị đặt thành nghi vấn Văn bản hiện đại đã vượt ra mọi định chế và quan niệm trước đây về văn bản Nhờ có liên văn bản mà trong mỗi văn bản lại có sự đồng hiện những yếu tố của các bản bản khác, điều đó đã chi phối cấu trúc nội tại và ngoại tại của văn bản văn học Bản ngã tác giả hòa trộn phức hợp khó có sự phân biệt rạch ròi, và không tồn tại một tác giả cố định cho một văn bản nhất định, về bản chất Nếu như văn bản truyền thống chỉ bó hẹp trong sách in, chủ yếu là một công trình ngôn ngữ với
sự kết hợp giữa các yếu tố từ vựng và một ít các yếu tố phi từ vựng, từ các dấu câu đến cách trình bày trên trang giấy như cách ngắt dòng hay cách sắp dòng, cách thức sáng tác được quy định rõ ràng Thì nay những quy định đó sụp đổ: Ranh giới của các thể loại văn học và phi văn học, cũng như giữa các thể loại văn học với nhau trở nên mờ nhòa Sự xâm lấn giữa hình thức văn xuôi và thơ, giữa tự sự với trữ tình, giữa đặc tính của tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận ngày càng phổ biến
Văn bản này được tạo sinh từ ngữ cảnh của các văn bản kia và đồng thời cũng trở thành ngữ cảnh cho các văn bản khác làm cơ sở kiến trúc hay diễn dịch do đó văn bản có tính đa tầng Đồng thời vì khả năng liên văn bản của nó phụ thuộc những yếu tố bên trong và bên ngoài nên văn bản luôn dang
dở, luôn tồn tại các khoảng không cần được bổ sung giá trị bằng phản ứng của việc các văn bản hòa trộn và lúc ý thức liên văn bản vận hành trong người viết lẫn người đọc Do đó, văn bản luôn vận động, tiềm năng về nghĩa của văn bản liên tục phát sinh, luôn di chuyển phức hợp xung quanh khoảng trống, bên dưới mạch ngầm và tràn phủ trong không gian của các kết nối văn bản khác, sản sinh ra những hệ giá trị mới, thậm chí cả những kiểu văn bản mới
1.1.4 Dạy học văn theo hướng tiếp cận liên văn bản
Thông thường khi tiếp nhận một tác phẩm văn học, chúng ta luôn cố gắng tìm hiểu cắt nghĩa tác phẩm và xem xét tác phẩm đó có hay, hấp dẫn hay không Và một tâm lý mà đã trở thành thói quen là chỉ quan tâm đến ấn tượng
về tác phẩm làm điểm xuất phát để lý giải vì sao tác phẩm hay, có ý nghĩa
Trang 24Điều đó dẫn tới việc người đọc khi đọc hiểu, phân tích tác phẩm thoát li văn bản và chỉ dựa vào ấn tượng ban đầu Theo tác giả Trần Đình Sử ngôn ngữ của tác phẩm chi phối sự cảm thụ ý nghĩa tác phẩm tức là ý nghĩa tác phẩm do ngữ cảnh hạn định Ngữ cảnh bao gồm các quy tắc ngôn ngữ của tác phẩm, bối cảnh văn hóa, xã hội của người đọc và tác giả, cùng mọi thứ liên quan tới tác phẩm, tác giả, người đọc Cái khó chính là ở đây Chúng ta không bao giờ
có thể nắm bắt được hết mọi ngữ cảnh và do đó không bao giờ có thể hiểu hết mọi cung bậc ý nghĩa tác phẩm Do đó, để hiểu tác phẩm chúng ta phải nắm được toàn bộ ngữ cảnh, nhưng ngữ cảnh trực tiếp đầu tiên là các quy tắc ngôn ngữ của văn bản mà tối thiểu phải hiểu ý nghĩa của các từ, các câu, đoạn và nghĩa của toàn bài Mặt khác một tác phẩm hay cũng sẽ do ngôn từ gợi ra Tuy nhiên khi đọc một tác phẩm người đọc bằng vốn văn hóa, hiểu biết, kinh
nghiệm, vốn sống của mình để cảm thụ tác phẩm, thậm chí “bởi vì người
đọc tham gia vào việc hoàn thành tác phẩm, cho nên khi đọc văn bản tác phẩm họ không giản đơn là chỉ đọc văn bản, mà đọc cả sự cảm thụ của chính mình, họ thường phân tích cả sự cảm thụ của mình mà không biết” [31]
Theo lí thuyết tiếp nhận, tác phẩm văn học luôn là một hệ thống mở Điều đó có nghĩa là cùng một tác phẩm văn học nhưng mỗi người đọc khi tiếp nhận sẽ có những cảm nhận khác nhau tuỳ theo tâm trạng và nhận thức của
họ Học sinh cũng là một bạn đọc và do vậy các em cũng sẽ có những cảm nhận của riêng mình đối với tác phẩm được học Nếu giáo viên cảm nhận thay hay gò ép các em theo cảm nhận chủ quan của mình thì vô tình đã triệt tiêu mất khả năng tư duy sáng tạo, khả năng tưởng tượng vô cùng phong phú ở các em
Liên văn bản là một lí thuyết có ý nghĩa như một phương pháp đọc văn bản, trọng tâm của nó chuyển tới chủ thể tiếp nhận Trong mục từ Liên văn
bản (Bách khoa thư về chủ nghĩa hậu hiện đại) do David Clippinger thực hiện
ngay từ dòng đầu tiên đã khẳng định: “Liên văn bản là phương pháp đọc một văn bản dựa vào văn bản khác mà sự soi sáng được chia sẻ qua việc cộng
Trang 25hưởng tư tưởng và văn bản; là sự xác nhận rằng mọi văn bản và tư tưởng đều tồn tại trong thiết chế quan hệ đa chiều Thuật ngữ “liên văn bản” ngụ ý cả phương pháp đọc song hành văn bản để khám phá những điểm tương đồng và khác biệt cũng như tin rằng mọi văn bản và tư tưởng đều là một bộ phận và một phần trong tấm dệt các mối quan hệ văn bản, tư tưởng xã hội và lịch sử Nhìn chung, liên văn bản đưa ra cú đột phá quan trọng vào những quan điểm trước đó về văn bản như một khối tự trị tách biệt về tư tưởng và lịch sử Đọc liên văn bản vì vậy phải vượt qua rào cản cực đoan và thách thức sự bất khả xâm phạm từng được thừa nhận về thể loại bằng cách chứng minh rằng mọi văn bản và tư tưởng đều hấp thu từ những ngọn nguồn tư tưởng tương tự” [3,
tr.23] Việc tiếp cận văn bản theo hướng LVB tức là dạy các em biết cách đọc
LVB là hướng đổi mới đã, đang và được áp dụng ở nhiều trường phổ thông
Trong bài viết Về việc vận dụng lý thuyết liên văn bản vào dạy học Ngữ
văn ở trường phổ thông, tác giả Phan Huy Dũng đã chỉ rõ những ý nghĩa của
việc vận dụng lý thuyết liên văn bản vào dạy ngữ văn ở trường phổ thông:
Đưa hoạt động dạy văn thoát khỏi tình trạng sơ cứng về phương pháp; Góp thêm cứ liệu cho việc xác định tính đặc thù của dạy học tích hợp ở môn Văn; Làm giàu kiến thức văn, văn hóa, và bồi đắp khả năng sáng tạo cho HS [38,
tr.397-400-402] Dạy học văn theo hướng tiếp cận LVB sẽ là một hướng đi đúng khi đọc hiểu văn bản GV xuất phát từ văn bản và khai thác triệt để vốn kinh nghiệm, vốn sống, hiểu biết của HS Và việc đầu tiên để học viên tiếp cận tác phẩm theo hướng liên văn bản không gì khác chính là phải hiểu bối cảnh, ngữ cảnh của tác phẩm, đặt tác phẩm trong mối quan hệ với các văn bản khác, các yếu tố khác theo chiều lịch đại hay đồng đại Hay nói dễ hiểu hơn việc soạn văn ở nhà các em sẽ cần đọc nhiều tài liệu hơn, biết tự đánh giá, khái quát, có lẽ đó cũng là một con đường đổi mới học văn hiện nay Học sinh được tự mình đối thoại với tác phẩm, với nhà văn theo cách riêng của mình Như thế, cá tính sáng tạo của HS sẽ được khẳng định, được chắp cánh Mối quan hệ giữa tác giả - văn bản - độc giả là một yêu cầu không thể thiếu trong
Trang 26dạy học văn, học sinh sẽ từng bước trở thành đồng sáng tạo của tác giả, nghĩa
là phát huy tối đa khả năng sáng tạo, làm chủ của HS trong mỗi giờ học Nghĩa là chúng ta đang đưa HS về vai trò người học là trung tâm của quá trình dạy học (một yêu cầu đổi mới trọng tâm hiện nay) Lý thuyết liên văn bản cho thấy việc “khai sinh ra người đọc” tạo nên tính đối thoại giữa tác giả - người đọc Mỗi người đọc sẽ tạo ra cho mình một văn bản phái sinh Văn bản giờ đây không chỉ đơn giản là một cuốn sách, một bài viết trên giấy mà có thể
là một bức tranh, một bản nhạc, một tác phẩm điện ảnh, hay một đường link internet Xem tác phẩm đang giảng dạy trong chuỗi liên văn bản mới sẽ góp phần mở rộng ý nghĩa văn bản cũng như trường liên tưởng cho người học, từ
đó tạo hứng thú, yêu thích văn chương, phát triển năng lực cảm thụ, năng lực sáng tạo của HS
Dạy học văn theo hướng liên văn bản, giáo viên cần phải có một phông văn hóa, vốn kiến thức văn học sâu rộng, năng lực nắm bắt và giải mã các ký hiệu, những kiến thức thu nhận trong quá trình sống, trong môi trường văn hóa và khả năng liên tưởng mạnh mẽ để định hướng HS kiến giải tác phẩm theo quan điểm riêng của các em Giáo viên còn cần có tầm bao quát rộng rãi đối với những tri thức thuộc nhiều lĩnh vực, các loại hình sáng tác không thuộc phạm trù văn học như: điện ảnh, âm nhạc, hội họa,…Theo tác giả Phan Huy Dũng người giáo viên còn cần hiểu được những quyền lực văn hóa chi phối hoạt động sáng tạo của nhà văn, để từ đó có những vận dụng linh hoạt trong bài học [38, tr.408]
Trang 27như những giá trị thẩm mỹ độc lập vừa là những gợi ý, kích thích khả năng tìm tòi, sáng tạo nên các giá trị mới Nguyễn Tuân đến với văn học không sớm như một vài hiện tượng đặc biệt của văn học Việt Nam, nhưng ông được đánh giá là người có đời văn trọn vẹn hiếm có
1.2.1.1 Phong cách độc đáo của nhà văn Nguyễn Tuân
Phong cách nghệ thuật của nhà văn biểu hiện ở việc thông qua những hình tượng nghệ thuật độc đáo và những phương thức, phương tiện biểu hiện đặc thù, in đậm dấu ấn cá nhân mà đem đến cho người đọc một cái nhìn mới
mẻ về cuộc sống Phong cách nghệ thuật được hình thành nhờ sự lặp đi lặp lại một số yếu tố thuộc phạm trù nội dung và hình thức một cách có thẩm mĩ,
xuyên suốt sự nghiệp sáng tác của tác giả Nguyễn Tuân quan niệm “là người
lỗi lạc, sống một cách đặc biệt, không giống ai và không cho ai bắt chước được mình, chết là mang cả cái bản chính đi chứ không để lại một bản sao nguyên cảo nào”[13, tr.601] Có lẽ, cái Nguyễn Tuân sợ mất đi nhất chính là
phong cách, cá tính của mình
Giáo sư Nguyễn Ðăng Mạnh có nhận định: “Hạt nhân của phong cách
nghệ thuật Nguyễn Tuân có thể gói gọn trong một chữ ngông” Chơi “ ngông”
không phải chỉ đơn thuần là làm khác người, khác đời Người chơi ngông muốn dựa vào tài hoa, sự lịch lãm và nhân cách hơn đời để đặt mình lên trên thiên hạ Cái thú chơi “ ngông” của Nguyễn Tuân là như vậy, Nguyễn Tuân
có thể chơi “ngông” được trong văn chương nghệ thuật vì ông là một cây bút
độc đáo, tài hoa, uyên bác
Trước và sau Cách mạng ở Nguyễn Tuân vẫn thống nhất ở việc quan sát, nhìn ngắm mọi vật, mọi hiện tượng, con người ở phương diện tài hoa, thẩm mỹ Bất cứ sự vật, hiện tượng nào được miêu tả dù chỉ là cái ăn cái uống cũng được quan sát chủ yếu ở phương diện văn hoá mĩ thuật Những thú vui như uống trà, thả thơ, chơi chữ, uống rượu, rồi ngay đến đao phủ, ăn cắp cũng được nâng lên thành nghệ thuật Đặc biệt, ông tiếp cận con người ở phương diện thẩm mĩ, các nhân vật của Nguyễn Tuân đều là những con người
Trang 28tài hoa nghệ sĩ trong lĩnh vực của mình Nếu Nguyễn Minh Châu trong cuộc đời sáng tác của mình cố đi tìm những hạt ngọc ẩn giấu trong mỗi người thì Nguyễn Tuân qua từng trang viết của mình, ông cố gắng đi tìm chất tài hoa
nghệ sĩ trong mỗi con người mà mình miêu tả Trong Chuyến xe tình, nhà văn phát biểu “Mỹ thuật vốn không là bà con với luân lý của thời đại Một
thằng ăn cắp đã trở nên đẹp đẽ vô cùng khi hắn cắt túi người ta rất gọn, rất nhanh” [33, tr.11] Với phát biểu này, Nguyễn phủ nhận yếu tố đạo đức, luân
lý có trong nghệ thuật Nguyễn Tuân nhìn con người dưới góc độ của phạm trù Mỹ học, ông giải thích bản chất của con người thông qua việc lý tưởng
hoá cái đẹp Như Phan Cự Đệ nhận xét “Nguyễn Tuân đi vào dĩ vãng với thái
độ của một người đi tìm những cảm giác lạ, đi tìm một cái đẹp thuần tuý của nghệ thuật” [25, tr.233] Ông lấy tiêu chí thẩm mỹ để đánh giá cho nên một
người đao phủ, một người uống trà, một người đánh bạc, một người thợ mộc trong trang văn của Nguyễn Tuân, họ trở thành nghệ sĩ Kiểu nhân vật
tài hoa nghệ sĩ được tập trung chủ yếu trong tập Vang bóng một thời: đó là
Huấn Cao - một nghệ sĩ tài hoa với nghệ thuật thi pháp, đồng thời là một trang
anh hùng nghĩa liệt, Ông miêu tả Bát Lê với lối Chém treo ngành rất nhanh, rất ngọt hay ngón đòn “ném bút chì” chuẩn xác của Những kẻ bất đắc chí như
những nghệ sĩ tài hoa trong nghề đao phủ, trộm cướp Nguyễn Tuân là nhà văn của cái đẹp Cái đẹp của ông trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 là cái đẹp “hoài niệm”, “hoài cổ” nó đối lập với thực tại còn cái đẹp của ông sau Cách mạng tháng 8 hiện hình giữa đời thường và không đối lập với thực tại,
ông tìm chất tài hoa ở con người lao động bình dị, đời thường Trong Người
lái đò Sông Đà, ta thấy hiện lên không phải là một ông lái đò bình thường mà
là một nghệ sĩ trong nghề sông nước, như một nhạc sĩ thiên tài chỉ huy dàn
nhạc trên con thuyền để vượt lên bản trường ca sóng nước ào ạt kia
Sự tài hoa, uyên bác của Nguyễn Tuân còn được thể hiện ở việc ông nhìn sự vật, quan sát sự vật bằng con mắt của nhiều ngành nghệ thuật khác nhau: tri thức văn hoá, hội hoạ, điêu khắc, âm nhạc, điện ảnh…Ông có khả
Trang 29năng vận dụng các thủ pháp của các lĩnh vực nghệ thuật khác vào trong trang
viết của mình Trong Chữ người tử tù, Nguyễn Tuân mang đến trang văn của
mình với góc nhìn của nghệ thuật thứ bảy khi ông lia ống kính bao quát toàn cảnh rồi quay cận cảnh từng người, từng chi tiết một Thủ pháp điện ảnh đã
góp phần đắc lực khắc họa cảnh tượng “xưa nay chưa từng có” Trong tùy bút Người lái đò Sông Đà, với con mắt của một nhà hội họa, Nguyễn Tuân
cho người đọc cảm nhận màu nước Sông Đà một cách tinh tế nhất Cuộc giao chiến giữa ông lái đò và thác nước hiện lên sống động dưới con mắt chiến lược quân sự của nhà văn Có khi lại sử dụng kiến thức âm nhạc, hội họa để
có một cái nhìn sự vật ở nhiều góc độ Để có được những trang viết như thế, Nguyễn Tuân phải có một tầm tri thức, kiến văn sâu rộng, sự am hiểu tường tận về văn hoá cổ truyền, vốn kiến thức về các môn nghệ thuật
Ông không thích những cái gì bằng phẳng, nhợt nhạt, khuôn phép Ông
là nhà văn của những tính cách độc đáo, những tình cảm mãnh liệt Thiên nhiên trong những trang văn của ông thật hùng vĩ, dữ dội, hiểm trở, lắm thác nhiều ghềnh, phải thật dữ tợn như “thủy quái” sông Đà Đằng sau những trang viết đầy chất “ngông” ấy là một tình yêu tha thiết với thiên nhiên, đất nước, con người Sau cách mạng ông sẵn sàng đi đến mọi miền tổ quốc không phải vì khỏa lấp cảm giác thiếu quê hương như trước cách mạng mà ông
muốn đi tìm “thứ vàng của màu sắc sông núi Tây Bắc” và “chất vàng mười
đã qua thử lửa của con người lao động” Tây Bắc Ðến với những trang viết
của ngòi bút tài hoa ấy người đọc thấy say sưa trước cảnh, tình và kho tri thức phong phú được bày biện một cách đẹp đẽ Có thể nói sau năm 1945, cảm quan thời đại gắn với cái nhìn khám phá và chinh phục Mỗi trang viết là những lời ca hát, ngợi ca non sông đất nước tươi đẹp, ngợi ca con người sức mạnh vô song có khả năng kì diệu có thể chinh phục, cải tạo thiên nhiên, cho
ta cảm giác yêu mến, tự hào về dân tộc mình, về thời đại mình đang sống
Một đặc điểm không thể không nhắc tới khi nói về phong cách nghệ
thuật của nhà văn Nguyễn Tuân sử dụng là thứ ngôn từ giàu chất tạo hình,
Trang 30gợi nhiều liên tưởng nhất Theo Vũ Ngọc Phan “Chỉ người ưa suy xét đọc
Nguyễn Tuân mới thấy thú vị, vì văn Nguyễn Tuân không phải thứ văn để người nông nổi thưởng thức” Người đọc thực sự cảm thấy thú vị với mỗi
phát hiện ẩn đằng sau câu chữ thần kì như: lòng “biệt nhỡn liên tài” của viên
quản ngục trong Chữ người tử tù, cách ngụy trang bằng hoa đào, đuổi đánh
giặc trong rừng đào anh bộ đội Tây Bắc, cái đẹp của chữ, của chiếc lư đồng,
của cây đào, của dòng sông đà… Trong Chữ người tử tù ông sử dụng ngôn ngữ rất cổ kính, bác học: “Phiến trát, lạc khoan, pháp trường, bút con…”
Những từ ngữ ấy được Nguyễn Tuân sử dụng một cách nhuần nhuyễn, linh hoạt, tạo âm vang ngàn xưa vọng lại - âm vang của một thời xa vắng Trong
Người lái đò Sông Đà, người đọc được thưởng thức một loạt ngôn từ mới mẻ,
sáng tạo, mang bản sắc riêng: “lặng tờ, bờ tiền sử, nỗi niềm cổ tích, thơ
ngộ…” Các câu văn Nguyễn Tuân giàu nhạc điệu, co duỗi nhịp nhàng
Nguyễn Tuân đến với thể loại tùy bút như một cơ duyên, một lối văn
“độc tấu” như để dành riêng cho ông “Tuỳ bút Nguyễn Tuân thường hết sức
phóng khoáng, linh hoạt, có lượng thông tin cao”[13, tr.612] hấp dẫn người
đọc Văn tuỳ bút của Nguyễn Tuân biến đổi rất linh hoạt Mạch văn tuôn chảy
theo dòng cảm xúc hết sức thoải mái, kết hợp nhuần nhị giữa tính chất ký và yếu tố truyện, chất tự sự và trữ tình, sự vận dụng sáng tạo ưu thế của các ngành nghệ thuật với một kho ngôn từ tiếng Việt phong phú, linh hoạt Tính chất đa nghĩa của những thiên tùy bút Nguyễn Tuân cũng là một mặt mạnh trong phong cách nghệ thuật của ông Đọc tùy bút Nguyễn Tuân phải nghiền ngẫm, suy nghĩ, phải có cùng một tư duy nghệ thuật với nhà văn thì mới cảm nhận hết được cái hay, cái đẹp của nó Nói như Hà Văn Đức tùy bút Nguyễn Tuân giống như một khối ru-bic, mà nhìn ở mặt nào, khía cạnh nào người đọc cũng nhìn thấy sự toả sáng cả
1.2.1.2 Tập Vang bóng một thời và truyện ngắn Chữ người tử tù
Trang 31Vang bóng một thời là tập truyện đầu tay của Nguyễn Tuân ra đời những
năm 1939 - 1940, là tác phẩm được đánh giá “gần đạt tới sự toàn mĩ ” tiêu biểu
cho sáng tác trước Cách mạng của ông Tập truyện là một trong ba đề tài chính
của Nguyễn Tuân trước Cách mạng (chủ nghĩa xê dịch, vẻ đẹp vang bóng một
thời và cuộc sống trụy lạc) 12 truyện ngắn trong Vang bóng một thời đã làm
sống lại những phong tục tập quán dân tộc, những thú chơi tao nhã gắn liền với những ông nghè, ông cử thất thế song vẫn giữ thói quen thanh cao, lịch lãm trong xã hội có nhiều nhiễu nhương
Thế giới nhân vật trong Vang bóng một thời chủ yếu là lớp nhà Nho
cuối mùa, là những con người tài hoa, bất đắc chí Gặp lúc Hán học suy vi, sống giữa buổi “Tây Tàu nhố nhăng”, những con người này, mặc dù buông xuôi bất lực nhưng vẫn mâu thuẫn sâu sắc với xã hội đương thời Trân trọng mình, kẻ tài hoa, tài tử luôn tự khu biệt mình khỏi thế giới hiện tại, không để cái thanh cao đẹp đẽ của mình lẫn vào đám ồn ào, cái rối ren của xã hội phàm tục Họ lấy cái ngông nghênh của mình để đối lập với xã hội phàm tục; phô diễn lối sống đẹp, thanh cao của mình như một thái độ phản ứng trật tự xã hội
đương thời Cụ Phủ trong Thả thơ phảng phất nét giống với nhân vật ông Đồ
trong bài thơ cùng tên của Vũ Đình Liên Cả hai đã trở thành lớp người của quá khứ, trở nên lạc lõng giữa hiện tại, họ phải đem cái tài hoa ra phục vụ đám đông quanh mình để mưu sinh Dù cuộc sống khó khăn, họ vẫn trân trọng những nét đẹp văn hóa, gìn giữ danh tiết và phẩm giá của mình Cụ Kép
trong truyện Hương cuội lại có sở thích uống rượu, ngâm thơ và chơi hoa lan
Tìm cho mình một lối sống thanh cao trong lúc thời cuộc rối ren, đó cũng là cách để những nhà nho này giữ gìn nhân cách, đồng thời thể hiện khao khát
gìn giữ những giá trị văn hóa đẹp đẽ của cha ông Hình ảnh cụ Ấm trong
Chén trà sương, một con người mang cả “phong thái một triết nhân ngồi rình
bước đi của thời gian”, với sở thích uống trà tàu cầu kỳ trà được pha vào ấm
“nước pha trà không gì thơm lành bằng cái thứ nước đọng trên lá sen Mỗi lá sen chỉ có một ít thôi Phải gạn vét ở nhiều lá mới đủ uống một ấm.” [32,
Trang 32tr.104], và được đưa lên môi là quá trình tạo tác kết hợp của cả lễ nghi và ý nghĩa nhân sinh cao quý Con người ấy mang cả sự cổ kính và thành kính trong không khí thời đại xưa vào cái thú vừa uống trà vừa ngâm thơ Cùng
chung sở thích đó là nhân vật sư cụ Đồi Mai và ông Sáu trong Những chiếc
ấm đất Cụ Thượng Nam Ninh cùng người con thứ là ông Cử Hai say mê với
việc làm đèn kéo quân cho trẻ chơi trăng ngày rằm Trung thu trong Một cảnh
thu muộn Họ đã để cả tài năng, tâm huyết của mình vào một thú chơi vừa
dân dã vừa cầu kì đang dần mai một Viết về thú chơi tao nhã, cầu kì, Nguyễn Tuân như đang làm người đọc được sống lại với một phong tục đẹp của người Tràng An Những hình ảnh như ông Phủ, ông Nghè, ông Ấm, ông Cử là các nhà nho cuối mùa, dù có thất thế nhưng họ vẫn sống cuộc sống nhàn hạ, thanh tao và biết giữ gìn, chắt chiu cái đẹp trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày
Với phong cách độc đáo, Nguyễn Tuân tạo dựng trong trang viết của mình những nghệ sĩ tài hoa trong ngành nghề của họ Thế giới nhân vật trong
Vang bóng một thời còn là những người nghệ sĩ tài hoa, tài tử Nếu như trong
tiểu thuyết Lều chõng, Ngô Tất Tố nhìn chế độ khoa cử mục nát, bi kịch của
nhà nho có tài với ánh mắt của một nhà văn hiện thực phê phán, Nguyễn Tuân nhìn họ ở góc độ thẩm mỹ để thấy được những giá trị văn hóa tinh thần dân tộc bị mai một trước biến thiên của lịch sử Đó là cuộc sống những người thợ
mộc làng Tràng Thôn trong truyện Trên đỉnh non Tản với cái tràng, cái đục
của mình đã trở nên nức tiếng khắp vùng Bởi sự tài hoa, điêu luyện trong nghề mà hai lần đích thân Thần Non Tản đến tận nhà mời hiệp thợ của cụ phó Sần lên đỉnh non Tản để sửa chữa lại đền Thượng do những lần vua Thủy
dâng nước lên chọc phá để trả mối hận tình “Nét chạm tỉ mỉ công phu gấp
mấy lần công thợ điêu khắc ở các đền đài ở dưới núi Họ chia nhau ra mà chạm, người thì tỉa hình thư kiếm, quạt và phất trần, kẻ thì gọt dáng tù và với túi roi hoặc là túi thơ cùng bầu rượu, cái nọ ghép vào với cái kia thành một
bộ đôi bằng những sợi cẩm đới nét dẻo như tung bay được” [32, tr.142-143]
Ở Chém treo ngành, Nguyễn Tuân đã viết về tài chém treo ngành của một kẻ
Trang 33làm nghề đao phủ tên là Bát Lê Nguyễn Tuân miêu tả Bát Lê như một nghệ sĩ
múa kiếm tài nghệ có một không hai trong nghề của y: “Bát Lê múa lượn giữa
hai hàng tử tù và múa hát đến đâu thì những cái đầu tội nhân bị quỳ kia chẻ gục đến đấy” [32, tr.15]
Trong thế giới nhân vật của Vang bóng một thời, ông Huấn Cao trong
Chữ người tử tù nổi bật lên như một nhân vật đẹp nhất (Tác phẩm được dạy
trong chương trình Ngữ văn 11- tập 1) Con người ấy là một nghệ sĩ thư pháp, một trang anh hùng dũng liệt, có khí phách hiên ngang, có thiên lương trong sáng, ông đang bị giam ở nhà ngục tỉnh Sơn để chờ ngày ra pháp trường Một con người mà “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” Kẻ liên tài oái oăm thay lại là viên coi ngục, y ngưỡng mộ, bất chấp tính mạng để biệt đãi người tù đặc biệt này, ao ước xin được chữ ông Huấn Trong đêm cuối cùng trước ngày ra pháp trường, cảm động trước tấm lòng, sở nguyện cao quý của viên quản ngục, Huấn Cao đã dành những giây phút cuối cùng của đời mình viết tặng chữ viên quản ngục Cái đẹp có sức cảm hóa con người, hướng con người tới ánh sáng của thiên lương, của đạo đức Hình tượng người anh hùng Huấn Cao là hình mẫu tiêu biểu cho quan niệm của Nguyễn Tuân về cái đẹp, về con người lý tưởng trước Cách mạng tháng Tám
1.2.1.3 Tùy bút Người lái đò Sông Đà
Nguyễn Tuân đã từng thử bút ở nhiều thể loại song với phong cách độc đáo, cá tính riêng cùng mẫn cảm của người nghệ sĩ, ông đến với tùy bút, một thể loại đậm chất trữ tình của ký cho phép bộc lộ tư tưởng chủ quan của người
viết khi phản ánh hiện thực khách quan Theo từ điển thuật ngữ văn học “Ký
là một tên gọi chung cho một nhóm thể tài nằm ở phần giao nhau giữa văn học và ngoài văn học (báo chí, chính luận, ghi chép tư liệu các loại ) chủ yếu là văn xuôi tự sự gồm các thể như bút ký, hồi ký, hồi ký, du ký, phóng sự,
kí sự, nhật kí, tùy bút ” [2, tr.176] Đây là thể loại tương đối tự do, linh hoạt
trong phản ánh và biểu hiện, có khả năng truyền tải cảm xúc, suy nghĩ của người viết, nó cũng đòi hỏi người viết cần phải có một cá tính, bản lĩnh riêng
Trang 34trong cách cảm nhận cuộc đời Nguyễn Tuân đến với tùy bút như một cơ
duyên Vương Trí Nhàn trong Nguyễn Tuân - Tên tuổi còn mãi với thể tùy
bút, ông chỉ ra theo Từ điển bách khoa văn học của Liên Xô trước đây định
nghĩa: “Tuỳ bút (essai - tiếng Pháp) là tác phẩm văn xuôi cỡ nhỏ và có cấu
trúc tự do, biểu thị những ấn tượng và suy nghĩ cá nhân về những sự việc, những vấn đề cụ thể và hoàn toàn không tính tới việc đưa ra cách giải thích
cố định và đầy đủ về đối tượng” [27] Trong một cuốn từ điển khác, người ta
còn nói rõ thêm: “Được gọi là tuỳ bút, là những tác phẩm mà ở đó nổi lên
trên bình diện thứ nhất những phẩm chất riêng, cốt cách riêng của tác giả Chỉ những người muốn làm rõ cái giọng điệu độc đáo của riêng mình, những người thích tự biểu hiện, tự phân tích, đồng thời là những bút pháp vừa giàu chất hình tượng, vừa có khả năng viết chặt chẽ như châm ngôn - những người
đó mới đi vào tuỳ bút” [27] Cốt cách ngang tàng, độc đáo không chịu kiêng
nể một ai của Nguyễn Tuân có lẽ chỉ tùy bút chịu được ông, và quả thực với thể tùy bút, ông đã đem đến khúc độc tấu tài hoa khẳng định bản ngã, tài năng sáng tạo độc đáo của riêng mình
Sau Cách mạng, ta gặp một Nguyễn Tuân hoàn toàn mới so với trước
đó Giọng điệu văn chương trở nên sôi nổi tin yêu, tràn ngập một tình cảm chân thành đến hồn nhiên đối với quê hương đất nước, với Cách mạng và kháng chiến Cảm quan khám phá, chinh phục thiên nhiên của Nguyễn Tuân dường như hòa quyện chặt chẽ với tình yêu Tổ quốc, tình yêu con người và cuộc sống khiến cho những trang viết của ông sau năm 1945 dạt dào cảm xúc thăng hoa ngợi ca đất nước Nguyễn Tuân như chuếnh choáng say sưa trước niềm hạnh phúc vô biên ấy Ông vốc từng vốc lớn chất liệu hiện thực và bày biện một cách hết sức tài hoa, tinh vi lên trang viết để thiết đãi cả nhân dân
mình Hàng loạt tùy bút đặc sắc ra đời trong mạch cảm hứng ấy: Phở, Cây Hà
Nội
Tùy bút Người lái đò Sông Đà in lần đầu có tên là Sông Đà, trích trong tập tùy bút Sông Đà của Nguyễn Tuân được in lần đầu vào năm 1960, lần thứ
Trang 35hai năm 1978 Sông Đà bao gồm 15 bài tùy bút và một bài thơ phác thảo, là tác phẩm của nhà văn trong chuyến đi thực tế lên Tây Bắc vào 10/1958, giai đoạn Đảng và Nhà nước đang tiến hành xây dựng cuộc sống mới ở miền Bắc Đây là tác phẩm tiêu biểu cho giai đoạn sáng tác sau Cách mạng tháng Tám
của Nguyễn Tuân “Nó nói rằng ngòi bút ấy đã đạt tới độ chín mới về tư
tưởng và nghệ thuật” (Nguyễn Đăng Mạnh)
Qua tùy bút Người lái đò Sông Đà Nguyễn Tuân đã cho người đọc ngỡ
ngàng, say mê khám phá và thưởng thức từ vẻ đẹp vừa hung dữ vừa thơ mộng, trữ tình của con sông Đà, đến vẻ đẹp bình dị, tài hoa nghệ sĩ của ông lái đò - một tay lái ra hoa vượt thạch trận sông Đà Cảnh vật và con người được nhìn qua con mắt mĩ thuật, tài hoa của Nguyễn Tuân Đồng thời đây cũng là một áng văn đẹp cho thấy công phu lao động nghệ thuật khó nhọc, cùng tài năng của Nguyễn Tuân để tái tạo những kì công của tạo hóa và những kì tích lao động của con người trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa Đằng sau những trang hoa Tây Bắc ấy là tấm lòng yêu tổ quốc, niềm tự hào về vẻ đẹp đất nước, niềm cảm kích, phấn khởi trước những con người lao
động trong chế độ xã hội mới Trong Người lái đò Sông Đà, Nguyễn Tuân rưng rưng một niềm tự hào: “Gặp lại những đồng chí Tây Bắc cũ lúc này
đang làm kế hoạch, đang làm công trường, làm ruộng, làm nương xã hội chủ nghĩa ở Tây Bắc, tôi đi sâu vào một số tiểu sử cuộc đời hoạt động ở Tây Bắc
mà tôi cứ nghĩ rằng đấy là những thỏi vàng của một khối vàng xã hội chủ nghĩa Đảng ta đem đầu tư vào Tây Bắc” [33, tr.269] Những trang văn của
Nguyễn Tuân nổi lên một hình tượng Tổ quốc Việt Nam giàu có, tuyệt vời,
tuyệt đỉnh Tác phẩm như một dòng thác lớn thanh âm ngôn ngữ, cảm xúc, tư
tưởng được khơi đúng nguồn mạch chính, hệt con sông Ðà “hung bạo và trữ tình”, chảy băng băng qua vùng Tây Bắc hùng vĩ và ngạo nghễ với thời gian Ðọc tác phẩm ta thấy trữ lượng cái Ðẹp, chất “vàng mười” của đất nước và con người Việt Nam trong cuộc sống mới quả là nhiều vô kể Cánh cửa tâm hồn tài hoa, lãng tử của Nguyễn Tuân như mở toang cái Đẹp ùa vào
Trang 361.2.2 Khảo sát thực trạng dạy học văn nói chung và dạy tác phẩm Chữ người tử tù, Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân nói riêng
1.2.2.1 Thực trạng dạy văn nói chung
Ngữ văn vừa là môn học công cụ vừa là môn học nghệ thuật có đặc thù riêng, là lĩnh vực thẩm mĩ của sáng tạo cá nhân, mỗi tác phẩm văn chương không chỉ đem lại thông tin mà còn là một hệ thống tín hiệu thẩm mĩ đòi hỏi sự khám phá, liên tưởng của người đọc Trong những năm gần đây, mặc dù được
sự quan tâm của xã hội, môn Ngữ văn luôn là một trong những môn học quan trọng ở nhà trường phổ thông, song học sinh lại không yêu mến môn môn Ngữ văn, ít lựa chọn khối thi có môn Văn, thậm chí là không muốn học môn Văn (nếu không phải do Bộ giáo dục quy định môn thi bắt buộc trong kì thi THPT Quốc gia thì có lẽ số lượng HS đăng kí môn học này sẽ rất ít) Học sinh không tự nghiên cứu, thậm chí không đọc tác phẩm để tìm hiểu, khám phá mà chủ yếu chép lại và dựa vào gợi ý hướng dẫn của các sách tham khảo, văn mẫu Vậy đâu là nguyên nhân của tình trạng trên? Câu trả lời có lẽ mỗi chúng ta đều thấy rất rõ từ nhiều năm nay
- Có lẽ điều đầu tiên mà ai cũng nhận thấy đó chính là phương pháp dạy học còn nhiều hạn chế Không phải ngẫu nhiên mà Bộ GD& ĐT luôn tập huấn công tác chuyên môn, yêu cầu mỗi GV phải tự học tập, tự bồi dưỡng, luôn luôn đổi mới phương pháp giảng dạy Lâu nay, nhiều giáo viên đang còn dạy học theo cách cũ, vẫn là dạy TPVH chỉ bó hẹp trong phạm vi văn bản văn học, ít hướng dẫn cho HS thói quen, kĩ năng liên hệ, mở rộng sang những vấn
đề khác có liên quan Dường như người giáo viên chú trọng quá nhiều đến văn bản, mà quên mất nhu cầu tự khám phá, tự cảm thụ của HS Vì thế, học sinh luôn là người “lắng nghe” chứ không phải là người “nhập cuộc”, dẫn tới
HS gần như bị tê liệt về cảm xúc, về hứng thú học tập và trở nên thụ động, lười suy nghĩ Giáo viên vẫn còn thuyết giảng nhiều dẫn đến tình trạng HS ít được làm việc, ít có cơ hội bày tỏ chính kiến của bản thân; những kiến thức ngoài văn bản, những cách hiểu riêng của cá nhân HS ít được GV quan tâm
Trang 37tới Một số giáo viên lại lại dạy văn như nhà nghiên cứu văn học: tập trung phân tích quá sâu về tâm lí, về kĩ thuật ngôn từ, về phương pháp sáng tác…như những sinh viên khoa Văn, nhiều HS chán nản nhất là những HS thi khối A, B, các em sợ phải học Văn
- Một hạn chế nữa của quá trình dạy học môn Ngữ Văn là cả giáo viên
và học sinh đều tồn tại tâm lý học để thi, dẫn đến tình trạng học nhồi nhét, thậm chí HS chỉ học thuộc lòng các bài cô phân tích để an toàn khi đi thi Quy trình kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh chưa được hợp lí, chưa vừa sức, chưa có tác dụng tạo động lực cho học sinh học tập Thầy cô giáo chủ yếu kiểm tra trí nhớ của HS chưa chú trọng vào việc phát huy năng lực cho HS Bên cạnh đó, việc chấm, sửa bài cho học sinh cũng còn nhiều thiếu sót Giáo viên trả bài cho học sinh không đúng thời gian quy định, thường là lâu hơn quy định, sửa bài không cụ thể, chi tiết Phần lớn điểm số cho bài làm của học sinh thường ở mức trung bình, khá, rất ít điểm giỏi Mặc dù có nhiều đổi mới song việc kiểm tra đánh giá vẫn chưa đem lại hứng thú và động cơ học tập cho HS
- Theo lí thuyết kiến tạo, chúng ta hiểu rõ học sinh phải là chủ thể tích cực xây dựng nên kiến thức cho bản thân mình dựa trên những kiến thức hoặc kinh nghiệm đã có từ trước Giáo viên chỉ là người tổ chức, điều khiển, HS tự biến kiến thức của thầy cung cấp, tài liệu đọc được để biến thành kiến thức của bản thân, có như thế HS mới nhớ lâu được bài học Nếu chỉ học vẹt thì sẽ mau chóng quên luôn Nhưng chính cách dạy như trên cũng dẫn đến hệ quả kéo theo là cách học của HS học thụ động, học máy móc; không có kĩ năng đọc hiểu văn bản, không thể đọc hiểu những văn bản tương tự Học sinh chưa biết vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, thiếu sáng tạo và không biết cách tự học, thiếu động cơ học tập
- Một nguyên nhân khách quan không thể không nhắc tới đó chính là chúng ta đang ở thế kỉ XXI, kỉ nguyên của công nghệ thông tin, kĩ thuật số Học sinh thay vì đến thư viện đọc sách, các em có thể tự tìm tài liệu trên máy
Trang 38tính, điện thoại smarphone của mình Nhưng có một hiện trạng các em lại online để lướt facebook, buôn chuyện trên zalo, hay các trang mạng xã hội khác Học sinh hình thành thói quen ỉ lại, lười đọc sách, chỉ chờ đợi thụ động bài giảng của GV, không có động cơ học tập Hơn nữa, do sự hội nhập toàn cầu đại đa số HS chỉ muốn học các ngành khoa học tự nhiên, kĩ thuật, kinh tế, điều này đã ảnh hưởng đến nhận thức của phụ huynh, của HS về những môn học thời thượng như: Toán, Lý, Hoá, Ngoại ngữ, các môn học các em có thể
đi du học thuận lợi, hoặc ra trường dễ xin việc
Trong những năm gần đây, Bộ GD&ĐT liên tục đổi mới với mong muốn đào tạo những công dân toàn cầu, có đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng những đòi hỏi của thời đại mới Bộ và Sở giáo dục đã triển khai nhiều chương trình tập huấn cho GV, cán bộ cốt cán về đổi mới phương pháp dạy học nhưng chưa có nhiều GV đổi mới, chịu khó đầu tư mà phần lớn chỉ được thể hiện ở các tiết hội giảng, còn bình thường vẫn chưa đổi mới
1.2.2.2 Thực trạng dạy các tác phẩm của Nguyễn Tuân
Ở chương trình Ngữ văn THPT chương trình chuẩn, HS được tiếp cận
hai tác phẩm của Nguyễn Tuân: Truyện ngắn Chữ người tử tù (Trích Vang
bóng một thời) ở lớp 11 và tùy bút Người lái đò sông Đà (trích Tùy bút Sông Đà) ở lớp 12 Tuy nhiên, qua khảo sát thực tế giảng dạy ở trường THPT
Nguyễn Huệ (TP Nam Định), chúng tôi nhận thấy thực trạng sau:
* Thực trạng hoạt động dạy- học truyện ngắn Chữ người tử tù
Tác phẩm Chữ người tử tù là một tác phẩm hay nhưng khó cảm thụ
Nguyễn Tuân là nhà văn có phong cách tài hoa, uyên bác, để hiểu tác phẩm của ông không hề dễ, kiến thức trong tác phẩm khá rộng bao gồm nhiều lĩnh vực như: lịch sử, văn hóa, văn học, xã hội Đặc biệt cách xây dựng nhân vật mang tính lí tưởng hóa, các từ Hán Việt xuất hiện với tần số lớn, không gian nghệ thuật của tác phẩm gợi về một thời xa xưa xa lạ với HS hiện nay Tuỳ vào quan điểm, năng lực của giáo viên và của học sinh, giáo viên khai thác tác phẩm theo nhiều cách khác nhau, dưới đây là hai hướng khai thác tiêu biểu:
Trang 39Hướng thứ nhất: Giáo viên đã khai thác “bổ dọc”, phân tích theo trình tự: nhân vật Huấn Cao, nhân vật viên quản ngục, nghệ thuật đặc sắc của truyện Hướng thứ hai: khai thác theo hướng “bổ ngang”, tiến hành phân tích truyện theo trình tự ba đoạn truyện: Trước khi Huấn Cao đến nhà lao; Khi Huấn Cao
bị giải đến nhà lao; Cảnh cho chữ - cảnh tượng xưa nay chưa từng có Nhìn chung các em hiểu được những kiến thức cơ bản về tác giả Nguyễn Tuân,
kiến thức tối thiểu về văn bản Chữ người tử tù: Ba vẻ đẹp của Huấn Cao,
nghệ thuật đặc sắc của văn bản: Tình huống độc đáo, thủ pháp tương phản, đối lập, xây dựng nhân vật, ngôn ngữ…Đây mới chỉ là kiến thức ở dạng tái hiện, chưa thể hiện được nhiều những khám phá mang tính sáng tạo của bản
thân, chưa cảm nhận tác phẩm một cách sâu sắc đúng bản chất
Một hiện trạng dễ nhận thấy trong nhiều giờ dạy giáo viên chỉ tập trung
ở các nội dung chính như: Hình tượng nhân vật Huấn Cao, nhân vật quản
ngục hay cảnh cho chữ, (tầng hình tượng) tuy nhiên cũng tiếp cận một cách
sơ sài mang tính chiếu lệ Các kiến thức học sinh được trang bị chỉ mang tính đối phó với thi cử Thậm chí chỉ đưa ra một vài ý cơ bản rồi thuyết trình nhưng không hề bám sát vào ngôn từ của văn bản Có giáo viên cứ bay bổng với những lời bình sáo rỗng mà xa rời hoàn toàn hệ thống ngôn từ của văn bản Bởi vậy rất nhiều các từ ngữ cổ giàu giá trị của tác phẩm mà HS không
hề biết đến, thậm chí có nhiều em còn hiểu sai về mặt nghĩa của nó Còn ở tầng tư tưởng ý vị nhân sinh của tác phẩm thì rất nhiều GV bỏ qua, nếu có thì vài câu nói qua loa như đưa vào phần tổng kết chứ chưa coi đó là một phần quan trọng khi khám phá tác phẩm
Còn khi tiếp nhận tác phẩm nhiều học sinh chỉ nói một cách sáo rỗng, không đưa ra được các câu văn để chứng minh cho từng nét đẹp của nhân vật Thậm chí có những học sinh còn băn khoăn, nhầm lẫn việc trích dẫn những câu nói về nhân vật Huấn Cao và quản ngục ở đoạn văn trong phần đầu của tác phẩm Nhất là các em thường bỏ luôn “cảnh cho chữ” không đưa vào khi cảm nhận về vẻ đẹp của hai nhân vật này…Và không ít học sinh còn hiểu sai
Trang 40các từ Hán Việt trong các câu văn khi nói về nhân vật Chẳng hạn như: nhất
sinh, chu tất, xin bái lĩnh, xin lĩnh ý… Đối với các em, quan niệm về cái đẹp
và quan niệm sống mà Nguyễn Tuân muốn gửi gắm qua hai nhân vật trên dường như quá xa lạ và không thể chỉ ra được
* Thực trạng hoạt động dạy- học tùy bút Người lái đò sông Đà
Dạy tùy bút luôn là thách thức đối với giáo viên, nhất là dạy tác phẩm của bậc thầy ngôn từ Nguyễn Tuân thì càng khó khăn Thực tế cho thấy cả
thầy và trò đều rất ngại dạy và học tác phẩm Người lái đò Sông Đà - văn bản dài, ngôn từ rất khó hiểu Đoạn trích Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân
có dung lượng khá dài nhưng theo phân phối chương trình chỉ có hai tiết dạy học Học sinh dường như rất khó hình dung hai bên bờ đá sông Đà, mặt ghềnh Hát lóng, cảnh thạch trận sông… Giáo viên rất khó khăn để bật lên được đặc trưng thể loại tùy bút, phong cách nghệ thuật tài hoa, uyên bác của Nguyễn Tuân qua nghệ thuật ngôn từ, quan niệm của Nguyễn Tuân về cái đẹp…
Đa phần để phục vụ cho đi thi THPT quốc gia, học sinh đều nắm được hai nét tính cách nổi bật của dòng sông Đà: hung bạo và trữ tình, cũng như vẻ đẹp của ông lão lái đò: trí dũng, gan dạ và tài hoa song để thấy được đặc trưng riêng của thể kí Nguyễn Tuân thì các em chưa hiểu rõ Trong khi đó đề thi THPT quốc gia có những đề so sánh hai đoạn văn
Ví dụ : Cảm nhận của anh/ chị về hai đoạn văn sau:
“Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình mỗi độ thu về” (Trích Người lái đò Sông Đà - Nguyễn Tuân, Ngữ văn 12, Tập một, NXB
Giáo dục, 2009, tr.191)
“Từ Tuần về đây, sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn, như người Huế thường miêu tả” (Trích Ai đã đặt tên cho dòng sông -
Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục, 2009, tr 198)
Học sinh vô cùng lúng túng khi làm những đề kiểu này, các em không
có kiến thức nền để so sánh, bởi ở nhà các thầy cô chỉ dạy các em vẻ đẹp hình tượng sông Đà, sông Hương và chia theo luận điểm