TÓ TẮT Luận văn Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp tr n a àn thành ph h inh được thực hiện từ tháng 10/2017 đến tháng 03/2018 nhằ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM
HUỲNH LƯU THANH GIANG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG QUỸ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA DOANH NGHIỆP TR N Đ A ÀN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM
HUỲNH LƯU THANH GIANG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG QUỸ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA DOANH NGHIỆP TR N Đ A ÀN
Trang 3CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Đoàn Xuân Huy inh
Luận văn Thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Công nghệ TP HCM ngày 15 tháng 4 năm 2018
Thành phần Hội đồng đánh giá Luận văn Thạc sĩ gồm:
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ Luận văn Thạc sĩ)
1 GS.TS Võ Thanh Thu Chủ tịch
2 TS Phan Thị Minh Châu Phản biện 1
3 TS Phạm Thị Phi Yên Phản biện 2
4 TS Nguyễn Ngọc Dương Ủy viên
5 TS Cao Minh Trí Ủy viên, Thư ký
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận sau khi Luận văn đã được sửa chữa (nếu có)
Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV
Trang 4
TRƯỜNG ĐH CÔNG NGHỆ TP HCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NA
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TP HCM, ngày tháng năm 2017
NHIỆ VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: Huỳnh Lưu Thanh Giang Giới tính: Nữ
Ngày, tháng, năm sinh: 24/11/1978 Nơi sinh: Đồng Nai
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh; MSHV: 1641820126
I Tên đề tài: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp trên địa àn thành ph Hồ Chí inh
II Nhiệm vụ và nội dung:
Đánh giá thực trạng hoạt động sử dụng Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của các doanh nghiệp Từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp trong sử dụng Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp và hoàn thiện các chính sách hỗ trợ từ cơ quan quản lý nhà nước
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về khoa học công nghệ
- Đánh giá thực trạng hoạt động sử dụng Quỹ phát triển khoa học công nghệ
của các doanh nghiệp
- Tìm ra những thuận lợi, khó khăn hạn chế và nguyên nhân tồn tại của việc
sử dụng Quỹ trong doanh nghiệp
- Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sử dụng Quỹ
khoa học công nghệ của các doanh nghiệp
III Ngày giao nhiệm vụ : ./ /2017
IV Ngày hoàn thành nhiệm vụ: /3/2018
V Cán ộ hướng dẫn : TS Đoàn Xuân Huy Minh
Trang 5LỜI CA ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Học viên thực hiện Luận văn
Huỳnh Lưu Thanh Giang
Trang 6Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Quản trị kinh doanh, Viện Đào tạo sau đại học – Trường Đại học Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh (HUTECH), các thầy, cô giáo đã giảng dạy trang bị cho tôi những kiến thức quý báu và phương pháp nghiên cứu để tôi hoàn thành luận văn
Đặc biệt, tôi xin chân thành cám ơn TS Đoàn Xuân Huy inh đã trực tiếp
hướng dẫn tôi hoàn thiện đề tài này
Trong quá trình thực hiện đề tài tôi nhận được sự giúp đỡ và hướng dẫn rất nhiệt tình của quý thầy/cô Xin cám ơn các cá nhân, tổ chức, các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp đã cung cấp số liệu và tạo điều kiện cho tôi thu thập các thông tin cần thiết phục vụ cho đề tài
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới Gia đình, Ban Giám đốc, các đồng nghiệp tại Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố đã luôn tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
HỌC VI N
Huỳnh Lưu Thanh Giang
Trang 7TÓ TẮT
Luận văn Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng Quỹ phát triển khoa học
và công nghệ của doanh nghiệp tr n a àn thành ph h inh được thực
hiện từ tháng 10/2017 đến tháng 03/2018 nhằm nghiên cứu đánh giá thực trạng hoạt động sử dụng Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2016, trong đó, có mở rộng thời gian nghiên cứu từ năm 2009 đến năm 2013 để có cái nhìn toàn diện về hoạt động của các Quỹ này từ khi đưa chính sách về hỗ trợ đầu tư cho hoạt động KH&CN của doanh nghiệp đi vào thực tế Nghiên cứu thực hiện đánh giá tổng quan hệ thống các quy định pháp luật về Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp, phân tích những thay đổi qua các lần ban hành và sửa đổi từ năm 2007 đến năm
2016
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính để giải quyết các vấn đề đặt ra Kết hợp với các phương pháp khác như phỏng vấn nhóm, phỏng vấn tay đôi và thu thập thông tin từ thực tế, lấy các sự kiện thực tế làm cơ sở và căn cứ khoa học để phân tích
Kết quả đánh giá thực trạng hoạt động của 113 Quỹ phát triển KH&CN doanh nghiệp cho thấy những điểm chú ý như: (1) Tỷ lệ doanh nghiệp thành lập Quỹ thấp, chỉ chiếm 0,04% so với số lượng doanh nghiệp đang hoạt động của Thành phố; (2) Nội dung sử dụng Quỹ tập trung chủ yếu vào đổi mới công nghệ, R&D, đào tạo tăng cường năng lực; (3) Hoạt động quản lý nhà nước về Quỹ chủ yếu là công tác tuyên truyền quảng bá, hướng dẫn nội dung, quy trình sử dụng, quyết toán Quỹ
Ngoài ra, nghiên cứu tập trung phân tích nguyên nhân của các khó khăn trong việc thành lập và sử dụng Quỹ từ phía: (i) doanh nghiệp (chưa xác định được hoạt động KH&CN trong doanh nghiệp; chi, sử dụng Quỹ của doanh nghiệp được quy định, kiểm soát khá chặt chẽ, chưa giao quyền chủ động cho doanh nghiệp; phát sinh nhiều thủ tục; quy định về nội dung chi Quỹ chưa rõ ràng, cụ thể;…); (ii) các
Trang 8cơ quan quản lý nhà nước (công tác thống kê Quỹ còn phụ thuộc vào báo cáo 1 chiều từ doanh nghiệp; công tác kiểm tra, giám sát không được quy định cụ thể dẫn đến sự chồng chéo khi tiến hành kiểm tra); và (iii) chỉ ra những điểm còn thiếu, yếu, chưa đồng bộ của quy định pháp luật liên quan đến việc thành lập, sử dụng Quỹ (chồng chéo trong quy định về báo cáo Quỹ, thẩm quyền thành lập Hội đồng KH&CN; chưa quy định các biện pháp chế tài, xử lý Quỹ khi sử dụng không đúng mục đích;…)
Trên cơ sở đánh giá thực trạng sử dụng Quỹ tại doanh nghiệp nói trên, nghiên cứu đã đề xuất đã xác định Hệ thống giải pháp cụ thể về mô hình tổ chức,
mô hình quản trị và sử dụng có hiệu quả Quỹ trong doanh nghiệp; giải pháp về tuyên truyền nâng cao nhận thức trong doanh nghiệp về Quỹ, hoàn thiện các nội dung sử dụng Quỹ, cải cách hành chính,… trong cơ quan quản lý nhà nước; cũng như hoàn thiện các quy định mới nhất về Quỹ được quy định tại Thông tư liên tịch
số 12/2016/TTLT-BKHCN-BTC ngày 28 tháng 6 năm 2016 của Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Tài chính và các văn bản liên quan
Kết quả nghiên cứu này là cơ sở tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo nhằm phân tích, đánh giá nhu cầu ứng dụng KH&CN của từng nhóm doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố (phân theo ngành, lĩnh vực hoạt động), đặc biệt là 4 ngành công nghiệp và 9 ngành dịch vụ trọng yếu, để đưa ra định hướng, giải pháp thúc đẩy việc thành lập, sử dụng Quỹ cho những nhóm ngành cụ thể; từ đó góp phần hoàn thiện các cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp của Chính phủ nói chung và chính quyền thành phố Hồ Chí Minh nói riêng ngày càng đáp ứng yêu cầu thực tế và tạo môi trường thuận lợi nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Trang 9on investment support for science and technology activities in enterprises had been put into practice The study carried out a comprehensive assessment of the legal provisions on STDFe to analyze improvement of the policy’s issuance and revision during period of 2007 - 2016
Research applies qualitative study methods in combined with other methods such as qualitative analysis and gathering information from reality as well as taking actual case studies as the basis for analysis
Result of analyzing current status of 113 STDFe in Ho Chi Minh City finds out some interested points, such as: (1) There is very low proportion of enterprises with STDFe, accounting for only 0.04% of the total number of operating enterprises
in the city; (2) STDFe mainly used for technology innovation, R&D and manpower training; (3) State management of STDFe is limited at disseminating information and providing guidance on paperwork and management processes of the fund
Furthermore, the study’s outcome focuses on the causes of difficulties in the establishment and use of STDFe from different aspects: (i) enterprise (S&T activities in the enterprise are not well defined; use of the fund is overregulated with
no initiative, and many unclear procedures ), (ii) state management agencies (statistics work just depend on one-way report from enterprise; there is overlapping
Trang 10in inspection and supervision of the fund among these agencies…), and (iii) the shortage, weakness and inconsistency in legal regulations related to the funds (overlapping in regulations on reporting, competence to set up Science and Technology Council; lacking of proper measures to handle misuse of the fund )
Based on assessment of actual use of the fund as mentioned above, the research has identified a set of specific solutions in terms of organization model, management model and efficient use of the fund in the enterprise; measures on raising awareness of enterprises on the need of STDFe, administrative reforms, finalization of the fund's contents, especially the latest Joint Circular No 12/2016/ TLT-BKHCN-BTC dated 28 June 2016 of the Ministry of Science and Technology and the Ministry of Finance and related official documents
The outcomes of this study are considered as a platform for many follow-up researches in order to deeply analyze and assess the demand of S&T application in specific groups of enterprises (by sector and/or type of business) - especially in the key 4 industrial sectors and 9 service sectors of the city - to propose state-of-the-art solutions for applying STDFe in each sectors These could be contributing to improve mechanisms and policies of supporting enterprise at state government in general, and Ho Chi Minh City People’s Committee in particular, towards increasingly meet practical requirements and create a business-friendly ecosystem
to enhance competitiveness of enterprises
Trang 11ỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
TÓM TẮT iii
ABSTRACT v
MỤC LỤC vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT xi
DANH MỤC CÁC BẢNG xii
DANH MỤC CÁC HÌNH xiii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết - Lý do lựa chọn đề tài 1
2 Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu 2
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 4
3.1 Mục tiêu nghiên cứu 4
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4.2 Phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
5.1 Phương pháp tổng hợp, so sánh 6
5.2 Phương pháp khảo sát định tính, phỏng vấn nhóm và tay đôi 6
6 Đóng góp của luận văn 6
7 Kết cấu luận văn 6
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ 7
1.1 TỔNG QUAN VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 7
1.1.1 Khoa học và Công nghệ 7
1.1.2 Hoạt động khoa học công nghệ 8
1.1.3 Vai trò của khoa học công nghệ đối với phát triển kinh tế 8
1.2 QUỸ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA DOANH NGHIỆP 12
Trang 121.2.1 Khái niệm 12
1.2.2 Thành lập và sử dụng Quỹ 12
1.2.3 Thẩm quyền thành lập và hình thức tổ chức Quỹ 14
1.2.4 Về chi sử dụng Quỹ 16
1.2.5 Về Xử lý Quỹ khi doanh nghiệp không sử dụng, sử dụng không hết và sử dụng không đúng mục đích 19
1.3 NH NG YẾU T ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ S DỤNG QUỸ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA DOANH NGHIỆP 20
1.4 KINH NGHIỆM CỦA MỘT S NƯỚC VỀ HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP ỨNG DỤNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 22
1.4.1 Nhật Bản 22
1.4.2 Trung Quốc 24
1.4.3 Hàn Quốc 25
1.4.4 Đài Loan 27
1.4.5 Singapore 29
1.4.6 Thái Lan 30
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 33
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CÁC QUỸ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH 34
2.1 TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CỦA TP.HCM 34 2.1.1 Tổng quan hoạt động KH&CN Thành phố Hồ Chí Minh 34
2.1.2 Những khó khăn, tồn tại 38
2.2 THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG DOANH NGHIỆP 39
2.2.1 Tình hình phát triển doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố 39
2.2.2 Trình độ công nghệ và đầu tư đổi mới KHCN trong doanh nghiệp 41
2.2.3 Những khó khăn, tồn tại 45 2.3 THỰC TRẠNG TRÍCH LẬP VÀ S DỤNG QUỸ PHÁT TRIỂN KHOA
Trang 13HỌC CÔNG NGHỆ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TP HỒ
CHÍ MINH 49
2.3.1 Thực trạng thành lập quỹ KH&CN doanh nghiệp 49
2.3.2 Lĩnh vực hoạt động các doanh nghiệp 52
2.3.3 Tình hình sử dụng Quỹ của các doanh nghiệp 55
2.2.3.1 Tình hình trích lập Quỹ 55
2.2.3.2 Về sử dụng Quỹ 56
2.4 HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC Đ I VỚI QUỸ KH&CN CỦA DOANH NGHIỆP 58
2.4.1 Các cơ quan quản lý 58
2.4.2 Quản lý việc thành lập, sử dụng Quỹ PTKHCN trong doanh nghiệp 59
2.4.3 Đánh giá về những khó khăn trong việc sử dụng, quản lý Quỹ PT KH&CN của doanh nghiệp 59
2.4.3.1 Khó khăn trong việc sử dụng Quỹ tại doanh nghiệp 59
2.4.3.2 Khó khăn trong công tác quản lý nhà nước 64
2.4.3.3 Khó khăn trong các quy định của văn bản quy phạm pháp luật 65
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 68
CHƯƠNG 3 MỘT S GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP THÀNH PH HỒ CHÍ MINH 69
3.1 NHÓM GIẢI PHÁP V MÔ 69
3.1.1 Mục tiêu chung về hoạt động hỗ trợ các doanh nghiệp đến năm 2020 69
3.2.2 Đối với cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn Thành phố 69
3.2.2.1 Mục tiêu 69
3.2.2.2 Cơ sở đề xuất giải pháp 70
3.2.2.3 Nội dung thực hiện giải pháp 70
3.2.2.4 Lợi ích đạt được 79
3.2.3 Giải pháp hoàn thiện hành lang pháp lý 80
3.2.3.1 Mục tiêu giải pháp 80
Trang 143.2.3.2 Cơ sở đề xuất giải pháp 80
3.2.3.3 Nội dung thực hiện giải pháp 80
3.2.3.4 Lợi ích đạt được 84
3.2.4 Đánh giá tính khả thi của các giải pháp 85
3.2 NHÓM GIẢI PHÁP CỦA DOANH NGHIỆP 85
3.2.1 Mục tiêu của giải pháp 85
3.2.2 Cơ sở đề xuất giải pháp 86
3.2.3 Nội dung thực hiện giải pháp 86
3.2.4 Lợi ích đạt được 92
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 93
PHẦN KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC
Trang 15DANH ỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Quỹ PT KH&CN Quỹ phát triển Khoa học và công nghệ
R&D (Research and Development) Nghiên cứu và triển khai
Trang 16DANH ỤC CÁC ẢNG
Bảng 2.1: Ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động doanh nghiệp 44 Bảng 2.2: Tỷ lệ tự động hóa của 4 ngành trọng yếu từ năm 2014-2016 44 Bảng 2.3: Hiện trạng thiết bị sản xuất chính 45 Bảng 2.4: Doanh nghiệp thành lập Quỹ, xếp theo ngành/lĩnh vực được Thành phố
ưu tiên (tính đến ngày 31/12/2016) 53 Bảng 2.5 Bảng trích lập, sử dụng Quỹ từ năm 2009-2016 56
Trang 17DANH ỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Số doanh nghiệp thành lập Quỹ từ năm 2009-2016 50
Hình 2.2 Số doanh nghiệp thành lập Quỹ theo hình thức sở hữu vốn 50
Hình 2.3 Tỷ lệ doanh nghiệp có Quỹ theo hình thức sở hữu vốn 51
Hình 2.4 Tỷ lệ doanh nghiệp thành lập Quỹ phân theo ngành, lĩnh vực ưu tiên 54
Hình 2.5 Số doanh nghiệp trích và sử dụng Quỹ PT KH&CN 55
Hình 2.6 Tỷ lệ doanh nghiệp trích và sử dụng Quỹ PT KH&CN 56
Trang 18
PHẦN Ở ĐẦU
1 Sự cần thiết - Lý do lựa chọn đề tài
Khoa học và Công nghệ là một trong những động lực chính để thúc đẩy sự phát triển của một đất nước Trình độ khoa học và công nghệ của một nước là yếu
tố quyết định trình độ phát triển của nền kinh tế nước đó Ở nhiều quốc gia (Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan…) ngành Công nghiệp sáng tạo (Creative Industries) đóng góp của ngành Công nghệ sáng tạo có thể từ 7-15% GDP
Hoạt động khoa học công nghệ trong vài năm trở lại đây ở Việt Nam đã có những chuyển biến theo hướng tích cực về nhận thức và hành động Nếu như trước đây hoạt động khoa học công nghệ chủ yếu diễn ra ở các viện, các trường đại học hay các đơn vị nhà nước, thì ngày nay các doanh nghiệp cũng thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học, tuy số lượng không nhiều Nhận thức được vai trò của sức mạnh tổng lực mà các thành phần kinh tế, trong đó có các doanh nghiệp, đóng góp vào việc phát triển khoa học và công nghệ (KH&CN), nhiều quy định về những cơ chế tài chính khuyến khích các doanh nghiệp ứng dụng hoạt động khoa học công nghệ vào hoạt động sản xuất kinh doanh đã được ban hành
Cụ thể, Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 đã cho phép doanh nghiệp được trích một phần lợi nhuận trước thuế để lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp Tiếp đến, Nghị định số 95/2014/NĐ-CP (Chính phủ, 2014) khuyến khích doanh nghiệp trích lập quỹ phát triển khoa học và công nghệ để đầu
tư tăng cường tiềm lực khoa học công nghệ cho doanh nghiệp và cho ngành, lĩnh vực sản xuất kinh doanh, góp phần nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh Để hướng dẫn các nội dung chi và quản lý Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp cũng đã hỗ trợ nhiều cho các doanh nghiệp đối với hoạt động trích và sử dụng Quỹ, các cơ quan quản lý cũng đã ban hành Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BKHCN-BTC (Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Tài chính, 2016)
Tuy nhiên, đến nay chưa có một đánh giá cụ thể nào về thực trạng hoạt động của các Quỹ phát triển Khoa học và công nghệ (Quỹ PT KH&CN) của doanh nghiệp đối với hoạt động đổi mới công nghệ của doanh nghiệp nói riêng, cũng như
Trang 19hiệu quả phát triển kinh tế xã hội nói chung, cũng như hiệu quả của các chính sách
hỗ trợ của các cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động của Quỹ
Với mong muốn hỗ trợ doanh nghiệp trong việc tăng cường hiệu quả sử dụng Quỹ và ứng dụng khoa học công nghệ vào hoạt động sản xuất kinh doanh, tôi chọn
đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp trên địa bàn thành ph Hồ h inh” làm đề tài luận văn thạc sĩ
của mình
2 Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu
Các nghiên cứu về hoạt động khoa học và công nghệ cũng như ứng dụng khoa học và công nghệ, đổi mới công nghệ vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đã phổ biến trong giai đoạn gần đây Các nhà quản trị doanh nghiệp
và các cơ quan quản lý nhà nước đã có nhiều chính sách khuyến khích việc đầu tư cho hoạt dộng khoa học và công nghệ của chính doanh nghiệp Tuy nhiên, Quỹ PT KH&CN của doanh nghiệp và các chính sách hỗ trợ là một lĩnh vực khá mới mẻ tại Việt Nam, chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu
Một số tài liệu chính sách và nghiên cứu có liên quan đến cơ chế tài chính của hoạt động khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp, cũng như các hoạt động quản lý của nhà nước, được liệt kê và đánh giá tóm tắt như sau:
(a) Luận văn thạc sĩ Giải pháp đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu và triển khai
trong các doanh nghiệp chế biến tại tỉnh Vĩnh Long (Thái Văn Tào, 2010)
Công trình nghiên cứu đã nghiên cứu thực trạng, nhu cầu về hoạt động khoa học và công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam nói chung và thực trạng, nhu cầu tổng quan của doanh nghiệp tỉnh Vĩnh Long nói riêng như: trình độ nghiên cứu, triển khai và phát triển công nghệ; một số nguyên nhân hạn chế của việc đầu tư vào KH&CN của các doanh nghiệp Đề xuất giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu và triển khai trong các doanh nghiệp chế biết tại tỉnh Vĩnh Long: Hoàn thiện cơ chế hỗ trợ đổi mới hệ thống công nghệ tại doanh nghiệp thuộc tầm vĩ mô; Hoàn thiện cơ chế hỗ trợ đổi mới hệ thống công nghệ tại doanh nghiệp thuộc tỉnh Vĩnh Long; Những cơ chế và giải pháp thực hiện khuyến nghị ban hành, nhằm đẩy
Trang 20mạnh hoạt động nghiên cứu, triển khai và đổi mới công nghệ đối với doanh nghiệp chế biến tỉnh Vĩnh Long
(b) Bài viết của Huỳnh Trung Kim (2013), Thực trạng và giải pháp thúc đẩy việc thành lập, nâng cao hiệu quả hoạt động Quỹ phát triển Khoa học và công nghệ cấp tỉnh, doanh nghiệp đăng trên tạp chí Khoa học và Công nghệ, đánh giá: Trong
điều kiện ngân sách nhà nước đầu tư cho phát triển KH&CN nói chung, cho hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ nói riêng còn hạn chế, đầu tư của
xã hội cho KH&CN còn ít, thì việc hình thành các Quỹ KH&CN quốc gia, Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia, Quỹ phát triển KH&CN của địa phương, của doanh nghiệp
có ý nghĩa rất quan trọng
(c) Báo cáo Quỹ Khoa học và ông nghệ (TTTTTL KH&CN quốc gia,
2001) giới thiệu những nguyên tắc hoạt động của các quỹ KH&CN trên thế giới nhằm rút ra những bài học và kinh nghiệm xây dựng và tổ chức hoạt động của các Quỹ KH&CN, một hình thức hoạt động đầu tư kinh phí cho hoạt động nghiên cứu phát triển có hiệu quả đang được áp dụng rộng rãi trên thế giới; nêu kinh nghiệm đầu tư cho hoạt động công nghệ của các nước, có thể xem xét và vận dụng cho mô hình, xây dựng chính sách hỗ trợ tại Việt Nam
(d) Đề tài cấp nhà nước Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng cơ chế tạo lập, quản lý và sử dụng nguồn hình thành Quỹ phát triển khoa học và công nghê trong doanh nghiệp (Ngô Thế Chi, 2012) Đề tài đánh giá thực trạng nghiên
cứu, đầu tư phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp hiện nay Đánh giá, phân tích thực trạng việc huy động nguồn tài chính cho đầu tư phát triển khoa học và công nghệ trong khu vực doanh nghiệp ở Việt Nam, tập trung vào phân tích thực trạng quản lý, sử dụng quỹ phát triển KH&CN trong các doanh nghiệp Đề xuất giải pháp nhằm tăng cường đầu tư khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp;
cơ chế chính sách Nhà nước thúc đẩy việc huy động và quản lý, sử dụng nguồn tài chính cho khoa học và công nghệ đối với doanh nghiệp; cơ chế quản lý sử dụng nguồn quỹ phát triển khoa học và công nghệ tại doanh nghiệp
(e) Đề án “Đổi mới công nghệ công nghiệp sản xuất phục vụ chuyển dịch cơ
Trang 21cấu công nghiệp trên địa bàn Thành ph ” (Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM,
2008) Đề án xây dựng một hệ thống các giải pháp và công cụ mang tính tổng thể nhằm phối hợp cùng các Sở, Ban - ngành liên quan để tạo ra tác động khuyến khích, thúc đẩy và hỗ trợ tích cực cho các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố nhanh chóng đổi mới công nghệ và áp dụng các tiêu chuẩn tiên tiến trong quản lý, điều hành sản xuất trên cơ sở tạo mối liên kết và đặt đúng vị trí của các đối tượng tham gia Đề án dựa trên nguyên tắc xây dựng một thị trường công nghệ bền vững nhằm tạo động lực giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh
(g) Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành ph Hồ h inh lần thứ X nhiệm kỳ 2015-2020, có đề cập đến việc xây dựng các chính sách đột phá hỗ trợ cho hoạt
động KH&CN và có chỉ đạo "Phát triển mạnh mẽ khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội gắn với phát triển kinh tế tri thức Đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý, chính sách tài chính để tạo bước phát triển đột phá cho khoa học - công nghệ; ưu tiên đầu tư cho khoa học - công nghệ so với các lĩnh vực khác; xác định danh mục sản phẩm chủ yếu để đặt hàng với các nhà khoa học, cơ quan nghiên cứu, gắn kết nghiên cứu, đào tạo với sản xuất
- kinh doanh."
3 ục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 ục tiêu nghiên cứu
Đánh giá thực trạng hoạt động sử dụng Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Từ đó đưa ra một
số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động sử dụng Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp và hoàn thiện các chính sách hỗ trợ từ cơ quan quản lý nhà nước
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về khoa học công nghệ
- Đánh giá thực trạng hoạt động sử dụng Quỹ phát triển khoa học công nghệ
của các doanh nghiệp
- Tìm ra những thuận lợi, khó khăn hạn chế và nguyên nhân tồn tại của việc
Trang 22sử dụng Quỹ trong doanh nghiệp
- Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sử dụng Quỹ
khoa học công nghệ của các doanh nghiệp
4 Đ i tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đ i tượng nghiên cứu
Hiệu quả sử dụng Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của các doanh nghiệp
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: các doanh nghiệp đã thành lập, trích và sử dụng Quỹ phát
triển khoa học và công nghệ trên địa bàn TP Hồ Chí Minh
- Thời gian: giai đoạn 2014 – 2016, có mở rộng khảo sát thêm số liệu của
giai đoạn từ 2009 đến năm 2013
- Nội dung: Nghiên cứu các nội dung chính trong việc sử dụng Quỹ phát
triển khoa học và công nghệ của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh như:
Đánh giá thực trạng hoạt động sử dụng Quỹ phát triển khoa học công nghệ của các doanh nghiệp
Tìm ra những thuận lợi, khó khăn hạn chế và nguyên nhân tồn tại của việc sử dụng Quỹ trong doanh nghiệp
Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sử dụng Quỹ khoa học công nghệ của các doanh nghiệp
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính để giải quyết các vấn đề nghiên cứu Vì vậy các phương pháp phụ trợ phục vụ cho phương pháp nghiên cứu định tính bao gồm phân tích định tính và thu thập thông tin từ thực tế, lấy các sự kiện thực tế làm cơ sở và căn cứ khoa học để phân tích…
Trang 235.1 Phương pháp tổng hợp, so sánh
Nghiên cứu và tổng hợp các văn bản, tài liệu về hoạt động sử dụng Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của các doanh nghiệp,… Tác giả tiến hành lập bảng, biểu, đồ thị… để so sánh và phân tích đánh giá nội dung cần tập trung nghiên cứu
5.2 Phương pháp khảo sát định tính, phỏng vấn nhóm và tay đôi
các nhà quản lý trong doanh nghiệp và các cán bộ và chuyên viên trong cơ
quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ tại các hội nghị hội thảo, các buổi họp, làm việc để thu thập ý kiến của các nhân sự làm về hoạt động quản lý Quỹ và trong công tác quản lý nhà nước về Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp nhằm hiểu rõ hơn về hoạt động sử dụng Quỹ trong giai đoạn hiện nay
6 Đóng góp của luận văn
Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp được đề xuất nhằm (i) góp phần huy động nguồn lực xã hội
để nâng cao tiềm lực khoa học và công nghệ, tạo nền tảng và động lực phát triển kinh tế - xã hội Thành phố và (ii) hoàn thiện các chính sách hỗ trợ từ cơ quan quản
lý nhà nước đối với hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng khoa học và công nghệ, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và có thể nhân rộng điển hình cho các tỉnh thành trên cả nước
7 Kết cấu luận văn
Nội dung chính của luận văn bao gồm các chương sau:
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CỦA CÁC QUỸ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH
Chương 3: MỘT S GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH
Trang 24CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
1.1 TỔNG QUAN VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
1.1.1 Khoa học và Công nghệ
Theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013, Khoa học là hệ thống tri thức
về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và
tư duy ông nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không
kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm
Theo Atlas công nghệ của Trung tâm Chuyển giao công nghệ Châu Á – Thái Bình Dương (APCTT, 1997), công nghệ gồm bốn thành phần:
Một là, Phần Kỹ thuật/Thiết bị (Technoware - T), gồm mọi phương tiện vật chất như: công cụ, trang bị, máy móc, vật liệu, phương tiện vật chất,… ;
Hai là, PhầnCon người (Humanware - H), gồm năng lực của con người như:
kỹ năng, kinh nghiệm, tính sáng tạo, kinh nghiệm lãnh đạo,……;
Ba là, PhầnThông tin (Inforware - I), gồm các dữ liệu/tư liệu sử dụng trong công nghệ, kỹ thuật, thị trường, tổ chức,….;
Bốn là, Phần Tổ chức (Organware - O), gồm trách nhiệm, quyền hạn, mối quan hệ - liên kết trong/ngoài,…
Trong bốn thành phần trên, phần Kỹ thuật/Thiết bị còn được gọi là "phần cứng", các thành phần còn lại được gọi là "phần mềm" Các thành phần đó tác động qua lại và tương thích lẫn nhau trong quá trình sản xuất Hiệu quả của công nghệ có phát huy được hay không là phụ thuộc trực tiếp vào sự kết hợp giữa các thành phần này của công nghệ Nếu thiết bị máy móc hiện đại mà không có đội ngũ lao động lành nghề, có trình độ, khả năng sắp xếp, tổ chức tốt, hoặc không nắm bắt được đầy
đủ thông tin, bí quyết liên quan đến công nghệ thì khó có thể phát huy được hiệu quả của công nghệ
Trang 251.1.2 Hoạt động khoa học công nghệ
Theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013, Hoạt động khoa học và công nghệ là hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ (Quốc Hội, 2013)
1.1.3 Vai trò của khoa học công nghệ đ i với phát triển kinh tế
ở rộng khả năng sản xuất, thúc ẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế:
K.Marx đã dự đoán rằng: đến giai đoạn công nghiệp, việc sản sinh ra sự giàu có thực sự không phụ thuộc nhiều vào thời gian lao động, mà lại phần lớn phụ thuộc vào tình trạng chung của khoa học và sự tiến bộ kỹ thuật hay sự vận dụng khoa học vào sản xuất Như vậy, KH&CN không chỉ tạo ra công cụ lao động mới,
mà cả phương pháp sản xuất mới, do đó mở ra khả năng mới về kết quả sản xuất và tăng năng suất lao động
Dưới tác động của khoa học và công nghệ, các nguồn lực sản xuất được mở rộng Mở rộng khả năng phát hiện, khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên; làm biến đổi chất lượng nguồn lao động Cơ cấu lao động xã hội chuyển từ lao động giản đơn là chủ yếu sang lao động bằng máy móc, có kỹ thuật nhờ đó nâng cao năng suất lao động Mở rộng khả năng huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn vốn đầu tư một cách có hiệu quả biểu hiện thông qua quá trình hiện đại hoá các tổ chức trung gian tài chính, hệ thống thông tin liên lạc, giao thông vận tải
Khoa học công nghệ với sự ra đời của các công nghệ mới đã làm cho nền kinh tế chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu tức là tăng trưởng kinh tế đạt được dựa trên việc nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất Với vai trò này, KH&CN là phương tiện để chuyển nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế tri thức, trong đó phát triển nhanh các ngành công nghệ cao, sử dụng nhiều lao động trí tuệ là đặc điểm nổi bật
Trang 26Thúc ẩy quá trình hình thành và chuyển d ch cơ cấu kinh tế:
Sự phát triển mạnh mẽ của KH&CN không chỉ đẩy nhanh tốc độ phát triển của các ngành mà còn làm cho phân công lao động xã hội ngày càng trở nên sâu sắc
và đưa đến phân chia ngành kinh tế thành nhiều ngành nhỏ, xuất hiện nhiều ngành, nhiều lĩnh vực kinh tế mới Từ đó làm thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực thể hiện:
- Tỷ trọng trong GDP của ngành công nghiệp và dịch vụ có xu hướng tăng dần, còn của ngành nông nghiệp thì ngày càng giảm
- Cơ cấu kinh tế trong nội bộ mỗi ngành cũng biến đổi theo hướng ngày càng mở rộng quy mô sản xuất ở những ngành có hàm lượng công nghệ cao Lao động tri thức ngày càng chiếm tỷ trọng lớn, mức độ đô thị hoá cũng ngày càng tăng nhanh Tất cả trở thành đặc trưng của sự phát triển khoa học và công nghệ
Tăng sức cạnh tranh cho hàng hoá, thúc ẩy phát triển kinh tế th trường:
Mục tiêu cuối cùng của các doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận Muốn vậy các doanh nghiệp phải sản xuất những mặt hàng có nhu cầu lớn, tối thiểu hoá các chi phí yếu tố đầu vào, nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã, hình thức sản phẩm cho phù hợp Những yêu cầu này chỉ được thực hiện khi áp dụng tiến
bộ KH&CN vào trong sản xuất và kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trường, việc áp dụng tiến bộ KH&CN đã có những tác động như các yếu tố sản xuất như tư liệu sản xuất, lao động ngày càng hiện đại và đồng bộ; quy mô sản xuất mở rộng, thúc đẩy sự ra đời và phát triển của nhiều loại hình doanh nghiệp mới; tạo ra nhịp độ cao hơn trong mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh; cũng như việc xây dựng chiến lược kinh doanh từ chỗ hướng nội, thay thế hàng nhập khẩu sang hướng ngoại, hướng vào xuất khẩu, từ thị trường trong nước hướng ra thị trường thế giới, tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế Vì vậy mà hiện nay các nước đi đầu về khoa học công nghệ không chỉ có ưu thế trong cạnh tranh trên thị trường thế giới, mà còn có ưu thế về xuất khẩu tư bản, chuyển giao KH&CN sang các nước khác
Khoa học và công nghệ là một công cụ mạnh i với phát triển con người:
Trang 27Khoa học công nghệ đặc biệt là công nghệ sinh học, công nghệ gen ngày càng phát triển và được ứng dụng rộng rãi vào công tác chăm sóc sức khoẻ của người dân Đã có những bước nhảy vọt trong lĩnh vực y tế nhất là trong việc phát minh ra những loại thuốc, vắc – xin, các thiết bị y tế Đồng thời việc phát triển những công nghệ sạch đã cải thiện môi trường sống của con người, giảm việc ô nhiễm môi trường Tất cả những điều này đã góp phần cải thiện sức khoẻ của con người, tăng tuổi thọ trung bình
Khoa học và công nghệ đến với con người thông qua quá trình giáo dục, đào tạo và hoạt động thực tiễn trang bị cho con người những tri thức và kinh nghiệm cần thiết để cho họ có thể nhanh chóng thích nghi với các trang thiết bị hiện đại, tiên tiến trong sản xuất, và đời sống Mặt khác, do sự thường xuyên đổi mới theo hướng hiện đại dần của các tranh thiết bị sản xuất và đời sống buộc con người phải thường xuyên học tập, trau dồi kiến thức, chuyên môn để khỏi bị đào thải ra khỏi quá trình sản xuất xã hội thích ứng với cuộc sống hiện đại Chính nhờ vậy mà trình độ và chất lượng của đội ngũ những người lao động trong lực lượng sản xuất không ngừng được nâng cao và hiện đại hoá
KH&CN tác động thông qua việc đổi mới sản phẩm, và đổi mới quy trình sản xuất đã làm tăng quy mô sản xuất; tăng năng suất của máy móc thiết bị Một mặt KH&CN kích cầu; mặt khác nó giúp tăng năng suất qua đó tăng cung và từ đó nền kinh tế tăng trưởng và làm tăng thu nhập bình quân; cải thiện mức sống của người dân
ó vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện cơ chế tổ chức, quản lý sản xuất, kinh doanh:
Trong sản xuất nói riêng, trong mọi hoạt động của xã hội nói chung nếu không có một cơ chế tổ chức quản lý điều hành hợp lý thì chắc chắn không thể mang lại kết quả tích cực Nhiệm vụ quan trọng đầu tiên của công tác tổ chức quản
lý và liên kết các yếu tố trang thiết bị, máy móc, con người và thông tin lại với nhau thành một tổ hợp vận hành hợp lý, đồng điệu nhằm đạt đến một mục tiêu nhất định Nhiệm vụ quan trọng của quản lý là điều hành, phân phối, sắp xếp đúng người,
Trang 28đúng việc nhờ đó mà có thể khai thác, phát huy sở trường, sở đoản của từng con người, kích thích lợi ích người lao động để họ có thể bộc lộ hết những khả năng, thế mạnh của mình
Những công việc thì ngày càng rộng lớn, phức tạp, vừa tỉ mỉ, chi tiết của công tác tổ chức và quản lý ngày nay đang được thực hiện một cách nhanh chóng hơn, hiệu quả hơn nhờ có sự phát triển của khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin Khoa học công nghệ ngày nay cũng đã đúc rút và xây dựng nên nhiều những tri thức, cả tri thức lý luận và tri thức kinh nghiệm trong lĩnh vực tổ chức và quản lý Tổ chức và quản lý đã trở thành một khoa học - khoa học quản lý
Góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục ti u phát triển ền vững của
xã hội
Phát triển bền vững hay phát triển lâu bền đang là quan tâm sâu sắc của toàn nhân loại KH&CN góp phần quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững Những đóng góp có tính chất quyết định của KH&CN vào thúc đẩy sản xuất, nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh là điều đã quá rõ ràng Ngoài ra sự phát triển của KH&CN đã giảm bớt sự lãng phí các nguồn tài nguyên thiên nhiên và
ô nhiễm môi trường; khắc phục những hậu quả tiêu cự do sản xuất xã hội mang lại giúp cho tăng trưởng kinh tế không những nhanh mà còn an toàn
Đối với mục tiêu sinh thái, trước tiên KH&CN cung cấp cho con người những tri thức về môi trường thiên nhiên, qua đó giúp con người có cơ sở để xây dựng ý thức sinh thái KH&CN giúp con người cập nhập được thông tin về môi trường từ đó con người có thể chủ động phòng tránh, khắc phục để giảm thiểu những hậu quả xấu, những rủi ro không đáng có
Bản thân KH&CN đang có tác động rất mạnh mẽ, toàn diện và sâu sắc lên sự phát triển của xã hội loài người KH&CN đặc biệt là công nghệ thông tin góp phần
to lớn đối với công cuộc xoá đói giảm nghèo, thực hiện công bằng, bình đẳng trong
xã hội, tự do dân chủ: giúp cho người dân dễ dàng tiếp cận với các thông tin hơn, tạo ra một cơ chế phản ánh tiếng nói của người dân đặc biệt là của người nghèo đến
chính phủ hiệu quả hơn, góp phần nâng cao chất lượng của các dịch vụ công
Trang 291.2 QUỸ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA DOANH NGHIỆP
1.2.1 Khái niệm
Vấn đề cấp kinh phí cho hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới công nghệ tại doanh nghiệp không phải là vấn đề mới lạ, tuy nhiên, trong những năm gần đây, việc nhà nước thúc đẩy đầu tư của xã hội cho KH&CN, thông qua việc hỗ trợ các tổ chức, cá nhân doanh nghiệp thành lập Quỹ đang là vấn
đề được quan tâm
Quỹ phát triển Khoa học và ông nghệ của doanh nghiệp được quy định là
“Quỹ do doanh nghiệp thành lập để tạo nguồn tài chính đầu tư cho hoạt động khoa học và công nghệ của doanh nghiệp tại Việt Nam thông qua hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và phát triển, đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm, hợp lý hoá sản xuất nhằm nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp” (Bộ Tài chính, 2011)
Trước đó, Quỹ cũng được hiểu là tổ chức do doanh nghiệp thành lập để đầu
tư cho hoạt động khoa học và công nghệ nhằm nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua nghiên cứu, ứng dụng, đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm, hợp
lý hoá sản xuất của doanh nghiệp (Bộ Tài chính, 2007)
1.2.2 Thành lập và sử dụng Quỹ
Một số văn bản quy phạm pháp luật có quy định về việc thành lập và hướng dẫn sử dụng Quỹ phát triển khoa học và công nghệ như sau:
Theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000 (đã hết hiệu lực), Điều 38, về
“Doanh nghiệp đầu tư phát triển KH&CN”, trong đó quy định:
“- Doanh nghiệp được dành một phần vốn để đầu tư phát triển khoa học và công nghệ nhằm đổi mới công nghệ và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm Vốn đầu tư phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp được tính vào giá thành sản phẩm
- Doanh nghiệp được lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ để chủ
động đầu tư phát triển khoa học và công nghệ”
Trang 30Điều 59 và Điều 63 Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 (Quốc Hội, 2013) quy định:
“Nhà nước thành lập, khuyến khích tổ chức, cá nhân thành lập quỹ để huy động nguồn lực xã hội nhằm hỗ trợ, đầu tư cho hoạt động khoa học và công nghệ” (Điều 59)
“- Doanh nghiệp ngoài nhà nước được khuyến khích thành lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của mình hoặc đóng góp vào Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của ngành, địa phương và được hưởng quyền lợi theo quy định của Quỹ
- Doanh nghiệp nhà nước phải trích một tỷ lệ tối thiểu thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp để lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp” (Điều 63)
Quyết định số 36/2007/QĐ-BTC (Bộ Tài chính, 2007) đã ban hành các quy định về tổ chức và hoạt động của Quỹ, tuy nhiên, không quy định mức trích Quỹ cụ thể Điều này đã làm cho các doanh nghiệp gặp khó khăn khi muốn trích Quỹ để sử dụng Đến Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 2008 (Điều 17) mới có quy định
“doanh nghiệp được trích tối đa 10% thu nhập tính thuế hàng năm để lập Quỹ” và tại Thông tư 15/2011/TT-BTC (Bộ Tài chính, 2011) bổ sung quy định “doanh nghiệp tự quyết định mức trích cụ thể nhưng tối đa không quá 10% thu nhập tính thuế trong kỳ”
Hiện nay, theo Khoản 1, Khoản 2 Điều 9 Nghị định số 95/2014/NĐ-CP của Chính phủ có quy định về việc trích lập Quỹ như sau: “Doanh nghiệp nhà nước hàng năm phải trích từ 3% đến 10% thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp để lập quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp” và “Doanh nghiệp ngoài nhà nước được quyền trích từ thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp một
tỷ lệ hợp lý, tối đa 10% để lập quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp” (Chính phủ, 2014)
Theo Khoản 1, Khoản 2, Điều 4 Thông tư liên tịch số BKHCN-BTC (Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Tài chính, 2016), Quỹ được hình
Trang 3112/2016/TTLT-thành từ các nguồn sau:
(1) Từ Thu nhập t nh thuế thu nhập doanh nghiệp trong kỳ t nh thuế, cụ thể:
- Đối với doanh nghiệp nhà nước: Trích từ 3% đến 10% thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp trong kỳ Tỷ lệ trích cụ thể căn cứ vào khả năng và nhu cầu
sử dụng nguồn vốn cho hoạt động khoa học và công nghệ của doanh nghiệp nhà nước;
- Đối với doanh nghiệp khác: Tự quyết định mức trích cụ thể nhưng tối đa không quá 10% thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp trong kỳ
(2) Điều chuyển Quỹ:
- Điều chuyển từ Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của tổng công ty, công ty mẹ xuống Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của các công ty con hoặc doanh nghiệp thành viên; hoặc
- Điều chuyển từ Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của các công ty con, doanh nghiệp thành viên về Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của tổng công ty, công ty mẹ
Việc Điều chuyển Quỹ chỉ áp dụng đối với các công ty con hoặc doanh nghiệp thành viên mà công ty mẹ sở hữu 100% vốn và không áp dụng đối với các trường hợp sau:
+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Điều chuyển cho công ty mẹ ở nước ngoài;
+ Công ty mẹ ở Việt Nam điều chuyển cho công ty con ở nước ngoài
1.2.3 Thẩm quyền thành lập và hình thức tổ chức Quỹ
Trước đây, theo quy định tại Điều 4 Quyết định số 36/2007/QĐ-BTC (Bộ Tài chính, 2007):
- Căn cứ vào nhu cầu và khả năng tài chính đầu tư cho hoạt động khoa học
và công nghệ, Chủ tịch Hội đồng quản trị (đối với công ty cổ phần), Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Chủ sở hữu công ty (đối với công ty trách nhiệm hữu hạn,
Trang 32công ty hợp danh), Chủ doanh nghiệp tư nhân (đối với doanh nghiệp tư nhân) hoặc Tổng Giám đốc, Giám đốc (đối với doanh nghiệp không có Hội đồng quản trị) của doanh nghiệp (sau đây gọi tắt là: Người có thẩm quyền cao nhất của doanh nghiệp) quyết định thành lập Quỹ thuộc doanh nghiệp
- Quỹ có thể tổ chức dưới một trong hai hình thức là Đơn vị độc lập có tư cách pháp nhân đầy đủ trực thuộc doanh nghiệp hoặc là ột ộ phận (không có tư
cách pháp nhân riêng) thuộc doanh nghiệp (Bộ Tài chính, 2007)
Sau đó, năm 2011, theo quy định tại Thông tư 15/2011/TT-BTC, Quỹ không được thành lập với hình thức là Đơn vị có tư cách pháp nhân như trước (thẩm quyền thành lập Quỹ không thay đổi so với quy định tại Quyết định số 36/2007/QĐ-BTC), khi đó, “Quỹ là một ộ phận, không có tư cách pháp nhân và trực thuộc doanh
nghiệp, do người có thẩm quyền cao nhất của doanh nghiệp chịu trách nhiệm điều
hành” (Bộ Tài chính, 2011)
Đến năm 2012, thẩm quyền thành lập Quỹ được điều chỉnh tại Điều 1 Thông
tư số 105/2012/TT-BTC, cụ thể: “Căn cứ nhu cầu và khả năng tài chính đầu tư cho hoạt động khoa học và công nghệ của doanh nghiệp, cấp có thẩm quyền cao nhất của doanh nghiệp quyết định thành lập, quy định nhiệm vụ, quyền hạn, bộ máy tổ
chức của Quỹ Cấp có thẩm quyền cao nhất của doanh nghiệp bao gồm: Đại hội
ng cổ ông (đối với công ty cổ phần); ội ng thành vi n hoặc chủ sở hữu
công ty (đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh); Chủ doanh nghiệp
tư nhân (đối với doanh nghiệp tư nhân) hoặc Tổng Giám đốc, Giám đốc (đối với doanh nghiệp không có hội đồng quản trị) của doanh nghiệp” (Bộ Tài chính, 2012)
Hiện nay, theo Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BKHCN-BTC (quy định hiện hành) (Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Tài chính, 2016):
- Quỹ có thể tổ chức dưới một trong hai hình thức: (1) Thành lập tổ chức
không có tư cách pháp nhân và trực thuộc doanh nghiệp; hoặc (2) Không thành lập tổ chức Quỹ và do cán ộ của doanh nghiệp ki m nhiệm thực hiện các hoạt
động
Trang 33- “Hình thức tổ chức của Quỹ do cấp có thẩm quyền của doanh nghiệp quyết định”, tuy nhiên, không quy định rõ cấp có thẩm quyền của doanh nghiệp là
cá nhân hoặc tổ chức nào
Thứ ba, chi cho “Đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ của doanh nghiệp”
Thứ tư, chi cho “Hoạt động hợp tác về khoa học và công nghệ”
Thứ năm, chi cho “Hoạt động quản lý Quỹ”
Tuy nhiên, theo từng giai đoạn, việc quy định về các nội dung chi sử dụng Quỹ trong các văn bản quy phạm pháp luật cũng có sự khác biệt, có bổ sung về nội dung chi, kiểm soát nội dung chi với mong muốn doanh nghiệp sử dụng nguồn tiền của Quỹ một cách tốt nhất, tránh đầu tư những công nghệ cũ, lạc hậu Cụ thể:
Theo quy định của Quyết định số 36/2007/QĐ-BTC (Bộ Tài chính, 2007), nội dung chi sử dụng Quỹ chỉ nêu những đầu mục chi như đã nói trên, không quy định cụ thể nội dung chi của từng mục Việc quy định này có ưu điểm là doanh nghiệp có thể chủ động trong các nội dung chi nhưng cũng có một số doanh nghiệp
Trang 34lại chưa nắm rõ chi cho những hoạt động KH&CN sẽ là những nội dung nào Bên cạnh đó, không quy định nội dung chi đối với hoạt động động hợp tác về KH&CN
Với quy định tại Thông tư số 15/2011/TT-BTC, nội dung chi đã được điều chỉnh, làm rõ hơn so với trước, như: (1) Chi thực hiện cho nhiệm vụ KH&CN của
doanh nghiệp tại Việt Nam; (2) Chi phí cho các hoạt động hợp tác nghiên cứu, triển khai về khoa học và công nghệ với các doanh nghiệp trong nước phải ược cơ
quan quản lý Nhà nước về K & N tại Việt Nam ph duyệt; (3) Không sử dụng
nguồn vốn của Quỹ để đầu tư cho các hoạt động khác không gắn với việc phát triển
KH&CN của doanh nghiệp tại Việt Nam; (4) Đối với chi cho tài sản cố định, doanh nghiệp ghi giảm Quỹ tương ứng và không phải tr ch khấu hao mà theo dõi hao mòn tài sản cố định; (5) Không có nội dung chi cho hoạt động hợp tác nghi n cứu
(Bộ Tài chính, 2011)
Sau 01 năm triển khai Thông tư 15/2011/TT-BTC, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 105/2012/TT-BTC về sửa đổi, bổ sung Thông tư số 15/2011/TT-BTC, trong đó, tiếp tục điều chỉnh, làm rõ nội dung chi sử dụng Quỹ, cụ thể: (1) cho phép
chi đầu tư Máy móc, thiết bị để đổi mới công nghệ, việc đầu tư này phải ảm ảo
việc thay thế một phần hay toàn ộ công nghệ ã, ang sử dụng ằng công nghệ khác ti n tiến hơn, hiệu quả hơn và ược cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền xác nhận, tuy nhiên lại không quy định rõ đây là cơ quan nào; (2) Các sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất ược công nhận ởi cơ quan, tổ chức
theo quy định tại Nghị định số 13/2012/NĐ-CP ngày 02/3/2012 của Chính phủ và
việc chi thưởng sáng kiến phải theo quy chế quy nh cụ thể (theo Hợp đồng lao
động, Thoả ước lao động tập thể hoặc theo Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ do người có thẩm quyền cao nhất của doanh nghiệp quyết định); (3) Bổ sung nội dung
“Chi phí cho các hoạt động hợp tác nghiên cứu, triển khai về khoa học và công
nghệ với các doanh nghiệp trong nước” và quy định rõ các hoạt động hợp tác nghiên cứu, triển khai về KH&CN theo các danh mục thuộc lĩnh vực KH&CN
ược cơ quan có thẩm quyền an hành hoặc cho phép nghi n cứu, triển khai
(như Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển, Danh mục sản phẩm
Trang 35công nghệ cao được khuyến khích phát triển được ban hành kèm theo Quyết định số 49/2010/QĐ-TTg ngày 19/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ, ).; (4) Các tổ chức, doanh nghiệp trong nước là các tổ chức, doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật và có chức năng nhiệm vụ theo đúng chuyên ngành cần hợp tác nghiên cứu (Bộ Tài chính, 2012)
Đến nay, Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BKHCN-BTC tiếp tục, điều chỉnh, bổ sung nội dung chi Quỹ theo hướng giao quyền tự chủ hơn cho doanh nghiệp, không can thiệp quá sâu vào công tác quản lý sử dụng Quỹ của doanh nghiệp như quản lý nhiệm vụ KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước, cụ thể như sau: (1) Bổ sung chi cho thực hiện nhiệm vụ KH&CN cấp Bộ, tỉnh (đối ứng kinh phí
theo tiến độ thực hiện); (2) Không ắt uộc doanh nghiệp khi đầu tư máy móc thiết
bị để đổi mới công nghệ phải gửi lấy ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước như trước mà chỉ cần cấp có thẩm quyền của doanh nghiệp phê duyệt là được; (3) Chi tiết các nội dung chi cho đào tạo nguồn nhân lực KH&CN của doanh nghiệp (Đào tạo bằng cấp tại các cơ sở giáo dục đại học; Đào tạo theo nhóm nghiên cứu; Đào tạo chuyên gia trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ ưu tiên, trọng điểm, các lĩnh vực khoa học và công nghệ mới; Nghiên cứu sau đại học; Bồi dưỡng nâng cao trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức, kỹ năng quản lý khoa học và công nghệ; (4) Định mức chi cho các hoạt động đào tạo nhân lực KH&CN được áp dụng các quy định hiện hành của Nhà nước về định mức chi cho đào tạo; (5) Bổ sung đối tượng hợp tác nghiên cứu, không chỉ là những tổ chức, doanh nghiệp trong nước như
trước mà mở rộng thêm đối tượng thành “Các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp trong nước và ngoài nước”; (6) Bổ sung các hình thức hợp tác về KH&CN (Đặt
hàng nghiên cứu khoa học; Chuyển giao công nghệ; Đào tạo; Thuê tư vấn; Hợp tác nghiên cứu KH&CN); (7) Bổ sung và làm rõ các nội dung chi cho hoạt động quản
lý Quỹ (02 Thông tư trước đã không quy định chi nội dung này), (Bộ KH&CN và
Bộ Tài chính, 2016)
Trang 361.2.5 Về Xử lý Quỹ khi doanh nghiệp không sử dụng, sử dụng không hết và sử dụng không đúng mục đích
Với Quyết định số 36/2007/QĐ-BTC, mỗi chu kỳ 05 năm, nếu số dư của quỹ
còn từ 50% trở l n trên tổng số lợi nhuận đã trích trong 05 năm, thì doanh nghiệp
phải trích nộp ngân sách nhà nước số thuế thu nhập doanh nghiệp trên số lợi nhuận trước thuế mà Nhà nước để lại cho doanh nghiệp tương ứng với số dư còn lại của quỹ cộng phần quỹ sử dụng không đúng mục đích và phần lãi phát sinh từ khoản lợi nhuận trước thuế đó Lãi suất tính lãi được áp dụng theo lãi suất tiền gửi không kỳ hạn của Ngân hàng nơi Quỹ mở tài khoản giao dịch và thời gian tính lãi là 2 năm (Bộ Tài chính, 2007)
Theo Thông tư 15/2011/TT-BTC, nếu Quỹ không được sử dụng hoặc sử
dụng không hết 70% hoặc sử dụng không đúng mục đích thì doanh nghiệp phải
nộp ngân sách nhà nước phần thuế thu nhập doanh nghiệp tính trên khoản thu nhập
đã trích lập Quỹ mà không sử dụng hoặc sử dụng không hết 70% hoặc sử dụng không đúng mục đích và phần lãi phát sinh từ số thuế thu nhập doanh nghiệp đó
Lãi suất tính lãi là lãi suất trái phiếu kho ạc loại kỳ hạn một năm áp dụng tại thời
điểm thu hồi và thời gian tính lãi là hai năm (Bộ Tài chính, 2011)
Với Thông tư liên tịch 12/2016/TTLT-BKHCN-BTC, chia thành 02 hình thức xử lý cho đối tượng doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoài nhà nước,
cụ thể: (1) Với doanh nghiệp nhà nước, thì phải nộp một phần Quỹ chưa sử dụng hoặc sử dụng không hết về Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia hoặc Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của các bộ chủ quản, tỉnh, thành phố nơi doanh nghiệp đăng ký nộp thuế (được xác định tối thiểu bằng 20% số Quỹ đã trích lập không được sử dụng, sử dụng không hết 70% số Quỹ đã trích lập kể cả nhận điều chuyển) Trường hợp doanh nghiệp nhà nước sử dụng Quỹ không đúng mục đích thì doanh nghiệp phải nộp ngân sách nhà nước phần thuế thu nhập doanh nghiệp tính trên Khoản thu nhập đã trích lập quỹ mà sử dụng không đúng mục đích
và phần lãi phát sinh từ số thuế thu nhập doanh nghiệp đó; (2) Với doanh nghiệp
Trang 37khác (không phải doanh nghiệp nhà nước), trường hợp doanh nghiệp không đóng góp vào quỹ phát triển khoa học và công nghệ của tỉnh, thành phố hoặc có đóng góp vào Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của tỉnh, thành phố nhưng Quỹ không được sử dụng, sử dụng không hết 70% số quỹ (bao gồm cả phần có đóng góp vào quỹ phát triển khoa học và công nghệ của tỉnh, thành phố nếu có) hoặc sử dụng Quỹ không đúng mục đích thì doanh nghiệp phải nộp ngân sách nhà nước phần thuế thu nhập doanh nghiệp tính trên Khoản thu nhập đã trích lập Quỹ mà không sử dụng, sử dụng không hết 70% hoặc sử dụng không đúng mục đích và phần lãi phát sinh từ số thuế thu nhập doanh nghiệp đó (Bộ KH&CN và Bộ Tài chính, 2016)
Nhận xét: Trong gần 10 năm (từ 2007 - 2016), qua 4 lần ban hành các Quyết định, Thông tư liên quan đến huớng dẫn hoạt động của Quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp, có khá nhiều quy định được ban hành và điều chỉnh, chủ yếu là những nội dung liên quan đến việc chi sử dụng Quỹ, các quy định thay đổi liên tục theo chiều hướng giao dần quyền chủ động cho doanh nghiệp trong việc sử dụng Quỹ PT KH&CN, hạn chế được việc kiểm soát chặt chẽ như đối với thực hiện nhiệm KH&CN sử dụng ngân sách
1.3 NH NG YẾU T ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ SỬ DỤNG QUỸ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA DOANH NGHIỆP
Theo một nghiên cứu gần đây về cơ chế tạo lập, quản lý và sử dụng nguồn hình thành Quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp (Ngô Thế Chi, 2012), các yếu tố chủ yếu cần được nghiên cứu trong cơ sở lý luận cho việc phân tích thực trạng tạo lập, quản lý và sử dụng nguồn hình thành quỹ KH&CN của doanh nghiệp gồm các yếu tố vĩ mô và các yếu tố thuộc bản thân doanh nghiệp Các yếu tố này được tóm tắt như sau:
a) Các yếu tố vĩ mô
(i) Trình độ phát triển của nền KH&CN: bao gồm các yếu tố về cơ sở hạ tầng
và trình độ nhân lực nói chung; mức độ phát triển của các đơn vị đào tạo, nghiên cứu, cơ sở thực nghiệm; thị trường KHCN và mức độ cạnh tranh của các sản phẩm KHCN trên thị trường quốc tế; khả năng thẩm định, đánh giá các sản phẩm KHCN
Trang 38trong quá trình chuyển giao; khả năng chủ động nghiên cứu, thiết kế, chế tạo các sản phẩm KHCN
(ii) Các chính sách của Nhà nước nhằm khuyến khích quá trình tạo lập, quản
lý và sử dụng các nguồn tài chính cho KH&CN như: chính sách thuế, chính sách tiền tệ; chính sách quản lý với hoạt động KH&CN và sở hữu trí tuệ…
(iii) Sự phát triển của thị trường tài chính và hệ thống tài chính
(iv) Cạnh tranh trên thị trường (trong và ngoài nước), cụ thể là các yếu tố liên quan đến quy mô của thị trường; yêu cầu của thị trường về chất lượng, giá cả sản phẩm, dịch vụ; những yêu cầu về tăng năng suất lao động, đổi mới và nâng cao chất lượng sản phẩm, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức tổ chức quản lý
b) Những yếu tố thuộc bản thân doanh nghiệp, bao gồm:
(i) Tính chất sản phẩm dịch vụ và nhu cầu nghiên cứu khoa học và công nghệ của doanh nghiệp;
(ii) Mức độ rủi ro của từng dự án nghiên cứu khoa học và công nghệ phục vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp;
(iii) Chính sách khoa học và công nghệ trong quá trình sản xuất kinh doanh
và chính sách quản lý tài chính cho nghiên cứu KH&CN của doanh nghiệp;
(iv) Năng lực quản lý hoạt động huy động nghiên cứu khoa học và công nghệ của doanh nghiệp;
Ngoài các yếu tố trên, để đánh giá hiệu quả quản lý và sử dụng, nghiên cứu trên cũng cho rằng quỹ KH&CN trong doanh nghiệp là một bộ phận quản trị tài chính doanh nghiệp, vì vậy cần vận dụng mô hình quản trị quỹ doanh nghiệp để nghiên cứu, phân tích và xử lý quá trình huy động và sử dụng của quỹ, cũng như các công cụ quản lý quỹ
Có nhiều cách hiểu và tiếp cận khác nhau về vấn đề quản trị tài chính doanh nghiệp, nhưng hầu hết các quan điểm đều có sự đồng thuận khi cho rằng: Tài chính doanh nghiệp thực chất là quan tâm đến 3 vấn đề chủ yếu gồm: quyết định đầu tư, quyết định huy động vốn và quyết định phân phối lợi nhuận nhằm tối đa hóa giá trị doanh nghiệp (Nguyễn Văn Đức, 2012)
Trang 391.4 KINH NGHIỆ CỦA ỘT S NƯỚC VỀ HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP ỨNG DỤNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Trên cơ sở tham khảo cách làm, bước đi và nhất là các mô hình hoạt động đầu tư cho nghiên cứu và phát triển KH&CN ở các doanh nghiệp của các nước công nghiệp phát triển và các giải pháp xúc tiến hỗ trợ doanh nghiệp trong nước đầu tư cho các hoạt động nghiên cứu và phát triển sản phẩm, đổi mới công nghệ sản xuất, tăng cường năng lực cạnh tranh của các nước trong khu vực Đông Á và Đông Nam
Á, Luận văn này chọn lọc những giải pháp mang tính hỗ trợ khả thi nhất dựa trên các quy định hiện hành của quốc gia và các quy định của WTO, cũng như căn cứ vào tiềm lực KH&CN được tăng cường theo hướng hợp tác chuyển giao công nghệ,
nhập khẩu công nghệ với các nước phát triển được trình bày tại Đề án “Đổi mới công nghệ công nghiệp sản xuất phục vụ chuyển dịch cơ cấu công nghiệp trên địa bàn Thành ph ” do Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố thực hiện năm 2008 (Sở
mô lớn, thiếu nước và đất cho xây dựng công nghiệp mới do sản xuất phân bố rất không đồng đều, thiếu sức lao động, tích lũy thừa tư bản trong một loạt ngành v.v…
và nghiêm trọng hơn là làm tăng tính dễ bị tổn thương của nền kinh tế Nhật Bản trước những biến động của thị trường thế giới Nói một cách khác, mô hình phát triển công nghiệp dựa trên cơ sở tận dụng mọi nhân tố phát triển theo chiều rộng đã
Trang 40đạt tới giới hạn, muốn phát triển tiếp tục, Nhật Bản nhất định phải chuyển sang mô hình tăng trưởng mới chủ yếu sử dụng các nhân tố phát triển theo chiều sâu
Nhận thức được sự cần thiết khách quan trên, chính phủ Nhật Bản đã thực hiện điều chỉnh rất căn bản cơ cấu công nghiệp, ưu tiên phát triển những ngành có hàm lượng trí tuệ cao, hàm lượng nguyên, nhiên liệu và lao động thấp, đó là:
− Các ngành có hàm lượng khoa học cao như sản xuất máy tính điện tử, máy bay, robot công nghiệp, mạch tổ hợp, hợp chất phức tạp, thiết bị thủy điện v.v…
− Các ngành lắp ráp phức tạp như thiết bị liên lạc, thiết bị học tập, kho tàng
tự động hóa, thiết bị công nghiệp đồng bộ…
− Các ngành sản xuất theo mốt như quần áo chất lượng cao, đồ gỗ, đồ điện dân dụng, …
− Các ngành dịch vụ thu thập, xử lý và chuyển giao thông tin
Nhật Bản đã lựa chọn các hướng ưu tiên trong chiến lược phát triển khoa học công nghệ là:
− Điện tử hóa nền kinh tế, trước hết là cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội Từ giữa những năm 70 của thế kỷ 20, Nhật Bản đã áp dụng các phương tiện và hệ thống xử
lý vi mạch để quản lý quá trình công nghệ, sử dụng rộng rãi máy vi tính để điều hành hoạt động các ngành kinh tế quốc dân
− Bước sang thế kỷ 21, Nhật Bản thực hiện tự động hóa toàn bộ theo mô hình sản xuất liên kết linh hoạt nhờ ứng dụng các phương tiện lập trình và điều khiển tự động các quá trình công nghệ cũng như khả năng và trình độ đảm bảo kỹ thuật sản xuất tự động hóa của ngành chế tạo máy
− Hoàn thiện cơ sở sản xuất năng lượng, đẩy mạnh nghiên cứu phát triển năng lượng hạt nhân, nhiên liệu hóa thạch (lỏng hóa và khí hóa than đá) và chế tạo các thiết bị sử dụng năng lượng mặt trời, thủy triều, địa nhiệt
− Nghiên cứu phát triển các loại vật liệu mới cung cấp cho các ngành công nghiệp như thủy tinh cao cấp, chất dẻo hiệu quả cao, vật liệu liên kết nhựa tổng hợp
có cốt là sợi kim loại tổng hợp, hợp kim vô định hình v.v…