1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VĂN HÓA CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN

89 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, trong những năm qua công tác xây dựng văn hóa cơ sở trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, cụ thể là: xây dựng con

Trang 1

TRẦN THỊ THU HUYỀN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VĂN HÓA

CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, 2019

Trang 2

TRẦN THỊ THU HUYỀN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VĂN HÓA

CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN

Ngành: Chính sách công

Mã số: 8 34 04 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS TRẦN THỊ AN

HÀ NỘI, 2019

Trang 3

gắng, tìm tòi và nghiên cứu của riêng bản thân tôi, cùng với sự hướng dẫn tận tình của cô giáo PGS TS Trần Thị An Tôi xin cam đoan, kết quả nghiên cứu này chưa hề được công bố trong bất cứ công trình nào Nếu có gì sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, tháng 02 năm 2019

Học viên

Trần Thị Thu Huyền

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VĂN HÓA CƠ SỞ 10

1.1 Một số vấn đề lý luận về chính sách công 10

1.2 Các lĩnh vực của đời sống văn hóa cơ sở 11

1.3 Chu trình chính sách phát triển văn hóa cơ sở 22

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VĂN HÓA CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN 30

2.1 Khái quát về văn hóa cở sở tỉnh Lạng Sơn 30

2.2 Công tác ban hành chính sách phát triển văn hóa cơ sở trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn 33

2.3 Kết quả thực thi chính sách phát triển văn hóa cở sở trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn 37

Chương 3 NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA VIỆC THỰC THI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VĂN HÓA CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN 66

3.1 Quan điểm hoàn thiện chính sách xây dựng đời sống văn hóa cơ sở trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn 66

3.2 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn 68

3.3 Một số giải pháp hoàn thiện chính sách xây dựng và phát triển đời sống văn hóa cơ sở trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn 70

KẾT LUẬN 78

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Bảng 2.1: Kết quả xây dựng Gia đình văn hóa giai đoạn 2013 - 2018 43 Bảng 2.2: Kết quả xây dựng Làng văn hóa giai đoạn 2013 - 2018: 44 Bảng 2.3: Kết quả xây dựng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa giai đoạn 2013 - 2018 45

Trang 7

Ngay từ khi ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn quan tâm tới lĩnh vực văn hóa, sự nghiệp xây dựng và phát

triển văn hóa Trong cách mạng dân tộc dân chủ Đảng ta đã có bản Đề cương văn hóa 1943, trong đó Đảng xác định 3 nguyên tắc: dân tộc hóa, khoa học

hóa và đại chúng hóa với mục tiêu xây dựng một nền văn hóa cho toàn thể nhân dân Bước sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mục tiêu đó vẫn được giữ vững, phát huy và một trong những hoạt động quan trọng để đạt đến mục tiêu đó là công tác xây dựng và phát triển văn hóa ở cơ sở Nội dung này đã luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm thể hiện trong các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, các văn bản quản lý của Nhà nước Đặc biệt Nghị quyết Trung ương 5 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII đảng ta đã đề ra chiến lược văn hóa cho cách mạng Việt Nam, đề ra

nhiệm vụ trọng tâm để: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”

Xây dựng và phát triển văn hóa cơ sở là một bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm tổng thể các hoạt động sống nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất, tinh thần của con người, hướng con người tới những giá trị chân - thiện - mỹ Trên thực tế các hoạt động văn hóa cơ sở đã tồn tại và đang diễn ra cùng với

sự tồn tại của con người trong đời sống văn hóa hàng ngày, vì vậy phát triển văn hóa cơ sở là góp phần xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, tất cả vì con người, coi con người là động lực nội sinh của sự phát triển xã hội

Quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, thực hiện sự chỉ đạo của các ngành Trung ương trên lĩnh vực văn hóa, trong những năm qua công tác xây dựng và phát triển

Trang 8

đời sống văn hóa cơ sở mà trọng tâm là phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” trên phạm vi cả nước đã thu được những kết quả tốt

đẹp Đời sống văn hóa của người dân ngày càng được nâng cao, tinh thần đoàn kết được phát huy, từng bước đáp ứng nhu cầu hưởng thụ, sáng tạo văn hóa cho người dân, phục vụ tích cực nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ và đạt được nhiều kết quả thiết thực

Tuy nhiên trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế thị trường những năm gần đây, nền văn hóa của nước ta chịu những tác động đa chiều, trong đó có những ảnh hưởng tiêu cực như sự du nhập văn hóa phẩm độc hại, ảnh hưởng lối sống thực dụng của phương tây vào cuộc sống nhất là giới trẻ

bị ảnh hưởng lối sống thực dụng, đang làm băng hoại giá trị đạo đức con người, nhiều giá trị tinh thần bị đảo lộn, xuống cấp Tình hình đó đặt ra cho các cấp các ngành quản lý văn hóa nói riêng và toàn xã hội nói chung nhiều

băn khoăn, trăn trở Việc đặt công tác phát triển “văn hóa ngang bằng với phát triển kinh tế” như Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII chỉ rõ

đang là yêu cầu cần thiết, để người dân có điều kiện trở thành chủ thể sáng tạo

và hưởng thụ văn hóa đích thực, lành mạnh

Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, trong những năm qua công tác xây dựng văn hóa cơ sở trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, cụ thể là: xây dựng con người với những đức tính tốt đẹp, giá trị văn hóa truyền thống trong gia đình và cộng đồng được phát huy, ý thức của người dân tốt hơn, phong trào văn hóa được phát triển sâu rộng, lễ hội truyền thống được duy trì, công tác bảo tồn di sản văn hóa dân tộc được quan tâm, quan hệ hợp tác hữu nghị quốc tế về văn hóa được tăng cường, các thiết chế văn hóa được củng cố, công tác xã hội hóa văn hóa được đẩy mạnh Tuy nhiên bên cạnh đó Lạng Sơn cũng còn gặp không ít khó khăn do những hạn chế chủ quan và những tác động khách quan, do vậy việc tiếp tục nghiên

Trang 9

cứu tìm ra những giải pháp trong chỉ đạo, làm rõ những vướng mắc về mặt nhận thức lý luận và những bất cập trong hoạt động thực tiễn đang là vấn đề cần giải quyết hiện nay

Từ thực tiễn công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý văn hóa hiện nay của tỉnh Lạng Sơn, với mong muốn vận dụng những kiến thức học tập vào thực

tiễn tại cơ sở, tôi chọn đề tài: “Thực hiện chính sách phát triển văn hóa cơ

sở trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn” làm đề tài luận văn thạc sĩ

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Việc nghiên cứu xây dựng phát triển văn hóa cơ sở trên địa bàn cả nước không phải là một vấn đề mới Trong những năm vừa qua Đảng ta đã rất quan tâm và ban hành nhiều Chỉ thị, Nghị quyết nhằm phát triển đời sống văn hóa

cơ sở, đồng thời đã có rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học, các cơ quan chuyên môn đã nghiên cứu và tiếp cận theo từng lĩnh vực văn hóa bằng nhiều cách với những cấp độ khác nhau:

- Trong bài “Phát triển văn hóa Việt Nam theo tinh thần Đại hội XII của Đảng” đăng trên Tạp chí Quốc phòng toàn dân, tác giả Đỗ Hồng Lâm đã

tập trung bàn về các nội dung phát triển văn hóa được nêu trong các văn kiện của Đảng trước và trong Đại hội XII của Đảng Bài viết đã nhấn mạnh tư tưởng chỉ đạo, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong bối cảnh kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, để tư tưởng chỉ đạo phát triển văn hóa của Đảng đi vào cuộc sống cần tích cực quán triệt, thống nhất nhận thức, đề cao trách nhiệm trong tổ chức thực hiện (Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số ra thứ sáu ngày 10/02/2017).[22]

- Trong bài “Phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam” của tác

giả Đinh Xuân Dũng đăng trên báo Nhân dân đã viết: phát triển văn hóa, xây dựng con người là nhu cầu thiết yếu của đời sống xã hội, thể hiện trình độ

Trang 10

chung của phát triển đất nước, là lĩnh vực sản xuất tinh thần, tạo ra các giá trị, sản phẩm làm giàu đẹp cuộc sống, tạo điều kiện để văn hóa phát triển đa dạng, phong phú, gắn bó mật thiết với đời sống xã hội (Báo Nhân dân, số ra thứ ba, ngày 05/01/2016) [15]

- Bài viết “Phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam” của tác

giả Trần Thùy Linh - Đặng Kim Dung đăng trên Tạp chí Văn hóa - Nghệ thuật viết: Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, văn hóa chính là nguồn lực nội sinh của một dân tộc, đưa dân tộc Việt Nam vươn tới những giá trị mới của văn hóa đương đại, cùng với việc bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc; Bên cạnh đó để có sự phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững cần có yếu tố con người, do vậy Đảng ta luôn đặt con người vào vị trí trung tâm của quá trình phát triển, là đối tượng, mục tiêu, động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội (Tạp chí văn hóa Nghệ thuật số 401 ra thứ năm ngày 09/11/2017) [23]

- Bài viết “ Tư tưởng Hồ Chí Minh và vấn đề xây dựng đời sống văn hóa cơ sở” của tác giả Hà Văn Tăng đã phân tích quan điểm của Chủ tịch Hồ

Chí Minh về xây dựng văn hóa cơ sở, nêu ra thực trạng thực hiện trong công tác xây dựng văn hóa cơ sở nước ta (Tạp chí Cộng sản ngày 26/02/2007) [31]

- Trong bài “Một số giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng đời sống văn hóa cơ sở”, của tác giả Nguyễn Văn Đại cũng đã bàn về các giải pháp

nâng cao chất lượng phong trào văn hóa cơ sở, trong đó, ông nhấn mạnh đến phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa và việc đẩy mạnh thực hiện mục tiêu chương trình nông thôn mới ở cơ sở ( website Sở Văn

hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa) [16]

- Bài viết “Nâng cao chất lượng xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở

và phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” của tác giả

Trần Minh Chính viết: “Công tác tổ chức, quản lý các hoạt động văn hoá cơ

Trang 11

sở và phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa đã đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân Các hoạt động văn hoá cơ sở đã thực sự

có chuyển biến tích cực làm cho văn hoá thấm sâu vào mỗi gia đình, cộng đồng dân cư, tạo nên sự chuyển biến sâu sắc và trở thành thước đo giá trị

về chất lượng cuộc sống, về sự phát triển nhân cách con người, về nét đẹp trong mỗi gia đình, dòng họ và cộng đồng dân cư; góp phần xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh, ổn định, tạo đà cho sự gia tăng phát triển kinh tế

ở mỗi địa phương” (website của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) [14]

- Bài viết “Văn hóa ứng xử trong gia đình truyền thống và hiện đại”

của tác giả Lê Thị Bích Hồng đã nêu cách tiếp cận về văn hóa, ứng xử văn hóa truyền thống trong gia đình Việt Nam, Văn hóa ứng xử trong gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế Quốc tế, văn hóa ứng xử đã có sự thay đổi so với ngày xưa, nhưng những khuôn phép gia đình truyền thống vẫn còn nguyên giá trị, là nét đẹp lâu đời tạo nên nề nếp gia phong trong văn hóa ứng xử (Tài liệu tập huấn BCĐ phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tỉnh Lạng Sơn năm 2017) [30]

Trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đã có nhiều đề tài khoa học, đề án triển khai thực hiện các chính sách văn hóa, các hoạt động văn hóa, nhiều bài viết đăng trên các phương tiện truyền thông về văn hóa của tỉnh, đưa tin về việc thực hiện phong trào văn hóa cơ sở:

- Đề án “Xây dựng và phát triển các thiết chế văn hóa từ 2003 -2010 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn” Dự án đầu tư mua sắm trang thiết bị cho thiết

chế văn hóa cơ sở năm 2010…

- Bài viết “Lạng Sơn chăm lo bảo tồn di sản văn hóa các dân tộc” của

tác giả Thanh Huyền đã viết: Trong đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc, mỗi dân tộc đều có một kho tàng di sản văn hóa truyền thống phong phú và đặc sắc riêng, việc bản tồn và phát huy gia trị di sản văn hóa các dân tộc đã

Trang 12

tạo được nét sinh hoạt đa dạng, độc đáo trong đời sống nhân dân (Tạp chí Tuyên giáo số ra thứ năm ngày 18/7/2013).[21]

Các bài viết về xây dựng và phát triển văn hóa cơ sở đã đề cập đến nhiều nội dung hoạt động trên các lĩnh vực văn hóa cơ sở, song để có một cách nhìn tổng quan về thực hiện chính sách phát triển văn hóa cơ sở trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đến nay chưa có một công trình nghiên cứu về lý luận và thực tiễn đối với chính sách phát triển văn hóa cơ sở trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên đã có những gợi ý quý báu cho tác giả trong việc thực hiện đề tài luận văn Thạc sĩ

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn đặt mục tiêu nghiên cứu thực trạng ban hành và thực thi chính sách phát triển văn hóa cơ sở của tỉnh Lạng Sơn, vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế xã hội địa phương, từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu để đem lại hiệu quả cao nhất cho việc thực hiện xây dựng và phát triển đời sống văn hóa cơ sở của tỉnh Lạng Sơn nói riêng, cả nước nói chung trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xác lập cơ sở lý luận về tổ chức thực hiện chính sách phát triển văn hóa cơ sở

- Đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện chính sách phát triển văn hóa

cơ sở ở Lạng Sơn trong những năm gần đây

- Nghiên cứu thực trạng và các giải pháp, công cụ của chính sách phát triển văn hóa cơ sở hiện nay từ thực tế tại tỉnh Lạng Sơn phù hợp với điều kiện cụ thể trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 13

Chính sách phát triển văn hóa cơ sở, cụ thể là giải pháp và công cụ chính sách

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Theo website của Bộ VHTTDL thì Cục Văn hóa Cơ sở có chức năng sau: Cục Văn hóa cơ sở là tổ chức thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng thực hiện quản lý nhà nước về lĩnh vực văn hóa cơ sở bao gồm:

- Thiết chế văn hóa cơ sở,

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn sử dụng cách tiếp cận chính sách công và tiếp cận liên ngành Cách tiếp cận chính sách công sẽ nhìn nhận chính sách văn hóa cơ sở như một chu trình Cách tiếp cận liên ngành là sử dụng các cách tiếp cận văn hóa học,

xã hội học để phân tích các khía cạnh của thực thi chính sách văn hóa cơ sở trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp phân tích chính sách công theo chu trình chính sách, từ hoạch định đến xây dựng, thực hiện và đánh giá chính

Trang 14

sách công có sự tham gia của các chủ thể chính sách, so sánh dựa trên kết quả thực tế từ đó dự báo xu hướng phát triển đề ra chính sách trong giai đoạn tới

Luận văn sử dụng các thao tác: thống kê, phân tích và tổng hợp, so sánh

để thực hiện mục đích và nhiệm vụ mà đề tài đặt ra Cụ thể như sau:

- Phân tích: Được sử dụng nhiều trong luận văn như việc phân tích thực trạng, các yếu tố môi trường bên trong và bên ngoài, phân tích các tác động đến cơ hội và thách thức của chính sách xây dựng đời sống văn hóa cơ sở

- Thống kê: Sử dụng nhiều các số liệu thống kê trong luận văn, đó thực chất là việc liệt kê, tính toán đối tượng để có kết quả biểu thị bằng con số nhằm làm nổi bật đối tượng nghiên cứu, cũng như sự cần thiết và tính thực tiễn cao của đề tài nghiên cứu

- Thu thập thông tin: Được sử dụng để thu thập và khai thác thông tin

từ các nguồn có sẵn liên quan đền đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, Nghị quyết, quyết định của Đảng, Nhà nước, Bộ, ban, ngành ở Trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của chính quyền, ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp, gián tiếp tới vấn đề chính sách xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở nước

ta nói chung và chính sách phát triển văn hóa cơ sở từ thực tiễn tỉnh Lạng Sơn nói riêng

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Ý nghĩa lý luận

Đề tài vận dụng các lý thuyết về chính sách công để nghiên cứu thực tiễn, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách Kết quả đánh giá nghiên cứu làm sáng tỏ, minh chứng cho các lý thuyết liên quan đến chính sách công, từ đó hình thành các tiến trình đề xuất các giải pháp chính sách nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả chính sách đã ban hành, cung cấp những nghiên cứu, tư liệu thực tế tại Lạng Sơn qua đó góp phần làm phong phú thêm

Trang 15

hệ thống lý luận của khoa học chính sách công Kết quả của Luận văn sẽ có giá trị tham khảo cho các cơ quan hành chính nhà nước trong việc thiết lập hệ thống quản lý và thực thi chính sách công, chính sách phát triển văn hóa cơ

sở

Ý nghĩa thực tiễn

Qua thực tiễn nghiên cứu việc ban hành và thực thi chính sách phát triển văn hóa cơ sở trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, luận văn sẽ chỉ ra được những bất cập trong việc tổ chức thực hiện chính sách ở một địa phương còn khó khăn trong việc phát triển kinh tế - xã hội làm kinh nghiệm cho các nhà quản

lý văn hóa ở các địa phương khác tham khảo Bên cạnh đó, Luận văn góp phần cung cấp thêm những cơ sở khoa học cho các cơ quan, ban ngành, đoàn thể của tỉnh Lạng Sơn trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách một cách hiệu quả trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo luận văn được thể hiện qua 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách phát triển văn hóa cơ

sở

Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách phát triển văn hóa cơ sở trên

địa bàn tỉnh Lạng Sơn

Chương 3: Nâng cao hiệu quả của việc thực thi chính sách phát triển văn

hóa cơ sở trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH

PHÁT TRIỂN VĂN HÓA CƠ SỞ

1.1 Một số vấn đề lý luận về chính sách công

Trong cuốn sách Khoa học chính trị, Michael G.Roskin định nghĩa

"Chính trị học là khoa học về đấu tranh và cạnh tranh quyền lực chính trị"

Trong cuộc đấu tranh đó, công cụ chính sách đóng một vai trò hết sức quyết định tới sự thành bại của đường lối chính trị Từ đó, chúng ta có thể hiểu:

"Chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào đó của chính phủ Nó bao gồm các mục tiêu kinh tế - văn hóa - xã hội - môi trường mà chính phủ muốn đạt được và cách làm để thực hiện các mục tiêu đó”.

Theo từ điển tiếng Việt (1988) “Chính sách là những sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị và tình hình thức tế mà đề ra” hay “Chính sách là các chủ trương và các biện

pháp của một đảng phái, một chính phủ trong các lĩnh vực chính trị - xã hội"

[20]

Với các cách tiếp cận trên đây, có thể đi đến khái niệm tổng quát về chính sách như sau: Chính sách là những hành động ứng xử của chủ thể với các hiện tượng tồn tại trong quá trình vận động phát triển nhằm đạt mục tiêu nhất định

Chính sách công là một trong những công cụ quan trọng của quản lý nhà nước, thông qua việc ban hành và thực thi các chính sách, những mục tiêu của Nhà nước được hiện thực hóa Chủ thể ban hành chính sách công chính là Nhà nước thông qua các cơ quan quyền lực và các cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước Cho đến nay có khá nhiều định nghĩa về chính sách

Trang 17

công được các học giả đưa ra Cho dù có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng tất cả các định nghĩa đều thống nhất ở hai điểm cơ bản, đó là chính sách công bắt nguồn từ các quyết định của Nhà nước và dùng để giải quyết những vấn

đề chung vì lợi ích của đời sống cộng đồng

Thomas Dye đưa ra một định nghĩa ngắn gọn về chính sách công là:

“bất kỳ những gì mà nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm”[18] Theo William Jenkins chính sách công là: “Một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau được ban hành bởi một nhà hoạt động chính trị hoặc một nhóm các nhà hoạt động chính trị liên quan đến lựa chọn các mục tiêu và các phương tiện để đạt mục tiêu trong một tình huống cụ thể thuộc phạm vi thẩm quyền của họ”[18]

Từ các khái niệm trên, chúng ta có thể đi đến một khái niệm chung về

chính sách công như sau: “Chính sách công là những quyết định của chủ thể được trao quyền lực công nhằm giải quyết những vấn đề vì lợi ích chung của cộng đồng” ”[18].

1.2 Các lĩnh vực của đời sống văn hóa cơ sở

Như đã nói ở trên, lĩnh vực văn hóa cơ sở bao gồm các nội dung sau: Thiết chế văn hóa cơ sở, Nếp sống văn hóa, Nghệ thuật quần chúng, Tuyên truyền cổ động, Quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc lĩnh vực văn hóa cơ sở Trong

mục này, luận văn sẽ giới thiệu nội dung của các khái niệm cơ bản trên

1.2.1 Khái niệm đời sống văn hóa cơ sở

- Khái niệm "Văn hoá"

Cho đến nay thuật ngữ "văn hoá" vẫn được coi là một thuật ngữ khó xác định và có nội dung rất phong phú Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau các nhà khoa học đưa ra rất nhiều định nghĩa về văn hoá Trong các khái niệm, định nghĩa về văn hoá có 2 khái niệm, định nghĩa quan trọng sau:

Trang 18

Theo Ông Federico Mayor (nguyên Thư ký Tổ chức UNESCO) trong lễ phát động Thập kỷ quốc tế phát triển văn hoá (1988) đã đưa ra định nghĩa:

“Văn hoá phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sống động mọi mặt của cuộc sống con người đã diễn ra trong quá khứ và cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống giá trị, truyền thống, thẩm mỹ, lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình” (Báo Người đưa tin UNESCO số 10- 1994 trong bài Ban đầu

và cuối cùng là văn hóa)

Định nghĩa Văn hóa của Hồ Chí Minh thường được các nhà nghiên cứu

trích dẫn Bác Hồ đã nói: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [26]

Với ý nghĩa đó, văn hoá có mặt trong bất cứ hoạt động nào của con người, dù đó là hoạt động sản xuất, tinh thần hay trong quan hệ giao tiếp ứng

xử xã hội, trong thái độ đối với thiên nhiên

- Khái niệm “Đời sống văn hóa”

Đời sống văn hóa là toàn thể các hoạt động sống của con người nhằm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ và phát triển của con người, đó là sự tích lũy, sáng tạo trong quá trình lao động sản xuất, trong cuộc sống hàng ngày, trong mỗi con người, trong mỗi gia đình và cộng đồng, nhằm định hướng cho lối sống, đạo đức trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với môi trường tự nhiên, hướng con người đến các giá trị chân, thiện, mỹ và thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội

Trang 19

- Khái niệm “Đơn vị cơ sở”

Đơn vị cơ sở là một kiểu tổ chức cơ bản của xã hội, là địa bàn mà những cộng đồng dân cư liên kết với nhau trong các sinh hoạt về đời sống vật chất và đời sống tinh thần của con người diễn ra trong đời sống hằng ngày Đơn vị cơ sở có hai đặc điểm nhận biết chính là: địa bàn sống ổn định và có

tổ chức hành chính ổn định Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

V, đơn vị cơ sở được nhắc đến là: làng, xã, phường ấp, nhà máy, công trường, nông trường, đơn vị lực lượng vũ trang, công an nhân dân, cơ quan trường học, bệnh viện, cửa hàng và cộng đồng xã hội tương đương Đơn vị cơ sở là nơi diễn ra mọi hoạt động kinh tế - chính trị - văn hóa xã hội là nơi thể hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, nhà nước

và quyền làm chủ của nhân dân được phát huy, đây cũng là nơi để nhân dân xây dựng đời sống văn hóa và hưởng thụ các giá trị văn hóa, sáng tạo ra những văn hóa mới

Vai trò của phát triển đời sống văn hoá cơ sở

Xây dựng và phát triển đời sống văn hoá cơ sở là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta được đặt ra từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (1981) Đây là một chủ trương quan trọng, có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng văn hoá, lối sống và con người phù hợp với đòi hỏi của đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Văn kiện Đại hội

V Đảng ta đã nhấn mạnh: Một nhiệm vụ của cách mạng tư tưởng văn hoá là đưa văn hoá thâm nhập vào cuộc sống hàng ngày của nhân dân Đặc biệt chú trọng xây dựng và phát triển đời sống văn hoá cơ sở Văn kiện Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương khoá VII, Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 BCH Trung ương khoá VIII, Văn kiện Đại hội XI và XII của Đảng ta nêu rõ: Phải đảm bảo phần lớn cho đơn vị cơ sở đều có hoạt động văn hoá, nhân dân lao động được đọc báo, nghe đài, xem phim, xem nghệ thuật Đặc biệt chú ý đến

Trang 20

vùng cao và biên giới Theo phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, cần củng cố và xây dựng các cơ sở ở cấp tỉnh và cấp huyện: Nhà văn hoá, thư viện, rạp chiếu bóng, bảo tàng, triển lãm ở phường, xã hay cụm kinh tế, kỹ thuật từng bước xây dựng cơ sở văn hoá tuỳ theo thực tế cơ sở

Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Đảng và chủ trương của Nhà nước từ sau khi có Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 BCH Trung ương khoá XII (1993),

Bộ Văn hoá và Thông tin (nay là Bộ VHTT & DL) đã xây dựng 3 chương trình quốc gia đó là: Bảo tồn tôn tạo các di tích lịch sử, văn hoá; chấn hưng nền điện ảnh Việt Nam và xây dựng nền văn hoá cơ sở, trong đó chú trọng vấn đề gia đình văn hóa, làng văn hoá, nếp sống văn minh đô thị Điều đó khẳng định thêm vai trò, vị trí quan trọng có ý nghĩa chiến lược lâu dài của xây dựng đời sống văn hoá cơ sở đó là:

- Xây dựng đời sống văn hoá cơ sở trước hết là nhằm đáp ứng nhu cầu văn hoá của nhân dân lao động, đồng thời thu hút đông đảo quần chúng tham gia vào quá trình sáng tạo ra những giá trị văn hoá mới

- Xây dựng đời sống văn hoá cơ sở được coi như bước đi ban đầu của

sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo định hướng xã hội chủ nghĩa

- Xây dựng đời sống văn hoá cơ sở là phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động trong hưởng thụ và sáng tạo ra các giá trị văn hoá mới, xây dựng một lối sống văn minh, lịch sự, những thuần phong, mỹ tục tốt đẹp vừa đậm

đà bản sắc dân tộc vừa phù hợp tinh hoa văn hoá tiến bộ của nhân loại Đấu tranh chống những hiện tượng và hành vi thô bạo, lai căng, phản văn hoá, phi đạo đức

Trang 21

1.2.2 Thiết chế văn hóa cơ sở

Thiết chế văn hóa là chỉnh thể văn hóa hội tụ đầy đủ các yếu tố: cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, hệ thống biện pháp hoạt động và kinh phí hoạt động cho các thiết chế đó” Chủ trương của Đảng ta khẳng định, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là động lực, vừa là mục tiêu phát triển kinh tế

xã hội Vì vậy, việc xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một nhiệm vụ quan trọng, xuyên suốt trong quá trình phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội Thiết chế văn hóa đóng một vai trò quan trọng,

là nơi triển khai những thông tin về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến với người dân; là cầu nối trực tiếp giữa đảng

bộ, chính quyền các cấp đến với quần chúng nhân dân

Trong những năm qua, hệ thống thiết chế văn hóa các cấp trên cả nước được quan tâm đầu tư và đã có những chuyển biến tích cực, trở thành các trung tâm hoạt động văn hóa, thể thao, bồi dưỡng nghiệp vụ, hạt nhân cho phong trào văn hóa, thể thao ở cơ sở; là địa chỉ thu hút đông đảo nhân dân đến vui chơi, giải trí, hưởng thụ, sáng tạo văn hóa, rèn luyện thể lực, tuyên truyền, phục vụ tốt các nhiệm vụ chính trị, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Thiết chế văn hóa là một chỉnh thể hội tụ đầy đủ 4 yếu tố: cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, quy chế hoạt động, nguồn kinh phí Xây dựng nội dung, tổ chức hoạt động, phương thức quản lý hoạt động như thế nào để các thiết chế văn hóa có thể phát huy tốt vai trò, ý nghĩa, làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần, giữ gìn tốt hơn những giá trị văn hóa truyền thống, tiếp thu tinh hoa văn hóa các dân tộc khác, đang là các vấn đề cần quan tâm của các cấp, các ngành đối với thiết chế văn hóa ở nước ta hiện nay

1.2.3 Nếp sống văn hóa

Nếp sống là những hành vi ứng xử của con người đã được lặp đi, lặp lại nhiều lần thành nếp, thành thói quen, thành phong tục được xã hội công nhận

Trang 22

Nếp sống là mặt ổn định của lối sống, nhờ có nếp sống mà xã hội và con người không phải bắt đầu lại những quá trình lịch sử đã qua, nhờ có nếp sống

mà những kinh nghiệm quý báu trong lối sống của xã hội và con người được giữ lại và phát triển Nếp sống bao gồm những cách thức, những quy ước đã thành thói quen, tập quán trong sản xuất trong sinh hoạt hàng ngày, cũng như

đã trở thành phong tục trong tổ chức đời sống xã hội

Phạm vi nội dung của công tác xây dựng nếp sống văn hoá ở cơ sở tập trung vào 3 vấn đề Nếp sống cá nhân; Nếp sống gia đình; Nếp sống xã hội Ba vấn đề trên liên quan chặt chẽ với nhau, ảnh hưởng qua lại trong một thể thống nhất

Nếp sống cá nhân: Là lối sống của từng thành viên tác động đến lối

sống của gia đình và ảnh hưởng trực tiếp đến lối sống của xã hội Nếp sống văn hoá của mỗi con người biểu hiện trong lao động sáng tạo, học tập và rèn luyện, trong đạo đức và nhân cách, giao tiếp và ứng xử… Xây dựng nếp sống

cá nhân là thái độ, hành vi, cách ăn mặc, nói năng, phép ứng xử với mọi người, kỷ luật lao động, ý thức chấp hành pháp luật, ý thức đối với cộng đồng

và đối với các thành viên gia đình (chăm sóc giáo dục con cái, nuôi dưỡng cha mẹ, chăm sóc người cao tuổi), các mối quan hệ khác như bạn bè, hàng xóm…

Nếp sống gia đình: Là cách thức tổ chức cuộc sống, là đặc điểm văn

hóa của gia đình, mỗi gia đình có một quan điểm về giá trị khác nhau, trên cơ

sở đó mà vận hành đời sống gia đình theo các cách thức khác nhau, qua đó nếp sống gia đình được hình thành Nếp sống gia đình có thể hiểu là bao gồm: cách ứng xử, cách tổ chức cuộc sống, mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, trách nhiệm của gia đình với cộng đồng, xã hội…gia đình có vai trò

quan trọng đối với sự phát triển xã hội Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Quan tâm đến gia đình là đúng vì nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội

Trang 23

tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt Hạt nhân của xã hội là gia đình ” Xây dựng Gia đình có nếp sống văn hóa, phải khai thác những

yếu tố tốt đẹp của gia đình truyền thống Việt Nam, đề cao trách nhiệm của từng thành viên trong gia đình, cùng nhau xây dựng một cuộc sống tốt đẹp

Nếp sống xã hội: Là nếp sống cộng đồng (nếp sống ở làng, bản, thôn

xóm, trường học, cơ quan, bệnh viện, xí nghiệp, khu phố, tổ dân phố ) Trong nếp sống xã hội, phải đặc biệt chú ý đến nếp sống nơi công cộng Nếp sống văn minh nơi công cộng chính là bộ mặt của xã hội, xây dựng nếp sống

xã hội là xây dựng phong tục tập quán tốt đẹp; Xây dựng phong tục quán là sưu tầm, khai thác các phong tục, tập quán tốt đẹp của từng địa phương, từng dân tộc, đưa các phong tục tập quán truyền thống hòa nhập với cuộc sống hiện đại đồng thời với việc cải tạo những tập quán lạc hậu, xây dựng tập quán mới, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống hiện đại, văn minh, tiến bộ, thực hiện nếp sống văn minh tập trung vào việc cưới, việc tang, lễ hội, bài trừ mê tín dị đoan và các tệ nạn xã hội, xây dựng nếp sống văn minh nơi công cộng là ý thức giữ gìn đường làng, ngõ xóm, nhà văn hóa, chợ, di tích, danh lam thắng cảnh… để thực hiện tốt nếp sống văn minh trong xã hội cần xây dựng cho mỗi người có hiểu biết và tôn trọng luật pháp, các quy tắc trật tự, vệ sinh môi trường, an toàn giao thông

1.2.4 Nghệ thuật quần chúng

Nghệ thuật quần chúng cơ sở là tổ chức tự nguyện, đặc thù, chuyên biểu diễn phục vụ, hoạt động theo sở thích; được thành lập theo quyết định của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở địa phương, chịu sự quản lý nhà nước của ngành Văn hóa - Thể thao và Du lịch, sự hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của Trung tâm Văn hóa - Thể thao cơ sở; hoạt động nghệ thuật quần chúng cơ sở là nơi hội tụ các hạt nhân tiêu biểu xuất sắc trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, sáng tạo nghệ thuật, tiếp thu tinh hoa

Trang 24

văn hóa tiên tiến, xây dựng chương trình nghệ thuật, tổ chức tập luyện và biểu diễn phục vụ các nhiệm vụ chính trị ở cơ sở, đáp ứng nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân

Nghệ thuật quần chúng ở cơ sở là một trong những nhu cầu tất yếu của nhân dân, hoạt động nghệ thuật quần chúng đa dạng về nội dung lẫn hình thức, thể loại như : Ca múa nhạc, sân khấu, hội họa, thơ ca, hò vè, các câu lạc

bộ nghệ thuật, các nhóm sở thích yêu văn học nghệ thuật của nhiều lứa tuổi thành phần tham gia Để công tác tổ chức quản lý hoạt động văn nghệ quần chúng lành mạnh, bổ ích góp phần nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân,

là một nhiệm vụ quan trọng ngành văn hoá thông tin cơ sở, thông qua hoạt động đó các cán bộ chuyên môn được học hỏi, trao đổi nhiều kiến thức xã hội như kiến thức về phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, biện pháp phòng chống bạo lực gia đình, phòng chống tệ nạn xã hội, tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến mọi tầng lớp nhân dân

Lạng Sơn là tỉnh miền núi phía bắc của tổ quốc, có nhiều dân tộc thiểu

số cùng sinh sống, mỗi dân tộc, mỗi vùng đều có nét đặc thù của truyền thống văn hoá, mang sắc thái và vẻ đẹp riêng, do đó hoạt động nghệ thuật quần chúng đối với từng cơ sở, cũng cần có những hình thức tổ chức khác nhau để phù hợp với tâm lý, tình cảm, bản sắc của nhân dân Trong các ngày lễ tết, lễ hội, lễ kỷ niệm của địa phương, người làm công tác văn hóa ở cơ sở cần tổ chức các chương trình nghệ thuật gọn nhẹ, có nội dung sâu sắc, sát thực phục

vụ cho nhiệm vụ chính trị của địa phương, cần nghiên cứu dàn dựng các loại hình nghệ thuật tuyên truyền sân khấu mà địa phương có truyền thống như: hát then, đàn tính, hát shi, lượn phối hợp với các chương trình ca múa nhạc, thu hút quần chúng tham gia

Trang 25

1.2.5 Tuyên truyền cổ động

Tuyên truyền, cổ động là hoạt động có mục đích của một chủ thể nhằm truyền bá những tri thức, giá trị tinh thần, tư tưởng đến đối tượng, biến những tri thức, giá trị tinh thần, tư tưởng đó thành nhận thức, niềm tin, tình cảm, cổ vũ đối

tượng hành động theo những định hướng do chủ thể tuyên truyền đặt ra

Cổ động là thông qua những hình thức, công cụ riêng chủ yếu là các biện pháp trực quan, tác động trực tiếp vào nhận thức, tư tưởng, tình cảm của quần chúng nhân dân, lôi cuốn họ vào những hoạt động theo mục tiêu đã định như tuyên truyền bằng pa nô, áp phích, khẩu hiệu, cổ động bầu cử

Tuyên truyền cổ động là phương tiện quan trọng để phổ biến, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những vấn đề thời

sự lớn của đất nước, của quốc tế và của địa phương; qua đó nâng cao nhận thức chính trị tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân, động viên mọi người thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị trong mỗi thời kỳ

Tuyên truyền cổ động là công cụ để định hướng tư tưởng, hướng dẫn suy nghĩ và hành động của toàn xã hội Củng cố niềm tin, giáo dục lý luận, đạo đức lối sống, góp phần quan trọng xây dựng nền văn hóa mới, con người mới xã hội chủ nghĩa Góp phần tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, xây dựng khối đoàn kết thống nhất trong Đảng, tăng cường sự đồng thuận trong xã hội, đấu tranh chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn "Diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch và bọn phản động, cơ hội

Hình thức tuyên truyền, cổ động

Tuyên truyền miệng: là một hình thức đặc biệt của tuyên truyền, được tiến hành thông qua sự giao tiếp trực tiếp giữa người tuyên truyền với đối tượng tuyên truyền, chủ yếu bằng lời nói trực tiếp Tuyên truyền miệng được

Trang 26

thực hiện chủ yếu thông qua các hình thức như nói chuyện thời sự, tọa đàm, hội thảo, gặp mặt truyền thống, kể chuyện gương người tốt, việc tốt…

Tuyên truyền thông qua các ấn phẩm viết như sách, báo, bản tin, băng zôn khẩu hiệu, qua phát thanh, truyền hình, phim ảnh, triển lãm, tham quan; bằng các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thông qua các hoạt động của ngành văn hóa, thông tin, biểu diễn nghệ thuật, thông tin lưu động…

Tuyên truyền tổng hợp: Là hoạt động kết hợp cổ động, tuyên truyền miệng, phim ảnh, biểu diễn nghệ thuật quần chúng, hội thi, hội diễn, phim ảnh…

Nguyên tắc của công tác tuyên truyền, cổ động

* Tính Đảng: Công tác tuyên truyền cổ động được thực hiện theo sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, quản lý của nhà nước, vì lợi ích của nhân dân

* Tính khoa học, thực tiễn: Công tác tuyên truyền, cổ động phải phân

tích đánh giá tìm ra mối liên hệ giữa các hiện tượng và lý giải đúng bản chất

sự việc trên cơ sở khoa học, phải gắn với thực tiễn, tham gia giải quyết các

vấn đề mà thực tiễn đang đặt ra

* Tính chân thực: Thông tin một cách đúng đắn, khách quan những kết

quả của thực tiễn, cả thành tựu và thiếu sót, thắng lợi và sai lầm Phân tích, phản ánh sự vật và hiện tượng đúng bản chất của nó; những lúc khó khăn cần nói rõ cho dân biết, giải thích rõ bản chất của những khó khăn đó, chỉ ra

nguyên nhân và cách khắc phục

* Tính chiến đấu: Trước mỗi sự kiện cần phân biệt đúng - sai, phải -

trái, biểu dương hoặc phê phán kịp thời Kiên quyết lên án các luận điệu tuyên

truyền phản động, trái với quan điểm, đường lối của Đảng

* Tính phổ thông đại chúng: Nội dung tuyên truyền phải gắn chặt với

cuộc sống thực tiễn của đại đa số nhân dân Cách nói, cách làm trong tuyên

Trang 27

truyền phải đổi mới, bám sát từng chủ đề, đối tượng để có phương pháp phù

hợp, phải tính đến hiệu quả của tuyên truyền tránh lãng phí

Phương châm công tác tuyên truyền, cổ động giai đoạn hiện nay

Bám sát nhiệm vụ chính trị của Đảng, phát huy tinh thần cách mạng của các tầng lớp nhân dân Tuyên truyền, cổ động phải kịp thời, nhạy bén, nội dung chính xác, có tính chiến đấu cao, kết hợp tuyên truyền, cổ động nâng cao nhận thức tư tưởng với hướng dẫn hành động và cổ vũ phong trào Kết hợp giữa biểu dương và phê phán, tuyên truyền, cổ động phải cụ thể, thiết thực, sinh động, hiệu quả

1.2.6 Quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc lĩnh vực văn hóa cơ sở

Cung ứng dịch vụ công là một chức năng quan trọng của Nhà Nước trong xã hội hiện đại Một yêu cầu đòi hỏi đặt ra hiện nay là làm rõ chức năng, nhiệm vụ của nhà nước trong việc cung ứng dịch vụ công, từ đó xác định những nhiệm vụ nào chỉ có thể do Nhà Nước tự đảm nhận và những dịch

vụ nào có thể thu hút sự tham gia của khu vực tư nhân, nhất là khi Nhà nước đang cải cách theo hướng gần dân hơn, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của nhân dân

Công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ công ở nước ta hiện nay, đang thực hiện xã hội hóa ngày càng rộng rãi trong một số lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, khoa học công nghệ… Các nội dung nhà nước hướng đến nhằm xây dựng một nền hành chính trong sạch vững mạnh, từng bước hiện đại hóa phục vụ tốt hơn những lợi ích chung, đảm bảo các quyền và nghĩa vụ của công dân Đối với lĩnh vực văn hóa - xã hội, khi đời sống kinh tế phát triển, nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần cũng được nâng lên, đồng thời các loại hình biểu diễn nghệ thuật, dịch vụ trò chơi điện tử, karaoke, kinh doanh băng đĩa, văn hóa phẩm ngày càng phát triển… đang đặt

ra cho nhà nước hiện nay phải quản lý, cung ứng các dịch vụ hành chính công

và dịch vụ công cộng như thế nào để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của

Trang 28

nhân dân

* Cung ứng dịch vụ công: Là những hoạt động phục vụ các lợi ích

chung, thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của tổ chức, công dân, do nhà nước trực tiếp thực hiện hoặc chuyển giao cho các cơ sở ngoài nhà nước thực

hiện, hướng đến mục tiêu hiệu quả và công bằng xã hội

* Cung ứng dịch vụ công về văn hóa

Dịch vụ hành chính công: là dịch vụ gắn liền với chức năng quản lý Nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu của người dân, do vậy việc cung ứng duy nhất các dịch vụ công này là cơ quan công quyền hay các cơ quan do nhà nước thành lập được ủy quyền, đây là một phần trong chức năng quản lý của Nhà nước, phục vụ trực tiếp các hoạt động như cấp giấy phép, giấy chứng nhận, đăng ký, công chứng, thị thực, hộ tịch…

Dịch vụ sự nghiệp công, bao gồm: Dịch vụ xã hội thiết yếu cho người dân như giáo dục, văn hóa, khoa học, chăm sóc sức khoẻ, thể dục thể thao, bảo hiểm, an sinh xã hội Dịch vụ công ích: cung cấp điện, nước sạch, vệ sinh môi trường, xây dựng đường…

Cung ứng dịch vụ công về văn hóa: Là một trong những hoạt động của

hoạt động sự nghiệp công bao gồm: triển lãm, nghệ thuật kiến trúc, bảo tàng, thư viện, du lịch, khách sạn, vui chơi giải trí, ẩm thực…

1.3 Chu trình chính sách phát triển văn hóa cơ sở

1.3.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách xây dựng và phát triển đời sống văn hóa cơ sở

Đời sống văn hóa cơ sở là một vấn đề được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm Xây dựng và phát triển đời sống văn hóa ở cơ sở là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ mới Đây là chủ chương được đặt ra từ Đại hội V của

Đảng, xác định cụ thể: “Nhiệm vụ của cách mạng tư tưởng văn hóa là đưa

Trang 29

văn hóa thâm nhập vào cuộc sống hàng ngày của nhân dân“ Đây là quan

điểm có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong sự nghiệp đổi mới đất nước Quan điểm về văn hóa tiếp tục được khẳng định tại Hội nghị lần thứ 5, BCH Trung ương Đảng khóa VIII, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã nêu lên: “Ba lĩnh vực cần tập chung thực hiện bằng được là: Xây dựng môi trường, lối sống và đời sống văn hoá của mọi người dân ở cơ sở, phát huy tinh thần tự nguyện, tính tự quản và năng lực làm chủ của nhân dân; khuyến khích sáng tạo văn học, nghệ thuật, tạo ra những tác phẩm, công trình có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật; xây dựng

và nâng cấp đồng bộ hệ thống thiết chế văn hoá, chú trọng các công trình văn hoá lớn, tiêu biểu”

Các quan điểm phát triển văn hóa của Đảng đã được thể hiện ở các văn bản tiếp theo như Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành TW khóa

XI và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII

Trong những năm qua công tác phát triển văn hóa đã được Đảng, Nhà nước quan tâm đúng mức trong các chính sách kinh tế - xã hội; vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và trách nhiệm của các đoàn thể chính trị - xã hội, của nhân dân, đặc biệt của đội ngũ trí thức đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển văn hóa được đề cao Nhiều giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, từng vùng, miền được kế thừa và có bước khởi sắc, nhất là trong điều kiện hội nhập, giao lưu văn hóa với thế giới Nhiều di sản văn hóa được bảo tồn, tôn tạo; xã hội hóa hoạt động văn hóa ngày càng mở rộng Văn học, nghệ thuật có bước phát triển mới; nhiều bộ môn nghệ thuật truyền thống được quan tâm đầu tư gìn giữ; nhiều tác phẩm về đề tài cách mạng và kháng chiến,

về công cuộc đổi mới có chất lượng tốt Truyền thông đại chúng phát triển nhanh cả về loại hình, quy mô, lực lượng, phương tiện và có tầm ảnh hưởng

Trang 30

sâu rộng đối với đời sống xã hội Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đã khơi dậy được nhiều giá trị nhân văn trong cộng đồng; giao

lưu, hợp tác quốc tế về văn hóa có nhiều sắc thái mới… Bởi vậy, những năm qua, đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện,

“bước đầu hình thành những giá trị mới về con người với các phẩm chất về trách nhiệm xã hội, ý thức công dân, dân chủ, chủ động, sáng tạo, khát vọng

vươn lên”

Những quan điểm nói trên của đảng đã khẳng định: Đảng ta đã vận dụng, phát triển một cách sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá và xây dựng đời sống văn hoá Coi văn hoá vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội Trong quá trình thực hiện những quan điểm chỉ đạo này, Đảng ta luôn chú ý tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận, đề ra những nhiệm vụ và giải pháp cụ thể để đáp ứng yêu cầu của từng thời điểm, từng lĩnh vực khác nhau của hoạt động văn hoá Chính vì vậy, trong những năm qua, phong trào văn hoá nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, đã và đang trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa

là động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội, đây là một quá trình nhận thức hoàn chỉnh đường lối chính trị, đặt đúng vị trí văn hoá ở một tầm cao mới, để cùng với kinh tế phấn đấu cho mục tiêu: Dân giầu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh

1.3.2 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách

Chính phủ giao cho các bộ, ngành liên quan xây dựng các kế hoạch triển khai chính sách; đây là nhiệm vụ quan trọng trong tổ chức thực hiện chính sách;

Hiệu quả của việc thực hiện chính sách phụ thuộc vào tính chính xác, tính khả

ban hành nhiều văn bản chỉ đạo thực hiện, cụ thể như sau:

Trang 31

- Chương trình hành động số 1109/CP-VX ngày 15/9/1998 về thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 8 về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;

- Quyết định số 308/2005/QĐ-TTg ngày 25/11/2005 của Thủ tướng

Chính phủ về việc ban hành quy chế thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội;

- Bộ Chính trị, Chỉ thị số 27/CT-TW ngày 12/01/1998 về xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội;

- Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Thông tư số BVHTTDL ngày 24/9/2014 về việc quy định chi tiết tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục xét và công nhận “cơ quan đạt chuẩn văn hóa”, “đơn vị đạt chuẩn văn hóa”, “doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa”…

08/2014/TT-Mục tiêu của chính sách văn hóa đã hoạch định có thể đạt được trong dài hạn hoặc ngắn hạn, do đó việc tổ chức thực thi cần phải lập kế hoạch cụ thể

Kế hoạch triển khai thực thi chính sách bao gồm những nội dung cơ bản sau:

- Kế hoạch về tổ chức, điều hành;

- Kế hoạch cung cấp các nguồn vật lực hỗ trợ;

- Kế hoạch thời gian triển khai thực hiện;

- Kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực thi chính sách;

- Dự kiến những nội quy, quy chế về tổ chức, điều hành; về trách nhiệm, nhiệm vụ và quyền hạn của cán bộ, công chức và các cơ quan nhà nước tham gia tổ chức điều hành chính sách; về các biện pháp khen thưởng, kỷ luật cá nhân, tập thể trong tổ chức thực thi chính sách v.v…kế hoạch thực thi chính sách mang giá trị pháp lý, được mọi người chấp hành thực hiện Việc điều chỉnh kế hoạch cũng do cấp có thẩm quyền thông qua kế hoạch quyết định

Trang 32

1.3.3 Phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách

Sau khi kế hoạch tổ chức thực thi chính sách văn hóa được thông qua, chính quyền tổ chức triển khai thực hiện theo kế hoạch Việc trước tiên cần làm trong quá trình này là tuyên truyền vận động cán bộ ngành văn hóa và nhân dân tham gia thực hiện chính sách Đây là một hoạt động quan trọng, có

ý nghĩa lớn với cơ quan nhà nước và các đối tượng thực thi chính sách Phổ biến, tuyên truyền chính sách tốt giúp cho các đối tượng chính sách và mọi người dân tham gia thực thi hiểu rõ mục đích, yêu cầu của chính sách văn hóa; về tính đúng đắn của chính sách trong điều kiện hoàn cảnh nhất định và

về tính khả thi của chính sách… để họ tự giác thực hiện theo yêu cầu quản lý của Nhà nước về văn hóa Đồng thời còn giúp cho mỗi cán bộ, công chức có trách nhiệm tổ chức thực thi chính sách văn hóa nhận thức được đầy đủ tính chất, trình độ, quy mô của chính sách với đời sống xã hội để chủ động tích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính sách

để triển khai có hiệu quả, hoàn thành nhiệm vụ được giao Việc phổ biến, tuyên truyền cần phải được thực hiện thường xuyên, bằng nhiều hình thức như thông tin lưu động, tuyên truyền cổ động trực quan, loa truyền thanh, pa

nô, áp phích, khẩu hiệu, hội họp…

1.3.4 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách

Trong tổ chức và thực hiện chính sách xây dựng đời sống văn hóa cơ sở công tác phối hợp thực hiện chính sách có ý nghĩa quan trọng, tác động đến hiệu quả thực hiện chính sách Để tổ chức thực hiện chính sách có hiệu quả cần phải có sự phân công, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, các ngành, các cấp, đó là việc phân công trách nhiệm cụ thể cho các tổ chức, cá nhân có liên quan trong thực hiện chính sách; xác định tổ chức, cá nhân chủ trì, chịu trách nhiệm chính, các tổ chức cá nhân tham gia phối hợp trong quá trình thực hiện chính sách có thể tác động đến lợi ích của một bộ phận dân cư, nhưng kết quả

Trang 33

tác động lại liên quan đến nhiều yếu tố, nhiều bộ phận khác nhau, nên cần phải phối hợp cụ thể để đạt được hiệu quả cao nhất của thực thi chính sách

Về trách nhiệm đối với việc soạn thảo, ban hành và thực hiện chính

trì phối hợp của các Bộ như: Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và đầu

tư, Bộ Nội vụ, Bộ giáo dục và đào tạo, Bộ thông tin và truyền thông; Các cơ quan thuộc Chính Phủ và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương triển khai thực hiện

1.3.5 Duy trì chính sách

Duy trì thực hiện chính sách là làm cho chính sách tồn tại và phát huy được tác dụng, hiệu quả như mong muốn của các nhà hoạch định chính sách Tuy nhiên, trên thực tế, trong quá trình thực thi chính sách vẫn còn có những

đồng bộ, chất lượng các văn bản luật còn nhiều hạn chế, từ quy trình xây dựng, ban hành đến áp dụng Do nhiều yếu tố về tài chính, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực mà chính sách xây dựng và phát triển đời sống văn hóa cơ sở

ở nhiều các địa phương còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là vùng núi, vùng sâu, vùng xa, dân tộc thiểu số, biên giới hải đảo

Duy trì chính sách xây dựng và phát triển đời sống văn hóa cơ sở, yêu cầu phải có sự thống nhất trong quản lý của nhà nước về văn hóa, cũng như công tác phối hợp thực hiện giữa các cấp, các ngành, góp phần làm cho chính sách có thể thực hiện một cách đồng bộ và có hiệu quả nhất nâng cao đời sống văn hóa của nhân dân

1.3.6 Kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách

Trong quá trình triển khai thực hiện chính sách việc theo dõi, đôn đốc, kiểm tra là một nhiệm vụ, một khâu quan trọng bởi tăng cường công tác kiểm tra, giúp giám sát chặt chẽ việc thực hiện, đồng thời bổ sung hoàn thiện chính

Trang 34

sách, tạo ra sự tập trung thống nhất trong việc thực hiện mục tiêu chính sách

đã đề ra

trên thực tế việc theo dõi, kiểm tra, đôn đốc đã được phân cấp cụ thể: Chính phủ kiểm tra tiến độ thực hiện của các Bộ, ngành, các bộ có trách nhiệm kiểm tra các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; UBND cấp tỉnh sẽ kiểm tra đôn đốc thực hiện công tác xây dựng văn hóa cơ sở ở các địa phương trên địa bàn quản lý Công tác kiểm tra, đôn đốc thường xuyên sẽ đảm bảo cho chính sách được thực hiện đúng mục tiêu, thời hạn và đúng đối tượng được thụ hưởng chính sách, kế hoạch thực thi chính sách sẽ hoàn thành đúng thời hạn

1.3.7 Đánh giá tổng kết việc thực hiện chính sách

Trong công tác xây dựng và triển khai thực thi chính sách thì đánh giá chính sách là một khâu không thể thiếu của quy trình chính sách “Đánh giá chính sách công là hoạt động kiểm tra chính sách bằng các tiêu chí cụ thể như

sự phù hợp, đầy đủ, tính hiệu quả, hiệu suất và tác động của chính sách nhằm cải thiện việc hoạch định, xây dựng và thực hiện chính sách giải quyết thành

chính sách xây dựng và phát triển đời sống văn hóa cơ sở là xem xét, kiểm định các mục tiêu của chính sách đã được triển khai trên thực tế có đạt được hay không như: mức sống của người dân có tăng không, trình độ dân trí có được cải thiện không, mức hưởng thụ các giá trị văn hóa tinh thần…Do đó, hàng năm, quý, 6 tháng các cơ quan, tổ chức, đơn vị tiến hành sơ kết, tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện để từ đó rút ra những kinh nghiệm, những kết quả đạt được, hạn chế, yếu kém, nguyên nhân để từ đó đề ra giải pháp khắc phục cho thực hiện giai đoạn tiếp theo của chính sách

1.3.8 Điều chỉnh chính sách

Chính sách văn hóa trong quá trình thực thi do tác động của nhiều yếu tố

Trang 35

sẽ bộc lộ sự bất cập, hạn chế thiếu sót Do đó việc điều chỉnh chính sách văn hóa là một hoạt động cần thiết, trong tổ chức thực thi chính sách văn hóa Công tác điều chỉnh chính sách do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện, để chính sách ngày càng phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình thực

tế, theo quy định cơ quan nào ban hành chính sách thì được quyền điều chỉnh,

bổ sung chính sách, nhưng trên thực tế, việc điều chỉnh các biện pháp, cơ chế chính sách diễn ra rất linh hoạt, vì thế nghành văn hóa cần chủ động tham mưu điều chỉnh biện pháp, cơ chế chính sách để thực hiện có hiệu quả chính sách, miễn là không làm thay đổi mục tiêu của chính sách văn hóa cơ sở

Tiểu kết chương

Chương 1, luận văn đã trình bày khái niệm về chính sách công Trên cơ

sở nghiên cứu các khái niệm về chính sách xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, trong chương 1 của luận văn tác giả đã nghiên cứu, phân tích đưa ra các khái niệm về văn hóa và làm rõ hơn lý luận về thực hiện chính sách xây dựng và phát triển đời sống văn hóa cơ sở theo quản lý của Cục văn hóa cơ sở, Bộ VHTT & DL

Trong chương 1, tác giả đã nghiên cứu, phân tích thực trạng của công

thiện trong thực hiện xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở Việt Nam hiện nay

Những vấn đề nghiên cứu, phân tích và làm rõ của chương 1 sẽ làm tiền đề cho việc phân tích thực trạng thực hiện chính sách xây dựng và phát triển đời sống văn hóa cơ sở chương 2

Trang 36

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN

VĂN HÓA CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN

2.1 Khái quát về văn hóa cở sở tỉnh Lạng Sơn

2.1.1 Khái quát đặc điểm tình hình tỉnh Lạng Sơn

Vị trí địa lý

Lạng Sơn là tỉnh miền núi, biên giới phía Đông Bắc của Tổ quốc, có diện tích tự nhiên 8.305 km2, có đường biên giới dài 231,740 km tiếp giáp với Quảng Tây (Trung Quốc), có 02 cửa khẩu quốc tế, 01 cửa khẩu chính, 09 cửa khẩu phụ; các tuyến đường quốc lộ 1A, 1B, 4A, 4B và tuyến đường sắt liên vận quốc tế Hà Nội - Đồng Đăng - Bằng Tường - Bắc Kinh Có 11 huyện, thành phố với 226 xã, phường, thị trấn; dân số trên 83 vạn người Là tỉnh miền núi nhưng Lạng Sơn có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế nói chung và phát triển văn hóa - xã hội, du lịch - dịch vụ nói riêng so với một số tỉnh trong khu vực Trong những năm qua Đảng bộ, chính quyền, nhân dân các dân tộc tỉnh Lạng Sơn đã chủ động phát huy những thế mạnh, khắc phục những khó khăn và đạt được một số kết quả đáng khích lệ; Kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục có bước phát triển; tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ổn định; an ninh biên giới được đảm bảo, chủ quyền quốc gia được giữ vững; đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao

Đặc điểm kinh tế

Xuất phát từ vị trí địa lý, hệ thống giao thông cả về đường bộ và đường sắt thuận lợi, nên từ khi thực hiện chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, Lạng Sơn đã trở thành một trong những trung tâm giao lưu, buôn bán quan trọng của khu vực phía bắc và của cả nước, đặc biệt thời gian gần đây các hệ

Trang 37

thống chợ được xây dựng nâng cấp, thu hút khách du lịch đến với Lạng Sơn ngày càng đông Do vậy tình hình kinh tế Lạng Sơn phát triển khá sôi động, nhất là các ngành: Thương mại & Du lịch, Xây dựng, Giao thông, Ngân hàng, Bưu chính viễn thông, Nông nghiệp nông thôn và các ngành dịch vụ khác sự sôi động đó tác động rất tích cực cho kinh tế - văn hóa - xã hội xã hội của Lạng Sơn phát triển tích cực

Đặc điểm xã hội

Lạng Sơn có 07 dân tộc cùng sinh sống, trong đó Nùng chiếm 43,9%, Tày chiếm 35,3%, Kinh chiếm 15,3%, ngoài ra là một số dân tộc thiểu số khác Mỗi dân tộc đều mang nét văn hoá, phong tục tập quán riêng như các lễ hội truyền thống, đám cưới, đám tang, các ngày lễ, tết đây cũng là những tiềm năng rất tốt phục vụ cho du khách tham quan, nghiên cứu hay tìm hiểu

về truyền thống văn hoá các dân tộc Lạng Sơn

2.1.2 Khái quát đặc điểm - văn hóa:

Lạng Sơn là tỉnh có tiềm năng văn hoá với nét văn hoá đặc sắc của các dân tộc vùng Việt bắc, tuy mỗi dân tộc có sắc thái riêng nhưng từ bao đời nay vẫn sống hoà thuận, hội nhập vào cộng đồng chung và cùng nhau tạo nên một bản sắc văn hoá độc đáo, riêng biệt Các di sản văn hoá - nguồn lực phát triển văn hoá của tỉnh Lạng Sơn, nơi vùng đất có bề dày lịch sử, là vùng biên viễn của đất nước, vùng đất đã ghi lại nhiều sự kiện lịch sử của dân tộc, mảnh đất này là cái nôi xa xưa của tổ tiên loài người Lạng Sơn nổi tiếng với các hang động ở huyện Bắc Sơn, Bình Gia có những di chỉ của nền văn hoá đá mới Bắc Sơn như các hang động Thẩm Hai, Thẩm Khuyên, Kéo Lèng đã được Bộ Văn hoá - Thông tin (Nay là Bộ VHTT & DL) xếp hạng Di tích quốc gia đã góp phần tạo cho Lạng Sơn một nguồn tài nguyên Văn hoá độc đáo góp phần phát triển văn hóa, du lịch Lạng Sơn còn có nhiều hang động được đánh giá

là danh lam thắng cảnh nổi tiếng như Hang Dơi, Hang Gió, Động Nhất, Nhị

Trang 38

Tam Thanh, Động Chùa Tiên… là cửa ngõ của Tổ quốc nên Lạng Sơn có nhiều di tích rất đặc thù như: là nơi tiếp sứ, cửa khẩu Hữu Nghị, dấu vết thành luỹ cổ (Thành Nhà Mạc), ải Chi Lăng và các di tích đền chùa như: Đền Kỳ Cùng, Bia và Đền Tả Phủ, Chùa tiên, Đền Bắc Lệ, đền Mẫu Đồng Đăng… Lạng Sơn có kho tàng văn hoá dân gian phong phú, nhiều làn điệu dân ca đặc sắc như Shi, Then, Lượn, páo dung và nhiều lễ hội truyền thống sinh hoạt văn hoá, lễ hội Lồng Tồng, Cầu lộc vào xuân, Lễ hội Phài Lừa (Vùng sông nước) Người Tày, Nùng Lạng Sơn có nhiều nét gần gũi với người dân tộc Kinh trong sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng thể hiện trong tín ngưỡng thờ Thành Hoàng, thờ Phật…có những lễ hội rất gần gũi với người Kinh như múa sư tử,

cờ người, nhưng cũng có những lễ hội mang bản sắc riêng của các dân tộc thiểu số như hát Then ở Huyện Tràng Định, hát ví ở Bắc Sơn, hội hát shi, hát lượn, ném còn hội Lồng Tồng (hội xuống đồng) ở Bình Gia, Cao Lộc Chợ phiên ở Lạng Sơn như một loại hình lễ hội rất đặc sắc rất hấp dẫn du khách nếu được khôi phục và tổ chức chu đáo, các chợ phiên nổi tiếng ngày xưa như chợ Kỳ Lừa, chợ Đồng Đăng, Chợ đồng Mỏ, chợ Thất Khê vẫn là loại hình sinh hoạt văn hoá rất riêng, rất đặc trưng cho các dân tộc thiểu số ở Lạng Sơn

Về di tích hiện nay toàn tỉnh có 226 di tích, trong đó 30 di tích được xếp hạng cấp quốc gia, 23 di tích xếp hạng cấp tỉnh, Từ năm 2005 đến nay, tỉnh đã đầu tư hàng chục tỷ đồng từ ngân sách Nhà nước để trùng tu, tôn tạo các di tích trọng điểm như di tích Tam Thanh, Nhị Thanh, Thành Nhà Mạc, Ải Chi Lăng, núi Tô Thị cùng với sự đóng góp, công đức của nhân dân, nhiều di tích, danh thắng trên địa bàn tỉnh đã được tôn tạo khá khang trang Công tác sưu tầm vốn văn hoá cổ trên địa bàn tỉnh được thực hiện tốt, tỉnh đã lưu giữ nhiều giá trị văn hoá truyền thống cả vật thể và phi vật thể, đặc biệt có nền văn hoá Tày cổ (Có chữ viết Tày - Nùng) xuất hiện từ lâu đời đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, các ngành chức năng của tỉnh cùng viện Văn

Trang 39

hoá Dân gian, Viện nghiên cứu Hán - Nôm sưu tầm, nghiên cứu, khai thác vốn văn hoá phi vật thể với nhiều công trình đề tài khoa học, do đó văn hoá Lạng Sơn đang được bảo tồn và phát huy đúng định hướng

2.2 Công tác ban hành chính sách phát triển văn hóa cơ sở trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

Trong thực tiễn thực hiện chính sách xây dựng đời sống văn hóa cơ

sở tại Lạng Sơn, để tạo thuận lợi trong công tác tổ chức thực hiện, quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa, UBND tỉnh đã ban hành nhiều văn bản, chính sách để triển khai, thực hiện trên các lĩnh vực cụ thể như sau:

2.2.1 Chính sách về thiết chế văn hóa cơ sở

- Nghị quyết số 13-NQ/TU ngày 19/4/2007 Nghị quyết của Tỉnh ủy về việc bảo tồn, phát huy vốn di sản văn hóa của tỉnh

- Kết luận số 123-KL/TU ngày 25/5/2011 kết luận của BTV Tỉnh ủy về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TU ngày 19/4/2007 Nghị quyết của Tỉnh ủy về việc bảo tồn, phát huy vốn di sản văn hóa của tỉnh

- Nghị quyết số 07/2009/NQ-HĐND ngày 15/7/2009 Nghị quyết của HĐND tỉnh chính sách hỗ trợ xây dựng nhà văn hóa thôn, khối phố, sân tập thể dục, thể thao cho các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn từ nay đến năm 2015

- Quyết định số 24/2013/QĐ-UBND ngày 23/10/2013 Quyết định phê duyệt chương trình xây dựng nhà văn hóa xã, phường, thị trấn

- Quyết định số 25/2003/QĐ-UBND ngày 23/10/2003 của UBND tỉnh quyết định phê duyệt đề án xây dựng và phát triển các thiết chế văn hóa trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

- Quyết định số 1274/QĐ-UBND ngày 19/8/2010 quyết định phê duyệt

dự án đầu tư mua sắm trang thiết bị thiết chế văn hóa cơ sở trên địa bàn tỉnh

- Nghị quyết số 05/2016/NQ-HĐND ngày 29/7/2016 Nghị quyết của

Trang 40

HĐND tỉnh chính sách hỗ trợ xây dựng nhà văn hóa thôn, khối phố, sân tập thể dục, thể thao cho các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2016 - 2020

- Quyết định số 52/2016/QĐ-UBND ngày 30/12/2016 của UBND tỉnh

về chính sách hỗ trợ xây dựng nhà văn hóa thôn, khối phố, sân tập thể dục, thể thao cho các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn giai đoạn

2016 - 2020

- Báo cáo số 1507/BC-SVH ngày 29/10/2015 báo cáo kết quả thực hiện Quyết định 1841 ngày 26/11/2013 của UBND tỉnh về việc nâng mức hỗ trợ nâng cấp, cải tạo và xây dựng mới nhà văn hóa thôn, sân tập thể thao các xã thuộc 35 xã trong kế hoạch xây dựng nông thôn mới năm 2015

2.2.2 Chính sách về nếp sống văn hóa

- Quyết định số 308/2005/QĐ-TTg ngày 25/11/2005 của Thủ tướng

Chính phủ về việc ban hành quy chế thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội;

- Chỉ thị số 07/2011/CT-TU ngày 23/5/2011 của Tỉnh ủy về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội

- Chỉ thị số 10-CT/TU ngày 22/11/2011 Chỉ thị về việc tăng cường chỉ đạo xây dựng cơ quan, đơn vị có nếp sống văn hóa

- Chỉ thị số 27-CT/TU ngày 26/11/2016 Chỉ thị của Tỉnh ủy về việc tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”

- Chỉ thị số 21-CT/TU ngày 17/10/2017 Chỉ thị của Tỉnh ủy về việc đổi mới tác phong, lề lối làm việc, nâng cao chất lượng công tác trong các cơ quan , đoàn thể, lực lượng vũ trang tới toàn thể cán bộ, đảng viên trong cơ quan

- Chỉ thị số 09-CT/TU ngày 17/10/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lạng Sơn về việc tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng

Ngày đăng: 19/04/2020, 09:07

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w