1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG DỄ BỊ TỔN THƯƠNG CỦA CƠ SỞ HẠ TẦNG NÔNG THÔN 15 TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC tập trung vào các tỉnh Sơn La và Bắc Kạn

67 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 3,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

iv DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ADB Ngân hàng Phát triển châu Á APMB Ban Quản lý các dự án nông nghiệp BQLDA Ban quản lý dự án CAM Phương pháp thích ứng với BĐKH CPMU Ban Quản lý dự án trung ươ

Trang 1

Dự án: Tăng cường khả năng chống chịu khí hậu cho cơ sở hạ tầng

nông thôn các tỉnh MNPB

Báo cáo kỹ thuật – Đội Đánh giá TTDBTT - Hợp phần UNDP ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG DỄ BỊ TỔN THƯƠNG CỦA CƠ SỞ HẠ

TẦNG NÔNG THÔN 15 TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC

tập trung vào các tỉnh Sơn La và Bắc Kạn

Hà Nội, 7/2015

Trang 2

ii

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH SÁCH BẢNG v

DANH SÁCH HÌNH vi

Lời cảm ơn 1

Tóm tắt 2

Chương 1 GIỚI THIỆU 3

1.1 Bối cảnh 3

1.2 Mục tiêu 3

1.3 Phạm vi của nghiên cứu 4

1.4 Các khái niệm 4

Chương 2 HIỆN TRẠNG CƠ SỞ HẠ TẦNG NÔNG THÔN KHU VỰC MNPB 5

2.1 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 5

2.1.1 Vị trí địa lý 5

2.1.2 Đặc điểm khí hậu 5

2.1.3 Dự báo BĐKH 6

2.2 Hiểm họa khí hậu 6

2.2.1 Bão, áp thấp nhiệt đới 6

2.2.2 Lũ lụt 6

2.3 Thiệt hại đối với cơ sở hạ tầng do thiên tai 7

Chương 3 PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG DỄ BỊ TỔN THƯƠNG 8

3.1 Khung khái niệm 8

3.2 Phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương 9

3.2.1 Liệt kê cơ sở hạ tầng và tiêu chí lựa chọn 9

3.2.2 Chỉ số và trọng số TTDBTT 9

3.2.3 Chuẩn hóa số liệu 13

3.2.4 Tình trạng dễ bị tổn thương 16

3.2.5 Phân tích độ nhạy của trọng số 17

Chương 4 THU THẬP SỐ LIỆU VÀ PHÂN TÍCH 18

4.1 Thu thập số liệu 18

4.1.1 Đánh giá cấp vùng 18

4.1.2 Đánh giá cấp tỉnh 18

4.1.3 Thuận lợi và khó khăn 18

4.2 Phân tích số liệu 19

4.2.1 Các chỉ số về xã hội 19

Trang 3

4.2.2 Nhóm chỉ số đặc trưng tính chất cơ học và kỹ thuật 21

Chương 5 TÌNH TRẠNG DỄ BỊ TỔN THƯƠNG CỦA CƠ SỞ HẠ TẦNG CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC 31

5.1 TTDBTT của đường giao thông nông thôn 31

5.2 TTDBTT của công trình kè 33

5.3 TTDBTT của hồ chứa 33

5.4 TTDBTT của đập dâng 33

5.4.1 Chỉ số dễ bị tổn thương của tỉnh 33

5.5 TTDBTT của kênh 35

5.6 Độ nhạy của trọng số 35

5.7 Ảnh hưởng của các yếu tố xã hội đến TTDBTT của công trình cơ sở hạ tầng 36

Chương 6 TÌNH TRẠNG DỄ BỊ TỔN THƯƠNG CỦA CƠ SỞ HẠ TẦNG Ở CÁC TỈNH SƠN LA VÀ BẮC KẠN 38

6.1 TTDBTT của đường giao thông nông thôn 38

6.2 TTDBTT của công trình kè 40

6.3 TTDBTT của hồ chứa 41

6.4 TTDBTT của đập dâng 43

6.5 TTDBTT của kênh 43

6.6 Nhận xét chung 46

Chương 7 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 47

7.1 Kết luận 47

7.2 Kiến nghị 47

PHỤ LỤC 1 49

PHỤ LỤC 2 60

Trang 4

iv

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ADB Ngân hàng Phát triển châu Á

APMB Ban Quản lý các dự án nông nghiệp

BQLDA Ban quản lý dự án

CAM Phương pháp thích ứng với BĐKH

CPMU Ban Quản lý dự án trung ương

DARD Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

DONRE Sở Tài nguyên và Môi trường

GTNT Giao thông nông thôn

ICEM Trung tâm Quốc tế Quản lý Môi trường quốc tế

IDMC Công ty khai thác và quản lý công trình thủy lợi

IMHEN Viện Khoa học Khí tượng, Thuỷ văn và Biến đối khí hậu IPCC Ủy ban liên chính phủ về BĐKH

IWRM Quản lý tổng hợp tài nguyên nước

KH&HTQT Vụ Khoa học và Hợp tác quốc tế, Tổng cục thủy lợi, MARD

MARD Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

MNPB Khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam

MONRE Bộ Tài nguyên và Môi trường

O&M Vận hành và Bảo trì

PCLB Phòng chống lụt bão

PPMU Ban Quản lý dự án cấp tỉnh

QLXDCT Cục quản lý Xây dựng công trình, MARD

TDBTT Tính dễ bị tổn thương

UNDP Chương trình Phát triển Liên hợp quốc

VAWR Viện khoa học thủy lợi Việt Nam

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Thống kê các cơn bão và áp thấp nhiệt đới vùng MNPB 6

Bảng 3.1: Trọng số 10

Bảng 3.2: Mô tả các chỉ số và trọng số dễ bị tổn thương cho từng loại cơ sở hạ tầng và cấp đánh giá 10

Bảng 3.3: Chỉ số liên tục cho từng loại cơ sở hạ tầng 13

Bảng 3.4: Giá trị chỉ số cho loại vật liệu của đường 14

Bảng 3.5: Giá trị chỉ số cho loại vật liệu kè 14

Bảng 3.6: Giá trị chỉ số cho loại vật liệu hồ chứa 15

Bảng 3.7: Giá trị chỉ số về các loại vật liệu của đập dâng 15

Bảng 3.8: Giá trị chỉ số cho loại vật liệu của kênh 15

Bảng 3 9: Giá trị chỉ số đối với những thiệt hại các hạng mục của đập tràn 16

Bảng 3 10: Giá trị chỉ số cho năm xây dựng TCXD 16

Bảng 5 1: Bộ trọng số khác nhau 35

Bảng 7 1: TTDBTT của cơ sở hạ tầng tại 15 tỉnh MNPB 48

Bảng 7 2: TTDBTT của cơ sở hạ tầng tỉnh Sơn La 48

Bảng 7 3: TTDBTT của cơ sở hạ tầng tỉnh Bắc Kạn 48

Trang 6

vi

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 2.1: Sơ đồ khu vực vùng dự án 5

Hình 4.1: So sánh các chỉ số xã hội ở 15 tỉnh MNPB (hình trên); các huyện trong tỉnh Sơn La (hình giữa) và tỉnh Bắc Kạn (hình dưới) 20

Hình 4.2: Tỷ lệ vật liệu làm đường ở 15 tỉnh MNPB (hình trên); huyện trong tỉnh Sơn La (hình giữa) và tỉnh Bắc Kạn (hình dưới) 22

Hình 4.3: Tỷ lệ công trình phụ trên đường ở 15 tỉnh MNPB (đánh giá cấp vùng) 23

Hình 4.4: Tỷ lệ công trình phụ trên đường của các huyện trong tỉnh Sơn La (hình trên) và Bắc Kạn (hình dưới) 23

Hình 4.5: Tỷ lệ về tuổi của kè ở 15 tỉnh MNPB 25

Hình 4.6: Thiệt hại của kè ở 15 tỉnh MNPB 26

Hình 4.7: Tỷ lệ về vật liệu của kè ở 15 tỉnh MNPB 26

Hình 4.8: Tỷ lệ về tuổi của hồ chứa ở 15 tỉnh MNPB 27

Hình 4.9: Tỷ lệ về tuổi của đập dâng ở 15 tỉnh MNPB 28

Hình 4.10: Tỷ lệ về vật liệu của đập dâng ở 15 tỉnh MNPB 29

Hình 4.11: Tỷ lệ về vật liệu của kênh ở 15 tỉnh MNPB 30

Hình 5 1: TTDBTT của đường GTNT ở các tỉnh MNPB 32

Hình 5.2: Độ dốc địa hình (%) ở các tỉnh MNPB 32

Hình 5 3: TTDBTT của công trình kè ở các tỉnh MNPB 33

Hình 5 4: TTDBTT của hồ chứa ở các tỉnh MNPB 34

Hình 5 5: TTDBTT của đập dâng ở các tỉnh MNPB 34

Hình 5 6: TTDBTT của kênh ở các tỉnh MNPB 35

Hình 5 7: Phân tích độ nhạy của chỉ số tính dễ tổn thương của các hồ chứa đến các trọng số được sử dụng cho mức độ rất quan trọng 36

Hình 5 8: Ảnh hưởng của các yếu tố xã hội đến TTDBTT của cơ sở hạ tầng: TTDBTT cơ học (V_phys), và TTDBTT tổng thể của công trình cơ sở hạ tầng khi có tính đến ảnh hưởng của các yếu tố xã hội (V_total) 37

Hình 6 1: TTDBTT của đường giao thông nông thôn tỉnh Sơn La 39

Hình 6 2: TTDBTT của đường giao thông nông thôn tỉnh Bắc Kạn 39

Hình 6 3: TTDBTT của công trình kè tỉnh Sơn La 40

Hình 6 4: TTDBTT của công trình kè tỉnh Bắc Kạn 41

Hình 6 5: TTDBTT của hồ chứa tỉnh Sơn La 42

Hình 6 6: TTDBTT của hồ chứa tỉnh Bắc Kạn 42

Hình 6 7: TTDBTT của đập dâng tỉnh Sơn La 44

Hình 6 8: TTDBTT của đập dâng tỉnh Bắc Kạn 44

Hình 6 9: TTDBTT của kênh tỉnh Sơn La 45

Hình 6 10: TTDBTT của kênh tỉnh Bắc Kạn 45

Trang 7

Lời cảm ơn

Đơn vị tư vấn xin được bày tỏ lời cảm ơn đến các tổ chức và cá nhân đã đóng góp cho báo cáo đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương của hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn các tỉnh miền núi phía Bắc

Trước hết, chúng tôi chân thành gửi lời cảm ơn đến các ông/bà Trần Văn Lam, Hoàng Thu Hà, Hoàng Thị Kim Cúc, Nguyễn Gia Vượng, Bùi Việt Hiền, Marcello Arosio, và Jenty Kirsch-Wood là thành viên của Ban quản lý dự án (CPMU) và Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc (UNDP) về những đóng góp giá trị, mang tính xây dựng và kịp thời trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu đánh giá

Đơn vị tư vấn xin được bày tỏ lòng biết ơn đến các chuyên gia tư vấn quốc tế về biến đổi khí hậu,

bà Ujala Qadir và ông Mark Tadross, đã trợ giúp và hướng dẫn đơn vị tư vấn trong việc xây dựng phương pháp cũng như thực hiện nhiệm vụ này

Chúng tôi xin cảm ơn các nhóm tư vấn khác của dự án về kinh tế, kỹ thuật cơ sở hạ tầng nông thôn, chính sách cũng như nhân viên của Trung tâm Quốc tế về Quản lý Môi trường (ICEM) đã tích cực tham gia thảo luận, xây dựng và những chia sẻ thông tin quý báu

Chúng tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các Sở, Ban, Ngành tại 15 tỉnh vùng dự án cũng như các Phòng, Ban tại 20 huyện, thị của tỉnh Sơn La và Bắc Kạn về những giúp đỡ, chia sẻ thông tin, dữ liệu và kinh nghiệm với đơn vị tư vấn; và cũng chân thành cám ơn các cơ quan thuộc Bộ NN & PTNT, Bộ GTVT và Bộ TN & MT, và đặc biệt là các nhà tài trợ quốc tế trong nỗ lực làm rõ hơn

bối cảnh và thách thức của biến đổi khí hậu ở Việt Nam

Trang 8

2

Tóm tắt

Do tác động của BĐKH (BĐKH), các hiện tượng thời tiết cực đoan như mưa lớn gây lũ quét, sạt

lở đất, xói lở kè và vv ngày càng tăng cả về tần suất và cường độ, dẫn đến những tác động xấu đến hệ thống cơ sở hạ tầng hiện có, đặc biệt là ở các tỉnh MNPB, với đặc trưng địa hình có độ dốc cao và thường xuyên xảy ra lũ quét và sạt lở đất Hầu hết các cơ sở hạ tầng ở khu vực phía Bắc đã được thiết kế và xây dựng đã lâu và trong quá trình thiết kế, thi công đã chưa tính đến những thay đổi về khí hậu; do vậy chúng được coi là những đối tượng dễ bị tổn thương nhất và

có thể không có khả năng chịu được các hiện tượng thời tiết nguy hiểm có thể xảy ra trong tương lai Việc lượng hóa mức độ tổn thương của hệ thống cơ sở hạ tầng sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách đề xuất các chiến lược thích ứng, năng lực ứng phó cũng như sự phù hợp của việc phân bổ nguồn lực cho việc nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng cũng như việc nâng cao nhận thức

và đời sống xã hội của nhân dân trong vùng chịu tác động của BBĐKH

Nghiên cứu này nhằm đánh giá tình trạng tính dễ bị tổn thương (TTDBTT) của các loại cơ sở hạ tầng khác nhau (đường giao thông nông thôn, công trình kè, hồ chứa, đập dâng, và kênh), tại 15 tỉnh MNPB và có đánh giá chi tiết ở các tỉnh Sơn La và Bắc Kạn Phương pháp để đánh giá TTDBTT đã được xây dựng dựa trên các dữ liệu và thông tin mà được coi là có tính khả thi trong việc thu thập tại thực địa trong phạm vi thời gian nghiên cứu và các nguồn lực sẵn có TTDBTT của hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn được mô tả bao gồm tính dễ bị tổn thương về mặt cơ học (bên trong) và môi trường xung quanh (bên ngoài) Tính dễ bị tổn thương bên trong

có liên quan trực tiếp đến các tính chất và đặc điểm kỹ thuật của hệ thống cơ sở hạ tầng, còn tính

dễ bị tổn thương bên ngoài thường là liên quan đến các yếu tố pháp lý, thể chế, xã hội và kinh tế Một trọng số sẽ với mức độ quan trọng tương ứng sẽ được gán cho mỗi chỉ số sử dụng để đánh giá TTDBTT Các chỉ số TTDBTT được xác định cho từng công trình cơ sở hạ tầng sau đó được tính trung bình cho mỗi tỉnh (đối với đánh giá khu vực) và huyện (đối với đánh giá cấp tỉnh) Kết quả điều tra cho thấy hầu hết các cơ sở hạ tầng trong khu vực được xây dựng bằng vật liệu địa phương (ví dụ như đất, sỏi, đá, vv) và có thời gian làm việc đã lâu với khả năng phục hồi thấp (hoặc phơi lộ lớn) trước các hiểm họa thiên nhiên Ngoài ra, khu vực MNPB có tỷ lệ hộ nghèo và dân tộc thiểu số cao và cho thấy mức độ nhạy cảm hơn trước những tác động bất lợi của BĐKH Ngân sách cho vận hành và duy tu bảo trì (O&M) còn thiếu cùng với việc đóng góp

từ cộng đồng đối với hệ thống cơ sở hạ tầng là rất thấp đã làm giảm khả năng ứng phó của hệ thống

Kết quả là, TTDBTT đã được xác định cho các loại cơ sở hạ tầng ở các phạm vi địa lý khác nhau

Có thể thấy rằng, khoảng 30% các công trình cơ sở hạ tầng thuộc nhóm có nguy cơ tổn thương rất cao; các cơ sở hạ tầng ở các tỉnh có địa hình cao hơn (Hà Giang, Lào Cai, Sơn La, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn) dễ bị tổn thương hơn so với những tỉnh có địa hình thấp, nằm ở châu thổ sông Hồng (Bắc Giang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên) Kết quả đánh giá cấp tỉnh cho thấy

cơ sở hạ tầng ở các huyện trong tỉnh Sơn La, trong đó các huyện Phù Yên, Thuận Châu, Vân Hồ

và Bắc Yên dễ bị tổn thương hơn; tương tự như vậy, các huyện Bạch Thông, Chợ Đồn, Chợ Mới

và Pắc Nặm thuộc tỉnh Bắc Kạn dễ bị tổn thương cao hơn so với ở các huyện còn lại TTDBTT cao hơn của các công trình cơ sở hạ tầng là do ảnh hưởng về mặt cơ học (ví dụ vật liệu có cường

độ chịu lực thấp) cũng như các yếu tố xã hội khác (ví dụ như đóng góp của cộng đồng trong việc vận hành và bảo trì công trình cơ sở hạ tầng là rất ít) Cùng với việc phân tích rủi ro (ở bước tiếp theo của dự án), đây được cho là những thông tin cơ bản mà có thể được sử dụng để xây dựng các bản đồ nguy cơ rủi ro Xác định các khu vực có nguy cơ rủi ro sẽ là thông tin hữu ích cho các

cơ quan chức năng, chính quyền địa phương, và cộng đồng, trong quá trình ban hành các chính sách, lập kế hoạch thích ứng với BĐKH

Trang 9

Chương 1 GIỚI THIỆU

1.1 Bối cảnh

Trong những năm gần đây, chính phủ Việt Nam đã coi BĐKH là một trong những thách thức lớn nhất trong thiên niên kỷ này và đã xây dựng các chiến lược nhằm thích ứng với BĐKH cũng như giảm thiểu tác động của nó đối với mọi mặt của đời sống xã hội, môi trường và hệ sinh thái Các hoạt động bao gồm các Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH1, Kế hoạch hành động quốc gia về BĐKH trong giai đoạn 2012-20202

Ngoài những nỗ lực của chính phủ, các tổ chức quốc tế như Chương trình phát triển LHQ (UNDP) và Ngân hàng Thế giới (WB) đã tích cực hỗ trợ chính phủ, các Bộ và các đơn vị liên quan khác trong việc phân tích và đánh giá tác động của BĐKH trong các lĩnh vực, môi trường và hệ sinh thái trên toàn lãnh thổ Việt Nam Tuy nhiên, các nghiên cứu về tác động của BĐKH còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu cả về

số lượng của các nghiên cứu được thực hiện và trọng tâm của ngành và khu vực Chẳng hạn, tính đến thời điểm hiện tại, chưa có nghiên cứu nào về hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn trong khu vực miền núi phía Bắc (MNPB) - nơi mà các yếu tố cơ sở hạ tầng được coi là dễ bị tổn thương nhất bởi BĐKH Vì vậy, đánh giá TTDBTT cho hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn trong khu vực này là điều cần thiết để hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách và ra quyết định trong việc lập thứ

tự ưu tiên giải quyết các chiến lược thích ứng

Khung khái niệm để đánh giá TTDBTT cho hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn được dựa vào những hướng dẫn tại báo cáo "Quản lý rủi ro các hiện tượng cực đoan và thảm hoạ để nâng cao thích ứng với BĐKH", Báo cáo đặc biệt của Ban Liên chính phủ về BĐKH (IPCC)3 Để phù hợp với bối cảnh của nghiên cứu này, TTDBTT của hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn được mô tả bao gồm tính dễ bị tổn thương về mặt cơ học (bên trong) và môi trường xung quanh (bên ngoài)

1.2 Mục tiêu

Là một phần của dự án "Tăng cường khả năng chống chịu khí hậu cho cơ sở hạ tầng nông thôn các tỉnh MNPB" được thực hiện bởi Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) phối hợp với Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) hỗ trợ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT), mục tiêu chung của nghiên cứu này là đánh giá TTDBTT của hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn ở các tỉnh MNPB, nhằm hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách và người ra quyết định trong việc đề xuất và thực hiện các giải pháp thích ứng với BĐKH Để đạt được các mục tiêu của nghiên cứu này, các nội dung sau đây sẽ cần được thực hiện:

o Xây dựng được phương pháp đánh giá TTDBTT phù hợp có tính đến khả năng có thể thu thập được các dự liệu cần thiết trong phạm vi về thời gian và nguồn lực của dự án;

o Tổ chức hội thảo tham vấn với sự tham gia của các chuyên gia trong nước và quốc tế về BĐKH và thích ứng nhằm hoàn thiện phương pháp đánh giá, kế hoạch thực hiện và các sản phẩm dự kiến;

o Điều tra, thu thập dữ liệu và thông tin (bao gồm cả thông tin xã hội) cho từng loại cơ sở

hạ tầng trong khu vực nghiên cứu tại các cơ quan và các tổ chức từ trung ương đến địa phương có liên quan;

o Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu, thông tin của các chỉ số được lựa chọn và tính toán TTDBTT của từng công trình cơ sở hạ tầng;

Trang 10

4

o Tiến hành phân tích độ nhạy của các trọng số và ảnh hưởng của các yếu tố xã hội;

o Cung cấp các khuyến nghị cho các nhà hoạch định chính sách để xây dựng các chiến lược thích ứng nhằm giảm thiểu tác động của BĐKH đối với hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn theo các mục tiêu phát triển kinh tế và xã hội trong khu vực này

1.3 Phạm vi của nghiên cứu

o Cơ sở hạ tầng nông thôn được đánh giá trong báo cáo đánh giá TTDBTT này bao gồm: đường giao thông nông thôn, công trình kè, hồ chứa, đập dâng và kênh

o Nghiên cứu này bao gồm hai đánh giá ở 2 quy mô địa lý khác nhau Thứ nhất là tập trung vào 15 tỉnh MNPB (được gọi là đánh giá cấp khu vực), bao gồm: Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Yên Bái, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Phú Thọ, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang và Vĩnh Phúc Thứ hai là đánh giá chi tiết cho hai tỉnh (được gọi là đánh giá cấp tỉnh) Sơn La và Bắc Kạn

1.4 Các khái niệm

Các định nghĩa được sử dụng trong báo cáo này được trích từ một nghiên cứu gần đây được xây dựng bởi UNDP và Bộ TN&MT "Báo cáo đặc biệt của Việt Nam trong Quản lý rủi ro các hiện tượng cực đoan và thảm hoạ để nâng cao thích ứng với BĐKH" được gọi là SREX Việt Nam, năm 20154

Tuy nhiên, một trong những số đó được điều chỉnh để phù hợp với mục đích của báo cáo này

Mức độ phơi lộ trước hiểm họa: Mức độ phơi lộ minh họa sự hiện diện (vị trí) của hệ thống cơ

sở hạ tầng ở những nơi có thể chịu những ảnh hưởng bất lợi bởi các hiện tượng tự nhiên và vì thế

có thể là đối tượng có thể sẽ chịu những tổn hại, mất mát, hư hỏng tiềm tàng trong tương lai

Khả năng chống chịu: Đó là khả năng của con người, tổ chức, hệ thống sử dụng các kĩ năng,

nguồn lực và cơ hội sẵn có để vượt qua các điều kiện bất lợi mà có ảnh hưởng tới hệ thống cơ sở

hạ tầng

BĐKH: Là sự thay đổi của khí hậu vượt ra khỏi trạng thái trung bình đã được duy trì trong một

khoảng thời gian dài, thường là một vài thập kỉ hoặc dài hơn BĐKH có thể là do quy trình tự nhiên bên trong hoặc do tác động từ bên ngoài, hoặc thay đổi liên tục do tác động của con người đến các thành phần của khí quyển hay trong sử dụng đất

Rủi ro thiên tai: Rủi ro thiên tai là nguy cơ thiệt hại do thiên tai gây ra về người, tài sản, công

trình, môi trường sống, các hoạt động kinh tế, xã hội

Các hiểm họa: Là bất kỳ sự kiện, hiện tượng tự nhiên hoặc do con người có khả năng gây ra

thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, thiệt hại về tài sản và gây tổn thất về kinh tế, xã hội và tàn phá môi trường

Tác động: Ảnh hưởng đến hệ thống tự nhiên và con người Trong báo cáo này, thuật ngữ 'tác

động' được dùng để chỉ những tác động đến các hệ thống tự nhiên và con người của các sự kiện vật lý, thiên tai và BĐKH

Danh mục cơ sở hạ tầng: Một danh sách các đường giao thông nông thôn, công trình kè, hồ

chứa, đập tràn và các kênh đã được lựa chọn để đưa vào đánh giá tính dễ bị tổn thương

Tính dễ bị tổn thương: Là những đặc điểm của một cộng đồng, hệ thống hoặc tài sản làm cho

cộng đồng, hệ thống hoặc tài sản đó dễ bị tác động có hại do hiểm họa tự nhiên gây ra

Các trọng số: Một giá trị gán cho các biến trong phạm vi mô hình đánh giá tính dễ bị tổn thương

để biểu thị tầm quan trọng của biến đó

Trang 11

Chương 2 HIỆN TRẠNG CƠ SỞ HẠ TẦNG NÔNG THÔN KHU VỰC MNPB

2.1 Tổng quan về khu vực nghiên cứu

2.1.1 Vị trí địa lý

Khu vực nghiên cứu của dự án gồm 15 tỉnh MNPB gồm: Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hoà Bình, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Giang, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Lào Cai và Yên Bái Địa hình vùng trung du miền núi Bắc Bộ chủ yếu là đồi núi, diện tích đồng bằng nhỏ hẹp, phân bố rải rác dọc theo thung lũng các sông lớn Trên phạm

vi toàn vùng, diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ so với diện tích tự nhiên (gần 14%), trong khi đó đất lâm nghiệp chiếm tới 42% so với tổng diện tích tự nhiên Nhìn chung, 15 tỉnh thuộc vùng trung du, miền núi Bắc Bộ có điều kiện tự nhiên không thuận lợi, hệ thống cơ sở hạ tầng yếu kém, kinh tế - xã hội kém phát triển, tốc độ đô thị hoá, công nghiệp hoá chậm, điểm xuất phát thấp so với mặt bằng chung của cả nước, và là một trong những khu vực nghèo nhất

cả nước (diện tích chiếm tới 36,2%, dân số chiếm gần 20% so với toàn quốc nhưng dân số đô thị chỉ bằng 9,3% và giá trị sản xuất công nghiệp chỉ bằng có 3,4% so với cả nước), có 7 tỉnh gồm Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai và Bắc Kạn được Nhà nước xếp vào loại khó khăn5

Hình 2.1: Sơ đồ khu vực vùng dự án

2.1.2 Đặc điểm khí hậu

Miền bắc Việt nam chia làm 2 vùng khí hậu là vùng Tây-Bắc và Đông-Bắc 15 tỉnh MNPB đều nằm trong hai vùng này Vùng Tây-Bắc bao gồm 6 tỉnh là: Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Điện Biên, Sơn La và Hoà Bình Vùng Đông-Bắc gồm có 9 tỉnh là Hà Giang, Cao Bằng, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Phú Thọ, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang và Vĩnh Phúc Nhìn chung, khu vực miền núi Bắc chịu ảnh hưởng bởi khí hậu nhiệt đới gió mùa, cụ thể là mùa mưa (nóng) và mùa khô (lạnh) Theo báo cáo gần đây (SREX Việt Nam, 2015), khu vực này đã có sự sụt giảm đáng

kể và tăng số ngày lạnh và ngày nóng trong giai đoạn 1961-2010 tương ứng Tổng lượng mưa cũng giảm ở các khu vực phía Bắc Về phân bố lượng mưa, các tỉnh ở phía đông bắc có mưa

Trang 12

6

nhiều hơn, đặc biệt là trong mùa mưa, so với phía Tây Bắc là phía đông bắc thường bị ảnh hưởng bởi các cơn bão và áp thấp nhiệt đới Mặc dù hiện tượng mưa cực đoan có xu hướng tăng trong giai đoạn 1961-2010 tại Việt Nam Ở khu vực MNPB, hầu hết các cơn bão nghiêm trọng gây mưa lớn đang giảm Về tình hình hạn hán, thấy rằng số lượng của những ngày khô liên tục tăng trong giai đoạn 1961-2010 ở khu vực MNPB

2.1.3 Dự báo BĐKH

Cùng với sự nóng lên toàn cầu lớn hơn dự kiến trong thế kỷ này, khí hậu cực đoan sẽ trở nên nghiêm trọng hơn và thường xuyên hơn Sau đây là một phát hiện quan trọng về dự báo khí hậu cực đoan trong thế kỷ 21 cho khu vực phía Bắc được thể hiện trong báo cáo Việt Nam SREX (2015) Dự kiến số ngày nóng và số lượng sóng nhiệt có xu hướng tăng lên đáng kể, khoảng 60-

70 ngày so với thời kỳ 1980-1999 Đối với các hiện tượng mưa cực đoan, tần suất mưa lớn dự báo sẽ tăng trong thế kỷ 21, dẫn đến nguy cơ cao về lũ lụt và sạt lở đất ở các khu vực MNPB Dự báo cho thấy số ngày có lượng mưa lớn hơn 50 mm trong thế kỷ thứ 21 dự kiến sẽ cho thấy một

xu hướng tăng ở miền Bắc, đặc biệt là ở phía Tây Bắc Về lượng mưa cực đoan trong tương lai, lượng mưa lớn nhất 1 ngày được dự báo sẽ tăng ở hầu hết các khu vực phía Bắc Trong khi đó, lượng mưa lớn nhất 5 ngày cho thấy có sự gia tăng nhỏ trong một số khu vực ứng với kịch bản phát thải khí nhà kính cao Số lượng bão đổ bộ vào khu vực có xu hướng giảm; Tuy nhiên, cường độ (tốc độ gió và lở đất) là rất có khả năng làm tăng một cách đáng kể Hạn hán cũng có khả năng tăng trong thế kỷ 21 ở một số nơi trong khu vực, do lượng mưa giảm và tỷ lệ bốc hơi cao hơn

2.2 Hiểm họa khí hậu

2.2.1 Bão, áp thấp nhiệt đới

Khi bão và áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào các tỉnh MNPB, chúng thường gây ra mưa lớn và gió mạnh, sau đó dẫn đến lũ lụt nặng nề và lũ quét ở các khu vực miền núi Theo báo cáo thường niên của Ủy ban Trung ương phòng chống lụt bão, trong những năm gần đây tình hình đổ bộ của các cơn bão và áp thấp nhiệt đới của các tỉnh MNPB được nêu trong bảng 2.1 dưới đây

Bảng 2.1: Thống kê các cơn bão và áp thấp nhiệt đới vùng MNPB

2.2.2 Lũ lụt

Lũ quét là một dạng phổ biến của thiên tai ở hầu hết các tỉnh miền núi như là hậu quả của các

trận mưa dữ dội (gây ra bởi bão/lốc xoáy hoặc áp thấp nhiệt đới) kết hợp với địa hình dốc Hầu hết các trận lũ quét xảy ra ở vùng sâu vùng xa đều có dân cư thưa thớt Tuy nhiên, một số trận lũ quét xảy ra gây thiệt hại lớn về người và tài sản của nhân dân, đặc biệt là những người sống trong thung lũng khi lũ quét tràn qua Sau đây là một số liệu thống kê của lũ quét điển hình trong khu vực:

Trang 13

 Trận lũ quét ngày 14/10/1978 tại sông Công thuộc huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên làm chết 40 người và 210 nhà bị cuốn trôi,

 Trận lũ quét ngày 27/6/1990 tại dòng Mường Lay, Mường Chà thuộc tỉnh Lai Châu cũ (nay thuộc tỉnh Điện Biên) đã làm chết 104 người và bị thương 300 người

 Trận lũ quét ngày 27/7/1991 trên suối Nậm La thuộc tỉnh Sơn La làm 21 người chết và 5.000 ha lúa hoa màu bị hư hại

 Từ 31/8-2/9 năm 2012 xảy ra lũ quét tại Lào Cai: 13 người chết cuốn trôi nhiều của cải

và hoa màu;

 Trận lũ quét 11/5/2013, tại suối A Quy Kim Sơn, Bảo Yên (Lào Cai) do mưa có cường

độ lớn, toàn trận khoảng 50mm Theo thống kê, trận lũ quét làm 4 người chết, trong đó bị cuốn trôi 1 gia đình có 3 người

Lũ sông: Trong ba thập kỷ qua, lũ sông ở khu vực phía Bắc có xu hướng ngày càng tăng về đỉnh

lũ và tần suất, ngoại trừ tại một số địa điểm ở hạ lưu của đồng bằng sông Hồng, như Hà Nội, trạm Phả Lại nơi có mực nước giảm đi là do các tác động điều tiết của hồ chứa chống lũ trên sông Hồng (SREX Việt Nam, 2015)

2.3 Thiệt hại đối với cơ sở hạ tầng do thiên tai

Lũ lụt, bão và áp thấp nhiệt đới là những thảm họa chính gây ra những thiệt hại nghiêm trọng và thiệt hại cho các công trình cơ sở hạ tầng (bao gồm các công trình kiểm soát phòng chống lụt bão) Dưới đây là một số tác động của thiên tai và BĐKH đối với cơ sở hạ tầng nông thôn:

Đối với công trình thủy lợi:

 Đê, kè sông, kênh tưới - thoát nước thường bị xói mòn và hư hỏng do thiên tai Đê điều

và kênh bị hư hỏng sẽ gây ra thiệt hại nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp

 Mưa lớn, lũ lụt bất thường vượt quá khả năng của các công trình thủy lợi (lũ vượt thiết kế) sẽ gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho người dân sống ở vùng hạ lưu các hồ chứa

 Chậm lũ và điều tiết lũ là các giải pháp đặc biệt để bảo vệ đê điều Tuy nhiên, thiên tai như mưa lớn, bão, lũ lụt, sẽ gây ra sự cố cho các công trình đầu mối dẫn đến các sự cố của các công trình phòng chống lụt bão Trong trường hợp này, giải pháp đặc biệt để bảo

vệ đê điều không thể được áp dụng Như vậy hệ thống đê điều bảo vệ hàng triệu người và cây trồng sẽ có nguy cơ hỏng hóc và rủi ro cao

 Hệ thống kênh thường đi qua khu vực rộng lớn và vì vậy chúng dễ bị tổn thương hơn bởi

vì các kênh được xây dựng đã lâu và có nền móng phức tạp (ví dụ như nền đất yếu), cho thấy sự mất ổn định của các con kênh

 Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN & PTNT), thiệt hại do thiên tai đến ngành nước - bao gồm cả hệ thống thủy lợi và các công trình phòng chống thiên tai - chiếm một phần lớn trong tổng chi phí tài chính liên quan đến các thảm họa tự nhiên trong thập kỷ qua Một trong những lý do cho những chi phí cao là yếu tố rủi ro thiên tai không được tích hợp vào thiết kế hệ thống thủy lợi, xây dựng và quản lý (bao gồm cả hoạt động và bảo trì)

Đối với đường giao thông nông thôn: Mạng lưới đường nông thôn ở MNPB được xây dựng

trên địa hình dốc lại tồn tại nhiều đới dứt gãy Chúng dễ bi tổn thương trước những tác động bất lợi của điều kiện tự nhiên và điều kiện khai thác thực tế Có nhiều loại hình hư hại khác nhau đã xảy ra đối với các bộ phận khác nhau của công trình đường GTNT bao gồm mặt đường, nền đường và công trình thoát nước Các hư hỏng xảy ra thường gắn liền với sự tác động của các nhân tố khí hậu như mưa lớn, mưa kéo dài, lũ và lũ quét Các nhân tố này dường như càng tăng trong điều kiện BĐKH

Trang 14

8

Chương 3 PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG DỄ BỊ TỔN

THƯƠNG

3.1 Khung khái niệm

Khung khái niệm cho các đánh giá TTDBTT được trích từ các nghiên cứu gần đây được thực hiện trong Báo cáo đặc biệt của các nhóm I và II của Ban Liên chính phủ về BĐKH (IPCC) Kết quả báo cáo “Quản lý rủi ro thiên tai và các hiện tượng cực đoan nhằm thúc đẩy thích ứng với BĐKH”, gọi tắt là báo cáo SREX, là đầu vào quan trọng cho tất cả Báo cáo đánh giá lần thứ 5 (AR5) của IPCC Báo cáo này tổng hợp những kiến thức cập nhật mới nhất và kinh nghiệm quốc

tế về thích ứng với BĐKH

Như hình 3.1, hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn, về mặt tự nhiên cho thấy chúng luôn bị phơi lộ trước hiểm họa liên quan đến khí hậu TTDBTT của hệ thống cơ sở hạ tầng được xác định là hàm số của những tổn thương cơ học (bên trong) của hệ thống cơ sở hạ tầng và năng lực ứng phó (bên ngoài) Trong khi tính dễ bị tổn thương bên trong được hiểu như khả năng chống chịu về mặt cơ học của hệ thống cơ sở hạ tầng trước các hiểm họa liên quan đến khí hậu, ví dụ, vật liệu xây dựng chất lượng cao cho thấy tính dễ bị tổn thương thấp và ngược lại; khả năng ứng phó được hiểu là theo kiểu ngược lại với các tổn thương, khả năng ứng phó thấp hơn có nghĩa là dễ bị tổn thương cao hơn và ngược lại Các tổn thương cơ học phụ thuộc nhiều vào chất lượng của cơ

sở hạ tầng trong khi tính dễ bị tổn thương bên ngoài bị ảnh hưởng bởi một loạt các yếu tố như

hiểu biết của người dân địa phương, phát triển kinh tế xã hội, quản lý, v.v

Hình 3.1 Mô hình khái niệm 6

6

Dự án: Tăng cường khả năng chống chịu khí hậu cho cơ sở hạ tầng nông thôn các tỉnh MNPB – Phương pháp đánh giá TTDBTT và xây dựng bản đồ rủi ro, Ujala Qadir, 2014

Trang 15

Có lẽ cũng không cần thiết để phân biệt các chỉ số dễ bị tổn thương cơ học và khả năng ứng phó khi thực hiện tính toán tính dễ bị tổn thương Mục đích đưa ra những định nghĩa này là để minh họa ảnh hưởng khác nhau khi xây dựng khung khái niệm; Tuy nhiên, để đơn giản hóa thì chỉ cần gọi là chỉ số dễ bị tổn thương trong quá trình tính toán, đánh giá TTDBTT của hệ thống cơ sở hạ tầng

3.2 Phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương

3.2.1 Liệt kê cơ sở hạ tầng và tiêu chí lựa chọn

 Liệt kê cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng nông thôn (đường, công trình kè, công trình thủy lợi) và các thuộc tính của nó (thông tin) cần được liệt kê cho từng cấp đánh giá (cấp tỉnh và cấp huyện)

 Tiêu chí lựa chọn

Với thực tế là số lượng các công trình cơ sở hạ tầng là khá lớn, và nhiều công trình (những công trình nhỏ) không có thông tin, vì thế không phải tất cả các công trình cơ sở hạ tầng sẽ được lựa chọn để đánh giá Do đó cần lựa chọn các công trình cơ sở hạ tầng có đủ thông tin để đánh giá TTDBTT Sau đây là các phương pháp dùng để tuyển chọn các công trình cơ sở hạ tầng cho báo cáo này:

Đường giao thông nông thôn: Đường GTNT có chiều dài lớn hơn 4 km sẽ được lựa chọn đánh

giá TTDBTT bởi vì rất khó để thu thập thông tin về đường GTNT nhỏ ở địa phương Ví dụ, đường làng, thôn xóm

Công trình kè: Tất cả công trình kè được quản lý bởi các Sở, Ban, Ngành ở địa phương (trừ các

công trình được quản lý bởi các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang vì lý do an ninh quốc phòng), sẽ được lựa chọn

Hồ chứa: Hồ chứa với dung tích nhỏ hơn 3 triệu mét khối sẽ được lựa chọn để đánh giá

TTDBTT bởi vì các hồ chứa nhỏ được coi là dễ bị tổn thương nhiều hơn do đa số các đập nhỏ đã được xây dựng khá lâu và công tác duy tu bảo trì không đầy đủ Trong khi đó, các hồ chứa lớn luôn nhận được sự quan tâm lớn từ chính quyền trung ương và hiện nay các đập này thuộc Chương trình quốc gia về đánh giá an toàn đập của Bộ NN & PTNT

Đập dâng: Lựa chọn những công trình cung cấp nước tưới cho hơn 5 ha Những công trình khác

quá nhỏ nên không có đủ thông tin để đánh giá

Kênh: Chỉ chọn những kênh tưới chính từ các hồ chứa đã được lựa chọn ở trên để đánh giá

TTDBTT, các kênh nhánh cấp 2 sẽ không được xem xét vì không có đủ thông tin

3.2.2 Chỉ số và trọng số TTDBTT

Các chỉ số thể hiện TTDBTT đã được xác định cho từng loại cơ sở hạ tầng dựa trên các thông tin

và dữ liệu được cho là có thể thu thập được tại thực địa cho mỗi cấp đánh giá (khu vực và cấp tỉnh) Các chỉ số và trọng số đã được thống nhất sau các cuộc thảo luận giữa nhóm nghiên cứu đánh giá tổn thương và các chuyên gia tư vấn quốc tế Danh mục các chỉ số và trọng số tương ứng với các đánh giá TTDBTT của cơ sở hạ tầng cấp khu vực và cấp tỉnh sau đó đã được hoàn chỉnh dựa trên kết quả rút ra từ hội thảo tham vấn về phương pháp đánh giá bao gồm các chuyên gia (BĐKH, đường giao thông, thủy lợi, vv ), nhà quản lý

Sự ảnh hưởng của từng chỉ số dễ bị tổn thương trước những tai biến liên quan đến khí hậu là khác nhau Vì vậy các chỉ số được lựa chọn sau đó được phân loại thành ba nhóm đại diện cho các mức độ rất quan trọng, quan trọng, và ít quan trọng Mỗi mức độ quan trọng ban đầu sẽ được gán cho một trọng số; và sau này chúng sẽ được xác định dựa trên kết quả phân tích độ nhạy Bảng 3.1 trình bày mức độ quan trọng mà nhóm nghiên cứu (bao gồm cả các chuyên gia tư vấn quốc tế) đề nghị cho trọng số với các tầm quan trọng khác nhau; Bảng 3.2 trình bày các danh

Trang 16

(Ghi chú: VI, I, LI thể hiện mức độ rất quan trọng, quan trọng, ít quan trọng của các chỉ số; R

và P biểu thị đánh giá cấp khu vực và cấp tỉnh theo thứ tự)

1 ĐƯỜNG GIAO THÔNG

1 Vật liệu của đường (VI,R,P): Cho biết độ bền tương đối và khả năng của con đường chống

chịu được các mối hiểm họa

2 Số công trình phụ trên đường (LI,R,P): Giả thiết ở đây là càng nhiều công trình trên đường thì

càng dễ bị tổn thương Bởi vì khi đó các con đường đi qua các khu vực có địa hình chia cắt nhiều, sẽ cần phải bảo trì nhiều hơn, và có một số lượng lớn các yếu tố phơi lộ tiếp xúc với các hiện tượng nguy hiểm cho nên xác suất dẫn đến hư hỏng chức năng của hệ thống là cao hơn so với các con đường có ít công trình trên đường

3 Số lượng xã bị chia cắt với đường chính mỗi năm (I,P): Chỉ số này được sử dụng bởi vì rất ít

thông tin có sẵn về các con đường thường xuyên bị chia cắt trong khu vực Mặc dù điều này dường như là một chỉ số về mối nguy hiểm, nó được đưa ra ở đây vì giả định rằng trong bước tiếp theo của nghiên cứu khi lập bản đồ rủi ro sẽ không xem xét đến mức độ phơi lộ của cơ sở hạ tầng Thay vào đó, các bản đồ thường đưa ra một trong hai yếu tố sự phơi lộ của dân số hoặc kinh tế xã hội Do đó, để đảm bảo rằng những thiệt hại do thiên tai được phản ánh trong nghiên cứu này, chúng tôi đã đưa ra chỉ số này ở đây

4 Các thiệt hại trong quá khứ (I,P): Thiệt hại trong quá khứ được sử dụng để chỉ ra tính dễ bị

tổn thương trong khu vực Những nguyên nhân thiệt hại liên quan đến các yếu tố khác nhau, trong đó bao gồm một số hoặc tất cả những nguyên nhân sau đây: lở đất, lũ quét, thiết kế kém, xây dựng kém, thiếu bảo trì, vv Các giả định đối với chỉ số này là các thông tin thiệt hại cho biết tính dễ bị tổn thương chứ không phải phạm vi, tần suất và cường độ của các mối hiểm họa

Lý do về việc sử dụng chỉ số này ở đây cũng giống như đối với chỉ số các xã bị chia cắt như đã

mô tả ở trên

5 O&M (I,R,P): Ngân sách theo kế hoạch hàng năm cho vận hành và bảo trì các con đường thể

hiện năng lực của tổ chức trong việc lập kế hoạch, quản lý và duy tu công trình cơ sở hạ tầng Giả định là ngân sách theo kế hoạch cao hơn, thì khả năng tài chính của tổ chức đó cao hơn

6 Tỷ lệ hộ nghèo (LI,R,P): Tại các khu vực nông thôn của khu vực phía Bắc, cộng đồng tham

gia rất nhiều trong việc quản lý, bảo trì và sửa chữa công trình cơ sở hạ tầng Các cộng đồng mà

có tỷ lệ của các hộ gia đình nghèo cao hơn thì ở thế bất lợi và dễ bị tổn thương hơn do thiếu khả năng đóng góp về mặt tài chính để sửa chữa và bảo trì công trình cơ sở hạ tầng Hơn nữa, chỉ số nghèo đói cũng có thể phản ánh mặt bằng giáo dục, trình độ học vấn và các yếu tố năng lực ứng phó chủ chốt khác do có mối liên hệ giữa nghèo đói và cơ hội Thông tin một cách chính xác về

xã có đường đi qua là không có Tuy nhiên, vị trí của điểm đầu và cuối của con đường có thể được xác định Như vậy, trung bình của hai yếu tố này sẽ được sử dụng để xác định mức độ

Trang 17

nghèo đói Giả định này dự kiến sẽ không khác quá xa so với thực tế, như sự thay đổi của tỷ lệ đói nghèo trên toàn xã trong phạm vi cùng một huyện không phải là rất cao

7 Tỷ lệ dân tộc thiểu số (LI,R,P): Đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu vùng xa đến nay vẫn

còn rất nhiều khó khăn, chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến khả năng chịu được những cú sốc và đóng góp hiệu quả vào sự phục hồi của các công trình cơ sở hạ tầng thấp Trong khi tỷ lệ

hộ nghèo của Việt Nam đã giảm đáng kể trong những thập kỷ gần đây, tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn cao và khoảng cách giữa họ đã tăng lên Hơn nữa, tiếp cập của các nhóm dân tộc thiểu số với các dịch vụ công thường là rất hạn chế, hiện có sự khác biệt về xã hội

và việc bị hạn chế khi tiếp cận thị trường sẽ tiếp tục làm giảm các cơ hội có thể có sẵn cho họ để thích ứng với BĐKH Cũng như các mối liên kết khí hậu- sinh kế, rủi ro thiên tai và thể chế chính sách, thì vẫn còn tồn tại những nguyên nhân cơ bản khác của tổn thương khí hậu

8 Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động (LI,R,P): Độ tuổi lao động được quy định của chính phủ

Việt Nam là từ 15 đến 60 tuổi đối với nam và 15-55 đối với nữ Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động phản ánh năng lực của người dân đóng góp vào các dự án cộng đồng như phát triển và sửa chữa công trình cơ sở hạ tầng Ngược lại với những đặc tính của hai chỉ số trước đó, tỷ lệ dân số trong độ tuổi làm việc cao hơn thì năng lực của cộng đồng để đối phó với các mối nguy hiểm liên quan đến khí hậu cao hơn

2 CÔNG TRÌNH KÈ

1 Vật liệu của kè (VI,R,P): Vật liệu của kè thể hiện sự chống chịu tương đối và thể hiện khả

năng của các công trình kè chống chịu được các mối nguy hiểm, đặc biệt là lũ quét, lũ sông

2 Tuổi của kè (VI,R,P): Tuổi của kè (áp dụng tương tự cho các công trình cơ sở hạ tầng khác)

được tính bằng cách lấy năm 2014 trừ đi năm xây dựng Tuổi của kè nói lên tình trạng hiện tại của nó và giả định rằng kè được xây dựng càng lâu thì tính dễ bị tổn thương càng cao Điều này đặc biệt đúng đối với các tỉnh MNPB do thiếu các hoạt động duy tu bảo trì thường xuyên (O&M)

3 Tiêu chuẩn thiết kế (VI,R,P): Đã có những nâng cấp quan trọng trong tiêu chuẩn thiết kế đối

với kè và hệ thống tưới (hồ chứa, đập dâng, kênh mương) Có thể lấy ví dụ như sau: theo tiêu chuẩn cũ (TCXDVN-285-2002) thì một công trình thuộc nhóm công trình cấp 3 thì cũng với công trình đó theo tiêu chuẩn mới (QCVN04:05-2012) sẽ thuộc nhóm công trình cấp 2 có quy

mô lớn hơn Do vậy, công trình cơ sở hạ tầng cũ dễ bị tổn thương hơn so với các công trình được thiết kế và thi công theo các tiêu chuẩn mới Mặc dù tuổi của công trình cơ sở hạ tầng đã được xem xét ở trên; tuy nhiên, vẫn cần thêm chỉ số này để cho thấy công trình cơ sở hạ tầng được thiết kế thi công theo tiêu chuẩn nào

4 Thiệt hại (VI,R,P): được định nghĩa giống với đường giao thông

5 O&M (I,R,P): được định nghĩa giống với đường giao thông

6 Số lần kiểm tra công trình (I,P): Công trình kè là cơ sở hạ tầng rất quan trọng để bảo vệ con

người, môi trường sống, tài sản, cơ sở hạ tầng và đất sản xuất khi có lũ lụt Việc kiểm tra thường xuyên hệ thống đê kè trước mùa mưa bão thường được thực hiện hàng năm Những hoạt động này có thể giúp xác định những hư hỏng tiềm tàng của các cơ sở hạ tầng để kịp thời khắc phục sửa chữa Như vậy công trình kè đựợc kiểm tra thường xuyên hơn sẽ ít bị tổn thương hơn

7 Đóng góp của cộng đồng (LI,P): Chỉ số này được bổ sung dựa trên thực tế là sau thiên tai thì

hầu hết các công trình cơ sở hạ tầng cần phải sửa chữa, nâng cấp, khi đó cộng đồng được huy động để tham gia thực hiện các công việc này

Trang 18

12

8 Tỷ lệ hộ nghèo (LI,R,P): giống nhau cho tất cả các công trình cơ sở hạ tầng7

9 Tỷ lệ dân tộc thiểu số (LI,R,P): giống nhau cho tất cả các công trình cơ sở hạ tầng

10 Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động (LI,R,P): giống nhau cho tất cả các công trình cơ sở hạ

tầng

3 HỒ CHỨA

1 Vật liệu hồ chứa (VI,R,P): Vật liệu của đập thể hiện độ bền tương đối và khả năng của các đập

nước có thể chịu được các mối nguy hiểm, lũ lụt, tràn đỉnh, thấm, trượt, v.v

2 Tuổi của hồ chứa (VI,R,P được định nghĩa giống với công trình kè

3 Tiêu chuẩn thiết kế (I,R,P): được định nghĩa giống với công trình kè

4 Số lần hồ chứa dừng hoạt động (VI,R,P): Tổng số các hư hỏng của các hồ chứa sẽ giúp xác

định các hồ chứa cực kỳ dễ bị tổn thương và đây là thông tin có thể thu thập tại thực địa vì hầu hết cán bộ quản lý công trình thủy lợi tại địa phương được cho là nắm bắt được thông tin này

5 Số lần đập tràn bị thiệt hại (I,R,P): Thông tin về thiệt hại của một hồ chứa là khó xác định vì

có rất nhiều hạng mục của hồ chứa đã bị hư hỏng, và thường không có hồ sơ lưu trữ Tuy nhiên, thông tin về số lần đập tràn bị thiệt hại là rất quan trọng và là biện pháp đơn giản cần thiết để đánh giá tính dễ bị tổn thương Chúng tôi sử dụng thiệt hại của đập tràn như một chỉ số phản ánh mức độ tổn thương trong quá khứ bởi vì chúng tôi cho rằng chỉ số này có thể được thu thập một cách dễ dàng vì những thiệt hại cho đập tràn thường do các yếu tố khí tượng thuỷ văn, như mưa

to dẫn đến ngập lụt, sạt trượt đất

6 O&M (I,R,P): được định nghĩa giống với đường giao thông

7 Đóng góp của cộng đồng (LI,P): được định nghĩa giống với công trình kè

8 Tỷ lệ hộ nghèo (LI,R,P): giống nhau cho tất cả các công trình cơ sở hạ tầng

9 Tỷ lệ dân tộc thiểu số (LI,R,P): giống nhau cho tất cả các công trình cơ sở hạ tầng

10 Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động (LI,R,P): giống nhau cho tất cả các công trình cơ sở hạ

tầng

4 ĐẬP

1 Vật liệu của đập (I,R,P): tương tự như đối với công trình kè

2 Tuổi của đập (VI,R,P): tương tự như đối với công trình kè

3 Tiêu chuẩn thiết kế (VI,R,P): tương tự như đối với công trình kè

4 Đóng góp của cộng đồng (LI,P): tương tự như đối với công trình kè

5 Tỷ lệ hộ nghèo (LI,R,P): giống nhau cho tất cả các công trình cơ sở hạ tầng

7 Một số các chỉ số (ví dụ các chỉ số về xã hội) không thể có riêng cho một loại CSHT, mà được tính theo đơn vị hành chính (tỉnh, huyện) Do vậy, các loại CSHT đều có chung các chỉ số này

Trang 19

6 Tỷ lệ dân tộc thiểu số (LI,R,P): giống nhau cho tất cả các công trình cơ sở hạ tầng

7 Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động (LI,R,P): giống nhau cho tất cả các công trình cơ sở hạ

tầng

5 KÊNH

1 Vật liệu của kênh (VI,R,P): tương tự như đối với công trình kè

2 Tuổi của kênh (VI,R,P): tương tự như đối với công trình kè

3 Tiêu chuẩn thiết kế (VI,R,P): tương tự như đối với công trình kè

4 Số lần kênh bị thiệt hại (VI,R,P): tương tự như đối với hồ chứa

5 Tỷ lệ hộ nghèo (LI,R,P): giống nhau cho tất cả các công trình cơ sở hạ tầng

6 Tỷ lệ dân tộc thiểu số (LI,R,P): giống nhau cho tất cả các công trình cơ sở hạ tầng

7 Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động (LI,R,P): giống nhau cho tất cả các công trình cơ sở hạ

tầng

3.2.3 Chuẩn hóa số liệu

Tất cả các chỉ số và trọng số được lựa chọn sẽ được sử dụng để xác định TTDBTT của các công trình cơ sở hạ tầng Tuy nhiên, do thực tế việc đánh giá bao gồm hai loại chỉ số: liên tục và rời rạc Điều này tạo ra tính không nhất quán khi so sánh các chỉ số và vì vậy cần phải được chuẩn hóa về cùng một loại

3.2.3.1 Chỉ số liên tục

Đối với các chỉ số liên tục, giá trị chuẩn hóa bằng giá trị của chỉ số trừ đi giá trị nhỏ nhất của chỉ

số chia cho hiệu số của giá trị lớn nhất và giá trị nhỏ nhất của chỉ số, như được thể hiện trong phương trình 1; và danh mục thống kê các chỉ số liên tục cho từng loại cơ sở hạ tầng được trình bày trong Bảng 3.3

)1(

min max

min

I I

I I I

Trong đó:

I - Giá trị của chỉ số sau khi được chuẩn hóa

I - Giá trị của chỉ số trước khi được chuẩn hóa

min

I - Giá trị nhỏ nhất của chỉ số trước khi được chuẩn hóa

max

I - Giá trị lớn nhất của chỉ số trước khi được chuẩn hóa

Bảng 3.3: Chỉ số liên tục cho từng loại cơ sở hạ tầng

Đường Công trình kè Hồ chứa Đập dâng Kênh

Trang 20

Vật liệu của đường: Vật liệu của đường giao thông nông thôn tại các tỉnh MNPB chủ yếu là bê

tông, nhựa đường, sỏi, hoặc bằng đất Mỗi loại vật liệu được gán cho một mức độ dễ bị tổn thương và tương ứng là các giá trị chuyển đổi, Bảng 3.4

Bảng 3.4: Giá trị chỉ số cho loại vật liệu của đường

Loại vật liệu Tính dễ bị tổn thương Giá trị chỉ số

Vật liệu của kè: Các công trình kè tại các tỉnh phía MNPB được xây dựng bằng đá đổ, bê tông,

rọ đá, hoặc kết hợp bê tông và rọ đá Giá trị chuyển cho vật liệu kè được nêu trong Bảng 3.5 dưới

đây

Bảng 3.5: Giá trị chỉ số cho loại vật liệu kè

Loại vật liệu Tính dễ bị tổn thương Giá trị chỉ số

Trang 21

Bê tông mác cao Rất thấp 0.1

Vật liệu của hồ chứa (đập): Đập ở khu vực phía Bắc chủ yếu được xây dựng bằng vật liệu địa

phương như đất, đá; và một vài trong số chúng được làm bằng vật liệu có cường độ cao hơn như

bê tông Bảng 3.6 dưới đây trình bày các giá trị chuyển đổi ứng với các mức dễ bị tổn thương khác nhau

Bảng 3.6: Giá trị chỉ số cho loại vật liệu hồ chứa

Loại vật liệu Tính dễ bị tổn thương Giá trị chỉ số

Vật liệu của đập dâng: Các đập dâng thường được làm bằng bê tông hoặc đá xây ở khu vực

MNPB Bảng 3.7 dưới đây trình bày các giá trị chuyển đổi cho vật liệu của đập dâng

Bảng 3.7: Giá trị chỉ số về các loại vật liệu của đập dâng

Loại vật liệu Tính dễ bị tổn thương Giá trị chỉ số

Vật liệu của kênh: Kênh thông thường được làm từ bê tông, gạch xây, đá hoặc đất Như vậy,

kênh sẽ thuộc vào một trong những chỉ số rời rạc và giá trị chỉ số của các vật liệu tương ứng được thể hiện trong Bảng 3.8 dưới đây

Bảng 3.8: Giá trị chỉ số cho loại vật liệu của kênh

Loại vật liệu Tính dễ bị tổn thương Giá trị chỉ số

Trang 22

16

Số lần đập tràn đã bị hư hỏng: Trong thực tế, rất khó để thu thập một số lượng chính xác số lần

đập tràn đã bị hư hỏng Để đơn giản hóa hơn nữa các phương pháp tiếp cận, các thông tin về hư hỏng của tràn xả lũ có thể như sau: Đã bao nhiêu lần đập tràn (s) của các hồ chứa đã không hoạt động trong 5 năm qua?

Bảng 3 9: Giá trị chỉ số đối với những thiệt hại các hạng mục của đập tràn

Phân loại Xác định Tính dễ bị tổn thương Giá trị chỉ số

Năm mà tiêu chuẩn thiết kế được ứng dụng: Kể từ khi tiêu chuẩn thiết kế đầu tiên được áp dụng

cho các hệ thống thủy lợi, nó đã được sửa đổi và cập nhật như là một kết quả của sự đổi mới trong phương pháp thiết kế và công nghệ vật liệu cùng với những thay đổi trong điều kiện khí tượng thuỷ văn Việc nâng cấp tiêu chuẩn thiết kế nhằm mục tiêu xây dựng các công trình cơ sở

hạ tầng có khả năng chống chịu trước các hiểm họa tự nhiên tốt hơn Bảng 3.10 trình bày các giá trị chuyển đổi của các năm khi tiêu chuẩn mới về thiết kế các công trình thủy lợi được ban hành

Bảng 3 10: Giá trị chỉ số cho năm xây dựng TCXD

Năm ứng dụng TCTK Tính dễ bị tổn thương Giá trị chỉ số

)3()

N

V V

V V

N X X

X X

Trang 23

- V: Tình trạng dễ bị tổn thương

- X: tỉnh/huyện

- N: Tổng số công trình cơ sở hạ tầng của tỉnh/huyện X

Phương trình 4 biểu diễn cách tính TTDBTT của một công trình cơ sở hạ tầng cụ thể (ví dụ như một đoạn kè) trong một phạm vi địa lý nhất định (X) Đây là tổng của chỉ số I nhân với mỗi

trọng số w

) 4 (

*

*

1 1

N N

2

1w  w N

w

3.2.5 Phân tích độ nhạy của trọng số

Như đề cập trước đó, các trọng số ban đầu được xác định dựa trên kinh nghiệm hoặc tham khảo

ý kiến các chuyên gia cũng như những khuyến nghị từ các nghiên cứu trước đây Do đó, rất cần thiết phải tiến hành phân tích độ nhạy để kiểm tra ảnh hưởng của trọng số dựa trên các kết quả tính toán TTDBTT Các giá trị trọng số khác nhau được sử dụng để kiểm tra kết quả tính toán bị ảnh hưởng như thế nào Nếu có những tác động lớn do yếu tố chủ quan thì phương pháp đánh giá cần được điều chỉnh lại cho phù hợp, hoặc đưa ra các khuyến nghị về hạn chế của việc đánh giá cho các nghiên cứu tiếp theo Ngoài việc phân tích độ nhạy của trọng số, ảnh hưởng của các yếu

tố xã hội về TTDBTT của các công trình cơ sở hạ tầng cũng cần được kiểm tra

Trang 24

 Nhóm 1: Bắc Kạn và Sơn La

 Nhóm 2: Bắc Giang, Lạng Sơn, Thái Nguyên và Cao Bằng

 Nhóm 3: Vĩnh Phúc, Tuyên Quang và Hà Giang

 Nhóm 4: Phú Thọ, Yên Bái và Lào Cai

 Nhóm 5: Hòa Bình, Điện Biên và Lai Châu

Các hoạt động chính của đoàn công tác tại địa phương bao gồm:

 Giới thiệu mục đích và các chỉ số cần thực hiện khảo sát phục vụ đánh giá TTDBTT của

hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn do tác động của BĐKH;

 Thống nhất phương thức thu thập dữ liệu dựa trên các bộ chỉ số đã xây dựng cho: (i) Đường giao thông nông thôn, (ii) Hồ chứa, (iii) Công trình kè, (iv) Đập dâng, và (v) Kênh tưới;

 Xác định nguồn thông tin, dữ liệu; đơn vị cung cấp thông tin, dữ liệu;

 Xác định thông tin, dữ liệu có thể thu thập; trong trường hợp chưa có đủ thông tin (thông tin, dữ liệu cần phải tổng hợp, điều tra), đoàn tư vấn đã xác định các đơn vị liên quan để phối hợp cung cấp những thông tin còn thiếu để đảm bảo rằng số liệu sẽ được bổ sung và hoàn thiện

4.1.2 Đánh giá cấp tỉnh

Đối với hai tỉnh Sơn La và Bắc Kạn, việc đi thực địa để thu thập số liệu và thông tin liên quan được chia làm 2 đợt Trước khi tiến hành thực địa, đơn vị tư vấn cũng đã gửi công văn xuống các huyện thông qua Sở NN&PTNT để thống nhất việc chia sẻ dữ liệu và thông tin liên quan

 Đợt 1 (từ ngày 22/12/2014 đến 25/12/2014): đi thực địa tại tất cả các huyện của tỉnh Bắc Kạn Đoàn công tác được chia làm 2 nhóm: Nhóm 1 đi các huyện Chợ Mới, Bạch Thông,

Ba Bể và Chợ Đồn; Nhóm 2 đi các huyện Na Rì, Ngân Sơn, Pắc Nặm và TX Bắc Kạn;

 Đợt 2 (từ ngày 12/01/2015 đến 16/01/2015) đi thực địa tại tất cả các huyện của tỉnh Sơn

La Đoàn công tác được chia làm 3 nhóm: Nhóm 1 đi các huyện Phù Yên, Bắc Yên, Mai Sơn, Mường La và TP Sơn La; Nhóm 2 đi các huyện Quỳnh Nhai, Thuận Châu, Yên Châu, Mộc Châu và Vân Hồ; Nhóm 3 đi các huyện Sốp Cộp và Sông Mã

4.1.3 Thuận lợi và khó khăn

a) Thuận lợi

Trang 25

- Ban Quản lý Trung ương dự án “Tăng cường khả năng chống chịu với khí hậu cho cơ sở

hạ tầng các tỉnh MNPB” đã luôn hỗ trợ đơn vị tư vấn trong việc thu thập số liệu liên quan tại cấp trung ương cũng như tại các địa phương của khu vực dự án;

- Các Ban quản lý dự án của các Sở NN&PTNT tại các địa phương, các Sở, Ban, Ngành liên quan tại các tỉnh, huyện trong vùng dự án đã tích cực phối hợp với đơn vị tư vấn trong việc cung cấp số liệu, thông tin phục vụ công tác đánh giá TTDBTT, nhất là các số liệu về công trình thủy lợi như hồ chứa, kênh, đập, kè, v.v Các số liệu hiện trạng, thông

số kỹ thuật cho các công trình thủy lợi là tương đối đầy đủ;

- Các chuyên gia quốc tế của UNDP, các chuyên gia trong nước của Ban quản lý dự án cũng đã theo sát và giúp đỡ tận tình đơn vị tư vấn trong việc lập phương pháp đánh giá TTDBTT của cơ sở hạ tầng nông thôn trong suốt quá trình thực hiện dự án (thu thập số liệu, tính toán, phân tích và đánh giá)

- Các chỉ tiêu về kinh tế xã hội (tỷ lệ hộ nghèo, tỷ lệ dân tộc thiểu số, tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động) không có cho từng công trình mà chỉ có số liệu chung cho từng tỉnh hay từng huyện

Tỷ lệ hộ nghèo: Thông tin về tỷ lệ hộ nghèo được thu thập tại thực địa cho thấy, tỷ lệ hộ nghèo là

khá cao ở các khu vực MNPB, như có thể thấy trong hình 4.1 và Bảng 4.1 (Phụ lục 1), tỉnh Lai Châu có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất (chiếm 52% tổng dân số của tỉnh); tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất ở tỉnh Vĩnh Phúc (5.6%)

Hai tỉnh Sơn La, Bắc Kạn thuộc trong nhóm có tỷ lệ cao (41,7%) và thấp (26,06%) tương ứng Như vậy tỉnh Bắc Kạn có khả năng ứng phó tốt hơn so với tỉnh Sơn La Đối với hai tỉnh này, tỷ

lệ hộ nghèo là khác nhau giữa các huyện Trên địa bàn tỉnh Sơn La, huyện Vân Hồ có tỷ lệ nghèo cao nhất (57,28%), huyện Mộc Châu có tỷ lệ nghèo thấp (17,91%) Trong khi đó, các huyện trong tỉnh Bắc Kạn có tỷ lệ hộ nghèo thấp hơn; Huyện Na Rì có tỷ lệ nghèo cao nhất (29,8%) và thành phố Bắc Kạn có thấp nhất (14,4%)

Tỷ lệ dân tộc thiểu số: Thống kê (Hình 4.1 và Bảng 4.1, Phụ lục 1) ở các tỉnh MNPB cho thấy,

tỉnh Bắc Kạn và Cao Bằng có tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số lớn (hơn 90%); tỷ lệ dân tộc thiểu

số của các tỉnh Lạng Sơn Lai Châu, Sơn La, Hà Giang thấp hơn (khoảng 80%) Trong khi đó, Vĩnh Phúc la là tỉnh có tỷ lệ dân tộc thiểu số thấp nhất trong 15 tỉnh (chỉ có 5,4% dân số toàn tỉnh), cho thấy khả năng ứng phó tốt hơn với BĐKH

Đối với tỉnh Sơn La, dân tộc thiểu số ở huyện Mai Sơn có tỷ lệ cao (94%) và huyện Mộc Châu

có tỷ lệ thấp (57,05%) Huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn có tỷ lệ dân tộc thiểu số cao nhất (98%)

Trang 26

20

Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động: Đối với nghiên cứu cấp vùng, tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao

động thấp nhất và cao nhất tại các tỉnh Vĩnh Phúc và Bắc Giang (với tỷ lệ tương ứng là 59,9% và 91,31%) Đối với tỉnh Vĩnh Phúc, có thể được hiểu như là sự di cư của dân số trong độ tuổi lao

để tìm kiếm việc làm tốt hơn tại các thành phố lân cận

 Tỷ lệ hộ nghèo  Tỷ lệ dân tộc thiểu số  Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động

Hình 4.1: So sánh các chỉ số xã hội ở 15 tỉnh MNPB (hình trên); các huyện trong tỉnh Sơn

Trang 27

Tỷ lệ dân số độ tuổi lao động cũng có sự chênh lệch nhau khá lớn giữa các huyện ở tỉnh Sơn La

và Bắc Kạn Huyện Mộc Châu và Na Ri có tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động khá cao (93%) Trong khi đó, huyện Yên Châu và Ngân Sơn có tỷ lệ thấp hơn (57%)

4.2.2 Nhóm chỉ số đặc trưng tính chất cơ học và kỹ thuật

4.2.1.1 Đường giao thông nông thôn

Đường giao thông nông thôn được định nghĩa là những con đường được kết nối với mạng lưới đường bộ quốc gia để phục vụ sản xuất nông-lâm-thuỷ sản và vận chuyển hàng hoá giữa các khu vực khác nhau của địa phương Nó thuộc sự quản lý của cấp huyện và cấp xã Sau đây là định nghĩa về đường giao thông nông thôn:

- Đường huyện: Là đường kết nối giữa trung tâm huyện với trung tâm xã hoặc các trung tâm huyện lân cận

- Đường xã: Đường giao thông từ trung tâm xã với thôn, làng, trung tâm xã lân cận

Hiện nay, có khoảng 42.411 km đường giao thông nông thôn ở khu vực phía Bắc Mật độ trung bình là tương đối thấp (0,44 km / km2) so với (1,16 km / km2) ở đồng bằng sông Hồng Về vật liệu, đường giao thông nông thôn ở khu vực phía Bắc chủ yếu được xây dựng từ hỗn hợp của đá thô và sỏi (41,73%) và các vật liệu địa phương như đất (44,95%); chỉ có khoảng 12,44% (chủ yếu là đường huyện) được xây dựng bằng bê tông hoặc nhựa Các hoạt động bảo trì đường bộ còn có những hạn chế nhất định như kinh phí ít Ngân sách bảo trì thường được phân bổ cho các hoạt động duy tu bảo trì đường huyện và phần còn lại (khoảng 10% ngân sách hàng năm cho quản lý đường bộ) được sử dụng cho đường xã

Vật liệu của đường giao thông

Hình 4.2 (phía trên) minh họa vật liệu xây dựng đường giao thông nông thôn tại 15 tỉnh MNPB

Có thể thấy rằng ở các tỉnh có địa hình thấp (Vĩnh Phúc, Phú Thọ, v.v ), tỷ lệ bê tông và nhựa đường cao hơn rất nhiều so với những tỉnh có địa hình cao (Hà Giang, Cao Bằng, vv ) Về mặt

cơ học thì những con đường ở các tỉnh có địa hình cao sẽ dễ bị tổn thương hơn vì vật liệu địa phương thường thể hiện khả năng chống chịu thấp với các hiểm họa liên quan đến khí hậu như

lượng mưa lớn gây ra lũ quét và sạt lở đất

Hai tỉnh Sơn La và Bắc Kạn có tỷ lệ đường đất tương đối cao so với các vật liệu khác (71.5% và

57.1%) Đường giao thông nông thôn ở huyện Phù Yên, Bắc Yên và TP Sơn La (tỉnh Sơn La) hoàn toàn là vật liệu địa phương (đất) Trong khi đó, huyện Mộc Châu không có đường đất và đường ở đây được xây dựng chủ chỉ là đá dăm chiếm hơn 80% (xem hình 4.2 – giữa) Hình 4.2 (dưới) minh họa tỷ lệ của vật liệu đường giao thông của các huyện thuộc tỉnh Bắc Kạn Đường giao thông nông thôn của các huyện Ngân Sơn, Pắc Nặm hoàn toàn là đất Những huyện còn lại

đường đất có tỷ lệ khá cao

Số lượng công trình phụ trên đường

Danh sách về đường giao thông được thu thập tại thực địa cũng bao gồm những thông tin về công trình phụ trên đường cho từng tuyến đường, ngoại trừ một số tỉnh (ví dụ như tỉnh Lạng Sơn) thông tin về số lượng công trình trên đường được gộp chung cho tất cả các con đường Tại sao số lượng các công trình phụ trên đường được đưa vào đánh giá tính dễ bị tổn thương, điều này được hiểu là nếu con đường càng nhiều công trình phụ trên đường thì con đường đó càng dễ

bị tổn thương, bởi vì đường đó sẽ phải được bảo trì nhiều hơn Xác suất xảy ra sự cố đối với các mục công trình là cao hơn và có thể dẫn đến hư hỏng công trình

Do đặc trưng là địa hình dốc, số lượng các công trình phụ trên đường phân bố không đều trong

15 tỉnh Tỉnh Sơn La và Điện Biên có số lượng lớn các công trình phụ trên đường (khoảng 29,0% tổng số đường ở khu vực phía Bắc); Tỉnh Yên Bái có công trình phụ trên đường ít (41 đường, chiếm 0,5%) Trong khi đó, tỉnh Bắc Kạn có 607 công trình, tương đương 6,8% Chi tiết

Trang 28

22

Tại tỉnh Sơn La, có 2.669 công trình phụ trên đường Một số lượng lớn trong số chúng tập trung tại huyện Thuận Châu (với 848 đường chiếm 31,8%); Huyện Sông Mã đứng thứ 2 với khoảng 18,5% Trong khi đó, đường giao thông ở các huyện Mộc Châu, Bắc Yên, huyện Vân Hồ, thành phố Sơn La có công trình phụ ít hơn (nhỏ hơn 0,5%) Xem hình 4.4 và Bảng 4.8 (Phụ lục 1)

 Bê tông nhựa asphalt  Bê tông  Dăm sỏi  Đường đất  Vật liệu khác

Hình 4.2: Tỷ lệ vật liệu làm đường ở 15 tỉnh MNPB (hình trên); huyện trong tỉnh Sơn La

Asphalt Concrete Gravel Earth other

Trang 29

Hình 4.3: Tỷ lệ công trình phụ trên đường ở 15 tỉnh MNPB (đánh giá cấp vùng)

Hình 4.4: Tỷ lệ công trình phụ trên đường của các huyện trong tỉnh Sơn La (hình trên) và

5.2

28.0

29.7 0.6

0.6 1.4 2.8 0.5 0.8 6.8 0.7 1.4

11.2 6.4 3.9

Lai Chau Đien Bien Son La Hoa Binh

Ha Giang Cao Bang Lao Cai Yen Bái Tuyen Quang Bac Kan Thai Nguyen Lang Son Phu Tho Vinh Phuc Bac Giang

4.9 4.3

18.5

0.2 14.3

10.1 31.8

0.3 6.4

0.1 0.3 8.8

Mai Son Phu Yen Song Ma Moc Chau Muong La Quynh Nhai Thuan Chau Van Ho Yen Chau

TP Son La Bac Yen Sop Cop

13.7

3.6 5.3 2.3 2.5

29.5 31.1

12.0

Ba Be Bach Thong Bac Kan City Cho Đon Cho Moi

Na Ri Ngan Son Pac Nam

Trang 30

24

Tổng công trình phụ trên đường của tỉnh Bắc Kạn là 607; hầu hết là ở huyện Ngân Sơn và Na Rì (khoảng 30%), trong khi tại Chợ Đồn và Chợ Mới có ít công trình phụ trợ trên đường, xem hình 4.4 và Bảng 4.9 (Phụ lục 1)

Số xã bị chia cắt

Chỉ số này được sử dụng để đánh giá TTDBTT của đường ở cấp tỉnh Với giả định rằng đại diện các huyện sẽ có thể cung cấp thông tin về số xã đã bị chia cắt và bị cô lập mỗi năm

Số xã bị cô lập tại tỉnh Sơn La: theo kết quả điều tra, tổng số 33 xã bị cô lập trong thời gian bị

thiên tai (lũ lụt), trong đó có 7 xã thuộc huyện Quỳnh Nhai bị cô lập với đường chính, huyện Phù Yên và Thuận Châu cả hai có 6 xã bị cô lập Các huyện còn lại có một số ít các xã bị cô lập, xem Bảng 10 (Phụ lục 1)

Số xã bị cô lập tại tỉnh Bắc Kạn: dữ liệu được thu thập trên thực địa cho thấy, có 20 xã bị cô lập

trong thời gian lũ lụt nghiêm trọng nhất Huyện Bạch Thông có số xã bị cô lập nhiều nhất (5 xã) Chi tiết số xã bị cô lập với đường chính của mỗi huyện tại tỉnh Bắc Kạn được thể hiện trong Bảng 4.11 (Phụ lục 1)

Thiệt hại

Thiệt hại trong quá khứ được sử dụng để xác định TTDBTT của đường giao thông nông thôn đối với đánh giá cấp tỉnh tại Sơn La và Băc Kạn Thông tin về thiệt hại cho mỗi con đường thường không là có Tuy nhiên, hầu hết các huyện đều có thông tin về chiều dài đường bị thiệt hại mỗi năm Như vậy, chỉ số này sẽ được áp dụng chung cho mỗi con đường ở mỗi huyện Và để so sánh giữa các huyện, thì cần biết tỷ lệ đường giao thông bị hư hỏng trên tổng chiều dài đường

Tại tỉnh Sơn La: đường giao thông bị thiệt hại trung bình hàng năm là 46,4 km Huyện Mường

La có đường bị hư hỏng nhiều nhất với chiều dài 26,8 km/năm; Trong khi đó một số huyện không có thiệt hại về đường như Mai Sơn, Phù Yên, Sông Mã và huyện Sốp Cộp Chi tiết về các thiệt hại đường giao thông nông thôn ở tỉnh Sơn La được trình bày trong Bảng 4.10 (Phụ lục 1)

Tại tỉnh Bắc Kạn: các tuyến đường bị hư hỏng trung bình hàng năm là 7 km, được phân bố tương

đối đều khắp 8 huyện trong tỉnh như trong Bảng 4.11 (Phụ lục 1)

O&M

Như đã đề cập ở trên trong mục thuận lợi và khó khăn, thông tin về O&M cho tất cả các loại cơ

sở hạ tầng không được thu thập đầy đủ cho đánh giá cấp vùng (một số tỉnh có cung cấp, một số không) Vì vậy, chỉ số O&M chỉ được sử dụng cho đánh giá TTDBTT của công trình cơ sở hạ tầng đối với nghiên cứu cấp tỉnh

Tại tỉnh Sơn La: với tổng chiều dài đường giao thông nông thôn là 4,027 km, kinh phí duy tu bảo

dưỡng hàng năm cho đường giao thông trên địa bàn tỉnh là 13.511 triệu đồng Ngân sách của mỗi huyện được thống kê trong Bảng 4.12 (Phụ lục 1) Trừ huyện Phù Yên không có ngân sách, hằng năm kinh phí được phân bổ cho đường giao thông nông thôn là khá lớn, tuy nhiên, một số huyện

có ít đường giao thông nông thôn nhưng lại nhận ngân sách lớn hơn và ngược lại (ví dụ như thành phố Sơn La, huyện Yên Châu và Mai Sơn)

Tại tỉnh Bắc Kạn: với tổng chiều dài đường giao thông nông thôn là 590 km, ngân sách O&M

hàng năm là 1.183 triệu đồng Tương tự như tỉnh Sơn La, phân bổ ngân sách O&M cũng không đều giữa các huyện trong tỉnh, xem Bảng 4.13 (Phụ lục 1)

4.2.1.2 Công trình kè

Có tổng cộng 548.567 m kè tại 15 tỉnh MNPB Kết cấu của công trình kè hoặc có kết cấu dạng tường chắn hoặc mái nghiêng Vật liệu xây dựng của kè chủ yếu được xây dựng từ bê tông cốt thép, đá hoặc gạch xây, rọ đá và đá đổ Mục đích chính của công trình kè là để bảo vệ nơi cư trú

và tài sản của nhân dân Bảng 4.14 (Phụ lục 1) thống kê chiều dài hiện tại của kè ở khu vực nghiên cứu Có thể thấy rằng, kè ở tỉnh Phú Thọ nhiều hơn các tỉnh còn lại do tỉnh là nơi hợp lưu

Trang 31

của ba con sông chính ở khu vực phía Bắc là sông Thao, sông Lô và sông Đà Sơn La có ít công

trình kè hơn vì có số lượng lớn các hồ chứa thủy điện trên sông Đà hỗ trợ điều tiết dòng chảy tự

nhiên cho nên vận tốc dòng chảy trong sông nhỏ, nguy cơ xói lở bờ là nhỏ

Mặc dù tất cả các tỉnh MNPB đều có kè như được trình bày trong Bảng 4.14 (Phụ lục 1), nhưng

thông tin về công trình kè đã không được thu thập cho tất cả các tỉnh Lý do là các công trình kè

ở tỉnh Điện Biên Lai Châu và (giáp biên giới với Trung Quốc và Lào) thuộc quyền quản lý của

Bộ Quốc phòng, vì vậy không lấy được những thông tin về kè của các tỉnh này vì lý do an ninh

Ngoài ra, công trình kè tại các tỉnh Yên Bái, Tuyên Quang cũng chưa thu thập được vì với số

lượng kè với quy mô lớn hiện đang được trung ương quản lý và đây được được coi là ít bị tổn

thương hơn so với những công trình do địa phương quản lý

Tuổi của kè

Hình 4.5 cho thấy các thông tin về độ tuổi của kè ở các tỉnh MNPB Có thể thấy rằng 57% tổng

số công trình kè được xây dựng trong thời gian 1990-2002; đặc biệt là gần như tất cả công trình

kè tại các tỉnh Sơn La, Bắc Kạn đã được xây dựng trong giai đoạn này

 Sau 2012  2002-2012  1990-2002  1976-1990  trước 1976

Hình 4.5: Tỷ lệ về tuổi của kè ở 15 tỉnh MNPB

Tại tỉnh Sơn La: chỉ có hai huyện (Thuận Châu, Yên Châu) có công trình kè (10 công trình) Các

huyện còn lại không có công trình kè Trong đó, 2 công trình được xây dựng gần đây (năm 2013),

2 được xây dựng giữa năm 2002 và 2012, 4 đã được thực hiện trong giai đoạn 1990-2002, và 2

đã được xây dựng trước năm 1976 (xem Bảng 4.16 Phụ lục 1)

Tại tỉnh Bắc Kạn: huyện Ba Bể, Chợ Đồn và thành phố Bắc Kạn không có kè Còn lại 5 huyện

có 26 công trình kè chủ yếu được xây dựng từ năm 2002 và chủ yếu được làm bằng bê tông (xem

Bảng 4.17)

Thiệt hại

Thiệt hại trong quá khứ được sử dụng để xác định TTDBTT của công trình kè Số liệu thu thập

tại 11 tỉnh (trừ những tỉnh không có thông tin về kè) cho thấy, công trình kè ở tỉnh Cao Bằng đã

bị hư hại nhiều nhất (45%), kế đến là công trình kè ở tỉnh Bắc Giang (36%) Cả hai tỉnh Sơn La

và Bắc Kạn có thiệt hại nhỏ về kè, như minh họa trong hình 4.6 Tại tỉnh Sơn La, có ít hơn 300m

kè bị hư hỏng, chủ yếu là ở huyện Yên Châu Tại tỉnh Bắc Kạn, thiệt hại về kè được phân bố tại

các huyện Chợ Mới (100m), Bạch Thông (50m) và Ngân Sơn (60m)

Trang 32

Tại tỉnh Sơn La: 9 trong số 10 công trình kè ở huyện Yên Châu đƣợc làm bằng rọ đá; công trình

kè ở huyện Thuận Châu đƣợc làm bằng bê tông

Tại tỉnh Bắc Kạn: 2/3 công trình kè ở tỉnh Bắc Kạn đã đƣợc xây dựng bằng bê tông và chủ yếu ở

huyện Chợ Mới Ở huyện Ngân Sơn, hầu hết các công trình kè đƣợc làm bằng đá xây

Thông tin chi tiết về vật liệu kè cho từng tỉnh và huyện ở Sơn La và Bắc Kạn xem trong Bảng 4.15 – 4.17 (Phụ lục 1)

Đóng góp của cộng đồng đối với cơ sở hạ tầng

Chỉ số này đƣợc sử dụng cho đánh giá cấp tỉnh Đóng góp của cộng đồng đối với công trình kè đƣợc ghi nhận là số ngày cộng đồng dành cho việc sửa chữa kè và bảo trì mỗi năm Tuy nhiên, thực tế điều này đã không đƣợc duy trì ở tất cả các huyện, ví dụ, các cộng đồng ở huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La đã đóng góp 550 ngày mỗi năm, trong khi chỉ có cộng đồng tại huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn đóng góp 8 ngày công mỗi năm việc sửa chữa và bảo trì công trình kè

 Đá lát  Rọ đá  Đá xây  Bê tông  Bê tông cốt thép

Hình 4.7: Tỷ lệ về vật liệu của kè ở 15 tỉnh MNPB

0.0 0.0 7.6

0.1 1.5

45.2

0.0 0.0 0.0

5.8 1.7 0.0 0.0 2.4

35.8

Đien Bien Son La Hoa Binh

Ha Giang Cao Bang Lao Cai Yen Bai Tuyen Quang Bac Kan Thai Nguyen Lang Son Phu Tho Vinh Phuc Bac Giang

Trang 33

Số lần kiểm tra công trình

Đây cũng là một chỉ số cho đánh giá cấp tỉnh Dữ liệu thu thập được cho thấy các công trình kè ở

huyện Thuận Châu đã được kiểm tra 4 lần/năm và 2 lần/năm ở huyện Yên Châu tỉnh Sơn La

Tỉnh Bắc Kạn đã tiến hành kiểm tra công trình kè thường xuyên hơn, có huyện đã tiến hành kiểm

tra 7 lần/năm như ở Bạch Thông và huyện Ngân Sơn

O&M

Đây là một chỉ số cho đánh giá cấp tỉnh Tại tỉnh Sơn La, ngân sách hàng năm là 3 tỷ đồng được

phân bổ cho công tác duy tu công trình kè ở huyện Yên Châu, trong khi huyện Thuận Châu

không có ngân sách cho hoạt động này Tương tự như vậy, không phải tất cả các huyện trong

tỉnh Bắc Kạn đã có ngân sách O&M Chỉ có hai huyện: Ngân Sơn và Chợ Mới đã phân bổ 108

triệu và 20 triệu đồng mỗi năm tương ứng

4.2.1.3 Hồ chứa

Hiện nay, có 6.648 hồ chứa trên toàn lãnh thổ Việt Nam, và hầu hết trong số chúng là các hồ

chứa vừa và nhỏ, với dung tích nhỏ hơn 3 triệu m3 Phần lớn là đập đất và được xây dựng từ

30-40 năm trước Các đập này được thiết kế và xây dựng dựa trên những thông tin không đầy đủ,

hạn chế về kỹ thuật và ngân sách Ngoài ra, các đơn vị khai thác có đội ngũ vận hành và quản lý

có trình độ thấp và thiếu kinh phí cho các hoạt động vận hành và bảo trì Vì vậy, các đập vừa và

nhỏ được coi là dễ bị tổn thương hơn trong điều kiện khí hậu mà lượng mưa và dòng chảy lũ có

xu hướng tăng mạnh mẽ

Tuổi của hồ chứa

Các số liệu điều tra tại 15 tỉnh cho thấy có 1.647 hồ chứa nhỏ ở khu vực MNPB, như được thống

kê trong Bảng 4.18 (Phụ lục 1) Tuy nhiên, chúng được phân bố không đồng đều giữa các tỉnh,

phần lớn thuộc tỉnh Tuyên Quang, một số tỉnh (như Sơn La, Hòa Bình, Yên Bái) có trên 100 hồ

chứa; và một số tỉnh (như Lào Cai, Lai Châu ) chỉ có một vài hồ chứa Hầu hết các đập (1.224 hồ

chứa) đã được xây dựng trước năm 1990, trong đó có 657 hồ chứa nước (40% tổng số) đã được

xây dựng trước năm 1976, xem hình 4.8

Vật liệu hồ chứa

Các hồ chứa ở các tỉnh MNPB chủ yếu được xây dựng từ vật liệu địa phương (đập đất), chiếm

95%; còn lại được làm bằng bê tông và đá đổ Xem Bảng 4.19 (Phụ lục 1)

 Sau 2012  2002-2012  1990-2002  1976-1990  trước 1976

Hình 4.8: Tỷ lệ về tuổi của hồ chứa ở 15 tỉnh MNPB

0.1 14.1

Ngày đăng: 19/04/2020, 10:06

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w